Món nợ tuổi hai mươi

trantrungdao

(Đọc “Mãi mãi tuổi hai mươi”, nhật ký của Nguyễn Văn Thạc, người lính miền Bắc chết ở chiến trường Quảng Trị 1972)
Tôi đọc nhật ký ‘Mãi mãi tuổi hai mươi’ của anh Nguyễn Văn Thạc, người lính miền Bắc chết ở Quảng Trị lần đầu trên chuyến bay từ California về lại Boston một thời gian ngắn sau khi phát hành 2005. Nhật ký dày 296 trang, tính cả phần giới thiệu, bắt đầu từ ngày 2 tháng 10 năm 1971, 28 ngày sau khi anh nhập ngũ, đến trang cuối cùng ở Ngã Ba Đồng Lộc ngày 3 tháng 6 năm 1972. Tôi đã có lần đề cập đến Mãi mãi tuổi hai mươi trong một bài viết khác,nhân dịp 30-4 muốn viết một bài riêng.
Anh Nguyễn Văn Thạc sinh ngày 14 tháng 10 năm 1952 tại làng Bưởi, Hà Nội. Cha mẹ anh có đến 14 người con, vốn là chủ nhân một xưởng dệt nhỏ, có thuê người làm nhưng khi chiến tranh bùng nổ phải bán hết và dọn về xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm. Gia đình đông đúc, đời sống khó khăn, mẹ anh phải đi cắt cỏ bán lấy tiền. Dù nghèo khó, anh Thạc học rất giỏi tất cả các môn, nhất là môn văn. Ngày 6 tháng 9 năm 1971, anh gia nhập bộ đội. Tháng 4 năm 1972 anh được đưa vào Nam. Anh viết cuốn nhật ký từ ngày 2 tháng 10 năm 1971 đến ngày 3 tháng 6 năm 1972. Trước khi tham gia chiến trường Quảng Trị, anh đã gửi cuốn nhật ký cùng nhiều lá thư về cho anh trai từ ngã ba Đồng Lộc. Hai tháng sau, ngày 30 tháng 7 năm 1972 anh chết tại mặt trận Quảng Trị sau khi chưa tròn một năm trong đời quân ngũ.Các hệ thống truyền thông của Đảng tuyên truyền rằng trong “một trận đánh ác liệt bên Thành cổ Quảng Trị, chiến sĩ thông tin Nguyễn Văn Thạc đã bị trọng thương mảnh pháo đã cắt ngang đùi trái trận chiến đẫm máu và hy sinh tại Cổ Thành Quảng Trị”.
Thật ra, theo lời anh Nguyễn Văn Hà người thương binh cùng trung đội truyền tin và cũng là người đã mai táng anh Nguyễn Văn Thạc kể lại với phóng viên báo Tiền Phong, anh Thạc không tham gia trận chiến đẫm máu tại Cổ Thành và cũng chưa bắn một viên đạn nào. Khẩu AK, bốn băng đạn vẫn còn nguyên vẹn. Sau khi vượt sông Ba Lòng, anh Thạc là người đầu tiên trong đơn vị bị pháo binh VNCH bắn trúng. Cũng theo lời anh Nguyễn Văn Hà, anh Thạc còn rất tỉnh táo tuy bị thương ở đùi. Máu ra nhiều nhưng không có y tá để giúp đỡ, không một viên thuốc cầm máu hay giảm đau, và như thế anh Thạc ra máu cho đến chết.
Anh đặt tên nhật ký là “Chuyện đời” nhưng được thay bằng “Mãi mãi tuổi hai mươi” khi phát hành vào năm 2005. Giống như “Nhật ký Đặng Thùy Trâm”, nhật ký “Mãi mãi tuổi hai mươi” của Nguyễn Văn Thạc qua bộ máy tuyên truyền của đảng đã trở một tác phẩm có số lượng phát hành kỷ lục và gây tiếng vang lớn tại Việt Nam.
Anh Thạc thú nhận “ước mơ thầm kín” của anh là trở thành nhà văn. Cũng vì tập làm nhà văn nên văn trong nhật ký của anh không có được nét tự nhiên. Anh tả cảnh hơi nhiều. Ví dụ, ngày 20 tháng 11 năm 1971 anh tả trong nhật ký: “Cơn gió thổi từ phía đồi mặt trời qua hồ cá. Sương mù thốc nhẹ lên rặng phi lao ven đường… Con trâu đi ngang, con cá trắng bơi dọc, và những vòng sóng hình tròn tỏa rộng chung quanh… Sự sống hiện ra ở khắp mọi chiều. Và chỗ nào mà chẳng có mầm xanh, chỗ nào mà chẳng có giọt nắng hình quả trứng lăn nghiêng”; hay ngày 4 tháng 2 năm 1972, thay vì ghi lại những gì xảy ra trong ngày, anh tả một cơn gió mùa: “Cả rừng bạch đàn vặn mình. Những cây bạch đàn thân nâu lốm đốm trắng nghiêng ngả. Những chiếc lá thon dài nằm ngang trong gió. Thấp thoáng trong rừng những mái nhà tranh và những lều bạt. Gió mạnh phần phật những tấm tăng đã cũ. Gió reo vù vù…”
Ngoại trừ tình yêu say đắm dành cho chị Như Anh mà tôi sẽ không nhắc trong bài viết này vì tôn trọng tình cảm riêng tư, anh Thạc là sản phẩm kiểu mẫu của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Anh không được đi ra nước ngoài dù đi Liên Xô, đi Tiệp. Anh chỉ nghe đài phát thanh Hà Nội, học tập lý luận chính trị từ các bài diễn văn của Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, đọc truyện dịch của các tác giả Liên Xô, đọc thơ Tố Hữu, Phạm Tiến Duật, các nhà thơ Liên Xô, ngoài ra không có một nguồn tư liệu nào khác. Anh tả nhiều hơn viết, một phần cũng vì ở tuổi còn nhỏ sự gần gũi và va chạm với xã hội còn khá ít. Thần tượng tuổi trẻ của anh Thạc là Paven, tức Pavel Korchagin trong Thép đã tôi thế đấy của Nikolai Ostrovsky. Lại cũng Paven!
Ngày 24 tháng 12 năm 1971 anh viết về thần tượng Paven của anh: “Dạo ấy Paven mới 24 tuổi. Ba năm của thời 20, anh đã sống say sưa, sống gấp gáp và mạnh mẽ. Cưỡi trên lưng con ngựa cụt hai tai trong lữ đoàn Buđionni anh đã đi khắp miền đất nước. Cuộc sống của anh là một dòng mùa xuân bất tận giữa cuộc đời. Đó là cuộc sống của người Đảng viên trẻ tuổi, cuộc sống của một chiến sỹ Hồng quân. Mình thèm khát được sống như thế. Sống trọn vẹn đời mình cho Đảng, cho giai cấp. Sống vững vàng trước những cơn bão táp của cách mạng và của cuộc đời riêng.”
“Thép đã tôi thế đấy” là một trong những tác phẩm anh Thạc mang theo trên đường vào Nam và được anh trích dẫn khá nhiều. Anh xem đó như là nhựa sống: “Mêrétxép và Paven… Những người đầy nghị lực và có thể nói được họ đã đi tới mục đích của đời mình!” Anh hổ thẹn vì chưa được thành đảng viên CS giống như Paven: “Hôm nay, lần đầu tiên trong đời mình cảm thấy hổ thẹn với mọi người, hổ thẹn với Paven, Pavơlusa thân yêu. Mình chưa phải là một đảng viên!”.
Ước mơ của chàng thanh niên Việt Nam 20 tuổi Nguyễn Văn Thạc là được sống như Paven Korchagin. Chẳng lẽ anh không biết một số rất đông anh hùng dân tộc Việt Nam, đã sống, chiến đấu và hy sinh cho độc lập tự do của đất nước trong khi còn rất trẻ. Trần Quốc Toản (1267-1285) “phá cường địch báo hoàng ân” năm 18 tuổi. Trần Bình Trọng (1259-1285) “thà làm quỷ nước Nam hơn làm vua đất Bắc” khi 26 tuổi. Nguyễn Thái Học (1902-1930)“chết vì tổ quốc chết vinh quang” lúc 28 tuổi. Cuộc đời họ là những bản hùng ca tuyệt vời gấp ngàn lần hơn anh chàng Nikolai Ostrovsky bị tẩy não kia.
Đọc phóng sự Vua An Nam (Le Roi d’Annam, Nguyễn Duy Chính dịch) của ký giả Jean Locquart đăng trên Le Monde ngày 23 tháng 2 năm 1889 để biết tuổi trẻ Việt Nam đã sống và chết trung liệt như thế nào. Ký giả Jean Locquart tường thuật khá chi tiết cảnh biệt đội Pháp do Đại úy Boulangier chỉ huy bắt sống vua Hàm Nghi chiều ngày 1 tháng 11 năm 1888:
“Một buổi chiều biệt đội của đại úy được tin là sau khi bị đội lính dõng thiện chiến truy kích liên tục, cựu hoàng lẫn trốn cùng với người tùy viên là Tôn Thất Thiệp con trai cựu phụ chính Thuyết tại một làng hẻo lánh và kín đáo trong rừng núi cao nguyên Giai. Biệt đội của Boulangier liền bao vây nơi nhà vua ở và khi cửa chính bị đạp tung ra thì thấy Thiệp đã thức giấc vì tiếng động của vụ tấn công còn vua Hàm Nghi đang ngủ say ở bên cạnh. Cả hai người đều để gươm trần ở bên cạnh và trong tay có khí giới nhưng không chống trả được gì. Thấy chủ soái thất thế, và để tránh cảnh tủi nhục khi bị bắt đem đi, Thiệp toan đâm chết ông [vua Hàm Nghi], nhưng vì quân Pháp dự tính bắt sống nên lập tức nổ súng hạ gục Thiệp. Sau đó họ chặt đầu Thiệp và đem bêu trên cọc tre ở ngoài chợ Dang-Kha là một nơi sầm uất và còn đang xao động.”
Hai người gánh cả một non sông trong giai đoạn lịch sử vô cùng bi tráng đó đều chỉ mới 18 tuổi, còn nhỏ tuổi hơn anh Thạc. Tôi tự hỏi, khi dừng chân nghỉ ngơi trong hành trình đầy gian khổ ở Quảng Trị vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thiệp nói chuyện gì với nhau. Một ông vua trẻ trước đây chưa từng ra khỏi Huế và một chàng vệ sĩ còn trong tuổi vị thành niên hẳn không có nhiều điều trao đổi. Nhưng có một điều chắc chắn họ đã từng chia sẻ, đó là mơ ước một ngày dân tộc Việt Nam sẽ không còn làm nô lệ cho Tây. Giọt máu của Tôn Thất Thiệp nhỏ xuống trên chiếc cọc tre cắm ngoài chợ Dang-Kha và giọt nước mắt của vua Hàm Nghi nhỏ xuống bên thành tàu Biên Hòa trên đường đi đày cùng có một mùi đắng cay, tủi nhục giống nhau.
Là sinh viên Đại học Tổng hợp Hà Nội và từng là học sinh giỏi văn nhất miền Bắc hẳn anh biết Trần Bình Trọng, Trần Quốc Toản, Hàm Nghi, Tôn Thất Thiệp là ai, rất tiếc anh không được uốn nắn để sống theo những tấm gương trung liệt đó.
Trong mùa hè đỏ lửa năm 1972, hàng trăm ngàn đồng bào Quảng Trị phải bồng bế, gồng gánh nhau chạy vào Huế và Đà Nẵng, những quận Đông Hà, Gio Linh và các khu vực chung quanh Cổ thành Quảng Trị đã trở thành những bãi chiến kinh hồn nhưng trong nhật ký ngày 4 tháng 4 năm 1972, anh hãnh diện chép lại bản tin của đài phát thanh Hà Nội: “Đài phát thanh truyền đi tin chiến thắng rực rỡ của tiền tuyến ở mặt trận Trị-Thiên-Huế ở đường 9, Cam Lộ, Gio Linh, đã diệt 5.500 tên địch; 10 vạn đồng bào nổi dậy – Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam đã phải mở thêm các buổi phát thanh để truyền tin chiến thắng của miền Nam anh hùng.”
Anh Thạc tin một cách chân thành rằng những tin tức đó là thật. Nếu có một nhà sưu tầm nào thu thập các bản tin chiến sự của đài phát thanh Hà Nội trong suốt cuộc chiến và cộng lại, tổng số tổn thất của quân đội VNCH ít nhất cũng bằng nửa dân số miền Nam.
Trong nền giáo dục CS, anh Thạc không phải mất công tìm kiếm câu trả lời cho những thắc mắc của mình vì Đảng đã có sẵn các câu trả lời cần thiết cho suốt cuộc đời anh. Trong nhật ký ngày 12 tháng 1 năm 1972, khi ưu tư về tương lai, anh Thạc trích ngay câu nói của Lê Duẩn: “Thanh niên hãy lấy sự hy sinh phấn đấu cho cách mạng làm hạnh phúc cao cả nhất của đời mình, đừng để cho tình cảm cách mạng nguội lạnh vì những tính toán được mất cho cá nhân.” Không có tình cảm riêng tư nào cả, cách mạng là hạnh phúc cao cả nhất. Anh viết câu nói của Lê Duẩn vào nhật ký một cách trang trọng tưởng chừng y đang ngồi trước mặt và sau đó yên tâm đi tiếp, không thắc mắc gì thêm.
