RỒNG RẮN LÊN MÂY.

nguyenhuynh

Hồi tôi còn là đứa trẻ khóc nhè, mẹ tôi thường dọa: “ Ông bị cọ bắt bỏ bị!”. Nhưng đối với tôi không ăn thua gì. Lão ăn mày thi thoảng dừng lại trước cửa nhà tôi, khi lon gạo lúc năm hào, trông ông chẳng có gì đáng sợ cả. Nhưng nếu mẹ tôi khẽ nhìn ra doi cát: “ Xì!…Bà ma lai kia! ”, tôi im thin thít ngay.
Doi cát nằm ở cuối làng tôi, do đầm Cù Mông bọc quanh bồi đắp nên. Ở đó lồng lộng gió và cát. Ven mép nước mọc độc một loại cỏ lá cứng như gai, tua tủa từng chùm. Tháng sáu, vào những buổi sáng nước cường, sóng liếm vào chân cỏ làm chúng tơi ra trơ cả gốc, lại gặp ngọn gió nồm vừa chướng nhổ lên thổi lăn lông lốc qua doi cát, đến tận mép nước bên kia. Tại đây, đến xế chiều trời trở gió, ngọn nam Lào đẩy chúng ngược hành trình trở lại. Người ta gọi chúng là hoa cát. Bọn trẻ chúng tin chắc bà Huê thuộc loại hồn ma bóng quế vì thường thấy bà vừa chạy đuổi theo bầy hoa gió vừa cười khanh khách. Lại nghe những người đánh cá bảo rằng vào những đêm trăng sáng, họ thấy bóng một người đàn bà đứng im phăng phắc xõa tóc hứng trăng ngoài doi cát. Một thời gian dài, mỗi khi đi ị ngoài bãi sông, tôi phải kệ nệ vác theo cây cuốc.
Mãi cho tới năm 1975, khi mọi người tưng bừng chào đón hòa bình thì bà Huê bỗng diện quần là áo lượt, tóc bới cao, chân đi guốc, gặp ai cũng chào hỏi tươi cười. Bà đi tới đâu bọn trẻ chúng tôi dạt ra tới đó. Ông ngoại tôi trừng mắt bảo:” Việc gì mà sợ! Bà ấy là ma thì chúng mày là quỉ hết!”. Mẹ tôi nói: « Con dọa cháu chứ ma cỏ gì bà ấy. Ông Dền sao vẫn chưa về ?… ». Tôi không rõ ông Dền là ai, chỉ nghe phong thanh ông là chồng sắp cưới của bà Huê, đi tập kết ra Bắc từ năm 54, đến nay vẫn bặt cá tăm ngàn. Sau đó bà Huê ra chợ thưa dần, rồi ở luôn ngoài doi cát với những đêm trăng xõa tóc. Và như thể hằng đêm ánh trăng phớt bạc lên mái tóc bà. Bà già đi nhanh chóng.
Năm năm sau, ông Dền đột ngột trở về vừa lúc không còn ai nhắc tới ông nữa. Ông vận bộ đồ ka ki, đeo xắt cốt đứng tần ngần giữa chợ. Dưới chiếc mũ cối lòa xòa những lọn tóc lóm đóm bạc để dài phủ xuống tận quai hàm, ở đó bộ râu quai nón nhuộm sương tiếp tục bao quanh khuôn mặt càng tôn vinh vẻ phong sương, bi tráng của con người ông. Ông Dền hỏi thăm tìm đến nhà ông bộ Kiểm – cha của bà Huê -, một giờ sau ông trở ra, chiếc nón cối trễ một bên, xăm xăm đi thẳng ra doi cát. Người ta đồn ông làm tướng tá gì đó trong quân đội, hết đánh Mỹ lại kéo quân sang biên giới Tây Nam. Sau không rõ vì lẽ gì ông bị giáng chức rồi cho về hưu. Không ai biết quê ông ở đâu. Sau cách mạng tháng Tám, ông về dạy bổ túc văn hóa ở quê tôi. Thưở ấy, ông là một thanh niên tài hoa, hoạt bát nên chẳng bao lâu cô học trò đẹp nhất lớp, xinh nhất làng, con của ông bộ Kiểm giàu sang, cành vàng lá ngọc đã đem lòng yêu ông say đắm dù bị gia đình cấm đoán, cho ông là đồ trôi sông lạc chợ, đũa mốc mà chòi mâm son. Không ai biết sau trên hai mươi năm, gặp nhau trong một tiếng đống hồ ân ân oán oán tại nhà ông bộ Kiểm, họ đã nói những gì, chỉ thấy ông trở ra với bộ dạng của một bại tướng.
Ông Dền bắt tay sửa sang lại căn lều, tóm cổ bọn hoa gió chất đống rồi nổi lửa, đào hố trồng dừa. Bà Huê như hóa thành trẻ thơ tung tăng quanh những gốc dừa non, cười cười nói nói luôn miệng. Người ta kể lại rằng bà dở khôn dở dại sau lần một đám tử tế trầu cau dạm hỏi, ông bộ Kiểm tưởng rằng con mình đã quên người thầy giáo bặt vô âm tín mấy năm rồi , không ngờ bà Huê gào khóc : « Anh Dền ơi anh Dền ! Anh lang thang những đâu, đầu gềnh cuối thác ; anh trôi dạt nơi đâu, chết bờ chết bụi gì sao không về giữ lấy em ! ». Bà nổi đóa đá đổ cả mâm trầu hủ rượu : « Đừng có hòng ! Đừng có hòng ! Tôi là gái đã có chồng ! Chồng tôi là anh hùng hảo hán, là thằng lường gạt, là gã Sở Khanh… ». Ông bộ Kiểm cất một cái chói tranh ngoài doi cát, đuổi bà ra đó ở.
Vườn dừa ông Dền được chăm bón chu đáo nên trong ba năm đã cao bằng đầu người và bắt đầu ra những quả chiếng. Cánh lá xum xuê và rợp bóng là đất lành cho muôn chim về làm tổ. Những chú chào mào đội trên đầu túm lông đỏ trông như chiếc vương miện đăng quang cho tiếng hót lảnh lót, vút cao trên những tàu lá non chưa xòe lá trong những sớm tinh mơ. Buổi trưa, cái nóng oi bức, rã rượi, tất cả dường như lắng lại nhường đường cho ngọn nồm hây hẩy thổi từ cửa biển vào làm phe phẩy những cọng lá khép, bật kêu những hồi re re rè rè càng làm cho không gian khu vườn thêm trễ tràng, biếng nhác. Thảng hoặc đâu đấy, la đà trên tàu lá khô vắt vẻo một chú chim cu choàng mắt thức giấc thúc lên một vài tiếng gáy cầm canh. Về chiều, gió bắt đầu đổi hướng và theo đó không gian mở rộng ra theo những chiều kích khác. Bay cao hơn hết và ồn ào hơn hết là bầy sáo sậu giành chỗ ngủ trong ánh tà huy.
Đam mê của tôi thuở ấy là được cung phụng những chú chim sắc vừa dập bụng cứt, lún phún trổ bộ lông sặc sỡ màu ngủ sắc trong những chiếc lồng xinh xắn. Vậy là khu vườn nhà ông Dền bị xáo động bởi một thằng nhỏ trần trùng trục lăm lăm giàn thun trên tay, ngửa mặt sục sạo trên những đọt dừa ,tàu lá. Vào một buổi trưa, khi tôi đang ngồi tót trên đọt dừa ngắm nghía những chú chim non đang vươn cao cổ, chao chao những chiếc mỏ vàng nở toác nôm như những đóa cúc dại thì bất đồ nghe giọng đằng hắng phía dưới của ông Dền : « Con cáo có hang, chim trời có tổ, sao cháu nỡ phá nó đi ? ». Từ buổi trưa hôm đó, hòa bình được vãn hồi nơi vườn nhà ông Dền. Đam mê của tôi chuyển qua con đại bàng ăn khế trả vàng, con cá chép móng nước ngoài biển khơi, con ngựa xích thố của Quan Vân Trường, con trâu cưỡi mây của Tôn Tẩn…trong tiếng kể chuyện vừa như trẻ học bài, vừa như lời hát ru, vừa như tụng niệm của ông Dền. Ông ngồi trên bộ ván dừa sầy sướt, vừa kể chuyện vừa móm mém bập bập điếu thuốc vấn trễ bên mép. Thỉnh thoảng ông dừng kể, lừa điếu thuốc dính vào đầu lưỡi, há miệng nhả khói. Làn khói vừa ra khỏi miệng liền bị gió đánh bạt vào bộ râu của ông, và dường như nó nhập vào những sợi bạc lơ phơ ấy. Tôi nằm dài trên thềm, gối đầu lên ngạch cửa, thiếp dần vào những giấc mơ bay cao cùng câu chuyện kể. Khi đã chán những Bàng Thống thoát y tại thị, Tào Tháo tử lộ Hoa Dung, tôi ra thềm ngồi đánh chắc nẻ một cụp ca hai ca cụp cùng bà Huê, hoặc chơi ô ăn quan mà thường khi bà cứ « Mượn lúa » dù ô của mình vẫn còn.
Người ta kể nhau rằng hồi ông Dền về dạy hoc, đã bày những trò chơi như vậy trong những đêm trăng thanh gió mát. Cả tới cái ngày ông Dền hành trang xuống tàu tập kết, bà Huê trao gối xôi còn đang nóng hổi: « Anh đi chân cứng đá mềm », ông lại nhảy lò cò quanh bà hát câu rồng rắn lên mây : « Thiên đường địa ngục hai bên, ai khôn thì dai ai dại thì khôn, đêm nằm nhớ chúa nhớ cha… ». Một hôm tôi đang bồng bềnh thiu thỉu ngủ cùng với sóng nước Triệu Tử Long đoạt ấu chúa thì giật thót người khi nghe bà Huê kêu lên: « Cháy nhà ! ». Bà ngồi bệt xuống đất bên những ô vuông kẻ bằng than, tay đập đập mảnh sành:« Uổng công tao ! Lầu ba lầu bảy mà mày nhảy vào, cháy cả ! ». Ông Dền ngoái cổ nhìn ra cười bảo: « Lợi bất cập hại, việc gì phải nhà lầu xe hơi ? ». Bà Huê đứng dậy, hươ hươ mảnh sành lên cao: « Tôi sẽ cất lại, đụng trời mới thôi. Trời mà làm nhà tôi cháy, cháy lan cả trời cho xem. ». Ông Dền nghiêng tai bảo : « Bà giống con chim chiền chiện ngoài kia quá, bà có nghe nó hót không ? Chỉ hoài công thôi ». Tôi dõi mắt lên nền trời xanh pha lê, một cánh chim đang chấp chới nâng mình lên cao theo chiều thẳng đứng. Càng lên cao tiếng chim càng ríu rít líu lo cho tới khi chỉ còn một chầm nhỏ nhoi trong bầu trời bao la, nó bất thần im bặt, đồng thời cụp cánh lại và rơi tự do, gần tới đất nó xòe cánh liệng một vòng rồi lại chấp chới cánh lên cao cùng với tiếng hót.
Mùa hè năm 1985, tôi lên huyện học cấp ba. Hàng tuần về nhà tôi thường xuyên băng qua khoảng ruộng hẹp ra doi cát thăm hai ông bà lão. Bà Huê ngày càng trẻ lại với những trò chơi của mình. Ông Dền già đi nhanh chóng, bom đạn chiến trường bây giờ mới có thời cơ phát huy tác dụng của nó.Những câu chuyện kể của ông đã bị nhầm lẫn, như Điêu Thuyền cưỡi ngựa Xích thố…
Tốt nghiệp trung học, tôi theo trường vào thành phố vẫn không quên hai ông bà lão trước ngày lên đường. Tôi bắt gặp họ ở bãi cát, sát mép nước. Ông Dền ngồi xé tập thơ Đường ra và xếp lại thành những con thuyền giấy cho bà Huê thả xuống sông. Gió nam Lào tháng sáu đi qua những ngọn núi nóng rẫy, hừng hực đổ ra biển nhanh chóng thổi những chiếc thuyền giấy mang theo cả Thôi Hiệu, Đỗ Phủ, Lý Bạch…ra khơi. Bà Huê nhón chân, nghiêng người thả tiếp một chiếc nữa, khẽ ngâm: « Quân tại Tương giang đầu / Thiếp tại Tương giang vĩ / Tương tư bất tương kiên / Đồng ẩm Tương giang thủy. ». Ông Dền ngừng tay, thẩn thờ nhìn theo những chiếc thuyền giấy bị sóng đánh ra xa. Sau ông đưa quển sách đã rách gần nửa cho tôi, nói: « Tặng mày đấy. À, ngày trước bắt gặp mày trên đọt dừa tao chưa nói hết câu nói của chúa Giê Su : Con cáo có hang, chim trời có tổ, song con người không chỗ gối đầu. ». Tôi cầm quyển sách, tự hỏi sau này mình có thể xé ra làm những con diều lướt gió không ?. Ông Dền bước tới nắm tay bà Huê, nét mặt trở nên tươi tắn, rạng rỡ cất giọng: « Thiên đường địa ngục hai bên, ai khôn thì dại ai dại thì khôn, đêm nằm nhớ chúa nhớ cha… ». Và rồi họ dung dăng dung dẻ đi về phía cuối doi cát. Tôi không ngờ đó là hình ảnh cuối cùng của hai người bạn già trong suốt thời thơ ấu của mình.
Mãi cho tới khi hoàn tất chương trình đại học, tôi mới có dịp trở về quê thì được tin họ đã mất. Tôi ra doi cát vào một chiều chớm đông khi ngọn gió bấc bắt đầu se se lạnh. Thời gian này kế hoạch nuôi tôm sú đại trà đã phổ biến rộng rãi trên các vùng ven biển. Doi cát cũng nằm trong kế hoạch. Tôi đi giữa những bờ ngang bờ dọc tiếp nối, đan chéo nhau chạy quanh bờ mép nước, giữa tiếng cười nói ồn ào của những người nuôi tôm, tiếng xe ủi gâm rú. Những thân dừa bị đốn ngã, phát quang. Thế giới loài chim ngày xưa tan tác. Tôi đi về cuối doi cát, nơi hình ảnh cuối cùng còn lại trong tôi về hai ông bà lão nắm tay nhau dung dăng dung dẻ mà dõi mắt lên bầu trời hoàng hôn mông muội, cố tìm một bóng chim chiền chiện. Dường như ngoài kia, trên mặt đầm Cù Mông tím sẫm, có một chiếc thuyền giấy khổng lồ đang dần hiện rõ. Trên cánh buồm rách tả tơi nổi bật một dòng chữ lấp lánh như ánh lân tinh, chập chờn như ma trơi: « Vọng mỹ nhân hề, thiên nhất phương… ».

