SÁNG MỒNG MỘT Ở QUÁN CÀ PHÊ

quanduong
Mồng một tết, bạn gặp ta ở quán
Bạn chúc ta năm mới được phát tài
Ta chúc lại bằng vài câu thông lệ
Xong hai thằng kéo ghế cùng líu lo

Ta gọi một ly cà phê sữa
Quán thưa người mặc sức hỏi thăm nhau
ta hỏi : hôm nay sao không đi làm cha nội
– tết nhất lặn ở nhà một bữa… đâu có sao

Tết với nhất. Hồn mấy thằng xa xứ
Trôi lang thang vất vưởng về quê nhà
Bạc đã đủ thân già mệt mõi
lá úa vàng chờ rụng về cội xa

Bạn hỏi có cách gì không chảy máu
khi bị ai chặt mình rơi đầu
Nam Quan – Việt Nam như thân với thể
bị cắt dứt lìa làm sao không đau

Bạn hói có cách gì mà vẫn sống
Khi bị ai bóp mũi bịt mồm
Hoàng Sa Trường Sa là xương liền máu
Đâu có lý gì còn thở lại đem chôn

Sáng mồng một lạnh run gần chết
tuổi già sức yếu lạnh teo gân
Bạn hỏi làm ta rợn tóc
nhớ nhà… bạn hỏi…. thêm nhức xương

Ta hỏi ngược lại câu bạn hỏi
Bạn cũng như ta ngọng câu trả lời
Ai bảo ngày xưa không giữ nước
Bây giờ hỏị
Biết hỏi ai đây

Đất biển nhức mình , bạn và ta nhức mẫy
Nước Việt Nam từ Nam Quan đến Cà Mau
Điều rất rõ họ lại cố tình không dám rõ
Bạn và ta từ thua tới thuạ

Sáng mồng một gặp nhau ở quán
Cà kê dê ngỗng xong rồi về
Dỗ giấc, ráng giữ mình tới sáng
Đời còn dàị
Đường chồng thêm nhiêu khê

Quan Dương

Mẹ và những cuốn sách.

