TỰ KHÚC

tonnuthudung

Cũng có khi người rất dễ thương
Đưa tay tôi nắm lúc tôi buồn
Đọc cho tôi nhớ bài thơ cũ
Chia sẻ cùng tôi những đoạn trường

Cũng có khi người đến cạnh tôi
Líu lo đủ thứ chuyện trên trời
Con chim khướu hót ngoài hiên vắng
Chợt lặng yên và cũng…lắng tai

Cũng có khi người ngoảnh mặt đi
Bặm môi không nói một câu gì
Là khi đang tức và đang ghét
Đang nghĩ trong lòng : Hãy cút đi!!!

Cũng có khi người giả bộ ngoan
Dạ thưa quá ngọt …cỡ chanh đường
Chỉ mình tôi biết ( vờ không biết )
Để thấy nụ cười …gian dối hơn !

Cũng có khi người rất dửng dưng
Xô tôi dạt lại giữa lưng chừng
Khi bàn tay đã không còn ấm
Đừng trải lòng ra nữa…phí công…

Cũng có khi người như hải vân
Níu tôi ở lại giữa muôn trùng
Người hẹn sẽ làm mây viễn xứ
Chạm vào tôi ngày quy cố hương…

Tôn Nữ Thu Dung

Trong Cơn Say

nguyenmonggiac

Lúc chiếc Lambro đậu ở xế bên trái trại gia binh, Quang bước xuống, đưa tiền cho tài xế, rồi xăm xăm bước vào cổng. Người lính gác không thèm nhìn lại, lấy tay làm dấu cho đi. Cây chắn vẫn nằm ngang lối vào, Quang khom mình luồn xuống sát đất, chui vào bên trong. Mấy chiếc GMC vẫn đậu chỗ cũ. Mái tôn doanh trại chỉ huy đã bắt đầu rỉ sét, hàng dương liễu thấp trồng trước sân gần trụ cờ bám đầy bụi đỏ.

Trên sân tennis, các sĩ quan mặc quần sọt và áo cánh trắng vẫn tiếp tục trao banh dưới ánh nắng bắt đầu gắt. Vòng ra sau hai dãy nhà kho, cái ga ra và dãy phòng dành cho sĩ quan độc thân, Quang cúi xuống cho trán khỏi chạm vào các poncho ướt treo thấp, tiến về phía phòng mình.

Anh Lâm và ba người bạn nữa ngồi ở căn trước đang nhậu nhẹt. Cái giường ngủ được xếp lại gọn ghẽ, dành khoảng trống phía trước để trải chiếu ni lông trên nền xi măng. Đống chai 33 ngổn ngang.

Ba người bạn anh Lâm mặc quần treillis, áo mai dô, ngồi xếp bằng trên chiếu. Anh Lâm mặt mày xanh hơn thường lệ, dựa mình vào vách ván. Quang phải lần theo mé nước đi ra phía sau mở cửa bếp vào nhà. Tiếng anh Lân hằn học giận dữ:

-Uống, tao bảo uống là uống. ĐM thường ngày tụi bay chỉ huy tao, nhưng trên chiếu rượu, tao chỉ huy tụi bay. Nghe chưa?

Tiếng một người bạn cười ha hả, rồi nói lớn:

-Uống thì uống chớ sợ gì. Đó, đó, hai thằng nay chơi không ngon gì hết. tao với thằng Lâm nãy giờ uống một hơi cạn ly, tụi bay hớp hớp vài cái rồi để xuống. Ăn gian!

Anh Lâm lớn tiếng:

-Ăn gian là hèn!

Lại có tiếng cười hí hí, vẫn giọng anh Lâm:

-Tụi bay thường bảo tao say sưa. Mấy con mẹ ngồi lê đôi mách trong trại chê tao du côn, rượu chè be bét nên ế vợ. ĐM tao đâu có cần. Rượu uống cả két không say là ngon hơn hết. Anh em ở đây, tao thấy có thằng Thảnh là chơi được.

Ông bạn Thảnh phụ hoạ:

-Đúng. Nam vô tửu như kỳ vô phong. Cờ không có gió, hì hì, giống như mấy thằng già dịch hết xí quách. Tụi bay hết xí quách chưa mà ngồi nhắp nhắp như đàn bà.

Lại tiếng anh Lâm:

-Hai đứa bay là đồ bỏ. Thôi tao với mày hết ly rồi tính cái khác nghe Thảnh. Nè, một hai ba, dô.