Nguyễn Huỳnh.

KHÚC THÁNG HAI

dutule

tôi đã buồn như nỗi ngóng trông
tháng hai, trở lại những con đường
thấy tôi trên những tàng cây cũ
và những ngôi nhà đã bỏ không

tôi đã buồn như một ngọn cây
tháng hai, cành nhớ lá sương đầy
tháng hai, thôi đã không tay vẫy
và tiếng buồn rơi đều phương tây

tôi đã buồn như một nhánh sông
tháng hai, thôi vẫn chẻ đôi dòng
cánh chim nào lỡ quên soi bóng
trong nỗi sầu tôi, lên nước sơn

tôi đã buồn như một bàn tay
tay ai gió bão nổi hiên ngoài
tháng hai, nắng ở phương trời khác
mà tiếng rơi ròn khua ở đây

tôi đã buồn như một sớm mai
tháng hai, hoa cỏ, dấu chân người
có ai mưa ướt đôi vai nhỏ
và nhốt hồn tôi ở một nơi

tôi đã buồn như một giấc trưa
hồn đi trăm xứ vẫn mưa về
tháng hai, lệ chảy trong yên ắng
và dáng ai ngồi như chết khô

tôi đã buồn như một quán không
chiều lên lênh láng một dây đàn
tháng hai, bụi phủ từng vai ghế
tôi với bàn chia nỗi ngổn ngang

tôi đã buồn như chiếc bóng tôi
mai kia tôi sẽ bỏ xa đời
tuổi, tên, thôi cũng đi về… đất
riêng ở nơi này vẫn tháng hai.

Houston 2-84
Du Tử Lê

trời ơi em…

10735644_826194720769236_378143114_n (1)

buồn buồn ngó hoa
ngó hoa hoa nở
cơn nhớ lạc đường
trôi đâu về nớ

ta muốn mắc cỡ
bẽn lẽn thưa em
thưa em nhật nguyệt
dan díu trong đêm

hồn ta động cỡn
nhẩy lên phù đồ
ta bước lạc chân
té vào thiên cổ

buồn buồn thấy vui
thấy em lấp ló
nghe em thoáng qua
tóc cài nơ đỏ

em im lặng thế
ta nói quá trời
chạm mây mưa rơi
(mưa nguồn chớp bể)
trời ơi! trời ơi!

Ngô Yên Thái

Thư viết cho mẹ.

elenapucillo

(Nguyên tác : lettera alla madre)
Bản dịch của Trương Văn Dân

Mẹ thương yêu,
Con thường nghĩ về mẹ nhưng trước đây con chưa viết được gì cho mẹ. Con muốn kể cho mẹ nghe rất nhiều điều, tất cả những gì đã xảy ra với con, về cuộc đời mà con đang sống, dù đôi khi con có cảm giác là mẹ đã biết tất cả rồi. Mẹ luôn có một thứ giác quan thứ sáu, một thứ trực giác bén nhạy để linh cảm về những điều sắp sửa xảy ra. Chỉ tiếc là những linh cảm ấy không giúp mẹ tránh khỏi những khổ đau. Và trong đời, mẹ đã đau khổ biết bao!
Ngay từ lúc còn bé, một cơn sưng màng não đột phát trong vài giờ đã cướp đi người em gái, và sau đó, vì quá đau đớn bà ngoại cũng ra đi.
Kể từ ngày đó mẹ luôn luôn mang theo cái bóp đầm trong đó có hai bức hình đen trắng.
Từ nhiều năm nay trong chiếc ví của con cũng có bức hình trắng đen của mẹ: khuôn mặt mẹ thật đẹp nằm giữa những lọn tóc gợn sóng, hai mắt to màu đen và nụ cười chớm nở trên môi. Lúc đó mẹ chỉ vừa 19 tuổi, trước khi lập gia đình với người yêu và cũng là mối tình đầu và duy nhất của mình. Suốt một đời mẹ chỉ muốn tận tình chăm sóc chồng, thế mà sau ngày cưới chẳng bao lâu, người chồng đã bắt đầu làm khổ mẹ. Niềm an ủi duy nhất của mẹ chính là những đứa con : anh trai và con, đứa con gái mà mẹ muốn giữ, chống lại ước muốn của chồng. Tám năm sau lần sinh nở đầu tiên, chính mẹ đã quyết liệt chống đối để con có thể tiếp tục lớn lên trong bụng mẹ. Thật là khó khăn vì ba muốn mẹ phải phá thai để khỏi bị ràng buộc, nhưng mẹ nhất định không. Mẹ muốn giữ con, và biết chắc là sẽ sinh con gái. Mẹ đã nhiều lần kể lại cho con nghe là ba đã giận dữ như thế nào: Nếu phải có con, ba chỉ muốn tất cả đều phải là trai!
Thế nhưng, rất nhiều năm về sau, chính ba đã lớn tiếng tuyên bố là người duy nhất mà ba có thể trông cậy và tin tưởng là con, đứa con gái của ba mà trước đây ông muốn bỏ đi !
Thỉnh thoảng con cũng có nghĩ về ba, nhưng trong những giấc mơ, con chỉ mơ thấy mẹ.
Trong những giấc mơ ấy con luôn luôn mơ thấy ngôi nhà mình từng sống. Dường như có lần con từ trường đại học trở về và thấy mẹ đang ngồi cạnh cửa sổ, đôi mắt kính xệ xuống sống mũi, cuí đầu cặm cụi khâu lại ống quần hay kết lại viền khăn trải bàn bị đứt chỉ. Những lần khác con nhìn thấy mẹ đang làm nước sốt cho món mì đút lò. Bao nhiêu lần con đã phụ mẹ để nấu những món mà gia đình thích, thường là ngày chủ nhật vì những ngày khác ba đi làm còn mẹ cũng đi dạy nên có ít thời gian. Nhắc lại, con như nghe trên đầu lưỡi của mình mùi vị thơm ngon của thứ nước sốt rất đặc biệt đó.
Trong các giấc mơ khác con cũng nhìn thấy mẹ, mà là những lúc thật buồn, thật đau khổ, rồi con thức giấc như vừa tỉnh một cơn ác mộng và lòng sầu đau khôn tả. Phải cần vài giây sau con mới định thần được rồi lòng chợt thấy vui vì con được ở gần bên mẹ. Dù chỉ trong một giấc mơ.
Mẹ ơi, trong những ngày cuối, chao ôi, con thấy mẹ dịu ngọt và mỏng mảnh làm sao! Con biết không phải mẹ khóc vì mình sẽ lìa bỏ cõi đời mà khóc cho những đứa con mà mẹ phải rời xa. Đó không phải là ý muốn của mẹ, mà là do cái khối u tàn nhẫn đang lớn dần bên trong và từng ngày cướp đi sức sống.