trachantranhuuhoi

Cuối năm, chuẩn bị đón tết, vợ và các con bận rộn quét, lau mọi ngõ ngách trong nhà ra tận cửa. nước lênh láng từ tầng trên xuống tầng dưới…Ông Cần vì cái chân cụt, không làm được việc gì nên ngồi trên giường sắp xếp lại cái tủ sách, làm cho có việc.
Từ ngày vào Sài gòn, không biết đã là định cư chưa, bởi có nơi ông đã ở tới 40 năm, tưởng sẽ là vĩnh viễn, thế mà rồi phải bán tất cả để vào ở cùng các con. Vào đây, ông mua lại căn nhà, bé hơn nhà ông ở quê, bé hơn nhiều lắm, nên ông cho cái tủ sách nằm ngay trong phòng ngủ, ở cuối giường. Cũng hay, xưa nay ông thích nằm đọc sách hơn là ngồi.
Hôm chuẩn bị chuyển nhà, ông quyết định đồ đạc tủ bàn bỏ lại hết, vào trong này mua lại. Chỉ có sách là ông tiếc, không bỏ hết được, lọc lựa thế nào cũng còn mấy thùng giấy cứng. Vào đây hai năm, mua thêm một ít, bạn bè tặng một ít thành nhiều…
Miên man với những cuốn sách, rối nhớ tới những ngày mẹ còn sống, những năm tháng khốn khó 40 năm trước, những cuốn sách của ông đã làm mẹ khốn khổ hơn, ông ứa nước mắt vì thương mẹ…
Ngày ấy, ông chỉ mới hai mươi, mẹ đã còng lưng theo năm tháng cực nhọc từ hồi nào rồi, thủa chưa rời quê vì bom đạn.
Theo đoàn di dân vào lập nghiệp nơi núi rừng Ninh Thuận này, những luống khoai, đám mì càng làm lưng mẹ còng hơn.
Chính thể đổi thay, kéo theo mọi sự thay đổi. Gia đình ông bấy lâu nhờ vào đồng lương của người chị, anh rể là lính. Nay không còn lương tháng nên vất vả hơn.
Mấy tháng sau khi tạm ổn định việc đưa đi học tập cải tạo các đối tượng thuộc chế độ trước. Ủy ban Quân quản có lệnh thu giữ và tiêu hủy văn hóa cũ, không phân ra loại sách nào là đồi trụy hay phản động…mà là tất cả!
Hồi còn đi học, lâu lâu chị cho tiền mua sách, ngoài sách học, thừa tiền ông mua thêm những cuốn sách mà ông thích, lần hồi cũng được chừng mấy chục cuốn.
Nhìn kệ sách, vuốt ve, lật xem từng cuốn…ông quyết định không đem nộp, biết rằng những cái tên tác giả nước ngoài trên bìa sách có thể lả tai họa! Ông lấy một cái bao gạo, loại bao 50 kg, sắp gọn tất cả vào, rồi cho xuống gầm giường, đẩy sâu vào góc tường, dự tính nếu nghe có đi kiểm tra thì mang vào rẫy dấu đâu đó.
Cả thôn rầm rộ đem nộp sách, truyện…Có người một hai cuồn, có người mang cả chồng báo Playboy, có người là thầy giáo dạy học bao năm, cho xe kéo đến mấy thùng, toàn: Tự điển, sách Nghiên cứu Giảng dạy, Văn học, Lịch sử Thế giới…Tất cả được cho vào kho trụ sở. Bạn thân ông làm Tuyên Văn Giáo thôn, từng học Đại học Văn, ban Việt-Hán tại Đại học Đà lạt, cả hai đứng nhìn mà lòng tiếc xót!
Chừng hai tháng sau ngày 30/4/1975. Ông cùng bạn được gọi lên trụ sở thôn. Cán bộ trên xã về lảm việc, bạn ông được giao cho làm Tuyên-Văn-Giáo, còn ông, cho đi học hai tuần về làm Kinh Tài thôn.
Bạn ông cũng như ông, thương mấy cuốn sách lắm, nhưng cha của bạn ấy là Công chức chế độ cũ, không cho ông giữ lại, buộc phải đem nộp hết! Hai đứa phụ bưng các thùng sách vào kho mà tâm trí cứ băn khoăn không biết người ta có duyệt, chọn lọc loại nào cần tiêu hủy, loại nào cần trả lại hay không. Chẳng lẽ tất cả đều là đồi trụy và phản động hết sao!?
oOo
Lâu lắm rồi, kể từ ngày đem sách đến nộp, không thấy ai nhắc nhở gì đến chuyện tiêu hủy hay giải quyết thế nào về số phận của những cuốn sách, những chỗ dột làm ướt một số, một số bị các ủy viên lén lấy về làm giấy đi vệ sinh.
Căn phòng được trưng dụng làm kho cũng là phòng đặt máy phóng thanh, trong các ban ngành, Kinh Tài là ban thông báo nhiều hơn hết, từ gạo, mắm, dầu lửa đến vải, nilon…Hằng ngày ông vào thông báo trên loa phóng thanh cho bà con trong thôn, cứ thấy đống sách là ông xót ruột mặc dù chẳng phải của mình.
Một hôm, trong trụ sở thôn không có ai, ông nấn ná ngồi lại sau khi thông báo xong. Lật xem mấy cuốn, toàn sách của những tác giả ông ưa thích: F. Dostoievsky, E. M. Remaque, A. Camus, J. P. Sartre, V. Gheorghiu…Nhiều tác giả, tác phẩm mà Cha Mai Nghị, dạy môn Triết ông hồi còn đi học hay nhắc đến nhưng ông chưa được đọc. Số sách này phần nhiều ký tên Lê Thanh Dân, một thầy giáo dạy Văn ở Quy Nhơn đem nộp. Ngày thầy đem sách đến, ông đứng bên thầy, nhìn thầy húng hắng ho. nhìn nước da tái xanh và đôi mắt đỏ như muốn khóc mà thương…
Biết chắc là không có ai, ông lấy cuốn “Anh em nhà Karamazov” của Dostoievsky, cho vào chiếc túi mang về. Cuốn này, bao nhiêu lần ông đứng ngắm nó trong hiệu sách, nhưng không dám hỏi mua vì biết chắc rất đắt, nhìn độ dày của nó cũng đủ biết! Ông khóa cửa phòng lại, đi ra mà lòng lo sợ đủ thứ chuyện, lỡ có ai đi vào, dọc đường gặp ai đó tò mò hay một cán bộ xã…Ông đi như chạy, vào trong nhà, ngồi trên giường mà tim ông đập như vừa chạy bộ mấy cây số, vội vàng cho xuống gầm giường, dự tính vài ngày sau mới lôi ra đọc.
Được một lần, đọc xong, rồi những lần sau ông lấy hai cuốn, ba cuốn tùy độ dày mỏng của những cuốn sách. Tò mò về Chủ nghĩa Cộng Sản, ông lấy những cuốn liên quan về Chủ nghĩa này, đọc ngấu nghiến hằng đêm. Đọc xong, ông cho thêm vào bao gạo, chẳng bao lâu, phải kiếm một cái bao khác…Cứ thế, lấy về, đọc xong cho vào bao. Đã bốn cái bao đầy mà không ai phát giác hay nói chuyện mất sách trong kho, chừng như ai cũng có lấy về đi vệ sinh, nên chẳng ai thèm thắc mắc gì!
Có một hôm, cán bộ phụ trách an ninh, họp toàn dân phổ biến lệnh kêu gọi những ai còn tàng trữ sách báo chưa nộp thì đem nộp tiếp, phát giác ai còn cất giấu thì tố cáo với chính quyền để thu hồi…Ông ngồi nghe mà lo sợ cho những cuốn sách, lo sợ cho bản thân sẽ bị quy là ngoan cố hay phản động! Ông muốn đem đi nộp nhưng lại ngại là sẽ bị hỏi sao lâu nay không nộp!
Mấy ngày sống trong âu lo, cuối cùng, ông quyết định sẽ dần dần mang vào đám rẫy gần nhà. Khi đã chuyển vào hết, mẹ cùng ông đào một cái hồ, lót một lớp nilon ở dưới, phủ một lớp bên trên rồi lấp đất lại. Cả hai mẹ con vừa đào vừa hồi hộp, thỉnh thoảng ông chạy ra đường đi nhìn trước nhìn sau…Kể từ hôm đó, ông không đọc mà cũng không lấy thêm cuốn sách nào!
Chừng hai tháng sau, cả ông và bạn đều bị cho nghỉ việc thôn. Một ông lớn tuổi, từ Quảng Ngãi vào được thay ông làm Kinh Tài, một anh bên chi đoàn Thanh Niên thay bạn ông làm Tuyên Văn Giáo.
Nghỉ việc thôn, bạn ông bị gọi đi Nghĩa vụ Thanh Niên Xung Phong, còn ông, có mẹ già nên được miễn.
Ở cuối đám rẫy cùa mẹ, có một bộng mối rất lớn, một hôm trời trở mưa, mối bay đầy, bay cả vào mặt ông. Lo cho mấy bao sách, ông bàn với mẹ đem về lại nhà, thời gian này thấy cũng êm êm, không còn nhắc chuyện nộp sách nữa. Hai mẹ con lại đào lên rồi lần hồi chuyển về, dấu sau đám mì của lô gia cư. Những lúc mưa, không có ông ở nhà, một mình mẹ lôi vào nhà từng bao thật vất vả. Ông lại đọc những cuốn chưa kịp đọc, chuyền cho những bạn thân của ông cùng đọc.
oOo
Anh rể đi cải tạo về, làm rẫy chỉ khoai lang và mì không đủ qua ngày bèn đưa chị và đứa con vào Long Khánh làm ăn. Cũng không khấm khá hơn là bao. Nhà chỉ còn ông và mẹ.
Kinh tế càng lúc càng khó, ông bèn đi buôn tàu lửa cùng những người dân trong vùng. Dân buôn xứ ông đầy sân ga…Đi buôn cũng không đủ gạo cơm mắm muối, phải ăn độn mì, khoai… Một hôm, mẹ ngại ngần nói:
– Con lựa cho mẹ mấy cuốn sách đã đọc rồi.
– Làm gì vậy mẹ?
– Mẹ bán cho mấy người bán hàng, họ gói hàng.
– Sách khổ nhỏ họ có mua không?
– Họ cắt nhỏ gói bột ngọt, ớt bột, tiêu…
Ông ra sau nhà, giữa mấy luống mì ngồi lựa, cuốn nào cầm lên cũng tiếc! Ông đem cho mẹ năm cuốn. Mẹ cho vào bao mang ra chợ!
Vốn không có, đi buôn càng khó. Chái bếp nhà ông đã dỡ hết tôn đem bán lần hồi, tội nghiệp mẹ phải ngồi nấu nướng giữa nắng, những lúc mưa phải dời bếp vào trong nhà! Vốn cứ cụt dần vì vừa ăn, vừa bị bắt mất hàng.
Chị cả ông ở Quảng Trị vào thăm, mẹ và chị ôm nhau khóc suốt mấy ngày. Hôm về, chị bảo ông cùng ra quê. Mấy ngày về quê không vui, chỉ gặp được các cháu nhưng chúng còn nhỏ, ông dành một ngày đi thăm mộ cha và bà con, hôm sau ông vào lại. Đứng trước sân nhà, chị sụt sùi:
– Chị muốn đưa mẹ và em về làng, nhưng em không làm ruộng Hợp tác xã nổi đâu. Chị còn mấy chỉ vàng, em cầm hai chỉ làm vốn mà buôn bán.
Ông òa khóc, còn khóc to hơn chị! Nhìn túm gạo chị ông cột sẵn cho ông mang vào, chỉ chừng 10 kg, nhưng ông lo không biết có mang vào được không!
– Em sợ không mang gạo vào được, hay chị để lại, có vốn rồi, em vào đi buôn mua gạo trong đó cũng được, mất uổng lắm!
– Mất thì thôi em ạ.
Chị đưa ông ra cổng làng, ngay trạm kiểm soát này đã không qua được. Chị năn nỉ mãi nhưng cũng đành mang về. May mà gặp thằng cháu trong họ gác trạm, nếu không thì đã bị tịch thu.
oOo
Có hai chỉ vàng, ông bán đi làm vốn, theo một người bạn đi buôn xe đạp từ Sài gòn về bán trong địa phương. Một lần đi, ông mua hai chiếc, thỉnh thoảng có người đặt mua xe cũ, ông mua thêm một chiếc theo ý người đặt. Đi buôn xe đạp thì đi bằng xe đò, ít vất vả nhưng hồi hộp hơn là đi xe lửa, bởi phải qua nhiều trạm kiểm soát, nhờ tài xế và lơ xe năn nỉ cũng qua lọt. Không chi cho trạm thì chi cho tài xế. trạm tốn nhiều, tài xế ít hơn!
Ông đi được chừng sáu chuyến, mẹ mừng vì bớt nổi lo gạo mắm. Chuyến cuối, ông từ Sài gòn về vừa vào nhà, mẹ ghé tai ông thì thào:
– Họ đến tìm con!
– Ai vậy mẹ?
– Du kích và công an!
Ông nhìn mẹ lo lắng, nói:
– Mình có làm gì đâu mà sợ mẹ, chắc chuyện đi buôn thôi!
Mẹ không bớt lo âu nhưng cũng xuống dọn cơm, hai mẹ con vừa ngồi vào bàn thì ba du kích cùng công an xã đi vào:
Với lý do không xin phép đi lại, anh bị bắt. Ở trại tạm giam huyện, anh được biết thầy dạy Lý- Hóa của anh và ba người bạn học khác, bị bắt trước anh nhưng cũng cùng ngày!
Hơn hai năm bốn tháng, ông trở về cùng mẹ. Lệnh tha ghi tội danh là: “Nhen nhóm âm mưu lật đổ chính quyền”. Thầy ông phải ở thêm ba năm nữa mới được tha.
Chiều hôm trở về, mẹ mừng quá, hét lên khi ông vào nhà. Đôi tay gầy guộc ôm chặt lấy ông khóc mếu máo!
Sáng hôm sau, ông hỏi mẹ về mấy cuốn sách. Mẹ buồn rầu:
– Mẹ bán dần dần đi thăm nuôi, còn mấy cuốn thôi con ạ!
Anh cười lớn, nói cho mẹ yên lòng, mặc dù còn nhiều cuốn ông chưa kịp đọc:
– Hết thì thôi, con đọc hết rồi mẹ ạ.
Những ngày trong tù, hàng tháng mẹ đi thăm đều đặn. Mẹ kể chuyện làng xóm, người xắt cho ký thuốc rê, người cho đường tán, bánh tráng…Mẹ không tốn gì, chỉ bán vài cuốn sách mua cho anh ít đồ ăn ngay như bánh mì, xôi, gói chè, nải chuối…
Mẹ lôi cái bao gạo dưới gầm giường, anh sắp mấy cuốn sách ra xem: “Anh em nhà Karamazov” của Dostoievsky, “Exodus” của Leon Uris, “Hố thẳm thư tưởng” của Phạm Công Thiện, “Giọt lệ và nụ cười” của Kahlil Gibran và “Sử thi Mahabhahta” của Ấn độ.
Những cuốn sách này dày hoặc do bìa mới, mẹ cho là hay, có lẽ ông quý hơn cả nên chừa lại!
– Mẹ bán luôn đi, con cũng đã đọc những cuốn này rồi.
Bữa cơm trưa có thịt bò nhờ mấy cuốn sách nặng ký! Ông thầm nghỉ bữa ăn gồm: Văn học Nga, Ấn độ, Ả rập, Việt nam và Mỹ(*) mà không thịnh soạn sao được! Ông cười, gắp miếng thịt bò bỏ vào chén mẹ:
– Thịt bò ngon quá mẹ ạ, mẹ cùng ăn chứ sao con ăn hết được!
– Lâu lâu mới có người ở Động Mé lên bán xương bò của HTX, mẹ mua được cái xương, lóc thịt ra đó.
Năm cuốn sách dày và hay, mua được cái xương bò. Ông muốn cúi đầu tạ lỗi, tạ lỗi với những ai đã viết, đã dịch, đã bỏ công sức làm nên những cuốn sách!

