ĐỌC ĐÊM CUỐI NĂM CỦA NGUYỄN MỘNG GIÁC

truongan
.
Đêm Cuối Năm của NMG là một truyện ngắn đầu trang của 13 truyện ngắn trong tuyển tập “ Xuôi Dòng” của Ông đựơc viết ở đảo Kuku, Nam Dương năm 1981 và được nhà xuất bản Văn Nghệ xuất bản tại California năm 1987. Chuyện được kể bởi 4 người, tuổi xấp xỉ 40, cái tuổi đã qua cái thời trai trẻ, nhưng lại chưa qua cái tuổi già, cái tuổi không làm cái này cũng làm cái nọ ở chế độ cũ, mà cái nào cũng là tội ác đối với chế độ mới.

Tất cả vừa trải qua một cuộc hành trình ngất ngư con tàu trôi, thừa sống thiếu chết trên biển cả hung dữ, trên 4 con thuyền khác nhau, mới đến được đảo Kuku. Người đầu tiên kể là một Linh Mục, kế tiếp là một Kỹ Sư, một Thiếu tá Không Quân, và sau cùng là một công nhân “tổ hợp mì sợi”. Đọc xong 4 câu chuyện kể của 4 ông ở cái tuổi không già, không trẻ, gấp sách lại, chúng ta chỉ còn nhớ chuyện của anh công nhân “tổ hợp mì sợi” là ấn tượng nhất. Anh công nhân này bị đi tù bởi cái tội gọi là “xâm phạm tài sản XHCN”.

Chuyện của NMG phản ảnh y chang cái xã hội VN hiện tại: Cái xã hội mà bộ máy cai trị là những con người tham ô, lúc nào cũng gây nhũng nhiễu cho người khác, đặt ra cả rừng luật lệ mơ hồ để dễ bề tống người dân ngây thơ, chất phát vào tù mà không hiểu lý do gì mình đã đi tù. Đọc “đêm cuối năm” của NMG, người ta thấy có quá nhiều điều khôi hài, qua những nội qui của nhà tù, điều lệ của phòng, của tổ, mang danh rất đẹp là giáo dục tù nhân trở thành hoàn thiện nhưng hành hạ con người là chính! Giữa có tội và vô tội chỉ cách nhau một cái lằn ranh không rõ ràng.

Chúng ta thử điểm danh “tội ác” của 9 tù nhân trong tổ tù của anh công nhân. Tổ trưởng là tướng cướp có súng bị bắt đang ngồi trên xe, vì đã mua một khẩu súng nhựa cho đứa con nhân ngày thôi nôi. Tổ phó bị kết tội “hiếp dâm người quá cố”. Người thì bị bắt “chuyên bán đứng mộ bia”, “thủ trưởng cơ quan xổ số kiến thiết đường 30-4”… Mỗi người có một hoàn cảnh đáng thương, bị đi tù một cách lãng xẹt, tác giả đã kể ra một cách nghiêm túc như cố ý muốn nhân hai, nhân ba “tội ác” theo ý muốn người cầm quyền của xã hội mới, nhưng người đọc thì hỡi ôi cười ra nước mắt!

Chúng ta thử đọc trang 14:

Cái tội hiếp dâm (con xin lỗi Cha nhé, chuyện tù thanh khiết làm sao được), cái tội hiếp dâm phải dành cho cậu nhỏ tuổi nhất tổ tên Lâm Quảng. Cậu con trai 19 tuổi mặt còn đầy mụn ấy một mực kêu oan… Quả tình Lâm Quảng bị oan đến một nửa, vì cô gái xấu số nạn nhân của cậu là một gái điếm chuyên nghiệp, hàng đêm đứng dựa gốc cây… để đón khách…

Ở trang 17:

Mở đầu bản nội qui ở đâu cũng vậy, đều có câu: “Để bảo đảm yêu cầu giam giữ can phạm đúng chính sách của chính quyền cách mạng, nay qui định.”

– Điều 1 là: “Can phạm khi vào trại phải chấp hành nghiêm chỉnh các điều qui định của trại giam và tuyệt đối tuân hành mệnh lệnh của cán bộ phụ trách”.

– Điều 2: “Phải thật thà khai báo…”

– Điều 3: “Không được tự ý liên lạc với người ngoài…”

– Điều 4: “Phải giữ gìn an ninh trật tự và vệ sinh chung trong trại giam.”

“9 điều nội qui như cái sườn của một nhân sinh quan. 45 điều của giám thị là rui mè của nhà triết lý ấy. Còn mấy trăm điều lệ phòng là thiên hình vạn trạng biểu lộ của sự sống theo kiến trúc của triết lý vĩ đại.”

Đây là những cái thòng lọng được đặt ra thành văn cũng như bất thành văn một cách tĩ mỹ, chi tiết và được thi hành mẫn cán bởi những con người thiếu trái tim và thiếu cái đầu trong một xã hội tham nhũng tràn lan đến mọi ngõ ngách, trong một xã hội thiếu hụt đủ thứ, và cái thiếu hụt tệ hại nhất là thiếu hụt cái ăn.

Đây là một trong những điều lệ của phòng: “Mỗi lần cửa sắt mở, tất cả phạm nhân phải ngồi xuống và giữ im lặng tuyệt đối, đang ăn cũng phải ngừng nhai để đề phòng những người nhân cửa mở mà đào thoát, vừa chuẩn bị sẵn sàng để nhận lệnh của giám thị.

Một thí dụ nữa điều lệ của phòng về “giữ gìn vệ sinh chung”: “Đi đái phải ngồi xuống như đàn bà để nước tiểu khỏi văng tung tóe, và vòi nước tiểu phải nhắm đúng vào lòng bàn cầu. Ai đi tiểu mà không nghe tiếng nước rót kêu ùng ục tức là phạm kỷ luật, phải bị cách ly ngồi quay lưng nhìn vào tường suốt 3 ngày.”

Tóm lại nội qui có 9 điều, ban giám thị có 45 điều qui định,phòng có hơn 200 điều lệ.

Và đây là điều 183 của phòng: “NẾU ĐANG NGỒI HỌP KIỂM ĐIỂM MÀ MẮC TRUNG TIỆN, PHẠM NHÂN PHẢI KHÉP 5 NGÓN TAY LẠI VÀ GIƠ THẲNG CẢ BÀN TAY PHẢI LÊN.”

“Sau khi trưởng phòng gật đầu chấp thuận, phạm nhân mới được bỏ hàng đi ra phía sau, đứng đó chờ đánh rắm xong mới được trở về vị trí. Nhịn không được, đánh rắm ngay trong cuộc họp sẽ bị xem như vi phạm điều 4 nội qui” (không giữ gìn vệ sinh chung, làm mất trật tự công cộng).