Dù trong bất cứ một hoàn cảnh nào, cuộc tranh đấu giữa thiện và ác diễn ra không ngừng trong mỗi con người cũng như trên phạm vi xã hội. Cũng có lúc các đặc tính nhân bản, tự do bẩm sinh trong con người anh đứng lên chống lại các yếu tố ác độc, nô dịch của ý thức hệ CS đang dồn dập tấn công. Trong nhật ký ngày 27 tháng 4, anh viết những câu đau xót cho cuộc đời mình: “Phải hết sức trấn tĩnh, tôi mới không xé hoặc không đốt đi cuốn Nhật ký này. Trời ơi! Chưa bao giờ tôi chán nản và thất vọng như buổi sáng nay, như ngày hôm nay cả. Tôi không giải thích ra sao nữa. Người ta giải thích được cần phải trấn tĩnh mới hiểu lý do và lung tung. Còn tôi rời rã tôi chán nản với hết thảy mọi điều, mọi thứ trên trái đất này. Phải, tôi hiểu rằng, với một người con trai đang khoẻ mạnh, đang sung sức, đang ở giữa mùa xuân của đời mình thì buồn nản, thì chán đời là một điều xấu xa và không thể nào tưởng tượng được – Người ta đã chửi rủa biết bao lần những thanh niên như thế – Nhưng tôi biết làm sao khi chính bản thân tôi đang buồn nản đến tận cùng này. Tôi lê gót suốt con đường mòn – Con đường mòn như chính cuộc đời tôi đang mòn mỏi đi đây – Tôi ngồi bệt xuống bờ sông, con sông cạn đang rút nước. Tôi vốc bùn và cát ở dưới lòng sông, và qua kẽ ngón tay tôi nó rớt xuống, rớt xuống. Tôi muốn khóc, khóc với dòng sông.”
Tôi muốn khóc, khóc với dòng sông”, khóc cho anh, cho thế hệ anh đang lê gót trên con đường mòn. Nhưng thiện tính bẩm sinh trong con người anh Thạc mong manh như một nhánh tre non giữa cuồng phong thù hận. Anh bị tiêm thuốc độc vào người từ thuở mới sinh ra, biết đọc, biết viết cho đến tuổi hai mươi. Những vi trùng Pêlêvôi (Người mẹ cầm súng), Marétxép (Anh hùng phi công Marétxép) đã mê hoặc anh bằng một loại chủ nghĩa anh hùng không tưởng. Thiện tính trong anh không chống đỡ nổi, đã gục xuống, đầu hàng để rồi vài hôm sau trong nhật ký ngày 7 tháng 5 năm 1972 anh lại mơ được “Đảng tin và trao cho những nhiệm vụ nặng nề.” Anh Thạc không thể thoát ra khỏi được quỹ đạo của bộ máy tuyên truyền CS tinh vi. Mà cũng ít người thoát ra được.
Trong số 8 người bạn học đi thi giỏi văn toàn miền Bắc, phần lớn được đi học nước ngoài, riêng anh và một người bạn khác phải đi bộ đội. Trong nhật ký ngày 24 tháng 5 năm 1972, anh tự hỏi chính mình: “Thạc còn buồn không? Có còn buồn bã vì những năm tháng phải xa trường đại học, vì không được ra nước ngoài học tập – Vì các bạn Thạc, người đi đây, người đi đó, sống êm ả, sung tức với tập giáo trình. Ngày mai, các bạn về, các bạn có kiến thức, các bạn là kỹ sư, là các nhà bác học, còn Thạc sẽ chỉ là một con người bình thường nhất, nếu chiến tranh không cướp đi của Thạc một bàn chân, một bàn tay...” Anh không thể tự trả lời. Tuy nhiên, đoạn nhật ký trong cùng ngày đã giải thích lý do một học sinh hạng A1, giỏi toàn diện và từng đoạt giải giỏi văn nhất miền Bắc như anh lại không được đi học
nước ngoài: “Lại nói tiếp về những trang lý lịch – Người ta bắt khai tỉ mỉ hết sức – Nào là ông, bà, cô dì, chú bác. Làm sao mà nhớ được cơ chứ – Ngay cả cái tên mình cũng khó mà nhớ được nữa là phải nhớ cả ngày tháng năm sinh. Nhớ cả sinh hoạt vật chất và chính trị của các cụ ấy từ ngày mình có lẽ chưa có một chút gì trên trái đất này, ngay cả đó là những tế bào đầu tiên đơn sơ nhất!”
Anh Thạc nhiều tài năng đã chết một cách oan uổng chỉ vì như anh viết “vết đen của quá khứ gia đình đè trĩu hai vai”. Cha mẹ anh chẳng phải phạm tội cướp của giết người gì cả nhưng từng có xưởng dệt, mướn thợ làm công và như thế trên quan điểm Marx-Lenin, anh thuộc thành phần tư sản bóc lột, tội ác.
Anh Thạc chưa được kết nạp vào đảng và cũng chưa được làm đối tượng đảng. Anh viết trongnhật ký ngày 7 tháng 5 năm 1972: “Chao ôi, bao nhiêu lần mình ao ước có được hạnh phúc xa vời ấy, được Đảng tin và trao cho những nhiệm vụ nặng nề. Có người sẽ bảo: Thì đấy, anh được đi bộ đội đó thì sao? Chẳng lẽ anh không được Đảng tin cậy mà lại trao nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc à? Không, đừng ai nói thế! Chuyện gì cũng có điều tế nhị của nó. Nói ra ư, không khéo thì trở thành phản cách mạng mất. Có đi trong quân đội mới cảm thấy nỗi khổ của những người không phải Đỏ hoàn toàn.” Trong cùng ngày, anh viết: “Cứ mỗi lần khai lý lịch, mình lại buồn, buồn tận sâu xa.”
Anh Thạc nhắc đi nhắc lại đến mười một lần hai chữ “lý lịch” trong nhật ký và điều đó cho thấy “vết đen” lý lịch ám ảnh anh sâu đậm đến mức nào. Anh khổ tâm, đau đớn vì lý lịch gốc tư sản của cha mẹ anh trước đây cũng là điều dễ hiểu. Trong xã hội miền Bắc, Đảng là chiếc thang duy nhất đại diện cho quyền lực và quyền lợi mà mọi người phải chen nhau, đạp nhau và ngay cả giết nhau để được trèo lên cao. Chủ nghĩa CS và chủ nghĩa Quốc Xã Đức giống nhau một điểm quan trọng, đó là sự tin tưởng vào mỗi cá nhân đặt cơ sở trên lý lịch. Chính trị lý lịch (Bio-politics) không chỉ bảo đảm tính kế tục về dòng giống nhưng còn bảo đảm mục đích của chế độ được hoàn thành trong ngắn hạn cũng như dài hạn. Chính Adolf Hitler, đối thủ hàng đầu của Stalin, đã từng bày tỏ sự thán phục dành cho Stalin và ca ngợi y trong việc làm thuần khiết hóa đảng CS Liên Xô qua việc loại bỏ các mầm mống Do Thái như Leon Trotsky, Grigory Zinoviev, Lev Kamenev, Karl Radek khỏi nội bộ lãnh đạo đảng. Stalin phê bình quan điểm chủng tộc Aryan siêu việt của Hitler và gọi đó là Phát Xít nhưng chính y lại biện hộ cho chính trị lý lịch dựa trên giai cấp xã hội.
Anh Thạc có yêu nước không? Tôi tin là có. Không những anh Thạc mà rất đông tuổi trẻ miền Bắc tình nguyện lên đường “giải phóng miền Nam” cũng vì lòng yêu nước. Nhưng tình yêu nước của các anh không phát xuất từ trái tim trong sáng của tuổi hai mươi mà được dạy để yêu nước theo quan điểm giai cấp. Miền Nam mà các anh được Đảng mô tả là địa ngục trần gian chứ không phải là những cánh đồng bát ngát, những vườn cây sai trái, những dòng sông nhuộm đỏ phù sa. Người dân miền Nam mà Đảng vẽ trong nhận thức các anh là những người đang rên siết trong gông xiềng “Mỹ Ngụy” chứ không phải là mấy chục triệu người chơn chất hiền hòa chỉ mong được yên ổn để xây dựng cuộc sống mới sau gần một thế kỷ bị thực dân đô hộ. Cũng trong nhật ký ngày 24 tháng 5, anh Thạc tin rằng Sài Gòn ngày đó là một “Sài Gòn tăm tối, dưới ách quân thù”.
Anh Thạc hiểu thế nào là tổ quốc? Trong bài thi học sinh giỏi văn miền Bắc in ở phần cuối của nhật ký, anh phân tích tổ quốc: “Được mang ngòi bút của mình phục vụ Tổ Quốc, nhằm giáo dục lập trường và nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa cho nhân dân ta, các nhà thơ ta, bằng nghệ thuật hiện thực xã hội chủ nghĩa, đã tái hiện cuộc sống muôn màu, muôn vẻ của dân tộc ta đang chiến đấu theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, và dưới ánh sáng đường lối văn nghệ, chính trị của Đảng” hay trong nhật ký ngày 7 tháng 1 năm 1972, anh viết “Tổ quốc vẫn dựng xây và đánh giặc hai hòn gạch vẫn gắn chặt vào nhau nhờ nhiệt tình của con người cộng sản.”
Tổ quốc gắn liền với “lập trường và nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa” hay “gắn chặt vào nhau nhờ nhiệt tình của con người cộng sản” như anh viết nằm bên sông Volga, sông Hoàng Hà chứ không phải sông Hồng, sông Cửu. Đoạn văn anh viết được trích gần như nguyên văn từ các đề cương văn hóa, nghị quyết, bài giảng kinh tế chính trị ở trường mà anh đã nhập tâm. Không phải chỉ một mình anh Nguyễn Văn Thạc mà phần lớn nhà văn miền Bắc không ít thì nhiều đều phạm tội đạo văn của Đảng. Anh Thạc không phân biệt được sự khác nhau, nói chi đến mâu thuẫn, giữa Tổ quốc và Đảng, giữa ý thức dân tộc nhân bản và chủ nghĩa Marx-Lenin độc tài toàn trị. Đọc bài văn đoạt giải nhất này để thấy bộ máy tuyên truyền của Đảng không những có khả năng điều khiển hành động mà còn có thể sai khiến cả nhận thức của anh. Trong nhật ký ngày 15 tháng 11 năm 1971 anh viết: “Thằng Mỹ, nó thế nào? Trời ơi, sao lâu quá. Bây giờ cái khao khát nhất của ta -cái day dứt nhất trong ta là khi nào được vào miền Nam, vào Huế, Sài Gòn – xọc lê vào thỏi tim đen thủi của quân thù”. Anh không biết “Thằng Mỹ, nó thế nào” và vẫn muốn “xọc lê vào thỏi tim đen thủi” của nó. Khủng khiếp thật. Ai dạy anh viết những câu sắc máu vượt qua tuổi tác của anh như thế, chắc chắn không phải cha mẹ anh nhưng từ bộ máy tuyên truyền của Đảng.
Anh Thạc là nạn nhân của một chính sách thuần hóa tinh vi. Mục tiêu hàng đầu của tuyên truyền tẩy não CS là đào tạo những con người biết tuân phục. Thuần khiết toàn xã hội qua sách lược trồng người là mục đích tối hậu của nền giáo dục CS. Đó là lý do tại sao các lãnh tụ CS thích hôn nhi đồng. Từ Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh, Kim Nhật Thành cho đến Fidel Castro, Pol Pot đều thích hôn nhi đồng. Hình ảnh “hiền từ” của họ bên cạnh nhi đồng là hình ảnh phổ biến nhất tại các nước CS. Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện tả cảnh “hôn nhi đồng” tại miền Bắc trong bài thơ ông viết năm 1970:
Bác Hồ rồi lại bác Tôn
Cả hai đều thích ôm hôn nhi đồng
Nước da hai bác màu hồng
Nước da các cháu nhi đồng màu xanh
Giữa hai cái mặt bành bành
Những khăn quàng đỏ bay quanh cổ cò.

