Huyễn Mộng Ngày Về

luuxongpha
Chạm lối mòn ngày ngẩn ngơ tê dại
Giày rậm râu há mõm ói con đường
Thân đã cũ không đợi chờ áo mới
Ôm sông dài gặm giấc mộng trơ xương
Vốc nước bạc lau mặt mày bám bụi
Tiếng trẻ reo trong vắt rợn da gà
Chúng đâu biết tên hoang đàng rỗng túi
Gom bóng chiều về xây lại phù hoa
Dắt câu thơ bỏ nhà đêm huyễn mộng
Trái non tơ chín rục dưới hiên người
Giọt nhớ mẹ chờ giọt sương con vọng
Có bao giờ hội tụ giữa chơi vơi?
Lời ba dạy luôn vươn mình đứng thẳng
Thẳng lưng con-thơ chi chít vết bầm
Căng lồng ngực bắn ngàn tia khát vọng
Dội chân trời không tín hiệu hồi âm
Trên mặt đất bao kiếp người đã nhảm
Những chuyến tàu ghé lộn bến vu vơ
Khi trở lại ủ hạt cười trong nắng
Bên mộ tình cỏ cắn nấm mồ thơ!

LƯU XÔNG PHA

THẤT LẠC XANH

phuonguy

những khúc hát đi lạc rồi
ngày phong ba phủ kín lối
đã quá chiều sương rồi
tôi sao còn đợi?

là đôi mắt đã nặng rồi
mình về sao thấy lối
là mỏi chân rồi
giày xưa bỏ quên bàn chân

Giọt trăng thuỷ tinh đã vỡ rồi
âm xưa còn ngân
mình về đêm sâu thăm thẳm
giọt trăng buốt xuống trần

kí ức xanh ngút ngàn rồi
con hồ ly úp mặt vào tay mà khóc
đêm không còn là đêm
chỉ còn thăm thẳm mưa xanh

là phiến gió vừa rớt lạnh
thềm rêu một chiều dĩ vãng
là những đứt khúc tình xa
môi non như quên mặt người

PHƯƠNG UY

CON TÒ HE.

Yêu con gái Sài Gòn

 nguyenhanchung

Con gái Sài gòn không như gái Huế
không yêu thì nói thẳng thừng không vòng vo tránh né
cùng không cần dịu dàng e lệ
ngoa ngoắt  phang một câu xanh rờn xách mé

Đồ điên tưởng bở còn lâu

Con gái Sài gòn khi yêu nhau
không bao giờ để người yêu dẫn đến nơi kín đáo
không phải bắt chước ông bà ngày xưa giữ gìn cái gì là tiết tháo
đơn giản sợ làm buồn bộ váy mới mua

Con gái Sài gòn một ăn một thua
không để mẹ chịu nhục
bợp tai cảnh sát giao thông thà chịu tù chịu ngục
không để bọn ăn tiền thuế của dân mà dọa dân lành

Con gái Sài gòn học võ phòng thân
bật co tay đôi với trùm du dãng
cứu một em bé đánh giày đang hoảng loạn
vì không đủ tiền chung chi cho bọn côn đồ

Tôi yêu con gái Sài gòn như  như yêu thơ
rất tiếc già rồi lại đang có vợ
nếu được tái sinh ở xứ sở thiên đường thêm một lần nữa
nhất dịnh tôi sẽ cưới một cô em gái Sài Gòn
cố bưng phở làm nail kiếm được ít tiền làm lễ đính hôn
hy vọng tám mươi phần trăm là pass

Mai tôi về Việt Nam xuống phi trường Tân Sơn Nhất
niềm vui lâng lâng gặp gái Sài Gòn
nghe cái giọng có chút xíu ngang tàng mà vẫn ấm lòng hơn
nghe tiếng líu lo của đồ giãy chết

Sài Gòn đẹp .Sài Gòn vui ,gái Sài Gòn bất diệt
tôi đã có,tôi đang có ,tôi sẽ có
một người con gái yêu tôi
chính hiệu gái Sài Gòn
còn tôi vẫn là chàng trai già Quảng Nam
không bao giờ nhuộm tóc.

 Nguyễn Hàn Chung

em về một thuở…

 

npphan

 

em về một sớm mưa ngâu
cánh hoa nho nhỏ bên cầu ghẹo duyên
đường xưa phơi lá trăm miền
vầng trăng ru mộng còn nguyên một trời

 

em về từng cánh xuân phai
mùa thương nhớ cũng ngậm ngùi trên tay
trời xanh hao bóng hoa gầy
dáng em xõa tóc buông dài lối xa

 

em về áo biếc rừng hoa
trên vai tròn bóng nguyệt tà nhớ nhung
ngàn cơn gió nhẹ sầu mong
thổi bao âm điệu vô cùng, đón em

 

em về một sớm mưa quen
cánh chim xinh nhỏ chao nghiêng giữa đời
mùa xưa tàn lá chơi vơi
em về vạt nắng bên trời ngủ ngoan

NP phan

Bình Định, Dấu Ấn Lịch Sử Buồn

doanvankhanh

Thông thường, ít ai thắc mắc về ý nghĩa của những cái tên được dùng làm địa danh cho từng địa phương. Do đó mà có lẽ đối với nhiều người, hai tiếng Bình Ðịnh cũng chỉ là một danh từ thông thường được dùng làm địa danh để gọi một vùng như bao nhiêu từ địa danh khác trên mảnh đất Việt nam. Thế nhưng, đối với tôi, hai tiếng “Bình Ðịnh” không những chỉ đơn thuần là một địa danh mà Bình Ðịnh còn gợi lên cho tôi một ý nghĩa lịch sử.

Thật ra Bình Ðịnh không phải là quê hương tôi, nhưng Bình định lại là nơi tôi đã sống suốt thời kỳ thơ ấu và niên thiếu với không biết bao kỷ niệm vui buồn in hằn lên tâm khảm tôi không bao giờ quên được. Do đó những gì là Bình Ðịnh hình như cũng có chút liên quan với tôi cũng như tôi hay nghĩ về xứ sở và con người Bình Ðịnh. Tuy nhiên, không phải đợi đến khi lớn lên, học lịch sử, biết suy nghĩ, tôi mới lẩn thẩn nghĩ quanh về hai tiếng “Bình Ðịnh” mà ngay từ thủa mới theo cha mẹ đặt chân vào vùng đất này, mỗi khi nghe hai tiếng “Bình Ðịnh”, mặc dù chưa hiểu được ý nghĩa của hai tiếng này, tôi cũng đã thấy có một ấn tượng không vui và hình như hai tiếng này lúc nào cũng gợi lên cho tôi những suy nghĩ vẩn vơ.

Cái hình ảnh đầu tiên của tôi về Bình định là hình ảnh một vùng đất có những ngôi tháp Chàm hoang phế với những câu chuyện về ma Hời đã ám ảnh tâm hồn thơ ấu của tôi với một nỗi buồn mông lung. Và cũng chính tại vùng đất này tôi đã sống và lớn lên trong cái nhiễu nhương ly loạn và đảo điên của một giai đoạn lịch sử đầy đau thương của dân tộc, đồng thời cũng đã đánh mất đi rất nhiều ước mơ trong sáng của mình.

Tuổi cắp sách đến trường, phải tụng những bài học lịch sử được người ta cố tình bóp méo để giảng dạy cho học sinh theo quan điểm chính trị mâu thuẫn nhau của từng giai đoạn, từng chế độ mà tôi phải sống trong đó, tôi đã nghiệm được bài học không phải lịch sử mà là cái ý nghĩa đằng sau bài học lịch sử. Và chính vì thế mà tôi cảm nhận ra một điều: “Bình Ðịnh” đây cũng là một điểm tiêu biểu cho những cái nghịch lý của con người và lịch sử dân tộc.

Khi mỗi địa phương được đặt cho một cái tên để gọi, người ta vẫn muốn cái tên ấy nói lên được một cái ý nghĩa nào đó, hoặc là để diễn tả một đặc trưng, đánh dấu một sự kiện, ghi nhớ một biến cố của địa phương đó, hoặc có khi nhằm biểu tượng cho một hoài vọng. Mà quả thế! Trước khi vùng Bình định được gọi là “Bình Ðịnh”, nó mang nhiều cái tên khác có một ý nghĩa nói lên cái ước vọng cao đẹp của con người. Cái tên “Bình Ðịnh” chỉ mới có từ sau khi nhà Nguyễn khôi phục lại cơ nghiệp đã bị mất về tay nhà Tây Sơn, và “Bình Ðịnh” chính là một dấu ấn chính trị của một triều đại đã in lên vùng đất này trong giòng lịch sử dân tộc mà người dân vùng này phải lãnh nhận đã từ hai thế kỷ nay.

Có thể nói lịch sử Việt Nam là một lịch sử của những nghịch lý. Một dân tộc có ý chí quật cường chống ngoại xâm, dù có trải qua một ngàn năm nô lệ vẫn không bị diệt vong mà còn giành lại được độc lập, lại còn tiêu diệt cả Chiêm Thành và xâm lấn luôn cả Chân Lạp. Nhưng lịch sử Việt nam cũng là lịch sử của không biết bao nhiêu cuộc nội chiến triền miên và thời cận đại là một giai đoạn điển hình cho tính chất mâu thuẫn và nghịch lý nhất của dân tộc Việt nam. Những cuộc phân tranh, những lần chạy chọt đi cầu viện nước ngoài để diệt kẻ thù là người trong cùng một nước, những sự giết hại nhau chỉ vì tự cho mình là chính nghĩa hoặc phò chính nghĩa, rốt cuộc chỉ toàn là cảnh “nồi da xáo thịt” và “gà nhà bôi mặt đá nhau”. Hoàn cảnh chinh chiến, phải giết chóc kẻ khác để mong mình được sống, khiến con người càng dễ bộc lộ cái bản chất của mình. Bên cạnh những sự hy sinh hỷ xả, gương dũng cảm, đức thương người thì cũng không thiếu gì những hình ảnh dã man độc ác của những hành động phát sinh từ cái thú tính còn sót lại và cái lòng thù hằn, nhỏ nhen, ích kỷ của con người chỉ vì ham quyền bính, mưu ích lợi riêng tư hay cho gia đình, bè phái.

Trở lại với Bình Ðịnh, trước thế kỷ 15, vùng đất này còn mang tên Ðồ Bàn và hãy còn là lãnh thổ của vương quốc Chàm, với một nền văn minh rực rỡ mà ngày nay vẫn còn lưu lại nhiều dấu tích. Kinh đô Ðồ Bàn đã từng có một thời lừng lẫy, và lịch sử dân Chiêm cũng đã có những thời kỳ huy hoàng với những chiến công oanh liệt: người Chiêm đã từng đánh phá kinh thành Thăng Long của nước Việt, đã từng đẩy lui mười vạn hùng binh của nhà Nguyên do Toa Ðô thống lĩnh từ Trung quốc theo đường thủy kéo sang xâm lăng, đã phá tan quân Việt và giết được cả vua nhà Trần định vào chiếm cứ.

Nhưng sự suy thoái của vua quan Chiêm Thành trong những thế kỷ sau đó dần dần đã làm cho vương quốc Chiêm suy yếu, do đó mà đến đời vua Lê Thánh Tôn, quân Việt đã chiếm được kinh đô Ðồ Bàn. Vua Lê Thánh Tôn cho sát nhập phần đất Ðồ Bàn này vào lãnh thổ Việt và đặt tên là Phủ Hoài nhơn, phủ lỵ đóng tại thành Ðồ Bàn cũ.

Một thế kỷ trôi qua trên vùng đất này với dân tộc Chiêm cứ suy vong lần còn người dân Việt thì hình như vẫn còn thích bám víu với quê hương cũ. Trong khi đó nhà Lê sau đời vua Lê Thánh tôn thì cũng không còn một ông vua anh minh nào kế vị lãnh đạo đất nước cho nên Mạc Ðăng Dung mới tiếm quyền và nhà Mạc có cơ hội dựng nghiệp. Nhờ công Nguyễn Kim và rể là Trịnh Kiểm cho nên nhà Lê lại trung hưng nhưng vua Lê bây giờ chỉ còn là cái bình phong để cho hai họ Trịnh Nguyễn xâu xé nhau.

Cảnh Nam Bắc Triều giữa Lê và Mạc chưa dứt thì đã xảy ra cái nạn Nam Bắc phân tranh. Sau khi Nguyễn Kim chết, con rể là Trịnh Kiểm vì muốn tranh quyền nên đã giết hại em vợ là Nguyễn Uông. Nguyễn Hoàng vì muốn tránh bị anh rể mưu hại, đã nghe theo lời dạy của Trạng Trình “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân” mà xin vào trấn thủ vùng Thuận Hoá để tìm sự sống. Vì muốn thuận với chút chính nghĩa theo đạo lý Nho gia mà cả Trịnh lẫn Nguyễn chỉ xưng chúa nhưng lại cứ mượn danh nghĩa phò Lê để tiêu diệt nhau ngõ hầu tóm thâu quyền hành, do đó mà tạo nên cuộc Nam Bắc phân tranh trong hai thế kỷ.

Nguyễn Hoàng kể từ khi được vào trấn thủ đất Thuận Hoá đã cho mở mang các vùng phía Nam để củng cố tiềm năng cho mình. Ðất Ðồ Bàn kể từ ngày trở thành lãnh thổ Việt nam đến nay nhờ chúa Nguyễn Hoàng mà bắt đầu thay đổi bộ mặt. Thời gian này, những người Việt nam từ các tỉnh phía Bắc bị bắt, bị đày hay theo chân chúa Nguyễn đã lần lần vào đây lập nghiệp và biến đổi vùng đất này thành quê hương của mình. Cuộc Nam tiến của dân tộc Việt đã xua đuổi người Chiêm Thành ra khỏi giang sơn của họ. Dân tộc Chiêm suy vong để cho dân tộc Việt hưng thịnh. Cái tên phủ Hoài Nhơn nay được Nguyễn Hoàng đổi ra Qui nhơn.

Qua hai trăm năm đổ mồ hôi, máu và nước mắt xây dựng vùng đất mới này, những người di dân Việt đã đối xử với người Chiêm Thành như thế nào sử ta không chép, còn người Chiêm thì cứ bị tiêu diệt dần và cũng không còn nước để ghi lại những trang sử oán hờn của mình.

Những cái tên Hoài Nhơn hay Qui Nhơn theo chữ Hán đều có vẻ biểu lộ một ý nghĩa nhân bản. Nhưng những người dân Việt đến định cư trên vùng đất mới này đã hành xử như thế nào? Nếu họ đã thành công trong việc làm cho mảnh đất này thành quê hương vĩnh viễn của chính mình thì trái lại hình như họ chưa bao giờ thành công trong việc tạo dựng nó thành một miền đất hoà bình và thịnh vượng cho con cháu.

Những con người lãnh đạo vùng đất mới này cũng vẫn quen cái nề nếp cũ: chúa thì dần dần suy nhược và triều thần thì sanh ra bè phái tranh giành quyền lợi, do đó mà tới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát, gian thần Trương Phúc Loan mới chuyên quyền và lộng hành, Khi Phúc Khoát chết, Loan lại tự thay đổi di chiếu, lập Nguyễn Phúc Thuần mới 12 tuổi lên nối ngôi, thanh trừng nội bộ nhà Nguyễn, quan lại thì thối nát, xứ sở lại mất mùa sinh ra loạn lạc, nhân dân đồ thán.

Thấy cảnh bất công cùng cực, con cháu của những người di dân xưa đã nổi lên đi làm lịch sử. Ba anh em Tây Sơn dùng chiêu bài “diệt quyền thần Trương Phúc Loan”, và “phò hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương”, dấy nghĩa binh đánh Nguyễn, nhân dân nức lòng hưởng ứng, khí thế bùng lên khiến quan quân chúa Nguyễn không chống nổi, bỏ thành mà chạy. Nguyễn Nhạc lấy Qui nhơn làm căn cứ, rồi từ đó đánh vào Nam, đánh ra Bắc.