Sau khi mẹ mất, con luôn giữ những tấm hình của mẹ, lần này là hình màu, trong ảnh mẹ tươi cười và hình như không có nhiều lo âu. Có lẽ chỉ có một chút màu đen nơi vành mắt là dấu vết của nỗi buồn vì cô độc. Mẹ quá cô độc, nhưng có lẽ tất cả mấy mẹ con mình đều cô độc. Cho đến tận bây giờ con vẫn còn nhớ cái cảm giác bị ruồng bỏ, bị bỏ rơi. Suốt buổi tối cả nhà ngồi quây quần quanh chiếc bàn cơm đã dọn sẵn, im lặng đợi chờ. Nhưng ba con đã không về trong đêm đó. Và sau đó thì không bao giờ về nữa.
Con không bao giờ muốn nghĩ về những ngày tháng ấy. Ngược lại, con muốn nghĩ rằng giờ này mẹ đang bình an, không còn đau đớn và cuối cùng thanh thản ở một cõi giới khác.
Bây giờ thì con xin báo cho mẹ biết là trong những ngày tới, mẹ sẽ có một cuộc gặp gỡ quan trọng. Đến gặp mẹ là một người đàn bà mà mẹ đã từng gặp rất nhiều năm trước: mẹ của chồng con. Con tin chắc rằng hai người sẽ trở thành bạn, sẽ kể cho nhau nghe nhiều rất chuyện, về những cuộc đời ở mãi tận phía bên kia trái đất. Bà ấy hay cười và thích nói đùa. Đây là điều mà con đang tưởng tượng: hai người ngồi bên nhau như thể là hai người bạn lâu năm, vui đùa, cười nói. Mẹ chồng của con sẽ nói về Việt Nam, sẽ giải thích về lễ Vu Lan, một ngày lễ Phật Giáo rất đặc biệt dành cho các bà mẹ vì họ giữ một vai trò quan trọng trong gia đình cũng như ngoài xã hội.
Ngày lễ đó cũng là một cơ hội để các con có thể nói lên tình yêu thương và báo đáp lòng hiếu thảo với mẹ, người đã chịu đựng biết bao đau đớn để sinh con, nuôi dưỡng và dạy dỗ chúng nên người. Bao nhiêu khó khăn thường nhật mà người mẹ phải vượt qua, kiên nhẫn, hy sinh và xem nhẹ những đớn đau hiện tại để nuôi hy vọng về một tương lai tốt đẹp.
Mẹ biết không? Sau khi mẹ mất, hằng năm vào lễ Vu Lan con thường đi đến chùa để thắp nhang và cầu nguyện. Lần nào trước cửa thiền con cũng được chào đón bởi các em học sinh, để gây quỹ giúp chùa hay để làm từ thiện, họ gắn lên áo quan khách những chiếc bông hồng làm bằng vải hay bằng giấy lụa: Bông hồng màu đỏ tượng trưng cho những ai còn mẹ và màu trắng cho những ai có mẹ đã qua đời. Nhờ màu của những hoa hồng trên áo nên mọi người dễ dàng nhận biết ai là kẻ may mắn còn mẹ để chúc mừng, ai là người không còn mẹ để chia buồn với họ.
Ngày hôm đó con có bỏ một ít tiền vào chiếc hộp giấy mà các em mang theo và yêu cầu họ gắn lên áo mình một bông hồng màu trắng và một bông hồng màu đỏ. Cô bé học trò, đã ngạc nhiên khi nhìn thấy một người ngoại quốc đi chùa, nói chút ít tiếng việt, và lại có yêu cầu khác thường nên hơi bối rối. Con vội giải thích với cô ta rằng chiếc hoa hồng màu trắng là cho mẹ ruột của cô, còn hoa hồng màu đỏ là dành cho mẹ của chồng, mà con xem là bà mẹ thứ hai. Ý nghĩ này đến với con thật tự nhiên, vì bà mẹ chồng gầy gò nhưng tính cách rất mạnh mẽ kia luôn quan tâm đến con; Còn đứa con dâu ngoại quốc, có dáng vẻ bên ngoài có lẽ rất khác với những gì bà chờ đợi, nhưng luôn dành cho bà một tình thương và lòng kính mến như chính là con gái. Kính mến và yêu thương thật sự, đến nỗi con thường tránh chữ mẹ chồng ( vì những ý nghĩa mà thông thường người ta hay đem ra chế diễu); Có khi con xem gọi thế là một sự xúc phạm. Mẹ. Là mẹ, thế thôi.
Con không thể nào quên được là sau ngày mẹ mất, người mẹ thứ hai của con đã đem hình của mẹ đặt lên bàn thờ của gia đình và in ra nhiều tấm để gởi đến rất nhiều chùa để cầu nguyện. Đối với con, đó là một cử chỉ thân thương có nhiều ý nghĩa mà không lời lẽ nào nói lên được. Mẹ biết không, cho đến hôm nay trong các chùa từ Sài Gòn đến tận miền quê xa như Tây Sơn, Bình Định, mỗi lần tụng kinh các sư thầy đều có cầu nguyện cho mẹ.

Bây giờ thì mẹ và mẹ của chồng con đang ở bên nhau và ý nghĩ là cả hai đều bình yên đã cho con rất nhiều an ủi. Con sẽ luôn nghĩ đến hai người mẹ và mùa Vu Lan này, giữa các nghi thức cúng kiến, con muốn được đốt một chiếc điện thoại di động bằng giấy theo truyền thống của người Việt Nam để có thể nghe được giọng nói thân thương của mẹ.
Và bắt đầu từ nay, các em bé sẽ gắn lên trên ngực áo của con hai bông hồng trắng.
Con ôm hôn mẹ, thật mạnh.
Con gái của mẹ

Elena Pucillo Truong
Trương Văn Dân

Đời như một hạnh ngộ

nhatchieu
ELENA TRUONG

(Đọc Một Phút Tự Do- Tập truyện ngắn – Tùy bút của Elena Pucillo Truong)
Nhà Xuất Bản Văn Hóa Văn Nghệ – 10-2014

Elena Pucillo Truong là một trường hợp văn chương thú vị, một từ trường cuốn vào mình một vài chất nào đó của Ý và mội vài chất của Việt.
Chị là người Ý, sống ở Việt Nam, sống trong giao cảm với đất, nắng gió và người ở góc trời xa lạ mà thân thiết này, đơn sơ mà rắc rối này, bi cảm mà hay cười này…
Đầy cảm hứng, chị cầm lấy bút. Truyện ngắn và tản văn. Ở đâu cũng man mác một niềm giao cảm với Đời-như-một-hạnh-ngộ. Và Đông Tây hòa vào một giai điệu tình yêu.

Truyện ngắn của Elena có cái đặc sắc mà truyện ngắn Ý thường có. Đó là nhẹ, nhanh và linh hoạt.
Nhẹ như hơi thở nhẹ. Không có gì trầm trọng. Dẫu có ngộ nhận nhưng rồi sẽ có biến chuyển. Một cái gì đó bình thường thôi nhưng “nó sẽ làm thay đổi cuộc đời chúng ta…” như ta thấy trong truyện “Phút mặc khải”.
Nhanh như một bài ca. Một bi kịch có thể kể trong vài trang, như truyện “ Phòng số 3” nói về một cuộc tự tử đôi. Lối kết rất cô đọng : “ Nhiều năm đã trôi qua nhưng không hiểu sao tôi không thích giao chìa khóa phòng số 3 cho ai cả.” Chỉ trong câu văn rất nhanh ấy, ta thấy cả nhân tính lẫn nhân tình.

Hình ảnh Việt nam xuất hiện thường xuyên trong tản văn Elena. Không phải hiện ra như một bưu thiếp. Không như những bức ảnh thường thấy khi người ta chụp về một trú xứ mà mình không tùy thuộc. Trong những tản văn này, ta hiểu được sự hòa điệu tâm hồn, sự thấu cảm có thể thực hiện từ nền văn hóa này đến nền văn hóa khác.
Elena có thể thấm hồn mình vào không gian trà việt với một cảm thức tinh tế lạ thường: Sau khi diễn tả động tác chiết trà tuyệt vời của nghệ nhân Viên Trân, Elena viết : “Tôi có cảm giác là thời gian đã ngưng lại trong khoảnh khắc đó: chăng quan trọng là mình đang ở đâu, đang làm gì, ở đây không có chỗ cho quá khứ với những muộn phiền mà cũng chẳng còn chỗ cho tương lai với bao ẩn số…Không. Chỉ còn lại khoảnh khắc vô tận này, khi tôi ấp tách trà nóng ngào ngạt hương sen giữa hai lòng bàn tay…đó chính là niềm vui khi nhận một món quà không mong đợi, một thứ hơi ấm của tình người…”
Thế đấy, từ những truyện ngắn và tản văn của Elena, ta nhận được món quà không mong đợi mà đầy niềm vui, một thứ hơi ấm tình người vốn rất cần trong đời sống hôm nay mà vô cảm hóa đang là một nguy cơ.

NHẬT CHIÊU

Những khoảnh khắc vô tận

 

(Đọc Một Phút Tự Do- Tập truyện ngắn – Tùy bút của Elena Pucillo Truong)
Nhà Xuất Bản Văn Hóa Văn Nghệ – 10-2014

Hầu hết những truyện ngắn của Elena Pucillo Trương trong tập này đều thể hiện một đặc điểm quen thuộc của thể loại: nắm bắt cái khoảnh khắc của đời sống để làm hiện lên chân dung tinh thần và yếu tính tự do của con người.

Đó là phút mặc khải khi người mẹ chồng bấy lâu nuôi định kiến với người con dâu, bỗng một ngày nhận ra sợi dây mật thiết gắn bó hai người qua một mầm sống mới tượng hình, nhờ đó trút bỏ vẻ lãnh đạm và ích kỷ thường ngày để tìm lại sự dịu dàng và bao dung vốn có của mình.