Bộ máy tuyên truyền của CSVN là thành quả được “vận dụng một cách sáng tạo” từ cả hai hệ thống tuyên truyền CS Liên Xô và Trung Cộng nên không lạ gì họ đã lừa gạt bao nhiêu thế hệ thanh niên miền Bắc một cách dễ dàng. Đọc lại nhật ký của anh Nguyễn Văn Thạc để thấy, CSVN vào được Sài Gòn trong ngày 30 tháng 4 năm 1975 bằng nhiều phương tiện nhưng hữu hiệu nhất là phương tiện tuyên truyền.
Trang nhật ký cuối cùng ghi ngày 25 tháng 5 năm 1972, anh Thạc viết: “Kẻ thù không cho tôi ở lại – Phải đi – Tôi sẽ gởi về cuốn Nhật ký này, khi nào trở lại, khi nào trở lại tôi sẽ viết nốt những gì lớn lao mà tôi đã trải qua từ khi xa nó, xa cuốn Nhật ký thân yêu đầu tiên của đời lính. Ừ, nếu như tôi không trở lại – Ai sẽ thay tôi viết tiếp những dòng này? Tôi chỉ ước ao rằng, ngày mai, những trang giấy còn lại đằng sau sẽ toàn là những dòng vui vẻ và đông đúc. Đừng để trống trải và bí ẩn như những trang giấy này.”
Anh Thạc không trở lại. Nhật ký ngày 3 tháng 6 năm 1972 chỉ là địa chỉ “Ngã ba đồng lộc”.Hết. Những trang giấy còn lại của cuốn nhật ký cũng không phải là những dòng vui vẻ đông đúc như anh muốn. Anh ngã xuống ở Quảng Trị và trên vùng đất đó, máu của nhiều thanh niên miền Nam cũng đã đổ xuống để giành lại Cổ thành Đinh Công Tráng, giành lại Cam Lộ, Đông Hà, Triệu Phong và những vùng đất miền Nam thân yêu khác.
Anh Nguyễn Văn Thạc đã chết. Hàng triệu thanh niên miền Bắc đã chết. Hàng trăm ngàn cựu thương binh miền Bắc may mắn hơn nhưng phải sống phần đời còn lại trong khó khăn túng thiếu với số tiền phụ cấp chỉ vỏn vẹn sáu trăm ngàn và nhiều nhất là ba triệu đồng một tháng cho cả gia đình. Tất cả những mất mát và chịu đựng đó chỉ để hoàn thành mục tiêu CS hóa Việt Nam như đã xác định từ cương lĩnh đảng CSVN 1930, cương lĩnh 1935 và lần nữa khẳng định trong cương lĩnh 1991: “Mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam dân chủ,giàu mạnh theo con đường xã hội chủ nghĩa và cuối cùng là thực hiện lý tưởng cộng sản chủ nghĩa”. Sau 39 năm, ngoại trừ những kẻ bị tẩy não, một người có nhận thức và theo dõi thời cuộc đều đã nhận ra khẩu hiệu “chống Mỹ cứu nước” chỉ là một chiêu bài và “độc lập, tự do, hạnh phúc” chỉ là chiếc bánh vẽ.
Xương máu của nhiều thế hệ thanh niên miền Bắc đổ xuống chỉ để hôm nay mọc lên những biệt thự nguy nga, sang trọng của các chủ tịch, bí thư, ủy viên trung ương, ủy viên bộ chính trị, những kẻ sống xa hoa trên một đất nước độc tài, tham nhũng, lạc hậu và bị phân hóa đến tận cùng. Đảng CSVN nợ những người đã chết và còn sống trong tật nguyền đau đớn quá nhiều thứ nhưng món nợ lớn nhất mà Đảng không thể nào trả nỗi, đó là, Món nợ tuổi hai mươi.

