XA RỒI

lephuhai

Xa rồi cát bụi mấy mươi năm
Chí lớn về đâu chí lớn thầm?
Rũ áo phong trần cơn mộng dữ
Lạnh về vai nhỏ rét căm căm
Lớp lớp thư sinh hề tráng sĩ
Mà tráng sĩ hề sống bao lăm
Còn mấy chàng Siêu ngày tóc bạc?
Lận đận tha hương những vết bầm.

Xa rồi khói bếp những chiều xưa
Một góc vườn hoang mấy gốc dừa
Ly biệt ly biệt sầu ly biệt
Mẹ ngồi lau sậy dáng đong đưa
Thương đứa con ngày xưa bé bỏng
Mòn đời trận mạc đã về chưa?
Cha già ngoảnh mặt che thương nhớ
Tiếng đàn hiu hắt mấy cơn mưa.

Xa rồi năm tháng cũ chơi vơi
Lửa khói binh đao dậy ngút trời
Ai cứ nhiều nhương mà thắng trận
Ta đành ngã ngựa mảnh hồn rơi
Em có theo ta về cõi nhớ
Những ngày mộng ảo biệt trùng khơi
Thương tiếc về đâu miền quá vãng?
Chim vàng nức nở gọi tình ơi!

Xa rồi ta có nhớ gì không?
Nghìn dặm quê hương mấy tấc lòng
Lá xác xơ bay buồn riêng nỗi
Khúc hát ngày về ai ngóng trông?
Chinh phụ ta xưa giờ tóc bạc
Phù dung cũng chết bởi hoài mong
Còn chút lòng ta là đồng vọng
Ai có còn không có còn không?

Lê Phú Hải

MÙA ĐÔNG QUẢNG NGÃI

tranthoainguyen

Tháng Chạp tôi về quê với Mẹ
Trời mùa đông Quảng Ngãi không mưa
Nắng ấm bàn chân mẹ nhẹ bước
Mà thương quá đỗi con đường xưa!

Làng trên xóm dưới tre cau quạnh
Bốn mươi năm ngóng đợi u hoài
Tôi gõ cửu đình:Không thần thánh,
Mẹ tôi già đâu còn tương lai!

Tôi điêu linh khóc mẹ lầm than!
Mẹ tôi ơi hỡi trời Việt Nam
Mùa đông Quảng Ngãi đồng khô nước
Lúa thì con gái lệ chứa chan!

Tháng Chạp tôi về quê bên Mẹ
Ăn mày chút kỷ niệm ấu thơ
Vườn quê cây lá xanh tình bạn
Chim gọi mùa vui hương thoảng mơ!

TRẦN THOẠI NGUYÊN

Nguyễn Bắc Sơn và nỗi kiêu mạn của tuổi trẻ thời chiến

tranhoaithu

Có lẽ so với Cao Bá Quát, cái cao ngạo của Nguyễn Đức Sơn còn trội hơn một bậc. Xin đọc lá thư gởi vợ viết từ nhà lao Bảo Lộc ngày 25 tháng 8 năm 1972, được dùng làm tựa trong thi phẩm Du Sỹ Ca, mới thấy cái mức độ cao ngạo này:

“Anh tin rằng tất cả những đứa làm thơ từ đây trở về sau đã vang danh thi sỹ từ bao kiếp trước nếu không đọc thuộc lòng ít nhiều bài Du Sỹ Ca này đều chẳng phải là thi sỹ nữa… (Du Sỹ Ca – An Tiêm xuất bản).

