Ngựa Nản Chân Bon

nguyenmonggiac

Nguyễn Mộng Giác

Gió vi vu làm nền cho lời ca thánh: …”Nhờ công ơn lân tuất của Chúa ta, Đấng đã từ cao cho ‘Mặt trời mọc’ đến thăm viếng. Và soi sáng cho những ai còn ngồi trong u tối và trong bóng chết, để dắt chúng ta trên con đường an lạc. Lạy Chúa xin cho các linh hồn được yên nghỉ muôn đời và được hưởng ánh sáng nghìn thu. Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin ta thì dù có chết sẽ được sống lại, và ai sống mà tin ta thì không phải chết đời đời”.

Vị linh mục đọc kinh Lạy Cha… và rảy nước thánh lên chiếc quan tài đóng vội bằng gỗ ván thuyền. Vợ người quá cố khóc thảm thiết, và lúc bấy giờ lời cầu nguyện lại làm nền cho tiếng khóc. ”Lạy Chúa, xin thương người quá cố này là tôi tớ Chúa. Xin đừng theo việc làm mà phán xét họ, họ vốn một lòng một ý với Chúa. Lại nữa, khi còn sống họ đã ở cùng đoàn thể các tín hữu, với một lòng tin tưởng thành thực. Xin vì lòng nhân từ Chúa, cho linh hồn Giu-se họp đoàn thể cùng các Thiên Thần Chúa trên trời. Nhờ Chúa Ki Tô, Chúa chúng con. Amen”. Quả phụ nín khóc. Dường như một lúc nào đó, tạm quên đau khổ nàng lắng nghe lời ca thánh, và bất chợt nhận thấy lời nguyện chung gần gũi với nỗi lo lắng và niềm mơ ước riêng tư. Hoặc niềm đau xót đã đến chót vót, khiến nàng bàng hoàng ngơ ngác, như người đã lên đến ngọn đỉnh trời, lo âu nhìn vực thẳm quanh mình, không biết làm gì nữa giữa chốn mây khói bàng bạc và gió thổi. Vị linh mục tiến thêm một bước để làm dấu thánh giá trên quan tài… ”Lạy Chúa xin cho linh hồn Giu-se được nghỉ yên muôn đời, và được hưởng ánh sáng nghìn thu. Xin cho linh hồn Giu-se được nghỉ yên. Amen. Mong cho linh hồn này và linh hồn mọi tín hữu, nhờ lòng lân tuất Chúa được nghỉ ngơi bằng an. Amen”.

Đã đến giờ hạ huyệt. Từng nắm cát rơi rào rào trên tấm ván thiên, lâu lâu có lẫn tiếng sỏi rơi khô. Góa phụ lại nức nở khóc. Chẳng mấy chốc bên bãi đáp phi cơ trực thăng lập chon von trên sườn núi có thêm một ngôi mộ. Những người đưa tang lần lượt xuống núi, lòng nặng trĩu đẩy bước chân mau.

Chờ cho góa phụ về xong, vị linh mục mới cởi áo lễ và mời mấy người bạn thân về lán mình uống trà. Họ vui vẻ nhận lời, mỗi người có lý do hoàn toàn khác nhau. Viên trung úy từng học ban triết ở đại học Văn Khoa trước khi bị động viên muốn bàn với linh mục vài vấn đề thuộc tín lý đạo Thiên Chúa liên quan tới cái chết và sự phục sinh. Ông nhà giáo muốn có dịp đưa ra nhận xét về ý nghĩa tang lễ. Cụ cán sự công chánh hồi hưu muốn quên một ám ảnh khó chịu và muốn thưởng thức trở lại vị trà thơm Đài Loan sau mấy tuần uống trà HCR nhạt thếch Tiếp tục đọc

GỞI NGƯỜI SINH NHẬT THÁNG TƯ

nguyenngocnghia

Nắng không vàng, nắng đỏ môi em
Là lúc tim anh gióng chuông rền rã
Tháng tư ướp mật cho đời óng ả
Hương sắc đất trời phả xuống trăm năm

Lửa Phục sinh, em, tháng tư huyền nhiệm
Cháy giữa lòng anh, cháy đến vô cùng
Tự lúc nào
lời kinh anh hư huyễn
Chúa xót thương người
Thánh nữ thương anh không?

Mênh mang. Mênh mang cơn mưa đầu hạ
Mê hoặc nắng vàng, mê hoặc trần gian
Từng sợi nhỏ đan qua ngày rất nhỏ
Như lời tình vụng về
Rơi giữa xa xăm

Anh ngồi uống khan nghìn giọt nắng
Ngửa mặt. Phà hơi. Hớp gió tháng tư
Đâu dễ có bao giờ, một khoảng lặng
Giữa muôn trùng
đăm đắm phù hư….