TRẦN TRUNG ĐẠO

mùa phế tích

npphan

những giấc mơ hồn nhiên bước ra ngoài giấc ngủ
toan tính một cuộc vui
bằng trò chơi sắp đặt
trống trải hồ nghi
nỗi buồn bỏ túi

những con chữ lặng lẽ rời trang sách
tất tả trên hành trình vô vọng
xuyên qua giao lộ mặc cảm
cân bằng
độ lượng một vòng xoay

sự thật vội vã lánh ra ngoài cái bóng tuyên ngôn
đi bằng đôi chân định mệnh
đã có lúc song hành
cùng chân lý
lửng lơ

niềm vui bất chợt tách khỏi nụ cười
để sửng sốt yên bình
lộng lẫy bao dung
trong một góc khuất lẻ loi
mùa phế tích

NP Phan

NP phan

Chùa Macôi- tình cờ ta gặp lại em

lesa

Hỏi rằng có cuộc lai sinh
Mà em niệm khúc thệ kinh giữa chiều
Nợ tình vay được bấy nhiêu
Nợ đời oan ải thôi liều can qua
Môi thơm ướt sũng một tòa
Mắt người rìn rịn đóa hoa dã ngoài
Yêu nhau từ thưở hoài thai
Để rồi khóc buổi đông đoài ngàn lau
Trăm năm bóng đổ cơ cầu
Những yêu…
Yêu đến bạc đầu người ơi!

Lê Sa

Lời Tình Yêu Nắn Nót…

nguyennhumay
IMG_8700

Nước biển màu gì anh chẳng biết
có thể nâu như mắt em buồn
có thể vàng như nắng chiều hôm
và sẽ tím như áo em hò hẹn

anh chẳng biết vì sao biển tím
sóng đong đưa lời hát muôn năm
cho chúng mình bỗng chốc xa xăm
trong mơ tưởng biến thành đảo nhỏ

anh chẳng biết vì sao biển nhớ
tấm lòng em đắm thắm, mặn mà
cánh buồm ai vời vợi ngoài xa
trăng vừa khuyết trong vòng tay biển!

anh chẳng biết vì sao bờ bến
mỗi hàng dương mang một màu xanh
có phải chăng vì mãi nhớ anh
em gửi biển tấm lòng trai trẻ

anh chẳng biết vì sao như thế
chẳng biết gì ngoài biết yêu em!
biển màu gì, anh chẳng cần tin
anh chỉ nhớ màu hồn em đẹp…

