Mồng Tám Tháng Giêng

tranvanle

Ra Tết, không chi cũng mỏi mòn
giống như con ngựa nhớ hoàng hôn,
biết đi thêm nữa, đêm là tối…
mà cuối ngày là bóng tịch dương!

Ra Tết, nghĩa là mở cửa năm,
cửa thời gian không có tay cầm…
thì xô cho sập tường không khí…
rồi dựng cho đời một thế gian?

Ra Tết, nào ai nhắc nước nhà.
Thái Bình Dương đó, biển, ôi xa…
Người ta chuộng cái gần hơn biển,
một góc sân trồng một khóm hoa…

Người ta quên bẵng người Do Thái,
mất nước đi tìm nước mới nghe.
Do Thái với mình không thể giống:
Họ đi tứ xứ họ mong về!

Mình đi tứ xứ mong ra Tết…
đi diễn hành, vui, đọc diễn văn:
đọc sao cho có âm như Mỹ
và vẫn có tình rất Việt Nam!

Ra Tết, nhìn chơi dãy trụ đèn,
từng cây cách khoảng chẳng bon chen
mà đem ánh sáng cho đường phố
(chắc cũng thẹn thầm lúc nguyệt lên?)

Ra Tết đi ngang cổng nghĩa trang
Peek Family rực rỡ hoa vàng,
ước ao mai mốt nằm trong đó,
mỗi đóa hoa là một đóa trăng!

Trần Vấn Lệ

Tôi có còn cô độc?

kiettan

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
Thử địa không dư hoàng hạc lâu
Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu
[1]
(Thôi Hiệu)

tôi gọi tên tôi cho đỡ nhớ
thanh tâm tuyền
buổi chiều sao vỡ vào chuông giáo đường

Tiếng thơ bi thiết. Nhịp điệu giựt xé. Hình ảnh đột ngột lóe chớp. Rồi mất hút. Phụt tắt. Cảm giác bàng hoàng, nổi gai ốc.

tôi hét tên tôi cho nguôi giận
thanh tâm tuyền
đêm ngã xuống khoảng thì thầm tội lỗi

Ba câu thơ vụt xẹt như tầm sét. Giáng xuống. Chấn động. Người làm thơ bị thương. Người đọc thơ cũng bị thương. Thanh Tâm Tuyền lảo đảo. Tôi té xuống. Mặt úp trong vũng nước mưa đang bốc hơi trên mặt đất nhiệt đới. Mưa xuống quê hương. Mưa xuống Sài Gòn. Trời đương mưa. Mưa dữ dội.

tôi gào tên tôi thảm thiết
thanh tâm tuyền
bóp cổ tôi chết gục

Thôi thôi! Tôi cấu lấy tóc mình giựt giựt. Hai bàn tay úp kín trên hai tai. Không còn muốn nghe nữa. Tôi đang dẫy dụa tuyệt vọng trong ngục tù tình dục do chính tay mình dựng nên, hết biết đường ra, cũng không biết bằng cách nào ra được. Cô đơn cùng cực. Kiệt! Kiệt! Tôi bóp cổ tôi chết gục. Những đôi vú tròn căng nõn nà, những đôi mông trắng tươi ngó ngoáy, những đám cỏ đen mọc trên tam giác no nê đêm đêm bay đầy trời trong mộng mị chập chờn Chí Dị. Tôi chết mất. Không thể nào sống sót nổi. Tôi vừa rời thân thể ngọt bùi của Tuyết, người tình quán nước bên bờ Tiền Giang để bay sang Xứ Tuyết du học. Nhện sa xuống nước nổi phình, kiếu huynh kiếu đệ kiếu người tình tôi lui… Ðêm nằm tơ tưởng tưởng tơ, chiêm bao thấy bậu dậy rờ chiếu không… Một cửa sổ hai ba cửa sổ… Một cái vú hai cái vú ba cái vú… Chết! Tôi chết mất!

Tập thơ Tôi không còn cô độc, Người Việt xuất bản 1960. Bước sang năm thứ hai đời sinh viên ở Québec, Xứ Tuyết. Tôi thu mình quạnh quẽ trong căn gác trọ nhỏ nhít đường Garnier, gần đại học Laval. Cô đơn nhuộm người tôi vàng xỉn xanh xao. Như trái chanh non héo úa ai bỏ quên trong tủ đá. Rồi bỗng một tối nọ Thanh Tâm Tuyền tới gõ cửa gác trọ, tóc tai bù xù, dưới nách kẹp tập thơ mỏng Tôi không còn cô độc. Mở cửa nắm tay giắt vào, kéo ngồi xuống trên chiếc giường sắt sinh viên hẹp nhỏ ọp ẹp. Người mới bước vô là Khương, một du học sinh Việt Nam vừa bay sang Québec, nhập đại học Laval, cũng như tôi. Khương khoái thơ. Tôi cũng khoái thơ. Tôi khoái Nguyễn Bính, Lỡ bước sang ngang. Khương khoái Thanh Tâm Tuyền, Tôi không còn cô độc. Trao đổi văn nghệ, bắt nhịp cầu tri âm. Và tối đó, tôi khám phá nhà thơ đứng đầu nhóm Sáng Tạo. Những câu thơ chém xuống hừng hực.