Đó là những giờ phút hai anh em ruột thịt gặp lại nhau sau mười năm xa cách, trong căn nhà thời thơ ấu, nơi diễn ra đám tang của người cha thô bạo đã để vết hằn trên hai trái tim thơ dại. Trong cái khoảnh khắc từ giã, khi người anh tặng lại em chiếc đầu máy xe lửa chạy bằng pin mà người cha mua tặng một mùa giáng sinh xa lắc, dòng nước mắt bỗng rửa trôi tất cả những uất ức, căm hận.

Đó là một phút tự do khi người đàn bà quyền lực khô khốc, khó tính và cáu bẳn vì ngập đầu trong công việc, bỗng một buổi sáng kia muốn vượt thoát ra khỏi cái guồng máy quay đều làm ngạt thở để tìm lại bản tính thật của mình.

Đó là thời khắc của ngày cuối năm, sau bao ngày chờ đợi, người ni sư già gặp lại người đệ tử đã bỏ chùa ra đi không tăm tích, nay trở về với đứa con bé bỏng trong tay.

Đó là thoáng chốc hai người trẻ tuổi chưa quen biết trao cho nhau ánh mắt dịu dàng và nụ cười thân mật trên chuyến tàu về quê ăn Tết.

Đó là thời điểm định mệnh, ngẫu nhiên hay có chọn lựa, mà cặp vợ chồng già hay đôi tình nhân trẻ cùng nhau đi đến cái chết để giữ trọn một tình yêu đẹp…

Trừ truyện ngắn Trước khi màn hạ, ngòi bút nhân hậu của Elena Pucillo Trương như chỉ viết về tình liên đới, lòng trắc ẩn, sự bao dung và tha thứ của con người. Trên tất cả, đó cũng chính là những khoảnh khắc của yêu thương, như tác giả viết qua ý nghĩ của một nhân vật: “Tình yêu đã bùng nổ trong một lát nhưng đã theo tôi đến suốt đời người”.

Elena không chỉ nắm bắt mà còn biết cách miêu tả những khoảnh khắc, làm cho nó kéo dài ra, thu hút sự chú ý của người đọc, chẳng hạn khi chị tái hiện hình ảnh bà Viên Trân chiết trà ướp sen mời khách: “Tôi có cảm giác là thời gian đã ngưng lại trong khoảnh khắc đó: chẳng quan trọng là mình đang ở đâu, đang làm gì, ở đây không có chỗ cho quá khứ với những muộn phiền mà cũng chẳng còn chỗ cho tương lai với bao ẩn số”. Và tác giả gọi đó là “khoảnh khắc vô tận”: ngắn ngủi về thời gian vật lý, nhưng vô tận về hiệu ứng tâm linh.

Với chủ đề Carpe diem/ Nắm bắt khoảnh khắc, Elena đã từ một nouvelliste trở thành một essayiste khi chị bình luận về những vần thơ của Tôn Nữ Hỷ Khương: “Và trong hầu hết các bài thơ của nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương đều có phản chiếu tư tưởng này, bà trải lòng với người đọc rằng cuộc đời này là duy nhất, nhắc chúng ta biết đó là một quà tặng duy nhất và tuyệt vời của tạo hóa mà chúng ta đang có và vì thế cần phải biết trân trọng và hãy sống với niềm vui. Thế giới bao quanh chúng ta thật tuyệt vời và sự sống chính là điều quan trọng. Bất cứ một biến cố nhỏ hay lớn nào trong cuộc đời chúng ta, từ nụ cười của em bé đến sự leo lên đỉnh một ngọn núi cao cũng đều phải cho chúng ta ý thức về tính siêu phàm của cuộc sống”.

Thế giới này vô thủy vô chung, nhưng được tạo dựng từ những khoảnh khắc được chiếu sáng từ trái tim nhân ái của con người.

Đó là những đốm sáng lóe lên trên đường đời dằng dặc, giúp mình gắng đi cho trọn dù chỉ một chặng ngắn ngủi của thời gian.

HUỲNH NHƯ PHƯƠNG

BÓNG NGUYỆT THIÊN THU

truongdinhtuan

ta trót nghe theo lời nắng mật
từ ê a buổi tập đánh vần
thấp cao cánh chuồn chuồn châu chấu
mót lúa ngoài đồng một hạt cũng thọ ân

con dế lỡ hát lời sầu cổ
phiêu du đâu nghìn sớm vạn chiều
mái đình cong nguyệt hoài thơ dại
khói lam này nguyên cuống rạ đăm chiêu

vạn cổ hề cũng chỉ bấy nhiêu
về nơi đâu thêm hoang vu màu cỏ
sông chảy mãi bài tứ tình thứ nhất
ngược vào ta câu rực rỡ u phiền

em trót nghe theo ngọt mềm lục bát
đừng thương lây thân ngựa lù khù
lúc cao hứng bỗng phi nước đại
biết bao giờ ơi bóng nguyệt thiên thu

TRƯƠNG ĐÌNH TUẤN

Người Về

trantrungdao

Người về bóng ngả trên đường phố
Phố đổi màu theo mỗi bước chân
Mười năm ở lại cùng muông thú
Mây đã thành mưa rụng mấy lần

Chén rượu quan hà chưa uống cạn
Hương nồng ngây ngất vẫn còn đây
Người ơi! trăng vẫn tròn trong mộng
Sao chẳng chờ nhau một kiếp nầy

Người về một tấm thân hoang phế
Ngơ ngác bên đường lạc dấu vui
Chiếc áo phong trần xin gửi lại
Mười năm đi quên mất tiếng cười

Vẫn tạ ơn đời khi sống sót
Mười năm máu chảy đọng thành thơ
Lòng ai muôn dặm còn thao thức
Có biết rằng đây vẫn đợi chờ

Người về thương bóng mây qua núi
Núi đứng muôn đời nhớ tiếc mây
Cứ tưởng một lần quay trở lại
Cùng nhau vui hết cuộc sum vầy

Cụm khói lam chiều thôn Việt Bắc
Như màu khói thuốc thuở quen nhau
Bài thơ xưa viết mừng em lớn
Vẫn giữ làm tin chẳng nhạt màu

Người về ngồi lại thềm soan cũ
Cỏ mọc điêu tàn trên lối xưa
Xin khóc một lần cho thảm thiết
Cho sóng triều dâng mở hội mùa

Ngôi mộ ven đường ai chết đó
Đi tìm tung tích của cha anh
Đâu những oan hồn xưa lạc bước
Về đây nghe lại khúc quân hành

Người về cúi nhặt bài thơ cũ
Nhặt trái tim mình trong khói tro
Mười năm đá cũng mềm như lệ
Chẳng trách ai quên một chuyến đò.

Trần Trung Đạo

Đêm trên thung lũng

nguyenmonggiac

Xin cảm tạ Mai Phương và Trần Viễn Phương về những kinh nghiệm sống ghi trên báo Đời.
Xin cảm tạ những người bạn đã từng tham dự vào trận Hạ Lào, và đã cung cấp cho tôi những chi tiết quí giá của cuộc giao tranh.
Xin viết tặng những người vừa là anh hùng vừa là tội đồ của cuộc chiến tương tàn.

1. LỜI KHAI CỦA BINH NHẤT CỦA.

Tôi tên là Nguyễn Của, binh nhất, số quân 69/506.632. Lý lịch chi tiết của tôi, quí vị dễ dàng tra cứu trong quân bạ. Tôi xin lấy danh dự một người lính chiến, hằng ngày chạm mặt với cái chết, xin lấy tình yêu của Trần thị Lan người tôi nguyện thương yêu suốt đời, và tính mệnh đứa con trai hai tuổi ( thằng bé Nguyễn Trần Cải ) để thề rằng tôi viết ra đây toàn sự thật :

… Tiểu đoàn chúng tôi hôm ấy được bỏ xuống một ngọn đồi trọc. Phía đông dốc thoai thoải còn ba phía kia dốc khá đứng, xuôi tuột xuống một thung lũng xanh già. Có lẽ mưa gió liên miên tháng năm đã xoi mòn đỉnh núi cao, mang đất cát mầu mỡ về miền hạ lưu, nên sườn đồi chỉ toàn một loại cây cằn thấp bé. Đã quen với công việc, chúng tôi lo hệ thống phòng thủ. Một toán lo đào những giao thông hào chi chít ngang dọc ngoằn ngoèo. Một toán lo di tản đạn dược để phòng bị pháo kích. Bấy giờ khoảng một giờ trưa. Trung đội tôi yểm trợ cho một trung đội khác đi chặt cây lớn làm xà ngang cho mái hầm. Phải chọn loại cây lớn nhất có thể tìm được, vì những cây đà nầy phải chịu đựng hàng thước đất dày. Có như vậy mới chịu nổi xuyên pháo 122 ly của cộng quân. Xa đỉnh đồi độ năm trăm thước, chúng tôi đã gặp dấu vết của địch. Đầu tiên là những ngọn cây đọt cỏ ngọt dấu dao, nhựa thơm còn ướt. Chen vào những đọt héo, vài đọt lá xanh. Dấu chân người dậm nát một khoảng đất lầy mầu cỏ úa, thường thường nấp sau một khóm lá tươi. Xa hơn chút nữa, một khoảng đường mới đắp còn in dấu vết xe vận tải. Bánh xe lún khá sâu trên nền đất cứng, chứng tỏ trọng tải nhiều. Một người bạn của tôi hớt hải chạy từ phía trước lại :

– Có dấu xe gì lạ lắm. Không phải bánh cao su. Lại đây xem.

Chúng tôi cẩn thận tiến lên, tay trỏ đặt sẵn trên lảy cò. Người bạn đi đầu len lỏi khéo léo giữa các nhánh cây sà thấp. Đến nơi, nhìn vết in trên đất, tôi biết chắc là vết tăng.

Tôi bảo :

– Không biết bộ chỉ huy biết chưa ? Địch dùng xe tăng ở chiến trường nầy.

Tin ấy làm cho các sĩ quan trầm ngâm. Những ngày sau việc bố phòng càng cẩn thận hơn. Giao thông hào đào thêm xuống đến triền đồi. Bãi mìn và bom lửa dày đặt. Số người xuất trại ít hơn, chỉ đi khi thật cần thiết. Tiểu đoàn lo gấp rút múc nước dự trử, chấm các tọa độ khả nghi trong trường hợp địch tấn công. Pháo của ta bắt đầu nổ quanh đồi khi dấu hiệu địch được các toán viễn thám phát giác không xa đơn vị mấy. Đôi khi sau một loạt pháo, có nhiều tiếng nổ phụ. Đôi khi là một cột khói đen đùn đùn vươn lên cao, nhập vào sắc mây ám.

