BÀI THƠ TRƯỚC ĐÊM GIAO THỪA

phamhongan
(Để nhớ quê hương tôi)

quê hương tôi đen như cốc cà phê
bốn ngàn năm vẫn y nguyên vị đắng
bốn ngàn năm chưa một lần may mắn
pha thêm đường để trở thành cà phê ngon.

quê hương tôi trong huyền thoại cội nguồn
có bản chất phân ly từ mầm móng
năm mươi con lên núi cao, năm mươi ra biển rộng
giã từ nhau, không hứa hẹn gì nhau.

quê hương tôi một ngàn năm đô hộ bởi giặc Tàu
một trăm năm giặc Tây nô lệ
còn những ngàn năm kia cũng vô cùng tồi tệ
giành giựt cơ đồ, anh em chém giết thê lương.

quê hương tôi vô số kẻ bất lương
thà theo giặc để làm vương, làm tướng
thời nay vẫn có lắm tên hèn hơn Lê Chiêu Thống
nhục hơn Trần Ích Tắc ngày xưa.

quê hương tôi nhiều vụ án như đùa
Lệ Chi Viên là nỗi đau thảm khốc
Nguyễn Trãi và họ hàng bị tru di tam tộc
hai mươi hai năm mới được giải oan.

quê hương tôi sau nội chiến tương tàn
bên thắng cuộc trả thù độc ác
Bùi thị Xuân bị voi phanh thây xé xác
Nguyễn Ánh quật mồ, giã hài cốt Nguyễn Huệ quăng sông.

quê hương tôi hào kiệt rất đông
nhưng bọn tiểu nhân cũng hằng hà sa số
bậc anh hùng ngàn đời không khiếp sợ
dù gông cùm đang khóa chặt tay chân.

quê hương tôi vẫn vậy bốn ngàn năm
lịch sử cứ diễn hoài tuồng cũ
chế độ nào cũng hô to dân chủ
mà sau lưng thì dí súng hăm he.

quê hương tôi đen như cốc cà phê
bốn ngàn năm vẫn y nguyên vị đắng
năm mới xin chờ một lần may mắn
Đổi cốc thêm đường cho hương vị thơm ngon.

PHẠM HỒNG ÂN

maithao

cuối năm

Tận ngữ tìm lung một tĩnh từ
Tưởng còn sót lọt ở phần thư
Đập tay điếu thuốc tàn không rụng
Đã lượng đời vơi tới đáy ư ?

mừng tuổi

Em vẫn trăm xuân mừng tuổi mới
Tuổi của thềm sương tuổi chúng mình
Cùng lăn không tiếng về nơi ấy
Tăm cá không còn cả bóng chim

tháng chạp

Một cụm mây trời đáy giếng khơi
Trôi qua đứng nắng giữa trưa đời
Tỳ tay thành giếng lòng vô hướng
Nhập với vô hình tiếng nước rơi

trừ tịch

Bước một mình qua ngưỡng cửa năm
Nhân gian tịch tịch tiếng mưa thầm
Chợt đâu vẳng tiếng gà lai kiếp
Báo vẫn – đêm đầy ở cõi âm…

MAI THẢO

Mùa xuân buồn lắm em ơi

nguyensa

 

Mùa xuân buồn lắm em ơi
Anh vẫn đạp xe từ Saigon lên trường đua Phú Thọ
Đạp xe qua nhà em
Nhìn vào ngưỡng cửa
Nhà số 20
Anh nhớ em má hồng…

Anh nhớ nhà em có cửa sơn xanh
Có một hàng rào, có thầy, có mẹ …
Có ngựa chạy trong trường đua, người đi ngoài phố
Nên anh đạp xe đi
Rồi đạp xe về
Mà chẳng có đôi ta…

Mùa xuân buồn lắm em ơi
Mỗi lần đạp xe về anh vẫn nghe lòng bỡ ngỡ
Chiếc xe còn nguyên màu sơn xanh
Nhưng tâm hồn đã ngả sang màu sắt rỉ

Bởi vì từ Saigon lên tận trường đua Phú Thọ
Hết cả tiền uống một ly nước mía
Mà cũng không gặp em
Nên khát đắng linh hồn

Không phải anh ngại đường xá xa xôi
Anh cần gì đường dài
Anh cần gì nước mía
Anh cần gì hoa thơm và chim cười trong lá biếc
Cũng chẳng cần cỏ thêu xanh cánh đồng xa biền biệt
Nhưng làm sao không có bóng hai người đè lên cỏ úa
Để anh nghe em cười mà thấy cả mùa xuân…
Làm sao chỉ có một mình anh
Vừa đạp xe, vừa ngâm thơ (mà đường vẫn dài)
Ngửa mặt lên cao, trời xanh biêng biếc
Làm sao em không ngó xuống linh hồn?…

Sao mùa xuân mà chẳng có mưa bay
Chẳng có người đi bên cạnh cầm tay
Anh chẳng được hôn lên trán ái tình
Và nói năng những lời vô nghĩa…