Nguyễn Như Mây

CHUYỆN TÌNH ANH TÔN TẪN

lephuhai

Dĩ nhiên Tôn Tẫn chỉ là cái biệt hiệu chúng tôi đặt cho anh để gọi cho vui thôi chứ thiệt ra không có gì giống nhau cả. Theo điển tích thì Tôn Tẫn là người nước Tề, là một quân sư, một nhà chỉ huy quân sự nổi tiếng thời Chiến Quốc. Tôn Tẫn bị Bàng Quyên, một người bạn học vì ghen ghét tài nên đã mượn pháp luật mà trị tội chặt cả hai chân. Còn anh bạn của chúng tôi chỉ bị cụt một chân tới đầu gối, phải đi chân giả khập khiểng. Chúng tôi quen nhau khi cùng lên vùng kinh tế mới sinh sống theo lệnh của nhà cầm quyền. Cả một khu rừng được ủi thành những đường ngang. Một con đường lớn thẳng góc nối những đường ngang này lại thành con đường giao thông chính. Hai bên đường phân ra thành từng lô gia cư nhìn đối diện nhau, phía sau lô gia cư là lưng của một nhà nào đó khác của đường ngang tiếp theo… và những gia đình sống trong cùng một đường ngang đó gọi là một “đội”. Thôn tôi ở có từ đội 1 đến đội 12, nhà tôi ở đội 4, nhà anh Vinh – Tôn Tẫn – ở đội 10, vậy là gia đình anh lên sau gia đình tôi một hai tháng gì đó.
Những người cùng cảnh ngộ thường dễ làm quen với nhau, nhất là trong cái kiểu hoàn cảnh giống như mình bị hiếp đáp và đe nẹt. Hơn nữa dạo ấy chúng tôi chỉ vừa ngoài hai mươi tuổi, cái tuổi sống rất thật và cởi mở tấm lòng. Tôi làm nghề dạy học, anh Vinh cũng như hầu hết người trong thôn làm nghề nông trên những đồng đất tự khai phá. Ngoài ra anh còn có thêm nghề cưa gỗ, cái nghề nhọc nhằn nhưng kiếm tiền thì cũng sướng. Tôi ngày một buổi đi dạy học, buổi còn lại thường lên rẫy với gia đình. Chỉ có buổi tối thì buồn. Rừng sâu heo hút tối om om, đường sá đi lại thì gập ghềnh mùa khô và sình lầy mùa mưa. Tôi thường hay ra khu tập thể giáo viên ở gần đội 10 để chơi. Nói chuyện tào lao riết cũng hết đề tài, chúng tôi bày ra đánh domino, hết đánh domino lại rủ nhau ra quán cá phê cô Mai cạnh đó uống cà phê nói dóc. Bên ngọn đèn dầu leo lét, chúng tôi gọi mấy ly cà phê và dở bịch thuốc rê ra hút, ngồi nghe lén tiếng hát Lệ Thu hay Khánh Ly từ cái máy cassette cũ rè rè vặn nhỏ. Chúng tôi cảm thấy cuộc đời vậy là vui lắm rồi! Và tôi quen anh Vinh cũng trong một dịp cà phê như vậy.
– Buổi tối ngồi uống cà phê nghe nhạc buồn quá. Mấy ông thầy về nhà tôi chơi không? Về kiếm xị rượu uống cho ấm.
Chúng tôi theo anh Vinh về nhà. Nhà chỉ có anh là lớn, tiếp theo là Mân, đứa em trai cũng trạc tuổi như tôi và hai đứa em gái nữa. Anh kêu hai đứa em gái lấy rượu và nướng mấy con cá khô, gọi thằng em trai cùng ra ngồi chơi chung. Tôi hỏi:
– Ông bà già đâu anh?
– Chỉ có mấy anh em thôi. Bà già bịnh chết gần hai năm nay rồi. Ông già thì đang “cải tạo” chưa về.
Tôi im lặng không hỏi thêm nữa vì nghĩ tò mò chuyện gia cảnh người khác cũng không tế nhị lắm. Cũng may Vinh là người vui vẻ, anh rót rượu ra mời và nói cười một cách tự nhiên, kể về chuyện trồng lúa trồng mì, chuyện cưa xẻ gỗ… Sau vài vòng rượu ai nấy đều cảm thấy ấm lên và câu chuyện trở nên tự nhiên hơn. Anh Vinh nói:
– Chắc là mấy thầy cở tuổi thằng Mân em tôi đây. Vậy là tôi lớn hơn đó. Thôi thì… ngoài công việc dạy học ở trường là vai trò ông thầy thì mình coi như anh em đi, để thỉnh thoảng gặp nhau cho vui ha.
Một người bạn của tôi chợt nói:
– Anh bị cái chân như vầy giống Tôn Tẫn quá, vậy gọi anh là Tôn Tẫn được không?
Anh cười hà hà:
– Giống đâu mà giống. Tôn Tẫn bị cụt hai chân, tôi còn chân rưỡi mà. Nhưng muốn gọi sao cũng được. Cái tên Tôn Tẫn này nghe cũng hiên ngang đó.
Một người bạn khác hỏi:
– Anh bị cái chân lâu chưa?
– Năm bảy ba. Thiếu úy nhảy dù mà…
– Vậy là anh đã giải ngũ rồi, sao lại đi kinh tế mới? Tôi hỏi.
– À, mấy anh em tụi này đi kinh tế mới là theo “diện” ông già. Ổng trước đây làm xã trưởng, có đi cải tạo một năm xong rồi. Về nhà lại tham gia “phản động phản điếc” gì đó nên bị bắt lại. Thiệt là tào lao hết sức.
Nói xong anh lại cười khà khà…

xxx

Kể từ sau cái hôm đến nhà chơi đó tôi bắt đầu quen biết và giao thiệp với anh nhiều hơn. Cái tên Tôn Tẫn ban đầu là do chúng tôi gọi anh, sau rồi nhiều người khác trong thôn cũng gọi, riết thành quen luôn. Ngoài tính cởi mở và vui vẻ anh Tôn Tẫn còn rất tháo vác và giỏi tổ chức công việc. Trong nông nghiệp, anh và đứa em trai làm những việc nặng nhọc như cày cuốc, đào xới, chuyên chở, hai đứa em gái làm việc nhẹ hơn như thu hoạch, gieo trồng, chế biến. Ngoài những ngày chính vụ, anh và đứa em trai còn thường xuyên đi rừng cưa gỗ. Anh nói với tôi nông sản chỉ để làm lương thực phòng hờ chuyện thiếu ăn thôi vì mấy món này mua bán rất rẻ. Gỗ chính là nguồn thu nhập và sắm sửa của gia đình. Anh say sưa mô tả về các kỹ thuật cưa líu cưa lo cưa ngang cưa dọc gì đó mà tôi không nhớ được. Khi đã hơi thân nhau rồi tôi có hỏi anh về thời chinh chiến, anh cười buồn: “Chiến tranh thì có gì vui đâu, chỉ là chết chóc và mất mát thôi mà… chỉ có điều nó kết thúc không có hậu chút nào”