Thiệt ra không phải đợi đến tối đó tôi mới được đọc thơ Thanh Tâm Tuyền lần đầu. Tôi đã đọc thơ Thanh Tâm Tuyền hồi còn là học trò đệ nhị đệ nhất trung học, chuẩn bị thi Tú một Tú hai. Ðọc lõm bõm trên tạp chí Sáng Tạo nhưng không thấm. Thuở đó tôi chưa từng biết cô đơn là gì. “Khi ấy em còn thơ ngây, đôi mắt chưa vương lệ sầu…” Tôi còn rất hồn nhiên. “Tôi chưa hề cô độc”. Có thể nói như vậy. Hồn nhiên? Chưa chắc. “Anh chỉ giỏi tài ba xạo”, một bận Tuyết đã chỉnh tôi bằng lời lẽ đó. Trong thời kỳ này, tôi đã có Hoa, người yêu đầu tiên Xóm Bến Ðò Mỹ Tho. Tôi có Ánh, người yêu nữ sinh Cầu Cái Cá Vĩnh Long. Tôi có Tuyết, người tình quán nước bên bờ sông Cổ Chiên ngầu đục phù sa. Tôi đã biết rờ rẫm, biết hun hít mấy người em nhỏ hậu phương, tôi đã biết sục sạo đóa hoa thầm kín trong rạp hát bóng, đã biết vật lộn với em nhỏ bên bờ cỏ đêm trăng, đã biết xâm nhập và cư ngụ trong thân thể mượt ẩm, ấm hỉnh Liêu Trai của nàng. Cô độc sao nổi mà cô độc! Tôi còn đang lẩn quẩn trước hàng ba nhà nàng, còn đang đứng xớ rớ bên cạnh cái hàng rào dâm bụt, nhà nàng ở cạnh nhà tui, cách nhau cái giậu mồng tơi xanh dờn, lẩm cẩm y hịch như sư phụ Nguyễn Bính. Còn xa lắm mới bước được vào lãnh thổ của Thanh Tâm Tuyền, bước được vào vương quốc của Hoàng Ðế Cô Ðộc, nơi đức vua có đủ quyền y để cai trị mọi người bằng… thơ tự do. Còn được gọi diễu là thơ hũ nút bởi phe đối lập. Một bận, trên tờ Văn Nghệ Tiền Phong xuất hiện một bài thơ hũ nút nhái giọng Hoàng Ðế. Thơ rằng:

bánh xe đạp quay tròn
xịt khói
trái tim giơ mười ngón tay
thét chết
cô độc!

Xịt cười. Không hiểu ất giáp gì hết. Tuy nhiên, thấy ngộ ngộ cho nên còn nhớ tới bây giờ. Cũng như đã nhớ hai câu thơ vỡ lòng, em ơi em ở lại nhà, vườn dâu em đốn thịt gà xé phay của sư phụ mình. Và những câu thơ bá láp khác nữa, chẳng hạn: Ủa ủa giống gì trẹo? Ờ ờ chó mắc lẹo. Ðực vện ngổng đuôi trì, cái vàng cong lưng kéo… Mà càng bá láp lại càng nhớ dai. Trí nhớ con người nó khỉ như vậy đó.

Tuy nhiên, ngay những năm hai mươi tuổi, Thanh Tâm Tuyền đã ngoái đầu nhìn lại lịch sử nhân loại mà không khỏi hãi hùng:

toa chở súc vật
bít bưng tức thở
bánh nghiến đường rầy

chúng nó làm phát xít
chúng nó làm cộng sản
chúng con làm tù nhân

Và ngay từ những năm 50, hình như nhà thơ đã linh tính tai họa thảm thiết sắp sửa giáng xuống đất nước kể từ tháng Tư 1975:

mẹ bưng tấm hình úa cũ trước ngực
dò xét từng nét đau khuôn mặt
các anh nhìn cúi đầu
khóc lén
hai hàng rào quá khứ đăm đăm

chúng nó làm phát xít
chúng nó làm cộng sản
chúng ta làm tù nhân

Có phải, qua những câu thơ chặt khúc trên, Thanh Tâm Tuyền đã tiên đoán căn phần đày đọa của mình và bạn bè hai mươi năm sau, trong những trại tập trung cải tạo mọc lên như loài nấm độc trên khắp cùng đất nước tả tơi sau 75?

mưa bay lất phất gió căm căm
đường lầy trơn nhà cửa tối tăm
trốn đâu lũ trẻ mặt lem luốc
co ro đứng xem tù qua thôn

Và khi làm thân tù đi chém tre đẵn gỗ trên ngàn, một bận bị tuột dốc nhào trên hẻm núi, nhà thơ lại thấy lòng mình thanh thản hơn bao giờ hết:

duỗi soải chân tay gối trên nứa
ngó trời nhá nhem nghe mưa mau
tưởng chừng thi thể ai thối rữa
hồn viển vông chẳng chút oán sầu

Giọng thơ không còn uất hận như thuở ban đầu nữa. Tập Thơ ở đâu xa, tác phẩm cuối cùng của Thanh Tâm Tuyền đã xuất hiện im lìm, âm thầm xuất hiện tại Hoa Kỳ năm 1990. Ðể rồi mười sáu năm sau, nhà thơ cũng âm thầm ra đi tại Minnesota, để lại một vết chim bay trên nền trời băng giá giáp ranh Xứ Tuyết, nơi lần đầu tiên tôi khám phá Tôi không còn cô độc, tập thơ đầu tay của cùng một tác giả.