NGUYÊN SA

Nguồn: Thơ Nguyên Sa, Tổ hợp Gió xuất bản, 1971

bên này tôi, bên kia em

phudu

 

bên này tôi đứng đón chiều
rừng mai đón gió
én kêu đón mùa

bên kia em đón giao thừa
một chai rượu lạnh thờ ơ đón lòng

bên này tôi đứng đầu sông
trông về cuối bãi mênh mông cúc vàng

bên kia em ngắt hoa tàn
tàn rơi từng cánh tan hoang tuổi mình

bên này tôi uống thâu đêm
cay trong lồng ngực
cay lên mắt chờ

bên kia em vội đến giờ
phóng xe đi giữa hai bờ phồn hoa

bên này gần
bên kia xa
gần xa loáng thoáng tình già đợi nhau

PHÙ DU

 

 

 

 

 

Bài ru tình tháng Chạp

16244065_1227727780615926_82101252_n

Cánh chim
một chiếc lá hồng
về đâu thăm thẳm
sầu đông tịnh mờ
cánh mây dệt mấy đường tơ
mà trên áo lụa giòng thơ vô đề

Tờ kinh
bỏ giữa sông mê
thuyền qua bến đục
bốn bề tạnh yên
lá tình dạt bến hồn nhiên
một hôm nắng lạ soi hiên nhà người

Tàn đông
có kẻ sang chơi
vịn hoa thỏ thẻ
tiếng cười yến oanh
cuối năm ngủ sớm sao đành
mở trang tình sử đọc nhanh mấy hàng

Chợ chiều
dăm khách đi ngang
tìm nhành hoa lạc
bên đàng cầu may
quán đêm rét mướt bờ vai
sương giăng trắng mộng
cơn say chập chùng

Chờ em
mấy thuở không cùng
gió trăng hẹn ước
tương phùng cổ lai
vì em là đoá hoàng mai
nửa đêm thức giấc mới hay mình sầu

PHẠM QUANG TRUNG

lời ru cho trái tim tật nguyền

trantuan

Ngủ ngoan đi
hỡi yêu thương
Đừng đay nghiến nữa
tội buồng tim đau
Rồi thì đời sẽ qua mau
Và tình người sẽ
qua cầu gió bay!

Ngủ ngoan đi
trái tim gầy
Dứt day chi những vơi đầy thế nhân
Dường như trong cõi phù vân
Càng tha thiết lắm, càng trăn trở nhiều!

Ngủ ngoan đi nhé
niềm yêu
Giữa cho và nhận rất nhiều chông chênh
Rượu cay, uống để mà quên
Uống say mới biết sầu – mênh mông sầu!

Ngủ yên đi
ước mơ đầu
Qua bao tang biến
bể dâu lấp vùi
Còn gì nữa để mà vui
Xót xa cũng chỉ ngậm ngùi riêng mang!

Ngủ ngoan, ngoan nhé hồn hoang
Chết đi là mớ tro tàn mà thôi!
Chắc gì ai nuối thương ngươi
Nhỏ dăm giọt lệ khóc người mà mong!

Chiều nay tiễn ngọn đông phong
Nghinh xuân với mảnh tơ lòng tả tơi
Ta run rẩy giữa đất trời
Ngồi ôm ru trái tim côi tật nguyền!

Ngoan ngoan…
Ngủ nhé tim hiền!

TRẦN TUẤN

TẤT NIÊN: CÚNG CÔ HỒN CÁC ĐẢNG

hhieu

chọn những con chữ khuyết tật tâm thần
tôi máng lên móc áo mùa đông
treo án chúng trên đó
những xương cá thời cuộc
mằn mặn thum thủm
sông núi
chọn những con chữ tai biến chủ nghĩa đã 41 năm
tôi ngâm trong chai rượu hóa chất tẩm màu
bùn đỏ cao nguyên
phù sa cặn bã
cho chúng tập sinh tồn cùng môi trường tảo đỏ
chọn lắm con chữ bợm bãi quán hàng
tóc tai dựng đứng một nhúm cỏ trăm năm trồng người
tôi thảy chúng ra bến xe giành giựt bạn lui hàng tới
kế bên cái chợ chiều cuối ngày bộn bề năm cũ
chồm hổm năm mới
cho chúng quen dần với cơm thừa canh cặn
đầu đường giấc ngủ xó chợ thân phận

chọn thật nhiều con chữ có bản chất đặc sản gầm bàn
trên lắm khuôn mặt mỡ chài lạng quạng đầy phố
bóng lưởng mượt mà những chiếc ghế da
ngủ gật ở lưỡng viện
thở dài ở đại hội
tôi treo lên chúng một mục tiêu đỏ lòe loẹt
ở quảng trường nơi rất nhiều tầm ngắm sẵn sàng
cho một cuộc hành quyết tập thể

gom chúng lại thành một trường ca 41 năm
[việt nam, bài trường ca 4000 năm bao gồm nhiều tác giả ai cũng biết và không cần phải tưởng niệm hay vinh danh một khi phải nhắc đến và cũng không cần xin phép (cái thứ mà họ cũng chả cần!) tác quyền]
đợi cho chúng tuyên bố thắt cổ năm cũ
nhân danh năm mới và tiếp tục tuyên ngôn cái gì gọi là nhân quyền con ruồi và tự do cái củ bùi
rồi cuộn tròn chúng bên trong tờ lịch cuối cùng của 2016
tôi châm đóm lửa pháp sư đồng bóng chúng đỏ rực vô thần
quơ qua quơ lại quơ lên quơ xuống
bốn phương tám hướng
thượng vàng hạ cám
cô hồn các đảng
đốt phong long

xong, uống ly rượu mừng
mà chẳng cần xin phép
các đảng cô hồn.

