NHỮNG NGỌN NẾN TRONG ĐÊM.

tradoa

Buổi tối hôm ấy, một cách tình cờ, tôi ngồi đối diện với một ông trung niên có gương mặt u buồn pha chút bí ẩn. Ông ngồi thâm trầm chẳng tỏ ra chút dấu hiệu nào để tôi có thể, ít ra, cũng nở một nụ cười xã giao.
Ông có cách cầm ly khá đặc biệt: chỉ cầm bằng hai đầu ngón tay cái và trỏ, không để cho lòng bàn tay chạm vào ly. Ông khoan thai đưa ly lên ngang mũi, nghiêng nhẹ cho đủ chạm vào môi, rồi uống từng chút một, nhẹ nhàng như vũ điệu của những vũ công lành nghề.
“Chú em mới đến đây lần đầu?” – Bất thần ông ấy hỏi tôi.
“Dạ, lần đầu…” – Tôi hơi giật mình.
Tôi chợt nhận ra mình đã hơi khiếm nhã khi nhìn ông quá chăm chú. Có lẽ ông cũng biết điều đó nhưng giọng nói vẫn không có gì gay gắt.
“Chú em quen với bọn nào ở đây?” – Ông lại hỏi tôi.
“Dạ, em có một người bạn ở hẻm này”
Thực ra, tôi đến hẻm này đã được vài lần nhưng lần nào cũng có cảm giác bất an. Đó là sự ngoằn ngoèo đến khó lường, một âm khí nặng nề bao phủ lấy từng ngóc ngách, thêm mùi xú ế đậm đặc từ dòng kinh nước đen như mực.
“Này, chú mày làm với anh một ly” – Bỗng nhiên ông mời tôi với gương mặt đã dễ cảm hơn.
“Dạ…”
Rồi tôi nâng ly cùng ông.
“Bạn của chú mày đâu?” – Ông lại hỏi tôi.
“Dạ, hắn chưa ra” – Tôi trả lời.
“Sao chú mày không vào nhà?”
“Dạ, em không nhớ nhà…” – tôi cười cười để xác nhận cho cái trí nhớ kém cỏi của mình – “Hắn có dẫn em đến nhà một lần, sau đó em đến lại một mình nhưng không cách nào tìm được. Cho nên tụi em thoả thuận mỗi lần đến thì hẹn gặp nhau ở đây”
Ông phá lên cười sảng khoái:
“Cái độc nhất vô nhị của con hẻm này là ở chỗ đó. Chú mày có vẻ được đấy, uống tiếp với anh chứ?”
“Dạ…”
Tôi lại nâng ly, chạm nhẹ vào ly của ông. Rồi tôi nhận ra một chút bất thường nơi ông:
“Anh chỉ uống có một mình à?”
“Ờ, một mình, anh chỉ uống với bạn bè khi ở nhà thôi”
“Sao anh không mời bạn bè ra đây có phải vui hơn không?” – tôi nói đùa.
“Đây không phải là nơi thích hợp…”
Ông khựng lại và thở dài:
“Anh quen nhiều người ở đây nhưng chẳng chơi được với ai. Bọn này ăn uống như phàm phu tục tử, nốc rượu như nước lã. Bọn chúng cần say chớ đâu cần bạn… Mà thôi, kệ họ, uống tiếp nhé?”
Ông lại nâng ly lên ngang mũi rồi nghiêng cho đủ chạm vào môi. Tôi tưởng tượng, nếu cần cổ ông được làm bằng thuỷ tinh, tôi sẽ thấy được từng giọt rượu mỏng bò chậm chạp qua cái ống dài ấy. Có thể ở những gã phàm phu tục tử kia rượu sẽ tuôn xồng xộc qua ống, dồn dập đến mức họ không kịp thở, mắt trợn trừng lên làm cho gương mặt họ đỏ như gấc…
Tôi lại nâng ly và cố uống chậm chạp. Bên cạnh, bọn phàm phu tục tử vẫn đang nốc như điên loạn. Đã đến cao trào của đêm. Lần lượt những gã lắc lư thay nhau bước ra phía sau để bài tiết. Gương mặt của họ bây giờ trông lờ đờ như ma ám. Những giọng nói lè nhè kể những câu chuyện không đầu không đuôi…
Nhưng ông trung niên vẫn còn tỉnh queo ngồi im lặng, thỉnh thoảng nói vài câu. Có lẽ ông đang ngắm tôi, ngắm cái cách tôi nâng ly và uống. Không biết ông có nhận ra được điều gì đặc biệt hay không. Có lẽ là không. Bởi tôi cũng chẳng có gì đặc biệt, có khi tôi cũng chỉ là hạng phàm phu tục tử. Trước khi nâng ly rượu cùng ông vào tối nay, suốt nhiều năm qua tôi chưa từng nghĩ ngợi gì về cách uống rượu. Đối với tôi, nó chẳng đáng để phải chú tâm.
Đêm đã dần khuya. Có lẽ tôi đã bắt đầu say. Nhưng ông đã lên tiếng nhắc nhở:
“Bạn chú mày chắc không đến đâu nhỉ?”
À, tôi lại quên béng chuyện đó. Lạ thật, sao tôi lại có thể quên chuyện hẹn thằng bạn.
“Dạ, chắc hắn bận chuyện gì đó”
“Chú mày tính sao, uống tiếp hay về?”
“Chắc có lẽ em về”
Ông hơi gật gù một chút rồi nói:
“Hay chú mày đến nhà anh uống tiếp cho vui?”
Tôi lờ mờ nhận ra đó là một lời mời, từ một người đặc biệt và chỉ mới quen.
“Dạ, anh mời em à? Vâng, cũng được, nếu anh không chê thì em xin tới…” – Tôi trả lời như nói từ vô thức.
Và ngay lập tức tôi mơ hồ nhận ra sự nông nỗi của mình. Nhưng có lẽ đã có thứ gì đó toả ra từ giọng nói của ông tựa như sức hút vô hình, hay chỉ là sự phá vỡ điểm tới hạn của trí khôn thường ngày để trí não tôi bước vào vùng kích động không thể cưỡng lại của những tò mò. Tôi không còn khả năng, hay không còn ý muốn chống lại một cám dỗ nhẹ nhàng như vậy.
Ông dẫn tôi qua nhiều ngõ rẽ, chui vào từng góc tối, rồi đến một căn nhà thấp nằm đối diện với con kênh đen.
Ông loay hoay mở cửa và sau đó tôi bước vào căn nhà tối om sặc mùi ẩm mốc.
Ông bật quẹt thắp cây nến. Lạ nhỉ, ông chẳng bật điện. Hay ở đây chẳng có điện. Tôi ngại ngùng bước vào sâu hơn nhưng chẳng dám hỏi. Mà hỏi làm gì, trước sau gì chẳng biết.
Thực ra đã có mọi thứ bày biện sẵn ở căn phòng phía sau. Nơi đó yên tĩnh hơn vì cách xa đường.
Ông bước quanh căn phòng và thắp tất cả những cây nến đã được dựng sẵn ở đó. Rồi khi tất cả chúng cùng sáng lên thì mọi thứ trong phòng đều được soi tỏ. Trước mỗi cây nến đều có một cái ly nhỏ. Tất cả chúng quây quần thành một vòng tròn.
Ông bước tới và ngồi vào đầu cái vòng tròn ấy, còn tôi ngồi kế bên.
Đến bây giờ ông mới lên tiếng:
“Nào các bạn, hôm nay chúng ta có một khách mời. Một chú em tôi mới quen… Không có ai phản đối chứ?”
Những ngọn nến cùng dao động, chao qua chao lại…
Nhìn gương mặt như ngây ra của tôi, ông chỉ mỉm cười mà chẳng giải thích gì.
Rồi làm theo ông, tôi cũng nâng ly, cụng vào bụng ly. Lần này tôi cố học theo cách của ông: nâng ly lên ngang mũi, hơi nghiêng cho chạm nhẹ vào môi, rồi uống từng giọt.
Khi tôi đặt ly xuống, ông nhắc tôi:
“Bây giờ cậu đi rót rượu nhé!” – Ông chỉ tay vào những cái ly trước những cây nến.
Tôi cầm chai rượu lần lượt rót vào từng ly. Khi tôi rót vào ly của mình và cũng là ly cuối cùng, ông đằng hắng vài tiếng rồi nói:
“Từ từ chú mày sẽ hiểu… Đó là những người bạn của anh, họ đang ngồi đó, xung quanh căn phòng, cũng như anh với chú mày đây thôi”
Ông trỏ tay vào những ngọn nến đang lắc lư:
“Họ đang lên tiếng đó, họ đang cười chào cậu…”
Những ngọn nến lại lắc lư mạnh hơn, nghiêng ngả…
“Anh sống có một mình à?” – Bây giờ tôi mới tìm ra lý do để có thể lên tiếng.
“Ừ, một mình. Mà cậu có vợ chưa nhỉ?”
“Dạ có rồi…”
“Trước đây rất lâu anh cũng đã từng có vợ nhưng cô ấy chỉ chịu được có 48 tiếng đồng hồ là bỏ chạy mất dép…”
Ông phá lên cười. Những ngọn nến hình như cũng cười bởi chúng vẹo qua vẹo lại liên hồi.
“… Đâm ra bây giờ anh chỉ sống có một mình cùng những người bạn này”
Tôi nhìn ông, định mở môi nói, thì đã bị ông chặn lại:
“Cậu định hỏi về những người bạn này của tôi?” – Ông chỉ vào những ngọn nến.
Rồi chẳng đợi tôi trả lời, ông giải thích tiếp:
“Thực ra họ đã ở đây từ lâu rồi, ngay dưới lớp đất này. Họ đông lắm, có đến hàng ngàn, hàng vạn,… phải không các bạn?”
Ông quay qua hỏi những ngọn nến. Thật lạ, những ngọn nến cùng gập ngọn lại như gật đầu…
Bây giờ thì dù muốn dù không tôi cũng phải cố hình dung ra những bóng người đang ngồi quây quần thành vòng tròn ngay trước mắt mình. Có thể họ chỉ là sản phẩm tưởng tượng của một kẻ đồng bóng, hay tệ hơn, của một gã tâm thần – kẻ luôn bị ám ảnh bởi những bóng ma. Tôi lần hồi kết nối lại những dữ kiện xung quanh con người đặc biệt này: một kẻ trung niên nhưng cô độc, sống âm thầm không bạn bè trong một căn nhà ẩm thấp, nằm sâu trong một con hẻm dài hun hút như mê cung. Tôi đã từng nhiều lần đến con hẻm này và lần nào cũng có cảm giác nó giống như một cái hang sâu đầy ma lực, nó sẽ hút người ta vào đấy, vào tận nơi tăm tối nhất và mãi mãi không thể trở ra. Không có con đường trở lại cho những người như ông ấy. Có lẽ ông ấy đã lún quá sâu vào cái hang này rồi…
Chúng tôi lại nâng ly. Tôi uống một hơi cạn hết ly rượu rồi cầm chai đi rót. Tôi tưởng mình chỉ làm vậy cho ông hài lòng. Nhưng không,… Tôi giật thót người khi thấy những ly rượu trước những ngọn nến cũng đã cạn khô.
“Bây giờ cậu đã tin chưa?” – Ông mỉm cười ý nhị.
Tôi gật đầu xác nhận rồi im lặng uống tiếp những ly rượu do ông rót. Một lúc sau, khi tinh thần bình thường trở lại, tôi hỏi ông:
“Nhưng họ từ đâu đến vậy?”
“Làm sao biết được hết, họ đến từ khắp nơi. Nhiều lắm, kể sao xuể, bao nhiêu thế hệ với bấy nhiêu nguyên nhân. Từ thời nhà Nguyễn, sang thời Pháp, rồi tới sáu tám, bảy lăm,… Họ nằm chất chồng ở đó nhưng chẳng siêu thoát được. Những kẻ phàm phu tục tử hàng ngày đang ngồi trên lưng, trên đầu họ, hát hò ăn uống, nhậu nhẹt, làm tình, thậm chí phóng uế… Nhưng có ai đoái hoài đến họ đâu. Chẳng ai biết họ tồn tại ở đó. Họ cũng có vui buồn hờn dỗi và chờ đợi trong nỗi niềm tuyệt vọng…”
Những ngọn nến đột nhiên nhỏ lại, hiu hắt như sắp tắt.
“Họ đang buồn đó, có người đang khóc vì mình đã nhắc lại chuyện cũ. Mà thôi buồn làm chi, dù gì thì cũng đã ngủm hết rồi, làm gì có công lý cho những oan hồn, đúng không?”
Ông lại phá lên cười. Những ngọn nến chắc cũng đang cười theo, chúng vụt cháy bùng lên, nổ tanh tách náo nhiệt.
Tôi cũng thấy vui lây…
Chúng tôi lại tiếp tục uống. Rồi ông gõ tay xuống nền nhà hát ê a một bài gì đó. Những ngọn nến cũng lắc lư theo…
*
Tôi say bí tỉ và ngủ lúc nào không hay. Khi tỉnh dậy thì trời đã sắp trưa. Đợi tôi rửa mặt mũi xong, ông bưng đến một tô phở nóng và bảo tôi ăn đi. Tôi ăn xong thấy người khoẻ lại và chuẩn bị ra về.
Ông đưa tôi ra đến tận đầu hẻm. Trước lúc tôi lên xe, ông nói thêm một câu:
“Cậu đã làm được một việc tốt đó…”
Tôi ngớ người chưa hiểu thì ông đã nói tiếp:
“Khi tôi mời được một người thiện tâm đến nhà thì sẽ có một linh hồn được siêu thoát. Đêm qua cậu đã giải thoát cho một oan hồn tội nghiệp ở đó…”
Giọng ông nghe tựa hồ như âm vọng của hơi gió, cứ bám theo tôi không dứt cho đến khi tôi đã rời xa nơi ấy…