Chính cái điều 183 này là ý chính của truyện ngắn “Đêm Cuối Năm”, kéo dài từ trang 20 cho đến trang 26. Chính cái điều 183 này đã làm khổ sở cái ông gìa Tàu Tạ A Sáng ngây ngô, chất phát không địt mà bị “ép cung” là đã địt bởi tên trưởng phòng Trần Bá Ngọc. Tại sao Tạ A Sáng được trưởng phòng Trần Bá Ngọc và tổ trưởng San Mỹ Đình hoan hỷ đón nhận?

Ở trang 20 tác giả đã viết: “theo tôi, Tạ A Sáng được về ngay tổ 1 là nhờ cái mẽ ngoài tốt tướng của ông. Cao lớn, trắng trẻo, đầu húi cua, ông tạo cho người mới gặp cái cảm giác kính nể đối với một xì thẩu hạng bự. Cái mẽ đó phải có nhiều tiền. Đồ thăm nuôi phải hai giỏ lớn với đầy đủ các món ăn, chơi lẫn lương khô, thuốc Samit, cà phê, sữa… Còn tổ viên nào sáng giá hơn đối với tổ trưởng San Mỹ Đình và trưởng phòng Trần Bá Ngọc, hai tên cướp có súng bị giam trên hai năm và gia đình đã kiệt quệ vì thăm nuôi.”

Nhưng mà tổ trưởng và trưởng phòng đã lầm về Tạ A Sáng. Cũng trang 20: “Nhưng cũng chính cái mẽ ngoài đó hại Tạ A Sáng. Vì gia đình ông nghèo đến độ kỳ thăm nuôi đầu tiên, vợ con chỉ bới cho ông một chai xì dầu, một gói dưa cải chua và một nải chuối. Hỏi kỹ ra thì Tạ A Sáng sống bằng nghề vấn thuốc lá lẻ. Chuyện móc nối vượt biên và vụ lường gạt có vẻ như oan uổng thật.”

Đồ thăm nuôi của Tạ A Sáng chả ra gì, nên trưởng phòng muốn loại Tạ A Sáng ra khỏi phòng của gã bằng những mưu mô chước quỉ. Thằng trưởng phòng đã biết vận dụng một cách “sáng tạo”, đem cái điều 183 tròng vào cổ Tạ A Sáng, dồn ép Tạ A Sáng kể cả hình phạt bắt ngồi 3 ngày mà chưa tha. Trần Bá Ngọc dàn cái cảnh bắt tội Tạ A Sáng địt mà không đưa bàn tay phải lên xin phép đi ra ngoài. Ở trang 25:

– Ngộ có địt đâu mà bảo ngộ nhận.
– Nhưng tôi có bảo nị địt đâu. Tôi bảo nị nhận cho khỏi phải khổ thân.
– Không thì nhận là không. Sao lại nhận là có?
– Không nhận thì phải ngồi hoài.
…..
– Mà chú có nghĩ là ngộ có không?
– Không bao giờ tôi nghĩ như vậy.
….
– Không ai nghi cho nị cả. Cả phòng đều biết nị oan.
– Cả phòng đều nghĩ ngộ oan, sao còn bắt ngộ nhận?

Một thằng ngu dốt như thằng Trần Bá Ngọc còn “ép cung và bẩy” được Tạ A Sáng không tội mà nhận tội huống gì một Thẩm Phán, một Viện Kiểm Soát Nhân Dân, một tòa án, một công an, trong cái XHCN mà không tìm cho ra tội của một công dân yêu nước mới là một chuỵên lạ! Nói một cách tổng quát, đảng viên nào cũng tìm thấy một cách dễ dàng cái tội của người dân mà người dân thì không thấy. Thành ra cái chuyện đặt ra pháp luật và cái chuyện thi hành pháp luật ở cái XHCN thì nó thúi hoắc như cái đánh rắm của người nào đó.

Xuyên suốt 6 trang tác giả nói về Tạ A Sáng với giọng văn kể một cách ôn tồn, hầu như không có tranh luận, không có một cái nhếch mép để cười, không có một lời than để khóc. Nhưng mà người đọc thì có thể cười dài dài được, cười không hết hôm nay thì để ngày mai cười tiếp, Cọng Sản còn đó thì nụ cười này vẫn còn. Nhưng có một điều nụ cười của NMG không vui chút nào cho người đọc, cho chính ông, và cho chế độ đương thời.

Để kết luận, xin trích mấy câu thơ của Thiếu Tá, một trong 4 nhân vật kể truyện ở trên, trang 11

Tội bố to ghê đáng tử hình,
Người ta bảo vậy bố làm thinh
Ngày mai xuôi gió con cùng bố
Ra tận ngoài kia hỏi tội mình.

Bố nhớ con nhiều lắm bé ơi!
Con mang dép ngược bố la hoài
Bên này chân phải thành chân trái
Chân lý, trời ơi, cũng thế thôi!

 

TRƯỜNG AN.

TỰ TÌNH

nguyenan

Chỉ còn chiếc lá nâu lẻ loi trên cành.
Em đứng đó có nghe lòng cay đắng.
Anh hư ảo trong ngày dài vô tận.
Chút lạnh buồn ray rứt của mùa đông…

NGUYỄN ẤN

THU KHÔNG

nguyentansi

Nhặt chiếc lá nơi mùa thu chưa dến
Tàn đêm nay tin chắc sẽ thu về
Mây bất hạnh làm mưa ngoài ngõ vắng
Cơn mơ rêu chơm chớm khoắc khuya buồn
Thu mỏng tang như cánh nhỏ chuồn chuồn
Sự thất lạc bầu trời khung cửa hẹp
Nơi kéo thả lần đầu con dế khóc
Nơi tôi về và chổ ấy thu đi
Đừng làm mưa xanh mùa trăng vô vi
Anh còn đâu đồng cỏ vàng cơn khát
Quay về thôi đèn kéo quân phờ phạc
Khúc mùa thu người lớn trẻ con buồn
Chỉ còn mình ta ngồi lại hát suông
Bản đồng dao cho người năm mươi tuổi
Giữa nhân gian có một lần làm cuội
Một lần thu quay quắt giữa thu không
Đã về chưa lá vàng trong mênh mông
Không chắc chắn mùa thu còn đến kịp
Đêm khuếch đại giọt mưa làm áp thấp
Có lẽ nào như thế, lẽ nào thu..

NGUYỄN TẤN SĨ

KIỀU

nguyendinhbon

Trong miền ký ức u buồn,
Còn nghe tiếng vọng những hồn oan xưa!