Trong lúc Tây Sơn nổi dậy ở Qui Nhơn thì Chúa Trịnh cũng muốn nhân lúc Ðàng Trong gặp rối ren để tiêu diệt chúa Nguyễn bèn sai Hoàng Ngũ Phúc đem quân vào chiếm Phú Xuân. Chúa Nguyễn phải chạy vào Quảng nam. Nguyễn Nhạc cũng thừa cơ hội vừa chiếm được Quảng Ngãi bèn tiến đánh luôn Quảng Nam. Chúa Nguyễn phải bỏ chạy vào Gia Ðịnh. Nguyễn Nhạc bắt được Hoàng tôn Dương đem về Qui Nhơn và gả con gái cho, nhưng Hoàng tôn Dương sau đó đã trốn vào Nam theo chúa Nguyễn.

Vì Tây Sơn chiếm được Quảng nam cho nên bây giờ Trịnh và Tây Sơn bắt đầu giáp mặt nhau. Nguyễn Nhạc thấy lực lượng của Tây Sơn chưa đủ để chống Trịnh bèn lập kế hoà hoãn, xin làm tiên phong đánh Nguyễn. Chúa Trịnh phong cho Nguyễn Nhạc trấn thủ Quảng Nam, lại sai Nguyễn Hữu Chỉnh đem ấn kiếm vào ban cho anh em Tây Sơn.

Hoà hoãn được với Trịnh ở mặt Bắc rồi, Nguyễn Nhạc liền sai Nguyễn Huệ đánh lấy Phú Yên, sau đó lại sai Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ vào Nam đánh chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn và hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương đều tử trận. Dòng họ chúa Nguyễn bị tiêu diệt chỉ còn sót lại Nguyễn Ánh nuôi chí phục thù. Diệt được chúa Nguyễn, Nguyễn Nhạc liền xưng vương, lấy hiệu là Thái Ðức, sửa sang thành Qui Nhơn làm kinh đô, phong cho Nguyễn Lữ là Ðông Ðịnh vương đóng giữ Gia Ðịnh và phong cho Nguyễn Huệ làm Phụ chính,

Vốn có biệt tài về quân sự nên Nguyễn Huệ xuất quân lần nào cũng thắng trận. Mỗi lần Nguyễn Huệ kéo quân vào Nam là Nguyễn Ánh thua chạy. Sau mấy phen phải trốn ra đảo Phú Quốc, Nguyễn Ánh bèn sang Xiêm cầu viện. Hai chục ngàn quân và ba trăm chiến thuyền cứu viện của quân Xiêm sang cứu viện cho chúa Nguyễn, bị Nguyễn Huệ dùng kế phục binh đánh cho một trận tan tành tại Soài Mút thuộc địa phận Mỹ Tho, chỉ còn vài ngàn tàn binh trốn chạy về nước. Tuy nhiên, vì không bắt được Nguyễn Ánh và quân Tây Sơn chỉ vào đánh rồi lại rút về nên Nguyễn Ánh vẫn tiếp tục chiêu binh chờ cơ phục hận.

Trong khi quân Tây Sơn dẹp Nguyễn ở trong Nam thì ngoài Bắc cũng rối ren với nạn Kiêu binh. Nguyễn Hữu Chỉnh là thuộc tướng của Hoàng Ðình Bảo. Vì muốn tôn Trịnh Cán lên ngôi chúa nên Hoàng Ðình Bảo bị quân Tam Phủ thuộc phe ủng hộ Trịnh Khải giết. Nguyễn Hữu Chỉnh vốn trước đã từng mang ấn kiếm của chúa Trịnh vào ban cho anh em Tây Sơn nên nay gặp lúc Kiêu binh làm loạn ở Kinh thành, Chỉnh sợ liên lụy bèn bỏ trốn vào Qui Nhơn thần phục Tây Sơn. Nguyễn Hữu Chỉnh đem tình hình Bắc Hà trình báo cho Tây Sơn và bày mưu cho Tây Sơn đánh Trịnh. Theo lời bàn của Nguyễn Hữu Chỉnh, Nguyễn Nhạc sai Nguyễn Huệ thống lĩnh đại binh và phong cho Chỉnh làm Hữu quân đem hai đạo thủy bộ đánh chiếm thành Phú Xuân. Thừa thắng Nguyễn Huệ cho quân đánh ra Quảng Bình, rồi vẫn theo kế hoạch của Nguyễn Hữu Chỉnh, Nguyễn Huệ không đợi hỏi ý Nguyễn Nhạc mà tự mình cầm quân kéo thẳng ra Bắc với danh nghĩa phò Lê diệt Trịnh.

Quân Tây Sơn qua Nghệ An, Thanh Hoá không gặp sự kháng cự đáng kể nào. Sau đó, thắng thủy binh của Ðinh Tích Nhưỡng ở Lỗ giang, đánh tan đại binh của Trịnh Tự Quyền đóng giữ tại Kim Ðộng rồi chiếm luôn Sơn Nam, Nguyễn Huệ tiến thẳng ra Bắc, đánh úp được thủy binh Trịnh dưới quyền Quận Thạc tại cửa sông Thúy Ái, thắng Trịnh Khải ở Tây Luông. Trịnh Khải chạy trốn bị dân bắt đem nộp Tây Sơn bèn tự đâm cổ chết. Thế là quân Tây Sơn tiến thẳng vào Thăng Long.

Ðể tỏ ý phò Lê, Nguyễn Huệ dẫn đám tùy tướng vào làm lễ triều yết và đệ trình lên vua Lê Hiển Tông sổ quân dân của Tây Sơn. Vua Lê phong cho Nguyễn Huệ làm Ðại Nguyên Súy Phù Chính Dực Vận Uy Quốc Công. Sau đó cũng do sự mai mối của Nguyễn Hữu Chỉnh mà vua Lê đã đem con gái là Ngọc Hân Công chúa gả cho Nguyễn Huệ.

Thấy Nguyễn Huệ tự ý kéo quân ra Bắc và tạo được thanh thế cho riêng mình nên Nguyễn Nhạc sinh nghi bèn kéo quân ra Bắc để kiềm chế Huệ. Nguyễn Huệ dù có mộng lớn nhưng thấy đất Bắc hà vẫn nặng lòng với nhà Lê và tỏ vẻ coi Tây Sơn chỉ như là đám thổ hào, do đó mà sau khi vua Hiển Tông mất, Lê Chiêu Thống lên nối ngôi rồi thì Nguyễn Huệ cũng theo Nguyễn Nhạc rút quân về Nam. Nguyễn Nhạc phong cho Huệ là Bắc Bình Vương, cai quản các vùng từ Quảng nam ra đến Nghệ an và đóng đô ở Thuận hoá.

Sau khi Tây Sơn rút khỏi Bắc Hà rồi thì tình hình đất Bắc lại trở nên rối loạn như rắn không đầu. Lê Chiêu Thống lên ngôi nhưng nhà Lê với một đám văn quan quen ngồi chơi xơi nước đã bao đời nay, mọi việc do phủ chúa quyết định, nay Trịnh không còn mà Tây Sơn cũng bỏ đi nên không biết làm sao điều khiển được triều chính. Các võ tướng thì lại đua nhau đi tìm Trịnh để phò. Trịnh Lệ và Trịnh Bồng lại nhảy ra tranh giành nhau cái phủ chúa, ức hiếp vua Lê như cũ. Trịnh Bồng đuổi được Trịnh Lệ bèn tái lập ngôi chúa.

Khi Nguyễn Hữu Chỉnh thấy Tây Sơn âm thầm rút quân bỏ mình ở lại giữa chốn Bắc hà với một đám quần thần đang thù ghét Chỉnh thì sợ quá, vội chạy theo đến Nghệ An cho nên được Nguyễn Huệ thương tình cho ở lại trấn đất Nghệ An. Thấy mình ở vào cái thế Tây Sơn không tin mà Bắc hà không phục, Nguyễn Hữu Chỉnh nhân dịp được trấn thủ Nghệ An bèn giả danh phò Lê để chiêu binh mãi mã lập kế phòng thân. Còn Lê Chiêu Thống khi bị Trịnh Bồng ức hiếp mà nhìn quanh thấy không còn ai có thể giúp mình bèn mật chiếu nhờ Nguyễn Hữu Chỉnh ra giúp. Quân Nghệ An rầm rộ tiến ra. Trịnh Bồng chạy trốn và họ Trịnh cũng chấm dứt từ đó. Vua Chiêu Thống sai đốt tan phủ Chúa để xóa tan dấu vết của một uy quyền đã áp chế dòng họ mình trên hai thế kỷ.

Nguyễn Hữu Chỉnh nhờ phá tan quân Trịnh Bồng mà uy thanh nổi dậy. Sẵn cờ đến tay liền phất nên Nguyễn Hữu Chỉnh bèn lo củng cố thế lực cho mình và muốn nối ngôi chúa Trịnh. Chính sách hà khắc của Chỉnh làm cho dân chúng ta thán. Hay tin Nguyễn Hữu Chỉnh chuyên quyền ngoài Bắc, Nguyễn Huệ sai Vũ Văn Nhậm ra trấn Nghệ an và cử binh ra Bắc hỏi tội Chỉnh. Nhậm góp nhặt ở Bố chính, Thanh Nghệ được hơn 30.000 quân, bắt đầu tiến ra Bắc đánh tan được các tướng của Chỉnh sai đi trấn giữ. Nguyễn Hữu Chỉnh phải tự cầm quân nhưng cũng không đương cự nổi bèn lẻn về kinh thành khóc với Chiêu Thống rồi cùng vua Lê đang đêm vượt sông trốn sang Kinh Bắc. Vũ Văn Nhậm vào thành Thăng Long cho quân đuổi theo bắt được Chỉnh đem về xử tử bêu đầu cho công chúng xem.

Trong khi Nhậm đang ở Thăng Long thì tại Qui Nhơn Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ lại xảy ra chuyện bất hoà. Vì nghi Nguyễn Huệ tranh phần với mình nên Nguyễn Nhạc giữ vợ con của Nguyễn Huệ ở Qui Nhơn không cho về Thuận Hoá. Nguyễn Huệ kéo quân vây thành Qui Nhơn. Nguyễn Nhạc phải leo lên mặt thành khóc rồi trả vợ con cho Nguyễn Huệ để giảng hoà. Vũ Văn Nhậm vốn là rể của Nguyễn Nhạc, thấy nội bộ nhà Tây Sơn lục đục nên sau khi giết được Chỉnh không chịu tuân theo lệnh của Nguyễn Huệ gọi về Phú xuân mà chỉ lo củng cố thế lực riêng cho mình. Sẵn cớ vua Chiêu Thống bỏ chạy khỏi kinh thành nên Nhậm nghe lời một Lê thần, đặt Sùng nhượng công Lê Duy Cẩn lên làm Giám quốc. Ngô Văn Sở vốn được Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ sai kềm cặp dò xét Nhậm, thấy Nhậm muốn noi gương Nguyễn Hữu Chỉnh nên mật báo về Phú Xuân.

Ðược tin này, Nguyễn Huệ bèn tức tốc kéo quân ra Bắc. Ðại binh Bắc Bình Vương có cả Ngọc Hân Công chúa cùng hộ giá tiến vào Thăng Long đầy uy thế khiến Vũ Văn Nhậm không dám chống cự. Nguyễn Huệ đến thẳng dinh của Nhậm tuyên đọc bản án rồi sai võ sĩ bắt Nhậm, sau đó Nhậm bị trói phơi nắng ngoài pháp trường một ngày cho công chúng xem rồi mới bị xử trảm. Sau khi xử xong Vũ Văn Nhậm, Nguyễn Huệ thấy lòng người Bắc Hà vẫn còn hướng về nhà Lê nên giao việc trấn giữ các trấn cho các tướng Tây Sơn còn về hành chánh thì giao cho Ngô Văn Sở và một số cựu thần nhà Lê ra quy phục trông coi rồi lại lui về Phú Xuân.

Về phần Lê Chiêu Thống sau khi bỏ trốn khỏi Thăng Long, lên nương náu tại đất Lạng Giang liền cử người sang cầu cứu nhà Thanh. Vua Càn Long lâu nay thấy tình hình nước Việt rối ren đã dòm ngó sẵn nay sẵn cớ vua Lê cầu viện bèn sai Tổng đốc Lưỡng Quảng là Tôn Sĩ Nghị đem 200.000 quân thuộc bốn tỉnh Quảng Ðông, Quảng Tây, Qúy Châu và Vân Nam từ ba mặt Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn tràn xuống Thăng Long. Ngô Văn Sở và các tướng Tây Sơn thấy giặc đang mạnh, liệu thế chống không nổi nên đã theo lời bàn của Ngô Thì Nhậm lui về giữ Tam Ðiệp để bảo toàn lực lượng rồi cấp báo về Phú Xuân. Một lần nữa Nguyễn Huệ lại đem quân ra Bắc dẹp giặc.

Nếu Nguyễn Huệ lâu nay còn do dự chưa dám trực tiếp nắm lấy đất Bắc là vì thấy đám Nho thần ở Bắc Hà vẫn mang nặng lòng với nhà Lê, nhưng nay vua Lê lại đi rước quân Thanh sang, rồi lại chỉ lo trả thù những kẻ theo Tây Sơn và chầu chực qụy lụy trước trướng giặc, bất lực trước cảnh dân chúng bị giặc ức hiếp, nên Nguyễn Huệ đã có được chính nghĩa: cứu dân giành lại giang sơn. Do đó mà để chính danh, Nguyễn Huệ bèn làm lễ tế cáo Trời Ðất rồi lên ngôi Hoàng Ðế, đặt hiệu là Quang Trung, thống lĩnh thủy bộ đại binh Bắc phạt.

Ra đến Tam Ðiệp, vua Quang Trung trấn an Ngô Văn sở và Ngô thì Nhiệm, phủ dụ các tướng tá rồi cho quân ăn Tết trước và hẹn sẽ ăn Tết Khai hạ ở Thăng Long. Ngày 30 tháng Chạp, Vua Quang Trung kiểm điểm binh mã gồm một trăm ngàn quân và 300 thớt voi, phân binh thành năm đạo: giao cho Ngô Văn Sở chỉ huy Tiền quân, Hô hổ hầu lãnh Hậu quân, Ðô đốc Lộc và Ðô đốc Tuyết chỉ huy Hữu quân và thủy quân, Ðô đốc Bảo và Ðô đốc Mưu chỉ huy tả quân và tượng quân, còn tự mình điều khiển Trung quân trực chỉ Thăng Long.

Ðêm Mùng Ba Tết Kỷ Dậu vua Quang Trung dùng kế hư binh, không đánh mà hạ được đồn Hà Hồi. Sáng Mùng Năm Tết, quân Tây Sơn đánh chiếm đồn Ngọc Hồi. Ðề đốc Hứa Thế Hanh của nhà Thanh tử trận. Cùng lúc đó tại Khương Thượng, quân Tây sơn đồng loạt tấn công. Tướng Thanh là Sầm Nghi Ðống phải thắt cổ tự tử tại gò Ðống Ða. Ðại quân Tây Sơn tiến vào Thăng Long. Tôn Sĩ Nghị hoảng sợ chạy về mạn Bắc, đến địa phận huyện Phượng Nhãn phải vứt bỏ ấn tín để thoát lấy thân. Quan quân nhà Thanh tranh nhau qua cầu phao. Cầu sập, chết hại vô số.Vua Lê Chiêu Thống cũng theo gót Tôn Sĩ Nghị chạy sang Tàu. Chỉ trong vòng 5 ngày, vua Quang Trung đã tiêu diệt và quét sạch quân xâm lược nhà Thanh ra khỏi bờ cõi. Thật là một chiến công vĩ đại nhất, hiển hách nhất trong lịch sử của dân tộc. Ngày mùng Bảy Tết, đúng như lời đã hứa, vua Quang Trung truyền mở đại tiệc khao quân ăn Tết Khai hạ ở Thăng Long.