TRÀ ĐÓA

Vĩnh Biệt Anh Đinh Cường

tranvanle

Họa sĩ Đinh Cường đã qua đời
Anh đi vào buổi tối tại Burke Virginia
Tuyết nở hoa
Tặng anh một Vòng Hoa Vĩnh Biệt!

Anh Đinh Cường anh không còn biết
Những giọt nước mắt màu gì
Tôi nhất định không lau
Để yên cho màu tê tái!

Cái mà anh để lại
Là Đà Lạt của tôi!
Nơi anh ra đời
Lại là không chỗ đó!

Bây giờ chỗ nào cũng chỗ nhớ
Những bước anh đi qua
Huế rất xa
Và Sài Gòn trong hơi thở… không còn nữa!

Ở Dran hoa quỳ đang nở
Anh hứa về, sau Tết, mà thôi
Tuyết đang bay nơi anh ngủ tuyệt vời
Tôi xin trải thêm nước mắt cho anh trôi về Tổ Quốc!

Anh Đinh Cường!
Tôi, Trần Vấn Lệ, tôi đang khóc…
Thôi anh đi đi đường xa khổ nhọc
Tôi xa xôi không kề vai vác chút xíu quan tài…

Trần Vấn Lệ

TIN BUỒN

12039515_1033513883335790_7396955425592080965_n

Biết tin Họa sĩ Đinh Cường vừa qua đời lúc 9 giờ 40 phút tối ngày 7 tháng 01, 2016 tại một bệnh viện ở Washington DC, sau một thời gian dài bị bệnh.
TUONGTRI.COM thành kính phân ưu cùng bạn Đinh Trường Chinh và gia đình.
Kính chúc chú yên nghỉ thanh thản trong cõi vĩnh hằng

Dinh Cuong (9-2015)
(Tranh Sơn Dầu trên bố 20″.24″, thực hiện tháng 9 năm 2015, Họa Sĩ Trương Vũ)

THẾ HỆ NHÀ VĂN TRẺ: CHIẾN TRƯỜNG, TIẾNG CHIM HÓT VÀ HOA

nguyenleuyen

Trên thế giới này, bất kỳ thời đại nào, chiến tranh luôn là tai họa đối với loài người. Kẻ gây chiến luôn gieo rắc tội ác đổ xuống nhân gian, là bọn khốn nạn, vô luân nhất trần gian… cùng vô vàn tính từ ghê tởm gắn cho chúng.
Hai mươi năm nội chiến Nam-Bắc là cuộc chiến vô đạo, phi nhân đến từ một học thuyết xuẩn động và man rợ nhất, gieo rắc bao nỗi kinh hoàng, những cái chết phi lý, không đáng có.
Hàng triệu tấn bom đạn vãi ra, bằng con số ấy nhà cửa ruộng vườn nát tan, và với con số ấy những lương dân đã gục chết thê thảm, cũng chỉ bởi một dúm người không tim, chẳng có óc (!) đến nỗi một người dân bình thường phải thảng thốt kêu lên “Chiến tranh con mẹ gì mà lâu thế” (Y Uyên, Mùa xuân qua đèo) hay một người lính tham dự vào cuộc chiến cũng đã phẫn nộ “Chiến tranh hả? Chiến tranh là cái c… chó gì!” (Thảo Trường, Cánh đồng đã mất).
Nhưng đâu phải chỉ riêng Thảo Trường và nhân vật của ông mới lớn tiếng thóa mạ chiến tranh bằng cụm từ “tục tĩu”, mà gần như tất cả mọi chiến binh trên các chảo lửa chiến trường đều xem chiến tranh như thứ “tai trời ách nước”. Chưa nói đến sứ mệnh cao cả là chiến đấu để bảo vệ nền dân chủ, tự do cho 17 triệu đồng bào miền Nam (thập niên 60), thì hầu như thế hệ thanh niên lúc này không có một sự chọn lựa nào khác. Hoặc nhảy vô bưng với những suy nghĩ lãng mạn hoang tưởng, hoặc tham dự vào đời sống quân ngũ bảo vệ nền cộng hòa, tự do, dân chủ. Đó là lựa chọn duy nhất, mà đa phần đều từ ý thức, số ít là buông xuôi. Để có được tự do, không phải là điều dễ dàng gì, mà cũng không là của cho không. Và, nhân vật của Thảo Trường đã nói thay tiếng nói tận đáy lòng của thế hệ thanh niên thời đó: “Tao nhìn nhận tự do là một cực hình. Tao tự do nhưng tao không biết quyết định ra sao cả. Tao muốn gia nhập vào bất cứ đám đông nào để được xác định là tao có mặt. Nhưng đám đông nào cũng bỏ rơi tao, cũng hất tao ra bên ngoài. Vì thế tao vẫn là kẻ không có chỗ đứng. Nhiều lúc tao phát khóc lên vì cái bất lực của mình. Bơ vơ sống để nhìn đất nước mình lụn bại. Bơ vơ sống để nhìn ngày tháng trôi xuôi. Tao thèm gia nhập như tao thèm sống. Tao thèm có mặt ở khắp nơi… Để được nói một câu rằng “tôi có mặt”. Chúng mày có biết không. Thế nên tao nhập ngũ” (Thảo Trường, Bên trong lô cốt, Văn Nghệ số 24 tháng 6 &7 – 63).
Nhắc lại: cái đám đông mà Thảo Trường đưa ra và nhắc đến là một ý thức lên đường. Nó không hề là đám đông được dựng lên, được hô hào, dựng vẽ bằng những hình nhân để tung hê vào cõi chết vì một ý thức hệ phi đạo đức, phi nhân tính, một thứ triết lý mộng mị lỗi thời, phá vỡ mọi giá trị truyền thống của xã hội chói sáng tính nhân văn từ hàng nghìn năm, mà tổ tiên đã dày công gầy dựng!
Những lời tung hê, cổ vũ quá máu me quá đỗi bi thảm kia, khi cầm bút, các nhà văn nhà thơ miền Bắc đã có lắng lòng để nghe trái tim mình, cái đầu minh mẫn hay u tối của mình khi đặt bút viết ra những câu thơ, đoạn văn để tránh phải ân hận, đau khổ, dằn vặt lương tâm như sau này nhà thơ Chế Lan Viên viết “Ai? Tôi?”:

Mậu Thân 2.000 người xuống đồng bằng
Chỉ một đêm, còn sống có 30
Ai chịu trách nhiệm về cái chết của 2.000 người đó?
Tôi!
Tôi – người viết những câu thơ cổ võ
Ca tụng người không tiếc mạng mình
Trong mọi cuộc xung phong
Một trong ba mươi người kia ở mặt trận
Về sau mười năm
Ngồi bán quán bên đường nuôi đàn con nhỏ
Quán treo huy chương đầy, mọi cỡ,
Chả huy chương nào nuôi được người lính cũ!
Ai chịu trách nhiệm vậy?
Lại chính là tôi!
Người lính cần một câu thơ
Giải đáp về đời
Tôi ú ớ,
Người ấy nhắc những câu thơ tôi làm người ấy xung phong
Mà tôi xấu hổ,
Tôi chưa có câu thơ nào hôm nay
Gíup người ấy nuôi đàn con nhỏ
Giữa buồn tủi chua cay vẫn có thể cười

Những trang văn ở miền Nam thời chiến mà tôi từng đọc, và sau này cũng chưa thấy nhà văn nào lên tiếng về những ân hận từ các trang viết của mình?