Mức độ pháo kích và oanh tạc càng tăng khi dấu hiệu địch càng hiện gần. Không khí trong trại căng thẳng, khẩn trương. Tiếng bom B 52 ầm ầm liên hồi, vang vọng qua mấy chặng thung lũng như một trận giông chưa bao giờ có từ thủa khai thiên. Cobra khạc đạn giống như tiếng heo bị chọc tiết. Phản lực F4 gầm gừ, mỗi lần rú xé mây là một lần chớp lửa để dội tiếng ầm về đỉnh đồi, tung bay cát bụi lên những người lính đăm chiêu.

Tình trạng trên kéo dài suốt tuần lễ. Đến đầu tuần thứ nhì thì pháo của ta nổ ngay dưới chân đồi. Phản lực như cắm sâu xuống lòng hào, và chúng tôi vừa thấy chớp sáng đã nghe tiếng nổ xé.

Hôm ấy suốt ngày tạm yên, nghĩa là còn có thể đứng trong giao thông hào nhai gạo sấy và ruốc. Đến chín giờ tối, địch bắt đầu tấn công lên phía chúng tôi tử thủ. Bốn phương tám hướng đều có pháo địch rót về, nào 82 ly, nào sơn pháo 57 ly, đại liên 32 ly… Chúng tôi không có thì giờ ngóc đầu lên nổi. Nhưng qua khe mũ sắt và bờ hầm, ném nhìn xuống phía thung lũng đen, ánh lửa đom đóm chớp lòe. Tiếng địch xung phong từ dưới vọng lên, từng đợt tràn qua bãi mìn và lựu đạn bẩy. Mạn đông thoai thoải nên áp lực địch mạnh nhất. Chúng tôi ghìm cây súng bắn liên miên không cần nhắm ra phía trước. Một vài người bị đạn, rên la phía sau lưng. Một số đã nằm yên trong poncho. Tiếng xung phong của địch càng gần. Lệnh trên cho hệ thống mìn nổ. Claymore hướng xuống phía dưới, bật cháy các bom lửa. Ánh bom soi rõ từng đám địch lố nhố chạy lên, mỗi tên đều cầm thủ pháo. Từng xác ngã gục dưới ánh lửa đêm thủ pháo nổ tại chỗ.

Cobra và phản lực dập tắt dần các đợt xung phong và pháo kích. Trực thăng võ trang bắn như mưa bão xuống sau lưng địch, ngay dưới chân đồi. Mỗi lần bom đạn lóe sáng là một lần chiếu hắt ánh sáng xanh lên mặt mọi người, tô đậm không biết bao nhiêu đụn khói cuồn cuộn. Mãi đến gần khuya, áp lực của địch mới nhẹ dần. Tiếng súng thưa thớt. Bấy giờ chúng tôi mới cảm thấy đói cồn cào, húp vội mấy lon trái cây hộp hay nhai cơm sấy. Tiếng thương binh rên la rõ hơn, ma quái nhọc nhằn trong đêm rừng. Tôi vẫn đứng trong phòng tuyến chăm chăm nhìn xuống khoảng đêm phía trước. Mấy người bạn đến đọc tên những đứa đã vĩnh viễn nằm xuống, trong đó có trung sĩ Hạ, thượng sĩ Chất. Trung đội tôi có bảy người bị thương khá nặng, trừ năm người chết, số còn lại tiếp tục đứng chỗ cũ. Không ai nói với ai lời nào, gục đầu vào tường giao thông hào bập điếu thuốc. Bên ngoài trời rả rích mưa. Tôi nhớ nhà da diết. Em lo lấy quần áo vào kịp không hở Lan ? Có nhớ đắp mền lên ngực con không đấy ? Chúng tôi mệt quá không ngủ được, ở trong trạng thái lơ lửng giữa mê và tỉnh. Hạ sĩ Bền đập vai tôi :

– Tao nghe nói họ bỏ mình lên đây để nhử Việt cộng. Như cột dê bắt cọp đó.

Tôi ậm ừ, giả vờ ngủ gật. Bền bỏ lại chỗ cũ.

Tình trạng chiên đấu đẫm máu giống vậy kéo dằng dai hai ngày hai đêm. Chúng tôi vừa chợp mắt là đạn pháo kích lại dồn dập đánh thức dậy. Khi nào có trực thăng hay phản lực, B52, chúng tôi mới có thể tạm dừng bắn nghỉ ngơi chút ít để hút điếu thuốc thoa chút dầu nhai nắm cơm.

Sang tuần thứ ba có lệnh Đại Bàng cho rút quân sang cứ điểm bên cạnh. Sĩ quan đại đội trưởng họp trên bộ chỉ huy tiểu đoàn. Binh sĩ trông ngóng tin tức, lo âu về phương tiện di chuyển. Trung úy Hân về cho biết đại đội phải chận hậu cho các đại đội khác lui binh.

Đại đội một xuống đồi trước, thận trọng mở đường. Hai đại đội còn lại chia nhau khiêng poncho xác, băng ca thương binh nặng, cõng hoặc dìu các thương binh nhẹ. Ba lô quần áo và đồ đạc cồng kềnh bị quăng cả lại. Hầu hết anh em không nói gì, nhưng nhìn theo ngậm ngùi, băn khoăn. Cứ điểm mới cách đồi chỉ 3 cây số đường chim bay. Khi ba đại đội trước rút binh an toàn , phản lực và trực thăng võ trang sẽ yểm trợ, cho chúng tôi rút tiếp.

Tình trạng đại đội chúng tôi về sau quí vị đã xem báo và nghe đài phát thanh tường thuật nhiều lần. Đại khái là áp lực địch mạnh hơn, thời tiết lại xấu khiến không quân khó yểm trợ hữu hiệu. Do đó, chúng tôi không thể rút kịp theo tiểu đoàn như dự tính. Chúng tôi bị vây chặt, trong khi vòng phòng thủ không kiên cố như lúc đầu.

Đạn đủ loại của địch tiếp tục nổ trên đầu chúng tôi. Để ngăn chặn các đợt tấn công của địch, chúng tôi chỉ còn một bãi mìn mỏng và vũ khí cá nhân, đại liên. May mắn trong hai ngày kế tiếp B52 hoạt động mạnh và Cobra xạ kích hữu hiệu. Tuy vậy không lực chỉ có thể ngăn phủ đầu các toan tính xung phong tràn ngập đỉnh đồi, không thể làm tắt các họng pháo. Địch theo dõi chúng tôi bằng viễn kính. Bất cứ lúc nào chúng tôi nhô người lên khỏi giao thông hào là ít nhất có hai loạt đạn nhắm tới. Chúng tôi chỉ còn hy vọng ở trực thăng. Thương binh được băng bó sơ sài, nằm rên la lăn lộn trên đất vì băng ca đã đem đi hết. bạn tôi bị tươm cả đùi, cắn răng chịu đựng trong khi nước mắt sống chảy ròng ròng. Một vài người bạn bị lòi ruột băng không kỹ, ruột phồng căng khi thở. Hầu hết chúng tôi đều thất thần vì nhọc và mất ngủ, đó là chưa kể sự căng thẳng do tiếng la hét của các bạn bị thương.

Trung úy Hân lâu lâu dùng vô tuyến xin trực thăng tải thương. Sáng thứ ba hai chiếc bay đến sà vội vã, vừa đáp xuống một chiếc bị bắn cháy, một chiếc bốc đứng vụt lên. Lửa tỏa trên bãi đáp, hai phi công chạy nhanh vào giao thông hào, một xạ thủ bị kẹt trong phi cơ, một xạ thủ bị thương nằm trân giữa bãi. Chúng tôi biết hai hoa tiêu là Đại úy Hường và Trung úy Luyến. Đại úy hăng hái nói chuyện với trung úy Hân, rồi giật ống liên hợp gọi tới tấp. Cuối cùng ông ta bỏ mạnh ống xuống, ngồi thừ nhìn mông lung.

Chiều thứ ba hai chiếc Cobra và ba chiếc F4 đến oanh kích tàn nhẫn vùng quanh đồi. Một trực thăng tải thương nhân cơ hội từ trên cao chúi xuống đáp an toàn trên bãi. Có lẽ trực thăng đã báo trước cho trung úy Hân nên từ giao thông hào bên phải hai lính dù khiêng một thương binh chạy nhanh ra. Hai lính khác vừa khiêng một thương binh nữa ló ra khỏi hầm thì hàng tràng đạn pháo kích rơi dày trên bãi. Khói mù tỏa che lấp mấy người lính. Trực thăng vụt lên cao. Chúng tôi lo cho số phận họ may không ai việc gì chỉ trầy trụa sơ sài vì lăn trên sỏi cát. Trực thăng bay luôn không trở lại.

Tối thứ ba, chúng tôi nghe thấy lẫn trong tiếng súng lẻ tẻ có một thứ âm thanh khác lạ. Không hẳn là tiếng máy phi cơ. Cũng không hẳn là tiếng xe Molotova vận tải. Không ai nhận ra tiếng gì. Sáng hôm sau vừa tinh sương, trung úy Hân tập họp cho toàn thể anh em biết hai điều : một là có thể hôm nay địch tấn công đồi, hai là Đại Bàng cho biết không lực sẽ can thiệp mạnh để trực thăng có thể đáp xuống di chuyển hết thương binh, hoặc nếu được, toàn thể đại đội về.

Mọi người có vẻ mừng, hăng hái đi lo chuẩn bị chiến đấu. Đạn chất cao quanh hai cây đại liên. Trong các hào sâu bên trong, chỉ còn vài tiếng rên nhỏ, những thương binh nặng đều mê man không la hét nữa.

Cả hai điều trung úy báo trước đều đúng. Khoảng tám giờ, xe tăng địch rầm rập xuất hiện, quay súng lên chúng tôi. Rồi cứ lừ lừ tiến lên. Chúng tôi dùng súng chống chiến xa thụt xuống, nhiều quả trúng đích, nhưng xe tăng vẫn tiến. Địch tự thị núp sau xe xông lên đồi. Vừa lúc đó phản lực cơ, và trực thăng ào ạt bay đến, lồng lộn dữ dội. Tôi cảm phục tài ba các phi công F4. Napalm đốt cháy số lớn xe tăng địch và thả bom chận đứng các đợt sóng người núp sau xe.