Có tiếng ực ực trong khi hai người bạn yếu rượu gõ đũa vào mâm, hô theo nhịp; dô, dô, dô, dô. Thằng Thảnh cạn trước. Không, thằng Lâm cạn trước. Rán lên. Dô, dô.

Một cái ly dằn mạnh xuống mâm kêu rổn rảng. Một chặp sau, lại một tiếng dằn khác. cả bốn người la ó cười cợt náo nhiệt.

-Tao nói trúng phóc. Trước sau gì thằng Lâm cũng chì hơn. Nghề của chàng mà.

Tiếng Thảnh cố cải trây:

-Không đúng. Ly của nó ít hơn ly tao. Mà dù hai ly có đầy như nhau nó cũng không ngon. Uống rượu mà phải dựa lưng vào vách. Nó chỉ có cái gân cổ nói phét, còn cái gân lưng sụm bà chè rồi. Vậy là yếu.

Giông Lâm có vẻ tức tối:

-ĐM tao không lội bùn suốt tuần nay, thì tao chấp hết. Tụi bay ở nhà ngủ với vợ. Tao hành quân từ hôm mồng bảy, hôm qua mới về. Thằng trung đội trưởng mới ra trường như thỏ đế, cứ bắt lội lầy mà đi. Vòng về lại phải khiêng con heo nặng thấy bà nội…

Bỗng nhiên căn trước im lặng đột ngột. Quang kinh ngạc nhìn lên. Chị Phú tần ngần đứng trước cửa, nón cắp bên nách, thấy anh đang ngồi uống rượu không dám vào. Ba người bạn anh Lâm bối rối, tự sửa lại dáng ngồi. Giọng anh Lâm bắt đầu lè nhè:

-Nữa, nữa. Hễ uống hơi đã đã là có đàn bà tới tìm cằn nhằn. Vào hồi nào đó Phú?

Quang xỏ dép chạy lên phía trước. Chị Phú chưa thấy em, hỏi anh Lâm:

-Thằng Út có về đây không anh Hai? Có thằng nhỏ cạnh nhà ở Qui Nhơn về nói thằng Út bị nhà trường đuổi. Nó về đây chưa?

Quang lên tiếng:

-Em đây chị Phú.

Thấy Quang ở buồng sau, chị Phú không còn giữ ý tứ nữa, bước đại qua mé chiếu rượu vàn bên trong. Một tiếng huýt gió bay theo tà áo cụt tím của chị. Một người hỏi:

-Em gái mầy hở Lâm?

Giọng Lâm trả lời một cách miễn cững, nhát gừng:

-Em kề tao đó. Thằng chồng nó tập kết năm 54.

Bây giờ đến lượt Thảnh đề nghị:

-Gả cho em đi anh Lâm.

Cả lũ cười hô hố. Lâm nói:

-Muốn bị cắt cái đầu hả? Chồng nó đi bộ đội, lấy vợ mấy tháng rồi theo trung đoàn 120 ra Bắc.

Rồi tự nhiên, giọng nói của anh Lâm sang sảng, đầy hãnh diện:

-Con nó đã mười tuổi mà nó còn “ngon” lắm. Nhiều thằng nghĩa quân ngoài Phù Cát mê tít, quên cả gác cầu. Trong ba đứa bay, có thằng Thảnh tao chịu nhất. Để tao kêu nó ra gả cho mầy.

Chị Phú bực mình cau mày. Anh Lâm gọi lớn:

-Phú, ra biểu em.

Im lặng. Bên ngoài có vài tiếng cười khúc khích. Lâm la lớn hơn:

-Phú, ra biểu.

Quang nói nhỏ với chị:

-Chị thấy không, hôm nào đi hành quân về, ảnh cũng kéo bạn kéo bè nhậu nhẹt la hét. Cả xóm không ai chịu thấu. Ông thiếu tá mấy lần đòi trục xuất ra khỏi trại.

Chị Phú tỏ vẻ lo ngại, vội hỏi em:

-Ảnh mới hành quân về à? Hôm nào?

Lúc đó, anh Lâm nói chõ qua cánh cửa sổ che màn xanh:

-Phú, ra anh biểu. Anh mới đi càn ở Dương Xuân về đây.

Nét mặt của chị Phú hốt hoảng. Chị bỏ rơi cái nón xuống chân bàn, chạy ra phòng ngoài:

-Thật hả anh?

Anh Lâm làm chủ tình thế, chậm rải, thản nhiên:

-Ờ, lâu lâu hành quân miệt đó một lần, chớ thiệt với giả gì?