Ở đây, bản năng con người, dẫu được trui rèn qua binh lửa thì vẫn có những giây phút nỗi sợ hãi phập phù tấy lên, nỗi cô đơn la đà trỗi dậy: “Tôi thấy tôi cô đơn quá. Biết tôi sẽ ra sao sau khi lát nữa đây tôi buông mình xuống cái vùng tối đen lạnh buốt. Tôi cũng nhớ khi đến không phận vùng hoạt động, kiểm soát lần cuối cùng chiếc dù của tôi xong, tôi đứng nhìn những người sẽ cùng nhảy với tôi, tôi mỉm cười với họ” (truyện dẫn trên), khác hẳn với những trái tim và cái đầu lạnh của những kẻ điều khiển, cầm đầu bên kia.
Nhưng, ngay đến cả nhà văn thiên tả Thế Vũ, trong tình thế không thể lẩn tránh, đôi khi ông vẫn phải tự hỏi rằng tuổi trẻ đang trôi về đâu, về hướng nào một cách bình thản, không chút hằn học, dù rằng trong sâu thẳm đáy lòng ông, qua những trang viết của ông, chiến tranh gây tang tóc cho quê hương chính là những tên tay sai đế quốc! Vậy nhưng trong truyện ngắn Bữa tiệc dưới hầm, nhân vật tôi thản nhiên chấp nhận “cuộc chơi” bằng ngôn ngữ phản kháng rất tinh tế: Nhân vật của Thế Vũ bắt đầu cuộc chơi đầm đìa máu me kia từ “giam cầm, bị vây bủa, bị đẩy…”, và có cả “kẻ thù” từng là chỗ quen biết: “Tôi chợt nhận ra giữa những thứ đó, mình bắt đầu bị giam cầm một cách thật nhẹ nhàng, mình bắt đầu những ngày bị bủa vây, bị đẩy đi quá xa, một nơi mình chưa hề chọn lựa. Hình như, tôi cũng cảm thấy rơi vào một cơn lốc hay một giòng nước xoáy nào đó mà tôi chưa nhìn ra được. Trong những ngày sẽ đến sau đây, cơn lốc nào, giòng nước cuốn nào cuồn cuộn trôi về cuốn phăng đi những người chung quanh, cả tôi, cuốn phăng ra biển khơi tất cả… Có gì lạ đâu, có lần toán kích của mình bắt được một tên đang hò reo mình ra hàng, khi đem về đồn, sau một đêm nhốt ngoài lô cốt, sáng hôm sau chúng tôi nhận ra đó là một khuôn mặt quen thuộc mà nhiều lần mình đã cho lên đồn ngủ nhờ…
Con biết con bắt đầu vào trận rồi đó. Con biết con không dừng lại được nữa. Chiếc xe cọc cạch đời con vừa bắt được dốc, con không ngừng dừng lại nổi nữa, con bắt đầu lao đi trong cuộc phiêụ lưu này, con bắt đầu làm quen hết tất cả, tất cả… (Thế Vũ, Bữa tiệc dưới hầm,Vấn Đề số 24 tháng 7-1969).
Đọc đoạn trích này, hẳn bạn đọc sẽ thấy sự khác biệt trong cách suy nghĩ, giữa một nhà văn miền Nam có khuynh hướng cộng sản với một nhà văn miền Bắc được tôi rèn bên trong bức màn sắt!

Hầu hết các tác phẩm của các nhà văn miền Nam, lăn lộn nơi chiến trường đều phản ánh trung thực những gì đã và đang xảy ra trước mắt họ và trong ý nghĩ của họ, không né tránh, không che lấp, lên gân đánh bóng. Ở đâu lại có những suy nghĩ, những phát ngôn nửa vời biểu thị nỗi hoang mang lẫn lộn giữa trách nhiệm và tiêu cực như nhân vật Tiến của Thảo Trường, trong tình cảnh bị địch vây khốn, đang lúc bị thương: “Thật ý nghĩa và cũng thật vô nghĩa hai tiếng chiến đấu”. Liệu những chiến binh như Tiến có được xã hội toàn trị chấp nhận trong lúc địch quân vây chặt bốn bề? Vậy thì tại sao các nhà văn miền Nam lại đưa những suy nghĩ của nhân vật vào truyện như một công khai bày tỏ thái độ, suy nghĩ cá nhân. Liệu sự bày tỏ tự do sáng tạo có được hệ thống chính trị phía bên kia chấp nhận cho các nhà văn của họ? Nhớ lại hai người lính trẻ của E.M. Remarque trong truyện dài “Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh”, đêm ra bờ sông “đi đồng ”, họ hỏi nhau: “Không biết Quốc trưởng có đi ỉa như tụi mình không nhỉ?”. Thời Quốc xã kinh hoàng là vậy, kỷ luật thép là vậy nhưng có ai ngăn cấm kiểu đặt ra những câu hỏi như trên? Hay như Lê Văn Thiện trong truyện Du lịch bằng trực thăng trên Bách Khoa (không nhớ số mấy) viết về những cuộc hành quân sâu vào bên trong Cambodge ở Snoul đã để cho hai người lính than thở về nỗi cơ cực khi phải chiến đấu ngoài biên giới, và nói đại ý “muốn tranh giành quyền lực thì lãnh tụ của hai phe tham chiến chọn một gò đất cao và hai người đánh nhau phân định thắng thua, chớ sao lại bắt dân lành phải gánh chịu?”
Có tòa án binh, có Sở Phối hợp nghệ thuật, họ sẵn sàng cắt đục, trọng cấm, truy tố… nhưng rõ ràng, những rào cản trên không thể và không hề làm cho nhà văn ngừng bày tỏ những suy nghĩ trong tác phẩm của mình. Thực tế thì các tạp chí miền Nam đã từng bị đục trắng, bị dập đen nhiều trang, nhiều đoạn, bị tịch thu, truy tố ra tòa án như trường hợp Ngô Thế Vinh bị tòa tiểu hình Sài Gòn truy tố xét xử (ngày 18.5.1972 gồm chủ nhiệm Thế Nguyên, chánh phạm. Hai tòng phạm là Ngô Thế Vinh với bài Mặt trận ở SG, ký giả Lạc Giao, bài Những biện pháp kinh tế mới, một cuộc cách mạng đi ngược đường, đăng trên tạp chí Trình Bày số 34, có nội dung làm nhụt ý chí chiến đấu của quân dân VNCH, làm lợi cho CS…, mỗi bị cáo bị tòa Tiểu hình tuyên phạt 100.000đ và bồi thường 1 đồng danh dự cho Bộ Nội Vụ!).
Những vụ xét xử tuyên phạt như vậy không hiếm đối các nhà văn, nhà báo miền Nam, nhưng đó lại là sự tự do tuyệt đối của người cầm bút. Đó là chất nhân văn trong văn chương miền Nam.
Các nhà phê bình văn học sẽ nghĩ sao, phê phán thế nào khi những người lính đi hành quân lại mang phong thái của những kẻ nhàn du, như một cuộc đi dạo trên những thảm cỏ xanh mượt, vàng ruộm sắc hoa và chim hót trên cao, như thể trên đất nước này chưa hề có tiếng bom đạn gầm réo?:

Nắng sớm mai long lanh
Xanh lá rừng che chắn
Gió đồng ca loanh quanh
Không chút gì lo lắng

Bước giày chợt bâng khuâng
Tìm thơ hay tìm giặc
Tảng đá chạm mũi chân
Giật mình tim co thắt

… loại giấy phép quí này
Được ký bằng đầu đạn
Từ chủ nghĩa bầy nhầy
Nếu may không bỏ mạng

(Luân Hoán)
Hay như Lâm Hảo Dũng:
Anh ở miền Nam lạc đến đây
Còn quân phương Bắc ngủ xuôi tay
Chiến tranh như thể trò tiêu khiển
Của lũ con buôn xác chết này
Và cả nhà thơ bác sĩ chiến trường Trang Châu:
Trong cuộc chiến hôm nay
Cho tôi xin chiến đấu không hận thù
Xin những vết thương bình đẳng
Cho tôi đổi một trăm chiến thắng
Lấy một giọt nước mắt kẻ thù

“Lạ. Không thể tin nổi…” Đó là những lời nói chân thật của một vài trí thức chân chính miền Bắc đã đọc những câu thơ loại như thế này trong buổi trà dư tửu hậu mạn đàm chuyện văn chương thời chiến, mà kẻ viết bài này ngồi tiếp chuyện cách đây khá lâu ở Pleiku, một thành phố cao nguyên Trung phần. Phải. Trong một xã hội mà nền giáo dục đã bị chính trị hóa toàn diện, được tuyên truyền từ chân lên đầu, họ kinh ngạc khi lần đầu tiếp xúc với văn chương miền Nam thì không có gì khó hiểu, nhất là khi họ nghe toàn văn bản bài Uống rượu với người lính Bắc phương của Phan Xuân Sinh:

Hãy rót cho ta thêm cốc nữa đi
Ngồi với bạn hôm nay làm ta hứng chí
Chuyện ngày mai có chi đáng kể
Dẹp nó đi cho khỏi bận tâm
Thằng lính nào mà không rét lúc ra quân
Khi xung trận mà không té đái
Ta cũng có người yêu nhỏ dại
Mỏi mắt trông chờ song cửa quê nhà …
Chuyện sống chết căn bệnh trầm kha
Đâu dễ gì thoát vòng sinh mệnh
Những thằng lính thời nay không mang thù hận
Bạn hay thù chẳng một lằn ranh
Thôi hãy uống. Mọi chuyện bỏ lại sau
Nếu có thể ta gầy thêm cuộc nhậu
Bày làm chi trò chơi xương máu
Để đôi bên nuôi mầm mống hận thù
Ta chán lắm rồi ba chuyện ruồi bu
Chỉ có bạn, có ta là thua cuộc
Người yêu của bạn ở ngoài phương Bắc
Giờ này đang hối hả tránh bom
Hay thẩn thờ dõi mắt vào Nam
Để chờ người yêu mình trở thành liệt sĩ
Rồi cũng sẽ quên, như bao điều suy nghĩ
Tình yêu như một thứ điểm trang?
Che đi chút dối lòng
Uống với bạn đêm nay ta phải uống thật say
Để không phải còn nhìn nhau hận thù ngun ngút

(những ngày đầu xuân 1972)

