sợi khói cầm tay

có lần tôi hỏi
tình là thiên thu
bờ sông gió thổi
khói sóng xa mù

có lần tôi đợi
bóng người qua đây
thấy chiều hư ảo
rụng đầy đôi tay

nhiều lần tôi ngóng
em về qua sông
mây trôi lồng lộng
thả khói muôn trùng

đâu hay đời hẹp
tình là sương giăng
cuộc đời mở khép
đêm tạt vô thường

đâu hay nằm mộng
thấy chiều mưa xô
thấy khuya đổ bóng
thấy ngày hư vô

tình đau chăn chiếu
mặt người phù hư
nghe đời ảo diệu
nghe tôi nát nhừ

tôi về khuya mộng
sợi khói cầm tay
đi tìm chiếc bóng
tôi vừa qua đây…

nguyễn minh phúc

Chiều mưa viễn xứ

Chiều mưa viễn xứ không như hạt
mưa rớt ngày đông tuổi thiếu niên
hạt dằn dỗi hạt bay theo hạt
rớt tự mùa xưa vướng sợi mềm

Mưa sững sờ rơi chua xót mưa
rớt còn ham vá mộng giang hồ
vặt hoài mê lú nên nhan sắc
em quạnh hiu hoài tội lỗi chưa!

Mưa chiều viễn xứ tình vô trú
quán trú u hoài vô trú mưa
mưa chiều viễn xứ buồn như kiến
cắn cuống nhau chôn dưới gốc dừa

Chắc em cầu tạnh mưa mau ngớt
sao tạnh ráo rồi vẫn mắc mưa!

Nguyễn Hàn Chung
( Trích bản thảo MÓT CHỮ TRONG KINH 2019)

DI DÂN VIỆT VÀ LỄ ĐỘC LẬP MỸ

Đường phố khắp nơi trên đất Mỹ đang chào đón ngày Độc Lập với cờ Hoa Kỳ và nhất là những quầy bán pháo tràn ngập. Nhân ngày Độc Lập Hoa Kỳ, báo chí cũng nhắc đến thổ dân da đỏ, những người có mặt đầu tiên trên đất Mỹ, và những người di dân đầu tiên từ khắp nơi trên thế giới đến lập nghiệp. Trong những cộng đồng di dân quan trọng, người ta đã nói đến cộng đồng di dân Việt Nam.

“Một lần nữa chúng ta chào đón July 4 hàng năm. Ngày 4 tháng 7 là ngày lễ trọng đại nhất của Hoa Kỳ. Ngày Mỹ quốc đưa ra bản Tuyên Ngôn Độc Lập năm 1776 và bắt đầu cuộc chiến tranh cách mạng chống lại Anh quốc sau 6 năm. Anh và Mỹ ký thỏa ước ở Paris và công nhận Hoa Kỳ độc lập. Người Mỹ đã chiến thắng trận chiến tranh đầu tiên của lịch sử Hiệp Chủng Quốc.

Là công dân gốc Việt trong đợt di dân cuối cùng của thế kỷ 20, chúng ta cần tìm hiểu về đất nước mà chúng ta lập nghiệp. Các di dân tỵ nạn Việt Nam đầu tiên đến Mỹ đã được dự ngày kỷ niệm 200 năm lập quốc vào năm 1976. Đến bây giờ nước Mỹ đã già thêm 30 năm. Dù mới có hơn 200 năm nhưng lịch sử trẻ trung của Hiệp Chủng Quốc rất phong phú và cũng rất độc đáo. Hoa Kỳ là quốc gia bao gồm tất cả các sắc dân, các ngôn ngữ, các tập tục văn hóa. Nước Mỹ đã có các kỷ niệm vừa hung bạo vừa nhân từ. Tiêu diệt da đỏ, bắt da đen làm nô lệ, kỳ thị da vàng, đem quân đi làm cảnh sát trên thế giới, đi đến đâu là gây sóng gió ở đó. Hoa Kỳ cũng là quốc gia phát huy tự do dân chủ toàn cầu, viện trợ kinh tế, quân sự, giáo dục, xã hội, văn hóa cho toàn thể các quốc gia chậm tiến trên thế giới. Và bây giờ vào thời điểm 2005, việc truyền bá tự do và dân chủ ở Trung Đông đang gặp nhiều kinh nghiệm đắng cay.

Biên cương của Hoa Kỳ trên địa cầu là một vùng đất bao la tiếp giáp với hai đại dương Thái Bình Dương và Đại Tây Dương. Tiểu bang Alaska của Hoa Kỳ là ải địa cầu trấn giữ Bắc Băng Dương. Biên giới không gian của Hoa Kỳ lên đến mặt trăng và Mỹ quốc cũng đã đặt cọc đất trên Hỏa tinh. Hai ngàn vệ tinh kinh tế thương mại và quân sự của Hoa Kỳ canh gác toàn vùng khí quyển của quả đất. Đế quốc nhân văn của Hiệp Chủng Quốc thống trị thế giới bằng các tòa đại sứ và lãnh sự quán luôn luôn tấp nập các khách hàng vào xin visa.

Cơ sở ngoại vi của các đại sứ quán Hoa Kỳ là những chỗ bán thức ăn Fast Food McDonald, Coke, nhạc Rock và quần Jeans. Mỹ phát thực phẩm cho dân nghèo toàn thế giới nhưng đi đến đâu cũng bị đuổi về nhà: Yankee go home.

Đó là Hoa Kỳ ngày nay, sau 230 năm lập quốc. Đó là đất nước mà chúng ta đang mang nhãn hiệu công dân có đứng lên tuyên thệ bảo vệ và tuyệt đối trung thành.

Dù muốn hay không, chúng ta cũng nên biết qua lịch sử lập quốc của quê hương mà phần đông chúng ta sẽ cùng các thế hệ tiếp theo ở lại đời đời.

Một câu hỏi đặt ra: Ai là người Mỹ đầu tiên trên đất Mỹ?

Câu trả lời của các nhà nhân chủng học cho biết 12 ngàn năm trước, khi các lục địa còn dính liền cuối thời băng giá thì Á châu và Mỹ châu nối tiếp ở phía Bắc. Con người tiền sử Á Châu đi tìm đường sống đã từ Á qua Mỹ. Sau đó quả đất chuyển đổi, băng tan, nước biển dâng cao và hai lục địa không còn dính liền nhau nữa. Các người Á châu tiền sử ở lại và trở thành thủy tổ của các bộ lạc ở Bắc Mỹ.

Nhiều nền văn minh đã được kiến tạo, nhiều bộ lạc đã tàn lụi. Sau cùng chỉ còn các bộ lạc da đỏ tồn tại cho đến thời kỳ năm 1500 các sắc dân Tây phương mới đến Mỹ bằng đường biển. Nổi danh nhất là nhà hàng hải Columbus năm 1492 đi tìm Á châu và khám phá ra Mỹ châu. Rồi tiếp theo là Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh Cát Lợi, Pháp, Đức rồi đến Nga và các quốc gia Đông Âu.