images (8)
Nguyễn Đức Sơn
dinhcuong

Nhưng có một người thơ khác, cũng kiêu ngạo không kém.
Người ấy là Nguyễn Bắc Sơn. Trong một lá thư gởi đi từ Phan Thiết đăng trên tạp chí văn nghệ “Sóng” do những người viết trẻ chủ trương, và chỉ sống được vài số, ông xem những người đàn anh mà ông cho là những lý thuyết gia khuyến hành ngây thơ, những kẻ chưa giác ngộ về mục đích đời sống.
Ông viết:
” Khi anh chưa biết ”Sống để làm gì”, anh không thể khuyên bảo người khác nên sống như thế này hay nên sống như thế kia, nên tranh đấu cho lý tưởng này hay tranh đấu cho lý tưởng kia.
Các bậc đàn anh tôi kể tên (Kim Định, Hồ Hữu Tường, Nguyễn Mạnh Côn) giống như những kẻ chỉ đường sốt sắng trong câu chuyện sau đây:
Có một người khách lạ đi ngang qua một thị trấn. Trong thị trấn ấy có ba người sốt sắng. Ba anh chàng này chặn ông khách lại. Anh chàng thứ nhất bảo ông khách : “Anh nên đi đường này”, trong khi anh chàng thứ hai bảo: ” Không, đi đường kia mới đúng”. Nhưng anh chàng thứ ba lại bảo con đường anh ta chỉ cho ông khách mới thật là “con đường đúng nhất”. Ba người thi nhau vẽ bản đồ tỉ mỉ trình bày con đường mình đề nghị cho đến khi ông khách chậm rãi hỏi: ” Các anh có biết tôi định đi đến đâu không mà các anh sốt sắng chỉ đường thế ?”
Và chắc chắn cũng có rất nhiều người khác nữa như Nguyễn Đức Sơn, Nguyễn Bắc Sơn. Không phải họ theo cái mốt thời thượng như buồn nôn, nổi lọan, hay tuổi trẻ phản kháng… Đừng buộc tội họ như vậy, trong khi tuổi trẻ của họ như thế này:
…Bức thư đến đây tưởng có thể chấm dứt được nhưng tư nhiên tôi thấy hứng thú mời anh rời bỏ thế giới tư tưởng để đi vào cõi thế giới thi ca. Vì anh cũng là một kẻ làm thơ. Tôi muốn đọc những bài thơ tôi viết sau những giờ thiền định. Tôi cũng sẽ kể cho anh nghe một vài quãng đời của một người tuổi trẻ tại thành phố Phan Thiết trong đó y đã say mê tình yêu, say mê bạo động, say mê thi ca, say mê triết học, say mê câu cá. Y đã từng mang theo chiếc lưởi lam leo lên ngọn đồi nghĩa địa để cắt đứt mạch máu vì triết lý. Y đã từng đọc sách cả tháng không bước ra khỏi nhà. Y đã từng bán ”sôn” tất cả sách quí để say sưa cùng bằng hữu. Y đã đi làm thông dịch viên Lực Lượng Đặc Biệt để nhìn tận mắt chiến tranh Việt Nam. Y đã thiền định. Y đã ăn gạo lức muối mè…
(Thư Nguyễn Bắc Sơn gởi Nhất Hạnh, tạp chí Sóng, năm 1972, trang 38-39)

NBS
Nguyễn Bắc Sơn
dinhcuong

Xét cho cùng, chúng ta cũng nên thông cảm ở nỗi bất mãn của họ. Khi mà chiến tranh cận kề, khi mà miệng lưỡi họ câm, khi “phần chết thì dành cho thanh niên còn phần sống thì dành cho những ngài hàn lâm áo thụng”, khi mà văn học chỉ được nhắc nhở ở Sài Gòn, qua những chiếu trên chíêu dưới,thì dĩ nhiên, tiếng kêu cần phải thoát ra cổ họng, phải tuôn trên giấy, cho dù tiếng kêu của loài ễnh ương đi nữa.
Có thể những nỗi kiêu mạn này gây dị ứng cho một số người. Tuy nhiên, chúng phản ánh những suy nghĩ thầm kín nhất của một thế hệ bị thiệt thòi về mọi phương diện trong chiến tranh và ngay cả sau khi hết chiến tranh. Chúng cũng phản ánh một nền văn học tự do ” yêu ai cứ bảo là yêu, ghét ai cứ bảo là ghét…” trái ngược với văn học miền Bắc, giả dối, tuyên truyền, một chiều, dựa và đơn đặt hàng, triệt tiêu cảm xúc.

Trần Hoài Thư
August 7, 2015
Source: http://www.pd4pic.com

TÔI THẤY

nguyendinhbon

Em nhỏ đánh giày mười hai tuổi
chiều qua tôi gặp ngã tư đường
chuyển mưa ánh chớp lòa trong mắt
gữa dòng xe mù mịt khói tuôn

Cụ già tôi thấy trên phố rộng
còng lưng xe rác nhô vai gầy
một đời đã ngã sang hố lạnh
tiếng sét trên đầu bao lá bay

Cô điếm dưới hàng sao cổ thụ
đêm qua đứng khóc nhớ làng quê
thân đã tàn như dòng nước bẩn
cơn mưa không gột được ê chề

Tôi thấy những mùa u ám qua
mùa nay đang chuyển giữa quê nhà
đêm qua tôi xếp tình yêu lại
để bút đau cùng tiếng sấm xa!