Sau khi đuổi quân Thanh ra khỏi bờ cõi nước nhà, vua Quang Trung bèn một mặt tỏ vẻ nhún nhường và nhờ tài ngoại giao của Ngô Thời Nhiệm vận động cầu hoà với vua Thanh để nối lại bang giao giữa nước ta và Trung Hoa, mặt khác lo cải tổ nội chính, thu dụng nhân tài và phát triển tiềm năng để mưu đồ việc lớn. Vua Càn Long thấy việc chiến tranh không lợi nên cũng nghe lời tấu của quần thần mà thuận cho hoà và phong cho Nguyễn Huệ làm An Nam Quốc Vương, lại còn thuận cho bãi bỏ lệ triều cống người bằng vàng đã có từ thời nhà Lê.

Khi những con người áo vải đất Tây Sơn vì cái tinh thần hào hiệp nổi lên làm lịch sử lập nên nhà Tây Sơn, tưởng rằng lịch sử sẽ mở ra một vận mệnh mới, nhưng lịch sử vẫn cứ là cái vòng luẩn quẩn. Hai trăm năm phân tranh đã làm cho lòng người dân Việt ly tán và với cái đầu óc sứ quân đã từng có từ thủa nhà Ðinh mới giành lại quyền tự chủ sau thời Bắc thuộc khiến cho cái tinh thần lãnh chúa vẫn ngự trị trong tâm khảm những kẻ muốn làm anh hùng.

Nếu khi mới khởi nghĩa, tinh thần nghĩa hiệp làm nô nức lòng người thì sau khi đuổi Nguyễn và diệt Trịnh, nhà Tây Sơn cũng lại rơi vào cái vòng luẩn quẩn của quyền bính và quyền lợi. Nguyễn Hữu Chỉnh bỏ Trịnh theo phò nhà Tây Sơn chỉ vì muốn mượn tay nhà Tây Sơn để trả thù cho mình, rồi vì cơ hội lại muốn lên làm lãnh chúa nên bị Nguyễn Huệ sai Vũ Văn Nhậm giết. Vũ Văn Nhậm được trấn thủ Bắc hà cũng manh tâm làm lãnh chúa nên Nguyễn Huệ cũng phải xuống tay. Nguyễn Huệ cũng đã từng đem quân vây thành Qui Nhơn chỉ vì Nguyễn Nhạc muốn kềm chân Huệ khiến cho Nguyễn Nhạc cũng đã phải lên đứng trên thành mà khóc kể tình nghĩa anh em với Nguyễn Huệ để giảng hoà.

Trong ba anh em nhà Tây Sơn thì Nguyễn Lữ có lẽ cũng an phận với phần đất Gia Ðịnh được anh phong cho nhưng lại không đủ tài tạo dựng nó thành một cơ sở vững chắc cho mình nên lại mất về tay Nguyễn Ánh. Một Nguyễn Nhạc chỉ có đầu óc của một lãnh chúa, thỏa mãn với những vật chất thừa hưởng của vua chúa Chiêm thành và những của cải khuân được từ những chuyến ra Bắc hà với danh nghĩa phò Lê diệt Trịnh nên cũng không dám nuôi tham vọng nào hơn là trông cậy vào sự trấn thủ vùng biên cương được giao cho hai em và cầu an với mảnh giang sơn nhỏ bé của mình. Chỉ có Nguyễn Huệ có tài và có mộng lớn nhưng lại ở vào thế kẹt còn vướng ông anh chỉ muốn làm lãnh chúa và lòng người còn rối rắm vì cái lẽ tôn phò chính nghĩa của nền luân lý Nho gia.

Nhà Tây Sơn dù có chấm dứt cuộc Trịnh Nguyễn phân tranh nhưng vì tính chất chia để trị nên vẫn không thực sự thống nhất được tổ quốc. Thêm vào đó mộng lớn chưa thành thì vua Quang Trung lại đột ngột mất sớm. Thái tử Quang Toản lên nối ngôi mới có 12 tuổi, quyền hành bị Thái sư Bùi Khắc Tuyên thao túng khiến cho nội bộ Tây Sơn bị phân hóa chém giết lẫn nhau mà suy yếu đi, do đó mà Nguyễn Ánh mới khôi phục lại được cơ nghiệp của nhà Nguyễn.

Cái đầu óc trung quân và tôn thờ chính thống theo Nho giáo Trung Hoa của đám sĩ phu Việt Nam đã làm cho một anh hùng Nguyễn Huệ dù đánh Nam dẹp Bắc chưa hề một lần thất bại, đã từng đánh tan quân Xiêm và quân Thanh cứu nước nhà khỏi rơi vào ách nô lệ ngoại bang, vẫn không tranh thủ được trọn vẹn nhân tâm. Một vài sĩ phu Bắc hà ra giúp Nguyễn Huệ như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Chú… vẫn không tránh khỏi những dèm pha chỉ trích và khi nhà Tây Sơn đổ thì cũng đành phải vạ lây. Ðiều này không phải chỉ có đối với đám sĩ phu Bắc Hà hay sĩ phu Gia Ðịnh mà ngay tại quê hương của nhà Tây Sơn vẫn có những người không thuần phục vị anh hùng áo vải. Bên cạnh bao nhiêu võ tướng tài danh theo phò nhà Tây sơn thì cũng có những nho sĩ danh tướng vẫn trung thành với chúa Nguyễn như Châu Văn Tiếp, Ngô Tùng Châu, Ðặng Trần Thường v.v… chỉ vì đất Qui Nhơn được coi như là đất của chúa Nguyễn. Chính vì thế mà Nguyễn Ánh vẫn tồn tại.

Sau khi Nguyễn Ánh cầu viện Xiêm không thành bèn xoay ra nhờ sự giúp đỡ của người Pháp nên lấy lại được đất Gia định. Nguyễn Lữ thua chạy rồi chết. Nguyễn Nhạc già nua và vua Quang Trung lại mất sớm, thái tử còn nhỏ không đủ tài nối nghiệp vua cha cho nên Nguyễn Ánh lại sai quân ra đánh Qui Nhơn. Vua Thái Ðức chống không nổi, phải cầu viện quân Phú xuân của vua Cảnh Thịnh giải cứu. Quân Phú Xuân vào thành Qui nhơn, chiếm giữ thành trì và tịch biên tất cả kho tàng. Vua Thái Ðức thấy vậy, tức giận thổ huyết mà thác. Cảnh Thịnh bèn phong cho con vua Thái Ðức là Nguyễn Bảo làm Hiến công, ăn lộc một huyện, gọi là Tiểu Triều và Qui Nhơn cũng không còn là kinh đô nữa.

Vào lúc nhà Tây Sơn có cơ hội để thống nhất giang sơn gom quyền hành về một mối thì vua Quang Trung lại không còn, vua Cảnh Thịnh không đủ tài đức để nối nghiệp vua cha, khí thế nhà Tây Sơn mỗi ngày một tan rã, nhân dân địa phương bị khốn khổ vì giặc giã và nạn tham quan ô lại. Chính vì thế mà chỉ vài năm sau Nguyễn Ánh đã chiếm được thành Qui nhơn. Nguyễn Ánh đem quân vào thành, phủ dụ dân chúng rồi đổi tên Qui nhơn ra Bình định. Sự đổi tên này hẳn nhiên là mang một ý nghĩa rõ rệt. Trong hơn hai chục năm qua thành này đã bị quân loạn tặc Tây Sơn chiếm cứ và nay chúa Nguyễn đã “bình định” được.

Qua năm sau, vua Cảnh Thịnh sai Trần Quang Diệu và Võ văn Dũng cử đại binh vào đánh Qui Nhơn, khí thế rất mạnh, quân Võ Tánh phải rút vào thành cố thủ. Nguyễn Ánh nghe tin thành Bình Ðịnh bị Tây Sơn vây khốn bèn thống suất đại binh ra cứu viện, nhưng không giải cứu nổi, bèn nghe theo lời Võ Tánh và Ngô Tùng Châu bỏ việc giải vây mà kéo ra đánh lấy Phú xuân. Quân tinh nhuệ của Tây Sơn dồn vào Qui nhơn nên Phú xuân không còn lực lượng chống giữ. Vua Cảnh Thịnh và triều thần phải bỏ chạy ra Bắc.

Trần Quang Diệu và Võ văn Dũng nghe tin Phú xuân thất thủ, liền sai tướng đem quân ra cứu. Quân ra tới Quảng nam thì bị quân nhà Nguyễn chận đường phải trở lui. Trần Quang Diệu nổi giận đốc quân ráo riết đánh thành. Võ Tánh liệu không còn có thể giữ được thành Bình Ðịnh nữa, bèn viết thư sai người đưa ra cho Trần Quang Diệu, yêu cầu đừng giết hại sĩ tốt khi chiếm thành, đoạn sai chất củi khô, đổ thuốc súng vào, tự đốt mà chết. Ngô Tùng Châu uống thuốc độc chết theo. Trần Quang Diệu vào thành, tha cho toàn thể tướng sĩ nhà Nguyễn và cho mai táng họ Võ, họ Ngô theo lễ. Nhưng nhà Tây Sơn kể từ khi vua Quang Trung mất thì cái hùng khí không còn cho nên đã mất Phú Xuân rồi thì cũng chẳng mấy chốc mất luôn tất cả.

Sự thống nhất giang sơn của Nguyễn Ánh không hẳn là do tài năng của Nguyễn Ánh hay lòng người dân Việt đều quy về với họ Nguyễn mà phần lớn là do cái thế của lịch sử và sự thừa hưởng công lao của nhà Tây Sơn. Nếu không có Tây Sơn dứt Trịnh, Nguyễn Huệ đánh tan quân Xiêm, đuổi sạch quân Thanh và vua Lê phải bỏ chạy sang Tàu thì Nguyễn Ánh cũng khó gom được trọn giang sơn về tay mình.

Nhà Tây sơn là một Triều đại thật ngắn ngủi tuy nhiên cũng là một triều đại có nhiều nghịch lý nhất trong một quốc gia vốn đầy nghịch lý. Có thể nói triều đại Tây Sơn là một triều đại của chinh chiến. Suốt hai mươi lăm năm lúc nào cũng phải chiến đấu với kẻ thù và máu người dân lành phải đổ để giữ nước hay tạo ra chiến công không phải là ít. Khi chúng ta đọc sử chúng ta chỉ nghe nói quân ta tiêu diệt mấy vạn quân Xiêm hay mấy chục vạn quân Thanh nên chúng ta chỉ nghĩ đến cái hào quang của chiến thắng mà quên đi bao nhiêu tử sĩ đã nằm xuống trong âm thầm để làm nên trang sử vẻ vang này. Và trong cái cảnh nhiễu nhương tranh chấp giữa phe này phe kia đã có bao nhiêu sinh mạng phải hy sinh một cách phi lý chỉ vì chút quyền lợi riêng tư của vài kẻ tranh quyền thống trị. Ngoài ra còn biết bao hy sinh đau khổ và thương vong trong dân chúng, bao nhiêu là tài nguyên và công trình mà con người đổ mồ hôi nước mắt để xây dựng bị hủy hoại.

Triều đại Tây Sơn đã làm vẻ vang dân Việt nhưng quân tướng nhà Tây Sơn qua hai mươi lăm năm chiến đấu tàn sát sinh linh hẳn là không ít. Tuy nhiên nếu nhìn lại đôi khi những người từng bị coi là thảo khấu thổ hào đôi khi vẫn tỏ ra có một chút nhân. Một Trần Quang Diệu tha cho quan quân nhà Nguyễn và tống táng theo lễ Võ Tánh và Ngô Tùng Châu đã nói lên được cái đức nhân trong khi Nguyễn Ánh nhân danh chính nghĩa và đạo lý thì lại đã tỏ ra có những hành động vô cùng dã man tàn ác không những khi xử tội vua tôi nhà Tây Sơn mà ngay cả với những kẻ đã có công phò tá mình.

Có thể nói cái bản chất thù hận của con người Việt nam được thể hiện rõ nét nhất giữa triều đại Tây Sơn với triều Nguyễn gia miêu. Chính vì tư thù mà quên đi nghĩa cả nên vua Quang Trung vốn là một vị vua đã từng làm khiếp đảm quân Xiêm và quân Thanh, từng là phò mã nhà Lê, từng được vua nhà Thanh trọng nể cũng như từng có mộng lấy công chúa Trung hoa và mở mang bờ cõi ngược lên phương Bắc đòi lại đất bên Tàu thì cũng là một vị vua nằm xuống vẫn không yên và theo truyền thuyết thì hài cốt còn bị khai quật, đầu lâu bị xích xiềng giam vào ngục tối, chỉ vì do cái lòng thù hận của Nguyễn Ánh.

Sau khi thống nhất lãnh thổ, Nguyễn Ánh lên ngôi cửu ngũ, lấy niên hiệu là Gia Long, chỉnh đốn mọi việc trong nước. Với cái niềm tin tự cho mình là chính nghĩa thì khi nắm được quyền hành trong tay việc trước tiên là muốn phá bỏ và xoá sạch những gì được coi là của kẻ nghịch tặc. Ðể cai trị địa hạt Ðồ Bàn cũ, nhà vua đổi phủ Qui Nhơn thành Bình Ðịnh dinh, sau đó đổi dinh làm Trấn, lỵ sở đóng tại thành Bình Ðịnh tức là thành Qui Nhơn cũ. Ðến đời vua Minh Mạng lại học đòi theo lối nhà Thanh bên Tàu, đổi Trấn làm Tỉnh. Bình định trấn đổi thành Bình định tỉnh từ đó.

Từ đời nhà Lê đến đời nhà Tây Sơn, lỵ sở hành chánh tối cao của địa phương đều đóng tại thành Ðồ Bàn cũ nhưng tới thời Gia Long, vì muốn xoá bỏ những gì được coi là di tích của Tây sơn nên nhà vua đã ra lệnh triệt hạ thành Ðồ Bàn rồi lấy vật liệu đem xây thành mới cách thành cũ khoảng 10 km về phía nam. Tuy thành mới nhưng vẫn giữ tên là thành Bình định. Thành Ðồ Bàn từ khi vào tay người Việt, trải qua bao triều đại với mấy lần đổi tên chỉ còn trơ lại một dãy gò sỏi với ngọn tháp Cánh Tiên và lầu Bát giác cùng di tích vài bờ đất sụp lở…

Khi Tây Sơn khởi nghiệp, người dân ở vùng đất này đã theo Tây Sơn làm lịch sử. Nhưng nhà Nguyễn đã khôi phục được cơ nghiệp cũ nên nhà Tây Sơn phải chịu kết án là ngụy triều.

Người dân ở vùng này do đó mà cũng bị coi như là một thứ ngụy dân vì sống trên quê hương của Tây Sơn hoặc đã đi theo Tây Sơn. Ðối với triều Nguyễn, đất Tây Sơn là nơi phát sinh ra những tên loạn tặc và là kẻ thù không đội trời chung của dòng họ chúa Nguyễn, cho nên khi diệt được nhà Tây Sơn, vua Gia long đã dùng hai tiếng Bình Ðịnh để gọi vùng đất Qui nhơn, và “bình định” hàm ý vùng đất này là vùng đất phản loạn mà nay triều đình đã dẹp yên được. Với bản án ngụy dân, người dân xứ này dù muốn dù không cũng thấy mình bị phân biệt, do đó mà lúc nào cũng phải lo lắng, sợ sệt và chỉ còn ao ước được sống yên thân bình thường như mọi người dân khác. Có lẽ vì thế mà ngôn từ Bình định có chữ “thàng” và ca dao Bình định cũng có câu “Bình Ðịnh hay lo”. “Thàng” có thể là âm đọc trại của chữ “thường”. Suốt một trăm năm mươi năm dưới triều nhà Nguyễn, người dân Bình Ðịnh phải chịu sự chế tài này của nhà Nguyễn nên lúc nào cũng lo và lúc nào cũng có một chút mặc cảm.