Các cuộc chiến đẫm máu, triền miên ở tân lục địa giữa người địa phương và dân giang hồ mới đến. Chiến tranh giữa các thế lực xâm lấn Tây phương. Sau cùng Anh quốc ổn định được phần lớn miền Đông Hoa Kỳ và các di dân bắt đầu lên đường. Con tàu Hoa Tháng Năm tức Mayflower nổi tiếng đến Mỹ năm 1620 vỏn vẹn có 35 người trở thành biểu tượng của cuộc định cư trên đất mới.

Năm 1621 di dân được mùa đã cùng tổ chức Lễ Tạ Ơn và ăn uống với dân da đỏ trong một lễ Thanksgiving đầu tiên của nhân loại.

Nhưng rồi những ngày vui qua mau. Thổ dân tại Mỹ chết dần vì bị giết, bị đói, bị bệnh, có thể do các mầm bệnh từ Tây phương đem đến.

Trong khi đó từ năm 1620 đến 1732 tức là hơn 100 năm. Một nước Mỹ thuộc Anh đã hình thành với 13 tiểu bang liên hiệp ở miền Đông. Phần lớn làm nghề nông, trồng thuốc lá, trà, và lúa. Các vùng khác thuộc Tây Ban Nha, Pháp vẫn còn tranh chấp.

Cuộc chiến giữa Pháp và Anh giành đất trong 7 năm từ 1754. Sau cùng Anh thắng và mở rộng biên cương thuộc địa của đế quốc hùng cường nhất thế giới.

Tiếp theo nước Anh cần tiền cho mẫu quốc nên đánh thuế các thuộc địa, thu tiền các nhà sản xuất và các đồn điền tại Hoa Kỳ.

Chính sách thuế của Anh ban hành năm 1774 trở thành mầm mống cho cuộc chiến dành độc lập tại Hoa Kỳ. Tướng Washington nhận trách nhiệm lãnh đạo chiến tranh cách mạng vào năm 1775 và chính thức đứng ra tuyên bố độc lập 1776.

Bản Tuyên Ngôn Độc Lập do Thomas Jefferson đại diện tiểu bang Virginia viết ra lúc ông 33 tuổi được coi là một áng văn tuyệt tác nhất của nhân loại và mở đầu cuộc chiến giành độc lập cho đến chiến thắng cuối cùng bằng hiệp định Paris 1782.

Tiếp theo Hoa Kỳ có 5 năm xây dựng dân chủ từ 1782 – 1787 để Hiến Pháp ra đời với 9 tiểu bang chính thức rồi đến 13 tiểu bang thỏa hiệp. Những lá cờ Mỹ đầu tiên có 9 ngôi sao rồi 13 ngôi sao và bây giờ là 50 ngôi sao.Suốt từ buổi bình minh của Hiệp Chủng Quốc cho đéán nay, nước Mỹ đã trải qua biết bao nhiêu là biến động.Từ hơn 4 triệu dân vào năm 1800 trở thành gần 300 triệu vào năm 2005. Trên giấy tờ tính đến nay là 229 năm lập quốc nhưng thực sự quốc gia này đã nảy mầm từ trên 300 năm.

Phải chăng Hoa Kỳ là một đĩa rau trộn gồm đủ mọi sắc thái nhưng tía tô vẫn là tía tô, rau giấp cá vẫn nồng nàn mùi tanh của biển mặn. Hay đây là nồi cháo mà mọi thứ thực phẩm đã được hòa tan thành một hương vị mới. Cái đó còn tùy hoàn cảnh, địa phương và thời gian.

Nước Mỹ đã trải qua các giai đoạn hành động tàn nhẫn với các sắc dân thiểu số. Vào thế kỷ thứ 19, da trắng buộc dân da đỏ phải tập trung vào các khu vực ấn định. Thảm kịch diễn ra trên con đường mòn được gọi là: Đường mòn nước mắt.

Da đỏ già trẻ lớn bé đều phải ra đi, bỏ nhà cửa, vườn trại để vào các khu đồng khô cỏ cháy xa cách vạn dặm. Hàng chục ngàn người đã chết.

Trong khi đó ở miền Nam Hoa Kỳ, dân da đen bị bắt làm nô lệ đem từ Phi châu qua đã trở thành một lực lượng lao động quan trọng. Những bàn tay đen đủi đã xây dựng nên nền nông nghiệp miền Nam nuôi cả nước Mỹ vào thời kỳ lập quốc với những vườn bông trắng xóa. Nhưng cũng chính da đen là vấn nạn cho cuộc chiến tranh tương tàn Nam Bắc. Những người da đen bỏ trốn các nông trại đã bị đánh roi cho đến chết. Câu chuyện Uncle Tom với bài ca da đen lừng danh: Let my people go – Hãy cho dân tôi đi. Trở thành một vấn nạn trong lương tâm Hoa Kỳ.Da đỏ xin ở lại thì bị đuổi đi. Da đen xin đi thì bị giữ lại. Ngay khi nội chiến chấm dứt, da đen được giải phóng mà vẫn còn bị kỳ thị. Cuộc chiến đấu vĩ đại của một đàn bà lẩm cẩm da đen năm 1955 không chịu ngồi phía sau xe bus đã trở thành một cuộc tổng đình công tẩy chay xe bus tại Hoa Kỳ. Từ cuộc đình công này, da đen có được một nhà lãnh đạo đầy huyền thoại là mục sư King mà tên tuổi trở thành một ngày quốc lễ.

Rồi đến lịch sử Tây tiến làm đường xe lửa đem da vàng Nhật Bản và Trung Hoa nhập cuộc. Các tiền nhân di dân châu Á cũng đã ngậm đắng nuốt cay ở miền Tây Hoa Kỳ trong suốt thời lịch sử cận đại.

Sau cùng đến lượt chúng ta. Việt Nam có hơn một triệu người tại Hoa Kỳ. Sau đợt di tản 75 tiếp đến là 10 năm thuyền nhân từ 1980 đến 1990 rồi là các HO, ODP nhập cư cho đến cuối thế kỷ thứ 20. Mười quận hạt có dân số đông đảo nhất là Orange, Santa Clara, Los Angeles, Houston, San Diego, Seattle, Oakland, DC, Dallas và Fort Worth (Texas).

Với 5 vị tổng thống can dự vào chiến tranh Việt Nam, bắt đầu từ Eisenhower, Kennedy, Johnson, Nixon và Ford, người Mỹ gọi đây là Cuộc chiến của các vị tổng thống – The War of the Presidents. Ý nói là cuộc chiến riêng tư của các vị tổng thống, không can dự gì vào nước Mỹ và dân Mỹ. Làn sống chống chiến tranh của dân Mỹ dâng cao với các cuộc xuống đường hàng triệu người.

Năm 1967 sa lầy tại chiến trường Việt Nam, chính ông Johnson đã uất ức nói rằng: ẪĐây không phải là cuộc chiến của riêng tôi. Đây là cuộc chiến của nước Mỹ, nếu ngày mai tôi chết đột quỵ, thì chiến tranh vẫn còn mãi với các anh.Ữ

Bây giờ sống tại đây chúng ta mới có thể hiểu được là lòng dân của Mỹ quốc thực sự ảnh hưởng đến chính quyền ra sao. Không cần đúng hay sai, không cần giữ lời cam kết. Đối với dân chúng Hoa Kỳ, lòng kiên nhẫn và sự chịu đựng, hy sinh rất giới hạn. Đánh không xong thì rút, sống chết mặc bay. Từ các quan niệm đó, định mệnh đưa chúng ta đến Hoa Kỳ.