Giọng chị Phú nóng nảy hơn:

-Có gặp nẫu không?

Anh Lâm cười ha hả:

-Mầy nói huỵch tẹt là có gặp chồng mầy không, chớ giấu giếm làm gì? Sợ tao bắn chết chồng mầy hả?

Chị Phú không chịu đựng được nữa, chạy vào buồng khóc tức tưởi.

Quang tìm cách an ủi chị:

-Chị đừng sợ. Anh ấy hành quân trong đèo mà. Chị cứ lo sợ vẩn vơ, ảnh bắt chẹt doạ nạt hoài.

Chị Phú quay lại lấy tay áo lau nước mắt. Cánh tay đưa lên, chiếc áo cụt may bó sát vào thân hình nẩy nở của chị bị kéo theo, vết xẻ quá cao để hở khoảng hông trắng. Chị bắt đầu tin tưởng lời Quang, nên xoay sang hỏi em:

-Mấy chị em mình mồ côi mồ cút, chỉ còn có Út may mắn được đi học. Vậy mà em còn làm các thầy phiền lòng, giận dữ, đến nỗi bị đuổi không cho học nữa. Sao vậy Út?

Quang đứng im không biết giải thích thế nào cho chị Phú hiểu. Làm sao cho chị hiểu rằng riêng cá nhân Quang, Quang không thấy có điều gì ấm ức bực bội đối với các thầy. Quang vẫn luôn luôn hết lòng tôn kính những người mà Quang tin là những nhà nho lạc loài. Quang chỉ nói giùm cho các bạn, nói giùm cho cả một thế hệ. thế hệ? Niềm hoang mang trước tương lai? Sự an nhiên của người lớn? Với một người đàn bà suốt ngày lo buôn bán tảo tần để nuôi đứa con mười tuổi, sống chật vật kham khổ từng ngày, những vấn đề ấy có lẽ vô nghĩa phù vân như một ngày không rượu của anh Lâm. Làm sao cho chị hiểu lúc này đây, Quang chỉ lo sợ cuộc đời mình cũng cần cù nhẫn nhục, lặng lẽ trôi đều như ánh đèn đá xe mì âm thầm trên đường khuya, giữa hai hàng cây thiêm thiếp ngủ. Làm sao nỗi lo sợ của chị giống nỗi lo sợ của Quang, sợ cái nhìn thương hại bao dung của những người đã từng một lần cuồng say, mệt mỏi ê chề.

Sự im lặng của Quang khiến chị Phú hiểu lầm, tưởng em đã thành thực hối hận. Chị bảo Quang lại ngồi với chị đằng cái giường gỗ, và tỉ tê:

-Nếu bấy giờ Út đủ khôn lớn để nghe mẹ trăn trối, Út đã lo học hành chăm chỉ. Lúc đó anh Lâm chạy lại nhà bác Chấn mượn tiền đi bổ thuốc. Cái bệnh ho của mẹ làm nhiều ông thầy bó tay, băn khoăn. Không biết phải làm gì cho dứt tuyệt một lần. Ở nhà quê mình cứ gọi là bịnh ho tổn. Mẹ mệt nhọc lắm, chị đoán là khó qua khỏi đêm ấy. Mẹ bảo bồng em vào, lấy tay xoa xoa lên má và vuốt tóc em. Mẹ khóc không thành tiếng. Chỉ có nước mắt chảy ra thôi. Mẹ dặn chị rán thưa với chú Bảy hay bác Chấn cho em đi học. Mẹ biết anh hai giỏi làm lụng cày bừa, nhưng học hành thì chậm lắm. Mẹ hy vọng nơi em. Mẹ cứ rán nhắc đi nhắc lại: hai đứa con tìm cách cho thằng Út học hành như các cậu bên ngoại. Cha mày ỷ y gia tài ruộng đất, đến lúc thời thế xoay đổi, phải đem thân đi nhờ cậy anh em. Nhục lắm con!