Vua Gia Long không những chỉ đối xử tàn ác với quân dân nhà Tây Sơn, mà ngay đối với các công thần đã giúp mình làm nên sự nghiệp cũng bị nhà vua sát hại vì cho là mưu phản và có người đã chết còn bị buộc tội, mồ mả bị xiềng như trường hợp Lê Văn Duyệt. Ðiều này khiến cho nội bộ vẫn tranh chấp, giặc giã vẫn nổi lên cho nên đất nước vẫn cứ là rối loạn.

Trong suốt quá trình lịch sử, biết bao lần những con người tự cho mình là chính nghĩa thì đã hành xử chẳng chính nghĩa tí nào cả. Chính vì quyền lợi tư riêng mà Chiêu Thống cầu viện Thanh, Nguyễn Ánh hết cầu viện Xiêm thì lại quay ra tìm sự giúp đỡ của người Pháp. Ðiều này đã mở đường cho Pháp dòm ngó Việt nam. Mặc dù đã bắt đầu tiếp xúc với văn minh Tây phương nhưng với cái đầu óc cổ hủ ảnh hưởng ngàn đời phong kiến của Trung hoa nên vua quan nhà Nguyễn vẫn khư khư với những quan niệm lỗi thời để mà bảo vệ cái ngôi của mình chứ không biết canh tân đất nước theo trào lưu tiến bộ của thời đại cho nên thống nhất chưa đầy một thế kỷ, Việt nam lại bị Pháp xâm lược và bị chia ra làm ba kỳ để trị. Người dân Việt lại phải rơi vào cảnh lầm than và phải nhìn nhau xa lạ.

Khi vua quan nhà Nguyễn nhu nhược đành chấp nhận nền đô hộ của Pháp thì tại nhiều nơi cũng có những sĩ phu theo hịch Cần Vương của vua Hàm Nghi chiêu mộ nghĩa quân chống lại sự xâm lăng của người Pháp. Người dân Bình Ðịnh với truyền thống chống ngoại xâm đã hăng hái gia nhập nghĩa quân của Mai Xuân Thưởng và Tăng Bạt Hổ tham gia kháng chiến chống ngoại thù. Dù cuộc kháng chiến không thành công và Mai Xuân Thưởng bị tử hình, nhưng điều đáng nói là Mai Xuân Thưởng không chết vì bị Pháp giết mà bằng mưu mô tàn nhẫn của một ông quan nhà Nguyễn muốn vinh thân phì gia và bản án phản tặc của Triều đình Huế.

Khi người Pháp diệt được nhóm Cần vương của Mai Xuân Thưởng đã lấy dải đất chạy dài ra cửa bể Thị nại nơi Pháp đã đổ bộ và dùng làm căn cứ quân sự trong thời gian chống cự với nghĩa binh Cần vương để thiết lập một lỵ sở mới cho chính quyền bảo hộ tại địa phương thì cái tên Qui nhơn cơ hồ mai một lại được người Pháp đem ra đặt tên cho thành phố này. Non nửa thế kỷ sau, cơ quan Tỉnh của Nam triều từ thành Bình định mới cũng dời về thành phố Qui nhơn, thành Bình định được giao cho phủ An nhơn làm lỵ sở. Ðối với người Pháp chắc không có sự cân nhắc ý nghĩa của từ dùng làm địa danh cho một địa phương mà có lẽ chỉ là lấy lại một cái tên cũ. Tuy nhiên đối với lịch sử thì sự đặt tên này có thể xem như một sự phục hồi cho một cái tên đã bị xóa bỏ.

Cuộc khởi nghĩa mùa thu 1945 lật đổ chiếc ngai vàng của nhà Nguyễn đã khôi phục lại cái hào khí của nhà Tây sơn. Nhưng người dân Việt qua một ngàn năm Bắc thuộc và một ngàn năm tự chủ nhưng vẫn lệ thuộc vào nền văn hóa Trung Hoa thì dù muốn dù không vẫn không thoát ly được cái đầu óc phong kiến chỉ thích mộng bá đồ vương hoặc là tôn phò minh chúa, khiến cho người Việt Nam dù miệng có hô hào cách mạng nhưng đầu óc thì vẫn rặc những ý tưởng cổ hủ để khoác cho mình cái tiếng chính nghĩa và gán cho kẻ khác là giặc để tiếp tục tàn sát nhau. Với chiêu bài “kháng chiến chống Pháp giành Ðộc lập”, người Cộng sản Việt nam đã nhân danh “vì an ninh Tổ quốc” để giết hại không biết bao nhiêu là đồng bào anh em của mình chỉ vì họ không đồng một quan điểm. Sau chín năm bắt người dân hy sinh và chịu đựng không biết bao gian khổ nhưng độc lập vẫn chỉ là một cái gì rất mù mờ, đất nước lại bị qua phân theo ý đồ của ngoại bang và người cùng một nước lại bắt đầu chụp cho nhau những cái nhãn hiệu này hay nhãn hiệu nọ để tiếp tục chém giết nhau không xa xót, rốt cuộc vẫn cứ là “gà nhà bôi mặt đá nhau” và rơi vào cảnh “trai cò tranh nhau, ngư ông đắc lợi”.

Tại miền đất Bình Ðịnh, sau cuộc khởi nghĩa 1945, nguời dân cũng đã mấy lần chứng kiến mảnh đất này sang tay cũng như đã lãnh nhận không biết bao là tang thương của chiến tranh. Chín năm kháng chiến chống Pháp người Bình Ðịnh đã tuân hành lệnh tiêu thổ kháng chiến của Việt minh san bằng thành phố Qui Nhơn và triệt hạ thành Bình định. Dù bị phá hoại san bằng, cái tên Qui Nhơn vẫn còn đó và thành Bình định vẫn còn là một địa danh được nhắc nhở.

Hiệp định Genève buộc người Cộng sản ra đi tập kết để cho người Quốc gia tiếp quản. Người Quốc gia đã xây dựng lại thành phố Qui Nhơn và cũng đã hỗ trợ cho nhân dân chung sức góp công góp của xây cất điện thờ Tây Sơn để khôi phục lại hào quang của một triều đại đã bị nhà Nguyễn bôi xóa dấu tích và một thế kỷ rưỡi người dân địa phương chỉ dám tưởng nhớ trong âm thầm. Người anh hùng chống Pháp thủa Cần vương cũng được dân chúng xây lăng tưởng niệm.

Người Quốc gia dù có cố gắng biện minh cho cái chính nghĩa của mình, nhưng với một nền độc lập chỉ có nửa giang sơn thừa hưởng từ sự ra đi của người Pháp với sự giúp đỡ của người Mỹ mà lại phải nhận cái di sản của chế độ thực dân thì chính nghĩa vẫn là một cái gì rất mập mờ. Do đó mà lòng người vẫn phân hóa và người Cộng sản với chiêu bài “giải phóng” vẫn tiếp tục huy động được những con người còn mê say với những quan niệm yêu nước thương nòi cổ hủ và hẹp hòi để phục vụ cho những mưu đồ xích hóa dân tộc của họ. Chiến tranh lại tiếp tục và riêng tại vùng đất của những người anh hùng đất Tây Sơn xưa, những du kích Cộng sản đã lợi dụng địa thế núi non thâm u của những nơi tôn kính này để núp bắn người Quốc gia.

Sau hai thập niên tương tàn, người Cộng sản cũng do thời cơ lịch sử mà chiếm trọn được miền Nam thống nhất đất nước. Chính quyền Miền Nam bị gọi là ngụy quyền và quân đội Miền Nam bị gọi là ngụy quân. Lại bắt bớ, giết chóc, tù đày, hành hạ để trả thù vì cái tội làm việc, đi lính cho kẻ không có chính nghĩa chỉ vì thua trận. Người dân Bình Ðịnh trong chín năm kháng chiến bị coi là Việt minh rồi qua hai mươi mốt năm sống dưới chế độ quốc gia nửa bên này, nửa bên kia để chém giết nhau, trả thù nhau, bây giờ trở lại với chế độ Cộng sản bỗng trở thành ngụy dân một lần nữa.

Người Cộng sản huyênh hoang với chính nghĩa và sự thành công của cuộc chiến tranh giải phóng để khai thác và bóc lột người dân, và dành đặc quyền đặc lợi cho một nhóm người được ưu đãi, trong khi người dân Bình Ðịnh cũng như những người dân miền Nam khác âm thầm tìm cách bỏ nước ra đi. Phải chăng họ là những kẻ phản bội Tổ quốc? Chính người Cộng sản đã trả lời thay cho họ. Qua bao nhiêu thất bại và đổ vỡ về kinh tế, người Cộng sản chợt nhìn thấy những kẻ mình xua đuổi ruồng bỏ trở nên khấm khá nơi quê người vẫn không nỡ dứt bỏ chút tình nghĩa ở quê nhà nên vẫn gửi tiền về giúp đỡ những người thân xấu số. Người Cộng sản được món bổng ngon nay quay lại gọi họ bằng “khúc ruột ngàn dặm”.

Từ khi người dân Việt vào đây xây dựng vùng đất này, biết bao mồ hôi nước mắt cùng xương máu đã đổ ra. Thành Ðồ bàn của Chiêm thành đã được Nguyễn Nhạc sửa sang thành kinh đô của mình rồi lại bị vua nhà Nguyễn cho phá hủy để xây thành Bình Ðịnh nhưng rồi cũng bị tàn phá bằng chính bàn tay người Việt, và đến nay thì không còn di tích. Người Pháp khi đặt cơ sở cho sự đô hộ vùng đất này đã xây dựng một thành phố bên cửa biển Thị Nại và gọi là Qui nhơn nhưng cũng chỉ nửa thế kỷ sau đã lại trở thành bình địa vì chính sách tiêu thổ kháng chiến của người Việt Nam theo Cộng sản. Qua bao nhiêu hưng phế của lịch sử, quá khứ còn lại có lẽ vẫn là mấy ngôi tháp Chàm như một niềm nhắc nhở một nỗi oán hờn nào đó.

Người di dân Việt từ miền ngoài vào vùng đất Ðồ Bàn đã xây dựng quê hương mình trên những chứng tích điêu tàn của một vương quốc bị diệt vong. Có một điều là cái nỗi buồn bị diệt vong này lại được nhiều người Việt đa cảm ta thán thay cho họ. Những bản nhạc như Tiếng Dân Chàm, Hận Ðồ Bàn là của người Việt làm ra và người Việt hát, cũng như những vần thơ than khóc nước non Chàm cũng lại là của những nhà thơ Việt. Không ai trong chúng ta xa lạ với nhà thơ Chế Lan Viên và tập thơ Ðiêu Tàn của ông ta. Những vần thơ ai oán như:

… Ðây, những tháp gầy mòn vì mong đợi
Những đền xưa đổ nát dưới thời gian
Những sông vắng lê mình trong bóng tối
Những tượng Chàm lở lói rỉ rên than
Ðây, những cảnh ngàn sâu cây lả ngọn
Muôn ma Hời sờ soạng dắt nhau đi
Những rừng thẳm bóng chiều lan hỗn độn
Lừng hương đưa, rộn rã tiếng từ qui!
Ðây, chiến địa nơi đôi bên giao trận
Muôn cô hồn tử sĩ hét gầm vang
Máu Chàm cuộn tháng ngày niềm oán hận
Xương Chàm luôn rào rạt nỗi căm hờn…
(Trích bài Trên Ðường Về trong tập thơ Ðiêu Tàn)

Khi nghe những lời thơ than vãn ai oán này, và nghe cái tên tác giả là họ Chế, chúng ta tưởng chừng như đấy là một kẻ thuộc dòng dõi của Chế Bồng Nga đang khóc cho dòng họ mình và dân tộc mình, nhưng sự thật thì đó lại là một người dân Việt chính tông, sống trên vùng đất của người Chiêm Thành cũ, nhìn những di tích đổ nát và một quá khứ vàng son đã đi qua mà than vãn cho một dân tộc bị chính dân tộc mình tiêu diệt. Nhưng có lẽ từ trong tiềm thức, những vần thơ thương cảm cho dân tộc Chàm này cũng đã phát xuất từ sự thương cảm cho thân phận của chính dân tộc mình, kẻ chiến thắng trên những đổ nát để rồi cũng đang đổ nát bằng bàn tay của mình vì những tranh chấp quyền lợi riêng tư.

Thời khởi nghĩa 1945 Tỉnh Bình định có lần đã được đổi thành tỉnh Tăng Bạt Hổ, tên một lãnh tụ Cần Vương chống Pháp của tỉnh nhà nhưng tên này chưa được ghi vào sử đã trở về với cái tên Bình định. Sau cuộc chiến tranh trường kỳ Quốc Cộng, người Cộng sản sau khi chiếm được Miền Nam cũng cho cải tổ nền hành chánh và tỉnh Bình định đã được sát nhập với tỉnh Quảng ngãi để thành tỉnh Nghĩa Bình. Cái tên Bình Ðịnh tưởng chừng phen này đi vào dĩ vãng nhưng cái tinh thần địa phương và quyền lợi của phe nhóm đã khiến cho sự kết hợp này cũng không được dài lâu để cuối cùng lại tách đôi trở lại: Bình Ðịnh trở về với Bình định và Quảng ngãi trở về với Quảng ngãi. Trong lòng người cùng một nguồn gốc với nhau vẫn chưa bao giờ chấm dứt ganh tị, chia rẽ, tị hiềm.

Cùng là con Rồng cháu Tiên nhưng vì tranh sống, vì quyền lợi, người ta đã không ngừng bôi mặt đá nhau và nhân danh những ý niệm mơ hồ nào đó để rồi tự cho mình là “chính” hay gọi kẻ khác là “ngụy” để mà hành tội nhau. Và trong cuộc chiến, hễ vùng nào không phải trong tay mình “trị an” tức là vùng “loạn lạc” nên cần phải được “bình định”. Có lẽ may ra thời Hùng Vương mới lập quốc con người chưa xâu xé nhau chứ còn kể từ thời Bắc thuộc, người dân Việt vì muốn được sống còn cũng đã phải học theo những thủ đoạn của người Trung hoa cai trị mình để mà tranh sống. Khi đã giành lại được quyền tự chủ rồi nhưng với một ngàn năm kinh nghiệm đau thương dưới chế độ hà khắc của người Trung hoa, cái tâm thức hận thù của kẻ nô lệ và ý chí muốn làm chủ nhân ông để giành quyền sống đó vẫn tiếp tục ảnh hưởng nếp suy nghĩ của những kẻ muốn vươn mình lên, cho nên khi không có giặc ngoại xâm để chống thì lại chỉ biết tranh giành quyền lợi riêng tư chứ chưa bao giờ thực sự đoàn kết theo nghĩa hợp tác để xây dựng cho dân tộc Việt Nam một cuộc sống phồn vinh hạnh phúc mà chỉ loanh quanh luẩn quẩn với “loạn lạc” và “bình định”.

Chính vì thế mà khi nghĩ về hai tiếng “Bình định”, tôi không phải chỉ là cho đó như là một từ chỉ địa danh, một sự nhắc nhở về một vùng đất nhiều tang thương trong quá trình lịch sử, mà còn xem đó như là một dấu ấn cho nỗi buồn của lịch sử dân tộc.