Sài Gòn, Tháng I, năm 2016.
Trạch An-Trần Hữu Hội
————————————————————————————————
(*) – “ Anh em nhà Karamazov” của Dostoievsky: Nga.
– “ Exodus- Về miền đất hứa.” của Leon Uris: Mỹ.
– “ Hố thẳm tư tưởng” của Phạm Công Thiện : Việt Nam.
– “Sử thi Mahabhata”: của: Ấn Độ.
– “ Giọt lệ và nụ cười” của Kahlil Gibran : Ả Rập.

Đời lặng yên như rượu

nguyenminhphuc

Không ai đến bên cõi ngày xa lạ
Nằng trầm luân và mưa cũng mịt mùng
Sương khói trắng bay trong chiều vô ngã
Lặng yên ngày như chén rượu hư không

Người cũng chỉ như vũng sầu năm tháng
Đến rồi đi rồi xa vắng . Ôi . Buồn
Ngó lại xem trong úa sầu dĩ vãng
Còn lại gì khi tình đã mưa tuôn

Đời có thể đã một mùa giông gió
Cuốn tôi đi về phía cuối chân trời
Hình như có ai về con phố đợi
Sợi mưa buồn làm sao níu đơn côi

Nên đời sống vẫn hoài như lá mục
Sầu trên cây trái đắng rụng hiên trời
Ngậm cay đắng nghe đời buồn rẽ khúc
Thả lên ngàn từng nỗi nhớ chơi vơi…

Nguyễn Minh Phúc

NỤ HÔN THÁNG GIÊNG

linhphuong

Nụ hôn anh định cư lâu rồi trên ngực em
Bỏ giấc mơ một đời phiêu bạt
Để trở thành những câu thơ hạnh phúc
Níu tuổi thanh xuân về với nhan sắc ngày nào
Tháng giêng chân trần buốt nhức cơn đau
Anh xoa xoa sợi lông tơ em biến khúc
Bản giao hưởng số 6 của nhạc sĩ thiên tài Beethoven bật khóc
Định mệnh tình yêu là đường chỉ tay sinh tử cuối cùng
Nụ hôn anh định cư lâu rồi trên đôi môi đỏ màu son
Ngọt ngào như mật ong hạ vàng con ve sầu ngân tiếng hát
Thèm phút say mê cởi xiêm y sống theo bản năng gốc
Không dối lừa-không màu mè đạo đức dở hơi
Phong linh lanh canh – trăng khuyết chờ mùa gió thổi
Tháng giêng những người đàn bà đi tìm nửa của mình
Nửa của mình lạc đâu đó trong thành phố đầy mưu mô toan tính
Sau ngày Sài Gòn đổi tên
Nụ hôn anh định cư lâu rồi giữa trái tim
Giấu sau bầu vú nhỏ hình quả cam thênh thang bình nguyên màu lụa bạch
Mờ mờ khói sương anh giấu khuôn mặt
Khuôn mặt hôm qua-quá khứ một kiếp người
Hoa đã nở rồi
Vùng hương em mang mùi sữa rắc kín chiếc lưỡi anh- vua các vị thần
Chiếc lưỡi uốn cong thăng hoa tình yêu bất tận
Nồng nàn tháng giêng xa
Nụ hôn anh định cư lâu rồi trên thịt da
Mềm-ướt từng tế bào thương nhớ
Mềm-ướt từng hơi thở
Anh ngã xuống em
Cả hành tinh thảng thốt nổi-chìm
Bóng tối khỏa thân lắng nghe cơn động đất 12 độ richter thành phố Sài Gòn hoảng hốt
Tháng giêng thế giới thao thức
Khi anh yêu em
Yêu em
Yêu em

LINH PHƯƠNG

BÀN TAY KHỈ

nguyenphuoctieudi

DSC_4897-2-2
(Photo by tiểu di)