Quang cảm động, không còn nghe thấy tiếng nói chuyện ồn ào từ nhà ngoài. Chị Phú vẫn thút thít:

-Em biết tại sao mẹ cưng em nhất không? Tính anh hai, gàn bướng ngỗ nghịch ngay từ nhỏ. Mẹ suýt chết khi sinh con đầu, nên ít thương anh ấy. Chị thì là con gái. Mẹ sợ lại khổ thân như mẹ. Sau chị, mẹ sinh liên tiếp bốn em nữa, nhưng đứa nào cũng òi ọp chết lúc mới ra đời hay được vài tháng. Mẹ cầu khấn mãi, xin trời cho thêm đứa con trai nữa. Chưa sinh em ra, mẹ đã xin sẵn bùa. Lại năn nỉ gửi em cho nhà chùa. Út biết không, mẹ khóc vì sung sướng khi chị nói cho mẹ hay em là con trai. Vậy mà em cứ lo ăn chơi, không chịu học hành, đến nỗi bị đuổi.

Quang thấy không thể tiếp tục giữ im lặng. Bằng bất cứ giá nào, cũng phải giải thích cho chị Phú yên lòng. Quang không học hành bê bối, và chắc chắn không thể hỏng thi như mấy đứa khác ở quanh xóm chị Phú.

Quang nói:

-Không phải em bị đuổi vì lười học hay vì vô lễ đâu chị. Làm sao nói cho chị hiểu bây giờ? Có nhiều điều khó nói quá. Như cách anh hai cư xử với chị chẳng hạn. Ban đầu em tưởng ảnh ghét chị. Biết trung đoàn 120 trở về Nam hoạt động vùng Dương Xuân, hễ gặp chị đâu, anh hai cứ đem chuyện hành quân ở Dương Xuân ra doạ. Sau dần dà em mới hiểu. Một lần anh hai say đến quá khuya. Lúc tỉnh dậy, em lấy khăn ấm lau nước dãi quanh cổ và miệng cho anh hai, múc nước cho anh hai súc miệng. Anh hai ậm ừ không nói gì như thường ngày. Em hỏi anh hai có mệt không. Anh hai lắc đầu. Em đem cái áo mới giặt cho anh hai thay. Anh hai cầm áo tần ngần, rồi ôm em mà khóc. Anh hai nói không thể chịu nổi tai ách hách dịch của mấy tên chỉ huy. Anh hai đã quá chán với nghiệp lính. Anh hai ôm em mãi, khóc hức hức như con nít. Em nói anh hai còn say, rượu chưa dã hết. Anh hai nói không, anh tỉnh lắm. Anh phí cả đời anh vào những trò lố lăng thô lỗ. Hậm hực tàn nhẫn với cả hai đứa em. Gặp con Phú đâu, anh cứ đem chuyện hành quân giết Việt Cộng ra doạ nó đấy. Còn ở đây, anh cứ nhậu nhẹt la hét om sòm, Út có học được đâu. Mẹ mà còn sống, chắc mẹ đã vác gậy đuổi anh ra khỏi nhà như thời nhỏ. Nhắc tới mẹ, anh hai càng khóc to hơn, hai ba lần ôm đầu kêu: “Mẹ ơi! Mẹ ơi!” Em đỡ cho anh hai nằm xuống giường, bỏ mùng cho anh hai. Sáng hôm sau tỉnh dậy, anh hai chắc còn nhớ giây phút thổ lộ tâm sự đêm trước, nên tránh mặt không nhìn em nữa.

Vừa lúc ấy, ngoài phòng trước có tiếng dằn ly trên mâm nhôm, và tiếng vỡ loảng xoảng. Hai chị em im lặng nhìn nhau. Lại vẫn giọng anh Lâm, lè nhè cộc cằn:

-Mẹ ơi! Cả trung đội đứng tim hết. thằng nhãi mới ra trường ý chừng để cảnh giác binh sĩ, cứ nhắc đi nhắc lại đây là vùng Việt cộng trăm phần trăm. Coi chừng mìn bẩy. Coi chừng hầm chông. Coi chừng bắn lén. Đứa nào đứa nấy thất sắc. Nhất là mấy đau71 đi trước. Chiếc giày vừa giở lên, định dậm xuống một chỗ đất mới, đã rùng mình muốn rút lại vì tưởng tượng cái ngòi nổ hay hố chông bên dưới. Đứa đi sau gắng bước đúng dấu chân đứa đi trước. Cảnh tượng giống một lũ sợ vợ về khuya hay một toán hát xiệc đi dây. Khôi hài đéo chịu được! Nhưng bây giờ nói thế, chớ lúc đó tao cũng sợ xanh mặt. Từ chín giờ cho tới mười một giờ, cả đại đội mới tiến được nửa cây số đường đất. Ở đó lại toàn đồng không mông quạnh, đi ngờ ngờ có khác nào tấm bia sống cho Việt cộng. Mãi đến 12 giờ mới vào tới làng.