ĐOÀN VĂN KHANH

VẾT THƯƠNG

authiphucan

ta đến từ đâu vậy
mùa hè đầy nắng
vệt máu cuối đường bay
khô rát

lửa
từ một trưa bật khóc
tàn tro những câu thơ
đốt sạch một quá khứ vàng son

áo mỏng thả hồn nhiên
một núi đồi khép nép
trắng
vai người tựa khóc

chuông gõ bốn mươi năm
dài thê thiết
chuông động
một đời tha hương

về không
về nhé
thu phơi lá
cánh cửa mùa đông sẽ khép

vết thương trở mình
cùng với thời gian
bỏng rát . . .

ÂU THỊ PHỤC AN

BIỂN CẢ

nguyenducbatngan

Lời ca nào buồn trong ngày chủ nhật
Sợi tóc nào buồn trong gió heo may
Nỗi bực dọc nào hằn trên nét mặt
Niềm suy tư nào loang vết thơ ngây

Nghe rất chậm lời kinh cầu buổi sáng
Và rất buồn trong những tiếng mưa bay
Ngồi ở nhà không tìm nhau hò hẹn
Nhìn mắt em mà đau xót từng ngày

Giọt lệ nào làm phai trang nhật ký
Tháng năm nào phai nhạt tiếng yêu em
Dù vạn dặm đường đi dài thế kỷ
Dù đường về là mãi mãi đêm đêm

Gió làm chứng mình hôn nhau ở đó
Và trời mây là trọn cả vòng tay
Buổi hẹn đầu mình tràn đầy bỡ ngỡ
Lần cuối cùng là cả cuộc mê say

Chừ xa nhau mỗi người đi mỗi ngả
Và đường về anh gọi gió hôn em
Rào rạt sóng mây trôi về biển cả
Chuyện chúng mình buồn nhất, phải không em.

NGUYỄN ĐỨC BẠT NGÀN

CƯỠI NGỌN SẤM

cuoingonsam
richardbotkin

Chương 22
“Không chốn dung thân cho một cậu bé Do Thái hiền lành…”

Trong suốt chu kỳ nhiệm vụ tại Việt Nam, Joel Eisenstein đã trải qua hầu hết thời gian tại căn cứ Alpha 2. Anh khá thông thạo địa hình chung quanh vì không biết bao nhiêu lần anh đã từng gọi hải quân và pháo binh yểm trợ hỏa lực ngay chính từ điểm tọa độ mà Dave Bruggeman và bốn TQLC hiện đang cần được giải cứu ngay lập tức. Các phi công trực thăng mà Joel đã thông báo điểm rút thì chưa bao giờ đến nơi đó. Với một chiếc trực thăng Huey được xử dụng như chim sắt để rút quân và hai trực thăng oanh kích Cobra bay yểm trợ, Eisenstein khuyên họ bay thấp từ hướng Nam đến, lợi dụng địa thế dốc từ căn cứ Alpha 2 để tránh tầm mắt quan sát của địch quân lúc họ bay đến.

Các trực thăng Cobra sẽ bay yểm trợ trên cao rồi nã đạn và hỏa tiễn ngay khi họ tới mục tiêu trong khi chiếc Huey thì sẽ đáp xuống gần Bruggeman và các TQLC chừng nào tốt chừng nấy. Hải pháo bắn từ phía Bắc và phía Đông vị trí đóng quân sẽ yểm trợ cho cuộc xâm nhập, cả thời gian ở mặt đất sẽ không lâu hơn vài phút đồng hồ, và sau đó là cuộc rút lui cũng ở cao độ thấp bay hướng về phía Nam đến Đông Hà và Ái Tử.

Eisenstein, cũng như tất cả các cố vấn TQLC đã từng chịu ơn các hành động anh hùng của họ, rất cảm kích các phi công và phi hành đoàn trực thăng đã luôn dấn thân vào những tình huống gần như là vô vọng mà không hề than phiền một câu nào cả. Joel biết là phi hành đoàn chiếc Huey sẽ phải đậu tại bãi đáp một thời gian chưa biết bao lâu dưới những lằn đạn khốc liệt vây hãm cho đến khi nào các TQLC lên được máy bay. Đậu tại bãi đáp giữa lò lửa như vậy chẳng khác nào tự tạo ra một cái mục tiêu lớn và hấp dẫn chỉ chờ bị bắn nổ tung như một con chim đất sét dùng làm bia bắn. Điều này có khả năng làm thay đổi mọi khái niệm về sự tỉnh táo cho một người dù can đảm nhất.

Eisenstein đã hướng dẫn xong các phi công và các nhân vật chủ chốt trên hai chiếc khu trục hạm sẽ bắn yểm trợ để bảo vệ họ. Kế hoạch rất hay nếu như anh thực hiện được đúng như vậy. Vào thời điểm này của trận đánh, dựa vào sự kiện các lực lượng VNCH đã bỏ lại một số thiết bị trọng yếu, họ phải dự trù là bọn Bắc Việt bây giờ có thể nghe lén được các cuộc điện đàm, ngay cả những cuộc điện đàm bảo mật. Chính vì lý do đó nên Eisenstein không báo cho Bruggeman quá nhiều chi tiết mà chỉ nói là hãy sẵn sàng tại chỗ để được bốc đi.

Xế trưa ngày 1 tháng Tư, giữa lúc chiến sự đang khó khăn, Trung tá Gerry Turley phải đổ mồ hôi rà xét lại kế hoạch do Eisenstein soạn thảo và sẽ cầm đầu nhằm giải cứu năm người thuộc toán Chấm Điểm Tọa Độ Hải Pháo tại cứ điểm Alpha 2. Đồng thời ngay lúc đang bận rộn lo toan kế hoạch, Turley lại còn phải bận tâm đến một số vấn đề lớn hơn nữa.

Từ mặt trận, TTHQCT bắt đầu nhận được các mẩu tin tức ngắn, những báo cáo không rõ ràng qua mạng lưới điện đàm chiến thuật là Tướng Giai, ở một nơi nào đó ngoài tiền tuyến tại một đơn vị trực thuộc mà không buồn báo cho ban tham mưu trong hầm biết mình đang ở đâu, đã ra lệnh triệt thoái hết các lực lượng VNCH hiện đang ở phía Bắc sông Cửa Việt. Nếu đúng như vậy thì cả hai Trung đoàn 2 và 57 sẽ phải rút lui – toàn bộ và thật nhanh – ngay lập tức vượt qua sông và tái bố trí lại đâu đó gần Cam Lộ và Đông Hà. Cái ý định này có vẻ đúng về mặt chiến thuật. Nếu tất cả quân ta đều ở phía Nam con sông thì tất cả những gì ở phía Bắc đều là mục tiêu chính đáng bởi vì hầu hết thường dân cũng đã di tản xuống phía Nam, tránh xa sự pháo kích một cách mù quáng và cố ý của quân Bắc Việt.

Trên thực tế của việc tháo lui này mới là phần khó khăn nhất. Việc cố gắng thực hiện một cuộc hành quân như vậy đối với các đơn vị từ trước đến nay đã tỏ ra có ý chí chiến đấu và quyết tâm yếu ớt chỉ như là một giấc mơ. Cuộc rút lui có khả năng mau chóng trở thành một cuộc rút chạy tháo thân mau lẹ và vô phương kiểm soát. Nhưng Tướng Giai không còn cách nào khác. Tuy không vui khi nhận ra điều đó nhưng Turley thấy được sự thực tiễn của quyết định này. Ông cũng nhìn thấy sự nguy kịch đối với hai chiếc cầu chính đủ sức chịu đựng trọng tải lớn, một cái tại Cam Lộ và một cái tại Đông Hà, sẽ trở thành mục tiêu trong kế hoạch của quân Bắc Việt. Cả hai chiếc cầu cần phải nguyên vẹn nếu địch quân muốn vào Quảng Trị và sau đó tràn xuống phía Nam với đủ lực lượng để chiếm giữ, đánh bại, bám trụ và bảo vệ chống lại các cuộc phản công của VNCH.

Cách thức mà các đơn vị QLVNCH chuyển dịch vị trí và bắt đầu rút lui một cách đáng xấu hổ có thể được viết thành một cuốn sách giáo khoa cho đại học chiến tranh học về những thí dụ chuyện gì không nên làm khi giao chiến. Các cỗ trọng pháo đã được bỏ lại tại chỗ mà không được phá hủy vĩnh viễn có thể rơi vào tay kẻ thù sau này dùng để chống lại quân ta. Tệ hại hơn nữa là các máy vô tuyến và danh sách ký hiệu cùng tần số kèm theo, kể cả thiết bị để mã hóa tin đã không được phá hủy. Điều này khiến cho ta phải giả định là quân địch có thể nghe lén được tất cả mọi điện đàm liên lạc.

Tất cả mọi chuyện đang diễn ra quá nhanh. Nhịp sống của Turley và cả nhóm của ông có vẻ như chiếc đĩa hát 33 tour ​​được cho chơi liên tục ở tốc độ 78 tour không ngừng nghỉ. Khi họ cố gắng để phân tích những báo cáo tin tức hiếm hoi nhận được từ các đơn vị khác nhau còn giữ liên lạc được, khi họ thực hiện mọi nỗ lực để giữ tấm bản đồ theo dõi tình hình được sát với thực tế và cung ứng những gì họ có thể lấy từ nguồn tiếp liệu hạn chế, thì điều hiển nhiên là không thể nào chặn cỗ xe khổng lồ của Bắc quân được nữa. Turley thấy là hai chiếc cầu rất trọng yếu và trong hai cái thì cầu Đông Hà rõ ràng là cái quan trọng hơn.

Trong lúc Joel Eisenstein vẫn chưa trở về từ chuyến cứu viện thì tình hình trong hầm trú ẩn đã chuyển biến một cách khác thường đối với Trung tá Turley. Cùng lúc đó thì tất cả các vị trí căn cứ hỏa lực của VNCH đối diện với địch quân đều phải chịu các cuộc tấn công liên tục. TTHQCT và các khu vực phụ thuộc căn cứ Ái Tử cũng bị pháo kích đều đặn, tuy ở một nhịp độ ít hơn, là họ đã phải hứng chịu vào khoảng từ 700 đến 1.000 quả đạn trong vòng 24 tiếng đồng hồ đầu của cuộc tổng công kích. Cho tới nay, bề dày mười bộ của các lớp bao cát và gỗ trên đầu có lẽ không còn vững chãi như 48 tiếng đồng hồ trước đó nữa nhưng nó vẫn còn sức bảo vệ cho mọi người trong hầm. Chiều tối hôm đó, khi Turley chui lên khỏi hầm lần đầu tiên để đi làm vệ sinh, ông bàng hoàng trước mức độ tàn phá và hủy diệt các nơi. Kinh nghiệm từ hồi chiến tranh Triều Tiên hay trong chu kỳ nhiệm vụ Việt Nam trước kia cũng không thể nào sánh nổi với quang cảnh tựa như mặt trăng chung quanh ông.

Chắc hẳn lúc họ đến phải là trước buổi trưa. Bất chợt xuất hiện chẳng biết tự nơi nào. Giữa tiếng chuyện trò ồn ào chói tai tại TTHQCT mà giờ đây đã tạm ổn định lại, có ngăn nắp và sinh hoạt bình thường hơn mặc dù tình thế vẫn còn đang căng thẳng, sáu ông Đại tá quân đội Hoa Kỳ dường như từ trời rơi xuống mà không báo trước cho Turley hay người nào khác đang có mặt được biết.

Thoạt tiên Turley tưởng mình đang nằm mơ hay có ảo giác và sáu người này chỉ là hiện hình ra mà thôi. Họ trông giống y như nhau. Sáu ông Đại tá từ Sài Gòn lên. Không phải là Trung tá đâu nhé, Đại tá lận; Đại tá thực thụ với những con ó lớn trên cổ áo. Họ cắp theo những bảng ghi chép có vẻ như trịnh trọng lắm, mặc những bộ quân phục sạch một cách ghê rợn, đầu đội nón sắt có đeo giây cột cằm khít khao và giày bóng lưỡng. Turley biết là chẳng có gì tốt đẹp sắp xảy ra qua cuộc gặp gỡ này trừ phi ông tỉnh giấc khỏi cơn ác mộng này. Ông không thể nào chịu nổi nữa. Tất cả bọn họ trông rất giống nhau, dường như thể họ được chế tạo ra trong cùng một hãng chuyên sản xuất các đại tá nào đó tại Hồng Kông. Họ cùng chuyển động với nhau như một thân thể vụng về, hay như các chú lính mới ngoài bãi tập vẫn chưa bước đi thật đều.

Người đầu tiên lên tiếng với Gerry hiển nhiên là tay chỉ huy, với tất cả vẻ nghiêm trọng và hết sức trang nghiêm, ông ta nói “Chúng tôi tới đây để biết nhu cầu xây dựng của các anh gồm những gì…” “Đại tá có thể lập lại câu hỏi được không?”

Gerry hoàn toàn bất ngờ. Ông tự nghĩ “Điều này không thể có được. Mấy gã này có bị khùng chăng? Hay chính mình bị điên? Những tay này, nếu thực sự như thế, có đứng đắn hay không đây? Họ không có một chút ý niệm gì về những chuyện đang xảy ra hả?”

Viên đại tá vẫn thao thao bất tuyệt, không bị ảnh hưởng chút nào về đạn pháo kích may rủi nhưng vẫn liên tục dập xuống bên ngoài, “Bây giờ, Đại tá gì-gì-đó muốn biết ông cần loại gỗ ván ép gì, và Đại tá đó muốn biết …” Turley hoàn toàn thất vọng. Trong một lúc ông nghĩ rằng đây có thể là trò đùa tàn nhẫn và Allen Funt sẽ xuất hiện ra nói mọi người hãy cười vui lên vì đó là chương trình “ống kính quay trộm.”

Trong lúc ấy, cuộc chiến và các nhu cầu của nó vẫn tiếp diễn. Ban chỉ huy trong TTHQCT vẫn bận rộn và thực hiện những gì họ thấy cần làm. Sáu viên Đại tá Saigon sắp hàng dài làm choán chỗ cho những người cần xê dịch trong phạm vi hầm trú ẩn.

Gerry đề nghị họ tránh sang một bên. Ông tập họp họ lại một chỗ trống thành hình bán nguyệt và nói: “Thưa quý vị, tôi chỉ là một Trung tá TQLC. Đây là một cuộc hành quân của quân đội. 48 tiếng trước đây tôi không hề nghe nói tới cái Toán 155 này. Quý vị đều thâm niên hơn tôi thành thử tôi muốn biết ai trong số quý vị sẽ thay thế tôi? Người nào trong số quý vị sẽ gánh chuyện này?…”

Tất cả mọi người đứng đó đều cúi xuống các bảng ghi chép trên tay. Đến nước này thì Gerry giận lắm rồi, do đó ông bắt đầu với người mà ông nghĩ là trưởng nhóm, sau đó hỏi từng người một với câu hỏi tương tự. Người đầu tiên trả lời “Ơ, tôi chỉ là sĩ quan tiếp liệu…” Những người khác trả lời giống một kiểu: “Tôi là kỹ sư,” “Tôi đến đây để kiểm tra hệ thống điện…” và cứ thế cho đến người cuối cùng.

Gerry gần muốn nổi điên lên vì giận. Ông bắt đầu lặp lại: “Bốn mươi tám tiếng đồng hồ trước đây tôi chỉ là một thằng du khách khốn nạn lang thang đến đây. Tôi là lính TQLC. Một trong mấy ông tướng của quý vị đã bảo với tôi là ông ta sẽ gởi một vị Đại tá lên đây thay tôi. Một trong quý vị phải thay tôi thôi.”