Trong truyện ngắn Kẻ đào ngũ của Kinh Dương Vương đăng trên tạp chí Văn số 153 ngày 1-5-1970, mô tả một đơn vị TQLC hành quân giải tỏa Huế hồi tết Mậu Thân, nhân vật Công: “… nghe rõ hơn, như ở gần bên tai anh, nhưng dầu đã chú tâm lắng nghe, anh cũng không thể nhận được tiếng kêu phát ra từ hướng nào. Nó vẳng đến lúc to lúc nhỏ. Khi liên tiếp từng hồi, rồi lại ngắt ra từng quãng một. Hình như những âm thanh thảm não anh nghe được chỉ là những vọng âm đã bị những cơn gió xoay chiều làm tan vỡ. Anh nghe ở khắp mọi nơi. Từ trên trời xuống, từ dưới đất lên, từ bốn phương tám hướng. Nó bay cao trên thượng tầng, nó là là trên mặt đất, thoát ra từ các hố bom sâu, chìm vào trong hơi mưa giá buốt, dật dờ không định hướng, như tiếng than ai oán của các oan hồn trên chiến địa. Giọng thê lương đó như gởi lời réo gọi, van nài khẩn thiết đến cái thế giới vô cảm tàn ác ở chung quanh. Nó cất lên thật cao bằng tất cả nỗi nghẹn ngào rồi đột ngột chùng hẳn xuống trong niềm tuyệt vọng, dàn trải ra lây lất, mỏng manh và mệt mỏi đuối hơi”.
Và khi Công nhận ra những âm thanh thảm não… Giọng thê lương đó như gởi lời réo gọi, van nài khẩn thiết đến cái thế giới vô cảm tàn ác ở chung quanh chính là giọng của một sinh linh bé nhỏ, thay vì cùng đồng đội tấn công, xóa sổ ổ đại liên của địch trên thượng đài theo lệnh, thì Công đã lao về hướng phát ra tiếng gào đó, dưới làn mưa đạn của địch quân: “Đúng vào lúc ấy, tiếng khóc bỗng cất lên, giọng the thé làm Công giật mình. Nó phát ra ngay dưới chân anh. Trong một hầm núp đào vội vã dưới bộ ván ngựa của một ngôi nhà gạch đã đổ nát, Công tìm ra đứa bé chưa quá tuổi thôi nôi, trong lúc nó đang vục đầu lên ngực, nhai núm vú của một người đàn bà đã chết. Toàn thể mình mẩy nó nhuộm máu đỏ lòm trông khủng khiếp. Máu khô quánh đặc se mớ tóc dày của nó thành từng lọn. Dưới ánh đèn soi thấy Công nó không ngạc nhiên. Miệng nó vẫn ngậm vú để phát ra những tiếng ư ứ hờn dỗi như một con heo con nhai phải chiếc vú không có sữa. Nó ngước đôi mắt sáng ngời của một con thú nhỏ nhìn Công, tự nhiên và thân thiện. Nhưng khi Công vừa đưa tay ra, nó vội nhả vú mẹ, hốt hoảng bò quanh hầm, miệng phát ra những tiếng khóc đặc biệt mà Công đã nghe. Nó bò ngang qua tử thi của một người đàn ông và dừng lại bên thi hài của một bà lão. Như tìm được người che chở, nó tự tín quay lại nhìn Công. “Thế là cả một gia đình… “, anh nói thầm…”.
Và Công đã cứu được đứa bé bằng chính sinh mạng của mình. Cái chết đến với Công nhẹ như một lọn mây trắng xốp và đẹp tựa một cánh chim chao nghiêng trên bầu trời rực nắng, bên dưới là cánh đồng cỏ xanh mượt và hoa vàng và tiếng suối reo: “Tiếp theo có những tiếng nổ giòn giã. Công thấy mình như một cánh chim đang say sưa nhẹ lướt trong khoảng trời cao rộng bỗng nhiên đôi cánh mỏi liệt. Khoảng không gian dao động và cánh chim lảo đảo. Mắt anh hoa lên, chan hòa một màu xanh của nghìn trùng lá non, màu xanh mênh mông của một đại dương lặng sóng lấp lánh nắng mai. Anh chìm xuống, chìm vào trong một màu xanh an lành bát ngát, xôn xao những mắt sáng trẻ thơ reo cười”.
Người lính VNCH đâu chỉ có đánh giặc, đâu chỉ biết cầm súng chiến đấu? Họ cũng chỉ là những con người bình thường như hàng trăm ngàn chiến binh khác, nhưng ở họ có trái tim, có lòng nhân từ; khác chăng là khác với những giòng chữ ngập ngụa “máu lạnh” dưới ngòi bút một nhà văn, nhằm kích thích sự hận thù, chém giết một cách bệnh hoạn: Quân ta ào lên, bắt giết, đâm, giẫm đạp. Một mụ nguỵ cái, ngực để trần, miệng há ra ú ớ. Niềm căm thù kẻ hạnh phúc hơn mình bốc lên ngùn ngụt trong ngực mình. Mình găm vào ngực mụ cả loạt khiến ngực mụ vỡ toác mà mặt mụ vẫn chưa tắt hy vọng. Giết người lúc ấy sao thấy sướng thế!”. Một đoạn khác: “chúng quay thằng Thiết như quay một con lợn rồi róc thịt uống rượu trả thù cho đồng đội” (Tạ Duy Anh, Đi tìm nhân vật).
Nguyên mẫu bệnh lý cuồng sát từ các trang văn của các nhà văn miền Bắc đã được “giáo dục” từ triết lý dựng lên nỗi “căm hờn” đốt chảy cả dãy Trường Sơn ở truyện ngắn Giấc ngủ mười năm của Trần Lực như một chuẩn mực khi cầm bút: “Người ta nói dân ở gần mặt trận ai cũng hăng. Có gì lạ đâu. Tây nó ác quá. Chúng bắt được đàn bà con gái, thì 7 tuổi đến 70 nó chẳng từ ai. Năm bảy thằng tranh nhau hiếp. Hiếp không chết, thì nó chặt đầu, móc mắt, mổ bụng, rạch trôn. Có khi chúng bắt con trai hiếp mẹ, cha hiếp con gái, cho chúng nó coi và cười. Không nghe thì chúng giết cả nhà”. Một đoạn khác: “Trẻ con thì chúng nó bắt bỏ trong chum, nấu nước sôi giội vào. Hoặc trói 2, 3 em lại một bó, quấn rơm và giẻ chung quanh, rồi chúng nó tưới dầu xăng đốt…. Tây ác như vậy, cho nên dân ta ai cũng hăng máu lên. Họ nói thà đánh Tây mà chết còn hơn để nó hành hạ mà chết”.
(http://www.cpv.org.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=0&cn_id=223316).
Cũng thật dễ hiểu, sau bao nhiêu năm dài, dưới thể chế chính trị của miền Bắc XHCN, đã để lại những sản phẩm văn nghệ mang màu sắc xám xịt, đến nỗi những người trong cuộc như nhà văn Nguyễn Minh Châu phải cay đắng thốt lên trong một bài viết có tựa: Lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa: “…mấy chục năm qua, tự do sáng tác chỉ có đối với lối viết minh họa, văn học minh họa, với những cây bút chỉ quen với công việc cài hoa, kết lá, vờn mây cho những khuôn khổ đã có sẵn mà chúng ta quy cho đấy đã là tất cả hiện thực đời sống đa dạng và rộng lớn. Nhà văn chỉ được giao phó công việc như một cán bộ truyền đạt đường lối chính sách bằng hình tượng văn học sinh động… Thất thiệt to lớn nhất của văn nghệ minh họa của ta là từ đấy những nhà văn đánh mất cái đầu và những tác phẩm văn học đánh mất tính tư tưởng, – nghĩa là những tư tưởng mới và độc đáo mang tính khái quát cuộc đời của riêng từng nhà văn. Như một người đánh mất phần hồn chỉ còn phần xác, hoặc chỉ còn cái phần hồn do nhà nước bao cấp… Văn chương gì mà muốn viết một câu trung thì phải viết một câu nịnh? Hèn, hèn chứ?” (Văn nghệ, Hà Nội, số 49 & 50 (5-12-1987).
Hẳn nhiên, lịch sử văn học Việt Nam sớm muộn gì cũng sẽ có những đánh giá khách quan về vấn đề vừa nêu…
Kẻ viết bài này vốn mê sách báo, đã từng ngốn không biết bao tiền bạc vào sách, đọc gần như trọn vẹn các tác phẩm văn chương miền Nam, từ Bình Nguyên Lộc, Võ Phiến, đến những nhà văn trẻ thuộc thế hệ chúng tôi và cả những nhà văn “phản kháng, lẫn thân cộng” có mặt trên Hành Trình, Đất Nước, Tự Quyết, Đối Diện… cũng chưa hề có ai đặt bút viết những giòng miêu tả đến mức đánh mất cả nhân tính, như những lưỡi dao xoáy ngập vào thân người như dẫn trên (!); ngược lại, cách hành xử ngoài đời thường và trong trang văn của thế hệ nhà văn trẻ cầm súng miền Nam vẫn thấm đẫm chất nhân văn, bởi họ là con người, những con người chân chính, phân biệt được cái đẹp cái xấu, không đánh lẫn giữa thiện và ác. Tại sao như vậy, bởi văn học đàng ngoài là loại văn học nguyên khối, một chiều nhằm ca tụng, tô vẽ và bảo vệ chế độ, còn đàng trong là muôn hình vạn trạng tự do trong sáng tạo, không ràng buộc, câu thúc, không uốn cong, khom lưng, không để não trạng bị đóng băng…
Với Phan Xuân Sinh: Bày làm chi trò chơi xương máu/ Để đôi bên nuôi mầm mống hận thù, là những lời thủ thỉ tâm tình giữa người lính phương Nam và phương Bắc trong giờ hưu chiến. Nhưng với Trần Hoài Thư, đang trên chiến trường, lúc hành quân, bỗng nghe tiếng hát cất lên bên bờ suối, thay vì nổ súng, tấn công, “diệt gọn” thì ông ngăn người lính, để yên cho cặp đôi bộ đội cất tiếng hát vang và lắng nghe. Thời khắc đó, giữa ta và địch không còn lằn ranh. Tất cả hòa vào không gian lung linh sắc giọng, đến nỗi khiến rừng như thể im phăng phắc, lá như thể thôi lay động trên cành. Đó mới chính là cái đẹp, là tính người. Đó mới chính là tính nhân bản trong văn chương miền Nam, của những người lính miền Nam cầm súng và cầm bút.
“Trung đội thám kích đang săn tin về một đơn vị Bắc quân mới xâm nhập vùng Trường sơn, đã không ngờ gặp một cặp bộ đội đang hát bên bờ suối. Quân thù đó nhưng người lính đã không bắn. “Tôi không thể chơi cái trò dã man như vậy. Tôi muốn người thanh niên kia, ít ra, có một giờ phút vĩnh cửu (…) Tiếng hát như nói lên những điều câm nín từ những con tim của tuổi trẻ Việt Nam…. Tiếng hát như dậy khỏi mồ, bạt cả gió, khiến rừng như thể im phăng phắc, lá như thể thôi lay động trên cành. Và ít ra, tôi vẫn còn hiểu rằng, mỗi người đều có trái tim. Và trái tim thì lúc nào cũng sống vĩnh cửu” (Trần Hoài Thư, trích từ Ban Mê Thuộc ngày đầu ngày cuối, Thư Ấn Quán xb 1997).
Vâng, những người cầm súng và cầm bút miền Nam chỉ cần: Cho tôi đổi một trăm chiến thắng/Lấy một giọt nước mắt kẻ thù mà nhà văn Trang Châu đã thốt lên tận đáy lòng như một tiêu biểu cho hành động và suy nghĩ của thế hệ “bị ném vãi ra chiến trường như trấu”.