Nhìn lại công trình của nhóm Sáng Tạo, sự đóng góp đáng kể nhứt của nhóm này vào nền văn học Việt Nam, theo tôi, là thơ của Thanh Tâm Tuyền, về hình thể cũng như cách diễn đạt. Một công trình sáng tạo đúng nghĩa. Nhận định này rất chủ quan, dĩ nhiên. Hồi Võ Phiến sang chơi Paris và đóng đô tại nhà tôi ở Bagnolet, có bận tôi hỏi, theo ông, Thanh Tâm Tuyền là một nhà thơ hay nhà văn. Võ Phiến đã đáp không do dự: là một nhà văn. Kế Thanh Tâm Tuyền, sự đóng góp đáng kể khác của nhóm Sáng Tạo cũng lại là thơ: thơ của Tô Thùy Yên. Lại chủ quan nữa đó, cha nội! Tuy nhiên, về hình thức, thơ của Tô Thùy Yên không hoàn toàn phá thể. Mới gần đây, cõi thơ này (tiếng của Cung Tiến để ám chỉ ba cõi thơ tập trung ở Minnesota: Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Cung Trầm Tưởng) có bay sang Paris chơi và ngụ nhà tôi ít bữa. Tôi có bày tỏ nhận định vừa nói của mình và Tô Thùy Yên cũng đã gật đầu tán đồng. Còn về mặt văn xuôi, sự đóng góp của nhóm Sáng Tạo không được đặc sắc gì cho lắm. Văn xuôi à? Thì cũng có cái mới thiệt đó, nhưng nếu hỏi tác phẩm văn xuôi nào tiêu biểu cho nhóm Sáng Tạo thì tôi không / chưa kể được tên tác phẩm nào. Truyện của Thanh Tâm Tuyền hồi còn trẻ tôi cũng thích. Thích nhiều là truyện Ung thư, nhưng rủi thay tác giả đang viết chợt bỏ dở nửa chừng. Có bận tôi hỏi vì sao bỏ dở, Hoàng Ðế Cô Ðộc trả lời là tại hết hứng, thấy truyện bế tắc. Ðược biết sau này Ung thư đã hóa kiếp thành Cát lầy. Hình như trong Cát lầy có một nhân vật tên là Kiệt, quả đúng y thị, tên của tôi. Kiệt là một nhân vật lừng khừng, dật dờ, sống cẩu thả, bê bối – tôi nhớ loáng thoáng. Có bận hỏi tác giả, Kiệt trong Cát lầy có phải phần nào đã đội lốt Kiệt tui ngoài đời chăng? Hoàng Ðế khẽ gật gù phán nhỏ: “Cũng có”. Như vậy, vô tình tôi đã được đẩy vào văn học sử, và hết phương trở ra nữa. Than ôi, người ngay mắc nạn! Trời đã hại Sa Vệ! Khiến cho Hạng Võ phải biệt Ngu Cơ rồi tự ý cắt đầu giao cho ông lái đò trên dòng sông định mạng.

Tôi vốn đã không ưa văn học sử gì cho lắm. Hồi còn ở Việt Nam, năm 1966, Sáng Tạo có đứng tên in cho tôi tập thơ đầu tay Ðiệp khúc tình yêu và trái phá. Ðể rồi sau đó tôi quăng bút, quay sang làm thơ hiện thực (lẫn thực hiện): thơ Bia ôm và trái cóc. Mãi cho tới hai chục năm sau, phần Thanh Tâm Tuyền và Tô Thùy Yên thì đi tù cải tạo mút chỉ ở Việt Bắc, còn riêng tôi thì lêu bêu trôi dạt sang Paris. Lúc đó, nơi xứ lạ quê người không có bia ôm nên rất huởn thì giờ để mà cà nhổng chống xâm lăng, tôi bèn lượm bút lên và tiếp tục mần văn nghệ, bỏ thơ viết truyện, lần lượt ra mắt bà con Nụ cười tre trúc, Thương nàng bấy nhiêu, Lớp lớp phù sa… Sực nhớ lại sáu mươi bốn năm trước đây, nhân dịp Xuân Tha Hương, Nguyễn Bính sư phụ tôi đã xủ một quẻ tại Huế năm 1942 và tiên đoán thời tiết không khá mấy của bọn cầm bút:

Ai bảo mắc vào duyên bút mực
Suốt đời mang lấy số long đong
Người ta đi lấy giàu sang cả
Mình chỉ mơ toàn chuyện viển vông
Thiên hạ đua nhau mà sắm Tết
Một mình em vẫn cứ tay không…

Sư phụ tôi đã rên rỉ như vậy đó với người chị yêu dấu của mình ở xứ Hà Ðông (vốn đầy dẫy sư tử cái) xa tít mù xa ngoài Phương Bắc. Chị Trúc bạc phận trong Lỡ bước sang ngang. Hồi đó chưa có xa lộ không đèn, chưa có xe lửa cao tốc, chưa có Boeing 747. Bó tay. Bó giò. Rên là phải!

*

Cảo thơm lần giở trước đèn…

Ðiểm lại thời gian hơn mười năm chiến tranh sau cùng ở Việt Nam, những lần tôi gặp gỡ Thanh Tâm Tuyền đếm được trên năm đầu ngón tay. Kỷ niệm? Thì cũng có, gọi là… Và cũng đếm được trên năm đầu ngón chưn. Lần đầu tiên gặp nhau ở đâu không nhớ. Chỉ nhớ chàng có cái quai hàm vuông vức cương nghị, lông mày rậm, cái nhìn thẳng sâu, giọng nói miền Bắc, không giọng Hà Nội, mà là giọng lảo nhảo quê quê dân dã, dễ thương, dễ gần gũi. Tuy nhiên, vừa mới gặp nhau lần đầu mà đã có chạm súng lẻ tẻ, cũng như lần đầu với Mai Thảo. Tuy chàng làm thơ tự do, rất mới, rất phá thể, nhưng quan niệm của Thanh Tâm Tuyền về các vấn đề thường nhật, nhứt là đối với gia đình thì lại rất là cổ điển, rất là truyền thống, rất là tôn ti trật tự, với đầy đủ đèn xanh đèn đỏ hẳn hòi. Chung chung, là một con người sống rất ư là bình dị. Có thể tôi lầm lẫn vì ít khi tiếp xúc. Ðành bói mò. Cùng cắm dùi chung một cứ địa Gia Ðịnh, tôi ở Hàng Xanh, Thanh Tâm Tuyền ở Bà Chiểu, cách nhau một cái cầu bê tông nhỏ. Ðâu có đường về nhà em xa lắm anh ơi! Chàng có đến nhà tôi hôm in xong tập thơ. Tôi có xâm nhập lãnh thổ của Hoàng Ðế trong ngôi nhà cao cẳng (hình như vậy) để ngồi nhậu lai rai coi anh em cầm bút nhà ta kéo xì phé. Trong số có Trần Lê Nguyễn, người lè phè dễ thương, mê cờ bạc số một.

Tôi có một số bạn thường đi chơi chung của tôi. Những tay nhậu mút mùa, đi thăm mấy em Kiều dài dài, những ông chồng không xứng đáng. Sớm Ðào trưa Lý đêm Hồng Phấn. Tuyết Hạnh sương Quỳnh máu Ðỗ Quyên. Thanh Tâm Tuyền có những người bạn để đi la cà riêng của mình. Những Mai Thảo, Vũ Khắc Khoan, Phạm Ðình Chương… Vì hai chàng trai nước Việt đều có bạn riêng nên kỷ niệm chung hơi hiếm.