NGUYỄN ĐÌNH BỔN

Bóng tàn phai

nguyenminhphuc

Trăng lạnh quá buồn một trời thê thiết
Đêm nghìn sau chạm với cõi vô thường
Tên cuồng sĩ chiều một mình tiễn biệt
Một người về chìm dưới bến thu sương

Vất cung kiếm ngồi mơ về viễn xứ
Bến sông buồn khuất bao nẻo mưa qua
Sao chẳng thấy ai mang vầng trăng cũ
Để về đây nghe hiu hắt quê nhà

Thắp đèn khuya ngồi mơ chiều đại mộng
Áo giang hồ gửi lại bến sông xưa
Ôm mặt khóc giữa trần gian quá rộng
Tiếng chuông buồn vấp bóng dọc sông mưa

Chỉ còn lại một vầng trăng ngày cũ
Và trang kinh đã mục nát phai tàn
Tên cuồng sỹ chắp tay ngày du thủ
Khuya một mình chao bóng gióng chuông tan…

NGUYỄN MINH PHÚC

NGUYỆT THỰC

khuatdau

Như những chiếc lá bàng cùng chết tập thể trong mùa đông, cả đại đội cùng nằm phơi xác trên đỉnh đèo.
Chiều xuống.
Rồi trăng lên.
Những linh hồn trẻ theo ánh trăng đang dắt díu nhau tìm về quê cũ. Nhưng anh không về được. Anh chưa thật chết. Một mảnh đạn ghim vào lưng khiến anh nằm bất động.
Khi đơn vị giải cứu đưa những xác đã bốc mùi lên xe, người ta tìm thấy anh mềm oặt như một sợi bún. Nhưng một sợi bún hãy còn một chút ấm nóng nên người ta đưa anh vào quân y viện.
Sau ba mươi tháng tư, anh bị đem bỏ ra đường. Mẹ anh tìm đến. Bà ôm anh vào lòng như mười chín năm trước bà đã sinh anh ra. Đối với bà, anh vẫn là đứa con vẹn toàn và xinh đẹp nhất. Bà mớm cho anh ăn và hát ru cho anh ngủ. Bên tai anh không lúc nào ngớt tiếng à ơi. Bà đặt anh nằm bên cửa sổ, vì vậy trăng và anh vẫn thường trò chuyện với nhau. Dĩ nhiên mẹ anh không hiểu, nhưng bà biết được anh vui mỗi khi nhìn thấy trăng.

Bọn họ được đưa tới trong đêm sau khi bị buộc phải rời bỏ thành phố. Nơi đây là vùng đất mới dành riêng cho họ, những kẻ bị buộc tội ôm chân đế quốc và bóc lột.
Một khu rừng toàn cỏ tranh và những bụi tre rừng đầy gai. Một con suối nước không chảy nổi ngập đầy lá mục, hứa hẹn sẽ ban phát cho họ một cách công bằng và hào sảng các bệnh sốt rét, thương hàn.
Nàng mười bảy tuổi. Vạt áo trắng nữ sinh ngày nào được xé ra căng trên mặt xô để lọc nước. Cha nói vui, uống nước này nghe có mùi học trò. Mẹ nói, tôi lại nghe ra mùi nước mắt. Cha bảo, từ nay không ai được khóc. Hãy cắn răng mà sống.
Và họ sống được. Bằng chút ít lương thực mang theo. Bằng măng tre rừng. Và sau cùng là bằng than đốt được từ rừng cây phát quang.
Thành phố đã không còn là quê nội. Cũng không là quê ngoại. Nhưng mà nhớ. Nhớ nôn nao. Nhớ cồn cào. Nhất là những đêm trăng. Nàng không ngủ được, vẫn thường lang thang ra tận bờ suối. Con suối dưới trăng như có vẻ huyền bí. Nó rủ rỉ kể cho nàng nghe chuyện những con nai, con thỏ, chuyện những con sông và những cây cầu. Nhưng nàng chỉ muốn nghe chuyện của phố phường. Nàng rời bỏ suối, tìm lại con đường trở về phố.
Nàng đi suốt đêm theo ánh trăng, thấy mình đang nghiêng nghiêng dưới những mái lầu. Rồi qua công viên, qua trường học cũ, nhìn thấy ánh điện trong ngôi nhà mình. Mặc dù cha đã cấm, nhưng nàng vẫn khóc. Nước mắt và sương làm áo nàng ướt đẫm.