Tuấn nói: “Lát nữa sẽ có người mời anh em mình đi cà phê. Một cô gái chắc chắn sẽ làm hai anh ngạc nhiên”. Dũng hồ hỡi: “Vậy hả. Nghe hồi hộp quá. Gái đẹp hả?”
“Bạn thằng Tuấn đứa nào không đẹp”, anh nhìn Dũng, cười khì khì.
Tám giờ tối. Trung tâm Cần Thơ vẫn khá yên bình. Không có những dòng xe máy lao ào ạt giống những đàn linh dương di cư trên thảo nguyên Châu Phi như tại Sài Gòn. Anh, Tuấn và Dũng đang trong một chuyến đi “tùy hứng” khi muốn trốn cái không khí ngột ngạt tại cái thành phố gần 10 triệu dân mà mình đang sống. Tuấn, một nhạc sĩ đang nổi danh. Dũng cũng được biết đến nhiều như một nhà thơ cách tân chỉ có anh là viết lách lai rai. Tuấn lại còn khá trẻ, đang độc thân, ăn nói hoạt bát, kiến thức khá rộng nên giống như một thỏi nam châm trước các em chân ngắn, chân dài…
Điện thoại Tuấn nhấp nháy tín hiệu. Hắn nói: “Rồi, giờ anh em mình đi” . Họ ra trước cổng khách sạn bắt taxi. Cảm giác của anh thật dễ chịu. Ngay cả taxi ở đây cũng nhanh chóng. “Cà phê Thủy Mộc nha anh”, Tuấn nói với người lái xe, và không cần nói địa chỉ, chiếc xe êm ái lăn bánh.
Thành phố nhỏ nên taxi chỉ chạy vài cây số là đến. Đó là một quán cà phê dạng vừa sân vườn vừa máy lạnh mà Sài Gòn có rất nhiều. Tuấn nói: “Mình vô trước đi, “cô em” đi xe máy từ Bình Thủy xuống nên chưa tới đâu”. Họ chọn một cái bàn ngoài sân. Anh tiếp tục kêu cà phê. Ly cà phê thứ năm hay thứ sáu gì đó trong ngày. Đêm nay có mất ngủ cũng không sao. Với anh, Cần Thơ có rất nhiều kỷ niệm…
Cà phê khá ngon, nhạc Lê Uyên Phương. Quả là một đêm để thư giãn tuyệt vời. Một đêm của những năm trước, cũng tại thành phố này… “Đến rồi đây!”. Tiếng của Tuấn lôi anh trở về thực tại. Một cô gái chạy xe gắn máy từ cổng vào chỗ gửi xe. Tuấn lịch sự rời khỏi ghế ra đón bạn. Cô gái có vóc dáng thanh mảnh đang cởi bỏ nón bảo hiểm, khẩu trang chống bụi. Khoảng sân thiếu ánh đèn nên không nhìn rõ mặt nhưng khi cô quay lại, cùng Tuấn bước vào anh bỗng nghe như có một luồng điện chạy dọc theo người. Bất chợt anh đưa tay vịn thành ghế và vin vào sức mạnh đó đứng lên. Cô gái đã lên tiếng: “Em chào hai anh!”. Dũng nhanh miệng: “Chào em, em đẹp quá”. Anh cũng gật đầu nói khá nhỏ: “Chào em” . Họ ngồi xuống. Cô gái kêu một ly sinh tố mãng cầu. Giờ thì anh mới kín đáo quan sát cô. Khuôn mặt không giống lắm nhưng mũi, cằm và dáng người thì y hệt. Đã ba mươi năm, không hiểu vì sao anh không thể quên…
“Đây là Kiều! Em gái miền Tây của em”. Tuấn hài hước giới thiệu. Kiều! Lại một lần nữa anh bàng hoàng. Một sự trùng hợp ngẫu nhiên lạ lùng. Người con gái ấy, người con gái ba mươi năm ám ảnh anh bằng hình dáng đó cũng tên Kiều. Anh hỏi, giọng hơi run: “Em là… gì Kiều?”. Cô gái cười tươi: “Dạ Ngọc Kiều”. Anh thở ra, giờ thì không có sự trùng hợp nữa, vì ngày xưa, cô tên là Thục Kiều!
***
Đó là những ngày cuối cùng của thời học sinh. Anh ở trọ tại một thị trấn nhỏ để học trung học. Kiều ngồi ngay trước bàn anh. Cô là người Hoa, gia đình buôn bán trong thị tứ. Ngay từ năm lớp 11 họ đã thân nhau, Kiều có nước da trắng đặc trưng của các cô gái gốc Hoa sống ở chợ. Nhưng cô lại một dáng người thanh mảnh và đôi mắt khá to, hơi buồn. Anh học giỏi nhưng lười. Kiều chăm chỉ và rất thích môn Anh văn. Sau mấy đợt “đánh tư sản” Kiều đi học vẫn mang giày sandal và mặc áo sơ mi bằng vải KT trắng. Hồi đó đang thời kỳ cả nước đều đói rách vì những “ngụy sách” ngu đần nên khộng có chuyện đồng phục. Anh chỉ có hai bộ đồ vải sản xuất trong nước, chân mang dép mủ. Nói là ở trọ chứ thật ra anh và hai người bạn đồng cảnh ngộ được một gia đình tốt bụng cho ở không lấy tiền tại một căn nhà nhỏ mà họ bỏ không, cách thị trấn chừng một cây số. Mười tám tuổi, anh vẫn cảm nhận cái không khí ngột ngạt quanh mình và những buổi lên lớp tẻ nhạt vì luôn phải đối mặt với những lời giáo huấn xảo trá của cái gọi là hệ thống giáo dục xã hội chủ nghĩa. Thị trấn nơi anh trọ học hoang tàn với những căn nhà phố chợ không được tu sửa, những mái tôn rách nát đìu hiu và cây cầu nhỏ bắt qua sông chỉ còn trơ lại cốt sắt nhưng người ta vẫn phải liều mạng đi qua vì sợ tốn tiền đò. Cạnh chân cầu là nhà Thục Kiều, nơi có những chiều chủ nhật, chàng trai mười tám tuổi lại ra đó ngồi chỉ để chờ nhìn cô bạn gái tình cờ xuống bến sông.
Đó không phải là mối tình học trò đầu tiên của anh. Hình như cái nòi tình phát triển trong những tâm hồn nhạy cảm rất sớm, nhưng chuyện của anh và Thục Kiều không chỉ êm đềm lãng mạn, nó còn mang một dư vị cay đắng mà ngay từ thời non trẻ ấy anh đã biết ai là người tạo ra những mối hận tử biệt sinh ly của cả một lớp người…
Dũng vỗ vai anh: “Sao ngồi chết trân vậy? Bị người đẹp hớp hồn hả?”. Tỉnh mộng, anh nhìn Kiều: “Ừ, bị hớp hồn thiệt rồi. Ngày xưa bạn gái anh cũng có tên giống em”. Cô gái cười, bàn tay nhỏ có những chiếc móng chăm sóc kỹ khuấy nhẹ ly nước. Có lẽ cô nghĩ anh nói chơi, hoặc là một cách tán tỉnh cô. Anh vẫn nhớ cái lần đầu anh nắm tay Thục Kiều là ngày thứ năm. Trưa đó gần giờ tan học, cô nói nhỏ: “Chiều ba giờ đi học thêm ha!”. Anh ngạc nhiên: “Ủa, chiều nay nghỉ mà, đâu có…”, nhưng rồi như chợt hiểu anh vội vàng: “Ừ, chiều tui đến chờ Kiều từ hai giờ rưởi” “Xạo quá!” Cô cười khúc khích.