Ngoài trời, đêm lạnh và ướt, nhưng trong biệt thự Lakesnam màn phủ bốn bề, và lửa cháy sáng rực trong lò.
Hai cha con ông White đang say mê đánh cờ. Người cha thua hai bàn nên có hơi bực. Bà vợ ngồi gần bên ôn tồn bảo:
“Đừng nóng, có thể ván sau ông sẽ thắng.”
Ông chồng vừa ngẩng đầu lên đúng lúc để nhìn thấy một cái nhìn đồng loã giữa hai mẹ con…
Ngay lúc đó có tiếng động cửa bên ngoài và tiếng chân bước về phía cửa. Ông White đứng lên mở cửa. Chủ và khách chào hỏi nhau rồi bước vào trong.
Khách lạ là một người cao lớn vạm vỡ, mắt nhỏ và sáng, mặt đỏ gay. Ông tự giới thiệu:
“Trung sỹ Morris.”
Khách bắt tay những người trong nhà rồi ngồi xuống bên cạnh lò sưởi trong khi chủ rót rượu mời. Đến ly thứ ba, đôi mắt khách lạ bừng sáng và ông ta bắt đầu nói chuyện. Gia đình nhỏ bé của chủ nhà gồm có ba người, quây quần chung quanh để nghe ông khách lạ từ phương xa kể nhiều chuyện kỳ quái.
Ông White gật gù nói với bà vợ và cậu con:
“Hai mươi mốt năm qua, khi cậu này ra đi lưu lạc giang hồ, cậu chỉ là một thiếu niên giúp việc trong kho hàng của mình. Bây giờ nhìn xem, cậu đã trưởng thành!”
Bà vợ góp ý:
“Cậu Morris có vẻ nhàn lắm nhỉ!”
Ông chồng nói:
“Tôi cũng muốn đi chu du thiên hạ, muốn ghé qua Ân Độ để cho biết với người ta.”
Trung sỹ lắc đầu, bảo:
“Tôi nghĩ rằng ai ở đâu nên ở đó là tốt hơn hết.”
Rồi đặt ly rượu xuống, ông khẽ thở dài rồi lại lắc đầu.
Ông White vẫn tiếp tục nói lên ý nghĩ của ông:
“Tôi muốn thấy những đền đài cổ, những ông phù thuỷ và những tay thuật sỹ. à, hôm trước cậu có nói sơ qua về câu chuyện bàn tay khỉ, cậu có thể kể thêm cho chúng tôi nghe không?”
Trung sỹ vội gạt ngang:
“Thôi bỏ qua đi. Chuyện đó không đáng nói. Toàn nhảm nhí.”
Nhưng bà White tò mò hỏi:
“Chuyện bàn tay khỉ? Chuyện đó ra sao?”
Trung sỹ giải thích:
“Đó là một câu chuyện có thể gọi là huyền bí.”
Ba thính giả chồm tới lắng nghe. Ông khách mơ màng nốc cạn ly rượu rồi đặt xuống bàn. Ông White châm rượu vào ly.
Trung sỹ mò trong túi áo lấy một vật, đưa ra:
“Đây là bàn tay khỉ!”
Nó cũng chẳng có gì lạ. Người ta đã phơi khô nó tự bao giờ.
Bà White ngả người ra sau, le lưỡi. Nhưng cậu con ngắm nghía cẩn thận. Ông White hỏi:
“Cái này có gì đặc biệt không?”
Trung sỹ Morris nói:
“Bàn tay khỉ này có một phép màu do một vị phù thuỷ cao tay ấn làm ra nó. Vị phù thuỷ này muốn chứng tỏ là con người ở đời ai cũng có số mệnh, và kẻ nào toan cải đổi số mệnh sẽ bị tai nạn buồn phiền. Bàn tay khỉ này có phép màu. Ba người ở đây có thể xin mỗi người một điều ước.”
Thái độ của khách lạ rất trịnh trọng nên thính giả không cười nữa.
Cậu Herbert hỏi:
“Tại sao ông không xin ba điều ước đó?”
Trung sỹ nhìn cậu thanh niên bằng đôi mắt của người lớn tuổi dành cho kẻ hậu sinh. Rồi ôn tồn đáp, gương mặt tái hẳn:
“Tôi đã có xin rồi!”
Rồi nâng ly rượu lên nốc cạn. Bà White hỏi thêm:
“Còn có ai khác xin nữa không?”
Trung sỹ đáp:
“Người đầu tiên được cả ba điều ước. Tôi không rõ hai điều trước là gì. Nhưng điều thứ ba là chết. Nhờ người đó chết nên tôi mới có vật này.”
Giọng nói của ông ta rất trầm buồn, nghiêm nghị nên mọi người im lặng lắng nghe
Ông White nói:
“Nếu cậu đã được ba điều ước rồi thì vật này không còn giá trị đối với cậu nữa. Tại sao cậu lại giữ nó để làm gì?”
Trung sỹ lắc đầu:
“Tôi có ý định bán nó, nhưng nghĩ lại tôi không muốn. Vì nó đã gây tai nạn cho biết bao người rồi. Vả lại không ai mua đâu, không ai tin chuyện tôi nói. Họ nghĩ thời buổi này làm gì có những chuyện hoang đường như thế. Vài người đồi thử trước rồi mới trả tiền sau.”
Ông White lại hỏi:
“Nếu cậu được phép xin thêm ba điều khác, cậu có muốn không?”
Trung sỹ lắc đầu:
“Tôi không biết, tôi không nghĩ tới vấn đề đó.”
Y cầm bàn tay khỉ lên xoay qua xoay lại giữa mấy ngón tay rồi bỗng ném nó vào lửa.
Ông White kêu lên một tiếng, cúi xuống kéo nó ra thật nhanh.
Trung sỹ cản ngăn:
“Nên đốt nó đi là hơn.”
Ông White lắc đầu:
“Nếu cậu không muốn giữ nó thì cậu cho tôi.”
Trung sỹ lắc đầu:
“Không được. Tôi ném vào lửa. Nếu ông tiếc mà giữ nó lại thì có chuyện gì xảy ra, ông đừng phiền tôi. Ông nên ném vào lửa đi cho được việc.”
Ông White lắc đầu, chăm chú ngắm vật mà ông vừa làm chủ. Một lúc sau ông hỏi:
“Muốn ước, phải làm thế nào?”
Trung sỹ:
“Nắm vật này trong tay mặt và lớn tiếng nói rõ những điều ước. Nhưng tôi khuyên ông hãy suy nghĩ cẩn thận lại. Nên thấy rõ những hậu quả của hành động của ông.”
Bà White kêu lên:
“Giống như chuyện “Ngàn lẻ một đêm”.
Bà đứng lên lo buổi ăn tối, đùa:
“Đâu, ông ước cho tôi có bốn tay để làm công việc nhà nhanh chóng.”
Ông chồng lấy bảo vật trong túi ra, và cả ba người trong gia đình bật cười khi trung sỹ hốt hoảng nắm tay ông lại, dặn dò thêm:
“Nếu ông cương quyết xin ba điều ước thì nên xin sao cho hợp lý.”
Ông White bỏ lại vật đó vào trong túi, kéo ghế mời trung sỹ ngồi xuống bàn.
Trong khi ăn, người ta quên câu chuyện bùa chú, nhưng sau lúc ăn cả ba người ngồi quây quần bên anh quân nhân để nghe những câu chuyện kỳ thú ở Ấn Độ.
Ông khách cáo từ, Herbert tiễn ông ra cửa rồi quay vào ngay nói với cha mẹ cậu:
“Nếu câu chuyện huyễn hoặc về cái bàn tay khỉ là chuyện bịa đặt cũng như các câu chuyện phiêu lưu mạo hiểm mà ông ta vừa kể cho mình nghe thì mình có bảo vật đó cũng chẳng ích gì.”
Bà White nhìn chồng chăm chú rồi hỏi:
“Ông có trả cho cậu đó chút đỉnh gì không?”
Ông chồng:
“Của chả đáng gì. Cậu ta không thèm nữa, ném vào lửa. Tôi lượm mót, cậu ta lại khuyên tôi vứt đi.”
Cậu Herbert vẻ tin tưởng:
“Đâu mình thử ước xem. Nếu linh ứng thì gia đình mình sẽ giàu có, tên tuổi, hạnh phúc. Ba hãy ước được làm vua. Và trước khi làm vua, ba sẽ không sợ má nữa.”
Nói xong cậu chạy quanh bàn ăn vì mẹ cậu đuổi theo toan “ký” vào đầu cậu về câu nói phạm thượng đó.
Ông White lại móc túi lấy bùa ra, nhìn nó với vẻ bán tín bán nghi, lẩm bẩm:
“Tôi chưa biết phải ước gì đây? Kể ra thì đời tôi đầy đủ, chẳng thiếu thứ gì.”
Cậu con đến bên cạnh cha, nói:
“Bây giờ nếu có thêm một ít tiền xài chơi chắc ba thích lắm. Vậy ba nên ước có hai trăm bạc.”
Người cha cười dễ dãi, như tự tha thứ tánh dễ tin của mình rồi cầm bàn tay khỉ đưa lên cao, vẻ trịnh trọng. Ông nheo mắt về phía bà vợ đang ngồi sau chiếc dương cầm. Bà đánh lên mấy nốt nhạc thật mạnh.
Ông chồng dõng dạ nói to lên:
“Tôi muốn có hai trăm bạc.”
Bà White đánh thêm mấy nốt nhạc như để phụ hoạ với lời ước ao của chồng. Nhưng liền sau đó ông White kêu lên:
“ý trời đất ơi! Nó nhúc nhích!”
Vừa lạ, ông vừa nhìn cái bàn tay khỉ đang cử động trên sàn. Ông nói tiếp:
“Khi nãy tôi có ước là trông thấy bàn tay này nhúc nhích trong bàn tay tôi như một con rắn. Rõ ràng là điều tôi ước đã được ứng nghiệm.”
Cậu con cầm bàn tay khỉ lên, đặt trên bàn, nói:
“Nhưng con chưa thấy có tiền, và con cam đoan là số tiền đó sẽ không bao giờ đến với ta.”
Bà vợ hoang mang:
“Ông ước chuyện không hay!”
Ông chồng lắc đầu:
“Chỉ là trò đùa thôi. Bà đừng thắc mắc. Dù sao chuyện này cũng làm cho tôi kinh sợ.”
Cả gia đình ngồi bên lò sưởi. Hai cha con ông White ngồi hút ống điếu.
Bên ngoài gió gào dữ dội hơn bao giờ hết, cánh cửa trên lầu bị gió đập kêu rầm rầm, tiếng động đó khiến ông White lo sợ không đâu.
Bầu không khí lạ thường bao trùm gia đình cho đến khi họ đi ngủ.
Cậu Herbert nói:
“Con hy vọng ba sẽ nhận được số tiền hai trăm bạc mà ba ước trong một túi lớn đặt trên giường của ba và sẽ có một cái gì ghê gớm ngồi trên nóc tủ chứng kiến lúc ba nhận số tiền đó.”