Hãy đi theo ta, ánh trăng bảo.
Nhưng làm sao đi được, hai chân tôi đã không còn nhúc nhích
Ta cũng đâu có chân, nhưng chỗ nào mà ta không tới được. Không đi được bằng chân thì đi bằng hồn.
Từ đó, anh rời bỏ cái xác thân bất động của mình để đi theo ánh trăng bát ngát. Trăng đưa anh đi qua những dòng sông, những cồn bãi. Qua những xóm thôn yên ngủ. Qua những phố thị thức suốt đêm dài.
Và anh đã gặp nàng.
Em đi tìm ai, anh hỏi.
Tôi đi tìm tôi.
Tìm em?
Vâng, tìm chính tôi.
Em đánh mất mình khi nào?
Tôi không đánh mất. Tôi bị cướp mất. Còn anh?
Tôi sống lại.
Anh đã chết một lần rồi sao?
Gần như thế.
Làm sao anh sống lại?
Tôi theo ánh trăng.
Tôi cũng vậy. Trăng giúp tôi tìm lại chính mình.

Từng đêm, nhất là những đêm trăng tròn, họ sóng đôi đi bên nhau. Người nọ trở thành chiếc bóng của người kia. Họ đi qua những cánh đồng lúa trổ ngát thơm. Qua những con đường làng nằm ngủ hớ hênh. Qua những phố không đèn mỏi mệt. Một đôi lần họ đi qua những chiến trường xưa. Hãy còn những ụ súng, những hố bom, những xương khô lấp lánh. Trên đỉnh một ngọn đồi, nơi trước kia hai khẩu pháo155 ly ngày đêm thi nhau nhả đạn, họ tìm thấy những vỏ đạn han rỉ nằm lăn lóc.
Chúng tôi đã chơi trò bắn giết nhau, anh nói, tay chúng tôi đã từng nhúng máu đồng bào mình. Đến bây giờ tôi cũng chẳng hiểu vì sao!
Anh ân hận?
Không, chúng tôi đâu có quyền gì trong cuộc chiến này, chúng tôi chỉ làm theo mệnh lệnh. Điều không hiểu được là tại sao chúng tôi lại làm theo răm rắp trong khi chúng tôi biết quá rõ đó là những mệnh lệnh xuẩn ngốc.
Họ ngồi tựa lưng vào nhau, mắt họ nhìn vào hai hướng khác nhau. Trăng tràn ngập đất trời. Đất trời trong sáng quá nhưng tương lai họ tối đen. Bỗng họ quay mặt vào nhau, người nọ nhìn sâu vào mắt người kia. Họ thấy mình trong đó, cô đơn và lạnh lẽo như một hòn cuội trong lòng giếng. Họ không hôn nhau, nhưng một lúc sau, anh nói:
Tôi muốn nhìn thấy em.
Em cũng muốn nhìn thấy anh.
Họ cởi áo quần cho nhau. Cả hai đều rất đẹp. Dưới trăng, họ như hai chồi non mới mọc. Họ chiêm ngưỡng lẫn nhau, thần phục lẫn nhau. Sau cùng họ san sẻ cho nhau. Đó là một đêm trăng rất viên mãn giúp họ kéo dài những cuộc rượt đuổi trên thân thể của nhau tới tận sáng.
Cô đi đâu suốt đêm qua và cả ngày hôm nay?
Đi chơi.
Cô trốn về thành phố phải không?
Muốn là về. Việc gì phải trốn.
Cô chống lại chính sách hả?
Tôi chẳng chống cái gì hết. Thích là đi vậy thôi.
Từ nay muốn đi đâu là phải xin phép, biết chưa?
Tôi sẽ đi nữa. Chẳng cần xin phép ai.
Đồ phản động. Liệu hồn đấy.
Những cán bộ tự quản bỏ đi. Bà mẹ vẫn chưa hết lo sợ, nói: con đi đâu vậy? cả nhà sợ lắm. Con đi theo ánh trăng. Nào có ai nhốt được trăng đâu mà mẹ lo. Cả nhà tưởng nàng lam lũ quá sắp hóa điên. Có người bảo nàng bị bệnh mộng du. Cách tốt nhất là xích chân nàng vào giường. Nhưng cha nàng bảo như vậy là giết nàng.
Những đêm sau, bão từ biển xa đem hàng triệu tấn mây thả xuống núi rừng. Trời đất tối đen như bị nhốt kín trong hầm than. Nàng rất nhớ anh, nhưng chỉ biết ngồi trong lều nhìn gió mưa gầm thét.