NGUYỄN NGỌC NGHĨA

KHÔNG ĐỀ

vungocgiao1.
đàn xưa năm cung vất vưởng
ngân dài một khúc tang thương
2.
tiếng chim lạc loài âm hưởng
ngoài hiên , hương chợt ngát hương
3.
trăng treo đỏ sần , chín sượng
lênh đênh hồn trắng một phương
4.
đất trời bỗng dưng độ lượng
nghe ra đời rất vô thường !

VŨ NGỌC GIAO

TƯƠNG TRI 15

Screen Shot 2014-04-17 at 11.02.31 PM

TƯƠNG TRI SỐ 15
THÁNG 4-2014
KHỔ 5.5 x 8.5
174 TRANG

◎ÂU THỊ PHỤC AN◎BÙI LÊ VI QUYÊN◎BÙI THANH XUÂN◎CAO VĂN TAM◎CHU THUỴ NGUYÊN◎DAO LAM◎DU NGÃ◎DUYÊN ANH◎DƯƠNG HẰNG◎ĐẶNG CHÂU LONG◎ĐINH TẤN KHƯƠNG◎ELENA PUCILLO TRUONG◎HẠC THÀNH HOA◎HỒ VIỆT KHUÊ ◎HUYỀN CHIÊU◎KHUẤT ĐẨU◎LÊ SA◎LÊ TRUNG TÍN◎LÊ VĨNH TÀI◎LINH PHƯƠNG◎LƯU THY◎NGUYÊN VI◎NGUYỄN ẤN◎NGUYỄN ĐĂNG KHOA◎NGUYỄN ĐẶNG MỪNG◎NGUYỄN ĐÌNH BỔN◎NGUYỄN LÃM THẮNG◎NGUYỄN MAN NHIÊN◎NGUYỄN NGỌC NGHĨA◎NGUYỄN NGỌC THƠ◎NGUYỄN NHẬT HUY◎NGUYỄN NHƯ MÂY◎NGUYỄN PHƯỚC TIỂU DI◎NGUYỄN TẤN CỨ◎NGUYỄN TẤN SĨ◎NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH◎NGUYỄN THỴ◎NGUYỄN TRÍ◎NHẬT PHONG◎PHẠM THIÊN THƯ◎TẠ CHÍ THÂN◎TÂM NHIÊN◎ TÔN NỮ THU DUNG◎TÔN NỮ THU NGA◎TÔN PHONG◎TRẦN DZẠ LỮ◎TRẦN HOÀI THƯ◎TRẦN HUYỀN THOẠI◎TRẦN THỊ TRÚC HẠ◎TRẦN THIÊN THỊ◎TRẦN THOẠI NGUYÊN◎TRẦN TRUNG ĐẠO◎TRẦN VĂN NGHĨA◎TRẦN VẤN LỆ◎TRƯƠNG VĂN DÂN◎TRƯỜNG AN◎TRƯỜNG NGHỊ◎VĂN CÔNG MỸ◎VĂN KHỐ THUYỀN NHÂN◎VÕ DUY CHUNG◎VŨ ĐÌNH HUY◎VŨ KHUÊ◎YÊN HỒNG◎

 

AMAZON.COM

AMAZON.FR

AMAZON.CO.UK

SÀI GÒN… NGÀY DÀI NHẤT!!!

duyenanh

10 giờ 40, mười phút sau lệnh đầu hàng cộng sản của Dương văn Minh, Đặng Xuân Côn và tôi ra vỉa hè trước cửa nhìn Sài gòn chờ đợi cộng sản vào. Tại sao chưa đánh đã đầu hàng? Tôi nghe rõ câu hỏi nghẹn ngào đó trong những ánh mắt ngơ ngác của người Sài gòn quanh tôi. Trời hết âm u, nhưng vẫn chưa có nắng. Vẫn thiếu nắng vàng rực rỡ. Dân Xóm Lách kéo lên. Lề đường Công Lý, gần nhà tôi đông nghẹt. Dẫu lòng ngổn ngang bối rối, tôi còn chút hạnh phúc trên những khuôn mặt buồn bã của đám dân “vô sản” Xóm Lách. Không một nụ cười. Khó tìm ra niềm hân hoan. Ngay cả những người đã truy nã kỹ thân phận mình, sự nghiệp của mình ròng rã hai mươi năm Việt Nam cộng hòa, thấy chẳng dính líu gì tới “nợ máu” với cộng sản, cũng hồi hộp vì “biển máu.” Chưa bao giờ tôi thấy, kể từ nhận Sài gòn làm quê hương, một cảnh tượng Sài gòn não nề đến thế. Tôi có cảm tưởng Sài gòn đang sợ hãi cơ hồ tôi đang sợ hãi, cơ hồ mọi người đang sợ hãi. Xe cộ ngưng chạy. Những gia đình có “máu mặt” rút hết vào nhà. Cổng đóng kín mít. Cửa sổ gác cao he hé mở. Ai đã nhìn tôi qua ô cửa kính mắt lệ mờ?