Sáng hôm sau trời trong sáng, Herbert mỉm cười trước những điều lo sợ hoang đường trong đêm. Bàn tay khỉ bỏ lăn lóc trên mặt bàn trong phòng. Điều này cho thấy là báu vật lúc này không được người ta tín nhiệm, nâng niu như trong đêm.
Bà White nói:
“Tôi nghĩ ông quân nhân nào cũng vậy. Họ mê tín dị đoan lắm. Vậy mà chúng mình cũng chịu khó lắng nghe. Thật là vô lý. Vào thời buổi này làm gì có những chuyện ước nguyện như vậy! Và nếu như chuyện này có thật thì số bạc hai trăm đến tay ông bằng cách nào?”
Cậu Herbert xen vào:
“Chắc là từ trên trời rơi xuống!”
Ông White nói:
“Cậu Morris quả quyết là các điều ước ứng nghiệm một cách tự nhiên khiến người ta nghĩ đó là sự ngẫu nhiên.”
Sau khi ăn xong, Herbert đứng lên:
“Nếu có tiền thật thì ba hãy giữ nguyên trước khi con về. Con chỉ sợ số bạc đó sẽ biến ba thành một người hà tiện và má với con phải giữ số tiền đó cho ba.”
Bà mẹ cười trước câu nói đùa của con. Bà theo Herbert ra cửa rồi quay trở về bàn ăn. Bà có vẻ vui tươi trước thái độ dễ tin của ông chồng.
Dù vậy khi nghe người phát thư gõ cửa, bà cũng chạy nhanh ra hy vọng có tiền. Nhưng bà chỉ nhận được giấy đòi tiền Herbert may quần áo của ông thợ may.
Đến bữa ăn chiều, vẫn không có gì mới lạ. Bà mẹ lẩưm bẩm:
“Chốc nữa đây thằng Herbert về, nó sẽ chế nhạo ông nhiều nữa cho mà coi!”
Ông White rót bia vào ly nói:
“Có một chuyện lạ là bàn tay khỉ cử động khi tôi nắm nó trong tay.”
Bà vợ cười:
“Đó là tại ông giàu óc tưởng tượng.”
Ông chồng quả quyết:
“Tôi không nghĩ mà tôi biết rõ ràng nó cử động…”
Bà vợ không đáp, bà đang nhìn một người bên ngoài đang có những cử chỉ khác thường. Ông này nhìn đăm đăm vào nhà, nhưng do dự nửa muốn vào nửa muốn không.
Bà White thấy kẻ lạ ăn mặc đàng hoàng, đầu đội nón thật mới. Ba lần y đứng lại trước cổng rồi tiếp tục đi. Đến lần thứ tư y đứng lại, đặt tay lên cổng rồi bỗng nhiên cương quyết đẩy cửa cổng bước vào con đường trước cửa nhà.
Bà White vội vàng cởi khăn choàng trước ngực giấu dưới nệm.
Bà đưa khách lạ vào phòng. Ông này có vẻ không được tự nhiên. Ông thường nhìn trộm bà và lơ đãng nghe bà giải thích vì sao phòng khách không được ngăn nắp như thường ngày.
Bà White không dám hỏi ngay lý do cuộc viếng thăm của khách lạ. Sau cùng ông khách mới nói:
“Thưa bà, tôi được người ta nhờ đến đây để…”
Khách im lặng một lúc rồi tiếp:
“Tôi từ Maw và Meggins tới đây.”
Bà White giật mình, hổn hển nói:
“Có việc gì không? Herbert có chuyện gì?”
Ông chồng xen vào:
“Bà nên bình tĩnh. Mời ông ngồi. Chúng ta nên thong thả. Tôi nghĩ ông không mang tin dữ đến cho chúng tôi, phải vậy không?”
Vừa nói ông vừa nháy mắt với khách lạ.
Ông khách ấp úng:
“Tôi rất tiếc…”
Bà White vẫn không an tâm:
“Con tôi bị thương?”
Khách lạ gật đầu, ôn tồn nói:
“Dạ phải, cậu Herbert bị thương nặng. Nhưng cậu cảm thấy không đau đớn gì hết!”
Bà mẹ chắp hai tay lại kêu lên:
“Cám ơn Chúa đã giúp con tôi. Chúa đã…”
Bà chưa dứt lời, bỗng thấy khuôn mặt buồn thảm của khách lạ, bà bấm bàn tay chồng để giữ bình tĩnh.
Im lặng một lúc thật lâu, khách lạ nói thật nhỏ:
“Cậu Herbert bị kẹt trong guồng máy!”
Ông White lặp lại câu đó như một tiếng vang:
“Kẹt trong guồng máy!”
Rồi ông nhìn ra ngoài cửa sổ, siết chặt bàn tay vợ. Ông nói với khách lạ, giọng thật buồn:
“Herbert là đứa con duy nhất còn lại của chúng tôi. Nó chết rồi, chúng tôi thật là bơ vơ.”
Khách lạ ho mấy tiếng, đứng lên từ từ bước về phía cửa sổ. Ông nói:
“Công ty phái tôi đến để tỏ lời phân ưu với ông bà về tai nạn đáng tiếc vừa qua.”
Khách nói một hơi không nhìn đôi vợ chồng già, tiếp tục:
“Tôi chỉ là nhân viên của công ty, xin ông bà hiểu cho tình thế của tôi.”
Không ai trả lời. Gương mặt bà vợ tái xanh, đứng tròng và hơi thở của bà chỉ còn thoi thóp. Còn ông thì có vẻ xa vắng.
Khách lạ nói tiếp:
“Công ty Maw và Meggins không nhận trách nhiệm trong tai nạn này. Nhưng vì cậu Herbert đã giúp việc lâu năm cho công ty nên công ty quyết định gửi đến cho ông bà món tiền gọi là…”
Ông White buông bàn tay của bà vợ mà ông đang nắm, nhìn khách lạ với đôi mắt đầy kinh hãi:
“Bao nhiêu?”
“Hai trăm bạc.”