Cánh cửa bên chỗ anh nằm bị gió đập suýt rời ra khiến bà mẹ phải dùng dây buộc chặt. Anh cũng bị nhốt. Chỉ có ánh trăng trên cao, cao lắm, tự do thả mái tóc vàng óng lên đầu những đám mây ướt sũng.
Cả một mùa đông dài ẩm ướt sau đó, họ không gặp nhau. Anh mấy lần mắt không nháy, mẹ phải hú hồn hú vía cho anh sống lại. Những lần ấy, trong đôi mắt sâu của con, bà thấy ứa ra hai giọt nước.
Cả nhà nàng đang đói, đứa em nhỏ của nàng không còn đủ sức để khóc. Nó như một đọt rau héo trên tay mẹ. Cha phải trốn xuống phố làm nghề bốc vác. Nhiều cô gái và cả những bà mẹ trẻ cũng về lại phố bán những thứ ít ỏi trời cho. Chẳng ai buồn nhớ đến trăng ngoài nàng. Lạ một điều, càng đói nàng càng đẹp. Mẹ ngắm nàng mà rơi nước mắt.
Mùa xuân năm ấy, một người trong ban tự quản đem đến tặng nàng rất nhiều gạo, nhiều đường. Có sữa, nhiều hộp cho em bé. Có vải, nhiều thước cho mẹ và nàng may quần áo.
Nàng muốn ném tất cả xuống suối, nhưng mẹ bảo: đừng. Cha cũng bảo: cái lưng của tao cũng sắp gãy rồi. Nhà này sắp chết đói đến nơi. Nó cho mà không nhận là tự đào hố chôn mình. Nhiều người đàn bà cũng nói, em ơi, như thế là được giá lắm đấy, bọn chị rạc rài cả đêm cũng chỉ mua được vài cân gạo mà thôi.
Nó còn hứa, lấy nhau xong nó sẽ đưa về phố. Trước mắt là nàng, sau đó là cả nhà. Chưa bao giờ sắc đẹp lại có quyền lực lớn to như thế. Cả nhà cùng ừ.
Trời lúc ấy hãy còn lạnh, nền trời trong vắt. Mặt trăng mới hiện ra, mỏng và đẹp như một nụ cười. Nhưng chỉ một thoáng, trăng lại chìm vào núi rừng. Nàng phải chờ trăng lớn lên mới có thể theo trăng đi tìm anh. Và anh chắc cũng vậy.
Rồi trăng hườm hườm và sau cùng trăng chín vàng hực. Trăng đưa nàng đi trên một con thuyền có những cánh buồm mỏng như lụa. Nàng lại đi qua những cánh đồng, những dòng sông, những phố chợ, cả những hố bom chưa kịp lấp. Đi mãi, nhưng chỉ một mình. Đi mãi tới khi trăng mỏi mệt vẫn không gặp được anh.
-Còn anh, trời nhiều sương đêm và hãy còn gió bấc nên mẹ anh vẫn chưa mở lại cửa sổ. Qua khe cửa, anh biết là có trăng sáng bên ngoài nhưng không biết làm sao để gọi mẹ. Anh nằm nghe tiếng gió thổi, tưởng chừng như tiếng bước chân của nàng xạc xào trên lá khô.
Đêm sau, báo đài cả nước báo tin có nguyệt thực toàn phần. Nhưng giữa núi rừng, chẳng ai buồn biết trên trời sắp có chuyện lạ. Không đợi mọi người ngủ say, nàng đã lại nương theo ánh trăng đi tìm anh. Nàng không lang thang giữa đất trời mà đến ngay thành phố. Nàng tin rằng anh đang ngồi trên một ban công nào đó. Trăng ở phố xanh xao ốm yếu, nhưng vẫn đủ soi sáng bước chân nàng. Đi qua những mái nhà, những sân thượng trên cao ốc, qua những mái chùa cong vút và cả những tháp chuông dốc ngược, qua hết ban công này đến ban công nọ nhưng vẫn chưa gặp được anh.
Lúc ấy đã quá nửa đêm. Một vệt đen xuất hiện trên mặt trăng như một cái bớt nhỏ. Rồi bớt lớn dần, lớn dần như một con gấu đen cuộn mình ôm trọn cả trái bóng.
Dân phố nhiều người thức đợi. Người ta chỉ chỏ, nói cười. Khi bóng đen phủ kín mặt trăng, người ta trông thấy một luồng ánh sáng như sao băng rơi từ từng lầu thứ mười tám xuống đất.
Đó là lúc nàng bước hụt chân.
Sau cánh cửa kia, anh nghe nhói trong tim và không bao giờ mở mắt ra nữa.