Một giọng ồ ồ hỏi Lân:

-Thiệt mấy con, được mấy con?

Anh Lâm tiếp:

-Con gì? Ngu bỏ bà! Tao không tả ra, tức là không có. Đánh đấm gì đâu! Vào trong mấy hàng tre, đến giữa xóm, mới biết chẳng phải là làng chiến đấu chiến điếc gì hết. Tất cả dân làng đã bỏ đi từ lâu, nhà cửa đã dột nát, vườn tược cây cối um tùm. Tụi tao giở luông khô ra ăn. thằng truyền tin đang lo báo cáo tình hình, xác nhận toạ độ. Vừa mới thiu thiu, cả trung đội giật mình chụp lấy súng nằm ẹp xuống. Có tiếng động lạ phía bụi cây. Tao nằm tênh hênh giữa cái sân cao, sợ teo luôn. Tiếng sột soạt vừa nghe rõ mồn một đó, bây giờ lại không thấy gì. Vừa định ngồi dậy, lại nghe sột soạt trở lại. Nhãi ranh ra lệnh tiểu đội của tao tiến đến mục tiêu. tao nghĩ thầm: Thôi, lần này nhất định về với ông bà rồi. Cả mấy đứa bò nhẹ, trườn lên, mắt đăm đăm nhìn tới bụi rậm. Cả trung đội nín thở theo dõi. Khi tao định nhỏm dậy, xung phong cho xong cuộc, thì một bóng đen trong bụi chạy ra. Súng nổ ran. Trật lất. Nó cứ ụt ịt chạy tới.

Sau một tiếng vỗ đét vào vế, có giọng Thảnh hỏi:

-ĐM heo hả?

Lâm trả lời:

-Ừ, heo Cộng sản. Dân làng chạy hết bỏ heo lại, đương nhiên là heo Cộng sản. Heo nhà mà lông dài và nanh mọc như heo rừng, thế mới kỳ. Cả tụi thở phào, hùa nhau bắt chú ị trói lại.

Cả mâm rượu cười rân, chị Phú và Quang cũng không ngăn được khỏi khúc khích. Chị Phú phác tay ý bảo dẹp chuyện lẩm cẩm đó sang một bên, nói với Quang:

-Chị cũng hiểu vậy, đâu có dám giận anh hai. Hồi nhỏ chị đã thấy cảnh anh bị mẹ hất hủi, nên hiểu vì sao tính ảnh lầm lì, đôi lúc cộc cằn điên khùng. Người ta chạy chọt đi được nghĩa quân, cảnh sát, ảnh vì vụng về mà kẹt lính. Ở Lam Sơn ra, người khác làm văn phòng, ảnh tác chiến. Người khác lên cấp, ảnh thì không. Nói mang tội, một phần do ở mẹ. Vô cớ, mẹ hất hủi ngay đứa con đầu. trông cái gương đó, bây giờ chị nâng niu chiều chuộng thằng Hiệp.

Quang hỏi:

-Cháu lâu nay vẫn thường chớ chị? Học lớp nhì đứng thứ mấy?

-Không biết. Nhưng mấy tháng nay, nhờ nó, chị làm ăn khá lắm.

Mắt chị Phú sáng rỡ, nét mặt hân hoan. Đáng lý Quang phải thấy điều đó ngay từ đầu. chị ăn mặc tươm tất chải chuốc hơn lúc trước. Cái quần lãnh bóng láng, chiếc áo cụt rủn ở vai và xẻ hông lên quá cao theo kiểu tân thời, đôi guốc nạm cườm giấu bớt đôi bàn chân đen tjho6 và mấy ngón hà ăn ngang dọc. Không chờ Quang hỏi, chị khoe:

-Nó học một buổi, buổi sáng. Buổi chiều, nó lấy tiền đi theo bọn con nít xóm chợ lên sở Mỹ gần phi trường. Tụi kia chui vào khiêng đồ hộp chuyển ra ngoài. Một thùng đồ ăn loại C bán có 300, một thùng có trái cây hộp thì 500. Thằng Hiệp trả tiền liền tại chỗ, rồi biểu tụi nó khiêng về nhà. Chị bán lại kiếm lời khi 200, khi 500, khi 1000. Có bữa chị kiếm lời cả 10000.

Quang thắc mắc:

-Kho tụi Mỹ canh gác cẩn thận lắm. Buổi chiều ngờ ngờ ai cho vào ăn cắp?