Đang những ngày sắp thi tốt nghiệp phổ thông, cả khối 12 phải học thêm 3 buổi một tuần nhưng không phải chiều thứ năm. Lòng anh tràn ngập một cảm giác hạnh phúc. Đó chính là lời hò hẹn đầu tiên mà anh chưa dám nói và nó lại bất ngờ được cô nói ra. Mới hơn hai giờ anh đã đến, cầm theo cuốn tập. Chiều đó cả trường được nghỉ. Anh đứng trước cửa lớp của mình nhìn những cây phượng ra hoa đỏ rực, lòng xốn xang. Chưa đến ba giờ, anh nhìn thấy cô đến, cũng cầm trên tay một cuốn tập nhưng mặc một bộ đồ “xẩm” màu xanh sậm có in hoa lộ ra hai cánh tay tròn và trắng ngần. Sân trường vắng ngắt. Khi Thục Kiều đến gần, anh nghe cô nói nhỏ: “Đến sớm ha!”. Má cô đỏ bừng, có lẽ vì nắng và mắc cỡ. Họ đi vào lớp, ngồi vào cái bàn của Kiều. Không ai nói với ai lời nào. Bàn tay cô cuốn tròn cuốn tập, không dám nhìn anh. Thật lâu, cô nói: “Chắc Kiều không thi tốt nghiệp đâu!” Anh giật mình: “Không thi? Sao vậy? Chỉ còn một tháng nữa mà”. “Ừ, không thi. Thi đậu cũng đâu làm gì được. Nguyên thấy anh Công không. Ảnh đâu được thi đại học, số phận Kiều cũng vậy!”.
Anh chợt hiểu. Công là anh ruột Kiều. Học hơn anh hai lớp. Công học giỏi thuộc loại nhất trường nhưng sau khi đậu tốt nghiệp lại bị cấm thi đại học chỉ vì gia đình là người Hoa. Bất chợt anh nắm tay cô. Bàn tay Kiều run nhẹ một cái rồi để yên. Anh cảm giác tay cô thật ẩm ướt và tay mình cũng vậy. Đến bây giờ anh vẫn còn cảm nhận cái mềm mại của bàn tay nhỏ nhắn run rẩy đó. Họ cứ ngồi yên, cùng nhìn ra phía sân trường nơi nắng mùa hè vẫn còn chói chang rồi nhạt dần. Có cảm giác thời gian trôi qua mà không hiện hữu. Rồi cô rút tay ra, má vẫn còn ửng đỏ: “Kiều về đây. Nói vậy chứ chưa nghỉ học đâu, cho Nguyên cây viết này nè!”. Cô lấy ra cây viết paker trao cho anh, nói thêm: “Anh Công cho Kiều trước khi đi, giờ cho Nguyên”. Anh lặng lẽ nhận cây viết, không nói gì, cũng không hỏi Công đã đi đâu…
Buổi cà phê có vẻ đã kết thúc. Tuấn kêu tính tiền. Họ còn hẹn đi ăn ở đâu đó. Anh thoái thác, nói không khỏe và muốn về khách sạn. Hai người bạn và cô gái trẻ nhìn anh ái ngại, Tuấn đề nghị đưa anh về, nhưng anh cười, trấn an: “Không sao mà, nhức đầu chút thôi, lát hết.”.
Trên xe anh hỏi người lái taxi: “Giờ mà đi thị trấn G. bao nhiều tiền hả em?” “Anh muốn đến đó giờ này sao? Xa mà!”. Anh cười: “Hỏi chơi thôi, cho anh về khách sạn H.”
Sau cái lần nắm tay nhau trong buổi chiều chỉ có hai đứa, Thục Kiều bỗng thân thiết với anh một cách dạn dĩ trước những ánh mắt ganh tỵ của bạn bè vì trong lớp Kiều là người đẹp nhất, học cũng giỏi. Thế nhưng chỉ có một mình anh biết và một mình anh lo sợ khi ngày thi tốt nghiệp đã gần kề. Anh vẫn cố học vì dù sao sau 12 năm mà thi rớt chắc cũng ê chề. Giữa tháng năm, mưa đã bắt đầu rơi xóa dần cái không khí nóng bức mùa hè nhưng lòng anh ngổn ngang trăm ngàn cảm giác. Năm học sắp sửa kết thúc. Một chiều thứ bảy đang ngồi nhà một mình với cuốn bài tập toán anh nghe tiếng ai kêu tên mình từ ngoài đường. Tiếng của Kiều! Tim anh đập rộn ràng. Sao cô lại đến đây? Anh vội vàng chụp lấy cái quần dài mặc vào rôi chạy ra sân. Thục Kiều đứng đó, trên tay là một bịch sơri chín đỏ. Cô cười: “Đến thăm Nguyên, được hôn?”. Anh sững sờ nhìn cô. Hôm nay Kiều mặc một bộ đồ ở nhà trông rất lạ, như thể cô đã bước qua lứa tuổi học trò, trở thành một cô gái xinh đẹp đã trưởng thành. Anh ấp úng: “Ừ, Kiều vô đi, Nguyên ở nhà có một mình”. Căn nhà anh trọ trống hoác. Chỉ có một chiếc giừơng vứt đầy sách vở, không có ghế. “Kiều ngồi xuống đây đi!”, anh nói và ngồi xuống ở một đầu giường. Cô ngồi xuống, thật gần bên anh, mở bịch sơri ra, lấy gói muối ớt, nói: “Nguyên ăn với Kiều, Nguyên cầm muối”. Anh để gói muối trong lòng bàn tay, khi ngón tay cái và ngón trỏ nhỏ nhắn cầm trái sơ ri chạm vào anh nhẹ nhàng khép tay mình lại. Họ nhìn nhau thật lâu, thật lâu… Bỗng nhiên trong đôi mắt u buồn lăn ra từng dòng nước mắt trong vắt. Anh hốt hoảng: “Có chuyện gì vậy Kiều?”. Cô bỗng bật khóc, buông bịch sơri, dựa hẳn vào anh: “Kiều sắp đi rồi! Kiều sắp bỏ Nguyên! Kiều chỉ nói điều này cho một mình Nguyên biết”. Giây phút ấy anh thấy mình lóng ngóng, hụt hẩng. Lần đầu tiên anh choàng tay qua vai một cô gái. Họ lại ngồi im lặng thật lâu, rồi Kiều nói: “Nguyên ơi, người ta nói đi vượt biên sợ nhất là cướp biển Thái Lan, đúng không Nguyên?” “Ừ, Nguyên cũng nghe vậy. Tụi nó đón người dân mình ngoài biển, cướp vàng”. “Kiều không sợ mất vàng, Kiều chỉ sợ…”. Cô vẫn khóc, giấu cặp mắt đầy lệ vào vai anh. Anh bàng hoàng. Đúng rồi. Một cô gái trẻ như Kiều khi rơi vào tay bọn cướp biển thì chúng đâu chỉ lấy vàng, chúng sẽ hảm hiếp cô. Anh rùng mình, ôm chặt lấy cô: “Đừng đi, Kiều ơi, đừng đi” “Không, Kiều không thể ở lại đất nước này, gia đình Kiều đã chung tiền. Sáng mai Kiều đi Rạch Giá, và tối…”.
Bất chợt cô ôm chầm lấy anh, bàn tay quàng qua cổ, hôn như mưa trên gò má anh, cô nấc lên: “Nguyên ơi, người ta nói rằng những cô gái đồng trinh khi chết sẽ không siêu thoát. Kiều sợ, Kiều sợ lắm”.
Phải mấy năm sau anh mới hiểu câu nói đó của cô. Nhưng buổi chiều hôm đó anh chỉ biết ôm cô vào lòng, cùng khóc với cô, không hề có một hành động xác thịt nào, ngay cả nụ hôn môi cũng không… cho đến khi nắng tắt…
Ngay hôm sau, chỉ có anh biết trước là Kiều sẽ biến mất. Trường lớp xôn xao vài ngày rồi cũng thôi.
Mới đó mà đã ba mươi năm hả Kiều?