KHUẤT ĐẨU

NGÀN DẤU YÊU XƯA…

vuhytrieu

với tay chạm bóng thời gian
ngàn xưa rơi xuống vô vàn dấu yêu
từ sâu thăm thẳm của chiều
lòng tôi lay động ít nhiều tiếc thương
tôi về dốc nhỏ mù sương
vàng hoa thoang thoảng chút hương dịu dàng
xa người từ những ly tan
trong tôi vọng khúc bàng hoàng xót xa
nhớ người sương khói phôi pha
khói sương dường đã nhạt nhoà dấu xưa
đâu rồi chủ nhật chiều mưa
nắm bàn tay ấm tiền đưa người về
tháng ngày lạnh đẫm cơn mê
thông rơi phủ kín hẹn thề năm nao
ngàn xưa…một giấc chiêm bao
thời gian như đổ bóng vào hồn tôi…

Vũ Hy Triệu

là đã yêu em

10735644_826194720769236_378143114_n (1)

kiếp xưa ta đẹp giai
mà em còn vội bỏ
giờ muốn thành thiên tài
tình lại hoá thiên tai

muốn làm tên cầu bại
lê kiếm khắp giang hồ
mà đôi chân cứ vướng
bàn tay em sóng xô

ngày tháng trên đá dựng
không mòn nét phong sương
lang thang ta giầy cỏ
độc đạo một con đường

kiếp này em không bỏ
nhưng ta đành ra đi
tình như mưa phút cuối
rơi xuống thành cổ thi

từng vết thương thành bại
trên da thịt giang hồ
soi trong mầu nắng úa
mầu máu vẫn chưa khô

trăng xưa trên đầu núi
đã rơi vực sâu kia
ta như là hạt bụi
đi nối những chia lìa

thôi,về rừng đốn củi
nghe từng chiều mưa râm
muốn ghi trên vách đá
chỉ một điều không lầm…

Ngô Yên Thái

LÁ MÙA THU

truongvu

67
Nhà hoang trong ngày thu:chất liệu hỗn hợp trên ván ép, 24″ x 36″,
thực hiện năm 2010

Lần đầu tiên tôi gặp Đinh Cường là vào một buổi xế trưa đầu hè 1974. Tôi và Lê Thành Nhơn ra phi trường Nha Trang đón Cường về nhà, chuẩn bị cho một cuộc triển lãm cá nhân do đại học Duyên Hải NhaTrang tổ chức. Chúng tôi trở thành bạn thân từ đó. Cùng với Lê Thành Nhơn, Trịnh Công Sơn, Bửu Ý, Huy Tưởng chúng tôi làm việc chung với nhau ở Duyên Hải trong một số chương trình nhân văn, chia sẻ những ước mơ đẹp về một tương lai cần có cho những thế hệ tiếp nối đào tạo từ ngôi trường này. Thời gian sinh hoạt chung với nhau khá ngắn nhưng đã để lại nhiều kỷ niệm khó quên.

Sau 1975, đại học Duyên Hải không còn nữa. Lê Thành Nhơn đi tỵ nạn ở Úc, sau đó tôi đi Mỹ. Hơn hai mươi năm sau tôi mới gặp lại Cường, chị Tuyết Nhung, và các cháu, sang định cư ở Virginia. Tôi có phụ với Phạm Nhuận và một số bạn khác tổ chức cuộc triển lãm đầu tiên của Cường ở Mỹ. Từ đó, chúng tôi gặp gỡ nhau khá thường xuyên. Tôi ngờ rằng đời sống ở Mỹ có thể tốt cho các cháu nhưng không chắc nó hợp với Đinh Cường, vốn sống nặng về nội tâm, quen gần gũi những bạn bè thân tình từ thuở còn trẻ. Tuy vậy, tôi vẫn thấy được nơi Cường một thái độ nhẫn nại, thâm trầm trong cố gắng giữ cân bằng giửa đời sống một con người bằng xương, thịt phải đương đầu với những vấn đề rất thực tế của xã hội Mỹ với đời sống của một nghệ sĩ có một thế giới rất riêng tư. Một thế giới của nghệ thuật, của tình bạn, của những nơi chốn luôn gắn liền với cuộc đời mình, như Huế, như Sài Gòn, như Dran, như Bình Dương,… và của hồi tưởng, nói chung. Thỉnh thoảng, tôi vẫn cảm nhận được nơi Cường ít nhiều chao đảo trong nỗ lực cân bằng đó.

