Chuyến Đò Thời Gian

tranvanle

Một năm tưởng chậm mà mau,
Nguyễn Xuân Hoàng mất hôm nào, đã năm!
Bạn xa, tôi chửa lần thăm,
đây xa bạn có đôi lần đến đây…

Hôm qua bữa rượu tao mày,
bỗng ai nhắc ông-thầy-giáo-xưa…
Chỗ ngồi người đó, bài thơ
của tôi còn gắn trên gờ cửa gương.
Một năm, gương lược sáng trưng,
cố nhân đâu nhỉ tóc bồng bềnh bay…

Mọi người ngưng một phút giây.
Mọi ly rượu vẫn để đầy đợi nâng.
Mọi câu chuyện bỗng như thầm,
Mọi con mắt hướng xa xăm, rồi thì…

Hoàng ơi này rượu của mi!
Hoàng ơi này rượu cạn đi rồi dìa…
Nha Trang, Phan Rí, ngày kia
Chân tao ghé được đốt mi nén trầm…

Đồng hương, đồng nghiệp xa xăm,
hồn trong cát bụi thân nằm bình tro,
nếu mà… đó một câu thơ,
lát tôi đem chất xuống đò thời gian…

Trần Vấn Lệ

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, “Lạy Chúa rất thánh, họ sẽ bắn hết chúng tôi đây”

nuocmattruocconmua
larryengelmann
NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before The Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.

GEORGE LUMM
“Lạy Chúa rất thánh, họ sẽ bắn hết chúng tôi đây”

Mùa Xuân năm 1975 gia đình tôi ở cả Saigon trong khi tôi đang làm việc tại Hồng Kông. Các con tôi tất nhiên đều có quốc tịch Mỹ từ khi mới lọt lòng, Tòa Đại sứ Hoa Kỳ đã cấp thông hành cho các con tôi rồi. Tuy nhiên, phải có chiếu khán xuất ngoại mới ra khỏi Việt Nam được. Ngay công dân Hoa Kỳ rời Việt Nam cũng cần chiếu khán xuất ngoại mới đi được.

Tôi đã tin người Mỹ chúng ta sẽ quay lại hỗ trợ cho chính phủ Việt Nam, chủ chốt vì vấn đề dầu lửa, tôi nghĩ. Có mấy hòn đảo ngoài hải phận Việt Nam mà người Việt phải tranh chấp với Trung Quốc , họ cho là có rất nhiều dầu ở ngoài vùng ấy. Tôi tính nếu có vấn đề năng lượng, nếu có nhiều dầu, chắc chắn Hiệp Chủng Quốc sẽ phải hỗ trợ cho Việt Nam – Chỉ vì vấn đề này. Tôi không nghĩ đến ba cái chuyện bảo vệ tự do dân chủ gì cả, tôi nghĩ toàn bộ cuộc chiến này chẳng là cái gì khác ngoại trừ một đường lối kiếm tiền. Tôi tính ra với khối lượng dầu lửa ấy, một đống tiền, chắc chắn người ta sẽ phải bảo vệ họ vì mớ dầu ấy.
Tôi thản nhiên, không bồn chồn lo lắng, cho tới một tháng trước khi đi. Đó là khi Đà Nẵng sụp đổ.

Một cô em họ của vợ tôi sống tại vùng Đà Nẵng. Vợ chồng cô có sáu đứa con, chồng làm thầu quân đội, nhặt rác. Cô em vợ tôi chạy vào Saigon một thân một mình cho biết Việt Cộng đã giết hết chồng con cô. Trước đó, người chồng đã bảo cô thu xếp ra đi “Việt Cộng sắp đến, chúng giết tôi mất”, anh ta có nói thế. Tôi không rõ tại sao họ biết, những sự thể xảy ra như vậy. Chúng đã giết anh và cả mấy đứa con. Sau đó cô đi đường bộ từ một địa điểm gần Đà Nẵng về suốt đến Saigon. Cô bảo bọn Việt Cộng nổi điên, đã bắn giết dân chúng. Tôi mong cô đến ở với chúng tôi để cùng đi. Nhưng cô từ chối, bảo cô không còn lẽ sống ở đời nữa.

Nhưng chúng tôi cũng đã mang đi được 32 người Việt. Tôi bay về Saigon bằng Hàng Không Việt Nam. Tôi có vé máy bay cho vợ và các con tôi, vì ngay từ trước, tôi đã lo chuyện này. Tôi đến hỏi Lãnh sự Mỹ ở Hồng Kông, vì tôi muốn mang cả gia đình vợ đi, gồm bố mẹ vợ, anh chị em vợ tôi. Nhưng họ đã làm cho tôi phải chạy loanh quanh mãi. Họ bảo: “Ờ được chớ. Đâu có vấn đề gì. Cứ đến tòa Đại sứ Saigon, họ chấp thuận mà. Họ sẽ cho gia đình vợ ông chiếu khán nhập cảnh Hoa Kỳ thôi”. Vợ tôi có quốc tịch Mỹ. Tôi bèn đến toà Đại sứ Mỹ ở Saigon. Lúc ấy hãy còn là tháng Ba – họ lại bảo tôi trở về tòa Lãnh sự Mỹ ở Hồng Kông xin thêm giấy tờ nữa họ mới cấp chiếu khán nhập cảnh cho gia đình vợ tôi. Cứ thế, tôi loay hoay chạy đi chạy lại. Cuối cùng vào tháng Tư, tôi đến Tòa Đại sứ Mỹ ở Saigon lần nữa. Bấy giờ chỉ chừng một tuần là mất Việt Nam, tôi đâm hoảng. Tôi bảo: “Lạy Chúa, chuyện gì xảy ra thế? Tôi phải đưa gia đình đi khỏi đây. Vợ tôi không thể bỏ gia đình mà đi được. Bả là công dân Hoa Kỳ. Qúy ông phải giúp cho các công dân Hoa Kỳ đi chớ?” Người nói chuyện với tôi là một tên chó đẻ. Hình như hắn là Phó lãnh sự gì đó ở Saigon. Hắn nói: “Tôi sẽ cho ông một lá thư, mang sang Sở Di Trú Ngoại Kiều của Việt Nam mà lấy chiếu khán. Họ sẽ cấp chiếu khán xuất ngoại cho gia đình vợ ông. Không có gì trở ngại”.

Khỉ mốc. Tôi đến Sở Di Trú, đợi hàng giờ đồng hồ mới gặp được người nhân viên chỉ dẫn Việt nam. Tại xứ này, cần gì cũng phải có tiền. Vào gặp thằng cha Việt Nam mà Phó Lãnh Sự bảo tôi tới gặp, tôi giải thích tại sao tôi đến, thằng chả nói: “Anh nói cái gì vậy?” Tôi đưa ra lá thư bên Tòa Đại sứ cấp cho tôi. Thằng cha cười vào mặt tôi. Hắn nói: “Không rõ ông ta mắc chứng gì. Ông thừa hiểu chúng tôi đâu có cấp chiếu khán xuất ngoại? Chúng tôi có quá nhiều việc phải lo! Tôi đã bảo ông ta đừng làm mất thì giờ chúng tôi với chuyện gửi người tới đây xin chiếu khán xuất ngoại cho người Việt”.

Tôi quay lại gặp viên Phó Lãnh sự, hắn không tiếp. Lại phải gặp một cha khác. Tôi nói “Quỷ thần ạ. Tôi cần chiếu khán xuất ngoại mà họ không cho. Họ nói họ quá bận bịu. Mấy đứa con đẻ của tôi đều có thông hành Mỹ, vậy mà họ không chịu cấp”. Cha này nói: “Chẳng việc gì phải lo. Không có lý do gì lại hoảng lên như thế về chuyện phải đưa gia đình đi đâu cả”. Tôi nói: “Người ta đang di tản, tôi cần phải có chiếu khán xuất ngoại”. Hắn nói: “Không, chẳng có chuyện di tản di tiếc gì sất”. Lạy Chúa tôi, bấy giờ chỉ còn một tuần lễ nữa, cái đất nước khốn nạn ấy sẽ sụp đổ. Vậy mà thằng chả vẫn lẻo mồm đến thế. Tôi nói: “Giêsu Ma, ông bảo tôi không có chuyện di tản. Vậy chớ bao nhiêu công ty Mỹ đều đã đi sạch. Ngân hàng “Bank of America” cũng đi rồi. Các công ty thầu xây cất cũng đã đi. Vậy chớ bao nhiêu người đang đứng sắp hàng ngoài Tòa Đại sứ làm chi vậy? Chúng tôi là công dân Mỹ. Chúng tôi có thông hành Mỹ. Tôi muốn đưa gia đình tôi ra khỏi đây”.

Thằng chả nói: “Bận lắm, đừng mất thì giờ. Không có chuyện gì. Không di tản lôi thôi gì. Ông lo lắng quá độ. Chúng ta không bỏ Việt Nam đâu”.

Rồi tôi quay lại lần nữa. Tôi nghĩ bấy giờ là ngày hai mươi tư, lộn xộn không thể tả. Cả một đống người Việt, người Mỹ bu đến chỗ khốn nạn ấy. Tôi xin thề tôi không nói láo – ít nhất có đến bốn trăm con người sắp hàng ở Tòa Đại sứ. Chúng tôi phải đợi đến bốn giờ đồng hồ. Họ không cho tôi gặp ai, cuối cùng mới gặp được một cô Việt Nam làm việc ở đấy. Cô gái Việt Nam này tử tế hết sức. Cô ta nói quả thiệt mọi người đang đi. Họ cũng có hứa với các người Việt làm ở Tòa Đại sứ là khi ra đi, họ sẽ mang những người ấy theo.

Tôi nói: “Vâng, quỷ thần ạ. Tôi nghĩ họ nên làm như thế. Họ nên đưa đi tất cả những người Việt nào đã làm cho Mỹ”. Tôi nói với cô rằng tôi đang cố sức đưa gia đình đi đây. Cô bèn chỉ cho tôi mấy cái mẫu đơn mà nói: “ Đây, đây là những mẫu đơn phải điền vào rồi đóng dấu, mang ra Tân Sơn Nhất mà di tản”. Thế là tôi chụp lấy một mớ. Cô cũng cho tôi một mẫu đơn đã đầy đủ, có đóng triện Tòa Đại sứ cẩn thận. Tôi chạy ngay tới một nhà in, biểu họ rằng: “Tôi cần tức khắc một cái con dấu giống hệt như vầy”. Chỉ trong vài tiếng đồng hồ, họ làm xong. Tôi bèn nhái chữ ký giống y như trong cái mẫu đơn cô ta đưa. Thế là tôi điền hết tên tuổi mọi người trong gia đình vợ tôi, hàng xóm nhà tôi, cả bạn bè nhà tôi, tổng cộng ba mươi hai người Việt.