HHiếu

QUÊ NGHÈO

huyenchieu

que-ngheo-p

 

Tôi sinh ra ở một làng quê nghèo.

Mẹ  và tôi sống chung với bà ngoại  trong một ngôi nhà cũ kỷ. Ngôi nhà ấy dành phần tốt nhất gọi là nhà trên để thờ ông bà. Đàn bà và trẻ nhỏ sống ở nhà dưới là một gian nhà tranh vách đất .

Tôi không có ý niệm về giàu nghèo vì chung quanh tôi nhà nào cũng nghèo.

Đứa bé nghèo lớn lên bên gốc khế, bụi chuối, khóm tre và cảm thấy cuộc sống thật tươi vui. Tôi hay theo bà tôi vào bếp nhóm lửa nấu cơm để được nhìn những cây củi khô hóa kiếp  thành một bếp lửa hồng .Khi lửa bắt đầu reo tí tách , tôi thường chạy ra ngoài nhìn những làn khói len lỏi chui ra  từ mái tranh rồi lan tỏa lên bầu trời xanh trong.

Năm tôi lên sáu, mẹ  cho tôi đi học.

Đứa trẻ nào cũng vậy, ngày đầu  đến trường luôn  là một ngày thiêng liêng .

Tôi run run bước chân vào lớp học như bước vào một ngôi đền thiêng và khi vòng tay cúi đầu chào thầy , tâm hồn tôi xao xuyến dâng lên  một nỗi kính yêu chưa từng có .

 

Mẹ tôi nói “đứa nào không chịu đi học thì phải đi chăn bò”

Trẻ chăn bò và trẻ đi học hồi đó địa vị thật cách biệt.

Tôi yêu thầy tôi, tôi kính phục và biết ơn  thầy tôi. Thầy giỏi thật, chỉ một năm học với thầy tôi đã biết đọc, biết viết, đường hoàng bước vào một thế giới xán lạn , không phải là thế giới của chăn bò.

 

 

Ngoài giờ học, tôi thích nhất được đi long rong trong xóm để  lắng nghe sự sống sinh động  trôi qua từng phút , từng giây..

Thật thú vị khi nhìn ngắm những dăm bào cuộn tròn , tuôn ra từ cái bào của chú thợ mộc.

Thật vui khi được phép phơi chiếc bánh vừa tráng xong lên chiếc vỉ tre ở lò tráng bánh.

Tôi hay lén nhìn mâm cơm nhà hàng xóm xem  hôm nay họ có gì trong bửa cơm đạm bạc.

Đọc đến đoạn văn trời rét căm căm không ai thuê mướn,  nhà mẹ Lê với đàn con nhỏ nhít   không còn hạt gạo nào để nấu, tôi đã khóc.

“Quê Nghèo” của  Phạm Duy là bài hát ưa thích của tôi hồi đó.

“Ruộng khô có những ông già rách vai,

cuốc đất bên đàn trẻ gầy,

có người bừa thay trâu cày”

Ông Phạm Duy giỏi thật, ông đã làm tôi rưng rưng nhớ đến những chiếc áo vá của bà tôi, mẹ tôi và của nhiều đứa bạn  trong xóm.

 

Ở nhà trên, trong nhà  ngoại, cậu tôi có để trên bàn một tập nhạc. Cậu đi học xa nhưng cây đàn violon của cậu vẫn treo trên tường. Cây đàn  làm tôi biết rằng  có một điều gì đó làm cho gia đình tôi khác với  những nhà  trong xóm.

Mổi ngày tôi đều rón rén bước lên nhà trên, nhẹ nhàng mở tập nhạc , say mê nhìn ngắm từng bản nhạc. Những nốt nhạc như đang nhảy múa trên những dòng kẻ. Tôi tưởng tượng ra nhiều thứ từ những nét vẽ lập thể ngộ nghĩnh trên bìa nhạc của họa sĩ Duy Liêm và tôi đặc biệt thích những bài hát mô tả  làng quê  nghèo.

Dần dần tôi hiểu ra người dân quê tôi nghèo vì luôn có chiến tranh. Chiến tranh đồng nghĩa với chết chóc, điêu tàn , xác xơ,   nghèo khó.

“Về đây nhìn mây nước bơ vơ

Về đây nhìn cây lá xác xơ

Về đây đâu còn bóng chiều mơ

Đâu còn  mái tranh chờ

đâu tìm thấy người xưa

(Trở Về- Châu Kỳ)

Và Phạm Duy đã dạy cho tôi bài học hay nhất về sự tang thương:

“Người đi trên đống tro tàn

Thương em nhớ mẹ muôn vàn về đâu

Chiều khô nước mắt rưng sầu

Thương thân thiếu phụ, gục đầu hài nhi

(Về Miền Trung-PD)

Khi  súng đạn im tiếng , ai cũng mong  quê hương sẽ được an hưởng thanh bình dù phải bắt đầu từ một đống đổ nát của  chiến tranh.

Nhưng  một cuộc chiến khác lại bắt đầu.