Tôi sinh ra ở miền Bắc, thị xã nhỏ bé, êm đềm Thái Bình. ấu thơ của tôi, trải dọc theo hàng cây hồi thấp và vương vấn cùng khắp cầu Bo. Niên thiếu của tôi lãng đãng vùng trời Hà Nội. Tôi khôn lớn ở Sài gòn. Sài gòn cho tôi những bước xuống đời cay đắng để tôi làm cuộc đời tôi Sài gòn cho tôi tình yêu, cho tôi thi ca, cho tôi tiểu thuyết. Công sinh không nặng bằng công dưỡng. Sài gòn đã nuôi dưỡng tôi. Sài gòn là mẹ tôi. Mẹ Sài gòn săn sóc tôi hai mươi năm. Tôi đã làm gì cho Sài gòn? Đã làm gì, vẫn chưa đủ, vẫn chỉ mới là cái hữu hạn trong cái vô hạn. Bây giờ, đứa con phóng đãng ôm ghì mẹ mình bằng đôi tay rời rã, nước mắt ròng ròng. Đứa con bất lực, đứa con hèn hạ, đứa con khiếp nhược, đứa con mải rong chơi nỡ để mẹ mình lạc vào tay thù. Mà chỉ biết khóc. Mà chỉ rên rỉ Mà chỉ luyến tiếc hàng me xanh, ghế đá công viên và những cuộc tình phù phiếm. Tôi hiểu những giọt nước mắt của tôi vô nghĩa, chẳng dám khóc, chẳng thiết khóc, mà mắt tôi cứ căng mọng và lệ cứ rơi. Tôi đã biết khóc vì Sài gòn, vì một thành phố kỷ niệm.

Một toán quân xuất hiện. Quân ta. Tôi đếm: 19 người. Mười chín người lính, mười chín người chiến sĩ, đầu trần, chân đất, quần xà lỏn, áo thun, máng súng trên vai, mũi chúc xuống, mặt cúi gầm, lầm lũi bước. Tối hôm qua, tôi đã thấy quân ta ngang qua đây. Quân ta và xe tăng. Hình ảnh người lính sửa xích tăng đã in vào tiềm thức tôi. Tối hôm qua, tôi đã thấy tướng Vĩnh Lộc chủ chiến. 10 giờ 30 hôm nay, tôi nghe Dương văn Minh đọc lệnh đầu hàng. Và, sau lệnh đầu hàng của Dương văn Minh, tôi lặng người ngắm toán quân chiến bại. Cảm giác đầu tiên của tôi là ngậm ngùi. Tôi nhớ một câu thơ của Corneille: “ô cruel souvenir de ma gloire passée” mà Thế Lữ cảm hứng viết: “Than ôi, thời oanh liệt nay còn đâu? Thời oanh liệt đâu? Những chiến tích rực rỡ dội vang sông núi của quân lực Việt Nam cộng hòa, những chiến tích làm bàng hoàng thế giới, làm vỡ mộng xâm lược của cộng sản, nay còn đâu? Tôi không bao giờ quên người Do Thái đã bầy tỏ công khai với nhân loại rằng, họ mơ thành người An Lộc. Tôi vốn không ưa các chế độ, các nhà lãnh đạo, một số tướng lãnh bất tài vô học, tham nhũng của miền Nam sau 1963, nhưng, luôn luôn, tôi yêu mến và cảm phục quân đội. Chế độ đã xóa bỏ chế độ, lãnh đạo đã hạ bệ lãnh đạo, quân đội tồn tại như quê hương. Bởi vì quân đội bảo vệ quê hương. Quân đội không phải là công cụ riêng của chế độ, của lãnh tụ. Một số tướng lãnh hèn mạt, vì quyền lợi cá nhân, vì địa vị khốn kiếp, đã bán mình cho chế độ, cho lãnh tụ để bán xương máu của quân đội và làm nhạt nhòa cái kiêu sa của người lính. Kẻ bán xương máu của lính nhiều nhất, kẻ dùng quân đội làm thang lưng leo lên danh vọng là Nguyễn văn Thiệu.

Bây giờ, Thiệu đã bỏ đi. Cao văn Viên đã bỏ đi. Vô số tướng lãnh đã đào ngũ chạy trốn. Dương văn Minh đã đầu hàng. Quân đội tiếp tục chiến đấu. Quân đội sẽ tiếp tục chiến đấu, nếu Dương văn Minh không hám cái hư vị “tổng thống miền Nam trung lập” đến nỗi thỏa hiệp với cộng sản. Tham vọng bằn tiện của Dương văn Minh còn là tham vọng của vài ông tướng, vài ông nghi sĩ, vài ông dân biểu “nhất định” ở lại làm Tổng trưởng. Bùi Tường Huân là một thí dụ. Những người khác đã đi học tập cải tạo, đã vượt biên sang âu châu, Mỹ châu thì xin miễn kể tên, sợ mất ép-phê chống cộng của quý vị ấy.