Thanh Tâm Tuyền không có tiếng là tay nhậu cừ khôi. Cũng không “rằng nghe nổi tiếng cầm đồ”. Không vũ nữ sexy, không bia ôm lả lướt, không xướng ca vô loại. Theo truyền thuyết, hồi theo học khóa sĩ quan ở Thủ Ðức, có một đêm xỉn quá xỉn nên Hoàng Ðế bèn đốt lửa thiêng kêu gọi chư hầu tới cứu viện, đoạn cởi truồng chạy nhồng nhổng trong quân trường. Tuy nhiên sự cố này cũng chỉ là truyền thuyết, không có hình ảnh gì để chứng minh với hậu thế. Có thể đó là mưu tối nhằm bôi nhọ để Hoàng Ðế không còn cách nào ra tranh cử tổng thống với ông Hoàng Ðã Nhứt (tức ông Hoàng…) nước ta thời Thiệu trị Kỳ nhông.

Không xướng ca vô loại? Ấy vậy mà một chiều nọ, trong một phòng trà thời trang ở Sài Gòn, đã có lần Hoàng Ðế bước lên sân khấu và cầm micrô lên mà rỉ rả một bài tình ca rất ư là lả lướt. Khó tin nhưng mà có thiệt! Có nhân chứng và nạn nhân thời cuộc làm chứng trước tòa. Ðó là lần tổ chức bán đấu giá tranh để lấy tiền giúp Vũ Hoàng Chương trị bệnh. Ở đâu? Ở phòng trà Khánh Ly đường Tự Do. Tay nào đã lôi kéo tôi tới đó tôi không nhớ. Có Mạnh Thường Quân nào mua tranh hay không tôi cũng không nhớ. Khi tới phòng trà, tôi đã xiêu vẹo ba ngù. Tôi ngất ngưởng nghe nhạc như người điếc không sợ súng. Rồi thình lình Hoàng Ðế giáng lâm. Tay nắm tay Phạm Ðình Chương, hai ta bèn song ca Mộng Dưới Hoa do Phạm sĩ phổ nhạc, thơ Ðinh Hùng. Hoàng Ðế thơ tự do mà hát thơ bảy chữ có vần thì phải biết! Tôi ngồi khép nép, run như run thần tử thấy long nhan. Rồi việc gì phải đến đã đến. Hoàng Ðế cất tiếng vỗ an bá tánh:

“Chưa gặp anh em đã có bầu, với chàng trai trẻ đẹp như trâu…”

Bủn rủn! Dĩ nhiên Hoàng Ðế không hát nhảm nhí như vậy. Cũng không “tôi hét tên tôi cho nguôi giận: thanh tâm tuyền! Tôi gào tên tôi thảm thiết: thanh tâm tuyền!“. Cõi thơ tự do cất tiếng hát rất là trữ tình, rất là ru em: “Chưa gặp em anh vẫn nghĩ rằng, có nàng thiếu nữ đẹp như trăng...” Có thế chứ! Ðứng trên sân khấu bằng phẳng vững chắc mà Hoàng Ðế cũng lắc lư con tàu đi trên hai chưn không thua gì tôi. Ca sĩ mầm non lim dim hát tiếp: “Tóc xanh lả bóng dừa hoang dại. Âu yếm nhìn tôi không nói năng…” Em gái hậu phương nào mà nghe lọt lỗ tai giọng ca truyền cảm của Hoàng Ðế thì ắt phải rụng rún là cái chắc! Cuộc bán đấu giá chưa tan mà tôi đã tự động giã từ cuộc chiến. Chuyếnh choáng bước ra đường nhựa đứng xớ rớ chưa biết làm cách nào để mà xuôi thuyền về Bến Ngự cho được. May quá! Bỗng một anh chàng cao lớn bô trai từ đâu xáp tới kéo tay tôi rủ rê: Nguyễn Xuân Hoàng! Hoàng Tử rủ tôi vô Brodard giải lao. Ừ, vô thì vô, sợ ai. Tôi gọi cái bia lạnh. Hoàng Tử một ly bia không có bọt, màu trắng đục bỏ đường có ống hút. Hình như lúc đó Hoàng coi tờ Văn, Nguyễn Ðình Vượng chủ trương. Và cũng hình như chàng vừa viết xong một truyện ngắn bảo đảm mới rất mới: “Người đàn ông đội nón ngồi trên chiếc ghế bành”. Thời đó, phong trào Tiểu Thuyết Mới đang thịnh hành. Tôi thì chẳng tiểu thuyết mới, chẳng tiểu thuyết cũ gì hết ráo. Chỉ chủ trương thơ hiện thực bia ôm và trái cóc là ăn chắc (mặc bền). Ngày đêm miệt mài, đi thực tế cho biết lòng dân – và bụng dạ ngoắt ngoéo của đàn bà (ấm cha chả là ấm!)

Bạc Liêu là xứ quê mùa, dưới sông cá chốt trên bờ Tiều Châu. Tôi vốn người miệt Hậu Giang bần chua nước mặn nên rất thiệt thà chơn chất, nhứt là đối với nữ phái tay yếu chưn mềm (mà có thể vật chết anh hùng mạnh cùi cụi trong vòng năm phút như chơi). Vì chưng thiệt thà nên điều gì có ngó thấy tận mắt thì tôi mới tin. “Chưa thấy quan tài chưa nhỏ lệ”, lấy câu này làm châm ngôn ở đời. Cũng bởi lẽ đó nên đối với Kiệt tui, Thanh Tâm Tuyền chưa chết. Không thấy tẩm liệm, không thấy chôn cất thì đối với tôi là chưa chết. “No see die, no die!”. Dịch nôm tiếng Việt: nô xi đai, nô đai. Cũng như má tôi, cũng như ba tôi. Ba má tôi vẫn còn sống đủ cặp Ngọc Cẩm-Nguyễn Hữu Thiết trong tâm tưởng của tôi. Cũng như Vũ Khắc Khoan, cũng như Phạm Ðình Chương, cũng như Mai Thảo, cũng như Thanh Nam, cũng như Ngọc Dũng. Trong trí mình, tôi chưa hề cử hành tang lễ cho một ai hết, tôi chưa hề làm đám ma cho một ai hết.