-Đâu có. Tụi nhỏ chờ tối mới lấy được. Kho ngoài phi trường chưa xây, đồ đạc để cả đống trên sườn đồi. Thằng Hiệp núp dưới gò vừa giữ giùm quần áo vừa mua ngay tại trận mấy thùng đồ hộp.

Quang cau mày hỏi chị:

-Tối nào cũng vậy sao?

-Ừ, cả tháng nay rồi. Cái kho đang xây. Chắc hơn tháng nữa mới xong.

-Thì giờ đâu cháu nó học bài?

Chị Phú lúng túng, nói qua quít:

-Nhiều bữa chị thức cháu dậy sớm. Với lại cũng gần hè rồi. Để nghỉ hè chị cho nó xuống đây Út kèm giùm. Răn dạy cho nó một chút. Chị sợ ở trên đó riết, nó hư…

-Tính thằng Hiệp hiền lành mà chị. Hôm Tết nó xuống đây, trông nhút nhát như con gái.

Chị Phú buồn rầu:

-Bữa nay nó khác nhiều. Nói thì còn biết nghe, nhưng đâu lại hoàn đó. Đôi lúc nó làm biếng, chị phải nhắc: Lúc ba đi, dặn má rán cho con học hành, dặn má đừng đánh thằng Hiệp con Định tội nghiệp…

Quang cắt ngang lời chị:

-Con Định nào?

Chị Phú giải thích, nét mặt có nét bâng khuâng mơ mộng:

-Ảnh dặn nếu sinh con trai thì đặt tên Hiệp. Sinh con gái thì đặt tên Định. Hiệp Định Giơ ne đó Út.

Cả hai chị em đều cười. Quang tò mò:

-Sao chị biết ảnh sắp ra Bắc mà cứ lấy?

Chị Phú cúi mặt, có vẻ thẹn thùng trước mặt đứa em nhỏ:

-Tiểu đoàn ảnh về đóng ở làng mình. Ảnh hát hay lắm, nhất là bài Nụ Cười Sơn Cước. Ảnh cũng… cũng dễ thương nữa. Chú thiếm không dám cản. Với lại lúc đó, trong bộ đội, ai muốn lấy vợ, chính phủ chẳng những không cấm đoán như trước mà còn khuyến khích nữa. Tiểu đoàn ảnh đóng ở làng mình có ba tháng, đã có gần hai chục cặp thành vợ thành chồng. Dễ dàng lắm. Hai đứa đưa nhau ra trước bàn thờ tổ quốc, chào quốc kỳ, thề gắn bó yêu thương nhau mà không quên nhiệm vụ trước mặt bác.

Khách uống nước trà ăn bánh ngọt. thế là xong.

-Hèn gì chị đặt tên Hiệp cho cháu. Chắc cậu ta sành chuyện mua bán lắm?

-Sành lắm. Sành nhiều thứ nữa: tập hút thuốc lá ở mép môi, tập nhổ nước miếng đánh xẹt một cái cho cao bồi, tập nói tiếng Mỹ…

Quang báo động:

-Chị coi chừng. Đi đêm lắm có bữa gặp ma. Ở dưới Qui Nhơn tuần trước, Mỹ nó bắn chết mấy thằng nhỏ vào phi trường ăn cắp đồ hộp.

Nét mặt chị Phú từ lo lắng, đổi sang hốt hoảng. Quang nhìn đăm đăm vào khuôn mặt đang cúi xuống, thấy rõ nét viết chì kẻ thêm ở đuôi chân mày, và vệt phấn vữa ra vì mồ hôi ở chân tóc. Cả Quang và chị Phú không nói gì. Hai chị em ngồi như thế không biết bao lâu. Quang vừa định lên tiếng bảo chị yên lòng về thằng Hiệp, đã nghe tiếng cười bên kia vách. Lúc nào cũng thế, tiếng anh Lâm luôn luôn lớn nhất.

-Tao nói láo làm cháu nội tụi bay. Chẳng lẽ đem về được mà sáng nay nhậu củ kiệu, xoài sống!

Một người hỏi:

-Chia mỗi đứa được bao nhiêu?

-Chia cái gì?

-Tụi bay bán con heo cho “bảy đáp” rồi chia tiền chớ chia gì.

-Mẹ ơi! Heo đâu mà bán! Tụi tao tiếp tục đi. Xóm bên cạnh cây cối nhiều hơn. Tre mọc hai bên đường cái, đứa nào cũng sợ bị phục kích hay bắn lén. Không thằng nào dám hó hé một tiếng. Vậy mà con heo cứ en ét kêu miết. Phát ớn luôn!