Thế giới đã thiếu sự công bình tối thiểu để khắc nghiệt lên án sự tan hàng bệ rạc của quân đội ta. Họ không thèm quan tâm tới sự tôn trọng kỷ luật tối đa của quân lực Việt Nam cộng hòa. Quân đội không tuân lệnh đầu hàng của Dương văn Minh mà tuân lệnh đầu hàng của vị Tổng thống nước Việt Nam cộng hòa kiêm Tổng tư lệnh quân lực Việt Nam cộng hòa. Quân đội nước nào cũng thế cả, trừ trường hợp người ta làm cách mạng, làm đảo chính lật đổ Tổng thống. Tôi yêu quân đội của đất nước tôi. Tôi không xuẩn ngốc phán xét quân đội. Tôi có bổn phận ngưỡng mộ quân đội quốc gia. Và tôi đau đớn nhìn quân đội của tôi đầu trần, chân đất, quần xà lỏn, áo thun, máng súng trên vai, mũi chúc xuống, mặt cúi gằm, lầm lùi bước. ông Nguyễn văn Thiệu không chứng kiến thảm cảnh này. Các ông tướng đào ngũ không chứng kiến thảm cảnh này. Tôi nghĩ các ông ấy chẳng nên nói về quân đội, nhắc đến quân đội nữa.

Một bà mẹ hớt hơ hớt hái, từ dốc chợ Xóm Lách, chạy lên đuổi theo toán quân, (tôi quả quyết quân đội ta không thua trận. Quân đội ta mãi mãi chiến thắng, mãi mãi anh dũng. Chế độ Nguyễn văn Thiệu thua trận, các ông tướng đào ngũ thua trận và chính sách Mỹ ở Việt Nam thua trận). Bà mẹ già ôm chặt lấy một người lính:
– Mày đi đâu nữa con? Sao không về nhà? Hết chiến tranh rồi, hòa bình rồi. Về thôi, con?
Người lính cố gỡ nhẹ tay mẹ mình ra:
– Con không thể về được.
Bà mẹ khóc. Bà mẹ khóc tức tưởi:
– Sao vậy? Có lệnh hàng rồi mà.
Người lính lắc đầu:
– Con không thể về được.
Toán quân đã băng qua ngã tư Công Lý – Yên Đổ. Bà mẹ vẫn níu chặt người con chiến sĩ lại:
– Mày đã đi đánh nhau bao lâu nay, có được hưởng gì đâu?
Người lính nghẹn ngào:
-Con không thể nào bỏ các bạn con.
Bà mẹ rên rỉ:
-Bỏ hết, bỏ hết đi con, về với má, không sao đâu.
Người lính gỡ mạnh tay mẹ mình ra:
– Má về đi, con phải theo các bạn con.
Người lính chạy nhanh để bắt kịp các chiến hữu. Bà mẹ đứng bên đường mắt đẫm lệ, nhìn theo con mình…
– Rồi người lính có về không?
Đó là câu hỏi của ký giả Patrick Sabatier của nhật báo La libération đã đến tận nhà tôi ở Ivry sur Seine phỏng vấn tôi để làm số báo đặc biệt cho ngày 30-4-1985. Tôi đã kể câu chuyện trên nhằm trả lời câu hỏi “Điều gì còn làm ông nhớ Sài gòn nhất”?
– Tôi không biết, ông Patrick ạ! Sau 6 năm tù đầy trở về, tôi hỏi thăm người Xóm Lách, được rõ là bà mẹ còn sống, và người con vẫn biệt tăm…
– Anh ta đi đâu?
– Tôi nghĩ rằng anh ta đi làm cuộc chiến đấu mới, không cần viện trợ Mỹ, cố vấn Mỹ và lính Mỹ. Dân tộc tôi cần thiết cuộc chiến đấu mới mẻ này.
– Tại sao?
– Nó mới đích thực là cuộc chiến đấu của dân tộc tôi nhằm tiêu diệt chế độ cộng sản, chủ nghĩa cộng sản để giành lại tự do, dân chủ, độc lập cho Việt Nam. Cuộc chiến đấu mới của dân tộc tôi loại bỏ hết tay sai của Mỹ, của ngoại bang. Như thể, chúng tôi gọi là một cuộc chiến đấu có chính nghĩa, tuy cô đơn, lãng mạn nhưng tổ tiên chúng tôi đã lãng mạn, cô đơn chiến đấu.
-Rất đẹp, rất cao quý.
– Ông ủng hộ cuộc chiến đấu mới của chúng tôi chứ?
-Vâng, tôi hết lòng.
Số báo đặc biệt của La libération, một tờ báo khuynh tả, xuất bản ngày 30-4-1985 viết về Việt Nam đã như gáo nước lạnh hắt vào mặt đảng cộng sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Số báo này có đăng thêm một đoạn trong bài thơ Sài gòn ra đường của tôi trên trang nhất.