Sau đó, lấy lại một chút điềm tĩnh, Gerry chỉ tay ra chung quanh TTHQCT và đặc biệt vào hệ thống bản đồ rồi nói tiếp: “Quý vị nhìn vào bản đồ xem. Chúng ta mất gần hết rồi. Đang bị đánh tơi bời. Chúng ta đang tử thủ cầu Đông Hà…” Ông tiếp tục lâu hơn một chút, báo cho sáu ông đại tá phải ra tay. Họ lầm bầm gì đó với Gerry và mỗi người nói cái gì đó đại khái như “Cám ơn rất nhiều” mà đầu vẫn cúi xuống bảng ghi chép. Sau đó lợi dụng lúc Gerry đang bận phải làm một công việc nào đó, họ lẻn dần ra khỏi hầm trú ẩn một cách bí mật giống y như lúc họ xuất hiện. Ngoại trừ những người khác vẫn còn đang bị mắc kẹt lại trong hầm trú ẩn cùng với Turley có thấy sáu ông đại tá Sài Gòn, không có hồ sơ nào ghi chép sự hiện diện của họ cả. Chính Gerry cũng không hề nghĩ tới chuyện hỏi tên tuổi hay xem giấy tờ của họ nữa. Giống như họ chưa bao giờ hiện diện cả. Tuy nhiên cuộc chiến vẫn tiếp diễn và Gerry không nghe ai nhắc đến họ một lần nào nữa.

Sau khi được phép của Trung tá Gerry Turley cho xuất phát, Joel Eisenstein và nhóm phi hành đoàn dũng cảm lên đường. Chuyến bay đến Alpha 2 chắc chắn không tránh khỏi sẽ bị bọn Bắc Việt theo dõi vì chúng biết có người Mỹ bị kẹt tại đó. Quân Bắc Việt có lẽ cũng hy vọng đánh vào tâm lý chung của người Mỹ, do bản tính tự nhiên của họ, là ít nhất cũng phải cố gắng thử một lần để cứu người của họ khỏi bị cầm tù.

Khi ba chiếc trực thăng bay đến gần –chiếc Huey bay thấp ngang tầm ngọn cây trong khi hai chiếc Cobra thì bay cao hơn một chút để bắn yểm trợ –và đúng lúc chiếc Huey sửa soạn đáp xuống nơi Eisenstein đã hướng dẫn, pháo binh Bắc Việt khai hỏa một loạt dữ dội vào phía trước cứ điểm Alpha 2. Chiếc Huey tiếp tục nhào xuống như không có chuyện gì xảy ra. Theo ám hiệu của Eisenstein, hải pháo bắt đầu dập đạn chung quanh các vùng đã xác định tọa độ từ trước và những chiếc Cobra thì tấn công vào những mục tiêu lộ liễu nhất.

Dưới hỏa lực địch phần nào đã ngớt, chiếc Huey đáp xuống khoảng 30 đến 35 thước gần cái hầm mà Eisenstein nghĩ rằng Bruggeman và đám lính TQLC của anh đang núp trong đó. Trước khi càng trực thăng chạm mặt đất thì Eisenstein đã nhảy xuống chạy vội về phía các đồng đội với tay xạ thủ đại liên nối gót sát phía sau. Đến gần căn hầm trú ẩn, họ thấy một người bị thương, hóa ra chính là Dave Bruggeman. Hai người định khiêng anh ra trực thăng để di tản. Eisenstein nhận thấy bạn anh đã bị thương nặng ở đầu. Thân thể Bruggeman mềm nhũn và nặng chịch trên tay họ. Cùng lúc, Eisenstein bắt liên lạc được với Trung sĩ Newton đang điều động mọi người khác bên cạnh hầm. Mọi người chạy tới được chiếc trực thăng đang chờ trong đám lửa đạn chung quanh.

Nóng lòng bay ra khỏi khu vực và phấn khởi vì đã tập hợp đủ các lính TQLC của mình, Eisenstein cho phép một số thương binh VNCH được lên trực thăng. Trong lúc đang đếm lại người của mình, Eisenstein chợt nhận ra chỉ có bốn người. “Hạ sĩ Worth đâu?” anh hét toáng lên với Newton và bắt đầu chạy vội đi tìm Worth trong các hầm trú ẩn gần đó. Trong một khoảnh khắc tưởng chừng như thiên thu, anh chạy quanh, la hét để Hạ sĩ Worth trả lời. Không tìm thấy được anh trong các hầm trú ẩn và chắc chắn rằng các TQLC khác cũng không biết anh ta đang ở đâu, Eisenstein buộc lòng phải quyết định một điều đau lòng nhất mà anh chưa từng làm bao giờ, mặc dù đó là một quyết định đúng. Trong tiếng đạn pháo binh nổ chung quanh và chiếc trực thăng vẫn còn đang nổ máy chực bay đi khỏi cái nghĩa địa chắc chắn này nếu họ còn ở lâu hơn nữa, anh chạy về chiếc máy bay. Rồi sau khi phải đối đầu với một anh lính VNCH chỉ muốn hạ cả bọn bằng súng phóng lựu vì không được theo lên máy bay, cả nhóm bay nhanh ra khỏi vùng.

Nỗi kinh hoàng đến với Joel Eisenstein không thể nào lớn hơn. Hạ sĩ Worth đâu rồi? Câu hỏi này sẽ còn tiếp tục dằn vặt anh. Cùng trong lúc anh vật lộn với nỗi đau và mặc cảm tội lỗi đó, thì một tay anh đỡ tấm thân mềm nhũn nhưng còn thoi thóp của Dave Bruggeman, còn tay kia anh cố hết sức bám lấy sợi dây đai trong chiếc Huey đang điên cuồng nhảy như con choi choi.

Chỉ sau khi họ đáp xuống đất và Dave Bruggeman được một nhân viên y tế tuyên bố là đã chết rồi thì Eisenstein mới hiểu những tình tiết đã cướp đi mạng sống của bạn anh. Ngày hôm trước có một lính TQLC thuộc hạ bị một binh sĩ VNCH ăn cắp mất cái nón sắt. Như mọi vị chỉ huy TQLC được rèn luyện trong quân trường ra, Trung úy Dave Bruggeman ép anh TQLC trẻ phải nhận cái nón sắt của mình. Nhưng trong một đợt pháo kích của quân Bắc Việt, Bruggeman đã bị trúng miểng vào đầu. Nếu anh còn đội chiếc nón sắt thì có lẽ vết thương không đến nỗi trí mạng. Thật ra thì lúc đó cũng chẳng ai biết chắc chắn điều gì sẽ xảy ra. Chỉ có điều hiển nhiên là lòng vị tha và tinh thần chỉ huy của Trung úy Bruggeman đã phải đánh đổi bằng mạng sống của anh.

Khi trở về khu vực hầm trú ẩn, Eisenstein hoàn toàn kiệt lực, về thể xác lẫn tình cảm. Đã làm tất cả những gì anh có thể làm được, bằng những cách hơn hẳn mọi người nghĩ ra chỉ để cứu bạn đồng đội ra khỏi vòng, anh chỉ có được sự an ủi nhỏ là cả nhóm đã làm xong chuyện ấy với giá của sinh mạng Dave Bruggeman bạn anh, và hạ sĩ Worth nay được coi là mất tích trong khi thi hành nhiệm vụ. Lúc gọi về ANGLICO qua hệ thống tần số điện đàm cho đơn vị trưởng ở Đà Nẵng, Joel Eisenstein cố gắng giữ một thái độ chững chạc với ông xếp đã từng biết về anh quá rõ. Anh tuyên bố với một sự suy tư sâu sắc vượt xa lứa tuổi 26 của anh: “Đây không phải là chốn dung thân cho một cậu bé Do Thái hiền lành, dứt…”

Chiều thứ Bẩy ngày 1 tháng Tư 1972
Toán 155 hầm trú ẩn Trung Tâm Hành Quân Chiến Thuật
Ái Tử.

May hay không cũng vậy. Với Trung úy Eisenstein, may hay không may cũng vậy mà thôi. Sau khi anh đã báo cáo xong vụ những người được cứu thoát ra khỏi căn cứ Alpha 2, anh trở lại làm việc trong TTHQCT. Các yêu cầu về hải pháo càng lúc càng nhiều và viên Trung úy trẻ của ANGLICO là người có khả năng nhất để đảm nhận công tác nghiêm trọng này. Anh không còn thời giờ để cảm nhận sự đau lòng hay suy nghĩ về sự mất mát lâu hơn nữa. Ít ra không phải là lúc này. Bọn Bắc Việt đang có kế hoạch khác rồi.

Điều làm buồn lòng Trung tá Turley nhiều nhất là có lính TQLC Hoa Kỳ bị thiệt hại tại căn cứ Alpha 2 nhưng ông cũng thấy nhẹ nhõm là sứ mạng của Eisenstein đã thành công trong một khía cạnh nào đó, tất cả các trực thăng đã trở về an toàn và những người sống sót hiện đã có mặt trong phòng tuyến bạn, ít nhất là cho đến lúc nào Ái Tử còn đứng vững được. Eisenstein đã làm cho Turley rất hài lòng qua lòng dũng cảm chân chính và khả năng chỉ huy giỏi, đồng thời với sự quyết tâm quên mình để cứu các TQLC thuộc hạ.

Trong lúc công tác tiếp viện đang xảy ra tại Alpha 2 và Eisenstein đang cố gắng cứu cái thế giới nhỏ bé của anh thì phần còn lại của ‘vũ trụ’ Vùng I Chiến Thuật phía Bắc có vẻ thảm hại thêm. Đúng lúc Joel Eisenstein và các phi hành đoàn trực thăng liều mạng bốc các TQLC ra khỏi vị trí không còn giữ nổi nữa thì cả căn cứ hỏa lực Alpha 2 bị bắn phá tan tành. Cả ba căn cứ hỏa lực lớn khác phía Nam vùng phi-quân-sự, Alpha 1, Alpha 3 và Alpha 4 đều bị tấn công bởi các lực lượng bộ binh và pháo binh địch đông gấp bội.

Vào khoảng 10:45 giờ thì căn cứ Alpha 4, được các cựu chiến binh Hoa Kỳ của Vùng I Chiến Thuật biết đến dưới cái tên Cồn Thiên đã được Tướng Giai ra lệnh cho di tản. Mặc dù ý định của Tướng Giai là giải tỏa và di chuyển lực lượng xuống phía Nam của sông Cam Lộ – Cửa Việt nhưng dưới áp lực quá nặng nề và sức mạnh của tất cả các sư đoàn Bắc Việt có sự yểm trợ của pháo binh giờ đây đã tung ra toàn bộ, cuộc triệt thoái ra khỏi căn cứ Alpha 4 mà Turley có thể thấy được từ TTHQCT, đã trở thành quân cờ domino đầu tiên khơi mào cho các nơi khác sụp đổ theo.

Vào khoảng giữa trưa ngày 1 tháng Tư thì sự rút lui khỏi căn cứ Alpha 1, 2, 3 và 4 đã trở thành một cuộc tháo chạy hỗn loạn. Tại căn cứ Alpha 2, người ta thấy một tiểu đoàn pháo binh quân lực VNCH đã bỏ lại sáu khẩu đại bác Howitzers 105 ly mà không chịu phá hủy chúng. Về phía Tây, mọi chuyện cũng chẳng khá gì hơn, với sự thất thủ của các căn cứ hỏa lực Fuller và Khe Gió, sau khi đã mất đi hai căn cứ hỏa lực Núi Ba Hồ và Sarge.

Đến xế chiều ngày 1 tháng Tư thì Sư đoàn 3 Bộ Binh VNCH đã bỏ mất tất cả bẩy căn cứ hỏa lực chính nằm tại phía Bắc sông Cam Lộ – Cửa Việt. Trung tá Turley cắt một người trong hầm trú ẩn để soát lại mọi thứ lần cuối cùng mỗi khi một căn cứ hỏa lực bị thất thủ. Trận đánh, được Bắc Việt và thế giới Cộng sản biết đến qua tên Chiến dịch Nguyễn Huệ, nay đã bước qua ngày thứ ba. Trong thời gian này, Trung tá Turley đã nhảy từ chức vụ chính thức là Phụ tá Cố vấn Trưởng TQLC trong một chuyến đi thăm thuộc hạ tại phía Bắc để trở thành sĩ quan hành quân bất đắc dĩ không một chức năng chính thức nào cho Toán 155. Chỉ trong vòng không đầy 48 tiếng đồng hồ, từ một người không một chút trách nhiệm gì về hành quân nay, bây giờ ông đã thành người điều động hỏa lực yểm trợ và hành quân cho cả Sư đoàn 3 Bộ Binh VNCH và hai Lữ đoàn TQLC Việt Nam trực thuộc. Ông đang đánh lại cái lực lượng mà viên sĩ quan tình báo cho biết là gồm ba sư đoàn bộ binh với đầy đủ quân số của Bắc Việt cộng thêm vài trung đoàn phụ thuộc và có lẽ khoảng 1.000 khẩu trọng pháo. Đó là chưa kể có thể có chiến xa địch, thật nhiều chiến xa địch quân là đàng khác. Giữa việc cố tình báo cáo chậm trễ và sự hoài nghi vào tính chất nghiêm trọng của tình hình phía Bắc Vùng I Chiến Thuật của các sĩ quan cao cấp của cả quân đội Hoa Kỳ và VNCH, và sự hỗn loạn thật sự hiện đang bao phủ mù mịt một thực tế, rồi với một hệ thống điện thoại vốn sẵn yếu kém và những thế lực tại Sài Gòn, chẳng ai biết Gerry Turley là ai và hắn đang làm cái trò gì mà có vẻ như đang nắm hết mọi thứ, ra hết lệnh này đến lệnh kia vượt quá quyền hạn của một Trung tá – một Trung tá TQLC lạm quyền không hơn không kém – có thể làm được.

Trong suốt giai đoạn đó và hiện đã sang qua ngày thứ ba của Chiến dịch Nguyễn Huệ, Gerry Turley không hề chợp mắt được một chốc, chưa ăn được một miếng nhỏ và chỉ được đi tiểu vài lần mà thôi. Sự căng thẳng và mệt mỏi đã quá sức người. Mặc dù trong hầm trú ẩn đã có một số sĩ quan và binh sĩ giỏi giúp sức, công việc quá nhiều đến nỗi gần như lúc nào cũng cần đến Gerry. Trong hai ngày mở màn vừa qua, Turley chỉ có thể rời được hầm trong chốc lát để giải tỏa “bầu tâm sự” ngay phía ngoài cách cửa hầm chỉ một vài thước vì đạn pháo kích liên tục, rồi lại trở về công việc trong hầm ngay lập tức. Sự căng thẳng và ức chế đến ngày thứ ba cuối cùng đã vật ngã ông. Sau chuyến viếng thăm âm thầm của sáu viên đại tá, sau chuyến trở về của Eisenstein, sau khi đã đối phó với hàng trăm tình huống sống chết cho các TQLC và binh sĩ tại các căn cứ hỏa lực khác nhau, cuối cùng đã khiến Gerry bị tháo dạ.

Những lúc cần ra ngoài, Gerry trao quyền lại cho J.D. Murray, cười ruồi với mọi người trong hầm đang nhìn theo ông, giơ ngón tay cái lên ra dấu hiệu trấn an họ và chui ra cái cửa hầm duy nhất. Trong vài lần trước đây, khi ra bên ngoài đi tiểu, ông không hề để ý thật sự chung quanh ra sao và cũng không thấy mức độ tàn phá của căn cứ Ái Tử như thế nào. Lần này thì khác một chút. Mặt trời còn trên cao chưa lặn hẳn và còn đủ ánh sáng để thấy những gì còn lại, hay những gì không còn nữa. Ông kinh hoàng với quang cảnh chung quanh và sự hủy diệt trong cái ý nghĩa tuyệt đối của nó.

Mặc dù Gerry Turley đơn thân độc mã theo nghĩa bóng từ lúc ông bị đẩy vào vị thế chỉ huy nhưng trên thực tế thì ông bị bao quanh bởi cả một nhóm người hỗn độn mà tự dưng ông phải gánh tạm thời và một cách không chính thức vào người. Bây giờ đi ra ngoài tìm một chỗ giải quyết cái nhu cầu tự nhiên thì ông mới cảm thấy thực sự cô đơn, theo cái nghĩa đen của nó.