Lần này cuộc chiến còn  bi thảm khủng khiếp hơn nữa  khi  đứa con  tàn sát  chính  mẹ  của mình, bà mẹ thiên nhiên đã ngàn năm nuôi nấng , bảo bọc mình..

Nhớ lại   cái nghèo của chúng tôi thuở ấy sao mà đẹp quá.

Đó là thuở không ai tưới hóa chất lên ruộng đồng

Dòng sông thuở ấy  không bị tấn công bởi bao ny lông, trong  vắt  lượn lờ giữa hai bờ tre xanh

Bãi biển ngày đó hoang vu, tuyệt đẹp với trùng điệp  những  động  cát trắng tinh tồn tại từ hàng triệu năm trước không bị san bằng chia lô làm resort, xây biệt thự nghỉ dưởng, xây nhà cao tầng cao vút.

Rừng già quê tôi thuở ấy hùng vỹ , kỳ bí, thâm u  hào phóng ban phát oxy cho người  và là nơi ẩn náu  của hàng triệu thú rừng.

“Ăn của rừng rưng rưng nước mắt”

Người dân thuở ấy trân trọng và biết ơn rừng chỉ dám làm “tiều phu” xin rừng ít củi khô về đun nấu  chứ không dám làm “lâm tặc” trắng trợn thảm sát hàng triệu thân  gỗ quý ngàn năm tuổi.

 

 

Rừng xanh cũng biết ơn  người, giữ gìn cho mưa nguồn  thấm sâu vào từng gốc cây, bụi cỏ rồi  từ tốn  gom nước để dành  cho những cánh đồng thân yêu.

Và hạt lúa thuở ấy đã ban tặng  người dân nghèo những bát cơm thanh sạch dù chỉ ăn với muối.

 

Thương cái  nghèo  đã giữ cho  quê hương chúng tôi còn nguyên vẹn.

Tôi nhớ “Nắng lên Xóm Nghèo” (1), Tôi yêu “ quê tôi, yêu mãi bây giờ còn yêu”.(2)

Những “Mẹ quê vất vả trăm chiều nuôi một đàn con chắt chiu” (3) nay  còn đâu  nữa.

Tôi ước gì người dân quê tôi được  sống giản dị, yên lành, nghèo một chút như xưa  nhưng giữ nguyên núi, rừng, sông biển cho con cháu mai sau

 

Huyền Chiêu

Tháng 1- 2017

(1) Nắng Lên Xóm Nghèo –Phạm Thế Mỹ

(2) Tôi Yêu –Trịnh Hưng

(3) Bà mẹ Quê- Phạm Duy.

 

 

Báo thù

nguyentri

Nguyễn Trí :" In ở đâu đẹp há. Mà có 12 cuốn, ai được ai không zậy ta ?"

 

 

 

Năm Phú một vợ và một… cháu nội. Ủa chớ con cái đâu? Để nói cho nghe vụ con của cha nội nầy. Số là những ba mươi hai tuổi Năm Phú mới lấy vợ. Cũng chả phải ham vui quá trớn mà quên vụ vợ con. Năm Phú có vợ sớm bửng hà. Mới hai mươi nheo nhẻo mà bà má thúc hối quá Phú chịu không xiết. Má Phú một mình nuôi con không phải vì am tường nho gia chi phái rằng xuất giá tòng phu phu tử tòng tử chi chi đó. Bà ta ở vậy là bị cái chứng của phụ nữ không nói được. Phú đi lính cho cộng hoà, may mà binh nhì nên học tập có ba tháng. Về là bà má thúc lấy vợ ngay.

Kinh tế  khó khăn nên Phú theo chúng bạn lên rừng chặt củi đốt than. Cô vợ – tình thiệt mà nói – cũng có chút nhan sắc. Thời cộng hoà cô mộng uý tá chứ đơ dem cùi bắp như Phú thì chớ có hòng xách dép. Quý vị uý tá thì toàn là cáo có sừng. Em đưa thì anh đẩy chứ anh có vợ rồi cho vàng cũng không dám bước thêm bước nữa em ơi. Giải phóng xong thì uý tá thăng ráo, binh nhì như Phú lấy được một em tai mắt mũi họng trên trung bình là ngon lành ra phết. Ngờ đâu em thuộc lòng câu lẳng lơ chết cũng ra ma, chính chuyên chết cũng khiêng ra ngoài đồng. Chồng kiếm ăn khó quá nên em cũng kiếm thêm bằng cách buôn cái chồng làm được. Tức là buôn than. Dễ lắm. Tập trung chừng một tấn than rồi thuê xe chở xuống vựa. Mua năm hào bán một đồng trừ xe cộ chi phí hết ba hào còn lời hai hào. Một tấn lời đứt hai trăm đồng. Phải chi được vậy cho đến cuối đời thì xe hơi nhà lầu có chắc. Kẹt cái rừng của toàn dân mà anh phá là vi phạm pháp luật, mua bán cái nhà nước cấm là tội gấp hai. Một ngày kia cô Phú bị bảo vệ rừng thộp tại trận. Than bị đưa về trạm tính sau. Cô Phú chạy đông chạy tây bốn phương tám hướng đất trời. Cuối cùng chả hiểu làm sao mà trưởng trạm cho qua vì lần đầu vi phạm. Thiên hạ bình rằng lần đầu cái mồ tổ nó chớ. Chả qua con vợ thắng Phú nó…