Nhưng rồi làm sao vô Tân Sơn Nhất? Tất phải cho tiền bọn lính gác. Không tiền làm sao vô nổi. Tôi còn phải mang thêm một số người Việt phụ trội nữa: Một viên Đại tá Việt Nam làm trong Tân Sơn Nhất biểu tôi “Tôi có thể đưa ông vào, nếu ông chịu đưa gia đình tôi đi”. Tôi nói “Tốt thôi, tôi có thể đưa ai là đưa mà”. Thế là hắn cho chúng tôi vào.

Chúng tôi đẩy cả ba mươi hai người vào ba xe lái vào Tân Sơn Nhất. Trời nóng hơn địa ngục. Chúng tôi đều đói, khát mà chẳng lấy đâu đồ ăn thức uống. Đến khi vào trong, họ mới cho chút nước thấm giọng.

Tòa Đại sứ Mỹ chỉ là một bọn cứt. Lũ chính trị gia khốn nạn! Nhưng không quân Mỹ thì tuyệt vời. Bấy giờ người ta phải trình mấy tấm giấy cho các nhân viên không lực làm thủ tục di tản. Một tay sĩ quan không quân hỏi: “Tốt lắm, thưa ông Lumm, ông có biết rằng ông chỉ được phép đưa đi các thân nhân trực hệ của công dân Mỹ không?” Thưa quý vị, lúc đó tôi có mang theo cả một ông cha Công giáo, đã hơn tám mươi tuổi. Tên tuổi, ngày sinh tháng đẻ đều ghi rành rành trong mẫu đơn. Tay Sĩ quan hỏi: “Tất cả những người này đều là thân thích của ông cả phải không, ông Lumra?” Tôi đáp “Ừa, phải đấy. Hoặc liên hệ trực tiếp, hoặc do thủ tục nhận làm con nuôi”. Anh ta nói: “ Vậy chớ cái con quỷ gì đây? Ông Linh mục này đã hơn tám mươi tuổi rồi mà?” Tôi đáp: “Ừa, con nuôi tôi đấy” Anh ta phá lên cười, bảo “Ô kê, ô kê, vào cả đây. Chúng tôi sẽ tận tụy phục vụ để đưa quý ngài ra đi!”.

Nguyên tôi không định di tản kiểu này, vì lẽ tôi đã có vé máy bay Hàng Không Việt Nam. Tôi chỉ định đến đó đưa gia đình vợ tôi và những người ấy đi cho chắc thôi. Tôi định đưa họ vào, ký giấy tờ rồi mang vợ con ra, đi bằng Hàng Không Việt Nam. Nhưng mấy cha không quân bảo tất cả máy bay dân sự đều hủy rồi. Không còn máy bay dân sự nữa. Tôi nói: “Mẹ kiếp, làm gì được bây giờ?” Tôi đang có việc làm ở Hồng Kông. Bấy giờ tôi làm cho hãng DHL, một công ty dịch vụ thông tin, hãng này có một trụ sở tại Hồng Kông, và một tại đảo Guam.

Chúng tôi nằm đấy đợi hai ngày trời. Cuối cùng họ cho một chiếc xe buýt – riêng cho chúng tôi – cả thảy 32 người Việt, thêm vợ tôi và tôi. Ông tài xế người Việt cũng đang cố ra đi. Muốn đến máy bay thì phải qua một trạm gác có lính Việt Nam, đến đấy họ bắt xe ngừng. Đàn bà không sao, nhưng trên xe có mấy người đàn ông ở trong quân đội. Họ ngừng xe lại, bắt mở cửa. Tôi bảo vợ tôi dịch cho tôi biết chuyện gì đang xảy ra. Gã tài xế phân bua : “Không. Tôi có đi đâu đâu? Tôi chỉ lái xe cho người ta”. Họ lôi gã tài xế xuống. Thường các xe buýt của không quân Mỹ đều có tài xế lái. Số xui, chẳng may chúng tôi lại gặp một tài xế Việt Nam. Thế là một tên lính nhảy lên xe, định chui đầu vào. Bấy giờ, chả rõ vì sao tôi hóa ra can đảm thế, nhưng thực ra tôi đã suýt ỉa trong quần. Như một thằng khùng, tôi nhảy lên, chặn cửa lại, quát: “Anh không được phép vào xe buýt này. Đây là tài sản chính phủ Hoa Kỳ. Còn đây đều là nhân viên của Hoa Kỳ”. Tôi nói lung tung mấy chuyện cứt ỉa như thế. Thằng cha cũng không hiểu tôi nói gì. Hắn lôi cái máy truyền tin ra, vợ tôi dịch lại cho tôi nghe hắn nói gì. Hắn gọi một cha Đại úy để báo cáo là mấy tên Mỹ không chịu cho hắn vào xe buýt khám.

Cha Đại úy bảo “Vậy phải bàn chuyện này. Lại đây”. Tên lính bước đi để nói chuyện với tên Đại úy của hắn.

Cả đời tôi chưa hề đụng đến tay lái một chiếc xe lớn nào. Tôi cũng không biết lái xe số tay. Cái xe buýt cứ nằm chình ình nổ máy. Không một ai trên xe biết lái cả. Đúng lúc ấy, một xe buýt khác chạy tới. Một chiếc xe trống, không hành khách. Người lái xe là một không quân Mỹ. Mỹ đen. Chúa ạ, yêu biết mấy khi nhìn cha đó. Giá ngày nay gặp lại cha này, tôi sẽ ôm thắm thiết. Anh ta dừng xe hỏi “Chuyện gì thế?” Tôi đáp “Lạy Chúa rất thánh, chúng nó sắp bắn hết chúng tôi đây”. Tôi cho anh ta biết chuyện đang xảy ra. Lúc ấy tên lính đang quay lại. Hắn thét lên: “Tốp, tốp! Ngừng lại, ngừng lại”. Vì lẽ anh không quân đã nhảy vào trong xe buýt rồi. Anh chàng không quân trả lời: “Đù mẹ các cậu” rồi tuôn xe chạy. Họ nổ súng bắn. Đù mẹ quả thật họ nổ súng bắn chúng tôi!

Thật tức cười, khi bước vào máy bay. Các cô gái trẻ sợ te tua, họ e không vào lọt. Tôi chả biết cái máy bay ấy nó là thứ máy bay gì. Nó có cái đuôi thòng xuống, người ta chui vào qua lối ấy. Máy bay lại chẳng có ghế ghiếc gì, cứ vậy ngồi bệt lên sàn. Khi chiếc xe buýt dừng lại, chưa bao giờ trong đời tôi thấy người ta chạy nhanh như thế. Mấy thằng nhỏ vọt khỏi xe buýt, chỉ mấy giây đồng hồ chúng đã tuôn vào trong máy bay. Chúng tôi ai nấy đều khiếp vía, thiệt hết nói.

Quý vị hiểu không, bấy giờ quả thực tôi nghĩ nếu chúng tôi kẹt lại là bị giết sạch cả.

Họ đưa chúng tôi đến Guam. Đầu tiên họ bảo không ai được phép dời đi hết. Tôi nói: “Quỷ tha ma bắt! Tôi là công dân Hoa Kỳ chớ bộ. Tại sao tôi lại không được đi? Có phải lính tráng gì đâu chớ? Xem thông hành đây”. Họ bèn cho tôi đi. Tôi tới văn phòng hãng DHL ở Guam. Tôi hỏi: “Bây giờ phải làm gì nào? Đây, tôi đang có mặt ở Guam.” Họ bảo: “Chúng tôi sẽ thu xếp cho ông về lại Hồng Kông”. Thế là tôi bèn đóng vai thông tín viên cho Hãng DHL. Rồi tôi trở lại Hồng Kông như thế đó.

KHOẢNG LẶNG

nguyenlienchau

Bến dừng lắng đọng bóng thâu
Đêm yên ắng đêm thở sâu giấc nhoài
Đi qua cơm áo một ngày
Ngả lưng nằm xuống ngực đầy tiếng khuya

Cõi trăng lên nẻo trăng về
An nhiên như thể chưa hề long đong
Mở lòng đón nhận sắc không
Hiểu ra cát bụi cũng mong yên bình

Soi đêm dọ dẫm u minh
Thấy tình leo lét thấy mình lơ mơ
May khuya còn một chút thơ
Vắt ngang trời vệt bâng quơ phiêu bồng.

NGUYỄN LIÊN CHÂU

ĐỪNG NÓI

truongdinhphuong

Đừng nói hoài về những ly cà phê
khuấy mãi chẳng thể hoà tan vị đắng
đừng nói hoài về những chiều oải nắng
ngọn cỏ gầy mơ thấy một loài mưa
hãy nói về những giấc ngủ ban trưa
luôn bị băm ra bởi luồng luồng trăn trở
hãy nói về những chiều nghẹt thở
ngã tư đời tình người bị nghiến nát dưới làn xe

hãy nói về những đắng cay chất chồng trên tóc mẹ
những ngả đường trên đôi bàn tay thăng trầm giông bão của cha
hãy nói về những khát vọng đi xa
và ngoảnh mặt quay lưng với ruộng đồng rơm rạ
đừng nói hoài về những miền xa lạ
lá mọc trên hoa sông chảy trên trời
hãy nói về hữu hạn một kiếp người.