Địch có lẽ đã núng, rút bớt vào thung lũng xanh đen. Áp lực pháo cũng dịu bớt. Tin vô tuyến báo cho biết sẽ có một trực thăng đáp xuống đồi. Đôi mắt mọi người rạng rỡ. Trung úy Hân ra lệnh cho toán tải thương sẵn sàng, bắt mọi người xuống hết dưới công sự để ngừa pháo kích lúc trực thăng đến. Phản lực vẫn nhào lộn trên khoảng rừng ngã đen thẫm, bom nổ chát chúa và khói vươn lên trùng trùng lớp lớp.

Chiếc phi cơ tải thương hạ thẳng xuống, máy quạt sàn sạt bốc bụi, một phi công chạy nhanh vào hào chúng tôi gọi to :

– Hường đâu ? Tao đến vớt mầy về. Còn chỗ cho vài thương binh.

Trung úy Hân chạy ra, kéo phi công vào hào trong. Hai người có vẻ tranh luận gay go, tay chân múa may. Một lúc sau trung úy ra lệnh bốn đứa chúng tôi khiêng thương binh ra bãi đáp, theo thứ tự ưu tiên xếp sẵn. Viên phi công mặt mày có vẻ bất mãn, đứng nói chuyện với phi hành đoàn trực thăng rơi hôm trước. Khi toán tải thương chúng tôi chuyển được đến người thứ chín thì pháo địch lại rơi dày trên bãi. Chúng tôi lăn mình núp dưới thân trực thăng, quên rằng đây là mục tiêu ngon lành của địch. Lúc ấy tôi không chú ý sự việc chung quanh diễn tiến ra sao. Tôi không hiểu viên phi công chạy ra lúc nào, và ba người bạn làm gì. Riêng tôi, đột nhiên tôi da diết nhớ vợ nhớ con. Tôi thèm được xa hẳn cái chốn hiểm nguy này, thèm được ôm Lan thật chặt, thèm nựng đôi má thơm của bé Cải. Khi trực thăng bốc lên tôi ôm đại cái càng. Hai người kia cũng làm vậy, một người khác chới với giữa bãi khói. Trực thăng lên vút khiến lưng tôi bị kéo mạnh về phía trước. Tôi gắng lấy hết sức ôm chặt. Vừa qua khỏi địa phận đồi, trực thăng bỗng nhiên nghiêng trái, quặt phải, nghếch lên, chúc xuống. Mỗi lần như vậy, sức giằng rứt tôi ra khỏi thân phi cơ. Gió lạnh cóng, hai tay và chân tê cứng. Tôi hãi hùng nghĩ đến cảnh rơi từ đám mây nầy…

Trực thăng quật mạnh sang trái, một người rú lên rồi rơi mất. Tôi chỉ nghe tiếng rú một thoáng, rồi gió tạt đi, đứt đoạn. Trực thăng rướn mạnh lên cao, một tiếng rú khác.

Lúc về đến bãi đáp hậu cứ, tôi không tin mình còn sống. Tôi đã gục đầu, ngồi ngay bên trực thăng và khóc nức nở…

2. LỜI KHAI CỦA TRUNG ÚY THỤC

Vâng, nếu quí vị giở lại quân bạ của tôi, trung úy phi công Lê Trịnh Thục quí vị sẽ thấy Hường là người bạn thân nhất của tôi. Trong khoảng hồ sơ đòi mỗi tân binh ghi rõ ba người bạn biết mình nhiều nhất, tôi đã ghi tên Nguyễn Hường lên hàng đầu. Không cần suy nghĩ. Hai người kia chỉ cốt lấp hai khoảng trống.

Chúng tôi cùng học chung với nhau từ thủa còn mài đũng quần trên băng trường trung học Chu văn An. Quê tôi ở Qui Nhơn, còn Hường người Bắc. Tôi chuyển từ trường Võ Tánh vào, dân ngụ. Còn Hường học Chu văn An từ mấy năm trước. Tính Hường lém lỉnh, hoạt bát, hơi xạo một chút, giống y mẫu người Bắc theo thành kiến dân Trung chúng tôi thường phác họa. Hường lại là dân cựu, nên biết hết các ngõ ngách tập tục của trường. Riêng tôi, đây là lần đầu bước chân vào thủ đô hoa lệ, hòn ngọc viễn đông. Lúc mới xách cái va li kẽm bước xuống nhà ga Sài Gòn, tôi bắt chóng mặt vì cảnh xe cộ ngược xuôi tấp nập và tiếng ồn ào. Tôi cảm thấy bơ vơ hơn, không biết phải ngủ đâu đêm nay. Ba tôi cho địa chỉ chú tám Bình, ở miệt Phú Nhuận. Tôi kêu taxi, họ từ chối không đi xa. Chịu đựng những lời hỗn láo thô tục của bác cyclo máy mãi cả giờ đồng hồ, tôi mới tìm ra địa chỉ nằm sâu trong hẽm ngoắt ngoéo, để người chủ nhà mở cửa cho biết chú Tám đã dọn đi nơi khác từ lâu. Chắc bấy giờ hình dáng tôi thảm não lắm, nên bác cyclo đổi thái độ, nổi từ tâm, rủ tôi về ở tạm đằng nhà ở bến Vân Đồn.

Bác tên Chín Đen, nhà cất trên vũng lầy ven sông dưới hãng thuốc lá. Khi nước rút, rác rưới bùn lầy tỏa mùi hôi thối, khiến tôi muốn ngạt thở. Lúc nước lên, không khí mát mẻ trong sạch hơn. Tôi điều đình với bác Chín gái, xin kê cái ghế bố ngủ ở chái ngoài mé sông, móc ngược cái xe đạp lên mái lá, kê sách lên giường ngồi bệt trên sàn gỗ để học, bác ăn gì tui ăn nấy. Giá tiền mỗi tháng là bảy trăm đồng.

Bác gái bằng lòng. Ngay hôm đầu, bác Chín hỏi :

– Biết nhậu không cháu ?

Tôi lắc đầu. Bác chê :

– Dở ẹt. Thời buổi nầy, trai vô tửu như kỳ vô phong.

Rồi kê tai tôi dặn nhỏ :

– Cháu ở nhà coi giùm, con mẽ có đi đánh bạc về mét bác.

Đến Chu văn An tôi cũng gặp những may mắn tương tự. Ngày đầu đến trường, tôi ngơ ngác không hiểu văn phòng nhận đơn chuyển trường ở đâu. Thấy một học sinh có vẻ khả ái tươi cười, đứng hút thuốc, nói chuyện huyên thiên với một đám ba bốn người bạn tôi rụt rè đến hỏi :

– Thưa anh, làm ơn chỉ giùm văn phòng nhận đơn ở chỗ nào ?

Cả bọn ngưng nói chuyện, chăm chăm nhìn tôi. Có lẽ bấy giờ tôi có vẻ quê mùa lắm. Người học sinh tôi vừa hỏi đứng ngay ngắn, nghiêm nghị vòng tay lễ phép :

– Thưa em, văn phòng ở lầu hai, ngay phòng đầu tiên bên trái đấy ạ.

Cả bọn ma cũ cười khả ố. Thấy vẻ bất mãn của tôi, Hường đâm ra hối, ân cần dẫn tôi lên văn phòng, đem giấy tờ vào đưa thẳng cho thầy giám học quen, và trong vòng mười lăm phút trở ra cho tôi biết hai đứa sẽ học đệ nhất B sáu, thời khóa biểu thế nầy thế nầy…

Chúng tôi ngồi ở cuối lớp, thuộc xóm nhà lá. Lý do : Hường hay nghịch sợ ngồi đầu bàn giáo sư dễ để ý, còn tôi mang đầy mặc cảm dân ngụ. Có lẽ còn một lý do khác nữa, lý do kỹ thuật : tôi dốt toán nhưng khá sinh ngữ triết lý, còn Hường dốt sinh ngữ lười nhai triết nhưng lại cừ khôi về toán. Đó là chưa kể thứ tình bạn bè càng ngày càng gắn chặt cuộc đời hai đứa. Cuối năm ấy, cả hai đều thi hỏng khóa đầu, tôi vì làm không ra bài toán và Hường vì đã nguệch ngoạc những dòng triết lý bí hiểm đến độ giám khảo cho rằng thí sinh cố ý hỗn xược phỉ báng thứ khoa học của tất cả mọi loại khoa học. Tôi qua nhà Hường học suốt mấy tháng hè, khóa hai cả hai đứa đều đậu bình thứ. Đậu xong, các trường cao đẳng chuyên nghiệp đều đã thi tuyển, nên chúng tôi không biết làm gì hơn là vác hồ sơ ghi danh MPC. Bất cứ ở đâu, Hường luôn luôn đóng vai trò anh cả : chen chúc cả buổi để xin đơn ở khoa học, lấn đến đứt hết nút áo mồ hôi mồ kê để nộp lệ phí trên viện, đi sớm thật sớm để giành chỗ ngồi trong giảng đường. Cả hai chúng tôi đều cảm thấy bơ vơ, như bị đánh lừa, khi bước chân vào Đại học. Tôi vốn không khá toán lắm, lên Đại học lại càng vất vả. Hường dốt sinh ngữ, đọc mãi một tờ “cua” tiếng Pháp chỉ hiểu lờ mờ, huống hồ là nghe một giảng sư người Việt giảng tiếng Pháp cho sinh viên Việt. Cuối năm, chúng tôi không cần đi coi bảng cũng biết kết quả.

Năm sau tôi chạy qua Dự bị Văn khoa còn Hường sợ sinh ngữ trôi giạt về trường Luật. Tuy vậy chúng tôi vẫn thường gặp nhau, nhiều hôm bỏ học la cà trên phố, lang thang suốt ngày không biết làm gì, hút liên miên hết điếu thuốc này sang điếu khác. Đó là thời kỳ Hường đổi tính, hết cả hăm hở và hoạt bát. Hường đâm mê thi ca, triết lý, ông ổng ngâm mãi mấy câu của Nguyễn Trãi :

…Đã buồn vì ngọn mưa rào.
Lại đau vì nỗi ào ào gió đông.
Hoa trôi nước chảy xuôi dòng.
Chiếc thuyền hờ hững trên sông một mình.

Cuối niên khóa, Hường lại hỏng Luật I, còn tôi tuy đậu dự bị nhưng quá thất vọng về mọi thứ văn chương trường ốc. Do đó, chúng tôi mới rủ nhau vào không quân.