Họ, các nhà văn miền Nam vẫn thường có tiếng chửi thề trong một vài đoạn văn, và nhiều hơn thế trong một tác phẩm văn học, nhưng không phải với giọng điệu thảo khấu, giang hồ mà chỉ để giải tỏa những cơn bực tức, bức bối thông thường: “Ông thầy cho em miếng nước. – Đụ mẹ, tao là lính chứ đâu phải sĩ quan mà kêu tao ông thầy… – Thì đàn anh cho đệ tử một hớp. – Hớp cái con cặc, bộ mày không có bình toong à!” (Cao Xuân Huy, Tháng Ba gãy súng).
Người lính miền Nam đôi khi cũng có những cái trân tráo, ba trợn và cũng có những lúc phải táo tợn (như ta thường nghe trong các chuyện kể dân gian), như thể họ đang ở một thôn làng bình yên nào đó, không hề là nơi chiến trường mịt mờ khói lửa, không hề là những tù binh lúc khốn cùng: “Cứ như vậy cho đến khi nước uống được hai ả du kích cái mang ra. Nhiều người bu lại uống nước, lúc đầu còn uống tử tế, đến thùng thứ ba được mang ra, cũng vẫn nhiều người bu lại, nhưng chỉ một số người uống nước, số khác giả vờ chen lấn giành nước để bóp vú hai ả du kích…
Khi thùng nước kế tiếp được mang ra, màn bóp vú lại tái diễn, và khi hai nữ đồng chí được đề nghị mang thêm nước lần nữa thì trốn luôn. Không còn nước, không còn đàn bà, mọi người ngồi trở lại trong hàng. Một người lính vừa ngồi xuống bên cạnh quay sang nhìn tôi cười. – Đụ mẹ, bị bắt mà còn được bóp vú Việt cộng, đã quá! (CXH, dẫn trên).
Những hoạt cảnh đời thường ấy được các nhà văn đưa vào truyện, không có ý bôi xấu, cũng chẳng phải vấn đề tình dục hay ẩn ức tình dục mà chỉ là một chút bỡn cợt trong hoàn cảnh không thể đừng, từ một hiện thực sống động trong bối cảnh chiến trường hoặc đã tan vỡ, hoặc đang đối mặt với những điều khủng khiếp sắp xảy ra cho họ và cho các chiến hữu trong những vòng đai phòng thủ, hay ngoài mặt trận súng đạn gào thét. Đó là những đóa hoa ngạt ngào hương sắc giữa lằn ranh của sự sống và cái chết chết.
Họ chiến đấu, nhưng không thể dửng dưng “đang làm con người, được làm người” như bao con người bình thường khác trên thế gian này chưa mất bản năng gốc.
Trong truyện dài Chạy trốn, Thảo Trường đã lồng vào một đoạn ngắn vô cùng sinh động, như trong một xã hội thu nhỏ ngoài đời, mà ở đây là một doanh trại: “Một lát sau người vợ hốt hoảng kêu khe khẽ: “Đừng. Anh. Để đến đêm”. Người chồng không nói gì. Tôi vẫn ôm vợ tôi nằm yên nhắm mắt. Bên kia tiếng chõng tre kêu răng rắc dồn dập. Tiếng thở đàn ông lại càng dồn dập hơn. Tiếng thằng nhỏ ở ngoài gọi vào. “Ba ơi”. Người đàn ông quát: “Ở ngoài đó.”
Tôi vẫn nằm yên, vợ tôi mở mắt nằm yên. Tôi nhắm mắt lại, lúc mở ra thì vợ tôi cũng đã nhắm mắt lại. Vợ tôi nằm nguyên một dáng điệu duỗi xoải, đầu gối trên cánh tay. Nó nói nhỏ với tôi nhưng vẫn nhắm mắt: “Đến tối anh nhé!” Tôi không nói gì. Vẫn nhắm mắt. Bên kia tiếng thở đàn ông vẫn dồn dập, tiếng chõng tre cũng vẫn răng rắc. Chợt người gác ở trên chóp tháp canh gọi đổi gác. Một người khác ở tầng dưới nói vọng: “Tao lên bây giờ.” Người chồng nói vội:”Thong thả đã nhé” nhưng người vợ đã đẩy chồng xuống chõng đánh rầm. Hắn càu nhàu một lát rồi bước tới cầu thang nói lớn: “Rồi đó”. (Thảo Trường, Chạy trốn).
Người lính không phải gỗ đá, tính cách đời thường vẫn luôn luôn gắn chặt với người lính ngoài chiến trường, mỗi khi có dịp. Rượu và nhà thổ đã vượt ra ngoại phạm vi luân lý, đạo đức phong kiến phương Đông.
Họ hành xử như một con người đúng nghĩa, bởi sống và chết chỉ cách nhau một sợi tóc nhỏ, kéo theo vô khối những hệ lụy với mọi con người mà dấu hiệu đầu tiên là vẻ mặt “ngơ ngác” mà Hoàng Ngọc Hiển đã kịp nhận ra. Những ẩn nhẫn chịu đựng của người dân luôn là dấu hỏi cho các nhà văn trẻ nơi chiến trường. Lương tâm, trách nhiệm và bổn phận trộn vào thực tế đắng cay luôn làm trái tim họ co thắt, đau đến tận cùng nỗi đau trước các chiến hữu, đồng bào họ, kẻ thù của họ: “Nước dột đã tràn lên gần hết diện tích sàn hầm, mầu nước đỏ ngầu, lều bều rác rưởi, đồ mửa,… ngó phát lợm giọng. Đây là một trường hợp chiến tranh trên quê hương nghèo khổ, lắm tàn tích, lắm chủ nghĩa, lắm người ngoại quốc. Hơn lúc nào hết, bây giờ chúng tôi phải chiến đấu anh dũng trong những điều kiện eo hẹp. Đôi khi làm chúng tôi chán nản, vùi đầu vào những cơn say vô vị… Khi chúng tôi tiến vào Sóc Xoài, trời đã xế trưa, và chúng tôi không gặp một lực lượng chống cự nào cả. Dân ở đó gồm một nhóm người Thượng ngơ ngác nhìn chúng tôi, có lẽ họ cũng ngơ ngác như vậy khi nhìn Việt cộng vào sóc đêm qua? Lục soát kỹ, chúng tôi chỉ thấy những dấu vết chứng tỏ địch đã có mặt ở đó, và chúng mới di chuyển đi không lâu” (Hoàng Ngọc Hiển, Cơn say, Khởi Hành số 73, ngày 1.10.1970).
Thực tế cay nghiệt luôn theo đuổi người lính ngoài mặt trận. Mới sáng còn ngồi trách móc nhau, hút thuốc, uống rượu thì đến tối đã biến mất, tan loãng vào cát bụi. Có mặt ở chiến trường, mới cảm hết nỗi đau thắt lòng với Lê Bá Lăng trong đoạn văn này: “Tôi gạt thằng Nuôi qua một bên, châm cho người đàn ông điếu thuốc, nâng cằm hắn lên, nhìn và bảo: Trong “tăng-xê” thằng Nam vẫn đốt đèn ngồi cùng bọn thằng Hải, thằng Đắc. Trên một tấm ván thông vừa mới dựng, thằng Nam đã đặt cái cốc bằng nhựa đựng đầy gạo Mỹ, cắm mấy chân hương. Chỗ ngồi của mày đó Nuôi. Chỗ ngồi không bao giờ mày còn thấy, còn nhìn tao, còn say rượu nói tao mới ra trường chưa kinh nghiệm, chưa biết lấy tiền Việt-cộng đem xài” (Lê Bá Lăng, Buổi dừng quân, Văn số 121, năm 1970)
Cung cách của các chiến hữu đối với nhân vật Nuôi khiến người đọc cảm thấy như những người còn sống bị chặt đứt một cánh tay, bàn chân… vượt lên trên tình ruột thịt máu mủ.
Trong khi đó, ở truyện ngắn Giờ hưu chiến của Vương Thanh viết vào tháng 11 năm 1967, đăng trên Văn Học (bìa rách không tìm ra số ngày tháng phát hành) có đoạn viết về cái chết của hai nữ chiến binh VC trong hầm, qua một bức thư gửi về người yêu của một sĩ quan VNCH: “Vũ khí vô tội nhưng chúng ta có tội. Đáng ra quê hương này, đồi núi này phải là những đất đai êm ái cho cuộc sống của chúng ta. Từng làng xóm thân yêu, từng ruộng nương nuôi sống chúng ta đã chối bỏ. Trong một cuộc hành quân khác, anh khai một hầm trú ẩn và đã gặp ba người thanh niên, hai thiếu nữ với những vũ khí. Tất cả đều còn trẻ, thật trẻ, trên dưới hai mươi tuổi trời. Năm người ấy chung nhau một căn hầm chừng hai thước vuông. Họ đã vĩnh viễn ở lại trong đó, với đất của chính quê hương mình? Một trái phá được đặt giữa những người ngồi, đứng vây quanh. Tất cả họ đã tự sát. Hai thiếu nữ nửa phần dưới thân thể đã bị lột trần truồng, nửa phần trên được che bằng một mảnh yếm vải xanh. Tự nhiên, anh hiểu ngay họ là người đồng bào miền Bắc, có thể cùng làng xã chúng ta, họ hàng chúng ta, biết đâu, hai thể xác ấy không mang một tấm thông hành quê ở Hà Đông hay Phủ Lý. Đọc đến đây chắc em nghĩ ngay đến một cảnh tượng dâm ô nào đó trên phim ảnh, một cuộc hãm hiếp chẳng hạn. Không phải chuyện giản dị như vậy. Hai thiếu nữ, có thể với bản năng sinh tồn nào đó, họ đã muốn sống, đã muốn thoát lên khỏi miệng hầm theo lời dọa nạt và kêu gọi của bọn anh vẫn làm khi tìm ra một căn hầm bí mật. Nhưng ba người thanh niên chắc không muốn thế. Chắc họ muốn tụi anh lầm tưởng gian hầm đã được bỏ hoang và dưới đó chả có một chiến công nào đó với tụi anh. Họ đã cưỡng bức hai thiếu nữ ở lại với họ để giấu kín sự bí mật. Tính e thẹn của phụ nữ đã được dùng đến, hai mảnh quần đã được lột ra bằng vũ lực để hai thiếu nữ không còn tính chuyện đến trước một đám đông bọn anh mà họ đã từng được tuyên truyền là tàn bạo và dâm ô. Họ đã ở lại với các chiến hữu của họ cho sự bí mật được an toàn”.
Cái chết quá thê thảm này, lỗi không do bọn họ, cũng không do trời đất, số mệnh… mà từ một chủ thuyết hoang cuồng: cũng chết nhưng bên này thì đặt cái cốc bằng nhựa đựng đầy gạo, cắm mấy chân hương. Còn bên kia là sự khủng khiếp, man rợ không khác gì đám ôm bom tự sát ngày nay, mà còn hơn thế, bởi ba chiến binh nam đã lột truồng hai cô gái để họ phải xấu hổ ở lại với chúng trong căn hầm, khỏi lộ tung tích (!): Một trái phá được đặt giữa những người ngồi, đứng vây quanh. Tất cả họ đã tự sát. Hai thiếu nữ nửa phần dưới thân thể đã bị lột trần truồng, nửa phần trên được che bằng một mảnh yếm vải xanh.
Có những cái chết ngọt ngào, những cái chết tức tưởi, những cái chết anh hùng và những cái chết cuồng điên… trong văn chương chí đến xã hội. Trách ai?
Để kết thúc bài viết này, xin dẫn một đoạn trong tham luận Tính“văn học” trong văn học miền Nam của nhà văn Trần Doãn Nho đọc tại hội thảo Hai mươi năm văn học miền Nam, tổ chức tại nhật báo Người Việt, Hoa Kỳ ngày 6/12/2014 : “Văn học miền Nam nói chung, trong quá trình phát triển của nó, đề cập đến con người như một hiện sinh, một thân phận chứ không chỉ như một hữu thể chính trị và cũng không chỉ như một hữu thể đạo đức, hiều theo nghĩa cổ điển. Do đó, ngoài những tác phẩm đề cao tình người, đề cao tình gia đình, một số tác phẩm cũng đề cập đến những ám ảnh tình dục, những ray rứt về phận người hay những vấn nạn triết lý về đời người và người đời…
Trong những tác phẩm viết về chiến tranh, tác giả không đề cập đến người lính như những kẻ chỉ biết “nhắm thẳng quân thù mà bắn”. Ngược lại, hầu hết đều viết về những gian khổ của người lính và những ray rứt của họ khi phải cầm súng bắn vào những người cùng máu mủ. Dù chống Cộng, không có một tác phẩm văn chương nào kêu gào giết cho đến người Cộng Sản cuối cùng.
Có thể nói, không giai đoạn nào mà văn học mang đầy đủ tính cách “người” như hai mươi năm văn học Miền Nam. Có khóc, có cười, có đau thương, có thống khổ, có vui mừng, phấn khởi, có lo âu, dằn vặt, thậm chí có dâm, có loạn. Một nền văn học thể hiện con người trong tất cả cái phức tạp của kiếp nhân sinh. Thay vì chỉ đề cập đến cái thiện, cái đẹp, người ta đề cập đến cả cái ác, cái xấu. Thay vì dùng văn chương chỉ để “tải đạo”, người ta dùng văn chương để lột trần những bề trái, những khía cạnh giấu ẩn, tăm tối, xấu xa của con người.