Saigòn 3.2012
NGUYỄN ĐÌNH BỔN

TIỄN BẠN

nguyenngocnghia

Vỗ bụng ca dăm câu tống biệt
Tích tình tình tang ta tiễn nhau
Bè bạn bây giờ mây gió nổi
Những mái đầu lốm đốm ánh sao

Học đòi chi chút rượu tiễn đưa?
Ly chưa cạn mà lòng chuếnh choáng
Gõ chén ngỡ mình Nịnh Thích xưa
Ngồi lưng trâu thế nhân đàm luận

Vị cuộc sống thấm môi mằn mặn
Gói áo cơm hổ thẹn tang bồng
Ừ. Cũng tỉ như phường gía áo
Xếp yên cương, xó bếp chạy rong

Bạn ta, trán xẻ ngang cắt dọc
Miệng cười rung đuôi mắt nhọc nhằn
Tiễn nhau hà cớ lòng bịn rịn
Ví thử đời như bọt rượu tăm

Không sân ga cũng chẳng bến sông
Cũng không tiếng sóng ở trong lòng(*)
Chỉ góc quán vỡ òa, sảng khoái
Nhìn nhau, chữ nghĩa hóa mù không

Hồ trường hề lung linh râu bạc
Rót tràn tri kỉ chén thiên thu
Mai mốt tìm nhau nơi góc khuất
Nối cuộc vui sóng sánh tít mù

(*) “Đưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng….” (Thơ Thâm Tâm)

NGUYỄN NGỌC NGHĨA
(03-2014)

NỖI BUỒN CHIẾN THẮNG

trantrungdao

Anh bước đi giữa trời đất Bắc
Hà Nội mưa phùn lạnh kẽ xương
Chiếc nạng gỗ khua từng tiếng nấc
Gõ nhịp thương đau xuống mặt đường

Như trụ đèn đêm không biết nói
Anh âm thầm đi giữa mùa xuân
Ðã cháy mộng vàng theo khói thuốc
Thời hoa niên xếp ở ven rừng

Những chiếc tượng đồng loang lổ máu
Khẩu hiệu mờ dấu vết thi đua:
“Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”
Anh cười, nước mắt chảy theo mưa

Tổ quốc bao năm rồi “thống nhất”
Anh về, đi giữa phố không quen
Hà Nội mang nỗi buồn chiến thắng
Thừa huy chương nhưng thiếu miếng ăn

Chiếc lá cuối mùa không chỗ rụng
Anh một đời thiếu chỗ dừng chân
Gánh nợ non sông đành gởi lại
Về đâu bốn phía gió mưa giăng

Dăm trẻ ăn mày ngơ ngác đứng
Tìm gì trong khoảng trống hôm nay
Hỡi em, cô gái quàng khăn đỏ
Lại gần anh nhận diện tương lai

Anh bước đi giữa trời đất Bắc
Mang niềm thương nỗi nhớ khôn nguôi
Máu và tim của hồn tổ quốc
Bốn nghìn năm chảy một dòng thôi

Quê anh đó phố phường Hà Nội
Lạnh lùng trong gió rét lê thê
Nhỏ nước mắt chào anh trở lại
Khóc một người con lạc lối về.