Trương Đình Phương

Sa ngã

 

trachantranhuuhoi

Thắng quay đầu chiếc Taxi, lùì sát phòng hồi sức của bênh viện. nơi ông Gia và cô con gái đang đứng:
-Bác có đỡ đau hơn không?
Ông Gia cười, nụ cười kéo giản đôi môi mỏng:
-Cảm ơn cậu, cũng đã khá hơn.
Ông Gia mới dọn về ở cùng con hẻm với Thắng hơn năm nay.
Nhớ ngày ông dọn nhà, chiều hôm sau thì cả xóm xôn xao, anh Hiệp chạy xe ôm bị tai nạn, thấy chị vợ lu loa luống cuống, ông gọi Taxi cùng người báo tin đến nơi bị nạn, xe cấp cứu đã đưa anh Hiệp vào bệnh viên, ông đến bệnh viện, ở đó, bao nhiêu viện phí cho ca cấp cứu ông đóng giúp, khi anh Hiệp ra phòng hồi sức, tỉnh táo, ông mới về. Khi về, ông gọi chị vợ ra hành lang dúi thêm năm trăm ngàn, nói là mua thuốc và sữa. Chị Tha vợ anh Hiệp muốn quỳ xuống mà cảm ơn. Không quỳ sao được khi mà nhà chị chỉ còn sáu chục ngàn cộng với tiền trong túi anh Hiệp nữa là một trăm ba chục ngàn, mà tiền ứng trước của bệnh viên là năm triệu.!
Lâu nay, trừ một vài nhà mua nước bình đễ uống và nấu, còn cả xóm dùng nước giếng bơm, hôi và chua lét ! Ông mua một cái máy lọc lớn, công nghệ nano, vừa lọc sạch vừa khử hết mùi, mua một bình chứa lớn, đặt trước nhà cho cả xóm dùng, ông cũng dùng chung với họ.
Ông thuê nguyên căn nhà cho hai cha con, nó gấp hai, ba lần căn phòng trọ cho cả gia đình Thắng. Cái sân nhà ông nay cũng là nơi để xe cho những nhà chung quanh. Cô con gái làm việc ở một công ty nào đó, sáng đi chiều về bằng xe gắn máy, ông Gia ít khi đi đâu, một tuần lể ông ra khỏi nhà một hai lần, thường là vào chiều chủ nhật, rồi thôi. Ba bức tường chật kín sách, chiếc bàn gỗ, cái máy vi tính và mấy chậu hoa… nuốt hết thời gian của ông.
Cư dân trong xóm quý mến cha con ông, nhưng không ai biết ông từ đâu đến, cuộc đời ông ra sao…dù rất đỗi tò mò!
Tháng trước, một cơn đau ở dưới sườn phải, cô con gái đi làm, gặp lúc Thắng về nhà ăn trưa, vừa cởi áo, anh đã vội mặc lại rồi cùng hai người trong xóm đưa ông vào bệnh viên. Bác sĩ chuẩn đoán, sinh thiết và xét nghiệm, hai ngày sau có kết quả. Ông bị Ung thư gan giai đoạn cuối! Cô con gái như muốn ngất đi bên giường bệnh.
Vừa lái xe, Thắng nhớ lại hôm đứa con trai đầu của anh bị sốt xuất huyết cách nay chừng sáu tháng, là tài xế taxi, nhưng ban đêm thì đỗ xe lại công ty. Chừng ba giờ sáng thì cơn sốt cao quá làm thằng bé lịm đi như đã chết. Chiếc xe Dame đời cũ không còn xăng, vợ anh nôn nóng bồng con đứng chờ Thắng đạp, mãi không nổ! Ông Gia lặng lẽ đẩy chiếc xe tay ga của con gái đến:
-Cậu đưa cháu đi bằng xe này, để xe đó tôi nhắc vào cho. Cầm thêm cái này phòng hờ…
“Cái này” là bốn tờ giấy bạc năm trăm ngàn mới toanh!
Sáng hôm sau, biết là cô gái đi làm sớm, Thắng tất tả để con lại cho vợ trông, anh chạy về trả xe. Không quên mua thêm lít xăng cho xe của minh:
-Cháu khỏe chưa?
-Dạ hết sốt rồi, đang chuyền thêm nước bác à. Cô đi làm rồi ha bác. Xe…
-Nó đi taxi một bữa củng không sao. Cháu khỏe là tốt rồi…
-Bác cho cháu gởi lại tiền hôm qua, chỉ hạ sốt và chuyền nước nên không tốn kém bao nhiêu.
-Khi nào cháu về nhà rồi tính.
Thế mà hôm nay ông xuất viện với căn bệnh chết người ! Cả xóm thở dài, cầu cho ông bằng an.
oOo
Thắng qua thăm ông với túi cam, ông Gia không chịu nằm mà vẫn ngồi bên chiếc bàn máy tính! Trông ông xanh và yếu. Gở gọng kính xuống, ông mời Thắng ngồi nơi chiếc ghế bên bàn với nụ cười làm giãn đôi môi mỏng:
-Qua thăm tôi là tốt rồi, mua quà làm gì cho tốn kém.
-Da…chỉ mấy quả cam, Bác có thấy khỏe hơn trước khi mổ không ạ.
-Còn đau lâm râm, đã là “căng-xe” thì vấn đề là bao lâu nữa thôi cậu Thắng ạ
-Cháu nghe nói có nhiều phương pháp mới…
-Nếu phát hiện sớm thì còn có cơ may, nhưng tôi là giai đoạn tồi tệ rồi! Thôi quên nó đi, Hình như cậu Thắng cũng theo Thiên Chúa Giáo?
Ông Gia vừa hỏi vừa chỉ lên tấm hình Chúa Giêsu chịu nạn. mũ gai trên đầu với những giọt máu đọng nơi khuôn mặt đớn đau.
-Dạ, nhà cháu là đạo gốc từ trước khi vào Nam ạ.
-Quê cậu ở đâu ngoài đó?
-Dạ Nam Định ạ.
-Tôi có người bạn cùng khóa, là Linh mục Chánh xứ của một họ đạo ở đó.
-Thế…trước đây Bác có đi nhà dòng?
Một khoảng lặng ập đến, đôi môi mỏng mím lại và đôi mắt sau làn kính sụp xuống. Tránh giây phút im lặng này, Thắng nhìn qua giá sách, nơi những cuốn sách Thần học, Triết học, Văn học dày cộm…Trước đây. Có người anh kế học Đại học văn khoa, dang dở vì phải đăng lính, anh chết sau khi ra trường được hai năm ở Tiểu khu Phong Dinh. Thắng đã đọc khá nhiều những cuốn sách anh để lại, một vài cái tên mà anh quen cũng năm trên các kệ sách ở đây. Tiếng ông Giá như từ đâu đó thật xa, kéo Thắng về với gương mặt trầm tư:
-Tôi đã là Linh mục!
Thắng bất ngờ không nói được gì, anh biết một linh mục đã thụ phong thì Bí tích ấy lớn lao ngần nào!
-Giá như căn bệnh này, hay một tai nạn náo đó, đến với tôi vào lúc đó thì hay biết bao!
Thắng đăm đăm nhìn không nói gì. Một lát, ông Giá hỏi rồi tự nói không đợi Thắng trả lời, ông tiếp:
-Cậu có biết thế nào là sa ngã không? Nó là một lựa chọn xuẩn ngốc, trong giây phút mà lý trí ta không hoàn toàn làm chủ được mình. Sau tám năm làm Linh mục, tôi đã sa ngã như một cậu trai khờ khạo với một phụ nữ.
Thắng hỏi với giọng ngại ngần:
-Một phụ nữ?
-Ừ, gọi là một phụ nữ bởi cô ấy đã mang thai trước khi đến với tôi.
-Thưa bác, chắc là người trong họ đạo của bác?
-Không, cô ấy không là người có đạo, chúng tôi gặp nhau trong một đoản từ thiện, sau đó cô ấy đến với tôi nơi giáo xứ, tôi đã nói dối với giáo dân đây là cô em họ…Nhục dục đã làm tôi không thể tách khỏi cô ấy…
-Có ai biết không ạ?
-Không, sau cái lần đầu tiên ấy, tôi như mê muội trong đam mê thân xác và sự cuồng nhiệt nhục dục nơi cô ấy…Một tháng sau, tôi tự rời bỏ họ đạo. Cô ấy muốn vượt biên, tôi cũng chỉ có con đường ấy để chọn. Theo cố ấy, Bà Rịa –Vũng tàu là nơi tổ chức những chuyến vượt biển khá thành công. Nhưng trước khi thực hiện, tôi trở về gặp Giám mục Địa phận. Ngài thất vọng, nói sau khi nghe tôi xưng tội: “Cha rất tiếc, nhưng thôi, con hãy là một người cha, người chồng tốt. Cha sẽ cầu nguyện cho con”
Tôi về thăm cha mẹ. họ gặp tôi, nghe tôi nói những lời xin lỗi vì đã đi sai con đường mà họ mong ước. Bố mẹ tôi đau đớn lắm, cả hai mất sau đó không lâu. Đám tang Bố tôi có về, nhưng ngày mẹ mất hai tháng sau đó, tôi đang chuẩn bị cho chuyến vượt biên nên không về được !
Những gì ông Gia vừa bày tỏ làm Thắng bàng hoàng. Anh cũng từng nghe chuyện Linh Mục sa ngã vì phải lòng một phụ nữ, thường thì xảy ra ở đâu đó thật xa. Anh khó dấu được sự bất bình, có phần khinh miệt khi nghe ai đó nói về chuyện ấy. Nhưng giờ đây, một người bằng xương bằng thịt, ngay trước mắt mình, đang nói với mình như thú tội giữa một con người với con người. Thật lạ, anh không có ý trách cứ hay bất bình, chỉ là nỗi cảm thông và thương cảm dâng lên trong lòng.
Dường như cũng thấy được sự cảm thông nơi Thắng, ông Gia tiếp:
-Sáu tháng sau thì Cát Trinh ra đời.
-Ai ạ?
-Cát Trinh, con gái đang sống với tôi đó. Vì tôi lấy tên thánh người đỡ đầu, chính là bà mụ ở trạm xá, là Catherina. Tôi phiên âm, rồi lấy họ mình đặt tên cho nó: Trần Thị Cát Trinh. Khi sinh, cháu bị sứt môi và hơi hở hàm ếch!
Thắng nhăn mặt, ngạc nhiên vì cô gái nay khá dễ thương chứ không có dấu hiệu gì về dị tật như ông Gia nói. Đoán được ý nghỉ của Thắng, ông Gia tiếp:
-Ngay trong bệnh viên, khi biết con mình bị sứt môi, cô ấy khăng khăng đòi bỏ đứa bé, buộc tôi phải đem cho cô nhi viện. Tôi không cam lòng, tôi an ủi cô ấy là sẽ cố gắng chạy chữa cho con sau này, nhưng cô ấy hét to như một kẻ điên:
-Đem nó đi cho khuất mắt tôi, nó có phải con của ông đâu mà ông mà tiếc !
-Tôi lặng đi, nhưng tôi thoáng nghỉ rất nhanh rằng: Con tôi hay không phải cũng chẳng sao, nó phải sống và được nuôi dưỡng, cho dù thế nào. Tôi chỉ nghỉ đến một đều là: Vì cô ấy, tôi đã phản lại lời thề khấn, giờ là hậu quả, có khác gì khi là con tôi hay con một ai đó, đã được hình thành trong thân xác của cô ta!? Hậu quả là một mầm sống và tôi phải đón nhận.
-Rồi cô ấy thế nào thưa Bác?
-Cô ấy là một người kỳ lạ! Tôi không thể không nghỉ đến hình ảnh con rắn khi nói đến cô ta, khác xa những gì tôi cảm mến khi đi làm từ thiên cùng nhau! Kể từ lúc sinh Cát Trinh, tôi không cảm thấy chút mến yêu nào khi bên cô ấy, không cả thèm muốn xác thịt, ngược lại, nỗi hối hận càng ngày càng ray rứt và thật lạ, càng hối hận bao nhiêu tối càng yêu thương Cát Trinh bấy nhiêu.