– o O o –

19 người lính đi tới đâu, đi về đâu, tôi không biết. Hình ảnh bi thảm của họ khiến lòng tôi se lại nhưng cũng sưởi ấm tâm hồn tôi. ít ra, tôi còn được tự hào là người Sài gòn, người miền Nam. 19 người lính quốc gia đã anh dũng chiến đấu cho tới phút giây nghe lệnh đầu hàng. Vẫn 19 người lính này, biểu tượng của quân lực Việt Nam cộng hòa bất khuất, tháo bỏ quần áo Mỹ, giầy nón Mỹ, tiếp tục chiến đấu sau lệnh đầu hàng. Tôi đã thèm sống hèn, càng thèm sống hèn hơn. Để nói lên được cái hào hùng của người lính, cái tâm sự não nề của người lính, những con người không được phép chiến thắng, những con người bị tước đoạt quyền chiến thắng cộng sản. Thế giới đã không có hân hạnh nhìn 19 chiến sĩ Việt Nam. Thế giới đã không có hân hạnh nghe người lính giã từ mẹ mình lên đường nhập cuộc chiến đấu mới. Thế giới, cái thế giới mù lòa, điếc, ngọng đã bảo chúng ta thua trận đã miệt thị quân đội chúng ta tan hàng bệ rạc. Tôi đợi, tôi đã đợi, tôi đang đợi những kẻ tự nhận mình sống hùng viết những trang tâm sự của người lính sau 30-4-1975…

DUYÊN ANH

BÀI VĂN VỀ MẸ

boatpeople

Em kể về mẹ em
bằng giọng văn thật là ngây dại
rằng ”một buổi trên đường vượt biển
chuyến ghe em bị đánh cướp hai lần
chúng ăn hiếp mẹ
ba giận
xông vào đánh trả
chúng lồng lên
vung mã tấu
chém thẳng tay!
ba quị ngã
máu chảy đầy ra đó !
mẹ khóc gào
còn em sợ
nín lặng … mắt mở to !!
Chúng phá nát chiếc ghe bé nhỏ
rồi bỏ đi sau khi đắc thắng cười
Mẹ khóc, ôm xác ba nóng hổi
Em rẩy run, nức nở, kinh hoàng
Em nhìn ba nằm đó, ngỡ ngàng
sao ba lại bỏ em với mẹ
.
Rồi bão tố lớn ơi là lớn
Sóng thật cao
Gió mạnh biết là bao
Sóng xua ngang
Ghe vỡ tan tành
Người ta khóc và em cũng khóc
Mẹ ôm lấy một thùng nhựa rỗng
em ôm ghì trên vai mẹ lạnh run
trôi lênh đênh trên sóng biển chập chùng
Em sợ
Mẹ nói : con yêu đừng khóc !
Có mẹ đây, mẹ thương con lắm
Mẹ con mình sẽ sống mà con
Rán lên con, bão tố chẳng còn
bám vai mẹ đừng buông ra nhé !!
.
Một ngày sau, mẹ em mệt lả
máu của người ướt cả áo em
chiếc thùng con không đủ sức rồi
nó chìm xuống dần dần, sợ quá
Mẹ thì thào bên em thật khẽ
Mẹ buông tay, con bám chặt thùng đây
Mẹ với ba có lỗi ở kiếp này
không nuôi nấng cho con khôn lớn
Con phải sống, phải ngoan con nhé
Mẹ mệt rồi, mẹ đi tìm ba
Chưa dứt câu tay mẹ đã buông ra
Em khóc nấc: Mẹ ơi trở lại !
đừng bỏ con, con sợ quá mẹ ơi
Mẹ cứ trôi,
Mẹ chẳng trả lời
Em nhìn mẹ mà òa lên khóc
.
Một chiếc ghe đánh cá
Vớt được xác mẹ em
Khi trời sắp về đêm
Em được ghe đó vớt
Em ngồi bên cạnh mẹ
Mắt mẹ nhắm chặt rồi
Em sờ lấy đôi môi
Đôi môi không cười nữa
Họ đem mẹ đi đốt
Khói bay ngùn ngụt trời
Họ bảo ”Mẹ lìa đời,
về cõi thần tiên ở “
Từ đó,
những khi em trở mình cảm sốt
nhớ làm sao bóng dáng mẹ hiền
Mơ mẹ em là một cô tiên
vuốt mái tóc, ru em ngoan ngủ
.
Từ đó,
em không còn cả ba và mẹ
nhìn bạn bè mà thèm lắm thầy ơi !
có nhiều đêm em hỏi ông trời
Mẹ trên đó có nhớ em không hở ??
Thầy cho em tạm dừng, dang dở
Nhớ mẹ rồi, em đang khóc thầy ơi !
từ hôm nay và suốt cuộc đời
em sẽ chẳng còn ba mẹ nữa ….. !