Nó làm sao có trời biết đất biết. Khì khì khì… lần đầu được thả… khà khà khà… Phú nghe thiên hạ cười mà điên gan. Đừng tưởng Phú binh nhì mà tầm thương nghe. Tú tài hẳn hỏi chứ không phải chơi đâu. Anh ta trốn lính vì sợ chết. Con ông cháu cha vui chơi trên phố thị bắt thằng dân đen đi trận là sao? Ngu sao đi để phơi thây? Phú trốn và bị bắt. Vậy mới ra cái binh đơ chứ đàng hoàng thì uý trăm phần trăm. Mà uý tá thì ra cái ôn chi trong thời cách mạng. Mút mùa cái vụ cải tạo chứ chạy đâu cho thoát.

Có rượu vô Phú ngâm nga một câu trong tuồng Tìm lại cuộc đời: “Con me mỹ đây rồi. Con đàn bà khốn nạn đây rồi…” Phú rình rập thử xem vợ mình làm cái chi mà thiên hạ rúc rích cười. Anh ta vờ ngu như bò đội nón. Đàn ông khi ghen lắm kẻ thâm trầm thủ đoạn lắm. Phú là một. Rình riết cũng đụng ổ. Con lăng loàn nghe chồng lên rừng liền trang điểm thiệt đẹp nói đi thăm má ở bệnh viện. Chả hiểu má Phú làm sao mà than đau bụng và ngày một võ vàng. Vợ đi Phú theo sau. Đến ngã ba nàng không đi thẳng mà rẽ trái. Đó là đường đến trạm bảo vệ dã chiến giữa rừng. Phú lọt vô lúc đôi gian phu dâm phụ đang ôm nhau ngáy khò khò. Gian phu là trưởng bảo vệ. Thời điểm nầy bảo vệ viên đã đi truy lâm tặc trong cùng cốc. Thằng bị cắm sừng cau đôi mắt mí lót và thấy một khẩu Ak đang treo trên vách chòi. Đã qua ba năm tác chiến nên Phú rất sành súng đạn. Phú lấy khẩu súng và lên đạn cái rẹt. Gian phu giật mình thức giấc  tung mình bỏ chạy. Phú làm một phát. Ông con bị trúng vô giò la như giặc dậy. Phú xỉa súng vô dâm phụ làm phát nữa. Hên thay súng hết đạn.

Phú bị hốt cốt đi một mạch những mười năm sau mới về. Bà goá phụ cũng đi luôn. Lúc nầy mới biết vì sao bà ta ở vậy nuôi con. Ung thư giai đoạn cuối nghe con bị bắt vì giết cán bộ thì chết quách cho khỏe thân. Phú về thì kẻ cho mọc sừng đã là vợ chính thức của tay bảo vệ bị gẩy giò. Đời quá xá buồn cười. Năm sau Phú có vợ. Đó là lý do vì sao những ba mươi hai tuổi Phú mới lập gia đình.

Còn sao mà sống với vợ và một cháu nội thì đặc biệt hơn.

Năm hai mươi tuổi thằng con trai dẫn về một má hồng môi đỏ giới thiệu vợ. Nhỏ này với Phú cũng không lạ. Mồ côi mẹ, cha lấy vợ khác nên nó khổ lắm. Con nhỏ đi phụ hồ trong công trường, chủ thầu sai nó bưng gạch xách hồ cho cha con Phú. Vậy là hai đứa quen nhau. Phú chưa kịp trở tay thì con nhỏ đà lớn bụng. Thôi thì về ở với ba má luôn cưới hỏi cũng vậy à con ơi. Nhà Phú vui như hội khi đứa cháu nội ra đời. Vui đó buồn cũng đó luôn. Cháu nội được hai năm tuổi thì ba má nó qua đời vì bị tai nạn giao thông. Chiều thứ bảy chủ thầu cho thợ lai rai ba sợi. Phú không lai rai mà làm hai ly vô một chỗ rồi xin phép ra về. Thằng con nhậu và con vợ ngồi chờ. Tuổi trẻ nên thị tài, tài chi không thị lại thị cái vụ rượu, thằng con uống lút ga. Về chả biết nó tông người ta hay người ta tông nó. Hai chiếc quây tàu tanh banh và bốn nhân mạng hồn du địa phủ. Chết sạch nên chả còn ai mà truy căn vụ việc. Thân nhân ai nấy đem về chôn.

Đó là lý do vì sao Năm Phú một vợ một cháu nội.