Đinh Cường là một tài danh lớn của hội họa Việt Nam, và là một bạn hiền, bạn tốt của hầu hết họa sĩ, văn thi sĩ được biết đến, thuộc nhiều thế hệ khác nhau. Lớp già, không còn trên trần gian nữa, như Bùi Giáng, Nguyễn Tuân, Bùi Xuân Phái, Mai Thảo, Võ Phiến, Võ Đình, Thái Tuấn, Thanh Tâm Tuyền, … Cùng trang lứa, như Trịnh Công Sơn, Bửu Ý, Bửu Chỉ, Hải Phương, Nguyễn Đức Sơn, Trịnh Cung, Nguyễn Trung, … Lớp trẻ hơn, như Trần Vũ, Nguyễn Thị Thanh Bình, Hoàng Ngọc Tuấn, Phạm Cao Hoàng, Nguyễn Trọng Khôi, Trần Hoài Thư, Nguyễn Ý Thuần,… Không giống như nhiều văn nghệ sĩ nổi tiếng, Đinh Cường rất trân trọng công trình của người khác, một cách đặc biệt. Hầu như tất cả được Cường vẽ chân dung hay phác họa chân dung, hay làm thơ đề tặng, không phải chỉ một lần, mà có người, rất nhiều lần. Có lẽ Đinh Cường là người họa sĩ nổi tiếng duy nhất của Việt Nam đã viết sách, rất công bình, với nhận định sâu sắc và từ tốn, về những họa sĩ thuộc lớp đàn anh đã có công lớn cho hội họa Việt Nam, bằng tác phẩm của họ hay bằng công trình đào tạo tài năng cho các thế hệ sau.

Có một điều tôi muốn thổ lộ ở đây, vì, có thể, nó cũng giống với tâm trạng nhiều bạn bè khác hay của nhiều người xem tranh, đọc thơ Đinh Cường. Dù luôn luôn là bạn tốt, trong suốt một thời gian khá dài, tôi với Cường sống trong hai thế giới khác nhau, phần trùng hợp không lớn. Thế giới của tôi khá bình dị, gần với thực tế, không có những lực đè nén để buộc tôi phải chìm đắm vào những lớp sâu của tâm hồn. Tôi thích thơ của Đinh Cường, tôi ngưỡng mộ tranh của Đinh Cường. Tôi cảm được có một giá trị cao nơi tác phẩm của bạn tôi. Bố cục, màu sắc, hình họa, và tính trừu tượng rất đặc thù. Tôi cũng cảm được rằng ở đây dường như có một chút phối hợp hài hòa giửa Modighiani với Picasso, và trên hết là của chính tài năng và tâm hồn của Đinh Cường, rất riêng. Tuy nhiên, dù ngưỡng mộ, tôi vẫn cảm thấy một chút xa cách. Chẳng hạn, tôi biết được, thấy được những thiếu nữ trong tranh Đinh Cường đẹp, rất đẹp, nhưng tôi không thấy gần với họ, không có cảm giác mình đụng được những con người như thế. Cho đến khi, tôi bắt đầu vẽ, bắt đầu xa rời dần cái thực tại bình thường của đời sống hằng ngày để đi vào cái thực tại của nội tâm. Lúc đó, những thiếu nữ của Đinh Cường cũng bắt đầu rời khỏi những con đường nhỏ của cố đô Huế năm xưa, hay rời khỏi những nấm mồ hoang sau nhà Bồ Tùng Linh, để đi vào thế giới riêng của tôi, như những con người rất thật. Cả cái nhà thờ con gà ở Đà Lạt, những phố xá, núi đồi trong mù sương ở Dran, hay anh da đen thổi kèn đồng ở Mỹ, v.v., đều như thế. Tất cả khiến cho cái thế giới nội tâm của tôi nhộn nhịp lên, làm cho đời sống giàu hơn.

Người vẽ tranh, người làm thơ Đinh Cường chắc chắn có được một niềm hạnh phúc lớn khi bằng nỗi đam mê, tài năng, trí thông minh, và sức làm việc kiên trì để tạo nên những tác phẩm để đời, ưng ý. Niềm hạnh phúc đó không mấy ai khác có được. Tuy nhiên, khi tập tểnh bước vào cái thế giới của nghệ thuật, tôi cũng bắt đầu hiểu ra rằng mọi thứ không hẵn đơn giản như thế. Không hẵn chỉ có cái hạnh phúc đó. Nó còn có đau đớn, dằn vặt. Nó phải như thế nào để có chuyện Van Gogh tự cắt lỗ tai ông. Đam mê càng lớn, ước vọng càng cao, càng dễ thấy cái giới hạn của sức lực mình. Ráng tạo một tác phẩm như ý rất thường khi không khác như lao đầu vào một cuộc chiến của nội tâm. Dù xung quanh có bao người thân yêu, có bao bạn bè tốt, cuối cùng cũng chi có một mình mình thôi phải đương đầu với nó. Nỗi cô đơn rất khó tả.