Thắng gục đầu như thầm cầu nguyện cho ông.
-Cô ấy rủa sã tôi không ngớt vì đứa con, bà mụ ở trạm xá, là hàng xóm và là người săn sóc tự nguyện cho nó. Khi Cát Trinh được bốn tháng, tôi đem cháu về Sài Gòn tìm Bác sĩ hỏi thăm về chuyện vá môi cho cháu. Một người bạn cũng là Linh Mục đã giúp tôi, Bác sĩ sau khi xem, lạc quan cho là chuyện nhỏ, chừng sáu tháng có thể phẫu thuật, rồi theo dõi thôi. Tôi rất mừng, ngoài môi trên bị mất một nữa, toàn bộ gương mặt cháu rất xinh, nhất là đôi mắt và mũi. Tôi trở về, hy vong niềm vui này làm cho cô ấy bớt buồn và có thể có được chút hạnh phúc, nhưng cô ấy không có nhà, hai ngày sau không về, trong lúc tôi đi, cô ấy đã vượt biển cùng tay chủ tàu chuyến trước mà cả hai chúng tôi cùng đi nhưng thất bại. Tôi dửng dưng không hề buồn, có cảm giác như vừa trút đi một gánh nặng. Số tiền ít ỏi mà bấy lâu bạn bè giúp đỡ cũng không còn!
Ông Gia lại im lặng như để trấn át cơn đau luôn lâm râm nơi sườn phải, lát sau ông cười như trấn an Thắng:
-Tôi làm thuê cũng đủ cho hai cha con, nhưng còn hai tháng nữa là phẫu thuật rồi, chỉ còn một cách là trở về gặp Giám Mục, tôi hy vọng Ngài sẽ có cách giúp tôi. Khi gặp được Ngài, tôi ngồi cúi đầu không dám nhìn, Ngài hiền từ nhìn tôi nói chậm rải:
-Con hãy luôn cầu nguyện, có lẽ con không biết chị con đã xuất ngoại. Bà ấy gởi lại cho con số tài sản của cha mẹ con đễ lại. Con đến gặp cha quản lý nhé.
-Tôi quá mừng! không cầm được nước mắt, thương bố mẹ. thương người chị duy nhất. tôi trách mình vì mặc cảm tội lỗi mà xa lánh luôn cả chị mình! Tôi mua một miếng đất chừng ba mẫu ở Bà Rịa, nó không cho tôi một chút lợi lộc nào lớn, Nhưng Chúa giúp tôi, cách nay chín năm, một công ty Đài Loan mua nó với giá tiến cao ngất ngưỡng mà chỉ nằm mơ mới có được!
Ông Gia nghỉ một lát như để thở, rồi nói tiếp:
-Phẫu thuật cho Cát Trinh không đơn giản, ba lần vẫn chưa hoàn chỉnh được. giọng nói ngọng nghịu làm khổ Cát Trinh. Tôi nghỉ đến chị, lúc này đã đinh cư ở Úc và Cát Trinh đã mười bảy tuổi. Một lần nữa Giám mục đã giúp tôi, qua thư, Ngài giới thiệu cho cơ quan từ thiện Caritas, chị tôi đã bào lãnh Cát Trinh qua Úc. Bên ấy, cơ quan này giúp hoàn chỉnh cho cháu cả môi, răng và thanh quản. Sáu tháng sau cháu trở về, trước mắt tôi là một thiếu nữ tuyệt vời cậu Thắng ạ.
-Thế bác chuyển về Sài Gòn lúc nào?
-Khi Cát Trinh từ Úc về, hồi bán được đất ở dưới đó, tôi lên mua nhà ở Thủ Đức. để tiện lo cho cháu. Năm ngoái, tôi lại bán căn nhà đó, chuyển tiền vào tài khoản của Cát Trinh, tôi chỉ giữ lại cho mình một ít. Rồi về mướn căn nhà này.
-Bác có biết mẹ Cát Trinh bây giờ ở đâu không?
Ông Gia hơi ngửa người dựa vào thành ghế, có lẽ lại một cơn đau:
-Tám năm nay tôi nuôi bà ấy !
Thắng kinh ngạc, nhìn ông Gia:
-Bà ấy vượt biển rồi…?
-Không đi được, bị bắt và phải ở trong trại giam bốn tháng. Chừng một tháng sau ngày bé Cát Trinh qua Úc, tôi nhận được tin bà ấy đang ở tại một ngôi chùa ngoài Trung, bị liệt nữa người ! Tôi ra đó hai lẩn, lấn sau khoảng hai mươi ngày trước khi Cát Trinh về. Không thể ra thăm bà ấy mãi được khi mà Cát Trinh đã đủ trí khôn. Tôi đã nói với Cát Trinh là mẹ đã chết khi nó lên ba. Từ ấy đến nay, không bao giờ nó đề cập đến mẹ. Bà ấy cũng đã năm mươi hai tuổi, bị lẫn, liệt nữa người và mờ mắt vì bị hỏng giác mạc.Tôi đưa bà ấy vào Vũng Tàu, khi về Sài Gòn, tôi cũng sắp xếp cho bà ấy tại Viện Dưỡng lão ở đây, hai tháng tôi đến thăm một lần. Gần đây, bà không còn nhận ra tôi là ai!
Thắng hơi ngập ngừng, hỏi:
-Bác không ghét bà ấy sao?
-Thực tình mà nói thì tôi không ghét, tôi cho rằng tất cả nằm trong hậu quả từ một lầm lỗi của mình. Nhưng nói thương thì thật sự tôi không thấy chút tình cảm nào trong lòng. Tôi làm bổn phận như Giám mục đã dặn tôi …và như thế, tôi cảm thấy bớt ray rứt.
-Cát Trinh, cho đến lúc này vẫn không biết gì?
Ông Gia sửa lại thế ngồi, hơi khom người, hai tay khoanh lên bàn:
-Đây là vấn đề, chính vì đều này mà hôm nay tôi mới thú thật hết với cậu. Nó biết hết, biết tôi không phải là cha của nó, biết mẹ nó đã có ý bỏ nó khi vừa sinh ra. chính bà mụ ở Bà Rịa đã nói hết cho nó nghe khi nó lên chín tuổi! Nó biết và im lặng cho đến tối hôm kia, khi tôi nói là mẹ còn sống và đang ở trại dưỡng lão, nếu ba chết thì con cố tiếp tục thay ba chăm cho mẹ. Nó đã nói :
-Kẻ nào dám hy sinh thì nhận được sự hy sinh. Con khước từ trách nhiệm này vì bà ấy đã như vậy với con, bà ấy đã chết! Con chỉ có Ba và ba phải sống, kể cả việc ghép lá gan của con cho ba.
-Cố ấy nói đúng quá!
-Không, đúng nhưng bất nhẫn cậu ạ. Tiếc là nó không hề có ý thay đổi khi tôi cố thuyết phục nó, hãy tha thứ và rộng lượng như kinh thánh dạy: “Hãy yêu kẻ ghét con.” Nhưng nó đã khẩn khoản: “Ba, đừng bắt con phải yêu kẻ con ghét. Con không thể!”
Ông gia cúi đầu thở dài:
-Hình như nó đã xem được câu nói này đâu đó trong những cuốn sách kia!
Im lặng một lát, ông Gia lại nói, rành rọt như đã suy nghỉ nhiều về những gì sắp nói:
-Cát Trinh đã hai mươi lăm tuổi. nó cần sống cuộc đời của nó. Thế nên tôi phải nhờ đến anh.
Thắng giật mình vì không biết ông Gia nhờ đến mình trong việc gì. Anh nhổm người nhìn ông với đôi mắt kinh ngạc. Ông Gia đưa bàn tay gầy xanh đặt lên vai anh:
-Nếu hôm nay anh không qua thăm, tôi cũng qua gặp anh. Có lẽ anh không ngại giúp khi tôi nhờ. Thế này anh Thắng ạ: Cát Trinh đang cố gắng lo cho tôi qua Úc, sẽ làm mọi cách chữa trị cho tôi, kể cả việc ghép lá gan mà nó là người cho nếu bệnh viên thấy phù hợp. Nhưng như tôi đã nói, chỉ kéo dài thời gian sống không cần thiết mà thôi. Hiện dang có một cậu trai đang yêu và muốn kết hôn với nó, hai năm nay rồi. Tôi thấy cậu ta là người tốt, dù nghèo. Tôi hy vọng cậu ta sẽ đem đến hạnh phúc cho nó. Việc hao tốn tiền bạc và thời gian cho tôi lúc này thật vô ích! Ngày mai, cậu cùng tôi đến viện dưỡng lão, cậu chở bà ấy đến thành phố N… theo địa chỉ tôi ghi nơi bức thư, đưa cho Giám Mục Phanxico, ỏng Gia lại thở dài, tôi cũng chỉ còn có Ngài để nhờ vả, có lẽ là lần cuối cùng.
Thắng nhìn ông Gia với đôi mắt buồn đầy thương cảm, cuối cùng anh nói thật nhỏ:
-Cháu sẽ làm theo nguyện vọng của Bác.
oOo
Vị khách trẻ và chiếc taxi đi rồi, xe của trại mồ côi của các soeur dòng Mến Thánh Giá cũng vừa chở người đàn bà khốn khổ ra khỏi khuôn viên Tòa Giám Mục.
Giám mục ngồi gục đầu, nhắm mắt nhớ lại gương mặt của Dominico Trần Hiếu Gia, chủng sinh mà ông kỳ vọng nhiều nhất trong số những chủng sinh năm ấy. Sự hiểu biết sâu sắc về Thần học và Giáo Luật, tính tình vui tươi và linh động trong tổ chức, sinh hoạt tập thể…Hồi đó, còn là Linh mục, ông đã từ chối không nhận làm cha linh hướng cho cậu vì đang là Bề trên chủng viện, nhưng Cha đã rất hài lòng khi chính mình lại là Giám mục Truyền chức Linh Mục cho Gia. Thế mà tám năm sau…
Giám mục mở lá thư đang cầm trên tay, xem lại một lần nữa:
“Kính Gửi Giám Mục.
“Người phụ nữ này là người mà qua bà ấy con đã phụ lòng Giám Mục và phản bội lời thế khấn với thiên chức của mình. Con đã làm cha và làm chồng. nhưng trong hai đều ấy con chỉ làm được một đều là cha tốt -dù rằng đó không hoàn toàn là máu thịt của con- với những gì con có thể. Giờ đây, con xin Ngài cho phép con gởi gắm người phụ nữ này, biết là một gánh nặng cho Ngài và Giáo phận, nhưng đó là cách hay nhất mà con buộc phải cậy trông, bởi con không thể tiếp tục làm bổn phận được.
“Thưa Giám Mục. Con đã một lần chọn lựa và ray rứt hối hận hai mươi bốn năm nay. Lần này con lại phải chọn lựa một lần nữa, phạm vào lề luật Chúa, đó là tự hủy hoại sự sống của mình! Hai chọn lựa này khiến cho con trở thành hoàn toàn bất xứng với ân sủng của Thiên Chúa. Nhưng với Ngài, con vẫn hằng mong Ngài sẽ tha thứ…Vĩnh biệt Ngài. Kẻ tội lỗi.”
Giám Mục Phanxico run rẫy bấm chuông gọi Linh Mục phụ tá. Nhưng ngài lập tức nhận ra rằng: Mọi sự đã muộn! Ngài ngước mắt lên cao làm dấu thánh:
”Lạy Cha, con luôn tin vào lòng yêu thương và tha thứ nơi Cha là vô cùng, xin Cha thứ tha cho một linh hồn tội lỗi, trong thân phận mong manh của con Người, mà ngài đã tạo dựng. Amen!”