Tôi không còn cô độc! Khi gào lên như vậy, Hoàng Ðế có chắc không? Trong những đêm đen đặc mịt mù tù đày ở Bắc Việt, có khi nào nhà thơ mò mẫm đá lạnh dưới lưng mà rùng mình trong quạnh quẽ? Tôi biết những người khóc lẻ loi, không nguôi một phút. Ðau đớn! Lệ là những viên đá xanh. Hoặc những hôm trời bão tuyết tầm tã ở Minnesota, ngồi rất một mình bên ly rượu dở dang, Thanh Tâm Tuyền có rùng mình ớn lạnh nói nhỏ một mình trong đầu: “Tôi vẫn còn cô độc!”. Ngó xuống ly rượu lạnh lẽo, bỗng chợt thoáng hiện em về trong đáy cốc, nói cười như chuyện một đêm mơ. Xa lắm rồi em người mỗi ngả…

Nhưng bây giờ thì Thanh Tâm Tuyền đã có thể quả quyết: “Tôi không còn cô độc!”. Bởi lẽ bây giờ Thanh Tâm Tuyền đã có vĩnh viễn bên cạnh mình để mà khề khà chén chú chén anh những Vũ Khắc Khoan, những Mai Thảo, Phạm Ðình Chương, Thanh Nam, Ngọc Dũng. Chỉ xin đứt Hoàng Ðế một điều là Người chớ có cai trị mọi người bằng thơ tự ro của Người. Nếu được như vậy thì mai kia mốt nọ sẽ có thêm Thái Tuấn, Duy Thanh, Doãn Quốc Sỹ, Trần Thanh Hiệp, Tô Thùy Yên, Kiệt Tấn tới nhập bọn cho thêm xôm tụ, rậm đám. Tha hồ mà đập bồn đập bát! Ðọc tới đây chắc Thanh Tâm Tuyền cũng đành phải ngậm cười nơi chín suối.

Ngàn năm, ngàn năm… Bạch vân thiên tải không du du. Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản…

Kiệt Tấn
Bagnolet, Pháp, tháng Ba 2006

(Trong bài này, thơ Thanh Tâm Tuyền trích từ các bài: “Phục sinh”, “Tù binh”, “Lệ đá xanh”, “Chiều cuối năm qua xóm nghèo”, “Ngã trên núi khi đi vác nứa”. Thơ trích khác là của Nguyễn Bính, Ðinh Hùng, Quang Dũng, Thôi Hiệu.)

[1]Người xưa cỡi hạc đến nơi đâu
Hoàng Hạc còn đây một mái lầu
Chiều tối trông vời đâu cố quận?
Trên sông khói sóng giục ai sầu

Trần Trọng San dịch

HỘI NGỘ TƯƠNG TRI Ở NHATRANG

mocmienthao

12735939_968174483237925_616419196_n

Chút duyên hội ngộ tang bồng
Mượn câu thơ hát vang trong chiều tà
Nghiêng ly nhắp ngụm trăng ngà
Người, thơ như cũng la đà khói sương

Uống nào!
Cạn hết hồ trường
Vớt hồn thơ bạc như sương khói nầy
Nghe trong một cuộc tỉnh say
Chút tình thơ đã rót đầy trong nhau.

Mộc Miên Thảo

Lãng tử Lệnh Hồ…

vudinhhuy


ta nghịch đạo
phản đồ
Một ngày ân sủng
Thánh cô trong ngần
Ta bà
không chốn dung thân
Ơn em vô lượng
mùa xuân
hải hà
Cõi tình
là chốn yêu ma
Dấu chân lãng tử
mù lòa trái tim
Rồi tình
biền biệt cánh chim
(Ta biết
nên chẵng thèm tìm…)
Hồ trường gõ nhịp
lim dim
phận người
Còn non
còn nước
còn đời
Còn em
ta vẫn
là người
tỉnh
say…

Vũ Đình Huy

DẠO KHÚC 28

nguyenquangtan

Mật ngọt ứa từ vàng óng trái cây
Bàn tay mở ra nhận lấy
Trăm đêm ướp thành men say
Người không trở lại
Men nồng thấp thoáng chua cay.

Người đến nơi này một dạo
Thềm nhà in bóng thiên thu
Nghe như gió lùa cổ mộ
Ta chờ ai ngoài cõi mịt mù.

Đêm nay hay đã từ nghìn đêm nao
Tiếng gà gọi xôn xao tiền kiếp
Bước người về bước lạ bước quen
Thềm xưa nâng chén
Nhớ ai ta hát khúc tình điên…