KHUYẾT DANH
(Văn Khố Thuyền Nhân)

TA LÀ LÍNH MIỀN NAM

tranhoaithu

Ta trở về, giáp mặt chiến tranh
Ðồi cháy lửa mặt trời nhuộm đỏ
Thau rượu đế mừng ta thằng lính sữa
Dzô ông thầy ! hữu sự có thằng em
Trung đội ta về, hai mươi mấy thằng con
Thằng trai miền Nam hề , sinh thời ly loạn
Ðứa gốc Kinh, đứa Nùng, đứa Thượng
Ðứa độc thân, đứa con vợ đề đùm
Ðứa gốc nhảy dù , đứa gốc đào binh
Ðứa ăn chay trường , đứa thèm thịt chó
Ta ra trường núi sông nghiêng ngửa
Tập chửi thề, gái , rượu, xung phong
Hàng trang ta là lựu đạn dao găm
Thêm tuổi trẻ ta già như quả đất
Thêm một trái tim ngự đầy Chúa Phật
Thêm một cõi lòng tràn ngập quê hương
Khi đánh nhau, thắng bại lẽ thường
Chỉ mong đàn con bình an vô sự
Chỉ mong trở về gặp nhau đụng rượu
Lỡ chết rồi hồn cũng thoát thành men
Ta cần gì giáp sắt che thân
Gánh gì đồ chiến tranh cho nặng
Trên đầu ta mũ rừng nhẹ hẫng
Trong túi ta một gói thuốc chuồn
Bắt tù binh mời điếu thuốc thơm
Ðể thấy miền Nam lính hiền ghê gớm
Mấy năm trời giày da vẹt gót
Ngày lãnh lương về chợ dưỡng quân
Cám ơn những nàng má phấn môi son
Yêu ta vội vàng trước khi tiếp Mỹ
Con gái tiểu thư mơ toàn hoàng tử
Còn ai chia giùm ta con rận hành quân ?
Ta lính miền Nam hề, gốc nho phong
Không chiến tranh cũng thành đốc tờ,đốc tiếc
Thời thế đẩy đưa ta làm lính chiến
Mang nỗi buồn như rừng lá khai quang
Ta đứng giữa trời bốn phía rưng rưng
Em mười lăm đi làm đĩ Mỹ
Thằng nhỏ mười ba học đòi sát ngụy
Ma quỉ phương ngoài học xẻ Trường Sơn
Ðất nước ta , cường quốc bán buôn
Hậu phương ăn chơi biểu tình đảo chánh
Lúc đồng đội ta sống lên chết xuống
Một đám ở nhà nhảy nhót thâu đêm
Lãnh chúa ta thì ăn trước ngồi trên
Hùng hổ lắm nhưng mạt hèn cũng lắm …
Khóa của ta
Trên mấy trăm thằng tình nguyện
Ði nhảy dù, thủy bộ, thám báo ” ác ôn ”
Ðứng đợi cả ngày để bốc lá thăm
Toàn thứ dữ mà vui như chợ tết
Có đứa mang bằng kỹ sư về nước
Chọn cọp ba đầu rằn làm lính tiền phong
Ta lính miền Nam hề,vận nước ngửa nghiêng
Ta cũng lênh đênh cùng cơn mạt kiếp
Ta trèo lên cây hỏi rừng cho biết
một nơi nào hơn ở Việt Nam ?
Có người lính nào bi tráng hơn lính miền Nam ?

TRẦN HOÀI THƯ

ĐỪNG TRỞ LẠI

trantrungdao

Anh ra đi Sài Gòn xưa đã chết
Cây me già cô độc đứng nghe mưa
Ðừng trở lại chẳng còn gì nữa hết
Em đã tàn hương sắc của năm xưa

Anh ra đi phố phường xưa đổi khác
Ngọn đèn xanh le lói bóng ga chiều
Những kỷ niệm vàng hoe trên mái tóc
Tóc em buồn từng sợi rối đêm khuya

Anh ra đi cửa lòng em đã đóng
Với đau thương chồng chất thuở xuân thì
Ðừng trở lại chẳng còn ai mong ngóng
Xuân đã tàn từ độ én bay đi

Anh ra đi em một mình lầm lũi
Con đường câm trong những tối không đèn
Ðừng trở lại em quen rồi cực khổ
Anh cũng quen rồi cuộc sống ấm êm