***

Cháu nội của của vợ chồng Phú ngoan và đẹp như minh tinh màn ảnh Việt Trinh trong phim Xương rồng đen vậy. Trong phim này Việt Trinh đen thùi chứ nó trắng bóc. Tóc dài, cằm chẻ môi trái tim đỏ như máu… nó bước – chao ôi – mềm như lụa và ăn nói nhỏ nhẻ nhò nhè dịu dàng hết biết luôn. Chưa hết. Con nhỏ học giỏi cực kỳ. Cái giỏi này phải nói Năm Phú góp công lớn. Đã nói Phú tú tài chứ đâu có ít. Thằng con trai duy nhất Phú kèm sát rạt, tại nó bướng bỉnh bỏ học giữa chừng đi làm thợ chứ nào thua kém chi ai. Con nhỏ thì khác nghe. Dưới sự kèm cặp của ông nội nó có chục cái giấy khen học sinh giỏi cho năm năm tiểu học. Bốn năm cấp hai thì tám cái và một bằng khen học sinh giỏi cấp huyện. Sợ chưa? Chiếc xe đạp Martin 107 nó đạp lên trường cấp ba là quà tặng chứ không phải của Năm Phú mua đâu. Cả sách vở cặp học cũng vậy luôn. Huyền – tên con nhỏ – là niềm vui là sự sống là hạnh phúc của toàn thể bà con cô bác ấp Mả Đá chứ không riêng gì của vợ chồng Năm Phú. Chưa thấy đâu trên trần gian ô trọc nầy thiên hạ khoe rằng con đó thằng kia ở xóm tao vậy vậy và vậy vậy cả. Thường thì chỉ có chê. Điều nầy chả cần lý giải chi cho mệt óc. Dân ấp Mã Đá mười nhà đúng mười nghèo mướt. Nghèo đi kèm với đông con thì tất nhiên dốt là phải quá. Nên chi bà con xem nhỏ Huyền như gương soi cho con em cũng là phải lắm.

Vậy mà đùng một phát con nhỏ lăn ra chết.

Một cái chết vô cùng khác biệt. Nó không giống với bất kỳ một cái chết nào trên trần thế nầy. Ngay cả những tay viết tiểu thuyết lừng danh cũng không thể tưởng tượng ra một cái chết như vậy để mà viết.

Lúc ấy già Năm Phú đang tòng teng trên võng:

  • A lô… Năm Phú hả… xuống Ngã Ba Lộ Mới gấp…

***

Ngã ba nơi bé Huyền tử nạn đã có từ thời cố luỹ cô lai. Vậy mà từ khi ông nhà nước cho rãi nhựa đường chả hiểu sao lại gọi Ngã ba lộ mới. Thôi kệ đi. Thiên hạ cho chết tên thì mình cũng gọi luôn cho nó vần. Cách ngã ba nầy chừng chục mét có một garage chuyên sửa vá ép các loại ô tô. Nhỏ Huyền đạp xe vừa ngang qua garage thì một tiếng nổ vang lên. Lúc đó là sáu giờ hai mươi tám phút. Vì sao lại chính xác đến từng phút là do tay hon da ôm tên Hải hỏi chủ quán cà phê cóc gàn đó mấy giờ rồi. Tiếng nổ ấy xuất phát từ cái garage. Cũng chả có chi quan trọng khi một cái bánh xe đang bơm hơi bị nổ.  Quan trọng là con Huyền bị chết tức tưởi – cực kỳ tức tưởi – sau cú nổ định mệnh.

Một cái bánh xe tải gồm có một la-răng tiếng việt gọi là mâm. Nó gồm có năm cái lỗ to chà bà lửa. Cái mâm đi kèm một vòng thép. Vá ép xong thợ sẽ cho ruột vào vỏ, lót thêm một miếng yếm cao su, sau đó mới cho tất cả vào mâm tức la-răng, cuối cùng mới cho cái vòng bằng thép vào để khoá. Trước khi bơm người thợ sẽ thọc vào một trong năm cái lỗ một thanh thép đặc ruột to bằng ngón chân cái dài một mét. Trường hợp đang bơm mà bị nổ thì cái vòng thép sẽ bị thanh thép chận lại. Nếu không chận, vòng thép sẽ gây hoạ không lường được nếu bị nổ.

Và thiên hạ đang trong quán cà phê cũng như dân cư hai bên đường tại ngã ba lộ mới chắc chắn thằng bơm xe đã không thọc thanh thép vào mâm xe. Chính vì vậy cái vòng thép bị lực đẩy tống bay lên và rơi tự dọ – lạy chúa – trúng ngay đầu con bé Huyền đang đạp xe chạy ngang. Con bé té xuống đường chết tức khắc. Cái vòng thép cả năm ký lô trên độ cao cả chục mét thì sống sao nổi cao xanh ơi? Tất cả chứng kiến cái vòng sau khi gây hoạ còn ưỡn ẹo thêm vài vòng rồi đứng lại cà rập cà rình một lúc mới hoàn toàn yên vị.

Người ta bu lại chỗ con bé nằm. Gọi điện cho công an và Năm Phú. Bà Năm đang trong chợ Mả Đá cũng bỏ chảo chả cá chiên tung người bỏ chạy. Hon-da xe đạp rùng rùng theo cho biết, Vừa chạy vừa hỏi sao? Cái gì? Con Huyền cháu nội Năm Phú hả? Nó làm sao? Và tất cả dân của Mả Đá rùng rùng rơi nước mắt khi con bé họ thương yêu chết rồi. Nó nằm kia kìa, và chết rồi. Y như nó đang ngủ trời ơi. Ông trời ơi. Ông không có con mắt. Đúng vậy. Nếu có ông không thể để vợ chồng Năm Phú vào đoạn trường. Nhìn bả kìa… khóc đi bà Phú, khóc đi bằng không bà chết vì đứt ruột cho coi. Bà Phú không khóc cũng như ông Phú không khóc. Ông ta đứng nhìn cái vòng thép định mệnh. Và rồi xe của bệnh viện tới kèm theo một đặc chủng của công an. Người ta đến lập vi bằng ăn kết ăng co, lấy lời khai nhân chứng. Có cả mấy người xác nhận rằng… rằng… rằng… vậy… vậy… vậy… Con nhỏ được đưa vào bệnh viện để khám nghiệm tử thi. Sau đó người ta kêu Năm Phú đến ký tên. Ký xong Phú quay lại thì cái vòng sắt đã bị ai đó lấy mất.