TRẦN TRUNG ĐẠO

ĐÊM ĐỢI LŨ

Hovietkhue

– Ông bà nói trật lất!
Lão Sơn cụt lầm bầm, tiếc nuối hàng xà cừ trốc gốc đánh ùm xuống dòng nước ngầu đỏ chảy xiết. Mấy năm trước, mưa nguồn cả ngày nước mới đổ về khúc sông La Ngà ngang nhà lão. Năm ngoái, mưa nửa ngày nước về mấp mé ranh vườn. Còn năm nay, mưa chừng sôi nồi cơm, nước đã cuồn cuộn nuốt hàng xà cừ sát mép sông. Vợ lão Sơn đang thu dọn đồ đạc, còn đám trẻ đã di tản về nhà ông bà ngoại từ trưa để tránh lũ quét. Màu xanh núi rừng ngày càng hút tầm mắt. Ông bà nói “ Ăn của rừng rưng rưng nước mắt”. Bọn ăn của rừng giàu có vì không vốn bốn lời, chúng tậu nhà tuốt ở Sài Gòn có bao giờ biết mưa rừng lũ quét. Chỉ có đám dân nghèo bám đất bám rừng mới rưng rưng nước mắt vì thiên nhiên trả thù, vì môi trường sinh thái bị hủy diệt. Ông bà không nói trật lất là gì!
Có tiếng í ới rồi Hoè chui rào sang với bao quần áo trên vai. Lão Sơn đánh trận nửa đời, gửi lại trận mạc một cánh tay Hòe mới tập vác súng. Lão từ rừng ra, còn chú lính địa phương quân Hoè từ phố xá lên vùng kinh tế mới lập nghiệp lại chui vào rừng để đốn củi, hầm than. Lão Sơn quý Hoè vì anh dám nói thẳng với đại diện chính quyền địa phương là con anh ta đói, trong khi chờ khoai sắn cho củ, anh chỉ lượm mót chút của rừng. Hoè thách thức lão Sơn cụt chặn bắt những chiếc xe chở gỗ lóng dài ngoằn chạy rầm rập từ rừng ra quốc lộ 1 hằng đêm của bọn đại lâm tặc, chứ bắt tịch thu gánh củi bao than của bọn tiểu lâm tặc như Hoè chỉ thêm mang tiếng…pháp luật không nghiêm minh. Ngày xưa, nếu không có những gốc cây gỗ đường kính hai, ba người ôm phải nối song mây vào dây dù mới căng được chiếc võng thì khối chiến sĩ đã bị bọn tàu gáo quạt tróc đầu.
Lão Sơn cụt đem chuyện những chuyến xe gỗ dài ngoằn hỏi bạn cũ giờ làm lãnh đạo. Bạn cười khẩy. Làm sao giữ nổi rừng trước làn sóng di dân ồ ạt, thôi thì biến rừng thành đồi trà, vườn cà phê, vườn cây ăn trái. Đó cũng là cách giữ độ che phủ cho đất, giữ nguồn cho nước bằng cách thay chiếc áo xanh cho rừng mà còn tạo ra của cải cho xã hội, đem lại cuộc sống sung túc cho bao người. Về những chuyến xe gỗ dài ngoằn rầm rập hằng đêm, người bạn lãnh đạo thề trên tình đồng đội năm tháng đổ máu chiến trường là hoàn toàn hợp pháp. Chỉ thời gian ngắn, lời thề theo người bạn cũ bay vào…trại giam vì giấy phép cho khai thác một thì bọn họ câu kết khai thác gấp mười. Rừng xanh nào mà còn!
Con tắc kè ló đầu khỏi cây cột ống tre thao láo nhìn hai người đàn ông uống trà trên bộ ván trước hiên, lạnh lùng buông hai tiếng “tắc kè”, mà Hoè thường nhại “hết rừng”. Nước vẫn sôi sùng sục ngang khúc sông ôm quanh đất lão Sơn cụt. Vợ lão đang treo chiếc rổ đựng mẹ con bầy gà mới nở lên cây cột giữa nhà, góp chuyện :
– Tại sao người ta chặt cây gỗ cả người ôm rồi trồng lại cây con bằng chiếc đũa, hả ông cụt?
– Chuyện phá rừng nguyên sinh để trồng rừng non, bà phải hỏi mấy thằng Bảy Rưỡi.
Lão Sơn cụt tưng tửng. Bảy Rưỡi là tên chung mà lão đặt cho bọn phá rừng. Từ anh Ba anh Bảy đến thằng Mỹ thằng Pháp, lão đều gọi chung là Bảy Rưỡi để khỏi mếch lòng vì cha mẹ có đẻ đứa con nào chỉ có nửa người đâu mà đặt là Rưỡi. Hoè xía :
– Thằng Bảy Rưỡi – phó – chủ – tịch mới ra tù hôm qua.
Bọn phá rừng nổi tiếng ở quê lão mà báo chí gọi là “phá rừng vô địch quốc gia” bị kêu án mỗi thằng hai mươi năm tù, mới thụ án sáu, bảy năm đã được đặc xá về với vợ con; có thằng về chỉ còn con vì vợ đã ôm của ăn của rừng đi lấy chồng khác. Trường hợp này coi chừng ông bà nói đúng là “ăn của rừng rưng rưng nước mắt”, à ta!
– Vợ chồng thằng Bảy Rưỡi – giám – đốc ra tòa ly dị rồi …
Bà Sơn cụt ghé ngồi bên chồng, uống một tách trà cho thấm giọng mới thông tin sốt dẻo, sau khi cột chặc miệng cái bao nhét đầy những thứ giá trị nhất. Năm nào cũng chạy lũ nên bà có thừa kinh nghiệm chọn cái nào, bỏ cái nào mà không tiếc rẻ nếu lũ có quét cả nhà đổ xuống sông. Thằng Hoè hào hứng hưởng ứng ngay.
– Thằng Bảy Rưỡi – giám – đốc không thuộc câu ca dao : “ Ai ơi chớ lấy thợ cưa / Cưa qua cưa lại…dái đưa lòng thòng”.
Chuyện phu nhân Bảy Rưỡi – giám – đốc ngoại tình với thằng thợ mộc to con đẹp trai thì làng trên xóm dưới đều biết. Nguyên nhân là Bảy Rưỡi – giám – đốc tha về nhà nhiều gỗ quý để thuê thợ đóng đồ mộc. Thợ ăn ở ngay trong nhà tháng này qua tháng khác. Một lần đi rừng về, Bảy Rưỡi – giám – đốc thấy thằng thợ mộc nó “đóng” luôn con vợ mình. Nhiều người ác khẩu còn lu loa là thằng thợ mộc chuyên mặc quần đùi ống rộng đứng trên thang cao ưỡn bụng ra khiêu khích, rồi nhờ phu nhân Bảy Rưỡi – giám – đốc chồm lên đưa cây búa cây đinh. Lão Sơn cụt thoáng nao núng, trường hợp này cũng là “ăn của rừng rưng rưng nước mắt” chăng?
Con tắc kè lại buông hai tiếng “hết rừng!”. Tiếng nước chảy xiết nghe mạnh hơn, gấp gáp hơn rồi có tiếng ầm ào của hàng xà cừ trốc gốc đổ ập vào dòng nước hung hãn. “Chạy mau!”. Lão Sơn cụt hô lớn như hô xung phong vào trận.
Cả ba ngồi thở dốc bên vệ đường liên xã cao hơn bờ sông cả chục mét. Ngoái nhìn phía dòng sông, lập bập đốt điếu thuốc từ mồi lửa của Hòe khum tay che gió, lão Sơn cụt chửi đổng :
– Mẹ nó chớ thay màu xanh cho rừng. Bọn lâm tặc cầm bút nguy hiểm gấp ngàn lần lâm tặc cầm cưa. Chỉ quân lâm tặc trên bàn giấy mới chủ trương như vậy. Rễ cây cà phê, cây trà, cây ăn trái thì làm sao giữ đất giữ nước bằng rễ cây rừng cổ thụ. Ông bà phải nói là…thằng ăn của rừng, thằng rưng rưng nước mắt!