NGUYỄN LỆ UYÊN
tháng 12/2015

MÙA ĐÔNG

hochibuu

Một đóa mai vàng nở sớm nay
Hình như trong gió có heo may
Hình như ta có niềm tâm sự
Giữ mãi trong tim với tháng ngày

Ta nhớ em nhiều có biết không?
Sẽ buồn cho hết một mùa đông
Sẽ ru khúc hát còn dang dở
Trong trái tim phai máu đỏ hồng

Chắc tại mùa đông đang trở về
Và ta nỗi nhớ dài lê thê
Nhớ đôi mắt ướt buồn hiu quạnh
Và gió chiều lay mái tóc thề

Có phải mùa đông đã trở về?
Gió làm cái lạnh khắp sơn khê
Gió làm hoa tím rơi thềm cũ
Lại một mùa xuân sắp sửa kề

Chắc chắn mùa đông đã trở về
Em còn ra phố mỗi chiều tê
Mặc thêm áo ấm dầy em nhé
Kẻo gió chiều đông lạnh bốn bề…

HỒ CHÍ BỬU

THÁNG CHẠP QUÊ NGƯỜI

trantrungdao

Tháng Chạp đêm nằm nghe bão tới
Gió thét từng cơn, gió hãi hùng
Cây đập rung nhà, trời lửa chớp
Nhớ thuở còn trôi trên biển Đông

Thương những oan hồn đang chết uổng
Chết ở đầu sông, chết cuối nguồn
Một dải đất nghèo bao thế kỷ
Bạn thù chia một nấm mồ chung

Thương kẻ trong tù ngồi bó gối
Đợi một mùa Xuân chửa trở về
Sông núi vẫn còn sông núi đó
Mà xa như cách mấy sơn khê

Tháng Chạp quê người không thấy Tết
Chỉ thấy dài thêm nỗi nhớ nhà
Mộng vẫn chưa thành năm sắp hết
Ngày đi cứ tưởng mới hôm qua

Tháng Chạp, ôm đàn ra đứng hát
Gõ nhịp mà nghe lạnh kiếp người
Tiếng nhạc bay xa vào cõi vắng
Ngoài sân tuyết trắng ngậm ngùi rơi.

Trần Trung Ðạo

ĐÔI MẮT

tranhoaithu

Thêm một mùa thu trở lại. Thêm một bầu trời trắng xám như mang theo một nỗi buồn, cúi đầu đưa ti­n những ngọn lá trở vàng. Và với tôi, thêm một khóa học nữa lại trở về.

Tôi bắt đầu mang lại chiếc áo len mỏng, bỏ lại tập vở, cuốn sách vào school bag để tiếp tục cuộc hành trình. Kiến thức hay là cơm áo. Có lẽ là cơm áo cũng nên. Cái giấc mơ hôm qua của một tên đàn ông da vàng, đến từ một đất nước nghèo khó, lạc hậu, tai ương, trước một thế giới văn minh kỹ thuật, bao bọc bởi computer, điện thoại, fax, bây giờ đã trở nên buồn nản. Hay tại số tuổi của tôi, chẳng khác những chiếc lá vàng đầu tiên rụng xuống trên thềm cỏ. Mùa thì lúc nào cũng về đúng hẹn. Nhưng trong tâm hồn tôi, mùa đang thay đổi theo từng bánh nhịp của thời gian. Hôm qua, bao nhiêu phấn kích khiến tôi đêm ngày tìm tòi học hỏi, như một tên vô sản được chia một gia tài giàu có. Hôm qua, tôi đến trường, tai căng, mắt miệt mài, hồn đắm chìm trên trang sách vở. Hôm qua, tôi cứ nao nao đợi chờ ngọn gió chuyển mùa. Nhưng bây giờ, mệt và cô đơn. Mười hai năm làm việc với chừng ấy thứ. Cobol thì cũng như Fortran, thì cũng như C++. Unix thì cũng như IBM. Perform thì cũng như Do. Object thì cũng như không Object. Tất cả thì cũng là những bit 1 bit 0 trùng trùng điệp điệp luân lưu bằng tốc độ sấm sét. Nhưng chao ơi, trong tôi, trên da thịt tôi, những sợi tóc của tôi, não bộ của tôi, còn trăm ngàn bit đời sống tiếp tục bỏ đi theo từng sát na. Để lại nỗi u hoài, hụt hơi, đuối sức.

Nhưng dù muốn dù không, tôi vẫn lái chiếc xe gần hai tiếng đồng hồ từ nơi tôi làm việc đến trường. Khóa học này là khóa cuối. Có nghĩa là sau đó, tôi sẽ được cái bằng để treo, được viết thêm trên tờ Resumé thêm một bằng cấp và được tăng lương. Cứu cánh cuối cùng cũng vẫn là chừng nấy.

Như vậy, tôi đã trở lại cùng những dãy lầu gạch màu hỏa hoàng, vươn lên bên dòng sông Hudson. Như vậy, gã trung niên đang trở về, để bước lại trên hành lang xôn xao tuổi trẻ. Tôi lại bắt đầu hòa nhập vào cõi rộn ràng của sân trường. Những hàng sồi cổ thụ. Đám sinh viên trai gái đang ngồi tụm năm tụm ba trên bãi cỏ. Những con chim bồ câu đang đậu trên bức tượng đồng đen to lớn giữa sân. Tự nhiên tôi nhớ đến Như Hạ. Nhớ nàng đến thê thiết. Hình như con người chỉ có một thời tươi đẹp để ấp ủ nâng niu. Tôi cũng có một thời tươi đẹp như thế. Thời mà những gót chân người con gái nào để hoài, in hoài bãi vườn lòng tôi. Tôi đang chứng tỏ một tay phản động đĩ điếm sắp lấy một cái bằng xứ Mỹ, nhưng tôi vẫn cảm thấy bị thua lỗ một lần. Một lần quá đau, quá nặng. Đau bởi vì nàng thì xa vòng tay của tôi một cách tàn nhẫn. Nặng như nỗi buồn tôi mang theo suốt cuộc hành trình luân lạc này.

Em yêu dấu. Tôi lại thấy em. Như đêm nào quanh lửa trại, trên bờ biển Thuận An. Như đôi mắt em sâu thẳm âm u, và mái tóc mun đen chảy dài cả bờ lưng em mềm mại. Ngày xưa, mà như hôm qua. Tiếng sóng đêm nào, rì rào bất tận. Ngọn lửa bạt bởi gió làm gương mặt em khi ẩn khi hiện. Tôi giấu đôi mắt cuồng đắm, nhưng lòng tôi reo lên tiếng reo từ những khúc củi bốc cháy giữa vòng người. Em được tiếng là người con gái có giọng hát hay nhất trường. Vì thế lũ bạn không chịu buông tha em. Tôi vốc một nắm cát thả xuống, để giấu con tim. Tôi muốn ghen tức. Tôi muốn tiếng hát kia là riêng. Tôi muốn tôi là một người độc nhất để chiêm ngưỡng em, và em chỉ biết có mỗi mình tôi mà cống hiến. Đêm ấy, trăng và sao lung linh khắp bầu trời Thuận An. Đêm ấy, những vì sao Đại Hùng Tiểu Hùng ở đâu để tôi còn ước ao trở thành người chăn cừu trên thảo ngàn, để cô bé ngủ quên trên vai. Đêm ấy em ngồi yên trên bãi cát, vầng trăng sáng vằng vặc, chảy lai láng trên mái tóc dài đen mượt như một dòng suối trăng. Tôi đến bên em. Như Hạ chưa ngủ hay sao? Không, em chưa buồn ngủ. Đêm ni trăng sáng quá anh Minh hỉ. Tôi nói Như Hạ hát hay quá đi. Em làm khối chàng trai si em. Em mà ai si. Anh nói thật tình. Trong số đó có cả anh… Thật vậy sao, em mừng quá đi. Nàng nói thật lòng hay chỉ là lời đầu môi chót lưỡi. Dù vậy tôi cũng cảm thấy thật vui. Đêm càng về khuya, gió càng lạnh. Bầu trời dường như càng thấp hơn. Và ánh trăng thẳm vàng một bãi biển chảy dài. Những đôi nam nữ đã dẫn nhau tìm chỗ trò chuyện. Lúc này, bếp lửa trại đã tàn, chỉ còn những miếng than hồng sót lại, cháy dang dở. Tôi muốn ngồi sát vào nàng hơn nhưng tôi không dám. Nhưng tôi nghe lòng ấm áp lạ kỳ. Được ngồi bên một người con gái xinh đẹp, được trò chuyện vu vơ, được nghe những lời thỏ thẻ, được nhìn cả một suối tóc lai láng ánh trăng, như vậy cũng đủ cho một tên thanh niên cảm thấy hạnh phúc lắm rồi. Một đôi bạn gái của Như Hạ đã đến bên chúng tôi lúc nào. ” Thì ra con Như Hạ ở nơi ni. Mi bắt bọn tau phải chạy đi tìm trối chết. Cứ tưởng là mi đã nằm biệt tích dưới đáy biển mò trai…” Như Hạ chống chế tội tình: ” Giữa tau và anh Minh chỉ là bạn…” ” Ô hay, tau đâu có nói gì cái chuyện giữa mi và anh Minh. Thôi bọn tau xin lỗi phá mi…” Sau đó hai cô bạn cười khúc khích và chạy đi chỗ khác. Còn lại Như Hạ lầm bầm: ” Mấy con nhỏ ni suốt ngày chỉ biết chọc phá người khác.” Đó là một đêm xứ Huế lúc chiến tranh chỉ còn ở một nơi nào rất xa, hình như chẳng bao giờ làm bận tâm những đứa con trai con gái. Trường đại học chỉ bao gồm hai ngôi lầu dọc theo bờ sông Hương, và một thư viện, nguyên là kho bạc cũ. Người sinh viên quá d­ễ dàng quen biết nhau, tìm đến nhau, và sau có dễ­ dàng trở thành liên hệ với nhau. Tôi và Như Hạ cũng vậy. Chúng tôi cùng học chung Khoa Học. Chúng tôi cùng chung hàng xóm. Chúng tôi cùng chung kỷ niệm thơ ấu. Chúng tôi cùng chung những ngày đạp xe đạp trên Ngự Bình ăn bánh bèo hay về Cồn Hến ăn chè. Chúng tôi an ổn trong sương muối buổi sáng tháng Giêng và dưới hàng phượng vĩ đỏ ối cả con đường Lê Lợi trong mùa hạ rộn ràng tiếng ve sầu. Chúng tôi bình yên nhìn về phía trước. Không thao thức. Không bâng khuâng.