Không như bao kẻ lìa đời đang trong nhà vĩnh biệt của bệnh viện huyện. Không một trại nào trong ba trại hòm của thị trấn đoái đến cái xác của con Huyền. Cả cái trại của một đại gia trong xã nhà cũng vậy luôn. Chả là nhà ông Phú nghèo. Ngoài trừ chỗ chui ra chui vô chả có cái chi. Chừng như bọn chủ trại sống và giàu có bằng xác chết không đánh ra vị tiền trong cái chết này. Bán hòm và lo tang ma cho hộ nầy thì không chừng mất vốn như chơi. Vậy nên nhỏ Huyền về nhà bằng xe của bênh viện. Cái băng ca vừa vô nhà thì bà Phú lăn ra đất. May quá. Có bác sĩ trên cứu thương. Người ta tìm mọi cách để cấp cứu nhưng cuối cùng bà bác sĩ nói rất tiếc tôi đã cố gằng hết sức… xin thành thật chia buồn… Vậy là hội bảo thọ xã phải tay vụ hàng họ để người chết về nơi an nghĩ.

Nhưng Năm Phú từ chối ba cái hàng từ thiện. Ông ta đến tận trại hàng lớn nhất thị trấn có xe rồng đưa đón hẳn hoi, có cả sư thầy tụng đưa hồn người chết về  cực lạc. Con người ta sống cái nhà thác cái mồ. Năm yêu cầu cả mả đá hoa cương mới chịu. Chủ trại Ngũ Hành đắc co cái rụp khi Năm Phú đưa sổ đỏ cái nhà một trăm mét vuông. Xong đám tao kêu bán trả liền cho bây. Bây giờ bây và tao lên uỷ ban xã yêu cầu ký xác nhận. Ô kê chớ hả? Cái nhà tao ít cũng trăm ngoài triệu. Hai bà cháu đi rồi tao ở chi căn nhà này nữa…

Sau lễ hai mươi mốt ngày dân xóm Mả Đá vấn kế cho Phú rằng phải kiện thằng chủ garage. Buộc nó phải chịu trách nhiệm. Vụ này là hình sự luôn chứ dân sự là chuyện nhỏ. Có cả năm người chứng là họ thấy cái niền sắt rơi trúng đầu cháu nội ông. Không làm ra lẽ thì Phật tổ tụng con nhỏ cũng không siêu chứ ba thằng thầy tụng của trại hàng, thứ mà vừa tụng vừa nốc rượu thì chả ra cái ôn dịch gì:

  • Tui nói ông nghe kịp không ông Năm?

Năm cười:

–   Kiện? Kiện ai? Kiện cái vòng sắt hay kiện thằng chủ garage? Mày tưởng tao chưa đi hả? tao đến xã xã nói ngoài phạm vị kiểm soát. Biểu tao lên thị trấn, tức là nơi cháu tao chết. Trấn chỉ lên huyện. Huyện kêu về xã xác minh. Mấy thằng chứng ở đâu mày biết không? Toàn khách uống cà phê xong là đi. Mày biết chủ quán cà phê với thằng Garage là chi không? Là anh em cọc chèo. Tao nghe nói chính nó đem cái vòng sắt phi tang khi công an kêu tao đến ký giấy tờ chi đó. Mày biết thằng honda ôm Hải đang ở đâu không? Thằng Hải là cái thằng xác định cháu tao bị cái vòng sắt rớt trúng đầu lúc sáu giờ hai mươi tám phút đó. Ừ… nó đang ở bệnh viện. Chả biết ai cho nó ăn đòn. Tao lên xin nó làm chứng, nó nói tha cho tui ông Năm ơi. Tui chưa muốn chết. Tụi nó giàu có. Con kiến kiện củ khoai là không được mày ơi. Thời nào cũng vậy đa kim ngân  phá luật lệ. Tao già rồi sống nay chết mai kiện cáo làm chi nữa? Con người ta sống gửi  thác về và chết là hết. Là yên vui.

Nhưng Năm Phú không hề yên vui. Sau đám ma ông ta như một kẻ vô hồn. Cứ cái võng đằng trước nhà Phú ngồi lảm nhảm bên bình rượu hai lít. Ai đi ngang cũng biết rằng Phú tuyệt vọng. Nghĩ đi. Mười năm tù tội. Con trai con dâu mất khi tuổi đời còn quá trẻ. Cháu nội còn trẻ hơn và người đàn bà hú hí tuổi già cũng bỏ mà đi thì đời còn chi đáng sống? Nhìn Năm Phú chủ trại hàng Ngũ Hành cũng không đang tâm đòi nợ. Không mất đâu mà lo. Ông ta mà chết thì cho thêm cái đám nữa rồi lấy cái nhà cũng được. Dân tình ứa nước mắt bình rằng:

–  Chỉ có cái chết mới giúp ổng thoát khỏi cái đau lòng này. Mong ông chết cho rồi. Ai nói sự sống là trân quý chứ với ổng bây giờ là hoả ngục.