Anh ra đi mùa đông buồn ghê lắm
Mùa mưa dài thăm thẳm ở nơi đây
Ðừng trở lại chẳng cần ai đưa đón
Ðể em ngồi nghe lá khóc trên cây

Anh ra đi mẹ bao lần đã nhắc
Ðứa con yêu lưu lạc ở phương nào
Anh có đọc nỗi buồn sâu trong mắt
Mắt mẹ già năm tháng đã hư hao

Anh ra đi đàn em thơ đã lớn
Nhìn hình anh ngơ ngác hỏi là ai
Bầy chim nhỏ giữa trời đầy giông tố
Chim đầu đàn vẫn biệt cuối chân mây

Anh ra đi quê hương nghèo hơn trước
Những lầm than vẫn nối tiếp nhau về
Bài thơ cũ mơ làm người yêu nước
Ðến bây giờ anh còn nhớ hay quên.

TRẦN TRUNG ĐẠO

MỘT NĂM MƯỜI HAI THÁNG

tranvanle

Một năm mười hai tháng
Tháng nào cũng Tháng Tư!
Bốn mươi năm buồn chán
Buồn hoài vẫn chưa dư!

Tóc rồi râu, đều bạc
Tuổi rồi như bóng mây
Người ta nói tuổi hạc
Khéo mà tuổi cũng bay?

Kinh Phật bao nhiêu quyển
Ai đã đọc hết chưa?
Hay một câu là đủ
“Sắc Tức Thị…là Vô”?

Sách, Báo… đầy trên kệ
Chuyện đời một nội dung:
Con cá bơi mệt nghỉ
Hết biển rồi vào sông…

Một năm mười hai tháng
Bốn mươi năm nghẹn ngào!
Máu người đổ đã cạn
Nước mắt thì còn trào…

Tháng Tư mười hai tháng
Ba trăm sáu lăm ngày
Tôi ngồi buồn lảm nhảm
Bốn mươi năm…không hay

Thời gian dòng nước chảy
Nước chảy bao giờ dừng?
Nước chảy thì chảy mãi
Tôi hay bèo bềnh bồng?

Ngồi ngó mây trên núi
Ngồi ngó mây cuối trời
Rùng vai rơi hết tuổi
Tiếc quá thời đôi mươi…

TRẦN VẤN LỆ

Thuỷ Tinh Tan Vỡ

nguyenphuoctieudi
Nguyễn Phước Tiểu Di

CHƯƠNG 3:

-Đó là một thảm kịch, cháu hiểu không Diệp … Một thảm kịch mà chúng ta sẽ phải giải quyết một cách hết sức hợp lý hợp tình…
-Cháu không cần hiểu gì hết. Ba cháu sắp được thả rồi … ba cháu gởi thư về nè bác
-Lâu lắm mới thấy cháu vui, nhưng cháu dùng từ “thả” là không ổn rồi … Học tập xong thì về chứ có ai bắt bớ giam cầm gì đâu mà “thả”, cháu.
-Bác có đến những trại cải tạo bao giờ chưa??? Đến bất ngờ thôi chứ không phải kiểu quan lớn vi hành??? Cháu đã từng chui rúc trong rừng tìm thăm ba cháu khi chưa được phép thăm nuôi…
Ông đặt bàn tay to lớn lên tóc tôi, vỗ nhè nhẹ:
-Bình tĩnh kể bác nghe.
( nhiều người phục ông ở tài dân vận … ông đã lấy lòng được một con bé đa nghi, thủ thế và khó chịu như tôi.)
Tôi chớp mắt, cố giữ mình không khóc, tôi nghĩ mình đã cứng rắn chai lì đi nhiều lắm. Im lặng, tôi nhớ lại những gì xảy ra cách đây 8 tháng mà vẫn còn hiển hiện rõ ràng như mới hôm qua.
…Từ con đường mòn xuống núi, một dòng người xiêu vẹo nương trong bóng  chiều nhập nhoạng … Như đám tàn quân chiều trận mạc/ Khoác chiến bào che giấu vết thương … (VDC)   những chiếc áo lính trở nên rộng thùng thình, bạc phếch màu hoang phế … Những vết thương đâu thể che giấu trong những đôi mắt mõi mòn tuyệt vọng… mà cần chi che giấu??? Tôi níu chặc tay người đàn bà vừa quen trong chuyến đi này, hốt hoảng:
-Sao chẳng thấy ba em đâu cả chị ơi! Hay còn đường nào khác nữa?
– Chờ chút đi em. Chỉ có một đường thôi, đi từng đội một…
Người đàn bà vừa nhìn thấy chồng  buông tay tôi, chạy ùa tới. Tôi ngơ ngác đứng lại một mình. Một người đàn ông lớn tuổi rời đoàn, đến cạnh tôi:
-Cháu tìm ai?
-Ba cháu, ông TTD, trước chỉ huy Trung Tâm Huấn Luyện Công Chức ở Nha Trang. Chú có thấy ba cháu không?
– Có chứ, ba cháu đi sau cùng đó. cháu về Nhatrang cho chú gởi lá thư,
Ông đặt khúc gỗ xuống, lấy trong túi ra một lá thư nhàu nát, vuốt ngay lại, trao tôi… Tôi mở ba lô cất vào cẩn thận … những lá thư được đưa về cho người thân bằng mọi cách …những tin tức rất mơ hồ đến tay người nhận trãi qua những quãng thời gian rất xa…
Có ai vỗ vai tôi, tôi giật mình đứng thẳng người lên, hét lớn:
-Ba, trời ơi, ba.
Nước mắt tôi ràn rụa chảy…Tôi tưởng mình không còn vắt ra một giọt nước mắt nào nữa sau 2 ngày chui rúc tuyệt vọng trong rừng… Tôi ôm chặt lấy ba tôi, hít hà đánh hơi ông như con chó con hệt những ngày thơ ấu … Không còn mùi xì gà La Habana thơm thơm , không còn mùi cognac nồng nồng, không cả mùi hương gỗ của những lần ông đi rừng về nữa … Chỉ là mùi chua của mồ hôi, mùi khét của nắng đốt, mùi nồng của một loại thuốc lá rẻ tiền… nhưng tôi vẫn được bao bọc bởi một mùi hương yêu thương  tuyệt đối…Tôi rúc vào ông để tìm một hạnh phúc, một niềm hy vọng được chở che như ngày xưa, để tôi có thể dõng dạc tự hào: tôi không hề sợ ai khi có ba tôi bên cạnh!!! Chiếc rựa trên vai ông đè nặng vai tôi đau điếng…ông ném chiếc rựa xuống đất, dịu dàng:
-Can đảm lên, nhóc con. Nước mắt đâu mà nhiều vậy, ướt hết cả áo ba rồi.
Tôi không ngừng nức nở…tôi muốn kể chuyện này chuyện nọ cho ba nghe  nhưng không thể nói khi đang khóc tức tưởi. Ba tôi hỏi:
-Mẹ và tụi nhỏ sao rồi??? Con đem gì nhiều vậy??? Xách nặng giỏi quá ta!
Tôi chùi mặt vào vai áo ba chua lét:
-Mẹ đem thuốc tension, thuốc lá, thức ăn khô và tiền … con cố đem nhiều thứ để ba dùng.
Ba tôi cười:
-Con gái ba giỏi quá, chỉ có điều là mít ướt quá đi! Duy làm gì ở nhà vậy con?
– Nó đi làm thủy lợi ở Đồng Tròn  ba ơi, hôm nó về tay chân rướm máu vì chưa quen cầm cuốc,
Nói xong tôi thấy mình ngu và lanh chanh kinh khủng. Duy là cậu trưởng nam yêu quý của ông. Ông vẫn so sánh để chọc cho tôi giận hồi còn ở nhà: Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô… Tôi ân hận vì đã dại dột nói điều không nên nói, tôi lén nhìn mặt ông dò xét … nhưng ông rất thản nhiên, bất cứ tình huống nào ông cũng thản nhiên và chấp nhận:
-Để nó cực khổ cho quen con à. Con lớn nhất nhà, phải giúp mẹ để ý bọn nhỏ học hành nghen con.Tôi cắn môi:
-Ba ơi, ba học tập có sao không???
Hiểu ý tôi, ông cười, những vết chân chim ở cuối đuôi mắt nheo lại  hiền lành :
-Không sao, ba ở trại chung với mấy chú, mấy anh trong trung tâm …toàn người nhà cả đó mà…
Để chứng thực lời nói đó, người đàn ông đứng chờ ba tôi nãy giờ tiến tới …đó là anh Thiện, người vẫn đi cạnh ba tôi từ ngày trước, anh nhìn tôi, xót xa:
– Diệp theo người ta về chứ lạc đó. Lúc nào bọn anh cũng bên  ba .
Ba vuốt tóc tôi, dịu dàng:
-Về đi con, chắc tết ba sẽ về.
Ông quay lưng đi, anh Thiện cúi xuống lượm chiếc rựa ông quên nhặt … Bóng hai người dềnh dàng đi  trong chiều âm u … những sợi nắng quái rơi rớt  trên từng đám cây rừng đe dọa một đêm mưa tầm tả …Ước chi ba tôi quay lại một lần, nhưng ông không hề quay lại … tôi ngồi xuống, khóc nức nở, cho đến khi người đàn bà mới quen đến dẫn tôi về Tiếp tục đọc