Sau ông Ford, dân tỵ nạn lần lượt sống với 5 vị tổng thống của thời hậu chiến. Bắt đầu từ ông Carter, tổng thống thứ 39, ông già hiền lành đạo đức chính là vị ân nhân đầu tiên mở cửa nước Mỹ cho thuyền nhân từ các trại tỵ nạn vào Hoa Kỳ.

Khi đoàn biểu tình Việt Nam thắp nến đi trước Bạch Cung để than khóc cho thuyền nhân thì ông Carter đã mở cửa ban công ngó xuống vẫy tay chào. Nước mắt dân tỵ nạn Việt Nam di tản đợt đầu, nhỏ giọt xuống đại lộ Constitution đã làm động lòng ông tổng thống chuyên cất nhà Homeless.

Lệnh tổng thống ban ra từ đây các tàu chiến của hạm đội Bảy bắt đầu xua đuổi hải tặc và vớt người di tản, các phái đoàn Mỹ đến phỏng vấn tại trại tỵ nạn Đông Nam Á.

Rồi tiếp đến ông thứ 40 là Reagan suốt 8 năm đưa ra các đạo luật tỵ nạn, khởi sự các buổi thảo luận thả tù, để sau này ông Bush số 41 chỉ tiếp tục mở rộng tấm lòng nhân đạo.

Bước qua thập niên 90, triều đại Bill Clinton, tổng thống thứ 42 là thời kỳ của hòa giải và hàn gắn. Clinton mở đường hiệp thương, giải tỏa cấm vận, đưa tay dắt đường cho Hà Nội trở về với thế giới tự do. Sau cùng ông Clinton chấm dứt nhiệm kỳ bằng một chuyến công du cuối cùng dưới hình thức qua Việt Nam để trình diễn một màn Workshop dân chủ đi từ Hà Nội đến Sài Gòn.

Qua đến ông Bush hiện nay, vị tổng thống thứ 43 của Hoa Kỳ đã đem bài học Việt Nam ra để đánh trận Trung Đông.

Chúng ta không phải là sắc dân cuối cùng, và chúng ta không phải là sắc dân duy nhất có quê hương cố quốc. Di dân tỵ nạn Việt Nam có người mang theo quê hương, có người bỏ lại quê hương. Tùy theo hoàn cảnh và cảm nghĩ. Tuy nhiên quả thực chúng ta không thể khác những người di cư khác trong các trách nhiệm xây dựng đất mới.

Sắc dân nào cũng có những niềm tự hào của họ. Ai cũng có các hãnh diện về truyền thống văn hóa, ngôn ngữ của cội nguồn.

Tuy nhiên, điều quan trọng là phong cách đối xử và tìm hiểu để hội nhập. Chúng ta phải cảm ơn những người đi trước đã mở đường. Kể cả người xấu lẫn người tốt đã sống và đã qua đi trong công cuộc chinh phục đất nước vĩ đại này.

Một lần nữa, đợt người Việt đầu tiên ở Mỹ sẽ là nhưng cây tràm cây đước giữ chặt đất cho một cộng đồng tương lai phát triển. Con cháu chúng ta sẽ vừa nhớ ơn ông cha đã đến đất này mà cũng không hổ thẹn về những đóng góp của chúng ta trong những giai đoạn đầu tiên. Bỏ lại phía sau con sông Hồng, sông Hương, sông Cửu Long và dãy Trường Sơn. Bây giờ ta phải làm quen với con sông Sacramento và rặng Rocky Mountain để có ngày con cháu ta sẽ phải đứng lên đáp lời sông núi mới.

Xin hãy công bình với hoàn cảnh. Mỗi năm hãy lưu tâm ngày 4 tháng 7 của Hoa Kỳ. Phải bước ra khỏi cái Ghetto của cộng đồng nhỏ hẹp. Tham dự vào cái xã hội vĩ đại đã đem phúc lợi cho chúng ta. Đó là cách hay nhất để xây dựng cùng một lúc cộng đồng tại Mỹ và quê hương bỏ lại ở Việt Nam. Bao gồm cả giấc mơ tự do và dân chủ”.

GIAO CHỈ

Đôi mắt La Ronda

Nhà văn Trần Hoài Thư
Lão ngồi khâu di sản
Kim đâm mà không hay (THT)

Ngày cuối cùng trước buổi hội luận “Chiến tranh Vietnam và hậu quả xã hội” tại Đại Học Massachusetts, tôi đã ngõ ý với La Ronda, người nữ đồng nghiệp, dành cho tôi nửa tiếng đồng hồ. Tôi kể đến buổi hội luận mà tôi sắp sửa có mặt và tầm mức quan trọng của cuộc thuyết trình… Về phía những người đến từ trong nước, họ đã có sẵn thông dịch viên. Còn chúng tôi phải tự một mình xoay sở bằng môi miệng mình nhưng ngôn ngữ người. Đây là một danh dự, không phải cho riêng cá nhân tôi, mà cho một tập thể.

La Ronda đồng ý. Cô viết tờ giấy với hàng chữ: “Room in conference, don’t bother” và dán ngoài cửa phòng. Sau đó cô ngồi đối diện, nghiêm trang như một cô giáo. Trên bàn là sổ tay, và cô cầm cây viết chì, sẵn sàng ghi note. Trong kinh nghiệm nghề nghiệp tôi là người đi trước cô, nhưng bây giờ tôi là học trò của cô. Thú thật, tôi đã từng nhiều lần đứng thuyết trình và đã từng trải qua khoá học về kỹ thuật thuyết trình, nhưng chưa bao giờ tôi lại lo âu như lần này. Tôi nhìn chăm vào cô và nghĩ là đang nói trước một cử toạ đông đảo. Tôi đọc chậm và rõ. Cô không nói, chỉ note trên trang giấy. Cuối cùng sau tám phút đọc, tôi ngước nhìn cô. Tôi thấy đôi mắt cô đỏ và long lanh nước mắt. Cô khóc. Cô nói so wonderful. So wonderful… Sau đó, cô đã chỉ tôi vài chỗ cần thiết để nhấn giọng hay ngừng lại. Cô đã làm cho tôi tự tin hơn bao giờ. Dù vậy tôi cũng không thể đo lường được con tim của cô. Có lẽ cô nói để khuyến khích tôi, giúp cho tôi tự tin hơn hoặc vì phép lịch sự giữa những người đồng nghiệp với nhau.

*

Ba giờ rưỡi sáng, tôi lên xe rời thị trấn. Phải mất 5 tiếng đồng hồ lái xe mới lên Boston. Những người trên ấy muốn tôi lên càng sớm càng tốt để gặp nhau chuẩn bị. Trời đầy sương. Đôi mắt ráo khô, thần kinh căng thẳng. Tôi kéo cửa kính xe xuống. Gió sớm mơn man. Chỉ những cột đèn bầu bạn. Chỉ có thành phố ngái ngủ. Chỉ có con đường xa lộ dài hun hút, và những mảng đèn pha mờ nhạt trong sương.