HỒ VIỆT KHUÊ

THƠ NGÀY CŨ

dunga

(Mới đó, mà đã 30 năm!)

Có gì mà vội vã
Chiều qua xanh thế kia
Nắng còn nồng thơm quá
Kéo hộ gió mây về

Đường em đi nắng đỏ
Anh hàng cây mát che
Những dấu giày nho nhỏ
Như những nụ hoa xòe

Đừng vội vàng chân bước
Đường thơm bao cỏ hoa
Có thể nào quên được
Âm thanh chiều lan xa

Anh bây giờ lỡ hẹn
Đứng chờ trên lối xưa
Lá chiều thu nhẹ quá
Bay ngang trời như mưa

Anh chỉ còn chút nắng
Vàng khô trong đáy tim
Như cánh hoa tàn úa
Như lời ca viết thêm

Có lẽ rồi sẽ thấy
Một vì sao xa xăm
Trời bình minh xanh mỏng
Ửng hồng qua tháng năm

Anh mang từ tiếng hát
Về giữ chút hương thầm

DU NGÃ 1984

THƠ TÔN PHONG

tonphong

CẢM ĐỀ
Xuân này
xuân của ngày xưa
Ai từ cổ tích
mới vừa qua đây
Người đi từ phía chân mây
Đến làm hạt bụi
lại bay về trời…

VỌNG PHU
Đất nước này hàng triệu vọng phu
Nếu hóa đá còn gì đất nước
Mẹ dẫu có làm điều bạo ngược
Ai đày con hóa đá bao giờ

TỰ CẢM
Cổng nhà tôi không còn ai đến nữa
Bậc thềm nằm nhớ những dấu chân
Tên tôi không còn ai nhắc nữa
Tôi bỏ quên tôi giữa cộng đồng…

TÔN PHONG

TÔI VÀ EM

luuthy

Ngày tôi mười bảy tuổi một tháng em mới sinh ra đời, ngày tôi chưa tới bốn mươi em mới vừa đôi mươi. Em bảo em sinh ra dưới một vì sao xấu, tôi nói ngày tôi sinh cũng chẳng có gì hay. Em nói em rất yêu nhạc Trịnh, tôi bảo nhạc Trịnh tôi cũng mê, em mê Trịnh Nam Sơn như điếu đổ, còn tôi không Trịnh nào hơn được Trịnh Lâm Ngân.
Em là một nửa của đời tôi và với em tôi chẳng là cái thá gì của em. Lúc nào cũng là tôi mở miệng trước, tôi mời em đi ăn, tôi mời em đi shopping, tôi mời em đi dạo, tôi gọi phone cho em mỗi ngày, tôi nhớ em từng giờ từng phút từng giây, còn em, em chỉ cười và gật, em không bao giờ từ chối tôi một điều gì và em chưa hề nói được lời cảm ơn.
Em không hề tặng tôi ngay cả một đoá hoa, không gọi tôi bằng tiếng anh, dù viết hoa hay viết thường, và chưa bao giờ mời tôi dự sinh nhật.
Quen em bao lâu tôi cũng chẳng biết được chính xác ngày sinh của em. Em chỉ cho biết em sinh sau tôi một tháng. Em không mừng sinh nhật, không bánh kem, không đèn cầy, không happy birthday to you với to me. Em bảo sinh nhật của em mười sáu người vui và chín chục triệu người buồn.
Sinh nhật tôi tôi cũng không đèn cầy với bánh kem. Sinh nhật tôi chỉ rất ít người vui và quá lắm người buồn, đầy nhang đèn khấn vái.
Một ngày khác với mọi ngày, em gọi điện cho tôi. Tôi a lô trả lời mà giọng bỗng nhiên run. Em ngạc nhiên hốt hoảng. Em hỏi thăm sức khoẻ tôi. Em sợ tôi ngã bệnh. Lần đầu tiên em gọi điện cho tôi. Trời ơi! Em hỏi thăm tôi. Trời ạ! Em quan tâm tới tôi. Chúa ơi! Có phải giờ tôi hết còn là cái thá gì của em? Có phải giờ em đã chấp nhận tôi là một nửa của đời em?
Em mời tôi dự sinh nhật của em. Cảm ơn Trời Phật Đức Chúa Giê Su! Sinh nhật của em chỉ có tôi và em. Chỉ có em và tôi và chỉ có hai chúng tôi.
Trời đất quanh tôi như muốn nổ tung. Trái tim tôi co thắt. Tôi muốn ngạt thở. Tôi chẳng nói nên lời.
Tôi đến nhà em đúng một tiếng đồng hồ trước giờ hẹn. Em không có nhà.
Tôi đến nhà em đúng giờ hẹn. Em có nhà. Tôi biết em có nhà. Tôi nghe tiếng động ở bên trong. Tôi bấm chuông. Tôi chờ đợi. Em không nghe hay em giả vờ không nghe để tôi lại chờ lại đợi lại mong.
Bên kia cánh cửa có tiếng em thầm thì rồi em khóc.Tôi không còn kiên nhẫn được nữa. Tôi hết còn chịu đựng nổi, tay bấm chuông tay gõ cửa liên tục. Em xuất hiện với cặp mắt đỏ hoe. Chưa lần nào tôi thấy em buồn như vậy. Ngày thường, em lúc nào cũng cười, nụ cười thay câu nói, nụ cười thay lời cảm ơn, nụ cười thay cho lời xin lỗi.
-Em quên dặn anh khi tới cứ mở cửa mà vào, cửa không khoá. Cái chuông điện hư lâu rồi nhưng em chưa kịp sửa.
Tôi ngửi thấy mùi nhang trên tay em. Tôi nhìn thấy hai cây đèn cầy lớn với hai cây đèn cầy nhỏ trên cái bánh kem trên bàn thờ. Tôi thấy lon bia 33 và gói thuốc lá Pall Mall. Tôi thấy dĩa gỏi trộn với cái bánh tráng mè nướng và tôi thấy bức hình hai người đàn bà, người trẻ là em và người lớn hơn, có lẽ là mẹ em, chỉ có thể là mẹ em. Em chưa bao giờ cho tôi coi hình ba mẹ. Với tôi, em luôn luôn là một trời bí mật.
Em đứng trước bàn thờ, hai tay thắp nhang khấn vái, miệng thầm thì, ngước mặt nhìn tấm hình rồi bật khóc nức nở.
Tôi không thể chỉ cứ đứng yên bất động mà nhìn em khóc. Tôi đến sau lưng em, hai tay ôm em vào lòng vỗ về an ủi.