Nhưng nỗi bình yên kia đã bị bức tử. Một Huế của êm đềm đã không còn êm đềm như xưa nữa. Đêm lửa trại ở Thuận An, với những đôi nam nữ tìm đến với nhau, dưới muôn ngàn tinh tú sáng lung linh đã trở thành một hoài niệm. Tôi thì về biển. Bạn tôi thì lên rừng. Và đau đớn hơn nữa, Như Hạ cũng theo tiếng gọi từ xa. Tất cả trở thành đổ vỡ, phân ly. Không biết tôi oán trách ai đây. Chủ nghĩa hay bạn bè tôi và cả một người tôi si dại mê đắm một thời. Tôi đã đặt câu hỏi và nghe câu trả lời buồn thảm. Bao nhiêu lần tôi trở về cùng biển. Bao nhiêu lần tôi vốc nắm cát và thả xuống từ từ để nhớ về một người nào. Rồi cay đắng. Rồi muốn rưng rưng nước mắt. Ngày còn thơ ấu mỗi lần Như Hạ thấy trái ổi trái xoài chín trên cây thì nàng vẫn nhờ tôi trèo lên để hái dùm. Nàng quá bé bỏng để tôi phải sững sờ khi nghe người dân thành phố kể lại một người con gái lạnh lùng tàn bạo, ngồi sau chiếc bàn dài, với khối quyền uy ghê gớm, kết quả bao nhiêu người đã bị chôn sống tập thể. Có cái gì khiến con người đã trở thành một loài ác thú. Tôi run sợ để nghĩ đến điều đó. Đảng lúc nào cũng khoan hồng. Nhưng vì nhân dân quá nổi giận. Ai đã phát biểu một câu nói để bào chữa cho một tội ác man rợ. Tôi đã đọc bài phỏng vấn về những chiếc huyệt chôn người tập thể từ người của một thời sách vở, và giảng đường trên một tờ báo ngoại quốc. Mười mấy năm sau chiến tranh, ai ai cũng hiểu nhân dân là ai rồi. Thế mà bây giờ người sát nhân chưa một lần thấy lương tâm bị cắn rứt, lại đòi làm người thầy tu. Còn Như Hạ của một đêm trên bờ biển Thuận An, chắc bây giờ cũng trở thành một nữ Bồ Tát.

Một nơi nào để tôi còn ngồi lại. Vẫn phòng học ở cạnh dòng Hudson, để mắt tôi phải choáng ngợp bởi một thành phố Nữu Ước vào đêm. Thêm vào gương mặt mới. Một người nữ sinh viên từ Thổ Nhĩ Kỳ. Hai người sinh viên nam nữ Trung Hoa. Và thêm một người con gái Việt Nam. Tôi biết rõ quốc tịch của nàng qua tên họ nàng viết trên tờ giấy điểm danh. Ngo Nhu Hien. Tôi thầm lén nhìn nàng, như thể nói lên lời chào hỏi bằng ánh mắt. Sau đó, vị giáo sư quen thuộc của khóa học trước, một tiến sĩ Toán học, tốt nghiệp cách đây đến ba mươi năm, bắt đầu ngay vào bài giảng. Ông nói và nói. Đầu tiên, ông nói ông không bằng lòng khi người ta coi môn Math Statistic này được coi là toán học. Toán học là một cái gì rõ ràng phân minh và dứt khoát. Nó như một cộng một là hai. Còn Thống kê học chỉ là một ngành khảo sát về cái không dứt khoát. Nó chẳng khác Hóa học, Vật lý. Nó dùng những kết quả để tìm những lời giải. Ông cười, nếu là toán thì chắc ai cũng trúng số độc đắc hết…

Ông ngồi trên ghế, trước chiếc bàn vuông, nhìn đám sinh viên, nói liên tu bất tận. Chỉ tội nghiệp người con gái Việt Nam ngồi bên cạnh tôi. Đôi mắt của em sao lại làm tôi chết điếng. Như đôi mắt người xưa. Và cả dáng dấp của em, như dáng dấp của một người bên trời Cửa Thuận. Tội tình cho em trong những giờ đầu bỡ ngỡ. Lời giảng của vị giáo sư quá mau, tiếng Anh, tiếng Mỹ chắc làm em phải khó khăn đuổi theo ghi chép. Tôi thấy em chới với cùng trang giấy. Ông thầy thì vô tâm. Không viết gì trên bảng. Chỉ nói, chỉ giảng, chỉ lật trang sách này qua trang khác. Rồi những bài \f3homework.\f2 Ông đọc thật nhanh. Bài 1, 2, 4, 15, 17, 18, 20. Em vô vọng nhìn qua tập vở của tôi, không dám hỏi. Tôi đưa note cho em. Em vừa nhìn vừa viết lại đến tội tình. Sau đó em gật đầu, nói thật ngượng ngùng:
” Thank you.”

Mười phút nghỉ. Bây giờ tôi mới có dịp làm quen. Tôi hỏi bằng tiếng Việt:
” Xin lỗi cháu là người Việt Nam.”
” Thưa Bác, dạ.”
” Cháu mới đến trường này lần đầu tiên?”
” Dạ.”
” Cháu chắc mới qua Mỹ?”
” Dạ. Cháu mới qua vài tháng…”
Tôi biết rồi. Thì ra người thiếu nữ này là sinh viên Việt Nam du học. Tôi biết được điều đó qua nội san của trường về chương trình trao đổi sinh viên quốc tế. Tôi hỏi thêm:
” Quê cháu ở đâu?”
” Thưa Bác, cháu ở Huế.”
Tôi bắt đầu đổi giọng Huế của tôi:
” Bác cũng ở Huế đây. Cháu ở Huế nhưng ở mô?”
” Thưa Bác, cháu ở Đập Đá.”
” Đập Đá, nhưng mà ở khúc mô?”
” Khúc giữa, chỗ có nhà thật xưa…”

Tôi bàng hoàng run rẩy. Như Hạ ơi, hay là giọt máu của em, kết tinh từ da thịt em, dáng dấp của em, đôi mắt của em. Một thời xa xưa mà như thể một giấc mơ. Mấy mươi năm, khu vườn xưa ngỡ đã tàn lụi, giờ đây, một đóa hoa lại nở, hương xưa lại trở về. Cay đắng hay là nỗi vui mừng tràn đầy nước mắt. Những gì hôm qua ngỡ đã mất biệt bởi hận thù, chủ nghĩa, đêm nay, đột nhiên sống lại như bão cuồng. Tôi cố nhìn cô bạn học nhỏ. Tôi cố gắng tìm hiểu, đánh giá về một người con gái, con của một cán bộ bên kia hàng ngũ, người đã từng ngồi ở cái bàn oan nghiệt một thời vào năm Mậu Thân. Nhưng tôi chỉ thấy một cõi cô độc đến tội nghiệp. Gương mặt kia, hay là gương mặt ngời sáng dưới ánh lửa trại, để từ bên này, lòng tôi đã nẩy nở bao nhiêu niềm rung động. Và cả đôi mắt kia, như đôi mắt lung linh dưới ánh trăng trên bãi biển, và cả bờ vai kia nữa, mềm mại, dựa vào người tôi. Gió từ sông thổi vào lạnh như cắt, khiến người con gái phải run. Tôi bảo:
” Cháu ơi vào lớp đi, kẻo lạnh. Về sau, có gì cần ở bác, bác sẵn sàng giúp. Dù sao bác cũng ở Mỹ mười năm.”
Cô gái nói:
” Cháu cám ơn bác. Cháu mới qua không giỏi sinh ngữ nên không ghi chép kịp. Bác có thể cho cháu mượn bài ghi của bác được không?”
” Dĩ nhiên, và hai bác cháu mình sẽ cùng làm homework chung nghen cháu? Cháu hẳn biết ông giáo sư này chú trọng homework hơn cả thi final nữa.”
” Cám ơn bác. Cháu sợ không theo kịp. Cháu lo quá.”
” Cháu đừng lo. Riết rồi cái gì cũng quen. Cháu có học thêm sinh ngữ không?”
” Dạ họ yêu cầu.”
” Này, nếu cháu muốn, bác sẽ mang con gái bác về làm bạn với cháu. Nó sẽ hướng dẫn cháu về Anh văn, nhất là cách phát âm. Nó rất thích bạn.”
” Cháu rất cám ơn bác.”