Sự tàn phá toàn diện khu vực chung quanh là một điều mà ông hoàn toàn bị bất ngờ. Không còn một mảnh đất nhỏ nào trong tầm nhìn của ông tránh được sự hủy diệt do đạn pháo kích liên tục của quân Bắc Việt. Mặt đất không còn giống những gì mà ông thấy như trước nữa. Ít nhất là đối với Turley, quang cảnh trông như không phải trên trái đất này nữa.

Trong lúc Gerry lặng người nhìn quanh sự việc thì nhu cầu giải quyết lại nổi lên. Cái khoảng không gian nhỏ mà ông mong tìm ra đã bị giới hạn bởi cái nhu cầu thể xác đang thôi thúc. Ngay bên ngoài hầm trú ẩn, ông tìm ra một chỗ khá “ấm cúng” bên cạnh một chiếc xe jeep bị cháy rụi. Gerry Turley mệt lắm rồi, lại đói nữa, để giờ đây, cuối cùng ông cũng có được một khoảnh khắc riêng để tự cảm thấy thương bản thân mình. Ngồi xổm bên cạnh cái xe jeep để giải quyết nhu cầu, lúc rời hầm trú ẩn lại quên mặc áo giáp thành thử Gerry tự nhiên lẩm bẩm lời cầu nguyện cải biên… Ông bắt đầu cầu nguyện, “Lạy Chúa… Nếu Ngài sắp cất con đi thì xin Ngài hãy đón con đi ngay bây giờ. Tránh cho con bị đau đớn. Cho con đi thật nhanh…” Gerry nghĩ là cách đơn giản và ít đau đớn nhất là ở gần hay ngay tại điểm rơi của một trong những trái đạn pháo binh hoặc hỏa tiễn do Liên Xô sản xuất mà trong ba ngày vừa qua vẫn nã vào mọi nơi chung quanh khu vực này. Một thoáng giây phút trôi qua. Chẳng thấy động tĩnh gì. Khi ông vừa làm xong chuyện và kéo quần lên thì ông khẳng định là có lẽ Chúa và ông không cùng tần số với nhau và lời cầu nguyện của ông chưa được đoái hoài. Ít nhất là trong lúc này.

Đang ngó quanh quất, thì một cái gì đó đập vào mắt ông. Lúc đang cài nút quần ông ngước nhìn lên và thấy một tấm bảng quen thuộc làm ông tỉnh cả người. Trong suốt cuộc đời binh nghiệp ông đã từng thấy những tấm bảng tương tự trong tất cả các căn cứ quân sự mà ông đã đi qua. Cái tấm bảng nhỏ màu đỏ có hình một, hai, ba, hay bốn ngôi sao đánh dấu sự hiện diện của một cấp tướng lãnh. Binh lính TQLC khắp mọi nơi đều được dạy dỗ là phải coi chừng những lúc ở gần các tấm bảng như vậy, thậm chí còn phải quỳ gối xuống nữa để chứng tỏ lòng kính trọng và phải tránh ra khỏi cái vùng đất thánh đó.

Tấm bảng đặc biệt đó có một ngôi sao và bên dưới là tên của Chuẩn Tướng Vũ Văn Giai, Tư Lệnh Sư Đoàn 3 Bộ Binh VNCH. Sát ngay tấm bảng hiệu hơi nghiêng là một mảnh đất nhỏ còn sót lại – đúng thực là cỏ xanh – mà bây giờ chỉ có một trái đạn thật trúng đích mới có thể lấy đi được. Khu vực này không đầy 72 tiếng đồng hồ trước đó là mảnh sân cỏ rộng rãi và được chăm sóc cẩn thận trước căn hầm đại bản doanh của Tướng Giai, cái niềm vui và hãnh diện của ông ta, cái nơi mà TQLC và chó mèo phải tránh xa, giờ đây đã được Gerry Turley “đánh dấu” lên. Quả thật Trung tá TQLC Hoa Kỳ Gerry Turley đã thực hiện một hành vi phạm thượng nghiêm trọng…

Tuy có vẻ lạ lùng và điên cuồng nhưng nhất nhất mọi chuyện nhỏ nhặt từ lúc Gerry đặt chân vào căn hầm trú ẩn của Toán 155 tại căn cứ Ái Tử sau khi trận pháo kích bắt đầu vào bữa ăn trưa ngày 30 tháng Ba cho đến khi ông bước ra ngoài để làm chuyện vệ sinh đều chẳng có một chút gì đáng gọi là khôi hài cả. Đối với Turley, mặc dù đã quá mệt mỏi và căng thẳng, thì đây là một cơ hội để ông có thể có thể cười lên sảng khoái một chút. Ý nghĩ đã ‘ị’ – cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng – được vào giữa cái sân cỏ của ông tướng khiến ông bật cười khoái trá. Cười lớn là đàng khác. Giờ đây ông nôn nóng trở về hầm để kể cho mọi người nghe, thú tội hay khoe khoang với mọi người thì đúng hơn về những gì ông đã làm. Ít nhất là đám TQLC sẽ hiểu được sự bông đùa của ông. Nếu không thì tụi nó cũng phải cười vì ông là xếp lớn mà.

Khi Gerry bước trở vào TTHQCT và nhận lại quyền chỉ huy từ J.D. Murray, ông vẫn tủm tỉm cười. Mỉm cười rồi lại phá ra cười. Trung tá Gerry Turley, sĩ quan hành quân tạm thời chỉ huy Toán 155 gọi các thuộc hạ lại quanh mình. Mọi người đều hơi lo lắng tụ tập lại. Mặc dù đã thân với nhau từ ba ngày vừa qua nhưng họ chưa hề thấy Turley như vậy bao giờ cả. “Quý vị, quý vị qua đây một chút được không? Tôi có chuyện muốn kể cho quý vị nghe…” Sau đó thì mọi người bừng hiểu ra chuyện gì. Tất cả mọi người đều hiểu câu pha trò. Tâm trạng mọi người trong căn hầm trú ẩn trong lúc đó bỗng dưng khá lên hẳn.

Tình hình chiến sự vẫn dày đặc nhưng có lẽ bớt hơn một chút khi Turley nhận nhiệm vụ trở lại. Số lượng các cú điện thoại ông nhận được do các nhân sự và sĩ quan kiểm soát gọi đến hay chuyển tin lại từ Đà Nẵng và Sài Gòn đang gia tăng, ít nhất nó đã báo hiệu rằng MACV đã biết được tình hình quả thật đã nghiêm trọng tại phía Bắc của Vùng I Chiến Thuật rồi.

Turley không có nhiệm vụ gì phải báo cáo lại cho cả thế giới biết là ông đã được tạm thời giao cho quyền điều động Toán 155. Cho dù có đủ thời gian để nghĩ về điều đó thì ông cũng tưởng là viên Đại tá làm việc cho Tướng Giai chắc đã báo cáo cho Sài Gòn biết rồi. Tuy nhiên cái giọng nói khó chịu một cách rõ rệt của các cuộc điện đàm khiến ông thấy hiển nhiên là chẳng có ai ở MACV, Đã Nẵng hay bất cứ nơi nào khác đã được thông báo về chuyện này cả. Bây giờ khi mà các vị ở phía Nam đã thấm thía rằng các vấn đề ở phía Bắc này quả thật nghiêm trọng rồi và các quân nhân trong hầm trú ẩn đã làm việc không ngủ dưới những điều kiện kém lý tưởng nhất thì tâm lý chung của mọi người là dễ nổi nóng lắm. Khi có cú điện thoại nào gọi đến xin nói chuyện với sĩ quan hành quân và được chuyển qua cho Gerry Turley, với họ chỉ là một nhân vật lạ hoắc và không trực thuộc quân đội thì câu trả lời thông thường sẽ là “Cho tôi nói chuyện với sĩ quan phụ trách cao cấp.”

Cho tới nay Turley vẫn phải chống đỡ lại càng lúc càng nhiều những sự nhỏ nhen đố kỵ từ đám người tại Đà Nẵng và Sài Gòn. Ông rất ghét phải tốn thời giờ vào những chuyện lẽ ra phải để dành cho chuyện đánh nhau với quân Bắc Việt thay vì đối phó với đám người khó chịu tận ở phía Nam. Nó giống như ông phải đánh hai mặt trận một lúc vậy.

Bộ chỉ huy MACV tại Sài Gòn thì có vẻ hình như bị mích lòng thực sự khi phải nói chuyện với một tay TQLC. Cứ phải trả lời các yêu cầu giống y như nhau kéo dài cả tiếng đồng hồ, Turley bắt đầu mệt mỏi với những điều không dính dáng gì đến trận chiến, những sự cãi cọ lôi thôi làm mất lòng nhau quá. Khi ông trở về hầm và bắt đầu nhận những cú điện thoại như vậy thì không cần biết đầu giây bên kia là ai, ông cứ phá ra cười ầm ĩ cái đã. Dù đường dây điện thoại có tồi tệ khủng khiếp đến đâu đi chăng nữa, đám người ở Sài Gòn đều nhận ra cái ý khiếm nhã của ông. Dĩ nhiên là họ nổi nóng ngay. Hậu quả không hay cho họ chút nào. Turley không có thời giờ để mà giỡn chơi. Ông vẫn còn một trận chiến để mà chỉ huy, do đó ông trả lời ngay một cách lịch sự, hay không lịch sự cũng thế “Đ.m. mày…” rồi cúp máy. Vài người trong số họ bắt đầu nghĩ rằng Turley bị khủng hoảng rồi.

Tình trạng tâm lý được cải thiện đôi chút của Trung tá Turley không tác động mấy vào diễn tiến cuộc chiến. Trận tuyến phía Bắc kéo dài từ Đông qua Tây đang chuyển động xuống dần và các lực lượng VNCH tiếp tục tháo lui toàn bộ một cách nhục nhã, khi nhanh khi chậm. Các đơn vị thuộc các Trung đoàn 2 và 57 hầu hết là đứng lên bỏ cả đồ trang bị, kể cả các thiết bị truyền tin ngay trước mặt quân thù. Đến lúc này thì các nhân viên truyền tin trong Toán 155 nhận được cả những cú điện đàm của quân Bắc Việt trơ tráo và tự tin ở chiến thắng qua những đường dây điện thoại còn sót lại nối với các vị trí cũ của phe ta hoặc qua những máy truyền tin mà bọn chúng tịch thu được với đầy đủ các ám hiệu và tần số. Hậu quả của những cú điện đàm như vậy chỉ làm mọi người mất tinh thần thêm.

Bên sườn cánh Tây, dưới những áp lực nặng nề tương tự hay còn nặng hơn nữa, các Lữ đoàn TQLC cũng bị đánh bật xuống, tuy với tốc độ chậm hơn. Câu chuyện dường như giống như nhau ở khắp mọi nơi: kẻ thù tiếp tục tràn xuống và không điều gì có thể ngăn chận họ lại được. Cứ mỗi giây phút trôi qua là quân Bắc Việt càng vào gần Đông Hà, Ái Tử và các cứ điểm trọng yếu ở phía Nam nhiều hơn nữa.

Tình hình vô phương chống đỡ càng lúc càng tăng khắp phía Bắc Vùng I Chiến Thuật đã tạo ra nhiều khó khăn cho toán Việt-Mỹ đang cố gắng ít nhất là tạm ổn định được chiến trường.

Trong những vấn đề khó khăn hiển nhiên về chiến thuật và chiến lược còn nẩy ra thêm yếu tố chính trị được tạo ra bởi công cuộc Việt Nam hóa chiến tranh. Với nỗ lực đang được tiến hành đó, điều trọng yếu là sự dính líu của Hoa Kỳ, ngoại trừ hỏa lực không quân và yểm trợ, phải được giữ ở mức tối thiểu tại những điểm gần nơi đụng độ nhất.

Vào khoảng 7 giờ chiều ngày 1 tháng Tư, viên Đại tá Hoa Kỳ cố vấn cho Tướng Giai, chính cái ông mà trước đó đã giao cho Turley nhiệm vụ tạm thời là sĩ quan phụ trách hành quân của Toán 155, đã về lại hầm trú ẩn. Trong những ngày vừa qua cả hai người không hề nói chuyện với nhau quá 10 phút đồng hồ. Ông Đại tá gọi Turley qua một bên. Trong ba ngày trước đó viên Đại tá không hề có sự hướng dẫn nào về chiến thuật cho Gerry, cũng như chưa một lần nào khuyên bảo hay bãi bỏ những lệnh mà Turley đã đưa ra. Vậy mà bây giờ ông Đại tá có chỉ thị mới cho Trung tá Turley.

Với tình hình chiến sự thảm hại đang diễn ra khắp phía Bắc Vùng I Chiến Thuật, Tướng Giai đã ra lệnh cho những người Mỹ phải ra rút ra khỏi Ái Tử và tái phối trí lại hầu hết nhân viên tổng hành dinh của Sư đoàn 3 xuống vài dặm phía Nam thành phố Quảng Trị lúc đó vẫn còn nằm ngoài tầm pháo kích của quân Bắc Việt. Với tư cách sĩ quan Hoa Kỳ thâm niên nhất, Turley sẽ ở lại TTHQCT để điều hành công việc với một đội ngũ thu hẹp và tiếp tục hướng dẫn các hỏa lực yểm trợ cho đến khi nào tổng hành dinh mới được thiết lập xong.

Ngay lập tức hai người bất đồng ý kiến với nhau một cách quyết liệt. Mặc dù Turley không thấy có cách nào khác hơn nhưng ông rất ghét chuyện phải chia năm xẻ bảy các nguồn phương tiện. Cả hai người cùng lên tiếng một lúc, chẳng ai thèm nghe ai cũng như chẳng ai có thể nêu lên nổi một điểm then chốt nào để thắng cuộc tranh cãi. Hết sức bực tức, Gerry tiếp tục nêu ra rằng đây là một công việc của quân đội và ông chỉ là một thằng TQLC đến viếng thăm, do đó không có quyền hành hay việc gì phải chỉ huy ở đây cả. Ông Đại tá thì nói lại, đây là một trường hợp khẩn cấp về chiến thuật và lại hứa là sẽ tìm một người khác đúng chức năng hơn để thay thế Turley càng nhanh càng tốt. Turley không thể nào tin nổi ông ta nữa. Cũng giống như mọi cuộc tranh luận giữa hai người khác cấp bậc nhau, lệnh của ông Đại tá quân đội phải được thi hành. Tuy nhiên, cũng có một chút nhân nhượng nào đó.

Các tay TQLC Hoa Kỳ sẽ ở lại. Cả TQLC Việt Nam cũng vậy. Vì tất cả các cố vấn TQLC Hoa Kỳ ngoài chiến trường với các lữ đoàn và tiểu đoàn còn mắc kẹt trong những trận đánh cho đến cùng thì đây là một sự chọn lựa vinh dự bắt buộc. Ông Đại tá quân đội cũng cho phép Turley được giữ lại một ban tham mưu hành quân nhỏ và bộ phận truyền tin trọng yếu tại Ái Tử để giữ cho TTHQCT vẫn hoàn toàn có thể xoay sở hoạt động nhằm thực hiện các công tác yểm trợ hỏa lực càng lâu càng tốt.

Mặc dù bực tức và khó chịu nhưng Turley vẫn công nhận rằng chuyện đang tiến hành có lẽ là điều duy nhất họ có thể làm được. Nhưng vấn đề làm ông gần nổi điên một lần nữa là cách thức mà cuộc triệt thoái được điều động.

Sự di tản các nhân viên ra khỏi TTHQCT Ái Tử đã diễn ra vô trật tự, chắc chắn không có sự chỉ huy đúng đắn hay vinh dự nào cả. Các nhân viên VNCH trong hầm trú ẩn với Turley và nhóm người còn lại đứng lên khỏi các bàn làm việc, rời các máy truyền tin và tổng đài liên lạc và bước ra một cách thản nhiên. Đối với các nhân sự người Mỹ thì thái độ của họ thường cũng chẳng khá hơn chút nào.