Vâng, thì lên đường. Ngày xưa, tôi có những chuyến đi về sáng như thế. Nhảy vào mật khu, tiếp viện hay tăng phái cho một chiến trường. Nhưng ngày xưa, bên tôi là đồng đội, là súng đạn, là những dắt dìu, bảo bọc nhau… Ngày xưa, nửa đêm kẻng dục quân ra trận. Kinh động cả lòng đêm tối bưng. Nhận lấy ba ngày cơm gạo sấy. Không buồn chỉ một chút bâng khuâng. (thơ THT) Ngày xưa, và bây giờ có khác gì đâu. Bởi vì từ lâu nay, cái nơi ấy vẫn được xem là nơi bất khả xâm phạm, không một nhà văn nhà thơ Việt Nam hải ngoại nào được quyền nói lên tiếng nói. Bởi vì nói đến văn chương chiến tranh, người Mỹ chỉ biết đến những cuốn sách của Bảo Ninh, Lê Lựu, Ngụy Ngữ, Thu Bồn, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Dương Thu Hương, Nguyễn Quang Sáng. Không ai biết giòng văn chương miền Nam thời chiến qua 35 năm lâm chiến… Chẳng ai cần biết một kho tàng sách báo bị đốt hủy. Chẳng ai biết một nền văn học lẫy lừng hừng hực lửa, trái phá đã bị bức tử. Nơi này chỉ dành một Lê Lựu, Ngụy Ngữ, Nguyễn Quang Sáng, đã một lần đến đây, rồi trở về nước viết bài chửi rủa mạt sát những người văn nghệ sĩ hải ngoại không chừa một mống.

Chẳng ai cần thắc mắc về sự thật của những cây viết mà họ xem là trung thực về chiến tranh như Bảo Ninh khi tả cảnh toán thám báo đột nhập mật khu bắt ba chị nuôi hãm hiếp rồi trấn nước, trong khi vai trò của thám báo chỉ là săn tin, phối kiểm tin tức tình bào, phải tự mình bảo vệ lấy mình giữa lòng địch. Chẳng ai cần thắc mắc một Ngụy Ngữ, nhà văn một thời mang bộ đồng phục miền Nam, được miền Nam ưu đãi, không đi tác chiến một ngày lại bôi nhọ chửi rũa lính miền Nam gọi thương phế binh miền Nam là bọn què quặt, kể lính rằn ri mỗi lần về phố là quán xá đóng cửa cài then, nhục mạ thậm tê người đã chết là cố đại úy Nguyễn văn Đương là tên sĩ quan dù… ngay trên những số báo Vấn Đề do Vũ Khắc Khoan và Mai Thảo chủ trương…

Vâng, họ đã bị lừa bịp bởi những nhà văn thiếu tư cách, vô liêm sĩ mà họ không hề biết.

Tôi đã dừng tạm ở một Trạm Nghỉ. Quá mệt, và quá buồn ngủ… Trời đã sáng. Tôi lên đồi cây. Đứng yên. Trong nỗi cô liêu hiu quạnh, với những hàng thông, hàng sồi san sát, với màn sương còn che khuất những dãy núi bên kia đường, tôi lại liên tưởng đến bạn bè đồng đội của mình. Những thân cây che chở mạng người. Những hòn đá câm. Và mây trắng như ngày xưa chứng kiến những con ngựa chiến chinh bay về trời. Mười mấy năm chiến tranh đã hàng hàng lớp lớp những con ngựa bay về trời như thế. Tức tửi.

*

Xin được đi lại một đoạn của bài tôi thuyết trình:

Quí vị hỏi tôi viết gì. Trước năm 1975, tôi viết về cuộc chiến tranh, trong đó tôi và thế hệ của tôi đã lao vào, đã chiến đấu, đã bảo vệ cho quê hương tôi. Tôi viết bằng ngay cả máu lệ của chính bản thân mình. Có những bài văn tôi viết trong hầm phòng thủ. Có bài tôi viết khi bằng cảm giác hơn là lý trí. Đó là lúc tôi trùm poncho, trùm cả chiếc mền, bật đèn pin và viết trong giờ chờ giặc. Khi ấy, cảm giác đã đẩy ngòi bút, và hơi thở của tôi điều khiển tôi. Có bài tôi viết khi nằm trong bệnh viện, giữa những tiếng rên la quằn quại của những người lính thuộc đại đội tôi. Tôi đã hiểu thế nào là tiếng nổ của trái phá, và sự khủng khiếp của nó là như thế nào. Tôi muốn dùng những kinh nghiệm có thật của mình để nói về một cuộc chiến quá dài, quá kỳ lạ, tàn bạo hơn bất cứ cuộc chiến nào trên thế giới mà khí giới được nhập từ Nga Sô Trung Cộng và Hoa Kỳ. Nhưng trong tiếng gào thét của chiến tranh ấy, giữa những trang đầy máu của hai phe, và thêm những xác của trẻ con vô tội, tôi cũng viết về những điều hết sức kỳ diệu mà tôi đã gặp trong chiến tranh. Đó là lòng từ tâm của người lính VNCH. Điều ấy tôi đã được thấy khi sau khi một trận đánh kết thúc. Đó là lúc vai trò người lính của tôi không còn nữa mà nhường lại là vai trò của người viết văn.

Tôi đã thấy lính tôi mời tù binh những điếu thuốc hay dìu họ lên trực thăng để tải về quân y viện. Tôi đã thấy trong bệnh xá những người thương binh Nam và Bắc ngồi lại nhau để chơi cờ, đàn hát cho nhau nghe những bài tình ca. Tôi đã hiểu là dân tộc tôi quá hiền từ thời đại này qua thời đại khác. Từ đó tôi tin rằng ai cũng có con tim. Rồi sẽ có một ngày người Nam kẻ Bắc sẽ bỏ hết hận thù sẽ quên đi quá khứ, bởi vì tuổi trẻ chúng tôi chỉ là những nạn nhân từ các thế lực chủ nghĩa. Một ngày nào, chúng tôi sẽ vùng dậy, sẽ lột mặt những tay đồ tể chiến tranh, sẽ nối lại vòng tay như qua bài hát cuả Trịnh Công Sơn: Từ Bắc vô Nam nối liền cánh tay. Nhưng giấc mơ của một người viết văn ấy đã bị tan vỡ sau 1975. Bởi vì tôi đã nhận ra rằng cái hậu quả của chiến tranh đã không ngừng lại ở đây, để đồng bào tôi, bạn bè con cháu tôi được sống an ổn trong những ngày hoà bình còn lại. Mà trái lại, đồng bào tôi lại trở thành một nạn nhân của hậu quả khác. Hậu quả từ những trái tim được nuôi dưỡng bằng một thứ chủ nghĩa chỉ được xây dựng bằng căm hờn và bạo lực. Đó là chủ nghĩa Cộng Sản.