Hai năm sau thằng Mân, em trai anh lấy vợ, anh đứng ra tổ chức lễ cưới, mời mấy anh em trong dàn nhạc đờn ca sáo thổi trong huyện về trình diễn. Năm sau nữa ông già anh được tha về, cũng sống lầm lủi rẫy rừng khiêm tốn vậy thôi, mọi lo lắng giao lưu cũng chỉ từ anh Tôn Tẫn. Ngày chủ nhật nghỉ làm anh thường tạt vào trường học chơi với tụi tôi, đánh cờ tướng, cờ domino hoặc đàn hát. Tôi vẫn thỉnh thoảng cầm đèn pin lội bộ từ đội 4 ra đội 10 ghé trường học rồi ghé nhà anh chơi, tào lao ba điều bốn chuyện. Có lần tôi hỏi anh ngày xưa chiến trận ở đâu, anh kêu con em gái lấy cây đàn ghi ta, từng tưng chỉnh dây rồi hát: “Tháng giêng đưa quân ra Huế, cố đô hoang vu điêu tàn… Tháng ba về trấn ven đô, chong mắt hỏa châu giữ cầu….” Rồi anh kể, có lần hành quân qua một xóm nhỏ vào buổi sáng sớm, tự nhiên có một cậu du kích từ trong một căn nhà chạy ra, lính nổ súng và cậu du kích trẻ kia ngã xuống. Anh tới xem, nhìn thấy trong miệng cậu ta còn miếng cơm nhai chưa nát, nước mắt anh chảy dài… Cũng có lần tôi hỏi anh sao không lấy vợ, anh nói ai thương mà lấy thằng cụt chân kia chứ. Tôi nói anh giỏi giang quá trời thiếu gì cô để ý, anh khều khều tôi ghé đầu lại gần nói nhỏ:
– Cái này nói riêng thầy Tám (anh gọi tôi theo thứ ở nhà) biết thôi, không được tiết lộ nghen ?
Tôi tò mò:
– Chuyện gì mà quan trọng dữ vậy ta ?
– Năm bảy ba anh bị cái chân, cũng có bị tổn thương “hai hòn bi”.
– Chết cha! Tôi la lên.
– Ê, nói nhỏ thôi chứ. Anh chỉ bị đường con cái thôi chứ chiến đấu vẫn ngon đó. Tháng trước đi thị xã mua mấy cái lưỡi cưa anh có “thử” rồi, ngon lành lắm nghen, hà hà…

xxx

Ở cuối thôn, đội 12, có cô Thủy, con của một cảnh sát già góa vợ. Thủy là con gái út, các anh chị ở đâu không thấy, chắc là đã có gia đình riêng đâu đó rồi, chỉ thấy cô ở với người cha trong một căn nhà tranh vách đất. Cô này nhỏ hơn tôi vài tuổi nhưng rất lanh lợi và hoạt bát. Cô thường đi buôn bán nông sản về thị xã, dĩ nhiên chẳng nhiều nhỏi gì nhưng trong cái thời ngăn sông cấm chợ thì đây quả là công việc của một người tháo vác. Thủy không đẹp nhưng có duyên, đặc biệt mắt cô như biết cười. Nói chuyện với mình, trước khi miệng cô nở nụ cười thì dường như đã thấy từ mắt cô có sẵn niềm vui chực chờ đâu đó. Rồi một ngày kia cô Thủy có chửa, cả thôn râm ran bàn tán. Lại càng bàn tán hơn nữa khi đám hỏi diễn ra giữa hai nhà cô Thủy và nhà anh Tôn Tẫn. Ngay sau đó là một đám cưới đơn giản diễn ra. Tôi cũng là một trong những thành viên hăng hái dựng rạp che lều chuẩn bị cho đám tiệc. Cuối bữa tiệc, anh Tôn Tẫn ép tôi ở lại uống rượu, tôi say gần chết, nằm ói trên chiếc đi văng của cô dâu chú rễ, sáng dậy mắc cở chả biết trốn đi đâu. Vài tháng sau cô Thủy sinh một bé gái, tôi từ trường học gần đó ghé qua trạm xá thăm, gặp anh Tôn Tẫn đang hân hoan vui sướng. Anh khoe: “Gần ba ký, đẹp còn hơn công chúa Bạch Tuyết trong truyện bảy chú lùn…”

Tôi sau đó cũng lập gia đình và điều chuyển đi nơi khác, cách chỗ cũ gần mười cây số, nhưng vẫn hay đạp xe về thăm vì ba má tôi vẫn còn ở đó. Thôi nôi rồi sinh nhật lần nào của bé Tiên – con gái anh Tôn Tẫn và cô Thủy – tôi cũng được nhắn về tham dự, dù thường là bữa tiệc chỉ được tổ chức đơn sơ và khiêm tốn. Năm bé Tiên khoảng năm tuổi có một sự cố xảy ra. Hôm đó chủ nhật tôi về thăm ba má xong lửng thửng cuốc bộ ra nhà anh chơi. Đến trước cổng nhìn vào thấy hình như nhà có khách. Đang tính lỉnh đi đâu đó chợt anh nhìn ra kêu lên:
– A ! thầy Tám, ghé vô uống miếng nước chơi.
Tôi còn đang phân vân thì anh khập khiểng bước ra khoác tay qua vai nói nhỏ:
– Vô đây với tôi, thằng này là cha ruột bé Tiên tới xin nhận con đó.
– Ủa, thằng cha này ở đâu ra vậy?
– Nó là cán bộ thuế vụ ở trên huyện.
Tôi cảm thấy có chút lo lắng:
– Bé Tiên đâu rồi?
– Cô nó dẫn qua hàng xóm chơi rồi.
Tôi bước vào nhà, chào quanh quất rồi ngồi xuống cái ghế bên cạnh anh Tôn Tẫn. Xung quanh cái bàn vuông còn có cô Thủy, ba cô Thủy và người thanh niên mà tôi vừa biết là cha ruột của bé Tiên. Anh này khoảng tuổi tôi, người tầm thước, nhìn cũng không đến nỗi khó ưa. Anh Tôn Tẫn giới thiệu:
– Đây là thầy Tám, hồi trước là giáo viên ở đây, cũng là người thân thiết của gia đình nên mình cứ tự nhiên nói chuyện.
Anh thanh niên lên tiếng, như tiếp tục câu chuyện đang dở dang:
– Như đã trình bày với chú Hai và anh Vinh, nguyện vọng của tôi là xin được nhìn nhận bé Tiên là con. Tôi biết mình có lỗi vì đã bỏ rơi “giọt máu” của mình nhiều năm nay, tôi hứa sẽ bù đắp hết sức.
Ba cô Thủy nói:
– Thật là khó cho bé Tiên. Tự nhiên ở đâu xuất hiện một người cha khác, chắc là nó không chấp nhận đâu.
– Từ khi con bé sinh ra tới giờ – anh Tôn Tẫn nói – tôi chưa bao giờ nghĩ nó không phải là con ruột của tôi, và tôi chắc chắn nó cũng vậy. Việc cho anh nhìn nhận nó tôi cũng không bằng lòng nói chi tới việc dẫn nó đi. Bây giờ gia đình ai yên phận nấy rồi, tôi nghĩ không nên làm cho nó xáo trộn thêm.
Chàng thanh niên nhăn nhó:
– Kẹt cái là vợ tôi bị “nâng”, đi khám cùng khắp rồi mà đâu có chữa được. Mà ông bà già thì phàn nàn suốt ngày…
Tôi nghĩ mình cũng nên có ý kiến:
– Về mặt pháp lý thì anh chẳng có lý do gì để nhìn nhận bé Tiên là con mình cả. Việc anh Vinh và cô Thủy đây công nhận mối quan hệ huyết thống giữa anh và bé Tiên đã là một việc tử tế rồi. Giả như cô Thủy phủ nhận bé Tiên là con anh thì anh cũng chịu thôi. Đó là chưa nói nếu ra tòa sẽ không ai xử cho anh được quyền lấy lại bé Tiên đâu.
Chàng thanh niên có vẻ tức tối, anh ta to tiếng:
– Nhưng bé Tiên đúng là con tôi, nó là “mầm sống” của tôi!
“Xoảng” cái ly nước vỡ tan tành dưới nền nhà. Anh Tôn Tẫn đứng lên giận dữ:
– Anh ra khỏi nhà tôi ngay trước khi tôi không kềm chế được nữa. “Mầm sống” cái gì? Xin lỗi anh con chó con mèo ngoài kia cũng có mầm sống đó. Anh không hơn con chó con mèo thì nói gì đến mầm sống mầm chết.
Chàng thanh niên chụp lấy cái mũ trên bàn rồi đi như chạy ra phía cổng. Cô Thủy nhào tới ôm chầm lấy anh Tôn Tẫn, gục đầu vào ngực chồng òa lên nức nỡ…

Lê Phú Hải

TỰ TÌNH MÙA THU

nguyenanbinh

Mưa ngâu chiều tháng bảy
Ngựa hồng về bãi sông
Chim quay đầu trên sóng
Hót những lời thinh không
Ngại ngần chi em nhỉ
Lá khô giòn nhớ mong?