TRẠCH AN-TRẦN HỮU HỘI

 

MÚT MÙA LỆ THỦY(Chương 1)

nguyendinhbon

1. Rể hụt
Trưa nhưng không thấy mặt trời. Tư Xứng liêu xiêu men theo con lộ nhỏ đổ đá dăm dọc con kinh Thầy Cai về nhà. Mưa nhỏ nhưng kéo dài đủ vừa ướt áo. Mẹ nó, mưa gì mưa hoài, mưa thúi đất… Ừ, nhưng mà như vậy nhậu mới đã… nhậu mút mùa lệ thủy luôn. Vừa lập cập chưa đến cái thềm nhà, Tư Xứng trợt chưn té cái ịch, y ta vội chụp tay vô cái cột bên hàng ba nhưng chụp hụt nên lăn đùng ra đất…
Có tiếng cười khúc khích trong nhà. Con Mỹ Châu cháu ngoại Tư Xứng chớ ai. Thấy ông ngoại té, nó không la lên mà còn cười, thiệt tổ cha nó. Mà cha nó ở đâu, cha nó là cái thằng Đài Loan xa lơ xa lắc nào đâu, đã chết đường chết chợ, cái thứ ôn dịch hằm bà lằng chứ rể con gì…
Tư Xứng chỏi tay, tính ngồi dậy nhưng cái chất cồn công nghiệp trong mấy xị đế làm y ta đứng lên hổng nổi. Cái sân lót gạch tàu đầy rêu trơn trượt. Ngay lúc đó có tiếng người hỏi: “Chú Tư, có sao hông?” rồi một thanh niên chừng hăm lăm, hăm sáu chạy vô xốc nách Tư Xứng lên. Nó là thằng Út Dân, chắc lội ruộng về, đi ngang thấy ông già vợ hụt té lăn cù nên chạy vô đỡ giùm…
Tư Xứng lè nhè: “Mày đó hả Dân. Tao… tao quắt cần câu rồi!”
Út Dân: “Dạ con, để con đở chú Tư vô nhà. Xỉn rồi ngủ đi chú Tư!”
Tư Xứng: “Cái gì? Tao chưa xỉn đâu à nha. Mày đi đâu dìa dậy? Hay để tao vô nướng con khô lên, hai chú cháu mình mần tiếp!”
Út Dân: “Dạ thôi chú Tư, tạnh trời là con phải đi xịt thuốc. Chú Tư vô ngủ đi…”
Tư Xứng vẫn lè nhè lảm nhảm nhưng ông ta đã muốn cúp bình thiếc, Út Dân phải ráng sức lôi vô nhà. Con Mỹ Châu mắt tròn xoe, nhìn cảnh đó nó cười hihi. Mới 6 tuổi nhưng nó đã thấy hoài cảnh say xỉn xung quanh nên hổng lạ, chỉ mắc cười. Dân nhìn con bé, lần nào cũng vậy, cứ nhìn nó cười là lòng Dân như hẩng đi vì nhớ đến Phượng. Anh hỏi: “Bà ngoại đâu rồi bé Châu?”.
Bé Châu: “Con hổng biết, ngoại kêu con ở nhà, chút ngoại dìa…”
Tư Xứng: “Nữa rồi, riết rồi thành huyện đề luôn… Đi mút mùa lệ thủy chứ chút gì, hết giờ xổ số mới dìa con ơi…”

Giữa chiều. Út Dân đẩy cửa vô nhà, bật đèn lên. Con chó phèn ẳng lên mừng rỡ, Dân vuốt đầu con chó rồi bước vô phòng trong. Trời vẫn u u. Áp thấp nhiệt đới đâu miền ngoài làm cả tuần ở đây mưa suốt. Con lộ mới mở phía sau thành chỗ phơi lúa chung nhưng hễ bà con vừa đem lúa ra thì mây khói đèn ùn ùn kéo đến lại tấp lúa vô, che bạt. Xóm này hổng ai có tiền đi sấy, nhưng lúa ướt, lên mộng thì lại chết vì bán không được nhiêu tiền. Út Dân chợt mắc cười khi nhớ cảnh hồi nảy hai mẹ con Sáu ngọng vừa cào lúa ra thì trời rớt hột. Tức quá, Sáu Ngọng đưa cái cào lúa lên trời, chửi “Ụ á, ằng ời ứng ặt”. Nhà Sáu ngọng nghèo, lại ngọng, hổng ai cưới, chữa hoang được đứa con gái, chỉ có một đưa thôi mới mười bảy tuổi mà nghe nói cũng sắp cho nó lên Sài Gòn kiếm chồng Đài Loan… Cả cái xứ này con gái vừa lớn là ra đi…

Đã quen với cảnh vắng vẻ, Dân thay đồ rồi tự lục nồi cơm nguội nấu từ sáng ra ăn một mình với chảo thịt kho má anh gửi vô cùng rau càng cua hái ngoài vườn. Mỗi lần vô vườn, đem đồ ăn cho con, má anh lại cằn nhằn: “Mầy thương con nào thì nói, tao cưới liền. Không thì xin đi làm việc ngoài thị trấn. Học cho đã rồi thành thằng nông dân ế hả con?”. Dân chỉ cười: “Từ từ má ơi, con chưa muốn vợ!”.
Má anh: “Phải chi hồi đó mày lấy con Phượng giờ có cả đống con rồi. Ừ, mà cũng may, mày mà lấy nó thì nhậu suốt với thằng Tư Xứng, tao hổng ham”…
Phượng là con Tư Xứng, nhỏ hơn Dân ba tuổi. Nhà Dân có một căn ngoài thị trấn chỗ má anh ở với gia đình anh Ba và bán tạp hóa, Dân cũng ở đó nhưng anh thích ở nhà trong vườn hơn. Hồi đó hễ cứ học xong là anh tót về vườn, rồi lớn lên, rồi thương Phượng, rồi ra Cần Thơ học đại học nông nghiệp, rồi lại quay về làm vườn…
Nuốt cục cơm nguội quá hớp làm Dân mắc nghẹn, anh đứng dậy, lấy cho con phèn chén cơm với miếng thịt, sau đó dẹp nồi cơm, chảo thịt kho, đi kiếm nước uống…
Khi đó Dân đang học năm thứ hai, Phượng mười tám tuổi. Không biết ai làm mai, một lần cô điện thoại cho anh, khóc: “Anh dìa nhà đi, em sắp lấy chồng rồi!”. Khi Dân chạy xe máy về thì mọi chuyện đã xong xuôi. Má anh nói: “Tư Xứng gã con Phượng rồi, nó nói mày cứ lo học, chờ mày có mà mọc râu…”.
Thấy vẻ mặt con buồn hiu, bà lại nói: “Thôi, khỏi vô trỏng. Con gái xứ này làm mắm không hết. Học xong về đây coi đứa nào ngộ ngộ tao cưới cho!”
Nhưng Dân vẫn vô nhà vườn. Lúc đó chị Tư chưa có chồng, còn ở đó. Phượng chạy qua, nhà cô chỉ cách nhà Dân mấy căn. Chị Tư cầm cái nón lá, nói: “Chị đi xóm chút. Hai đứa có nói gì thì nói…”.
Phượng chỉ khóc, không nói gì. Dân hỏi: “Bộ bỏ anh thiệt hả? Má nói em lấy chồng Đài Loan?”. Phượng thút thít, ngồi sát vô người Dân:“Ba em gả, em hổng dám cãi, mà cũng tại anh, anh đâu có hứa gì đâu…”. Dân thở dài, anh nói: “Em thấy người đó chưa?” ! Phượng: “Rồi, ổng cũng lớn tuổi, nhưng chưa già như chồng con Thúy”. Dân không biết nói gì nữa, trong mắt người anh yêu, dù hoang mang vẫn ánh lên những tia hy vọng…

Lúc chừng bốn giờ chiều trời hửng nắng chút xíu. Dân nhìn trời, mặc áo ra vườn. Những cây xoài giống Thái Lan trồng ba năm trước giờ đã có khá nhiều trái. Ghe buôn đã bắt đầu ghé nhà, gọi điện thoại chào giá. Lòng Dân cũng vui vui khi nhìn những trái xoài có màu xanh hơi sẫm, phần lớn là bán về thành phố cho người ta ăn sống. Dân xịt thuốc khá chăm chú, trời khá tối mới quay vô. Về ngang nhà Tư Xứng, Dân nhìn thấy một độ nhậu bày ngay hàng ba, có cả thảy bốn người. Đã muốn tránh nhưng ngăt nổi con đường về phải ngang qua nên Dân đành chịu chết.