Thưa quí vị,

Tôi có thật nhiều điều để muốn tỏ bày cùng quí vị về một nỗi đau khổ khủng khiếp của một người viết văn. Đó là lúc anh ta muốn viết mà không dám viết, muốn nói mà không được nói. Quí vị được may mắn là có thể viết tất cả những gì mà quí vị muốn, trình bày tất cả nỗi buồn vui của quí vị cùng độc giả. Nhưng có một nơi, văn chương được xem là một tai họa. Người ta đã tìm mọi cách để tận diệt văn chương. Bằng chứng, riêng cá nhân tôi, đây là những đứa con tinh thần của tôi, không phải tôi mang từ quê hương tôi qua, mà tôi đã thu thập chúng từ một thư viện của đại học Cornell Hoa Kỳ. Chúng vẫn còn sống sót cũng như bản thân tôi vẫn còn sống sót sau một cuộc chiến, sau những năm tháng tù tội. Vâng tôi là kẻ được may mắn được thoát khỏi cõi im lặng khủng khiếp ấy. Nhưng còn biết bao nhiêu người viết văn làm thơ khác của miền Nam với biết bao công trình văn chương đồ sộ của thời chiến tranh. Họ đã mất tiếng nói. Họ đã bị quên lãng bởi loài người. Họ không được nhắc nhở. Bằng chứng là hôm nay, quí vị không thấy họ mà chỉ thấy những người viết văn làm thơ trong hàng ngũ thắng trận. Như vậy đâu là công bằng, đâu là tiếng nói trung thật của văn chương, nhất là nền văn chương về chiến tranh VN?“

*

Khi chúng tôi chuẩn bị ra về, thì một người đàn bà bản xứ đã tiến đến bên tôi. Trên tay bà vẫn còn cầm cuốn sổ tay ghi những note. Bà ngước nhìn tôi. Và tôi bỗng thấy lại đôi mắt của La Ronda. Cũng đỏ hoe. Cũng ngấn lệ. Bà cám ơn tôi. Một tay bà đưa ra và siết chặt lấy bàn tay tôi. Bây giờ tôi mới hiểu rằng La Ronda không phải nói để lấy lòng tôi như phép lịch sự của những người đồng nghiệp với nhau.


Trần Hoài Thư

Nguồn: tranhoaithu.wordpress.com

MẮC NỢ

mắc nợ (1)

Ta nợ mùa thu một bài thơ lá rụng sương mù
Ta mắc nợ ai bao năm rồi vẫn chưa trả nỗi
Nợ quê hương một chùm khế ngọt
Nợ cuộc đời một lần đắng cay
Nợ cơn mưa một lần ướt áo
Nợ trời quê một cánh diều bay
Ta nợ lời ru mẹ ầu ơ bên cánh võng năm nào
Nợ bạn bè lần hẹn hò cuối phố
Nợ trường xưa nét chữ ban đầu
Cả cuộc đời trả mãi – chắc chi xong !

mắc nợ (2)

Ta mắc nợ mùa thu
Bài-thơ-lá-rụng-sương-mù
Ta mắc nợ ai, bao năm rồi chưa trả nổi
Một nụ cười má lúm đồng… xu

Chúng mình mắc nợ mẹ hiền lời ru
Mắc nợ thầy cô
một dấu chấm câu đặt không đúng chỗ
Mắc nợ bạn bè
một lần vẫy tay cuối phố
Mà một đời trả mãi chắc chi xong!

Nguyễn Vân Thiên

LÊN NÚI PHỤNG HOÀNG

Lên Phụng Hoàng ngắm mây trắng
Núi cao xóa dấu bụi trần
Đời người mấy lần hạnh ngộ
Đất trời đá cũng vô ngôn.

Chim kêu trên tàng kinh các
Bàng hoàng hồi đại hồng chung
Trong lòng khắc bao kinh kệ
Hương thiền lắng đọng tâm dung.

Bước chân ai qua rừng trúc
Thong dong bóng lá u trầm
Mây che ngang đầu Voi Phục
Bốn mùa soi bóng Tuyền Lâm.

Mái cong vươn mình cao vút
Trầm tư dưới cội bồ đề
Thả hồn vào nơi phật tích
Bình yên tìm chốn đi về.

Bạt ngàn thông reo xanh biếc
Ai người dạo núi cùng ta
Mênh mông đất trời cố xứ
Tìm đâu sợi khói quê nhà?

Nguyễn An Bình

CHI MING WANG

Tôi trở lại trường với cặp mắt mờ và một trí nhớ hao mòn qua năm tháng. Tìm lại một chỗ ngồi, nhìn lại chiếc bảng xanh, và nghe lại những lời giảng của giáo sư, sống lại cùng một thế giới đã mất. Điều đó khiến tôi bồi hồi cảm động. Nhưng cớ sao tôi lại cảm thấy bơ vơ lạc lõng vô cùng. Hình như mắt tôi cay. Tôi cũng không hiểu nổi. Hay bởi cặp mắt yếu của tôi đã điều tiết quá nhiều. Không đâu. Thế giới vẫn là thế giới xưa. Những trang giấy vừa lật ra. Thêm một chương mới vừa bắt đầu, và thêm một ngày nữa cho một cuộc hành trình không bao giờ ngưng nghỉ. Cũng lớp học ở lầu hai. Cũng những bàn những ghế. Cũng lò sưởi bên khung cửa sổ. Cũng một hoàng hôn trên dòng Hudson. Cũng vài gương mặt của khóa học trước. Phải rồi. Tôi biết. Một người nào đã bỏ đi. Và thêm một thân thiết nhất vừa vuột mất. Như thể một cơn mơ. Như thể một làn hương quý. Như một giây mà cả trăm năm.

Làm sao tôi có thể quên được cơn mơ ấy. Như thể hôm qua, cũng những hàng dẻ, hàng sồi mùa thu lá vàng phủ ngập sân trường. Cũng vẫn một dòng sông vào hoàng hôn, với những đàn chim biển đậu dưới bến cảng. Cũng vẫn thành phố Nữu Ước bên kia bờ, với chập chùng mái lầu, và muôn con mắt điện màu rực rỡ. Từ phía Manhattan, Chinatown, Broadway, Queen. Cũng vẫn hai tòa lầu chọc trời Twin Towers ở phía phải, và tòa Empire State Building chót vót ở trung tâm thành phố.