-Hôm nay là ngày giỗ ba và cũng là ngày sinh nhật của em. Ngày em ra đời cũng là ngày ba mất. Hình người đàn bà trên bàn thờ là hình mẹ em. Anh thấy không, em không có một nét nào giống mẹ em hết. Mẹ tiếc mẹ không giữ được một tấm hình nào của ba, nhưng mẹ bảo, không hề gì, hình ảnh của ba vẫn mãi mãi ở trong lòng mẹ. Mẹ nói em rất giống ba, hai cha con giống nhau như hai giọt nước mắt, cứ cắt mái tóc dài của em đi, cứ làm cho làn da em nhăn nhó một tí, cứ dầm sương phơi nắng một thời gian, gương mặt em không khác chi ba. Bàn thờ ba mẹ, em không có hình của ba, em thay thế hình em với mẹ là như vậy.
Mẹ kể ngày em sinh ra đời, em với mẹ cùng thi nhau khóc. Em khóc tiếng khóc chào đời, còn mẹ, mẹ khóc tiếng khóc chia ly. Mẹ không bao giờ kể chuyện ba với mẹ cho em nghe. Dù em có năn nỉ ỉ ôi, có van lơn nằn nì xin mẹ kể, mẹ chỉ lắc đầu, rồi kể em nghe chuyện cổ tích đời xưa. Mẹ kể rằng:

Ngày xửa ngày xưa… Ở một nơi không xa mà lại nhỏ nào đó nằm ven đường 19, có hai cái xóm nhỏ đối diện với con đường cái quan. Cái xóm bên kia là nơi có dòng dõi nhà họ Bùi vang lừng khét tiếng, còn cái xóm tên Bàu bên này đường thì vô danh tiểu tốt không ai hay. Cái xóm Bàu tầm thường qua biết bao nhiêu là đời, không có nhân vật nào ra hồn, không có nhà nào có người từng là lính Tây Sơn đừng nói chi là tướng võ quan văn như cái xóm nhà họ Bùi phía bên kia đường. Thời Quốc Gia không có ai là tướng tá Quốc Gia hay cán bộ nòng cốt Cách Mạng. Thời Hoà bình thống nhất, cửa đóng then cài rồi hé mở đón làn gió mới kinh tế thị trường, cũng chẳng thấy quan nhỏ với quan to, đại gia công tử với tiểu thư, đi xe con, diện áo đầm gấm, tay xách túi xách Louis Vuitton về làng.
Cái xóm Bàu vô danh tầm thường như vậy lại sản sinh ra một chàng hoàng tử tên Ba, phải lòng một cô công chúa ngủ trong rừng tục danh là Mẹ.
Ba với Mẹ hai nhà cách nhau chỉ cái giậu mồng tơi, học với nhau ngồi chỉ cách một dãy bàn dài, hai người sáng đi chiều về dung dăng dung dẻ, đánh đáo thả diều, oẳn tù tì chơi u quạ, nhảy dây đánh thẻ, thảy ô làng, bịt mắt bắt dê…
Ông đi qua bà đi lại rồi cũng năm… mười… mười lăm năm trôi qua… Ba cũng xếp bút nghiên theo việc binh đao, về cái xóm Bàu rước dâu là Mẹ, rồi hai người giã biệt xóm làng bỏ xứ ra đi.
Ba Mẹ vượt đèo Bình Đê qua Phá Tam Giang dừng chân bên cây cầu Thạch Hãn, ngày ngày quỳ lạy Chúa trên cao trong vương cung thánh đường La Vang nguyện cầu cho đất nước thanh bình mẹ tròn con vuông.
Chúa không nghe lời Ba Mẹ nguyện cầu. Chúa có xót thương chăng dòng người phía dưới đang lũ lượt bồng bế hớt hải xuôi Nam. Trong dòng người có cô công chúa Mẹ đầu đội mũ sắt mặc áo giáp chống đạn, còn chàng hoàng tử Ba để đầu trần đưa tấm lưng không che chở. Thiên đường địa ngục hai bên, ai khôn thì dại ai dại thì khôn, đi đường nhớ Chúa nhớ Cha, đọc kinh cầu nguyện, xin cho chúng con đến được nơi an toàn…

Chuyện cổ tích chàng hoàng tử tên Ba phải lòng cô công chúa tục danh là Mẹ mẹ kể cho em nghe bao giờ tới đây cũng chấm dứt đột ngột, rồi mẹ ôm em mẹ khóc. Mẹ bảo chuyện cổ tích bao giờ cũng có hậu, kẻ ác bị Trời phạt, người hiền được Trời thương, chia ly sẽ tái hợp, thiên đường dưới thế cho người thiện tâm. Mẹ bảo chuyện cổ tích mẹ kể có cái hậu không hay, người lành bị hại, kẻ ác làm vua, hết chia ly tới chia lìa, thiên đường dưới thế không có chỗ cho người thiện tâm, nên mẹ phải dừng ở cái nơi đáng phải dừng, để chuyện cổ tích của mẹ mới đúng là cổ tích.
Rồi mẹ lại khóc.
Em hỏi mẹ thế thì cái cô tiểu công chúa con của chàng hoàng tử Ba và nàng công chúa Mẹ về sau ra sao? Mẹ chỉ nói cô tiểu công chúa được đức Chúa trên cao che chở, cho ra đời bình yên vô sự, cất tiếng khóc oe oe chào đời trên tay Mẹ và bên cạnh xác Ba. Chàng hoàng tử Ba đã anh dũng hy sinh bảo vệ cho công chúa Mẹ và tiểu công chúa sinh ra bên cạnh cột cây số lỗ chỗ vết đạn không rõ số bao nhiêu trên con đường số Một.
Em hỏi mẹ, tên cô tiểu công chúa có phải là Một? Mẹ gật đầu.
Anh thấy đấy, tên em không phải là cái tên tầm thường, tên em là tên của một cô tiểu công chúa trong chuyện cổ tích đời xưa có chàng hoàng tử tên Ba phải lòng cô công chúa ngủ trong rừng có tục danh là Mẹ.
Giờ anh chắc hiểu tại sao sinh nhật của em mười sáu người vui và chín chục triệu người buồn… Giờ anh chắc hiểu tại sao em không bao giờ làm sinh nhật.
-Sao lần này em lại tổ chức?
-Em có hứa với mẹ “Khi nào con tìm lại được một nửa đã mất của đời con, con sẽ đưa về nhà ra mắt Ba Mẹ”

Lưu Thy