Tiếng của Năm Sang ào ào: “Dô đây Út, làm vài ly cho ấm bụng mày”.
Dân: “Dạ thôi, anh Năm với chú Tư với mấy đứa nhậu đi, em dìa bên nhà”.
Nhưng Tư Xứng với Năm Sang hổng chịu, Năm Sang chạy ra, lôi Dân vô cho được. Ngoài Tư Xứng, Năm Sang còn có thằng Đen, thằng Minh trong xóm. Cả hai đứa mới 20 tuổi, không học hành, suốt ngày lội ruộng, rảnh thì nhậu… Năm Sang ngoài bốn mươi, thời thanh niên có thân hình rắn chắc và nổi tiếng lặn sâu, dai sức khi đi dở chà thuê nhưng bây giờ rượu đã tàn phá cơ thể anh ta. Có một cây ghita phím lỏm cũ kỹ thằng Minh vác qua. Năm Sang rót một ly đầu, uống cái trót, xong rót ly khác, đưa cho Dân: “Uống đi ông kỹ sư. Rồi tui ca cho nghe!”.
Dân uống nửa ly rượu trắng, nhăn mặt để xuống. Biết tính anh nên không ai ép. Năm Sang: “Đờn đi Đen. Tao ca nha”.
Giọng Năm Sang rất mùi, nhưng giờ có tuổi và có rượu, nó khào khào, càng bắt… “Nhung ơi, sao em nỡ đành đoạn bỏ đi khi con Thu vừa lên hai tuổi.Sao em đành quay lưng ngoảnh mặt khi anh vẫn con tha thiết yêu… em…” Vừa ca, Năm Sang vừa nhìn Dân. Vợ Năm Sang bỏ chồng lên thành phố mấy năm nay, tiếng ca của anh ta mùi mẫn như nước mắt…
Dân cầm nửa ly rượu lên, uống cạn. Bạn nhậu vỗ tay rào rào. Năm Sang càng thấm. Anh ta chuyển qua bài khác “Khoan khoan, xin đừng giết oan một trang hào kiệt, nghe lời anh đình thủ bớ La… Thành!”
Rượu như ngọt hơn. Dân như chợt tỉnh, anh nói với thằng Minh:
“Đừng rót cho anh nữa. Anh không uống nữa”.
Tư Xứng lè nhè: “Mưa mà con, bịnh gì mà cữ, à, con Phượng nó dìa thành phố, bỏ thằng chồng Đài Loan rồi, mày có nghe chưa?”.
Cũng như Năm Sang, Tư Xứng uống rượu hằng ngày, gặp ai cũng gài độ nhậu. Mới chừng năm mươi mà Tư Xứng đã rệu rã, người mềm oặt vì rất ít lao động.
Dân liếc Tư Xứng, nói: “Dạ, con hổng biết chú Tư”.
Năm Sang: “Hí hí, thiệt hôn chú em? Hay nó gọi cho mày rồi?”.
Quay sang Đen: “Ca tiếp nè mày: “Suốt một đời không gian dối…Từng tháng từng ngày mình gian khổ có nhau. Nhưng kể từ đây…, em đã ra đi không trở lại nữa rồi…”
Tư Xứng: “Cái thằng ca thiệt mùi, nhưng hồi xỉn đừng khóc nha mày. Thôi, kệ mẹ nó, cho nó đi mút mùa lệ thủy luôn. Thằng Út, dô, mậy..”

NGUYỄN ĐÌNH BỔN

Truyện dài, đang phát hành, giá bán 45.000đ, mua trực tiếp từ tác giả có chữ ký. Đăng ký mua qua bưu điện cộng cước phí Phát chuyển nhanh + giá bìa. Liên hệ qua nguyendinhbon@gmail.com hoặc ttps://www.facebook.com/dinhbon.nguyendinhbon. Dt 0993882123

hoa lưu ly

dunga

1.
Có bao giờ bạn uống bia với một phụ nữ chưa? Một người-đàn-bà-uống (nhại người-đàn-bà-hát í mà) đích thực, chứ không phải những quý cô làm cảnh cho bữa nhậu.

Nhìn một người đàn bà Tây uống rượu bia, hút thuốc, bạn thấy cũng bình thường như… bông hường phải không. Chắc chắc bạn không gợn gì trong lòng cái suy nghĩ đó là đàn bà… hư, hay nhẹ hơn một chút, đàn bà chơi bời!

Đừng nói chi tới đàn bà Tây, đàn bà Việt thôi, nhưng già già (nghĩa là hết thời xuân sắc rồi), thì chuyện hút thuốc uống rượu lại bình thường. Xóm làng nào cũng có những “bà già chịu chơi” đó, sáng ra, chiều xuống ghé tiệm chạp phô mần vài ly đế là chuyện nhỏ như… ngọn cỏ. Còn hút thuốc, chơi luôn cả điếu sâu kèn Cẩm Lệ mới kinh!

Vậy nhưng sao một quý cô xinh đẹp tự dưng trở thành người không đứng đắn khi cầm ly bia, kẹp điếu thuốc như mọi quý ông! Giống gái làng chơi, các em út quán bar chăng? Hỏi là đã trả lời phải không bạn!

Bạn ủng hộ nam nữ bình quyền, nhưng gai lòng khi thấy một quý cô “giành” mất cái độc quyền của đàn ông: rượu bia, thuốc lá.

2.
Được nhậu (có bia rượu, có thuốc lá) bình đẳng với đàn bà là hạnh phúc của người đàn ông, (chứ không phải là ngược lại). Bạn Heniken ư, nàng sẽ Tiger chai; bạn 3 số ư, nàng sẽ Con Mèo; cuối buổi, Campuchia, nàng sẽ móc ví, góp độ như mọi chàng khác.

Bạn sẽ không lo hỏi han suốt buổi: “Em ăn gì?”, “Em uống Coca nhé!”

Bạn không phải lo đưa nàng về, vì có khi xét về tửu lượng nàng dư sức bỏ bạn vào trong túi (túi xách, tất nhiên, hổng phải túi quần, hehe).

Và tất nhiên, nàng vẫn là đàn bà với đủ nét quyến rũ, mê hoặc cả đám đàn ông!

Há không thú vị sao?

3.
Chỉ có một thắc mắc nhỏ cho người: khói thuốc có ám vào người nàng, tóc nàng làm mất đi hương thơm của đàn bà. Vì sao, vì sau một bữa nhậu tè le tét lét, ngày hôm sau, ngửi cái áo của mình, nghe sặc sụa mùi khói thuốc!

Chỉ có một thắc mắc nhỏ cho mình: hổng biết có giữ nổi phong độ để nhậu với các nàng, chớ nửa chừng say bét nhè mà quý nàng vẫn tỉnh bơ thì… xong phim!

Để phân biệt với các chàng Lưu Linh, hãy gọi nàng là Hoa Lưu Ly.

DU NGÃ

là em nhan sắc thị mầu

10735644_826194720769236_378143114_n (1)

thí chủ không nên đi chùa
nghiệp-tội nghiệp-tội nghiệp-tội
ra đường cũng nên quấn khăn
không thì mai ra sám hối

cái mặt có buồn che lại
không vui vì dấu dung nhan
cũng vẫn còn hương trầm cỏ
bay bay giữa phố xa ngàn

dẫu sao không là cơn bão
xô ngã thành quách nhân gian
cùng lắm sẽ như là sóng
làm nước ướt nhánh linh lan

thí chủ hôm nào xuống phố
dĩ nhiên mắt có long lanh
xin nhớ đừng như mắt liếc
bỏ ngày mê mị mầu xanh

Ngô Yên Thái

TƯƠNG LAI

chuvuongmien

Rồi loài chim cũng có ngày bỏ hót
Trở về rừng sống lại thuở sơ khai
Rồi kiếp người cũng có ngày chấm dứt
Những buồn vui cũng phơ phất bên ngoài

Rồi ta cũng có ngày nhắm mắt
Tuổi chất chồng phủ hết lớp tương lai
Ôi dĩ vãng đầy sa mù lãng đãng
Trôi trong mưa như những củ khoai mài

Đi với đến cũng con đường như thế
Nước quên nguồn hun hút có gì vui
Trăng với sao thì đời đời vô định
Gió vi vu thổi mãi cỏ bên đồi

Một tấm thân vùi trong bèo dạt
Dăm vài năm một cuộc gió đưa
Không quay lại nhưng biết rằng mất cả
Chút quê hương còn nhàn nhạt mơ hồ

Ta đi bộ vào tương lai hoang vắng
Trên cột đèn sót lại tiếng quạ kêu
Rồi tàn năm cành cũng rơi hết lá
Trơ lại cây gầy guộc đứng tiêu điều


Chớp mắt thì đã thành kẻ lạ
Giữa đất trời , giữa con phố đìu hiu…

CHU VƯƠNG MIỆN

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, “Một kế hoạch khủng bố đã định liệu trước”

nuocmattruocconmua
larryengelmann
nguyenbatracnmtcm

BÁC SĨ BRUCE BRANSON
“Một kế hoạch khủng bố đã định liệu trước”

Vào lúc Hiệp định Ba Lê ký kết, quân đội Mỹ sửa soạn rời Việt Nam, bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ liên lạc với bệnh viện Cơ Đốc tại Trung tâm Sài
Gòn để xem bệnh viện này có thể nhận chăm sóc cho các kiều dân thuộc Tòa Đại sứ Mỹ không. Bấy giờ bệnh viện này chỉ dành cho người Việt. Vì đó là một bệnh viện tương đối nhỏ, ban Quản đốc trả lời rằng nếu có một địa điểm rộng hơn, và nếu được tăng cường nhân viên thì có thể phụ trách được. Trong lúc này bệnh viện “Dã chiến số 3” của Quân đội Hoa Kỳ ở cách phi trường Tân Sơn Nhất chừng một dặm đã dọn đi. Vì vậy người ta thoả thuận cho di chuyển toàn bộ bệnh viện về đó. Chỗ này trở thành địa điểm mới của bệnh viện Cơ Đốc Saigon.

Một trong những yêu cầu của tòa Đại sứ là bệnh viện cần phải có chuyên viên các ngành giải phẫu, chỉnh hình và nội khoa. Bấy giờ bệnh viện đã có chuyên viên từ Hoa Kỳ sang phụ trách về chỉnh hình, về chấn thương, tất nhiên, và về khoa gây mê, nhưng lại không có chuyên viên Hoa Kỳ làm thường trực và toàn thời gian về giải phẫu hoặc nội khoa. Vì thế Khoa trưởng Y Khoa thuộc Đại học Loma Linda đã bay sang Việt Nam gặp giới chức Tòa Đại sứ Hoa Kỳ cùng với một số người thuộc Hội truyền giáo Cơ Đốc, rồi ký một khế ước thỏa thuận cung cấp nhân viên cho bệnh viện này. Bấy giờ tôi là Trưởng khu Giải phẫu của Trung tâm Y khoa thuộc Đại học Loma Linda. Chúng tôi tuần tự sang Việt Nam mỗi phiên ba tháng. Do đó vào năm 1973 tôi sang bên ấy theo phiên thường lệ cùng một số khá đông người khác.

Bệnh viện này thường kín chỗ mặc dầu bệnh xá khá lớn. Có từ hai đến ba khu dành riêng cho kiều dân Mỹ, tất cả số còn lại dành cho người Việt. Chính phủ Việt Nam đòi hỏi bốn mươi phần trăm tổng số bệnh nhân mà chúng tôi chăm sóc phải là các bệnh nhân nghèo. Còn các bệnh nhân khác là những bệnh nhân có thể trả một phần hoặc toàn thể bệnh phí. Riêng kiều dân Mỹ thì chi phí sẽ được chính phủ Mỹ bồi hoàn cho bệnh viện. Đối với loại bệnh nhân này, khi họ tương đối bình phục để có thể di chuyển, và nếu đã gần thời hạn về xứ, thì chuyển vận quân đội hoặc các toán cứu thương sẽ đưa họ sang Phi Luật Tân bằng phi cơ.