Năm nào cũng vậy. Mùa thu về đúng hẹn. Đám mây trên sông bàng bạc như mong manh cho một hơi thở của ngày. Và xa hơn, sườn cầu Pulaski mờ sẫm. Và sông nước còn gượng chút ráng chiều. Chim biển trắng phau gọi nhau náo loạn. Mây mời gọi. Sông cũng mời gọi. Mây và sông chở lại một kinh thành. Huế. Người sinh viên cũ năm nào đã từng đứng yên trên hành lang văn khoa, để nhìn con sông vào hoàng hôn. Người con gái ở phía cạnh cũng nhìn xuống con đường Lê Lợi. Mái tóc chảy lai láng bờ vai. Dáng dấp thì hao gầy. Không ngờ, nơi ấy đã trở thành một hoài niệm. Sau mấy mươi năm giờ đây tôi lại gặp lại một lần. Một thời. Bỏ quên những mệt lả của miếng cơm manh áo. Những bánh xe lăn của thời gian. Những cuống cuồng trong một thế giới kỹ thuật và máy móc. Bỏ quên tôi với đôi mắt yếu mờ, vầng trán nhăn, mái tóc sắp bạc cả đầu. Bỏ quên tay sinh viên già đang đến trường tranh đua cùng tuổi trẻ. Người sinh viên già cô đơn giữa lớp học. Sách vở làm sao xóa đi nỗi buồn. Bạn bè, đồng đội, người thân yêu, những vết cằn của chiến tranh, tù tội, vượt biển. Sách vở mở mang kiến thức nhưng sách vở càng mệt mỏi giữa chốn hồng trần. Con tính đã trở thành khó khăn. Những beta, gamma, những limit, Markov chains sao mà nhớ cho hết. Lời giảng của vị thầy đã rơi vào một bộ óc quá đầy, quá cặn. Người sinh viên già cố trừng con mắt, căng thẳng chiếc tai còn sót lại. Người sinh viên không cười không nói, không ai hàn huyên thăm hỏi. Dòng chữ viết trên trang giấy run rẩy hơn, vì tuổi đời hay vì sợi gân tay đã liệt. Gắng lên con hỡi! Học phí này hãng đài thọ một trăm phần trăm. Một môn học trên dưới hai ngàn đô la. Gắng lên con. Mày chưa phải là già. Con tim mày vẫn xôn xao, con mắt mày vẫn còn tham lam ham hố. Gắng lên con! Cái việc, cái nhà, chiếc xe, học phí cho con. Gắng, để tên sinh viên già đến trường mỗi tuần hai buổi, vượt xa lộ, qua đồi núi, gần hai tiếng đồng hồ. Ngày tuyết cũng như ngày mưa. Ngày đoàn xe kẹt không sao nhúc nhích trước khi vào hầm Holland hay êm ả lăn những vòng xe, qua phi trường Newark, nhớ về phi trường Qui Nhơn. Ngày tìm gì cho tâm hồn thôi bâng khuâng xào xạc khi mùa thu lá cứ tiếp tục rụng đầy trên sân trường.

Mùa học vẫn như thường lệ. Giờ đầu tiên, ông giáo sư viết trên bảng vài hàng về chương trình, thi cử. Lớp học khoảng mười lăm người. Hai da vàng. Ba bốn Ấn Độ. Và còn lại là da trắng. Ông giáo sư trẻ, phát âm giọng Anh, áo quần xốc xếch, đầu tóc rối bù. Hay ông ta lập dị. Ông muốn chứng tỏ ông là một nhà toán học đúng điệu. Hay Toán học đã làm thay đổi bản chất con người. Ông cũng chẳng cần giới thiệu ông cho đám sinh viên. Ông bắt đầu ngay bài giảng. Lại bắt đầu một cuộc chạy đua. Tai căng. Mắt điều tiết. Những hàng chữ nhỏ mờ trên giấy trên bản. Câu hỏi. Câu trả lời. Chiều đã nhường cho bóng đêm. Lúc này không còn thao thức, nhớ nhung, dằn vặt, âu lo, tính toán. Lúc này, biến số trở thành lời giải. Giả thiết trở thành kết luận. Lúc này những ký hiệu trở thành linh động, dẫn đưa đến bến bờ kiến thức. Rồi mười phút nghỉ. Xếp qua sự đuổi bắt. Người sinh viên già đứng dậy, tựa vào cửa sổ. Dòng Hudson lấp lánh những ánh đèn từ những chiếc tàu đêm. Trên bờ xa, là cả một Nữu Ước rực rỡ như một khối đá kim cương vĩ đại của địa cầu. Tôi đã nhìn thành phố biết bao lần, nhưng mỗi lần đôi mắt tôi càng thêm no nê trước triệu ức ánh đèn đan kết phản ánh trên đáy nước, hay mờ ẩn trong sương mù. Cả một Nữu Ước ban ngày cuống cuồng hối hả bây giờ đã biến thành một hòn đảo linh động bừng rộ hoa đăng…
Nàng đến bên cạnh tôi, cùng nhìn xuống dòng Hudson. Mái tóc nàng hớt ngắn. Gương mặt nàng thanh tú. Đôi mắt sáng đầy thông minh. Nàng chào tôi, và tôi chào lại. Nàng hỏi tôi:
– Ông là sinh viên du học?
– Không, tôi ở Mỹ, mười năm.
– Ông đến từ nước nào?
– Việt Nam.
– Ô, Việt Nam. Tôi nghe nói nhiều về Việt Nam. Bắc hay Nam Việt Nam hở ông?
– Thì ra cô biết Việt Nam có hai miền.
– Vâng. Tôi biết Việt Nam có chiến tranh. Rồi Bắc Việt Nam chiếm đóng Nam Việt Nam. Rồi cả triệu người vượt biển. Như vậy ông cũng là một người vượt biển.
Tôi cảm động. Thì ra nàng hiểu một phần nào lịch sử của đất nước tôi, về một cuộc chiến tranh tương tàn trong mấy mươi năm.
– Tôi đến từ miền Nam. Còn cô? Xin lỗi, Đài Loan hay Hoa Lục?
– Tôi đến từ Hoa Lục.
– Cô là sinh viên du học?
– Vâng.
Tôi ngần ngại. Hình như có một khoảng cách vô hình ngăn chia giữa tôi và nàng. Có lẽ đầu óc tôi vẫn còn bị ám ảnh bởi lịch sử. Nhưng nàng đã nói một câu mà tôi không thể tin nổi:
– Việt Nam và Trung Quốc đều có nỗi bất hạnh chung.
Tôi thật sự xúc động. Thì ra chúng tôi cũng vẫn có cùng chung cảnh ngộ. Việt Nam, Trung Quốc, Liên Sô, Cao Miên, Cuba, và các nước Đông Âu.
Tôi nhìn thẳng mắt nàng rồi nói:
– Vâng. Cả hai.
Lớp học tiếp tục trở lại. Lại những lời giảng khô khan. Lại những gương mặt đăm đăm nhìn lên bản. Gió từ sông thổi vào phòng, gây gây lạnh. Lòng tôi nao nao. Ước gì tóc còn xanh và mắt còn no nê tuổi trẻ. Gương mặt của người thiếu nữ Trung quốc vẫn còn chập chờn. ánh đèn neon làm gương mặt nàng sáng láng. ễ đấy tôi tìm ra cả một tuổi thanh xuân cùng sự say đắm lẫn cả sự thao thức của tuổi trẻ. Tôi cũng từng là một người trẻ như nàng mấy mươi năm về trước.