NGUYỄN QUANG TẤN

NAO-NAO-ĐẸP-KHÁC…

dutule

DUTULE.COM

Cho tới khi T. đưa tôi thi phẩm “Nhật Ký” và tập truyện “Hướng Dương Dấu Mặt” của Tôn Nữ Thu Dung, do Tương Tri xuất bản, tôi không hề có một ý niệm gì, về tác giả này.
Vậy mà, khi tạm ngừng công việc, mở bất định một vài trang văn xuôi của Tôn Nữ Thu Dung, tôi đã bị mạch văn của Thu Dung, cuốn trôi theo cuộn xiết dòng chảy chữ, nghĩa tự nhiên, dễ dàng – – Với những lớp phù sa mầu mỡ thông minh, dí dỏm, lí-lắt-trẻ-thơ (qua những mẩu đối thoại) – – Xen lẫn với những chiêm nghiệm tâm lý, nhân sinh của một người già, thu mình, ngắm, nhìn năm, tháng đời thường ẩn mật đi qua…
Tôi đọc một mạch và, không thể phân biệt được truyện nào trong “Hướng Dương Dấu Mặt” là hồi ức hay tự sự kể? Truyện nào hư cấu?
Để người đọc khuấy quên mình đang đọc truyện (sản phẩm của tưởng tượng) mà, chỉ thấy đó là những trang hồi ký của một người chân thành thuật lại những mảnh buồn / vui đời mình… là điều không nhiều lắm, số nhà văn đạt được đỉnh cao chuyện kể, như vậy.
Đọc xong tập truyện dày 200 trang, trước khi khép lại, tôi mới thấy nơi những trang đầu sách, có “Lời Mở” của nhà văn Trương Vũ.
Trong bài giới thiệu ngắn mình, họ Trương khắc-họa cùng lúc hai chân dung người học trò cũ của ông. Chân dung đời thường và, chân dung văn chương Tôn Nữ Thu Dung. Bằng giọng văn từ tốn, ôn tồn, nhưng đằm thắm, ông viết:
“… Tôn Nữ Thu Dung là một trong những học trò trẻ nhất của tôi ở Việt Nam, đúng ra là một học trò bé bỏng nhất, em vào đại học năm cuối cùng tôi dạy và làm việc ở đó. Bốn mươi năm đã trôi qua, có nhiều lần gặp lại, tuổi tác tiếp tục tăng lên, tuy nhiên mỗi lần nghĩ đến Thu Dung, hình ảnh tôi nhớ đến luôn là hình ảnh một cô học trò bé bỏng năm nào. Bé bỏng không phải chỉ vì dáng dấp nhỏ bé, xinh xắn, đầy nhiệt huyết khi xông xáo vào những sinh hoạt của trường học. Chính cái cách biểu lộ đam mê rất hồn nhiên về văn học, nghệ thuật của Thu Dung tạo cho tôi ấn tượng đó. Sau này, đọc những bài vở của Thu Dung, theo dõi những công trình, những sinh hoạt của em về văn học và cả xã hội, tôi thấy gợi lại nhiều hình ảnh đã nằm yên đâu đó trong ký ức về một khoảng đời rất đẹp tôi sống trên quê hương (…)
“… Bây giờ, đọc lại những sáng tác của Thu Dung, tôi thấy hài hòa với mình và với tác giả hơn, thấy nó gần gũi với đời sống hơn, đặc biệt khi chứng kiến nhiều cái điên loạn đang xẩy ra trong thế kỷ này, những điên loạn phát sinh từ sự coi thường cái sống của người khác. Dầu sao, về chuyện văn chương, tôi đã từng viết ra trong một tiểu luận cách đây 20 năm: ‘…khi nghĩ tới văn học nghệ thuật, chúng ta buộc phải nghĩ đến những giá trị lớn, những mức đến xa và không nên tự hài lòng với một so sánh nào đó.’ Tôi tin Tôn Nữ Thu Dung cũng nghĩ như vậy.
“Cần nói thêm, trên hành trình văn học của mình, Thu Dung có một bạn đường rất tốt: ‘Một trẻ thơ trong người lớn’.
“Rất thánh thiện và hồn nhiên đến với cuộc đời”.
.

Tôi không biết có phải vì lời giới thiệu đằm thắm, sâu xa đáng trân trọng của nhà văn Trương Vũ về tác giả “Hướng Dương Dấu Mặt”, khiến tôi quên bẵng công việc còn dở dang của mình, để bước ngay vào “Nhật Ký” cõi-giới thi ca, một đường bay văn chương khác của Tôn Nữ Thu Dung?
Lần này, khác hơn “Hướng Dương Dấu Mặt”, tôi lần dở từng trang “Nhật Ký”, bắt đầu từ phần trình bày, những trang trắng, tới trang 7, có bài thơ thứ nhất, tựa đề “Bài Tặng Một Người”… Hình như tôi có ý muốn được đọc thêm những “Lời Mở” của Trương Vũ, vào cõi giới thi ca của tác giả đặc biệt này (?)
Tôi không gặp thêm một dòng chữ nào của họ Trương!!! Nhưng tôi lại được bội thu những dòng thơ thông minh, lí-lắt-trẻ-thơ của Thu Dung. Nhất là những liên tưởng, ẩn dụ rất mới. Nao-nao-đẹp-khác của Thu Dung trong “Nhật Ký”.
Như:
“Chiếc lá vừa rơi… nghiêng… chao
Tôi cũng muốn cho phép mình
Nghiêng… chao… như thế
Nhưng cuộc sống đã trót mang hình giọt lệ
Thì thôi …”

(Nhật ký, tr. 8)
Hoặc:
“Thả xuống nụ cười đêm
Hồn người long lanh mãi
Trong vô vọng kiếm tìm
Giữa một dòng lệ chảy”

(Nhật ký, tr. 10)
Hoặc:
“Có phải từ trăm năm
Lạc nhau rồi mấy kiếp
Vóc hạc gầy đăm đăm
Mở hoài đôi mắt chết”

(Nhật ký, tr. 16)
Hoặc:
“Có ngày… ‘rõ mặt’ đôi ta
Trời xanh mây trắng sẽ là của nhau
Đừng chờ… chưa chắc ngàn sau
Hãy chờ… có thể… Ngàn sau… sẽ là…”

(Nhật ký, tr. 60)
Hoặc:
“Như tiếng hát của một ngày xa khuất
Giữa trái tim… tình rỗng, phải không người
Xin thứ lỗi
nếu tình tôi không thật
Ảo vọng buồn – lơ đãng – hãy quên thôi!!!”