Ngồi chán Phú lếch thếch bước. Tay bình rượu vỗ bụng mà hát. Hát rằng : “Quân bất kiến Hoàng Hà chi thủy thiên thượng lai. Bôn lưu đáo hải bất phục hồi. Làm chi cho mệt một đời… Phú điên rồi. Điên thiệt rồi. Lão điên ra đến chỗ đứa cháu nội nằm chết thuở nào. Cứ thế ngồi. Riết rồi người ta phải dìu lão vô lề để đường cho xe chạy. Trong lề lão điên cứ đăm đăm nhìn  cái garage – nơi mà – đã tạo ra cái chết cho cháu nội và vợ lão.

Phú cứ nhìn miết. Ngày nào cũng nhìn, có hôm xách bình hai lít ngồi trước cửa garage. Con vợ thằng chủ ẳm con ra dúi vào tay lão điên mớ tiền. Lão thích thú cười… khì khì khì… rồi đi. Rồi đến. Ngồi. Ngồi miết. Có hôm thằng chủ bực quá chửi con vợ:

–  Dẹp cái vụ cho tiền dùm tao cái. Tại cho nên lão tới hoài biết không? Đi đi lão già. Đù má… vụ nầy tao tốn nhiểu lắm rồi à. Không đi tao xịt chó cắn chết mẹ mày bây giờ.

Nói làm làm thằng chủ garage huýt con chó. Chó giữ nhà to như con beo xồ ra ngoạm gấu quần Năm Phú. May quá con vợ thằng khốn gào lên:

–   Ông ác vừa thôi. Cháu người ta vì bất cẩn của ông mà chết đó. Vợ người ta vì vậy mà ra đi. Ông chả cho người ta một chút để tang ma. Trong khi ngày nào cũng chung chi nhậu nhẹt…

  • Câm cái họng mày lại. Tao đập chết bây giờ.
  • Đập đi. Mày đập đi. Tao thách đó. Bê tô – bê tô là tên con chó – vô nhà.

Con chó thả gấu quần và Năm Phú lại bước.

***

Sáng hôm đó đích thân thằng chủ garage chận lão điên lại:

  • Cút đi, thằng già.

Thằng già mở nắp cái can nhựa hai lít và… nhanh như chớp Năm Phú tạt vào mặt thằng vá ép ô tô, kẻ đã làm chết con bé tội nghiệp. Một tiếng rú hãi hùng vang lên, thảm khốc không thể nào tưởng được. Thằng chủ garage vừa lăn lộn vừa rên la. Hai bên đường thiên hạ xúm đông xúm đỏ vây quanh. Và ngay lập tức cợ sự được hiểu ngay tức khắc. Nạn nhân bị tạt acid. Trời ơi thảm khốc quá. Thằng chủ tiệm cà phê cọc chèo với nạn nhân nhìn Năm Phú. Nhưng gã không dám bước tới vì trên tay Phú bây giờ thêm một cái ca nhựa. Chất lõng trong ca đang là acid chắc luôn:

–   Mày bước tới – Phú nói tỉnh khô, rõ ràng ông ta đã giả dại – là đừng trách tao cho mày ăn luôn acid. Mày, đích thân mày dấu cái vòng sắt giết cháu nội tao. Nhưng tao không chấp mày. Hiểu chưa? Anh em mày là đồ độc ác. Lý ra tụi mày nên thương lượng với tao một tiếng, tao sẵn sàng cho qua và chấp nhận cháu tao chết như một tai nạn. Đằng này tụi mày bỏ tiền ra mua bình yên mà chả nghĩ đến niềm đau của tao…

Đúng lúc có tiếng hụ còi của đặc chủng và cứu thương trờ tới. Chủ vá ép ô tô được đưa đi cấp kỳ. Hai cảnh sát nhảy xuống với súng ngắn trên tay:

  • Bỏ bình acid xuống nếu không tôi bắn – Một cảnh sát ra lệnh.

Nhưng đã có chủ ý từ trước Năm Phú nhảy đến và tạt ca aid về phía viên cảnh sát. Hốt hoảng anh ta lùi lại và pằng pằng pằng, ba phát súng vang lên. Năm Phú sựng người lại. Ông ta quăng bình acid vào vệ đường.

Chết.

Ngày nay ai về ngã ba lộ mới sẽ thấy một tật nguyền không tai không mũi và mù mắt lê cây gậy vừa đi vừa la vé số, vé số đây…

       Nguyễn Trí    

 

 

 

 

rời rạc 6

phuonguy

 

cuộc trùng vây
những linh hồn
lau xanh ẻo lả
ngậm nắng chiều
mòn tắt bên sông
người đốt lửa
lòng ai than đỏ
buổi u mê
khúc hát tự ru mình
câu thơ dậy từ trầm mê
lạc vận
buổi hàn vi nước mắt cũng chối từ
người trổi dậy từ vô thanh khốn đốn
âm vực tràn
nhức nhối những câu ru.

PHƯƠNG UY