Mưa ngâu chiều tháng bảy
Cho mây mãi phiêu bồng
Áo giang hồ đã bạc
Bụi nhuốm đầy thu đông
Em bên triền sương khói
Trôi giữa dòng đục trong.

Mưa ngâu chiều tháng bảy
Mái ngói đầy rêu phong
Tiếng chim gù thao thức
Theo ai về cuối sông
Một ngày đi không hết
Trong giấc ngủ mênh mông.

Mưa ngâu chiều tháng bảy
Tình yêu hóa cầu vồng
Con tim màu ngũ sắc
Bám vào hồn rêu rong
Mùa thu không trở lại
Em qua cầu ai trông?

Nguyễn An Bình

PHỐ…KHI VỀ

daolam

khi về phố lấp hàng mưa
chùm bong bóng muộn nở vừa ngón tay
chân qua vĩa phố ai hay
khúc sinh ca gọi mùa phai phớt vàng

gió đồng vọng bước hồng hoang
nên chi ta cứ cũ càng với ta
khi về phố lấp mưa nhoà
tóc lay từng sợi mơn man gọi chào

buồn vui chi cũng mai sau
chân dài phố trượt lòng đau ơi tình!
nhập thân vào cuộc lữ sinh
mắt buồn của Mạ cứ bồn chồn theo

khi về phố lấp mưa reo
gánh thân hoang mục trả treo hai đầu
dặm dài cỏ khuất ngàn lau
từng ấy năm…một vẫy chào…trắng tay!

TA LÊU BÊU MỘT ĐỜI SAY
KHI VỀ …PHỐ…VẮNG..BUỒN …LAY LẮT… BUỒN!

DaoLam

CƯỠI NGỌN SẤM 23

cuoingonsam

richardbotkin

Chương 18

“Vừa đánh vừa đàm”
Vùng I Chiến Thuật
Mùa Thu 1971

Số lượng người Mỹ còn lưu lại tại Việt Nam cho đến cuối năm sẽ chỉ còn ít hơn con số 160.000. Trong số này hầu hết là những người phụ trách các vai trò về tiếp liệu hay yểm trợ cho tác chiến. Đến cuối năm 1971 thì mọi đơn vị bộ binh chiến đấu TQLC Hoa Kỳ đều đã triệt thoái ra khỏi vùng Đông Nam Á, và trên thực tế quân đội Hoa kỳ chỉ còn rất ít người cầm súng ở lại. Những người ở lại chỉ đóng các vai trò yểm trợ cho Quân Lực VNCH trong chương trình “Việt Nam hóa chiến tranh.”

Điều duy nhất được coi là kỳ dị hơn cả các quy tắc chiến đấu mà các lực lượng bộ binh và không quân Hoa Kỳ tại Việt Nam phải tuân theo là cái nguyên tắc rối rắm theo kiểu “lắm thầy thối ma” theo đó đường lối chính trị đã ảnh hưởng vào các hoạt động quân sự. Từ giữa tháng Tư cho đến tháng Mười năm 1968, trong một số các động tác bày tỏ thiện chí một cách ngây thơ đối với phe Cộng sản, Hoa Kỳ trên thực tế đã ngưng tất cả các cuộc không kích Bắc Việt ở phía trên vĩ tuyến 20. Điều này coi như đã bỏ ngỏ 90% lãnh thổ kẻ thù không được đụng đến. Phía Bắc Việt thực tế và quyết thắng hơn đã lợi dụng đúng mức cơ hội này để bố trí lại các phương tiện quân sự chiến lược trọng yếu và xây dựng một hệ thống phòng không tối tân, hoàn thiện hơn do Liên Xô cung cấp chung quanh Hà Nội và Hải Phòng.

Tiến trình hòa đàm tại Paris với bọn Cộng sản cứng đầu và ngoan cố đã tỏ ra là một quá trình cực kỳ khó chịu vì người Mỹ chỉ muốn có kết quả và nóng lòng đạt một sự thỏa thuận nào đó. Phải cần tới chín tháng trời hai bên mới đồng ý xong về hình dáng cái bàn hội nghị và điều này ngầm báo trước những điều chẳng tốt lành gì. Trong khi đó cả hai bên, với bọn Cộng sản rõ ràng là xảo quyệt và nhạy bén về chính trị hơn, đều áp dụng đường lối “vừa đánh vừa đàm” của Mao Trạch Đông, tức đánh lúc không đàm phán và đàm phán trở lại lúc không còn đánh nhau nữa.

Chuyện quan trọng nhất đối với dân chúng Hoa Kỳ, ngoài sự kiện triệt thoái toàn bộ ra khỏi Đông Nam Á là chuyện hồi hương các tù binh chiến tranh Mỹ bị bắt với số lượng ngày càng tăng thêm. Họ đang bị giam giữ trong những điều kiện tồi tệ và bị tra tấn tại những nơi được đặt cho cái tên mỉa mai là “Khách sạn Hilton.”

Mặc dù cuộc đột kích vào tháng Mười Một năm 1970 của người Mỹ vào Sơn Tây, nằm vào khoảng 20 dặm về hướng Tây của Hà Nội bởi một lực lượng đã được huấn luyện kỹ lưỡng và có quyết tâm cao do Đại tá Arthur “Bull” Simons chỉ huy, đã thất bại trong toan tính giải cứu các tù binh chiến tranh bị giam giữ tại đó – họ đã bị chuyển đi nơi khác không lâu trước đó vì nguy cơ lũ lụt – nhưng hành động này đã có một hiệu quả tích cực đáng kể. Hành động Hoa Kỳ dám tung ra một lực lượng biệt kích lớn, can đảm xông vào thẳng sào huyệt của Bắc Việt đã báo lên một thông điệp mạnh mẽ đến tất cả các phe có liên quan. Người Mỹ có thể chịu linh động hay nhân nhượng ở một số điểm nào đó nhưng sự đối xử với những người đã được công nhận là tù binh là một chuyện mà sau này phía kẻ thù sẽ phải chịu trách nhiệm. Sau cuộc đột kích Sơn Tây, điều kiện các tù binh bị đối xử đã được cải thiện khiến tinh thần họ cũng được nâng cao lên. Lực lượng xung kích cũng đã có cơ hội, trong thời gian ngắn tại Sơn Tây, “xơi tái” được một số đáng kể những tên xấu xa. Không có người Mỹ nào bị thiệt hại trong cuộc mưu toan giải cứu tù binh.

Các cuộc thương lượng và chỉ trích lẫn nhau tiếp diễn trong những phiên hòa đàm miệt mài tại Paris. Ngay từ ban sơ, khi các cuộc đàm phán khởi sự vào tháng Năm 1968, thái độ của phe Cộng sản nhắm vào nhiều mục tiêu cùng một lúc: đòi hỏi sự công nhận của Hoa Kỳ và VNCH đối với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (phe Cộng sản miền Nam Việt Nam có đại diện của họ), phân hóa đế quốc Mỹ và “đầy tớ” đồng minh bất chính VNCH, buộc Hoa Kỳ phải chịu trách nhiệm về tất cả những đau thương đã xảy ra và phải rút về nước, cũng như cam kết không viện trợ cho phe VNCH nữa.

Trong vòng hơn ba năm, những cuộc đàm phán của các phía đều vô ích. Vào tháng Năm năm 1969, Tổng thống Nixon đã đưa ra đề nghị rút tất cả các lực lượng không phải của miền Nam Việt Nam ra. Điều này có nghĩa là bao gồm các lực lượng Hoa Kỳ lẫn Bắc Việt. Vào tháng Mười năm 1971, người Mỹ lại một lần nữa đưa ra đề nghị tương tự. Chẳng may cho Nixon là Cộng sản Bắc Việt không hề có ý định vội vã triệt thoái ra khỏi miền Nam như Hoa Kỳ. Người Mỹ đằng nào cũng sẽ phải rút về, dù có hòa đàm hay không cũng vậy. Cộng sản vẫn cương quyết tập trung giành chiến thắng bằng bất cứ mọi giá, giá nào cũng được, vượt hẳn quyết tâm của người Mỹ đang trông đợi kẻ thù nhân nhượng.