(Nhật ký, tr. 87)
Hoặc:
“Chém xuống dòng sông trăm nhát kiếm
Nước vỡ… như lòng ta trưa nay…”

(Nhật ký, tr. 101
Hoặc nữa:
“Ta vẫn hỏi trong từng hơi thở cuối
Đôi mắt nào tiễn biệt… mưa bay ngang…”

(Nhật ký, tr. 111)
.
Với tôi, nếu truyện ngắn của Tôn Nữ Thu Dung “… là mơ ước thầm kín của nhiều nhà văn” thì, tôi cũng trộm nghĩ, sẽ có không ít những nhà thơ trẻ hôm nay, tưởng tới ngày là chủ nhân của những câu thơ “nao-nao-đẹp-khác” như thơ Tôn Nữ Thu Dung, vậy. (*)

Du Tử Lê
(Garden Grove, Feb. 2016)
_________
(*) Muốn đọc hay biết thêm về Tôn Nữ Thu Dung, xin vào trang nhà tuongtri.com

XIN THỨ LỖI, NGOÀI TẦM…

tonnuthudung

Khi không gian chỉ còn lại chúng mình
Từng giọt nhạc chưa bao giờ hay thế
Từng giọt cà phê rơi thầm, lặng lẽ
Ngoài hiên mưa… bong bóng vỡ bềnh bồng

Hình như chiều lơ đãng dịu dàng buông
Giọt lệ nến rơi vào đêm huyền thoại
Dù kỷ niệm…
còn làm tim đau nhói
Nhưng Tình Yêu,
xin thứ lỗi,
ngoài tầm…

Tôn Nữ Thu Dung

VALENTINE NGƯỜI TA VÀ EM

nguyentancu

Người ta luôn luôn làm cho anh nhớ em
Mái tóc ấy làm cho anh …thắt ruột
Đôi mắt ấy làm cho anh ngơ ngẫn
Và nụ cười làm anh thở chẳng ra hơi

Người ta làm cho anh … ngó trời
Mưa rát mặt và nhớ em buốt dạ
Khi nhớ quá thì nhìn cho đỡ nhớ
Người ta tưởng mình
Mình tưởng với người ta?

Nếu như thế thì em rất …lạ
Bởi em không giống một ai
Nhưng người ta lại rất giống mình
Người ta làm cho anh nhớ em
Không bao giờ ngơi nghỉ
Buổi sáng buổi chiều mọi lúc mọi nơi

Anh sợ quá và luôn luôn cúi mặt
Giả vờ như rơi mất một nỗi buồn
Anh nhặt lấy trái tim mình tơi tả
Khâu vá nỗi cô đơn
Bằng chính
nỗi đau mình

Người ta như thế – còn em thì như thế
Cứ như không – mà lại có trong đời
Em xa quá – người ta thì – gần quá
Anh chạm chỗ nào cũng thấy nỗi đìu hiu

Người ta làm cho anh luôn luôn nhớ em
Ừ thì nhớ – sợ gì mà hổng nhớ
Nếu cần thiết anh sẵng sang bỏ chạy
Để trái tim anh nguyên vẹn tả tơi buồn

Anh sẵn sàng để nỗi nhớ rong chơi
Và có thể em không cần anh nữa
Em như thế – Người ta thì như thế
Có khi nào em nhớ
Giống anh không ???

Nguyễn Tấn Cứ

Vãn Tuồng

nguyendinhbon

Bà Tư Trầu như nhớ lại từng chi tiết cái ngày của ba mươi năm về trước khi bà còn là một bà chủ hàng xáo ba mươi tuổi, trẻ trung và có nước da trắng trẻo mịn màng của một người đàn bà trẻ sinh ra và lớn lên ở miệt vườn Nam bộ… Ngày đó dù chiến tranh đang hồi khốc liệt nhất nhưng con lộ chạy dọc theo kinh xáng Xà No vẫn còn nguyên, những cây cầu xi măng cốt sắt xây từ thời Pháp vẫn vững vàng và xe đò, xe hàng cứ ì xèo xuống lên. Bây giờ con đường đã hư hỏng nhiều, phải lội bộ trên những quãng lởm chởm đá và đứt đoạn, thiệt là cực. Nhưng cực gì đi nữa thì tối nay cũng phải đi!
Cái câu mà bà đang nghĩ đó chính là lời của thằng cháu nội nói trưa nay, khi nó ù chạy về nhà kể một thôi một hồi về chuyện một cái gánh hát lớn vừa bầu đoàn thê tử về dựng rạp tại nhà văn hóa xã. “Có Minh Tài nữa đó nội. Tối nội dẫn con đi coi nghen! ”. “Ai? ”. Lúc đó bà Tư đã thảng thốt hỏi thằng cháu như vậy. “ Minh Tài chớ ai nội. Minh Tài hát trên truyền hình nội khen hoài đó!”.
Minh Tài ! Thì chính cái tên ấy đã làm cho bà Tư nhớ lại cả một quãng đời đã thành xa lắc xa lơ của mình. Hồi đó bà cùng chồng là Tư Nhỏ chuyên mua lúa mùa xứ ruộng này rồi thuê xe đò chở lên tận Sài Gòn để bán. Làm hàng xáo thì cũng có cái sướng cái khổ như mọi công việc khác trên đời. Nhưng trong suốt thời gian gần năm năm đi buôn ấy, cái chuyện mà cho đến bây giờ bà vẫn không quên lại dính đến anh chàng kép mùi Minh Tài này. Cái lần đó, khi xe hàng vừa xuống gạo xong thì phải đưa đến ga-ra sửa lại một số trục trặc nào đó về máy móc nên phải ở lại. Đêm ấy, khi Tư Nhỏ đang ngồi dưới bến Hàm Tử “sương sương” với bạn bè là dân bốc vác thì Sáu Liên, cháu bà chủ vựa gạo, lân la rủ:
“Chị Tư, tối nay cải lương hay lắm nghen. Em mới đọc quảng cáo trên nhật trình. Tối nay em lại rảnh nữa. Đi coi với em nghen chị Tư!”
“Thôi, không được đâu. Chị sợ anh Tư rầy chết. Ông coi vậy chớ khó lắm đó!”
“Xí! Ổng có bạn nhậu thì chị cũng có quyền đi chơi chút đỉnh chớ. Chị biết tối nay ai hát hôn?”
“Ai?”
“Minh Tài chớ ai! Ca mùi hết sẩy luôn nghen!”
Ngày ấy, Minh Tài là một kép trẻ nhưng đã nổi tiếng khắp miền Nam. Khi ấy nghệ thuật cải lương cũng đang hồi cực thịnh và không một người phụ nữ nào có thể từ chối chuyện đi coi Minh Tài hát. Người đàn bà trẻ, là bà Tư bây giờ, cũng vậy, dù rằng đêm hôm ấy khi từ rạp hát trở về, bà đã bị người chồng, đã nhậu sần sần tặng cho hai bạt tai vì tội đã không xin phép chồng mà dám “đổ đường” (tiếng của chồng bà) đi coi hát một mình. Lần ấy, bà Tư đã giận chồng suốt cả tháng trời cho đến khi “ổng” mua về một băng cát-xét dài tiếng rưỡi đồng hồ chỉ do mình Minh Tài hát và lén để trên máy hát bà mới chịu cho ổng làm lành. Vậy mà đã bao nhiêu năm, giờ thì chỉ còn lại một mình bà với những khi bất chợt nhớ lại…
Một đám trẻ nhỏ lôi thôi lếch thếch, bồng ẵm nhau chạy ngược ra phía đầu vàm, vừa chạy vừa reo hò “Gánh hát dìa! Gánh hát dìa!” um sùm làm bà Tư nhớ lại là nãy giờ mình còn chưa bắc nồi cơm lên cho thằng Ba đi ruộng về nó ăn. Bà lật đật dựng cây chổi vô một góc hè rồi quày quả định vô nhà nhưng ngay lúc ấy bà dừng lại, quay nhìn xuống dòng kinh trước mắt bởi từ nơi đó có tiếng loa khọt khẹt rồi một chiếc vỏ lãi lấp ló chạy ra sau đám bần mọc de bên mép nước. Cái loa đã lấy được tiếng, nó ồn ào vang lên: “Kính thưa bà con cô bác, đêm nay đoàn cải lương của chúng tôi với nam danh ca của mọi thời đã đến…”. Bà Tư như không còn nghe thêm được nữa. Một tình cảm gì đó đã lâu rồi không còn cảm thấy trong lòng chợt dâng lên tràn ngập, bà như thấy mình sống lại thời tuổi trẻ và ngay trong lúc ấy bà quyết định tối nay sẽ đi coi hát. Chỉ tiếc là ổng không còn để rầy rà mình nữa. Bà Tư chỉ nghĩ về chồng đơn giản vậy !