Từ buổi học đó, tôi có thêm một cô bạn nhỏ, Như Hiền. Tôi biết rõ về nỗi cô đơn lạc loài của người con gái xa nhà này. Con tôi làm sao hiểu những gì ở tận bề sâu thẳm của con tim cha nó. Nó vui được giúp đỡ một người bạn gái đồng hương. Những ngày cuối tuần hai đứa chở nhau đi shopping, hay tham dự các party bạn hữu. Nó luôn luôn khen Hiền đẹp, hiền và ít nói. Hiền thì khẩn cầu con tôi đừng nói nàng là du học sinh. Hiền vẫn còn sợ cái mặc cảm con cán bộ. Riêng tôi, tôi không bao giờ nhắc đến những ngày hôm qua. Những ngày mà hàng ngũ tôi bị hàng ngũ Như Hạ trả thù hèn hạ. Những ngày mà những kẻ chiến th¡ng kiêu ngạo có thể chiến thắng cả Ông Trời. Hãy để Như Hiền chứng kiến và phán đoán lịch sử.
Một ngày sau buổi học, Như Hiền đột nhiên hỏi tôi:
” Thưa bác, có phải bác viết văn lấy tên là Hạ Trường?”
Tôi biết có chuyện gì sắp xảy đến rồi.
” Phải.”
” Cháu nhớ lần đầu, bác đã hỏi cháu về căn nhà cổ xưa ở Đập Đá. Hôm qua, Nga có đưa cháu xem một bài văn của bác. Bác nhắc lại khu vườn xưa, ngay cả cái lầu mà bác từng một thời trọ học. Cháu đọc, cháu khóc. Cháu biết bác là người yêu của mẹ cháu.”
Tôi cúi đầu xuống. Lòng tôi chau lạnh. Cả khu vườn tôi muốn quên nay lại sống dậy rồi. Cả cõi quan tài kỷ niệm giờ đã mở bung rồi. Bên tôi, người con gái vẫn tiếp tục kể về khu vườn cũ.
” Ba mẹ cháu và những người mà bác nhắc bây giờ họ vẫn tìm đến ngôi nhà cổ xưa của mẹ cháu, nhưng không phải để họp hành sôi nổi như ngày xưa… Hầu hết các bác và các chú mà bác nhắc đều trả lại thẻ đảng, sau khi tờ báo bị đóng cửa. Thỉnh thoảng họ có nhắc đến tên bác. Họ có nói đọc văn bác ở trên một vài tờ báo hải ngoại được lén lút phổ biến. Bác có đọc những bài thơ của chú Trần Vàng Sao?”
” Có. Bác có đọc. Nhưng cháu hãy nói về ba mẹ cháu đi. Bác muốn nghe.”
” Ba cháu vẫn còn trong tổ chức. Lúc này, ai cũng cố bám vào đấy để hưởng ít nhiều ân huệ. Và cũng chính nhờ vậy, cháu mới được cơ hội đi du học như hôm nay.”
” Còn mẹ cháu?”
” Mẹ cháu bây giờ sống bằng thuốc ngủ và những lá bùa.”

Mắt nàng mờ lệ. Tôi nhìn lên gương mặt. Tôi khóc cho một dĩ vãng. Dòng Hudson hay là dòng sông Hương, để tôi phải đau như một lời thơ của cụ Trần Tế xương Chợt nghe tiếng ếch bên tai. Giật mình cứ ngỡ tiếng ai gọi đò. Ở đây làm gì có tiếng ếch, nhưng là tiếng đắng cay sông núi. Như Hạ ơi, anh đang thấy lại em, đôi mắt vòi vĩnh anh hái dùm trái ổi, trái khế. Anh thấy lại em, giữa khu vườn rậm đầy bưởi, thanh trà, và em mang áo ấm đỏ khi Huế vào đông, khi con nước sông Đập Đá chảy cuồn cuộn mang theo những thân củi, khúc cây từ rừng xuống sông Hương… Cay đắng này chỉ có một mình anh chôn cất. Còn nữa, còn một đêm đầy sao trên bãi biển Thuận An, để sau này anh phải mang hoài hai vì sao nhỏ từ đôi mắt của em. Để anh mỗi lần cầm viết, cứ nghĩ đến một đôi mắt…

Đến đây, Như Hiền nói như nghẹn ngào:
” Đọc văn bác, cháu biết bác vẫn còn căm hận mẹ cháu. Tự nhiên cháu lại tủi thân bởi vì cháu là con của một người trong cuộc. Bác không biết, đến lúc này, cháu chưa hề biết chủ nghĩa Cộng Sản là chủ nghĩa gì. Cháu đâu là Cộng Sản. Cháu cũng như Nga, như những người bạn mà cháu đã gặp, đều nói tiếng Việt, đều thích vui đùa. Bác không biết trước khi qua Mỹ, ba mẹ cháu đã dặn cháu hãy câm và điếc đừng tiết lộ cho ai biết cháu là con của cán bộ. Bác ơi, làm con của cán bộ đâu phải có tội…”
” Vâng, cháu nói đúng. Nhưng ít ra mẹ ba cháu là những người từng trực tiếp hay gián tiếp chôn sống hàng vạn người vô tội ở Bãi Dâu phải tỏ ra một chút gì liêm sỉ, đừng nên nhân danh này nọ để biện hộ cho tội ác.”
” Cháu không dám bào chữa cho mẹ, nhưng thưa bác, trong một tổ chức, tiếng nói là tiếng nói của bí thư. Và mọi người chỉ biết cúi đầu lập lại tiếng nói ấy. Ai cũng biết cái vụ thảm sát tàn bạo nhất trong cuộc chiến tranh, nhưng ai cũng không dám nói lên lương tâm của mình.
Riêng mẹ cháu thì từ bệnh mất ngủ đã biến thành bệnh tâm thần. Mẹ nhìn đâu cũng chỉ thấy những oan hồn về đòi mạng. Mẹ đã kêu thầy bùa để yếm từ cổng nhà đến phòng ngủ, nhưng cũng đành chịu thua. Đôi mắt mẹ, mà bác đã từng viết trên bài văn, là đẹp như hai vì sao nhỏ, bây giờ chỉ là hai võng mô đục, không một chút gì sinh khí.”

Trần Hoài Thư

ĐÀ LẠT KHÔNG EM

Hovietkhue

 

Anh về hỏi nhỏ con đèo
Không em đèo mãi ngoằn ngoèo trong sương
Run chân thầm hỏi con đường
Phố cao phố thấp bóng trườn đè anh
Vu vơ hỏi nắng mong manh
Tan trong hoa, nắng long lanh sắc màu
Ngàn thông vọng gió thung sâu
Lời ai điếu mối tình đầu ngu ngơ
Anh vùi trong đám cỏ khô
Chờ em mồi lửa hư vô tìm về.

Hồ Việt Khuê

THIỀN TỊNH VÔ ƯU. NGẮM CUỘC CỜ TÀN

chuthuynguyen

mặt hồ
quay phắt cánh chim
hồn hoang bay
đậu
lim dim thạch bàn
cuộn mình
lăn lóc trở trăn
mưa
rung cánh nhỏ
tuyết
tan nát cành

ngày dài
bóng
đổ mong manh
ngước lên thập điện
trổ
xanh ráng chiều
cậy mình
đời
đã liêu xiêu
cậy người
khởi oán dập dìu
nợ ân

lang thang
giễu cợt phù trần
biến đen
hóa trắng
thay gần đổi xa
lầu vàng
xe bạc ta bà
hằng nga chực cướp
trăng sao ngỡ ngàng

cờ tàn
quyết cuộc cờ
tan
ngó trong ngùi
ngậm
tan hoang hội nầy
xem lần
thiện ác tại đây …

Chu Thụy Nguyên

LỜI MỞ CHO HƯỚNG DƯƠNG GIẤU MẶT.

truongvu

12421549_948100161912024_280880438_n

Tôn Nữ Thu Dung là một trong những học trò trẻ nhất của tôi ở Việt Nam, đúng ra là học trò bé bỏng nhất, em vào đại học năm cuối cùng tôi dạy và làm việc ở đó(1975). Bốn mươi năm đã trôi qua, có nhiều lần gặp lại, tuổi tác tiếp tục tăng lên, tuy nhiên mỗi lần nghĩ đến Thu Dung, hình ảnh tôi nhớ đến luôn là hình ảnh một cô học trò bé bỏng năm nào. Bé bỏng, không phải chỉ vì cái dáng dấp nhỏ bé, xinh xắn, đầy nhiệt tình khi xông xáo vào những sinh hoạt của trường học. Chính cái cách biểu lộ sự đam mê rất hồn nhiên về văn học, nghệ thuật của Thu Dung tạo cho tôi ấn tượng đó. Sau này, đọc những bài vở của Thu Dung, theo dõi những công trình, những sinh hoạt của em về văn học và cả về xã hội, tôi thấy gợi lại nhiều hình ảnh đã nằm yên đâu đó trong ký ức về một khoảng đời rất đẹp tôi sống trên quê hương. Trong hầu hết những sáng tác đó, tôi luôn thấy hình bóng của tác giả, với những biểu lộ vui buồn rất thật và quen thuộc, dù viết về một hồi tưởng, về một câu chuyện thật, hay hoàn toàn hư cấu. Tạp chí mạng Tương Tri mà Thu Dung sáng lập và điều hành, đều đặn và sinh động, với bài vở chọn lựa trên tiêu chuấn chất lượng, biểu lộ rõ niềm đam mê và cá tính của em, một cá tính mạnh nhưng rất hài hòa và giàu tình cảm.
Cách đây khoảng một năm, khi về California dự một hội thảo văn học, tôi có nhiều dịp gặp lại Thu Dung và một số học trò cũ. Trong một buổi ăn tối với các em, khi nói về chuyện viết lách của Thu Dung, tôi có nói những lời này: “Thu Dung, em không thể cứ trẻ thơ mãi, em phải lớn lên”. Tôi nói thật với lòng mình. Tuy nhiên, về lại Maryland, một thời gian sau đó tôi chợt nghĩ lại điều mình nói, rồi nghĩ lại về chính mình. Thế hệ của tôi, tuổi trẻ già hơi sớm. Bước vào đại học là bắt đầu học đại về những ý thức mới, những trào lưu văn học nghệ thuật đương đại trên toàn cầu, những khủng hoảng tâm tư về chính trị, về xã hội, về tôn giáo,… Vã, dĩ nhiên, luôn tranh cãi và khắc khoải về chiến tranh, về cái biên cương của sống chết, rất hẹp, rất thật và rất gần với mình. Hình ảnh quen thuộc của thế hệ là hình ảnh những nhóc con mười bảy, mười tám, ngồi quán cà phê, hít một hơi thuốc lá, phà khói lên trần rồi trầm tư và thấy mình rất lớn. Hầu hết đánh mất cái hồn nhiên của mình. Cho dù, cũng có đọc Antoine de Saint-Exupéry viết Le Petit Prince cho đứa trẻ thơ trong một người lớn, hay xem những bức tranh của Marc Chagall vẽ những tình nhân hồn nhiên bay bổng lên không trung. Cho dù, cũng có ngưỡng mộ những công trình đó, ấn tượng để lại trong tâm tư thường vẫn ít sâu đậm.
Bây giờ, đọc lại những sáng tác của Thu Dung, tôi thấy hài hòa với mình và với tác giả hơn, thấy nó gần gũi với đời sống hơn, đặc biệt, khi chứng kiến nhiều cái điên loạn đang xảy ra trong thể kỷ này, những điên loạn phát sinh từ sự coi thường cái sống của người khác. Dầu sao, về chuyện văn chương, tôi đã từng viết ra trong một tiểu luận cách đây 20 năm: “… khi nghĩ đến văn học nghệ thuật, chúng ta buộc phải nghĩ đến những giá trị lớn, những mức đến xa và không nên tự hài lòng với một so sánh nào đó.” Tôi tin Tôn Nữ Thu Dung cũng nghĩ như vậy.
Cần nói thêm, trên hành trình văn học của mình, Thu Dung có một bạn đường rất tốt: “một trẻ thơ trong người lớn”.
Rất thánh thiện và hồn nhiên đến với cuộc đời.

Trương Vũ
(Maryland, tháng 12 năm 2015)