Vào tháng Bẩy năm 1971, Tổng thống Nixon làm bất ngờ cả nước và thế giới khi ông tuyên bố sẽ ghé thăm Bắc Kinh với ý định rõ rệt muốn bình thường hóa quan hệ với một quốc gia đông dân nhất thế giới. Những lợi ích về mặt chiến lược rất đáng kể. Trong hai năm vừa qua, Liên Xô và Trung Cộng đã tranh dành lãnh thổ với nhau trong một số trận đánh đẫm máu tại nhiều điểm dọc theo đường biên giới dài giữa hai nước. Nếu có thể thúc đẩy được sự tan vỡ của cái khối Đỏ to lớn và lợi dụng sự mất tin tưởng lẫn nhau của hai nước đó thì may ra Hoa Kỳ có thể lấy lại uy tín và xây dựng lại được sức mạnh đã bị chỉ trích là đầu tư quá nhiều mà chẳng lấy lại được bao nhiêu tại Đông Nam Á. Liệu Tổng thống Nixon có thể biến điều này thành một thắng lợi về mặt chính trị và quân sự tại Việt Nam hay không vẫn còn phải chờ xem. Tuy nhiên nhưng tay đầu sỏ Bắc Việt có vẻ đang lo lắng một cách thật sự. Họ hiểu rằng, nhất là sau bài học cuộc đột kích Sơn Tây, yếu huyệt của người Mỹ là vấn đề tù binh. Họ sẽ tiếp tục chơi lá bài đó trong mọi cuộc đàm phán tiếp theo. Trong khi đó thì các lực lượng Hoa Kỳ tiếp tục triệt thoái không gián đoạn ra khỏi Việt Nam.

Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam
Lễ mãn khóa
Đà Lạt, Việt Nam Cộng Hòa
Tháng Mười Hai 1971

Đó là một ngày nắng ấm tuyệt vời tiêu biểu của khung trời Đà Lạt, nhiều gia đình, bạn bè và quan khách đã tụ họp nhau lại để tham dự lễ mãn khóa và chúc mừng các thanh niên tân Thiếu úy và tân Chuẩn úy sắp lên đường phục vụ cho một đất nước đang bị tàn phá bởi chiến tranh. Sự kiện Việt Nam Cộng Hòa và khóa 24 Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt đã tồn tại cho tới nay không phải do phép lạ nào cả. Thật vậy, vào cuối tháng Mười Hai năm 1971, đất nước còn tự hào là đã có được những điều báo hiệu cho niềm hy vọng, thậm chí cả sự chiến thắng nữa.

Năm 1971 sắp chấm dứt và tương lai tuy chưa có gì chắc chắn nhưng đã tỏ ra có những khúc quanh sáng sủa hơn. Chính quyền Sài Gòn đã kiểm soát được nhiều phần lãnh thổ hơn là lúc đất nước mới được thành lập ngót 18 năm về trước. Những công cuộc cải tổ chính đáng đã được áp dụng và mặc dù chưa được nhanh chóng theo mức độ cần thiết để tránh cho chính quyền bị các sự chỉ trích trong nước cũng như từ giới truyền thông Tây phương và các trường đại học tại Hoa Kỳ, nhưng cũng đã đủ để chận đứng tuyên truyền của Cộng sản. Hạ tầng cơ sở của Việt Cộng đã bị thiệt hại nặng nề trong kỳ Tết Mậu Thân, họ vẫn chưa đủ khả năng để chỉnh đốn hay tự vực dậy được. Công cuộc triệt thoái các lực lượng bộ binh Hoa Kỳ đã được cân bằng lại với lời hứa viện trợ tối đa cho bạn đồng minh và tiếp tục hỗ trợ bằng không lực.

Sắp sửa được mang lon Thiếu úy, Nguyễn Lương đã tốt nghiệp với số điểm đủ cao trong lớp để đạt cái danh dự trong nhóm 14 khóa sinh được khoác bộ quân phục rằn ri của binh chủng TQLC trong ngày chọn đơn vị phục vụ. Người Mỹ bình thường chắc sẽ ngạc nhiên khi biết rằng Việt Nam cũng có TQLC, nhưng họ sẽ còn ngạc nhiên gấp bội khi hiểu ra là chỉ có những khóa sinh đậu cao nhất, những sĩ quan trẻ xuất sắc và thông minh nhất mới được chọn để phục vụ trong các đơn vị ưu tú như TQLC, Nhẩy Dù và Biệt Động Quân. Do đó sự tranh đua để chọn đơn vị rất là gay go.

Bãi diễn hành cho buổi lễ là một phiên bản thu nhỏ hơn một chút của trường West Point. Tuy nhỏ hơn về kích thước so với mô hình của Hoa Kỳ nhưng hoàn toàn không kém phần trang trọng, tự hào và nhiệt tình cho buổi lễ tốt nghiệp tại Đà Lạt. Trong số 311 thanh niên nhập khóa 24 từ năm 1967, chỉ có 245 người đã chịu đựng nổi quân trường và sắp sửa bước lên khán đài để nhận bằng cấp tốt nghiệp và trách nhiệm của người sĩ quan trước mặt toàn thể các người thân và bạn bè hâm mộ. Sự phấn chấn và lời thề, giống như trong mọi buổi lễ mãn khóa khác, đã được ghi khắc vào trong tâm hồn của những thanh niên lên đường chiến đấu với niềm tin vững chắc là tất cả mỗi người trong số họ đều sắp sửa được chỉ huy binh lính để chống lại kẻ thù Cộng sản.

Ngày 27 tháng Mười Hai năm 1971 là cái ngày cuối cùng mà khóa 24 còn tụ họp lại với nhau như một tập thể đồng nhất. Họ tự nhủ không biết trong những lần hội ngộ sau này, có thể là năm, mười hay 30 năm nữa, sẽ có bao nhiêu đồng đội trong số họ, có lẽ là một con số không nhỏ, sẽ hy sinh đền nợ nước trong cuộc chiến hiện tại vì sự sống còn này.

eric-joseph-hieu

Screen Shot 2015-06-03 at 9.18.31 AM

Thành Phố Khi Xa

nguyendanhlam

Chào nhé những dòng xe
Những khung cửa lấm đầy bụi khói
Những hàng người kim đồng hồ dồn tới
Những đôi môi tiếng nói cứ thưa dần …

Một người đi thành phố chẳng vắng hơn
Mà ngàn người cũng dễ gì trống trải ?
Phía sau lưng chẳng một người con gái
Phung phí nữa giờ cho nỗi nhớ chiều nay !

Cuộc sống thăng bằng trên những cái bắt tay
Mặt trời và máy lạnh
Cơn khát và nước ngọt
Căn phòng hẹp và chiếc Ti-vi …

Một người xa thành phố chẳng hề gì
Sao quay quắt một người lại nhớ
Không hẳn như thói quen
Mà đó là hơi thở
Dẫu chỉ một lần
Nuôi nhịp đập – Trái tim !

NGUYỄN DANH LAM

này lặng lẽ nhiên hương

10735644_826194720769236_378143114_n (1)

tiếng hát vừa qua ngang
rớt vô lòng dậy sóng
gió bên nớ bên ni
mơ hồ sao tâm động

ngày em vào đám đông
bước ta lui bỏ phố
vẫn trộm tiếng cười em
lâu lâu ngồi chỉ nhớ

xa xa ngồi một chỗ
nhìn ra tiếng vỗ tay
lúc em đeo vương miện
ta cất chút … vào ngày

em bao giờ ngoảnh lại
thấy ra tiếng nói xưa
dù chỉ là buột miệng
vẫn buồn vui nắng mưa

khi bước lên nhìn xuống
làm sao nếu tìm ta
đêm vẫn từ góc khuất
nho nhỏ tiếng trầm ca

sẽ buồn riêng không nhỉ
lúc moi túi tìm thơ
em có còn muốn hỏi
ta khoe tuổi còn thơ

NGÔ YÊN THÁI