Giọng của Thảnh hỏi:

-Không bịt mỏ nó lại?

-Tại sao không? Mầy tưởng cả trung đội toàn đồ ngu hết sao. Tao lấy dây dù riết chặc hai cái hàm như cột chả giò. Nó vẫn kêu được, thế mới kỳ. thằng nhãi định thả ra, nhưng thấy tụi tao lăng xăng quá, không dám ra lệnh. Cả trung đội vẫn chậm chạp tiến giữa hai hàng tre. Giày bước thật nhẹ cho khỏi gây tiếng động. Và con heo vẫn kêu en ét. Thằng trung sĩ đề nghị lấy vải bịt mắt nó. “Nó tưởng trời tối, nằm ngủ một giấc quên kêu đi.” Tụi tao nín cười không được. Không tin, nhưng cứ thử.

Thảnh hỏi:

-Còn kêu hết?

-Ăn thua gì. Nó cứ kêu. Thằng nhãi tức giận bảo: Đem thọc huyết cho rồi. Cứ cái điệu này lộ mục tiêu, tụi nó phục kích chết cả đám.

Ông thượng sĩ già chậm rải giải thích: “Mấy ngày nay ăn toàn lương khô, thiếu uý. Lâu lâu có chút chiến lợi phẩm, anh em mới hăng hái. Giết heo bây giờ, thịt phơi nắng tới chiều, thúi là cái chắc.” Thằng nhãi đành làm thinh. Càng vào sâu trong xóm, cảm giác rờn rợn càng tăng. Cao heo khỏi thở dốc vì nắng, được trớn càng kêu to. Tao nhìn con heo, vừa tức giận, vừa tiếc rẻ. Đứa nào cũng muốn giết quách cho nó rảnh, nhưng lại tiếc của trời. Chỉ cần luộc sơ, lấy dao cắt chấm muối, phải biết. Miễn là cả bọn an toàn cho đến chỗ đóng quân định trước.

Người bạn nhậu không thể chờ đợi thêm, hỏi ngay:

-Tụi bay có việc gì không?

Anh Lâm không trả lời ngay, cả chị Phú và Quang cũng im lặng lắng chờ.

Sau một tiếng khà kéo dài, anh mới nói:

-Lảng xẹt! Có việc gì mà tao ngồi đây? Tụi tao về bãi đáp an toàn. Không thiếu một sợi lông. Râu tóc mọc tùm lum, vì cả tuần lội bùn không thằng nào thèm cạo. Thằng nhãi mừng hơn hết. Ra quân lần đầu mà không sát lính là may. Nó tới vỗ vỗ con heo, cười hí hửng. Tụi tao đứa đề nghị luộc, đứa đề nghị nướng, đứa đề nghị quay…

Chị Phú chợt nhớ chuyện bếp núc, hỏi Quang:

-Mấy giờ rồi em?

-Mười một giờ rồi chị.

-Lo cơm nước gì chưa?

-Em mới lên đây hồi chín giờ rưỡi trước chị khoảng một giờ. Để khách về hết hỏi anh hai có ăn cơm không, mua tạm vài cái trứng kho nước mắm.

Chị Phú trách:

-Ăn uống thất thường hèn gì hai anh em ốm như còng gió. Phải gởi tiền người ta đi chợ giùm chớ. Thôi chị về không kịp, để ở lại ăn trưa ở đây luôn. Gạo để đâu, chỉ cho chị nấu cơm?

Hai chị em dẫn nhau ra bếp. Tiếng cười rổn rảng vẫn dội xuống phía dưới. Quang chỉ cái thùng đạn đựng gạo cho chị Phú. Chị loay hoay không biết mở thế nào, Quang nói:

-Chị cầm cái quai sắt bên hông giật mạnh lên. Cái son để dưới giường. Để em đi múc nước.

Lúa Quang xách thùng nước về, chị Phú đã nhóm xong lửa trên cái rề sô. Khói đen bốc lên, chờ mãi ngọn lửa vẫn chưa xanh. Quang nghi ngờ:

-Chắc hụt dầu rồi chị. Chai dầu lửa dấu sau thùng giấy đựng rác. Thôi chị vo gạo, để em nhen cho. Em biết tật của cái lò nầy.

Lúc bắt xong son gạo lên lửa, chị Phú hỏi:

-Chỗ bán trứng gần đây không?