Khi các trực thăng CH-47 của Quân đội Hoa Kỳ đáp xuống bãi đáp căn cứ Ái Tử để bốc người về Quảng Trị thì các sĩ quan cao cấp VNCH là những người đầu tiên leo lên trực thăng. Càng lúc càng có vẻ như mạnh ai nấy chạy.

Trong số khoảng chừng 80 người Mỹ thuộc thành phần của Toán 155 chỉ có chừng 30 người ở lại. Turley không biết có bao nhiêu người thuộc Sư đoàn 3 còn nằm lại. Ông có cảm giác những người Việt Nam còn ở lại toàn là lính TQLC.

Nếu cho rằng những người phải ở lại TTHQCT với Gerry Turley vì họ cảm thấy đó là nghĩa vụ phải thi hành thì không đúng. Họ ở lại phần lớn vì được lệnh phải trụ lại. Ai cũng sợ cả. Ngay cả Gerry Turley cũng vậy. Không ai biết kết cuộc trận chiến sẽ ra sao. Nhất định là cái ngày thứ Bẩy 1 tháng Tư đó là một ngày không khá chút nào đối với miền Nam Việt Nam và đồng minh của họ.

Mặc dù vậy, Turley vẫn cảm thấy tương đối thoải mái với hầu hết những người còn lại. Ông đã có tay phụ tá cứng cỏi J.D. Murray để mà nhờ việc. Viên sĩ quan tình báo TQLC của ông, Đại úy Tom O’Toole cũng là một người am hiểu tình thế và nắm nhiều tin tức sẽ giúp ông những lời khuyên chính xác. Thiếu tá Dave Brookbank thuộc Không Lực Hoa Kỳ, sĩ quan liên lạc và là người điều động các cuộc không kích đã chứng tỏ cho Turley thấy anh ta là một người ông cần có bên cạnh trong những tình huống gay cấn. Thiếu tá Brookbank sẽ còn cần thiết nhiều hơn nữa vì thời tiết đã khá dần lên và hỏa lực không quân sắp có dịp được bung ra tối đa.

Và cuối cùng là Thiếu tá Wilson, sĩ quan quân đội phụ trách về liên lạc, một quân nhân không hề biết mệt mỏi là gì, một người cứng cỏi mà sự quyết tâm và tính chi ly đã khiến cho công việc thông tin rất trơn tru. Joel Eisenstein thì tiếp tục làm nhiệm vụ điều hợp các yêu cầu về hải pháo. Người sĩ quan cao cấp VNCH hiện diện là Đại tá Ngô Văn Định, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 258 TQLC Việt Nam. Turley từng biết qua danh tiếng của Đại tá Định là một chiến binh thứ thiệt. Phụ trách an ninh cho khu vực là Tiểu đoàn 6 TQLC Việt Nam.

Kể ra thì nhóm ở lại cùng với Turley đều rất giỏi nhưng họ vẫn gặp nhiều khó khăn. Trong số đó có một viên sĩ quan Hoa Kỳ đã hai lần định bỏ trốn ra khỏi hầm trú ẩn mặc dù đã được lệnh phải ở lại. Lần thứ hai khá trơ trẽn đến nỗi Turley, cùng với Đại úy O’Toole làm nhân chứng, đã phải kêu viên sĩ quan Hoa Kỳ ra nói chuyện. Với những lời lẽ để tay sĩ quan hiểu rõ, Turley bảo hắn là khi đến lúc phải ra đi thì cả hai người sẽ là những người cuối cùng rời khỏi căn hầm. Và, có một điều nữa là nếu hắn có ý định bỏ đi một lần nữa thì Turley sẽ “bắn bể tung gáo hắn ra.”

Với sự thay đổi nhân sự, hoạt động của TTHQCT đã trở lại nhịp bình thường đối với mọi người. Những đơn vị còn lại của hai Trung đoàn 2 và 57 ở phía Bắc sông Cam Lộ và Cửa Việt tiếp tục cuộc tháo chạy toàn diện. Trung đoàn 56 ở phía Tây tại căn cứ Camp Caroll vẫn còn nguyên vẹn nhưng bị cô lập và quân địch vây hãm càng lúc càng nặng nề hơn. Các đơn vị TQLC Việt Nam tại Mai Lộc cũng bị áp lực địch gia tăng khá nghiêm trọng. Nhóm của Turley theo dõi tình hình đang xấu dần và cố gắng yểm trợ bằng tất cả số lượng hỏa lực nghèo nàn còn có trong tay. Họ đã làm tất cả những gì có thể làm được. Và cuộc chiến vẫn tiếp diễn.

Gerry Turley giờ đây thực hiện những lần “đi đồng” thường xuyên hơn tại cái chỗ đặc biệt nơi sân cỏ cũ của Tướng Giai. Có lẽ trong lần thứ ba hay thứ tư sau lần đầu tiên, ông không còn nhớ nữa, nhưng sự khôi hài đã biến hẳn rồi. Trong lần đi đồng đó ông tình cờ nhìn xuống phía dưới con đường, hay vết tích của con đường dẫn ra Quốc lộ 1 chạy dài từ Bắc xuống Nam chỉ cách hầm TTHQCT khoảng non hai trăm thước. Ngay trước mặt ông là một cảnh tượng mà ông không bao giờ tưởng tượng hay mô tả nổi. Nó chẳng khác gì sự dàn dựng cho một cuốn phim vĩ đại của Cecil B. DeMille, chỉ khác là đây không phải là Hollywood và không có những nhân vật như Moses hay Charlton Heston đang chẻ đôi Biển Đỏ ra và dẫn dắt dân Do Thái đến vùng Đất Hứa. Tệ hại hơn cả là sự đau thương mà ông đang chứng kiến ở hàng ghế đầu đang thật sự diễn ra.

Ngay trước mặt ông và dưới sự chứng kiến của tất cả các nhân viên quân sự có mặt là một đám đông rồng rắn khổng lồ không dứt những nạn nhân chiến cuộc vô phúc, tuyệt vọng gồm từng đoàn hàng ngàn người một nối tiếp nhau, có lẽ đến hàng chục ngàn người từ đâu đó ở phía Bắc đang đổ xô nhau mà đi, đi đến bất kỳ chỗ nào ở phía Nam nhằm thoát ra khỏi tầm tác xạ cố ý và dã man của pháo binh Bắc Việt. Gerry Turley chưa bao giờ trông thấy cảnh tượng nào như vậy. Điều này làm ông cảm thấy kinh tởm. Trong một lúc ông đứng chết trân trước cửa hầm, cố gắng tìm hiểu xem nông nỗi nào đã đưa đến tình thế này và cố gắng hình dung những chuyện đang xảy ra cho cái đoàn người dân lành Việt Nam hiện đang vô gia cư này.

Đoàn người đó phần lớn là dân thường với nhiều phụ nữ còn xuân đang bồng bế hoặc ráng sức lôi theo những đứa bé khóc lóc thảm thương, có những đứa trẻ dắt trâu, các bà má gò lưng cõng những đứa cháu bé hay có các vật dụng nghèo nàn địu sau lưng. Có đủ cả mọi hình thức gia đình khác nhau mà người ta có thể tưởng tượng ra được. Lẫn lộn trong đám dân, Gerry thấy có một số quân nhân trẻ còn mặc quân phục nhưng không ai mang vũ khí hay vật dụng nhà binh, hoặc cùng lắm là các bình đông quân đội. Mặc dù không thấy rõ lắm nhưng ông biết những người này đã lột lon và huy hiệu đơn vị ra khỏi các bộ quân phục rồi. Một số trong bọn họ, có lẽ là phần lớn, đã bỏ đơn vị để chạy về nhà đón gia đình trốn khỏi các cuộc pháo kích tràn lan của quân Bắc Việt trong khu vực dân cư. Có những người khác, đi một mình hay nhập bọn với các nhóm thanh niên khác, rõ ràng chỉ thuần túy là lính đào ngũ.

Trong khi ông đang đứng tại chỗ quan sát cái điều thực tế, nhưng lại có vẻ siêu thực đó thì ông chứng kiến một trái đạn mà ông biết rất rõ là đạn 130 ly của quân Bắc Việt rơi xuống nổ trúng vào chính giữa đám đông dân lành đó. Chuyện bọn địch cố tình ngắm bắn vào thường dân không còn gì hiển nhiên hơn nữa.

Giống như mặt hồ nước dãn ra ngay tức khắc khi bị một vật vì bất kể lớn bé ném vào, rồi sau đó đóng lại và xóa đi mọi dấu tích trước đây của nó, thì đám đông dân lành Việt Nam nhiều đau khổ này cũng đang y như vậy. Gerry thấy hậu quả của trái đạn pháo kích tạm thời làm dãn ra những người bị tác động rồi hàng ngũ đám đông lại được khép lại bởi những người còn sống hay chưa bị thương. Những người bị chết hay bị tan tành thành từng mảnh DNA chỉ được thương tiếc nếu người nhà còn sống, bằng không thì khoảng trống mới được tạo ra sẽ được đầy trở lại bởi những người vô danh vô tính khác. Cuộc hành trình xuống phía Nam vẫn tiếp diễn bằng bất cứ mọi giá và không hề gián đoạn chút nào, theo như Turley nhận xét.

Cuộc di tản khổng lồ của người dân Việt Nam dường như có cái nguồn năng lực riêng của chính nó, có cái nhịp thở và tiếng động không dứt quyện vào nhau và là những âm thanh của cuộc sống bất khuất vẫn còn đang tiếp diễn. Gerry có thể nghe được, mặc dù ở một khoảng cách khá xa đối với họ, những bà mẹ đang la mắng con cái, tiếng trẻ con la khóc lẫn với tiếng than van của những người có lẽ mới bị mất mát người thân, có cả tiếng cãi cọ lẫn nhau giữa những đám người đang bị căng thẳng khó ai tưởng tượng nổi. Tuy vậy, sự bi thảm, sự chuyển động và mọi chuyện vẫn tiếp tục như thể không có cách nào tránh né được nên chỉ đành phải cam chịu mà thôi.

Turley cảm thấy đỡ đau lòng hơn vì ông không quen một ai trong số họ và niềm cảm thông của ông có thể mang một chút ít tính cách khách quan. Tuy nhiên sự kiện họ hầu hết là phụ nữ và trẻ em đã làm ông xúc động vô cùng. Trong một thoáng chốc, ông nghĩ về Bunny và năm đứa con. Nếu không vì một sự tình cờ run rủi được sinh ra tại Mỹ thì có thể chính gia đình của ông đang ở trên đoạn đường đó và phải chịu đựng những cơn ác mộng cùng cực nhất của cuộc sống. Ông nhớ lại đã từng nghe quá nhiều người Mỹ nói câu – “Chỉ nhờ ơn lành của Chúa con mới…” Câu nói này đã quá cũ kỹ nhưng ông vẫn nghĩ đến ý tưởng đó trong lúc này.

Sự nhân cách hóa những sự kiện mất mát đó và việc liên tưởng đến gia đình đè nặng lên tâm trí khiến Turley chịu không nổi nữa. Ông ráng gạt đi những ý tưởng đó ra khỏi đầu. Điều duy nhất có thể làm được là giúp họ đánh bại những bọn phải chịu trách nhiệm về cuộc thảm sát đó. Và ông trở về lại hầm trú ẩn.

Cái hình ảnh lớn đối với Trung tá Gerry Turley và nhóm người của ông trong Toán 155 tại Ái Tử chỉ là một trong những màn hình nhỏ hơn cho người Mỹ tại MACV và Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực VNCH tại Sài Gòn. Họ đã có dự kiến trước cuộc tấn công ngày 30 tháng Ba là nếu xảy ra tại phía Bắc thì sẽ chỉ là đánh nhử mà thôi. Cho đến xế chiều ngày 1 tháng Tư họ vẫn chờ các điều chứng minh là họ đúng. Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực VNCH đã quá tin tưởng vào các nhận xét ban đầu của mình và gởi viện binh đến Trung Nguyên mong sẽ ngăn chận kẻ thù tại đó.

Sau khi thành phần thu hẹp tại TTHQCT Ái Tử đã làm việc với bộ chỉ huy Lữ đoàn 258 TQLC Việt Nam xong vào sẩm tối thứ Bẩy thì trật tự phần nào được tái lập trong hầm trú ẩn. Tình hình chiến sự trên toàn cõi phía Bắc Vùng I Chiến Thuật vẫn tiếp tục xấu đi. Ít nhất là những đơn vị còn trụ lại, đặc biệt là các đơn vị VNCH cuối cùng đã chịu quyết tâm sửa soạn và tiến hành một kế hoạch ngăn chận Cộng quân tại sông Cam Lộ và Cửa Việt mà không cho bọn chúng tiến vào sâu hơn nữa. Trong lúc những sự thay đổi không đáng kể đang xảy ra về phía quân đội Đồng minh thì các sĩ quan cao cấp Hoa Kỳ tại Đà Nẵng và Sài Gòn bắt đầu có thái độ tích cực hơn tuy vẫn còn khá chậm chạp.

Vừa qua nửa đêm sang ngày Chúa Nhật Lễ Phục Sinh tại Việt Nam, Turley nói chuyện thẳng với với một viên Thiếu Tướng quân đội Hoa Kỳ tại Đà Nẵng. Ông này thông báo với Turley rằng “Mọi sự hạn chế của Không Quân Hoa Kỳ đã được bãi bỏ. Tiếp tục yêu cầu mục tiêu cho B-52.” Trao đổi thêm một chốc thì Turley hiểu ra là các quyết định đánh mục tiêu cho các cuộc dội bom khổng lồ này, mệnh danh là ARCLIGHT, giờ đây hoàn toàn thuộc quyền quyết định của ông. Turley chưa hề đi học ở Trường Đại học Chiến tranh bao giờ nhưng ông hiểu cần phải làm những gì nhằm lên kế hoạch và phối hợp các phương tiện sử dụng hỏa lực. Ông hiểu là khi Không lực Hoa Kỳ, một tổ chức nổi tiếng cực kỳ quan liêu về hành chánh và các phương pháp chính thức trong việc chọn lựa và đánh bom các mục tiêu, đã gần như vứt đi hết mọi thủ tục và trao quyền hành lại cho một ông Trung tá TQLC Hoa Kỳ thấp kém, vô danh thì đó là một chuyện không đơn giản chút nào. Chưa đầy hai tiếng đồng hồ sau, một trong những TQLC Hoa Kỳ hiện đang làm sĩ quan quan sát trong hầm trú ẩn nhận được một cú điện thoại từ Sài Gòn do một vị tướng cao cấp trong Không lực Hoa Kỳ tại MACV gọi đến. Vị tướng lãnh này chỉ thị cho viên Thiếu tá TQLC rằng Turley đã được trao toàn quyền sử dụng tất cả các phương tiện không quân tại phía Bắc Vùng I Chiến Thuật.

Mừng Lễ Phục Sinh.

dù sao vẫn cứ ngọt ngào

10735644_826194720769236_378143114_n (1)

anh nhặt ₫ược một cục kẹo
nó dính cát rồi
nó dính bụi rồi
nó dơ

anh nhặt lại ₫ược chiếc bóng anh rồi
nó ngừng trôi
nó ngồi
buồn
nó tả tơi

anh nhặt được cây bút chì
để làm chi
₫ể làm gì
ơ ?

anh tìm lại ₫ược bài thơ
anh viết cho em
thưở còn thơ yêu em
thuở anh còn em
là em

anh thấy khi anh cúi đầu
nhặt viên kẹo
phủi hạt cát lau hạt bụi

mưa …
ồ
mưa …

NGÔ YÊN THÁI