Vào năm 1973 mọi việc khá ổn. Họ còn đưa được tôi ra cả Đà Nẵng và Huế. Tại Đà Nẵng chúng tôi cũng có một số bệnh xá giáo vụ và các cô nhi viện. Mặc dầu du kích Việt Cộng có mặt tại vùng đồi núi, nhưng tình hình phía Bắc lúc ấy cũng khá ổn định. Tại các thành phố, chính phủ Nam Việt Nam đều kiểm soát được.

Vào tháng Ba năm 1975 mọi sự bắt đầu đổ vỡ. Đà Nẵng trở nên náo loạn khi Bắc quân bắt đầu một cuộc tiến công nghiêm trọng. Bấy giờ nhằm phiên tôi sang làm việc ở Việt Nam. Người ta đang rối rắm không biết có nên tiếp tục mở cửa nhà thương ở Saigon hay không. Một số nhân viên Hoa Kỳ quyết định ra đi đã tạo nên khoảng trống trong khu giải phẫu. Họ sang Hồng Kông chờ đó xem tình hình ra sao. Chúng tôi nhận được thông báo khẩn của tòa Đại sứ là khu giải phẫu thiếu người, vì thế tôi quyết định sang Việt Nam để điền vào chỗ trống.

Bấy giờ tôi không nghĩ là chúng tôi nhận được tin tức đầy đủ và chính xác. Mọi sự đều mơ hồ. Tuy nhiên Saigon vẫn có vẻ tương đối an toàn. Phải nhớ rằng Nam Vang đã bị bao vây khoảng một năm trời, từ sáu tháng cho đến một năm, thành phố này bị vây hãm, nhưng toà Đại sứ Hoa Kỳ ở đó vẫn thực hiện được một cuộc ra đi trong trật tự, cho nên, ở Saigon lẫn tại Đại học Loma Linda, người ta cho là các vụ đụng độ ở phía Bắc miền Nam Việt Nam sẽ được kiềm chế, tình trạng không có gì quá trầm trọng.

Lúc ấy chúng tôi vẫn có thể liên lạc được về Mỹ bằng điện thoại, nên tôi vẫn thường gọi về Đại học Loma Linda, về vợ tôi và gia đình tôi. Nhưng sau đó việc liên lạc điện thoại trở nên khó khăn. Chúng tôi bắt đầu phải gọi qua vô tuyến điện, từ đó người ta liên lạc với người nhận tại California, rồi nối đường dây điện thoại, chúng tôi mới nói chuyện được. Nhờ đó chúng tôi vẫn có thể giữ được phương tiện truyền thông.

Trong bệnh viện, có mở một trường đào tạo y tá. Khi miền quê trở nên bất ổn, người ta cho các học viên về nhà. Các học viên y tá quê quán tại nhiều miền khác nhau, họ đều lo lắng về gia đình, không biết thân nhân ra sao, nên đòi về. Vì vậy người ta phải đóng lớp học, tạm cho nghỉ. Rồi chừng hai tuần sau khi tôi đến Việt Nam lần này, các cô học viên y tá quê quán vùng ngoài – tại Nha Trang và dọc vùng duyên hải – đang lục tục trở lại bệnh viện. Họ cho biết cuộc tiến công của Việt cộng quá nhanh so với sự loan báo của Đài phát thanh miền Nam Việt Nam. Họ nói họ đã chứng kiến nhiều cuộc tàn sát, đã phải lặn lội đi đêm, ban ngày phải ẩn náu mới về lại được. Họ kể nhiều chuyện khiếp đảm. Họ đã chứng kiến nhiều vụ tàn sát tập thể bởi quân Bắc Việt ở gần Vũng Tàu.

Có nhiều vụ đụng trận dọc Duyên Hải: Hai mươi cô y tá này phải đi bộ, chạy tán loạn trong suốt thời gian từ một tuần đến mười ngày. Các câu chuyện họ kể thực ghê sợ. Không ai cảm thấy có thể tin được những gì Đài phát thanh chính quyền loan báo nữa.

Họ kể việc Bắc quân tiến vào các làng hoặc các tỉnh, lùa những người mà chúng nghĩ là các viên chức chỉ huy rồi bắn, hoặc chặt đầu. Hoặc nếu bắt được lính miền Nam làm tù binh, chúng cũng bắt sắp hàng rồi bắn. Suốt vùng Duyên Hải đều xảy ra chuyện như thế. Tình trạng giống như có một kế hoạch khủng bố đã được định trước. Việc này làm chúng tôi ở Saigon đâm lo lắng, vì lẽ ai chẳng biết trước đây bệnh viện chúng tôi là một bệnh viện quân đội, chúng tôi săn sóc cho người Mỹ, và trong bệnh viện có rất nhiều y tá và Bác sĩ Mỹ. Chúng tôi cũng khám phá được một số không ít những người sống ở các vùng lân cận đều là cảm tình viên Việt cộng. Một số chính là nhân viên bệnh viện hoặc có bạn thân làm trong bệnh viện. Việt cộng đã cho họ biết rằng khi quân đội Bắc Việt tiến đến, một số nhân viên bệnh viện có tên trong sổ đen sẽ bị hành quyết. Đa số nhân viên quản trị bệnh viện đều có tên trong danh sách này.

Điều đó làm mọi người bất an, người ta không thể biết ai là bạn, ai làm việc cho Việt cộng. Tôi nghĩ nhiều người có tinh thần phù thịnh, họ sẽ đứng về phe chiến thắng, bất kể phe nào thắng. Do đó chúng tôi trình bày việc này với Tòa Đại sứ. Người ta bảo “cứ yên tâm, khi thực sự cần di tản, chúng tôi sẽ tìm mọi cách giúp quý vị đưa những người bị nhiều nguy cơ nhất ra đi”.

Lúc đó mọi người tại Saigon đều mong Quốc Hội Hoa Kỳ chấp thuận các ngân khoản phụ trội để tăng viện cho quân đội miền Nam. Nhưng khi liên lạc qua vô tuyến điện, nói chuyện với thân hữu tại Hoa Kỳ, hiển nhiên những gì chúng tôi nghe qua truyền hình truyền thanh đều khác hẳn những gì đang xảy ra tại Mỹ. Có lẽ nguồn tin chính xác nhất chỉ là đài BBC. Còn Đài Phát Thanh Quân Đội địa phương bây giờ suốt ngày chỉ chơi nhạc, không loan báo điều gì có thực về tình hình xảy ra.

Đến khi mọi việc đã rõ rệt, bên Đại học Loma Linda thấy chắc chắn Quốc Hội sẽ không bỏ phiếu cấp thêm tiền nữa, họ bắt đầu thúc đẩy chúng tôi di tản.

Chúng tôi vẫn nấn ná ở lại khoảng chừng sáu đến tám tuần nữa. Trong khi một số nhân viên quản trị bệnh viện sang Tân Gia Ba để lượng giá tình hình, thì tại phòng giải phẫu, chúng tôi bắt đầu tiếp nhận nhiều bệnh nhân bị thương do các trận du kích và nhiều trận xáp lá cà tại vùng ngoại vi thành phố. Sự kiện này mơ hồ cho chúng tôi hiểu Việt cộng đã tới nơi. Chúng tôi hội ý với cấp lãnh đạo bệnh viện. Ho bèn liên lạc với Tòa Đại sứ để tìm hiểu xem đã có kế hoạch ấn định khi cần phải di tản chưa. Người ta không bao giờ nhận được những câu trả lời thẳng thắn. Đại sứ nhất định không chịu bộc lộ điều gì chứng tỏ tình hình lộn xộn. Ông không muốn rối loạn bộc phát trong thành phố, nên ông không cho phép bắt đầu di tản.

Tuy nhiên tại Tòa Đại sứ có một Trung tướng bắt đầu trực tiếp phụ trách vấn đề. Sau này chúng tôi hiểu là tại Hoa Thịnh Đốn đã có cuộc tranh luận xảy ra giữa Bộ Ngoại Giao và Bộ Quốc Phòng. Sau cùng Bộ Quốc Phòng bắt đầu trực tiếp nắm mọi việc. Vào lúc này, hãy còn khoảng mười lăm ngàn người Mỹ quân đội nhưng mặc thường phục, đang làm nhiều công tác quan trọng khác nhau ở Việt Nam. Người ta ý thức là phải bắt đầu di tản những người này. Rất nhiều người trong số ấy đã lấy vợ Việt, có con cái, thân nhân Việt Nam. Cho nên cuộc di tản không vận bắt đầu vào khoảng 15 tháng Tư, tôi nhớ như thế, khi tình hình bắt đầu chuyển động.

Một số rất đông người Việt đã tới bệnh viện yêu cầu chúng tôi giúp họ đi. Chúng tôi có một số bạn hữu Việt Nam từng ở Mỹ. Có hai sinh viên Việt Nam đã học Y khoa ở Mỹ. Một người là con trai Khoa trưởng Y khoa Đại học Saigon, một người nữa là con trai Chánh án Tòa Thượng Thẩm Saigon. Họ đều khẩn thiết mong đoàn tụ với gia đình lúc bấy giờ đã ở Mỹ. Vì thế chúng tôi bắt đầu đi một loạt đến Tòa Đại sứ, rồi đến phi trường.

Bấy giờ Tòa Đại sứ chỉ cho những người Việt thân nhân của kiều dân Mỹ di tản. Họ đang cố tìm cách di tản một số lượng khá lớn kiều dân Mỹ. Do dó một số người trong nhà thương chúng tôi bắt đầu tìm cách làm thủ tục nhận con nuôi người Việt. Họ rời phòng mổ, đứng sắp hàng xin giấy tờ để giúp một số người Việt ra đi với tư cách thân nhân. Tôi nhớ có tám người Mỹ trong nhà thương đã làm thủ tục chính thức nhận vào khoảng năm mươi đến sáu mươi người Việt làm con nuôi, trong số đó có cả những người lớn tuổi hơn chúng tôi. Chúng tôi cũng phải cam kết sẽ bảo trợ họ, lo nơi ăn chốn ở và săn sóc cho họ.

Cũng suốt thời gian này chúng tôi cố di tản các bệnh nhân Mỹ, các chuyến bay tải thương vẫn tiến triển nên chúng tôi có thể đưa họ vào các xe cứu thương. Trong các xe đó chúng tôi cho nhiều người Việt đóng vai y tá, hoặc đóng vai người phục dịch, cứ mỗi xe một bệnh nhân người Mỹ, thêm vào càng nhiều người Việt càng tốt. Lính gác phi trường thấy xe cứu thương với dây nhợ truyền nước biển, bông băng đủ thứ là cho phép chạy vào. Tất nhiên những người – gọi – là – nhân – viên – phục – dịch không ai ra về nữa. Họ ở lại với bệnh nhân và bay thẳng sang Phi Luật Tân. Vào thời điểm này, việc ấy là bất hợp pháp, vì lẽ chỉ thân nhân người Mỹ mới được cho đi thôi, tuy nhiên người ta cũng đồng ý cho chúng tôi gửi những người phục dịch Việt Nam kèm theo. Song le chẳng bao lâu chúng tôi hết sạch bệnh nhân Mỹ. Chúng tôi đành nài nỉ Ban chỉ huy tải thương tại Phi Luật Tân cứ cho tiếp tục các chuyến bay ngõ hầu chúng tôi gửi thêm người đi, gồm các nhân viên bệnh viện và những người chịu nguy cơ cao độ.