3.
Trong nghĩa địa mới lập rộng thênh thang, cách nhà độ hơn một dặm, hai vợ chồng già chôn cất đứa con duy nhất. Họ trở về nhà sống âm thầm như hai chiếc bóng.
Chuyện xảy ra quá nhanh chóng khiến họ ý thức được tầm quan trọng của vấn đề. Họ vẫn ở trong tình trạng chờ đợi, hy vọng một cái gì xảy ra để cho họ nhẹ bớt được phần nào gánh nặng sầu đau, quá nặng đối với hai vợ chồng già.
Nhưng ngày lại ngày thấm thoát qua và niềm hy vọng mơ hồ của họ trở thành tuyệt vọng.
Họ sống âm thầm. Cả ngày không trao đổi với nhau một lời, vì họ chẳng còn gì để nói. Cho nên ngày tháng đối với họ thật dài, dài không chịu nổi.
Một tuần sau, ông White giật mình thức giấc vào lúc nửa đêm. Ông dang cánh tay ra và chỉ thấy một mình trên giường.
Gian phòng tối đen, chỉ có tiếng khóc nghẹn ngào bên cửa sổ. Ông ngồi dậy, lắng nghe một lúc rồi bảo:
“Bà ơi! Bà vào đây, ở đó coi chừng trúng sương, trúng gió.”
Bà vợ khóc oà lên:
“Nhưng con tôi còn lạnh hơn tôi nhiều!”
Ông chồng vẫn còn mê ngủ, ông nằm xuống chiếc giường ấm êm, nhắm mắt lại.
Ông đang mơ màng thì nghe tiếng bà vợ hét lên thật hãi hùng. Ông lồm cồm bò dậy thì nghe tiếng bà vợ la tiếp:
“Cái bàn tay khỉ! Cái bàn tay khỉ!”
Ông chồng hỏi:
“ở đâu? Để làm gì?”
Bà vợ thất thểu tiến về phía ông nói:
“Tôi muốn thấy cái bàn tay khỉ! Ông đã thiêu hủy nó chưa?”
“Chưa. Tôi để nó ở ngoài phòng khách, trên giá đàn. Nhưng để làm gì?”
“Mình mới chỉ ước có một điều, còn hai điều nữa.”
Ông chồng kêu lên giận dữ:
“Trời ơi! Bấy nhiêu đó còn chưa đủ sao?”
Bà vợ cũng to tiếng không kém:
“Chưa! Tôi còn có thể ước thêm một điều nữa. Ông xuống dưới lấy lên đây. Nhanh, nghe không? Và ước cho thằng Herbert sống lại.”
Ông White ngồi dậy, vứt mền sang một bên, hoảng hốt:
“Trời đất! Bà có điên không?”
Nhưng bà vợ vẫn cương quyết:
“Ông đi lấy ngay đi. Và ước cho thằng Herbert sống lại.”
Ông chồng quẹt lửa thắp ngọn nến, bảo:
“Bà nên đi ngủ đi, bà không biết bà đang nói gì.”
Bà vợ vẫn không chịu thua:
“Chúng ta đã có điều ước thứ nhất, tại sao lại không có điều ước thứ hai?”
Ông chồng lẩm bẩm:
“Đó là một sự ngẫu nhiên.”
Bà vợ hét lên:
“Ông có đi nhanh không! Và ước y như tôi nói.”
Ông chồng đành đi xuống lầu trong đêm tối, mò mẫm vào phòng khách. Đến bên lò sưởi ông thấy bảo vật vẫn nằm ở chỗ cũ. Một sự lo sợ xâm chiếm lấy hồn ông. Ông sợ ước cậu con sống lại, cậu sẽ bị tật nguyền suốt đời. Với sự lo sợ đó ông toát mồ hôi, lò mò mãi mà không trở lên lầu được.
Nét mặt của bà vợ đổi sắc khi ông White bước vào phòng ngủ. Ông cảm thấy sợ cả bà vợ của ông.
Bà vợ kêu lên:
“ước đi!”
Ông ấp úng nhưng bà vợ lại quát:
“ước đi!”
Ông White nắm tay đưa lên:
“Tôi ước con tôi sống lại!”
Cái bàn tay khỉ rơi xuống sàn. Ông thấy nó nhúc nhích.
Hai vợ chồng già chăm chú nhìn bảo vật một lúc, tâm trí như đặt hết tin tưởng vào phép lạ. Một lúc sau bà vợ tiến đến bên cửa sổ, vén màn lên. Bà đứng đó, nhìn ra ngoài chờ đợi cậu Herrbert sống dậy trở về.
Ông chồng ngồi bất động trên ghế. Ông cảm thấy khí lạnh thấm vào cơ thể, nhưng vẫn ngồi yên, thỉnh thoảng liếc về phía bà vợ đang nhìn lom lom ra phía ngoài đường.
Ngọn nến đã tàn, ném những mảnh ánh sáng chập chờn lên trần, lên tường. Cuối cùng, khi tim nến đã lụi, đốm lửa bỗng loé lên lần chót rồi phụt tắt. Ông White thấy nhẹ người khi bảo vật không đem lại lời ước thứ hai của ông. Ông trở về giường nằm. Một hai phút sau bà cụ cũng đến ngồi bên ông.
Không ai nói với ai lời nào, cả hai nằm trong tiếng tích tắc của đồng hồ. Trong sự yên lặng của đêm, dường như có tiếng răng rắc xuất phát từ thang lầu, tiếng chuột chạy sát chân tường. Bóng tối như đè lên người khiến ông cụ ngột ngạt, khó chịu. Sau khi nằm ráng một chút để lấy can đảm, ông cụ lấy hộp quẹt, bật lửa lên, đi xuống lầu để tìm một cây nến khác.
Đúng vào lúc đó có tiếng gõ cửa thật nhẹ, lén lút cho nên tiếng động rất nhỏ, gần như đủ lớn để cho người nghe thấy.
Hộp quẹt rơi khỏi bàn tay ông White. Ông đến chết sững, hơi thở của ông ngưng lại cho đến khi tiếng gõ cửa lại vang lên lần nữa. Bấy giờ ông mới quay lưng lại để chạy về phòng ngủ, đóng cửa thật nhanh.
Một tiếng gõ cửa thứ ba vang động khắp nhà. Bà cụ giật mình kêu lên:
“Cái gì vậy?”
Ông chồng run run đáp:
“Chuột, một con chuột chạy lên thang lầu, suýt dẫm lên chân tôi.”
Bà vợ ngồi trên giường lắng nghe. Lại một tiếng động vang lên khắp nhà. Bà kêu lên:
“Herbert về! Chính Herbert về.”
Bà chạy về phía cửa, nhưng chồng bà đã tới trước bà. Ông nắm tay níu bà lại, hỏi:
“Bà định làm gì?”
Bà vợ kêu lên:
“Herbert về! Nó là con tôi. Ông phải để tôi mở cửa cho nó vào. Buông tôi ra!”
Ông chồng run rẩy, van nài:
” Không! Bà không nên cho nó vào!”
Bà vợ bất bình:
“Coi kìa! Ông sợ cả con ông nữa sao? Hãy buông tôi ra. Để tôi mở cửa cho nó vào.”
Rồi bà nói to:
“Má đây! Herbert, chờ má một chút!”
Lại thêm một tiếng, rồi hai tiếng gõ cửa. Bà vợ vùng khỏi tay chồng, chạy ra khỏi phòng. Ông chồng theo bà tới cầu thàng, dang tay bất lực gọi với theo, nhưng bà lao xuống đến tầng dưới.
Ông nghe tiếng mở khoá và tút chốt thật khó khăn. Thế rồi tiếng bà vợ hổn hển kêu to:
“Còn cái chốt! Ông mau xuống mở giùm đi!”
Trên lầu, ông chồng đang quỳ xuống sàn mò kiếm cái bàn tay khi. Ông cố kiếm được nó trước khi kẻ gây ra tiếng gõ cửa bước vào nhà.
Trong khi đó tiếng gõ cửa vang dội liên tiếp như một loạt súng. Ông nghe tiếng kéo ghế mà bà vợ đặt ngay trước cửa. Ông nghe tiếng chốt cửa khua lên. Cũng trong lúc đó ông tìm được cái bàn tay khỉ.
Hổn hển, ông nắm nó vào bàn tay, đưa lên cao nói lên lời ước thứ ba và cũng là lời ước cuối cùng.
Đột nhiên tiếng gõ cửa ngưng ngay tức khắc, mặc dầu những tiếng động trước đó vẫn còn vọng dội vào trong nhà. Cùng lúc ông nghe tiếng ghế kéo ở phía cửa và cánh cửa mở toang. Gió lạnh lùa vào, thổi tạt lên tận cầu thang…
Tiếng rên đầy đau đớn thất vọng của bà vợ khiến ông White có thêm can đảm để chạy xuống bên cạnh bà. Rồi như còn quán tính, ông chạy thẳng ra cổng bên ngoài. Ngọn đèn đường lù mù đối diện với ngôi nhà toả ánh sáng yếu ớt xuống con đường im vắng, không một bóng người…