Từ đấy, tình bạn giữa tôi và nàng trở nên thân thiết. Tôi biết rõ hơn về nàng. Nàng nguyên là giáo sư phụ khảo về Toán Học ở Đại Học Thượng Hải. Vì vậy, tôi không ngạc nhiên khi thấy trình độ về Toán Học của nàng vượt hẳn lên mọi người. Bên cạnh tôi, nàng chỉ nhìn lên bản, ít khi ghi chép. Đôi khi nàng nhắc giáo sư về một công thức thiếu sót hay về một lời giải không được hoàn chỉnh, để ông thầy phải cám ơn rối rít. Còn tôi thì sao? Bài giảng buồn đến muốn khóc. Đến chừng nấy tuổi đời, sách vở đâu có ích gì, trong khi bạn bè hiểu lầm tôi bị sa vào cái vòng cơm áo. Trí óc tôi chỉ lênh đênh những áng mây hoài niệm. Cơm áo. Ngày xưa tôi bất cần, từng ngủ trên mui xe đò ở bến An Đông, hay dùng lau cỏ làm nệm trong những ngày tù tội. Ngày xưa tôi cũng đã từng ăn cơm chỉ xì dầu nước tương trong quán cơm chay tại đường Phan thanh Giản. Nhưng bây giờ, guồng máy bóp tôi, bắt tôi nghẹt thở. Cơm áo, áo cơm, bằng cấp, học lực. Nghề nghiệp phải luôn luôn trau dồi. Dừng lại có nghĩa là đầu hàng. Ngày xưa tôi viết văn. Bây giờ tôi làm toán. May mà tôi còn có một người bạn gái. Người thiếu nữ mà tôi gọi là Rose de Chine. Nàng bắt tôi phải đến lớp sớm và nấn ná khi lớp học tan. Nàng làm tôi phải lái xe mất hai tiếng đồng hồ, mỗi tuần hai buổi, mà không còn nghĩ đến những dặm dài hay những đoàn xe bị kẹt trên cầu Pulaski nữa. Tôi như thể một tên tình si. Mong được đến lớp, để được ngồi cạnh nhau, để trao ngỏ vu vơ, hay để cùng nhau nhìn ra bóng đêm, xuống dòng Hudson và cả thành phố Nữu Ước. Chúng tôi đã nói về Ami Tan, nhà văn nữ người Mỹ gốc Trung Hoa, về lối hành văn giản dị, nhẹ nhàng nhưng cay đắng của bà. Chúng tôi cũng kể về đời sống Mỹ, với những thực tế bi thảm mà người di dân gặp phải. Từ văn hóa đến tập quán. Từ truyền thống đến di sản. Từ sự xung đột giữa thế hệ già và thế hệ trẻ. Vợ và chồng. Cha mẹ và con cái. Có những người già mang nỗi buồn héo hắt trong bốn bức tường. Họ là người tù chung thân không hơn không kém. Tại sao? Chi Ming Wang rất thông minh để giải thích:
– Tất cả đều bắt nguồn từ truyền thống tự do. Chính vì truyền thống ấy mà đất Mỹ mới hiện diện trên quả địa cầu. Tự do đã biến nước Mỹ thành một nước hùng mạnh. Nhưng tự do một khi không kèm với luân lý, đạo đức thì quả rất nguy hiểm…
Tôi đồng ý với những nhận xét của người bạn gái Trung Hoa. Và chúng tôi kể về những ước mơ. Về Trung Quốc. Về Việt Nam. Chỉ có tự do trên căn bản đạo đức mới không tiếp tục bánh xe băng hoại của Tây Phương, mới mang Trung Quốc và Việt Nam hùng mạnh cùng năm châu thế giới. Với tôi, một ngày Việt Nam không còn sống trong hãi sợ; ngu dốt, kiêu căng không còn thống trị; một ngày nhân phẩm con người được tôn trọng. Với nàng, một ngày người dân Trung Quốc vùng dậy đòi lại quyền làm người. Nàng lạc quan, đôi mắt ngời sáng.
– Ông Trần à, bây giờ Trung Quốc đã ý thức thế nào là dân chủ, và quyền được làm người. Khắp nơi, từ đại học đến nhà máy, các phong trào đòi lại quyền tự do và dân chủ đã bành trướng và lớn mạnh.
Tôi thì bi quan:
– Nhưng những người cộng sản sẽ không từ bỏ bất cứ một hành động nào để duy trì chế độ. Họ đã đổ bao nhiêu công sức để tạo dựng chế độ, tất nhiên họ sẽ cố mà bảo vệ. Cho dù họ có giết hàng triệu người.
Nàng không đồng ý:
– Trung Quốc sẽ dũng cảm để đứng dậy. Rồi ông Trần sẽ thấy. Có những chuyển biến mà lịch sử sẽ phải ghi đậm.
Chúng tôi đã nói với nhau bao đề tài. Có khi vu vơ như một ngày mưa ngày nắng. Có khi sôi nổi như đề tài chính trị. Có khi trẻ con như hai đứa học trò tiểu học, lười biếng nhìn thời gian trôi qua mà ngỡ như cả thế kỷ. Đôi khi chúng tôi cùng ngồi trong thư viện, cùng nhau giải chung một bài toán khó. Mái tóc ngắn và đen mượt tựa mun của nàng choáng ngợp lấy đôi mắt mệt mỏi của tôi. Nàng quả là một sinh viên ưu tú, cộng thêm cái kinh nghiệm dạy học của nàng. Trung Quốc vẫn được tiếng đứng nhất nhì thế giới về toán học. Có lần tôi hỏi nàng:
– Chi Ming Wang, toán học quá khô khan, tại sao cô lại chọn toán?
Nàng ngừng suy nghĩ, trán hơi nhăn, và đôi mắt ngời sáng như đôi mắt sóc:
– Như vậy toán học chỉ dành cho đàn ông hay sao, hở ông?
– Nhưng toán chỉ là những lý luận cứng ngắc, không một chút gì tình cảm. Với một người có con tim như cô, tôi thật ngạc nhiên.
– Vậy tôi có nhiều tình cảm lắm sao? Ông lầm rồi, ông Trần. Tim tôi là một khối sắt.
Tôi cười chịu thua. ễ vào cái tuổi sắp bước vào năm mươi như tôi, được một người bạn gái Đông phương, vừa tinh nghịch, vừa say đắm, vừa dạt dào tình cảm, và nhiệt thành tuổi trẻ, thì quả là hạnh phúc lắm rồi. Chúng tôi tìm đến nhau không một mảy may xác thịt. Chúng tôi như hai người lớn, cùng trở lại kiếp học trò đã mất từ lâu.