Mất đi một thiên thần hộ mệnh, tôi vất vả nhiều trong binh nghiệp, chuyên ở những chỗ xấu và bị cấp trên trù. Hường lên đại úy, tôi vẫn trung úy. Hường khá bằng lòng với đời sống nhà binh. Hường viết thư cho tôi :

– Mày biết không. Tao vừa khám phá ra một thứ triết lý. Trên đời, chỉ có hai loại người thực sự hạnh phúc : tu sĩ và quân nhân. Cứ cuối đầu tuân theo thánh ý và lệnh thượng cấp, không thắc mắc băn khoăn gì hết. Cuộc sống trở nên đơn giản trong sáng. Mày nên noi gương tao.

Có lẽ, Hường đã tìm ra chân lý thật. Trong các bức thư gửi tôi, giọng Hường yêu đời. Hường tha thiết yêu một thiếu nữ miền Nam, và dành cả một bức thư dài tám trang để tả cho tôi thấy hết vẻ đẹp đôi môi giai nhân khi nói : Ngộ quá héng.

Tôi mong được như Hường. Nhưng không thể!

Cuộc chiến ngoắc ngoéo xếp đặt cho tôi gặp lại Hường trong cuộc hành quân nầy. Chúng tôi ôm chầm lấy nhau, cảm động quá không biết nên nói gì. Hường yêu đời nên trẻ hẳn, từ cử chỉ lời nói y phục đều ngay ngắn thứ tự, cái thứ tự của người có vợ. Tôi bị chê già trước tuổi. Chúng tôi ở chung với nhau một phòng trong căn cứ, và cố xếp đặt để bay chung trong một phi đội.

Khung cảnh ở đây làm chúng tôi khó chịu. Thiếu hẳn màu xanh, mà dư nỗi trống trải đìu hiu. Sự rộn rịp chát chúa. Bãi đáp luôn luôn ngùn ngụt cát bụi, hơi không khí nóng bỏng, khét lẹt. Trực thăng lểu nghểu trên khắp bãi đáp. Phi công Mỹ có vẻ uể oải, chưa có kinh nghiệm nhiều trên chiến trường nầy. Cả chúng tôi cũng vậy. Chúng tôi đã quen với những cánh đồng bát ngát chằng chịt mương rạch, từ trên cao có thể nhìn thấu được suốt hai ba tỉnh kế cận. Chúng tôi đã thuộc lòng từng con sông nước đục, từng nhánh lạch nhỏ cong queo như những cộng rêu héo trên thảm xanh non, từng cụm cây mọc là trên mặt nước thường là ổ ngụy trang của các khẩu 37 ly, từng khoảng cỏ cao lá lã quị xuống run rẩy mỗi lần đổ quân.

Ở chiến trường nầy, mọi sự hoàn toàn đổi khác. Núi lúc nào cũng muốn vươn lên ôm lấy hai càng, và vực sâu luôn luôn chờ đợi. Từ buồn lái nhìn xuống, một bên là những thung lũng xanh già mây giăng ngút ngàn chỉ hé lộ những đáy sâu thăm thẳm, quay nhìn bên kia sườn núi án ngữ ngay trước mặt, sừng sững vòi vọi, rõ ràng từng cành cây khóm lá. Trực thăng phải bay nghiêng nghiêng trườn lên cao cao mãi, và tầm mắt không thể nào trải dài trên một khoảng rộng bao la, đàng giới hạn giữa hai đỉnh núi.

Chúng tôi phải kiên nhẫn len lỏi theo các sườn núi quanh co, cố gắng cua qua quẹo lại lượn lờ ven khoảng mây để khỏi va vào đỉnh cao hay rơi xuống vực sâu. Lúc chiến trường chưa sôi động, tôi và Hường cứ đều đều chuyển quân và vũ khí như vậy từ hậu cứ đến các cứ điểm trấn thủ, từ bảy giờ sáng cho đến chiều tối.

Nhưng càng ngày hỏa lực địch càng mạnh, các phi vụ trở nên khó khăn. Chúng tôi vừa xuất hiện là đạn địch bắn lên như mưa : 37 ly, 50 ly, 23 ly. Bay cao trở thành nguy hiểm, nên chúng tôi áp dụng chiến thuật bay thật thấp ngay trên ngọn cây rừng, lướt sát theo các dốc núi. Thà để thân tàu lỗ chỗ dấu đạn AK còn hơn giơ bụng nhận đạn 37 ly. Với lối bay giỡn mặt với vũ trụ đó, nếu không lanh tay lẹ mắt như một nhà ảo thuật, chúng tôi đã tự đè bẹp thân xác vào vách đá núi. Vừa vụt qua một khóm kiến lửa nguy hiểm, chúng tôi chúi đầu vào một khoảng mây mù. Chưa kịp định kiến, sườn núi đen đã lù lù trước mặt…

Tuy thế, khó nhất là lúc đáp xuống. Pháo địch đã điều chỉnh sẵn tọa độ bãi đáp. Vừa hạ xuống, đạn địch chụp lên tơi bời.

Trung úy Hiển ở phòng bên cạnh tản thương, vừa đáp xuống, khiêng được một thương binh lên thì địch pháo kích dữ dội. Phải bay nhanh lên nhờ Gunship làm im súng địch rồi mới hạ trở lại. Chờ mãi không được, Hiển chỉ chở được một binh dù cụt chân về đây. Tôi dài dòng nói đến những khó khăn của không quân, để quí ông thấy chúng tôi cần những phi công kinh nghiệm biết chừng nào.

Bây giờ xin nói đến điểm các ông muốn hỏi.

Hôm ấy là thứ ba. Tôi và Hường có phận sự đến đồi 17 tải thương. Chúng tôi bàn định cách bay. Từ hậu cứ đến đó, phải bay sát trên ngọn cây để tránh các ổ phòng không đặt trên các đỉnh núi. Nhưng đến cứ điểm 17, làm thế nào xuống được an toàn và bay an toàn? Hường đề nghị đáp theo lối cũ. Chúng tôi đồng ý với nhau qua vô tuyến, rồi liên lạc với Cobra xin oanh kích thật gắt để tụi nó lo núp không pháo kích lúc hạ cánh lúc hạ cánh. Chúng tôi kéo cho trực thăng vút lên cao, rồi Hường cho nhào thẳng xuống trước. Pháo địch từ trước đến giờ im tiếng, tự nhiên nổ ran. Tôi thấy trực thăng của Hường có vẻ lắc lư chòng chành. Hường họi tôi :

– Tao bị rồi. gãy đuôi.

Trực thăng của Hường bốc cháy khi rơi trên bãi. Bóng Hường và Luyến chạy vụt bên dưới, tiến tới phía mấy mô đất đỏ. Lửa dưới trực thăng bỗng chớp sáng bùng lớn lên, khói đen bốc dần lên gần. Không còn cách nào nữa. Tôi gọi phi cơ trinh sát :

– Sao tụi nó bắn dữ quá vậy? Tôi xuống được không?

OV 10 bảo thời tiết xấu, Mỹ chỉ yểm trợ ít phi cơ võ trang, không đủ làm nghẹn hết mọi họng pháo. Hôm đó, tôi đành quay về. Vậy là Hường kẹt lại đồi 17.

Chiều hôm ấy về phòng, quân bưu có mang đến hai lá thư của vợ Hường. Tôi sợ căn phòng trống trải, bỏ ra phố. Tôi gọi rượu nốc hết hết ly này đến ly khác. Hình như tôi có đập lộn với mấy thằng Mỹ đòi độc quyền gái. Hình như tôi bị quân cảnh xúc đem về đồn. Tôi nói hình như vì sáng hôm sau thấy mình vẫn còn trong trại, soi gương chỉ thấy vài vết bầm trên mặt. Hai lá thư của vợ Hường làm tôi nôn nao. Tôi chạy ra bộ chỉ huy, tình nguyện trở lại đồi 17. Lời tôi yêu cầu phù hợp với kế hoạch tải thương tiếp vận ngày thứ tư, sẽ có hai chiếc đáp xuống đồi 17. Tôi một chiếc. Trung úy Lạng một chiếc. Đại úy Tín đi với OV 10 của Mỹ hướng dẫn Coibra và phản lực oanh kích. Hôm ấy thời tiết tốt, không lực Mỹ yểm trợ tối đa. Phản lực sẽ xới nát vùng thung lũng chung quanh, vãi đạn tàn nhẫn để xạ thủ địch không có thì giờ câu pháo vào bãi đáp. Trong lúc ấy, tôi và Lạng sẽ hạ xuống đem thương binh và Hường Luyến về. Lúc ra đi Trung tá dặn :

– Cậu rán đem tụi nó về, cử cậu đi vụ nầy là phải nhất. Đừng để cho chim kẹt dí dưới đất.

Gần đến 17, Lạng bị bắn rát, máy trục trặc phải lết rán đến đồi 19. Chỉ còn có tôi đến 17.

Như lần trước, tôi kéo trực thăng vút lên cao, rồi tắt hết tay ga cho phi cơ rơi như chiếc lá, đến gần sát mặt đất mới điều khiển cho phi cơ vào bãi đáp. F4 nhào lộn chung quanh. Thấy đáp được dễ dàng, lại không bị pháo kích, tôi ngạc nhiên. Tín vừa báo cho biết nên cẩn thận, địch vừa dùng xe tăng cảm tử xung phong lên đồi nửa giờ trước. Thực vậy, vì bận lo đáp tôi chỉ thấy những cột khói nghi ngút dưới thung lũng, quên suy luận xem có gì vừa xảy ra.

Mặc kệ, tôi để cho trực thăng sẵn sàng, nhảy xuống sân chạy vào giao thông hào. Tôi hớt hải gọi Hường. Tên chỉ huy dù chạy lại kéo vào hào trung ương. Vừa lúc ấy Hường và Luyến cũng đến. Hường mừng :

– Mày đến được thật tài. Tụi tao về chuyến này chứ ?

– Ừ, còn chỗ tải thương. Vợ mày mới gửi thư ra.

– Trời, sao không mang cho tao?

– Chiều về đọc. Rõ lẩm cẩm. Nhanh lên.

Bấy giờ viên trung úy dù mới nói, giọng lạnh như dao chém :

– Các ông ở lại đây. Phải dành ưu tiên cho thương binh.

Tôi cãi lại :

– Lệnh của không đoàn là cho các hoa tiêu về. Sau mới đến thương binh.

– Tôi chỉ huy ở đây. Chính tôi mới có quyền quyết định. Các ông mạnh khỏe. Phải nhường chỗ cho những người cần cấp cứu. Họ sắp chết nếu không được giải phẫu, tiếp huyết.