*
Hai bà cháu phải cực nhọc lắm mới lội hết con đường lót đá mấp mô để đến nhà văn hóa, nơi gánh cải lương dựng rạp và cũng phải cực nhọc hơn như vậy bà mới mua được tấm vé cho mình, tức là cho cả hai bà cháu, vì quá nhiều người chen lấn.
Khi đã tìm được một chỗ ngồi khá gần với sân khấu, bà Tư mới yên tâm. Tấm màn nhung đỏ vẫn còn đóng kín và từ bên trong những âm thanh rộn rã của một rạp hát vọng ra làm mọi người cảm thấy náo nức.
Minh Tài đã xuất hiện ngay từ màn đầu, đóng kép chính đúng như quảng cáo làm khán giả vỗ tay tán thưởng rào rào. Chỉ tiếc là anh đã quá mập, dáng mệt mỏi trong khi cô đào hát cặp với anh lại còn quá trẻ nhưng cũng khá đẫy đà. Người ta xì xào rằng đó là cô vợ không biết thứ mấy của Minh Tài. Có tiếng ai đó hơi lớn: “Chèn ơi, già quá rồi. Kép với đào như cha với con”.
Với bà Tư gì thì gì cũng không quan trọng lắm. Đó là chuyện đời tư. Ăn thua là giọng hát kia. Nhưng rồi cái háo hức lắng dần xuống khi người ta bắt đầu nghe anh ca. Đến khi Minh Tài vô một câu vọng cổ thì bà Tư thở dài. Giọng anh đã không thể còn như xưa nữa. Bà Tư cũng là người hiểu biết nên bà không trách thần tượng mà chỉ tiếc cho anh khi anh vẫn còn cố đóng kép chính khi mà tuổi tác đã đè nặng lên cuộc đời.
Tuồng đang diễn có cảnh hai vợ chồng nhà nghèo lặn lội đường xa, lại phải băng qua cả một cánh rừng rộng để đi tìm kế mưu sinh. Cô vợ trẻ yếu dần, yếu dần rồi lả đi. Anh chồng cố hết sức dìu vợ nhưng cô vợ đã ngã xuống. Anh chồng, tức Minh Tài, liền ra sức xốc người vợ lên định cõng băng qua khu rừng. Bỗng nhiên khán giả cười rần rần. Thằng cháu bà Tư cũng chỉ tay lên sân khấu cười ré lên: “Nội coi ngộ quá kìa. Minh Tài ẵm không nổi vợ mình kìa nội ! ”. Thì ra cô đào trẻ nặng quá so với lực yếu đuối của một anh kép hát về già vì vậy mà anh ta cứ nhổm lên nhổm xuống, miệng thì ca đang cõng vợ còn thực ra thì dựng cô ta lên cũng còn không nổi. Quả là lực bất tòng tâm. Chỉ có khán giả là được một trận cười no nê mà khỏi cần hề hiếc gì chọc ghẹo hay thọt lét.
Màn diễn vụng ấy rồi cũng qua. Vở diễn vẫn tiếp tục nhưng càng về khuya Minh Tài ca càng đuối. Bà Tư cảm thấy một nỗi thất vọng tràn ngập trong tâm hồn mà mới đây bà tưởng chừng vừa trẻ lại. Thằng nhỏ đã ngủ gục lên gục xuống trên vai bà nội. Bà Tư nhẹ nhàng ẵm đứa cháu lên và tìm cách đi lui ra dù bà thuộc rành tuồng nên biết cũng còn khá lâu nữa mới hết. Thằng Tâm chợt giật mình. Nó dụi mắt lè nhè: Hết rồi hả nội ?
“Ừ, dìa. Vãn tuồng rồi cháu!”

Nguyễn Đình Bổn
(đã in trong tập “Giữa Trần Gian Và Địa Ngục”)