Cuối cùng, ngày thi cuối khóa lại đến. Mùa thu đã sắp tàn. Khuôn viên trường đầy ngập lá vàng. Hôm nào, những nhánh cây che ngang khung cửa lớp ngày nào còn màu xanh, bây giờ đã trơ trụi in trên nền trời bàng bạc màu xám trắng. Dòng Hudson chìm trong một vùng trời hắt hiu xa vắng, ít còn thấy ráng đỏ. Trong khuôn viên, bức tượng bằng đồng vẫn nhìn xuống dòng sông, nhưng màu hình như sẫm tối hơn mọi ngày. Hôm nào, những cơn gió gây gây chớm thu nay đã nghe hơi rét lạnh. Bãi sân trường đã không còn thấy những trận thể thao. Sinh viên bắt đầu vào thư viện, bên những chồng sách vở. Giờ thư viện cũng được thay đổi. 24 trên 24.
Tôi và Chi Ming Wang cũng là những người trong đám sinh viên ấy. Nàng là sinh viên fulltime (toàn phần), lấy đến bốn môn cho cả khóa học. Vì thế, nàng phải bù đầu vào sách vở hơn tôi nhiều. Tuy vậy chúng tôi vẫn còn có thì giờ để gặp nhau, cùng kéo nhau xuống phố, để tìm một nhà hàng. Đây là Hoboken, quê hương của Frank Sinatra, một thành phố nghệ sĩ như cái tên của người ca sĩ Mỹ. Từ những con đường hai bên xe đậu nghẹt lối. Từ những quán cà phê lộ thiên. Từ những dãy lầu mái ngói đỏ sẫm. Từ những đàn bồ câu không sợ bóng người. Chúng tôi theo đường Sinatra, xuống đường Broad. Chúng tôi tìm một quán Pizza. Chúng tôi gọi và ăn hối hả. Tôi nghe mãi tiếng cười khúc khích của nàng khi nàng nhìn những cọng bánh còn vướng trên miệng tôi. Tôi vẫn còn nhớ đến hàm răng đều và trắng khi nàng cắn lấy miếng pizza vàng ngậy. Sau đó, chúng tôi trở lại con đường Sinatra. Tôi đi cạnh nàng. Nàng trở nên bé nhỏ trong chiếc áo dạ đen. Mái tóc nàng còn đọng những hạt mưa còn sót lại trên cành cây. Tôi nhắm mắt ước con đường dài vô tận.
Nhưng thời gian đã không bao giờ dừng lại. Con đường mang tên Sinatra cũng không dài vô tận. Buổi chiều trước giờ thi cuối khóa, tôi gặp lại nàng trên hành lang. Nàng trao tôi cái Resumé của nàng:
– Ông Trần. Ông có thể giúp tôi tìm một công việc tại hãng ông được không? Tôi muốn ở lại Mỹ. ít ra ở đây vẫn có cơ hội để tôi tiến lên. Đây là cái resumé của tôi. Ông có thể tùy nghi thay đổi.
Tôi gật đầu. Tôi nhìn đăm đăm vào gương mặt thanh tú. Tôi nghĩ tôi sẽ cố gắng hết mình để còn được gần gũi với nàng. Tôi mong có phép lạ để cứu lấy nàng. Trăm người sinh viên du học, chắc trăm người đều muốn ở lại. Tôi cố gắng an ủi nàng:
– Tôi tin rằng hãng tôi rất cần những chuyên gia toán học. Bởi toán gia bây giờ rất khan hiếm.
Nàng nói, một lần nữa, đầy khẩn cầu:
– Nhờ ông cố gắng giúp đỡ tôi. Tôi muốn ở lại Mỹ. Tôi sợ phải trở lại cùng Trung quốc.
Giờ thi xong, tôi và nàng thả bộ xuống bờ sông. Đêm đầy sao chi chít. Thành phố bên kia sông bừng lên với muôn ngàn ánh đèn rực rỡ. Quên đi hai tiếng đồng hồ cho một bài thi ác nghiệt. Quên đi cái gương mặt như thám tử của ông thầy. Hãy sống cùng giờ phút vĩnh cửu. Đừng nghĩ đến hôm qua, cũng đừng nghĩ đến ngày mai. Như giòng sông này, cứ ngàn đời yên lặng, bên sự thay đổi của con người, của Nữu Ước, của nền văn minh kỹ thuật. Gió lùa ngọn tóc của người con gái. Aịnh điện neon nhiều nến làm đôi mắt nàng lung linh. Rose de Chine. Bản nhạc xa vắng nào nghe vọng lại, như từ kiếp nào. Nàng Trung Hoa xinh… Nàng không nói gì. Và tôi cũng vậy. Bởi chúng tôi có thật nhiều điều đáng gìn giữ hơn là những lời vu vơ. Bởi lúc này con tim tôi đang nói nhiều quá. Làm sao tôi có thể có một phép lạ để giữ nàng bên tôi mãi mãi.

Trở lại hãng, tôi giúp nàng sửa lại tờ Resumé. Tôi nắn nót từng hàng, từng chữ. Chưa bao giờ tôi lại để tâm vào một việc làm như lúc này. Rồi in ra, rồi đọc lại, rồi không bằng lòng, rồi viết lại. Chi Ming Wang ơi, tôi run sợ để nghĩ về một lần sa ngã. Tôi đang mềm yếu để nghĩ đến một nụ hôn, một lần gục đầu, một lần cắn bầm da thịt. Tại sao gặp mặt rồi lại chia tay? Tại sao gót chân ai một hôm nào đạp lên khu vườn già nua cũ mục? Sau đó, tôi in thành nhiều bản, một mặt gởi về địa chỉ của nàng, một mặt gởi đến một vài người quen. Và chờ đợi.

Một người nguyên là cựu nhóm trưởng trong những năm đầu tôi làm việc, đồng ý phỏng vấn nàng. Tôi quá đỗi vui mừng, gọi điện thoại cho nàng. Nhưng điện thoại đã bị cắt. Tôi lái xe tìm đến căn phòng tạm trú của nàng nhưng nàng không còn ở đấy nữa. Người ở phòng bên cạnh cho tôi biết nàng đã trở lại Trung Quốc.
Một tháng sau, tôi nhận được tờ thư đầu tiên của người bạn gái. Trong thơ, nàng viết về một Trung Quốc mới, về phong trào nổi dậy đòi hỏi tự do và dân chủ của sinh viên, thợ thuyền, trí thức. Nàng còn chép gởi tặng cho tôi bài thơ của nàng, được dịch sang tiếng Anh: Từ những con đường hầm không thấy ánh sáng mặt trời. Từ những tường thành ngàn năm cằn tiếng nấc. Từ những quảng trường chỉ biết những lời tung hô lên không trung. Từ những đám mây chưa bao giờ được bay về biển. Chúng ta tụ hội về quảng trường. Thiên an môn. Thiên an môn của tương lai hy vọng. Thiên an môn của tuổi trẻ lên đường…Hầm sẽ gặp lại ánh sáng! Tường thành sẽ được phá đập cho sự thật phơi bày! Gió sẽ góp lại thành bão! Thiên an môn!
Tôi muốn rưng rưng nước mắt. Thì ra tôi đã hiểu tại sao nàng lại chọn con đường trở về. Tôi đã hiểu tại sao có người lại dám bỏ tất cả, giàu sang, địa vị, danh vọng để sống cho lý tưởng của mình.
Và cuối cùng, tôi đã ngồi bao ngày bao đêm trước màn ảnh truyền hình. Nhịp tim Trung Quốc chính là nhịp tim của tôi. Nhịp tim ấy đang chuyển động khắp lục địa và chuyển thức cả địa cầu. Tôi ngưỡng mộ những rừng người tuổi trẻ đang ngồi trên quảng trường, đang ùn ùn đổ về thành lũy của đảng. Cuối cùng sự thật cũng phơi bầy. Như bài thơ của người bạn gái của tôi.
Nhưng âm binh đã biến cả quảng trường thành một biển máu. Thiên An Môn. Thế giới òa khóc vì Thiên An Môn. Thế giới kinh hoàng vì Thiên An Môn. Đêm ma trơi quỉ rú. Đêm man rợ âm hồn. Đêm xé tan tấm thân mềm mại của những người con gái. Đêm xe tăng nghiến những xác người thanh niên.

Bây giờ, lâu lắm tôi chưa nhận được một lá thư của Chi Ming Wang. Một khóa học nữa lại bắt đầu. Và một lần nữa tôi lại trở về cùng ngôi trường bên dòng sông Hudson. Dòng sông vẫn muôn đời như thế. Vẫn những đám mây trắng bàng bạc. Vẫn những con chim biển gọi chiều về. Vẫn hàng cây lá bắt đầu nhuộm vàng. Vẫn một hoàng hôn trên thành phố Nữu Ước. Nhưng người xưa, bây giờ ở đâu? Chỉ còn lại tôi với nỗi chờ đợi ở bến sông này.

TRẦN HOÀI THƯ