W.W.JACOBS
nguyễn phước tiểu di

GIỚI THIỆU SÁCH MỚI

12660318_963349927053714_1511705570_n
12674436_961421647246542_1289047596_n
12717488_911259565655857_5582094403793843756_n

Qua Giao Thừa vài phút… Trong những thời khắc đầu tiên của năm mới, TUONGTRI.COM rất vui mừng và nhẹ nhõm thông báo cùng các bạn yêu quý, các độc giả thân thương rằng :
Hai tác phẩm NHỮNG THÁNG NĂM CUỒNG NỘ và KHÔNG THẤY NÚI của tác giả KHUẤT ĐẨU đã được xuất bản và sẽ ra mắt vào ngày 15/2/2016.
Một món quà đầu năm dành cho những người tâm đắc với chữ nghĩa.

1.NHỮNG THÁNG NĂM CUỒNG NỘ :
Trọn bộ Trio 226 trang: Gồm NHỮNG THÁNG NĂM CUỒNG NỘ, NGƯỜI GIỮ NHÀ THỜ HỌ, và LÃO TIỀN BỐI
“Cũng như nhân vật chính trong truyện vừa mới sinh đã bị đem thả trôi sông, tôi thả tác phẩm của mình lên mạng. Sống chết thế nào là số phận của nó. Dù sao tôi cũng xin được cảm ơn.
Trân trọng,”
KHUẤT ĐẨU

2. KHÔNG THẤY NÚI :
349 trang: Gồm TRUYỆN DÀI NHỮNG VÒNG TRÒN XIẾC, TRUYỆN NGẮN , và NHỮNG TRANG VIẾT NGẮN. Một tác phẩm tập hợp những bài giá trị nhất, tâm đắc nhất của nhà văn KHUẤT ĐẨU .
Đọc để “… khóc cười theo mệnh nước nổi trôi…”
“…Một người bình thường, tình cờ đọc được, hỏi mượn chủ nhân cuốn sách, đem về nhà coi tiếp rồi lại cho người khác mượn. Cứ thế mà cuốn sách chạy vòng vòng khắp nơi, qua tay biết bao nhiêu là người. Một cuốn sách sức mạnh của nó nhiều hơn là trăm cuốn sách được ký tặng trong một buổi ra mắt sách.” Tôi nghĩ rằng quyển NHỮNG THÁNG NĂM CUỒNG NỘ và KHÔNG THẤY NÚI sẽ là những quyển sách như thế! (Tôn Nữ Thu Dung).
Đó là lý do để chúng tôi trân trọng xuất bản và giới thiệu cùng các bạn những tác phẩm này.

Xin inbox địa chỉ của bạn hoặc email về: tuong_tri@yahoo.com nếu bạn muốn có nó sớm nhất. Cảm ơn các bạn đã quan tâm.
Bạn cũng có thể mua ở AMAZON.COM

DẤU LẶNG

tonnuthudung

 

Mùa Xuân ngại ngùng lối nhỏ
Khẽ thôi, vạt nắng lưng đồi
Cánh bướm chao vờn trước ngõ
Mơ hồ nhặt sợi tình rơi.

Mùa Xuân đi ngang vườn cỏ
Lỡ tay đánh thức hoa vàng
Mùa Xuân dịu dàng thổ lộ:
Em là ngọn gió lang thang

Mùa Xuân vẽ thêm quầng mắt
Nâu nâu màu sữa cà phê
Mùa Xuân tô hồng môi nhạt
Thơm như giọt nắng rơi về.

Mùa Xuân cầm tay nói khẽ:
Đừng quên lời đã hẹn thề
Sương -hay là mưa- như lệ
Ngàn sau buốt lạnh sơn khê…

Tôn Nữ Thu Dung

xuân ca

npphan

em bước vội làm chi
trong tiếng ca đồng vọng
nắng rất đẹp, xuân thì
trên bờ môi đầy mộng

em bước vội làm chi
con chim hiền ngái ngủ
vỗ cánh trong hồn anh
ngày ru màu gió cũ

tặng em mùa thúy cúc
thơm ngát nụ tình xanh
tặng em mùa lá mới
đang ươm mộng trên cành

em bước vội làm chi
qua mùa xuân mở hội
anh nghe lòng ngần ngại
tình đã ấm hẹn hò

tặng em trời tơ lụa
hoa nở đẹp đồi thơ
đôi mắt nào bỡ ngỡ
trên cánh mộng mùa xưa?

xin em bước nhẹ nhàng
con chim hiền ngái ngủ
mắt nhìn đời bao dung
những vùng trời xao động

bàn tay em ấp ủ
những cơn mộng muôn đời
sương che trời khai hạt
rên đỉnh mùa chơi vơi