Thường tình là như vậy, huống chi, khi biết mình mắc thêm một chứng bệnh trầm kha. Lúc đầu, bạn tôi vẫn giữ nguyên cái an nhiên, tự tại thường tình, và tin tưởng nhiều vào khả năng của y học. Vẫn vẽ nhiều, vẫn viết nhiều, vẫn gặp gỡ bạn bè thường xuyên, như không có gì xảy ra. Chấp nhận những đau đớn của chemo như điều không thể tránh. Cho đến khi, cơ thể yếu hẵn dần. Lúc đó, theo dõi những bài thơ trên blog Phạm Cao Hoàng, những bài thơ được viết ra như viết nhật ký, tôi có cảm tưởng nửa khuya nào bạn tôi cũng thức dậy. Ngó qua khung cửa sổ, nhìn bóng đêm, nhìn vầng trăng. Rồi, nhìn lên kệ sách. Rồi đi tìm những cuốn sách, những bài thơ của bạn bè. Rồi viết cho người này, người nọ, cho những người còn sống, cho những người đã chết. Thi thoảng còn từ ký ức phác họa vài chân dung của bạn bè. Tôi cảm phục sức làm việc phi thường, ý chi cống hiến thanh thoát, nhưng đồng thời, tôi cũng cảm nhận được nổi cô đơn cùng cực của bạn. Nói như Đinh Trường Chinh, “cô đơn đi vào bóng tối”.

Chỉ trong ba năm sau cùng, Đinh Cường đã đăng 875 bài thơ cùng với một số lượng tranh tương tự, theo ghi nhận trên blog của Phạm Cao Hoàng. Chúng ta không cần phải trở về thi ca đời Sơ Đường, đọc Lý Thương Ẩn để cảm thán với câu “xuân tàm đáo tử ti phương tận” mà Nguyễn Du dịch là “con tầm đến thác vẫn còn vương tơ”. Chỉ cần đọc hết một phần những bài thơ đó, xem hết một phần những bức tranh đó, cũng đủ kinh hoàng với sức nhả tơ của một con tầm như chúng ta biết.

Họa sĩ Đinh Cường đã cống hiến cho hội họa Việt Nam một tài sản lớn. Nhà thơ Đinh Cường đã làm thơ rât nhiều, như một cách thể hiện cái vi tế và phong phú của đời sống, rất đặc thù, Tôi nhớ, có một câu nói ở đâu đó, “nhân tài như lá mùa thu”.

Một chiếc lá mùa thu rất đẹp vừa rơi xuống!

Trương Vũ
Maryland, ngày 12 tháng 1 năm 2016

66
Đinh Cường – Trương Vũ tại Studio Trương Vũ
Virginia, 20.9.2015 (Ảnh PCH)

HƯỚNG DƯƠNG GIẤU MẶT ( Tôn Nữ Thu Dung)

12421549_948100161912024_280880438_n (1)

Bạn muốn nghe LỜI KHÔNG DỄ NÓI?
Bạn muốn có một NGƯỜI BẠN LỚN?
Bạn muốn yêu MỘT MÀU IRIS TÍM?
Bạn muốn tìm lại THIÊN ĐƯỜNG ĐÃ MẤT?
Bạn muốn nhặt TRÁI TIM RƠI?
Bạn muốn ngắm TUYẾT Ở BIG BEAR hay HAWAII THƠM MÙI ỔI CHÍN?
Bạn muốn nhớ một ĐÊM HOA ĐĂNG THÁNG BẢY với CỘI NGUỒN YÊU THƯƠNG trong một buổi CHIỀU ĐANG CHẬP CHOẠNG?
Hay đơn giản hơn, bạn chỉ có một ước mơ bé nhỏ mà ray rứt không nguôi là NÓI, TRƯỚC KHI QUÁ MUộN!!!
Hãy tìm đọc HƯỚNG DƯƠNG GIẤU MẶT của một nhà thơ chuyên viết truyện ngắn -Tôn Nữ Thu-Dung-, bạn sẽ thấy các nhân vật vô cùng quen thuộc ( như có mình đâu đó) qua phong cách viết ngây thơ vô số tội này.
Sách dày 204 trang, in trên giấy quý.
Bìa dày, được thiết kế và chăm sóc bởi một họa sĩ Ý, ẩn danh, theo trường phái ma thuật hiện đại.
Gồm 30 truyện ngắn mà cũng là 30 câu chuyện kể.

TƯƠNG TRI hân hạnh giới thiệu cùng các bạn tác phẩm HƯỚNG DƯƠNG GIẤU MẶT do TƯƠNG TRI XUẤT BẢN vào tháng 1/2016.

12510260_896053320509815_5520404351427405291_n (1)