Do dó, trong vài ngày, họ cũng khứng chịu cho linh động như thế. Tuy nhiên sau đó họ bảo “Chúng tôi không thể tiếp tục. Vì không còn bệnh nhân Mỹ trên chuyến bay, người ta không cho giấy phép nữa”.

Vì thế Ralph Watts, Vụ trưởng Giáo vụ Cơ Đốc lặn lội sang Tân Gia Ba thương lượng, cuối cùng đạt được thoả thuận của Đại diện Bộ Quốc Phòng tại Tòa Đại sứ cho phép di tản một số nhân viên người Việt làm cho bệnh viện. Lúc đầu, họ đồng ý cho chúng tôi một số chỗ trên các chuyến bay dành để chở những người thực sự cần di tản (gồm khá nhiều người đã cộng tác với Trung ương Tinh báo Mỹ, những người này được hứa hẹn di tản khi tình trạng xảy ra như vậy). Nhưng rồi tình hình đổ vỡ nhanh chóng quá, người ta không kịp đưa đi hết nên đành bỏ lại rất đông. Tòa Đại sứ hoàn toàn thiếu một kế hoạch di tản có tính thực tế, nên đã tạo nhiều việc bất ưng, họ đã thất bại trong việc giữ lời hứa di tản các người Việt chịu nhiều đe doạ. Tôi chắc chắn việc ấy làm cho những người chúng ta không đưa đi được rất đau buồn, chua xót.

Vụ trưởng Ralph Watts yêu cầu người trong bệnh viện phải thiết lập danh sách theo từng khu, làm chúng tôi khó đương đầu nổi trách nhiệm quyết định ai đi ai ở. Chúng tôi thức suốt đêm, cố lập danh sách ấy. Tới nửa đêm, họ điện thoại cho Ralph Watts mà bảo: “Chúng tôi không thể làm nổi nữa. Công việc này thê thảm quá”. Ông trả lời: “Chỉ quý vị mới biết rõ những người nào chịu nhiều nguy hiểm nhất”. Ông yêu cầu họ quay lại tiếp tục công việc. Sáng hôm sau họ lập được danh sách ấy. Nhưng việc lập danh sách này quả là một kinh nghiệm thương tâm.

Chúng tôi ra đi ngày hai mươi lăm. Saigon sụp đổ ngày ba mươi. Trước đó chúng tôi đã chuyển số bệnh nhân còn lại sang các bệnh viện thành phố trong ba ngày chót để chắc chắn chúng tôi không bỏ lại các bệnh nhân không ai coi sóc. Có chừng mười sinh viên Đại học Y khoa luân phiên thực tập tại bệnh viện chúng tôi, hầu hết đều quyết định ra đi với chúng tôi. Số còn lại đã phụ giúp việc chuyển bệnh nhân sang các bệnh viện khác. Cũng nhiều người không muốn đi, vì không muốn bỏ gia đình lại. Một cán sự phòng thí nghiệm người Gia Nã Đại cũng quyết định ở lại. Theo tôi nhớ, anh quyết định như thế vì anh cảm thấy có thể giúp đỡ việc bảo vệ số nhân viên còn lại, tối thiểu cũng có thể xem chừng những gì xảy ra tại bệnh viện và duy trì phần nào sự kiểm soát trong trường hợp xảy ra náo loạn. Cảnh sát Thành phố bây giờ không cho nhân viên phòng vệ canh gác nữa. Ngoài cổng bệnh viện đã có hàng trăm người cố tìm cách lọt vào vì họ nghĩ họ sẽ được an toàn hơn ở tại nhà. Mọi sự bấy giờ trở nên bất ổn. Tôi nghĩ ai cũng lo xảy ra bạo động. Tuy nhiên những vụ đó không hề xảy ra trong thành phố.

Trong ngày cuối của chúng tôi ở Saigon, chúng tôi cho cứ một người Mỹ vào một chiếc xe cứu thương, tổng cộng có tám chiếc, rồi chúng tôi ấn vào xe cứu thương các nhân viên người Việt làm cho bệnh viện. Chúng tôi đã được chấp thuận cho đi toàn danh sách những người ấy.

Có nhiều người phải ở lại vì chúng tôi không thể xin đủ danh sách ở tòa Đại sứ, người ta chỉ cho một số có hạn. Tất nhiên những người bị ở lại đã phải chịu nhiều áp lực nặng nề.

Đưa đoàn xe cứu thương ra khỏi cổng bệnh viện là một mối kinh hãi. Khi còi cứu thương bắt đầu hú, vừa đóng cửa xe xuống thì khoảng ba mươi đến bốn mươi nhân viên của chính bệnh viện chúng tôi ùa đến chen vào xe. Tinh trạng xảy ra gần như bạo động. Chuyện duy nhất có thể làm được bây giờ là nhấn hết ga mà chạy, bởi lẽ nếu chần chờ thêm, chắc chắn chúng tôi sẽ không một ai đi đuợc. Lúc ấy nhiều người kêu thét thất thanh, khóc nức nở.

Chúng tôi chỉ thông báo việc ra đi cho những người có tên trong danh sách được chấp thuận đưa đi. Chúng tôi dặn riêng họ đừng nói hở cho ai biết. Chúng tôi cho họ hai giờ đồng hồ về nhà sửa soạn đưa vợ con và những thân nhân được phép đi với họ. Như thế tất cả những người còn lại thực ra không hay biết gì, mãi đến khi chúng tôi cho xếp người vào xe cứu thương. Việc xảy ra thực khổ tâm cho hết cả mọi người. Nhiều người bị bỏ lại chính là những bạn bè thân, hoặc thân nhân của những người ngồi trên xe cứu thương. Một trong những việc tàn khốc nhất, là khi phải quyết định cho ai có tên trong danh sách.

Mặc dầu đã được chấp thuận của Bộ Quốc Phòng Mỹ, nhưng lọt qua cổng phi trường Tân Sơn Nhất với các lính gác Nam Việt Nam cũng còn là việc khó khăn. Trong phi trường tất nhiên đã có nhiều vận tải cơ lớn đến, bên ngoài có hàng nghìn người vịn lên cố trèo vào. VI thế việc đưa đoàn xe cứu thương vào phi trường rất vất vả. Tuy nhiên, chúng tôi đã khai thác hết lợi điểm của còi hụ và đèn chớp của những xe cứu thương.

Trong phi trường, các khu vực đưa người được Thủy quân Lục chiến thiết lập. Rất thiếu nước, tất nhiên không có nhà cửa gì, cho nên đêm đầu tiên chúng tôi phải ngủ ở vỉa hè, trên mặt đường trong phi trường. Sáng hôm sau tên chúng tôi được đưa vào danh sách chuyến bay. Từng hàng dài người đứng nhẫn nại chờ chuyển vào địa điểm lên máy bay. Trong khi đó Thủy quân Lục chiến soát xét kỹ lưỡng mọi hành lý để chắc chắn không có vũ khí và bất cứ thứ gì nguy hại. Trong lúc đứng sắp hàng, chúng tôi có thể nghe tiếng súng và những vụ đụng trận bên ngoài phi trường. Do đó chúng tôi biết Việt Cộng đã đến rất gần.

Chúng tôi rời Việt Nam bằng chuyến bay C-130. Họ đưa chúng tôi sang đảo Guam. Từ đấy người ta thu xếp cho nhóm chúng tôi lên hai chuyến bay phản lực 747. Hãng hàng không Pan-Am đã tặng hai chuyến bay này để chở người. Chúng tôi hạ cánh xuống trại Pendleton. Đại học Loma Linda đã dọn trống các phòng tập thể dục, bố trí các giường vải để tiếp đón chúng tôi. Ngoài ra họ cũng dựng lều cho chúng tôi theo kiểu cắm trại. Tổng cộng tôi nghĩ chúng tôi đã đưa được khoảng bốn trăm hai mươi lăm người.

Thế còn những người làm việc với chúng tôi bị kẹt lại sau ngày 30 tháng Tư, số phận ra sao? Vâng, rất nhiều người đã bị đưa vào các trại tập trung ở trong rừng mà họ gọi là “trại cải tạo”. Một số thân nhân của họ đã gửi thư sang Pháp rồi chuyển được sang Mỹ. Một số người bị tù trong các trại cải tạo ấy từ hai đến ba năm. Khá nhiều người khác bắt đầu vượt thoát bằng tàu sang Mã Lai hoặc Thái Lan. Trong mười năm qua, một dòng người Việt không ngớt xuất hiện ở California. Họ là những người vượt biên bằng tàu, đến được các trại tỵ nạn, rồi từ đó chờ tiêu chuẩn nhập nội Hoa Kỳ.

Tất cả là một sự thể tuyệt đối đau thương. Tôi nghĩ đa số người Mỹ đều cho là chúng ta đã đối xử tệ bạc đối với người Việt Nam. Chúng ta cũng đã có một số cảm giác mãnh liệt tại Hoa Kỳ về cuộc chiến Việt Nam. Cảm giác của đa số những người từng có mặt ở Việt Nam là: Nếu chúng ta đã định duy trì miền Nam Việt Nam như một tiền đồn dân chủ của thế giới tự do, nếu chúng ta đã chiến đấu để thực hiện việc ấy, thì chúng ta phải đến mà thực hiện công tác một cách đúng đắn. Tuy nhiên trong toàn bộ công tác này, chúng ta đã tự đặt ra những hạn chế cho chính chúng ta. Chúng ta đã loan báo trước rằng chúng ta sẽ không bỏ bom biên giới Trung quốc, nên Trung quốc cứ thế mà đổ chiến cụ, đạn dược qua ngã biên giới. Chúng ta không ngừng loan báo trước tất cả những gì chúng ta sẽ làm. Và Bắc Việt cũng tận tình khai thác từng điểm một trong lợi thế đó.

Tôi nghĩ rằng tôi cũng cảm thấy như nhiều ngưòi khác – là chiến đấu một cuộc chiến nửa vời, với những giới hạn, thì gần như không thể nào thắng. Kết quả xảy ra là cuộc chiến đã kéo dài suốt năm này sang năm khác, chung cuộc tổn phí quá nhiều sinh mạng – thay vì tấn công nhanh, gọn và kết thúc.

Nếu người ta không thực hiện được như thế, thì thà đừng mở cuộc chiến cho xong.