NP PHAN

Đêm giao thừa đầu tiên trên đất Mỹ

trantrungdao

Tôi xuống máy bay ở phi trường Logan, Boston khoảng 10 giờ tối, một ngày cuối tháng 11, 1981 trong cái lạnh se người. Tôi và T., một người tỵ nạn cùng chuyến và nhỏ hơn tôi vài tuổi, nhìn quanh không thấy ai. Chờ khoảng mười phút, chúng tôi tự động lần mò theo lối đi có chữ Exit để ra ngoài.
.
Bác Tôn Thất Ân làm việc cho Viện Quốc Tế (International Institute of Boston) có trách nhiệm đón chúng tôi ở phi trường. Ngày đó, người đi đón có thể vào tận cửa nhưng bác ngồi chờ ở trạm lấy hành lý vì nghĩ thế nào chúng tôi cũng ra đó trước. Tôi không có hành lý gì cả ngoài một túi nhỏ cầm trên tay, trong đó chứa vài bộ áo quần và những giấy tờ cần thiết. T. cũng thế. Bác thấy chúng tôi nên rời khỏi ghế bước lại gần. Bác Ân không lạnh lùng nhưng cũng không quá miềm nở. Bác làm việc đón đưa mỗi ngày theo phận sự một nhân viên có lương chứ không phải đón mừng một thân nhân từ bên kia trái địa cầu vừa đến. T. có bà con ở Boston còn tôi đến một mình. Lát nữa, bác Ân sẽ đưa T. đến nhà bà con của chú ấy, và sau đó sẽ mang tôi đến nơi tạm trú đầu tiên trong hành trình tỵ nạn còn mờ mịt và chông gai của mình. Sau này gần gũi bác nhiều hơn, tôi biết bác Ân rất bao dung, rộng lượng và đầy tình nhân ái nhưng tính tình hơi nghiêm nghị. Tôi gặp lại bác Ân nhiều lần khi bác còn ở Boston và luôn nghĩ đến bác như một người ơn lớn của mình.
.
Cuối tháng 11, trời Boston khá lạnh. Với một người đến từ vùng nhiệt đới và cô đơn như tôi càng cảm thấy lạnh hơn nhiều. Nhớ lại vài giờ trước đó, người đón chúng tôi ở phi trường Chicago là một cô gái Việt làm cho cơ quan thiện nguyện. Người con gái Huế có đôi mắt đẹp và giọng nói ngọt ngào, phát cho mỗi người trong đoàn chúng tôi một chiếc áo ấm. Tôi nhỏ con nên muốn một chiếc áo cỡ nhỏ. Người đẹp nhìn tôi như thương hại cho thân hình ốm yếu nhưng lắc đầu và chỉ vào thùng áo cùng một cỡ như nhau. Nếu ở trường Luật Sài Gòn, tôi đã cám ơn đôi mắt ấy một bài thơ tả tình đầy sáo ngữ nhưng ở Chicago hồn thơ cũng đã lạnh cóng như mặt hồ Michigan gần đó. Từ Chicago, đoàn tỵ nạn từ Philippine chia tay nhau lên máy bay nội địa đi về nhiều ngã. Bầy chim xa mẹ vốn lẻ loi lại càng lẻ loi hơn.
.
Bác Ân lái xe đưa chúng tôi ra khỏi phi trường nhưng không đến thẳng khu nhà chúng tôi ở. Bác bảo phải ghé lại Viện Quốc Tế trên đường Commonwealth trước cho biết chỗ vì kể từ ngày mai chúng tôi sẽ phải đến đó nhận tiền ăn cho đến khi được cấp welfare (một loại tiền trợ cấp của chính phủ dành cho người nghèo khó), và cũng luôn tiện lấy thêm đồ dùng. Bác lấy một chiếc nệm mỏng và bảo đó sẽ là của tôi.
Bác đưa T. về với bà con của chú ấy trước sau đó đưa tôi đến khu nhà số 15 đường Park Vale ở Allston, cách Boston chừng 10 dặm. Khi đó căn nhà đã có nhiều người ở trước. Tôi nhập chung với một số người ở tầng hai. Tầng ba cũng có vài gia đình người Việt trong đó có gia đình anh chị Liêm mà tôi vừa gặp lại ở Atlanta đầu năm nay sau hơn ba mươi năm xa cách. Tôi rất mừng khi gặp lai anh chị. Ngày xưa chúng tôi ở chung một khu nhà nhưng ít có dịp chuyện trò vì đời sống quá tất bật khó khăn. Bây giờ khi bước qua rồi và nhìn lại chúng tôi mới thấy quý khoảng không gian và thời gian chung sống.
Tôi đến sau và được xếp nằm gần cửa sổ nhưng chắc không phải là một ưu tiên. Nằm gần cửa kính thường lạnh hơn và gió lọt vào. Sau này mới có giường nhưng mấy tháng đầu ai cũng nằm dưới sàn gỗ. Cảm giác bất an tràn ngập kín trong lòng. Tất cả đều xa lạ. Từ những người chung quanh đến cảnh vật mùa đông, không ai và không có một ngoại cảnh nào có thể gọi là cảm thông, chia sẻ với mình.
.
Đúng như lời cô gái Việt ở Chicago cảnh cáo, Boston chào đón tôi bằng những cơn bão tuyết triền miên suốt mùa đông đầu rét buốt. Đêm giao thừa của ngày Tết Việt Nam đầu tiên trên nước Mỹ không có bánh chưng xanh, không có rượu nồng pháo nổ, không một lời chúc tụng ngoại trừ âm hưởng của những bông tuyết trắng bị gió đùa vào cửa sổ. Tôi đã băng qua nhiều ngọn núi trong đời mình nhưng những năm đầu trên đất Mỹ là ngọn núi cao nhất. Tôi phải vượt qua, nếu không, tất cả các thành tựu trong quá khứ sẽ trở thành vô nghĩa.
.
Đúng giao thừa, người anh lớn tuổi nhất trong nhà đang cặm cụi sửa soạn một bàn thờ nhỏ trong phòng khách để cúng ông bà. Bàn thờ đơn giản, chỉ một lon hương, hai cây đèn, một nải chuối và một bình hoa.
Thấy anh chuẩn bị cúng, tôi và những người ở cùng nhà ra khỏi phòng, nghiêm trang đứng sau lưng anh. Anh khấn vái xong, chúng tôi, những kẻ không họ hàng, thân thuộc gì với nhau, cũng lần lượt mỗi người thắp một cây hương, cúi đầu vái ba vái. Không biết vái về đâu và cũng không biết từ phương Đông xa xôi, tổ tiên ông bà có nghe được lời cầu nguyện của những đứa con đang lạc loài trên đất khách. Không có tiếng khóc trong đêm giao thừa đầu tiên nhưng lòng ai cũng nặng trĩu ngậm ngùi..
Không nói ra, nhưng hình như người nào cũng sợ phải đối diện với nỗi cô đơn, lạc lõng trong đêm giao thừa. Chúng tôi, thay vì về lại phòng mình, ngồi quây quần nhau chung quanh chiếc bàn dài. Vài đĩa cánh gà chiên. Vài lon bia. Một bình trà. Những bầu tâm sự. Mẹ già. Người yêu. Bè bạn. Những câu chuyện vượt biên hồi hộp và gian khổ.
.
Có một điều không ai trong chúng tôi đã hối tiếc việc ra đi. Chúng tôi kể lại cho nhau nghe chặng đường nguy hiểm của mình một cách hảnh diện. Thành quả dù lớn hay nhỏ cũng đều có giá và tự do thường phải trả giá đắt nhất, đôi khi bằng chính mạng sống của con người. Năm 2010, nhân ngày 30 tháng 4 đài VOA có phỏng vấn tôi lý do ra đi và tôi trả lời, bởi vì “Quê hương Việt Nam sau 30-4-1975 là quê hương để nhớ để thương chứ không phải để sống”.
.
Và như thế, tôi đón cái Tết đầu tiên với những người xa lạ nhưng vô cùng cần thiết trong đời sống mới, những người đã gọi nhau là đồng hương và tôi cũng được hưởng thêm một tình cảm mới mà chúng tôi gọi là tình đồng hương. Giống như một gia đình, lắm khi vui và cũng có khi buồn nhưng từ những bước đầu khó khăn, nhỏ nhoi và vui buồn đó, cộng đồng Việt Nam đã được sinh ra và lớn lên vững mạnh đến hôm nay.

Trần Trung Đạo

.

From USA To Viet Nam

tranvanle

Người đầu tiên anh gửi
lời Chúc Mừng Đầu Năm
là em thôi, em ạ
bởi vì em: Mùa Xuân!

Em mãi mãi Tân Nhân
hai đứa mình Tân Khách
hai Thế Kỷ đi lạc
bây giờ gặp lại, Vui!

Từng nụ hoa đào cười
Hoa Vì Em Mà Nở!
Mỗi nụ hoa đào đó
Đà Lạt Mình Muôn Năm!

Em! Em là mùa Xuân
Em là đầu Năm Mới
Chim trên cành đang đợi
hót ca mừng em, kia!

Mùa Xuân nữa đang về
Chào nước non yêu quý!
Anh chào em từ Mỹ,
chào em từ Trái Tim!

Em Em Em Em Em!
Đất Trời không biên giới
Chân mây xin em đợi
Anh sẽ về bên em…

Bốn mươi năm nhiều thêm
Tình mình càng vô lượng
Những gì mình ước muốn
Gom lại Một Mùa Xuân!

Anh cho em bâng khuâng
Anh cho em xao xuyến
Anh bảo bầy én liệng
Về, trao em tình anh!

Trần Vấn Lệ