Hường và Luyến không nói. Tôi bảo :

– Chính vì cần tản thương gấp nên phải cho hoa tiêu về trước. Chúng tôi cần những hoa tiêu giỏi để tránh được hỏa lực địch._

Viên chỉ huy dằn giọng :

– Không có thời giờ cãi vã nữa. Địch vừa định xung phong lên đây. Các ông còn có thể cầm súng chiến đấu. Các ông không thể bỏ về. Anh em dù sẽ bảo là các ông trốn.

Bây giờ Hường mới nói :

– Thôi, chờ chuyến sau đi Thục. Trung úy cho toán tải thương làm việc nhanh nhanh lên. Mai mốt nhớ mang thư cho tao.

Tôi lớ ngớ không biết phải làm thế nào. Toán tải thương đã khiêng thương binh ra gần đủ. Tôi chạy ra sân không nhìn lại phía sau. Bấy giờ súng địch tự nhiên nổ ran. Có quả đạn rơi ngay phía trước buồng lái. Không chần chờ gì nữa, tôi leo lên cho ngay trực thăng bốc thẳng khỏi vòng nguy hiểm. Tôi không còn đủ bình tĩnh nhìn về phía giao thông hào, cũng không đủ bình tĩnh để ghi nhận sự kiện lạ : Tự nhiên F4 bỏ đi hết để địch có thể pháo kích bãi đáp trở lại.

Trong trường hợp nguy hiểm như bấy giờ, tất cả mọi phi công đều áp dụng một lối bay độc nhất : tránh theo một phi đạo nhất định. Tôi cho trực thăng vừa bay thẳng tới trước, vừa nghếch đầu chếch lên không, vừa quặt mạnh về phía trái. Cho nên trực thăng phải chòng chành.

Nhờ ơn trời, tôi đã mang được chín thương binh về hậu cứ bình yên. Xin lỗi, mười chứ không phải chín, vì khi đáp xuống, tôi mới biết có người đeo cứng dưới hai càng.


3. LỜI KHAI CỦA ĐẠI ÚY TÍN

Tôi hoàn toàn không biết gì về trung úy Thục, ngoài phi vụ yểm trợ tản thương hôm ấy. Cho nên tôi chỉ khai những việc xảy ra từ sáng thứ tư mà thôi.

Tôi được lệnh trình diện gấp tại phòng thuyết trình hành quân. Lúc tôi vào, hầu như tất cả những người cần thiết đều đủ mặt. Tôi ngồi bên cạnh trung úy Thục. Dáng người cao lớn, vạm vỡ, nước da nâu, tóc cắt kiểu bàn chải. Đôi mắt của trung úy làm tôi chú ý nhất. Sâu, sáng, buồn,cái vẻ khổ não u uất như thường xuyên hiện ra ở đó.

Đôi mắt đặc biệt nầy làm tôi có cảm tình ngay với ông từ lúc đầu. Chúng chứng tỏ sự xúc động vô cùng của ông trước hình ảnh chiến cuộc diễn đều hằng ngày trên bãi đáp. Chúng tôi vẫn thường gọi đó là hai chuyến khứ hồi : chuyến khứ mang anh em từ Nam ra : mạnh khỏe, hăng hái, tươi cười, băng năng bô hô như gà mắc đẻ; chuyến hồi mang anh em từ phương Tây về : hốc hác mệt mỏi, dãy dụa rên la trên băng ca hay nằm yên trong poncho.

Tôi càng cảm phục trung úy Thục hơn khi biết ông tự nguyện xung phong thi hành phi xuất nầy. Chúng tôi ở hậu cứ, được đọc nhiều nhật báo tuần báo tiếng Việt, tiếng Mỹ, nên biết tình hình hiện không thuận lợi mấy. Đồi 17 đang bị nặng, đại đội tử thủ đang kêu cứu và chưa biết sẽ bị tràn ngập lúc nào. Đồi 19 đang bị đe dọa. Thời tiết lại xấu. Phi công Mỹ có vẻ e ngại thi hành những phi vụ quá sức hiểm nghèo, nhất là sau lúc họ vẽ nguệch ngoạc khẩu hiệu “Peace now. Make love nót war” trên hông trực thăng.

Kế hoạch hành quân khá tỉ mỉ, chắc chắn thành công. Tôi ngồi OV 10 của Mỹ để hướng dẫn F4 và phi cơ trực thăng võ trang oanh kích. Nếu cần, có thể gọi pháo binh yểm trợ. Mục tiêu hành quân là ngăn chận cuộc tấn công chiếm đồi 17 của địch, cứu thoát phi hành đoàn bị kẹt hôm trước và tải thương. Qua một vài câu ngắn tôi biết một đại úy bị kẹt trên đồi 17 là bạn thân của Thục. Tôi cảm phục ông hơn.

Chiếc OV 10 lượn qua chao lại như con diều trên không phần đồi 17. Tôi ghi nhận các mục tiêu có thể ẩn dấu xe tăng và trọng pháo địch, quan sát mọi phương để dự đoán hướng tấn công. Mạn đông nguy hiểm nhất vì dốc thoai thoải. Sâu phía dưới cây cối um tùm, lại thêm mấy quả đồi rậm nhìn thằng vào bãi đáp. Tôi gọi F4 thả bom các chỗ khả nghi. Lúc 8 giờ, địch dưới đất bắt đầu tấn công. Các chiếc PT 76 lừ đừ bò khỏi rừng rậm leo lên sườn đồi. Hoa tiêu Mỹ chúi đầu bắn một hỏa tiển khói ngay bên cạnh chiếc xe tăng. F4 nhào xuống, napalm trúng ngay mục tiêu. Khói lửa tỏa mù bên dưới. Địch chạy túa ra chung quanh, giạt xuống chân đồi. Mấy chiếc F4 khác dùng bom bươm bướm thả phủ xuống đàn kiến di động tơi tả, hoặc cày nát đỉnh đồi thấp và khoảng thung lũng rậm.

Hỏa lực ào ạt khủng khiếp ấy làm địch im tiếng súng. Bấy giờ trực thăng trung úy Thục cũng vừa đến. Tôi gọi cho Thục :

– Cậu coi chừng. Tụi nó vừa tấn công xong. Pháo của địch còn mạnh lắm.

Thục cảm ơn, hỏi ý kiến về an ninh bãi đáp. Tôi bảo :

– Các ổ pháo trên hai ngọn đồi thấp vừa im tiếng. Không biết đã thực sự nghẹn chưa. Tốt hơn hết, cậu đáp theo kiểu lá vàng rơi.

Thực đồng ý, bắt đầu cho chúi xuống. Tôi điều khiển các chiếc F4 và Cobra bắn rát hơn vào phía thung lũng và hai đỉnh đồi đối diện. Thục đáp an toàn. Không thấy có pháo địch, chỉ còn những tiếng bom nổ dòn và các đụn khói dâng cao đây đó trên thảm xanh đậm của rừng.

Bỗng trên tầng số cấp cứu có tiếng một phi công Hoa Kỳ :

– Tôi bị rồi. Phi cơ sắp cháy. Tôi nhảy dù đây.

Nhìn sang phía phải, một chiếc F4 bốc khói đằng đuôi, và hai chiếc dù trắng đỏ vừa nở. Tôi gọi cho mấy chiếc F4 :

– Coi chừng hai đỉnh đồi, có thể pháo địch chưa im hẳn đâu. Làm ơn oanh kích rát hơn nữa.

Nhưng lần lượt tất cả mấy chiếc phản lực bay về phía hai cái dù. Hốt hoảng, tôi nói với viên hoa tiêu OV 10 :

– Thôi, để tụi F4 lo. Mầy với tao ở lại điều khiển Cobra.

Chiếc OV 10 bỗng nâng hẳn lên nghiêng mình bay theo mấy chiếc F4. Tôi nói với viên hoa tiêu :

– Làm ơn quay lại đi. Địch có thể tấn công trở lại. Làm ơn chút.

Tôi ràn rụa nước mắt. Nhìn ngoái lại đằng sau, pháo địch bắt đầu nổ trắng trong khi trực thăng của Thục nghiêng ngã chòng chành lánh xa. Đúng như các ông hỏi, dưới bụng trực thăng có mấy người ôm cứng hai càng.

Chúng tôi về căn cứ khoảng bốn giờ. Thục đã về trước đó ít lâu. Anh em trong căn cứ bàn tán xôn xao về những tiếng kêu cứu vô vọng cuối cùng của đồi 17, về cái chết chắc chắn của Hường trên ngọn đồi bị tràn ngập, về giọng nức nở của người lính ôm càng trực thăng về được đến đây. Tại câu lạc bộ, tôi gặp Thục đang ôm đầu ủ rũ, mắt đỏ sưng.

Thục nói bâng quơ :

– Không biết nó chết hay nó bị bắt.

Tôi im lặng, hiểu rõ Thục đang nói đến ai. Đột nhiên Thục hỏi tôi :

– Giá sử anh ở trong trường hợp nầy, anh xử trí ra sao :

Anh đang lái một chiếc xe đầy nhóc anh em bạn bè. Xe chạy ngon trớn. Đột nhiên anh thấy trước xe có một thằng bé chạy ra giữa lộ. Phanh gắt, xe sẽ lật. Lái tránh sang mé đường chín mươi phần trăm chắc chắn là xe sẽ xuống hố. Anh sẽ làm gì ?

– Cán bừa. Vì không thể tránh được nữa.

Thục nói :

– Tôi ước được như anh. Tôi đã rồ ga cán bừa, nhưng ngay sau đó, lại hối hận tự hỏi sao không đưa chân dậm thắng. Biết đâu trong mười phần trăm còn lại, đứa bé sẽ sống.

Hôm sau, Thục len lỏi ngược xuôi hỏi dò tên hai người lính rơi trực thăng. Thục hỏi kỹ cả gia cảnh họ.

Cả ngày và suốt đêm ấy, Thục không về trại.

Tôi chỉ biết có bấy nhiêu, và viết hết bấy nhiêu.

Nguyễn Mộng Giác
Bách Khoa số 348, 1-7-1971
(Qui Nhơn, tháng 4-71.)

HỒ NGHI

chuthuynguyen

hồ nghi đất rộng
trời cao
hồ nghi tấc dạ nông sâu
đổi dời

mảnh phù phiếm
khoác
rong chơi
chào mời rao bán
đã đời nhục vinh

khi tiên
lúc quỷ hiện hình
cạn hơi chạy vạy
rập rình oan khiên

sống
là chợp mắt
du miên
chưa trọn tiếng sáo
lỉ liên tội đầy

trân mình
ngục thất trói tay
ông – thằng
áo não
quắt quay nhục hình

hồ nghi vân cẩu
u minh…


Chu Thụy Nguyên