-Đầu bên kia dãy trại nầy. Quán của bà thượng sĩ.

-Để chị lấy tiền. Mua thêm hai hộp thịt ba lát ăn cho đủ.

Chị Phú lên giường mở cái xắc ni lông lấy tiền đưa cho em. Anh Lâm vẫn lớn giọng kể:

-Mẹ ơi, thiếu tá đâu có dám giỡn. Lãnh củ dễ ợt. Đứa nào đứa nấy mệt phờ, nhưng cũng đứng thật nghiêm. Thiếu tá đi thanh sát một vòng, bắt tay thằng nhãi rồi theo nó đi vỗ vai từng đứa. Tới chỗ tao, lão nổi hứng bắt tay khen ngợi điều gì không rõ.

Thảnh cười hô hố, lật tẩy:

-Ê, nghe không rõ mà mầy biết lão khen mầy?

Lâm cười lớn cho qua, kể tiếp:

-Bàn tay lão mềm nhũn. Tao biết lão làm cảnh, thối chí quá. Chợt lão chú ý con heo đang nằm quay lơ phía sau tao. Lão kêu thằng nhãi lại, hỏi:

-Heo đâu đó?

Thằng nhãi sợ xanh mặt, mới ấp úng được câu trả lời:

-Thưa thiếu tá, không phải của đồng bào. Tụi Cộng sản bỏ chạy, không kịp đem theo. Heo Cộng sản, thưa thiếu tá.

Thiếu tá gật gù:

-Tốt, tốt, các anh cừ lắm. Đã tảo thanh cả vùng, còn huỷ diệt nguồn lương thực của tụi nó nữa. Thiếu uý cho khiêng heo lại trực thăng của tôi. Đem về tiểu khu cho đại tá thấy.

Nhiều tiếng ồ lên ồn ào, không nghe được người nào nói câu gì. Chị Phú lại phác tay ngang qua trước mặt, ý bảo bỏ qua chuyện lẩm cẩm đó đi, rồi đưa hai trăm cho Quang:

-Em nhớ mua loại hộp mới. Mấy cái hộp phồng lên là hộp quá ngày hư rồi. Ăn đau bụng chết. Đừng có mua nghe chưa. Quang chọn mua thịt hao ngon hơn.

-Chị yên chí. Thịt heo Mỹ. Không phải heo Cộng sản của anh hai đâu.

Nguyễn Mộng Giác

(Nguồn Ý Thức số ?, năm 1971(?), đánh máy lại theo bản chụp của QuangTrungBìnhKhê)

BI KỊCH KIỀU PHONG

phamhoainhan

(Trích Thiên long bát bộ của Kim Dung – Hồi 15

Trong rừng hạnh ngoài thành Vô Tích, bang chủ Cái bang Kiều Phong đang đứng giữa bang chúng, Đoàn Dự cùng các cô nương Vương Ngữ Yên, A Châu, A Bích ở bên ngoài.
Kiều Phong gằn giọng hỏi:
-Kẻ nào buông điều tiếng về Kiều mỗ, và đã nói những gì, xin các huynh đệ hãy thẳng thắn cho Kiều mỗ biết
Tiếng ồn ào huyên náo, nhiều giọng nói cất lên:
-Kiều Phong chính là người Khiết Đan. Bọn chó Khiết Đan đê tiện!
-Ngươi là chó Khiết Đan, giả nhân giả nghĩa vào Cái bang để hãm hại người Tống chúng ta.
Kiều Phong gầm lên:
– Láo, ta đây căm hờn Khiết Đan đến tận xương tủy. Kẻ nào buông lời vô sỉ như thế?

Đám đông lặng đi một chút, rồi những tiếng xầm xì lại vang lên:
– Đúng hắn là người Khiết Đan, trên Phây đang bàn tán ì xèo kia.
Kiều Phong ngẩn ra, hỏi:
-Phây là cái gì?
Đoàn Dự vội vã móc cái iPad ra, đem tới trước mặt Kiều Phong. Trong rừng hạnh sóng 3G khá tốt, Đoàn Dự dzô Internet, truy cập nhanh đến các trang Facebook của giới giang hồ. Quả là trong đó đầy dẫy những lời bàn ra tán vô của võ lâm, chửi bới, sỉ vả Kiều Phong vô cùng thậm tệ.
Đoàn Dự search tiếp tới một trang Facebook khác, trong đó lại tùm lum lời bàn của giang hồ, cho rằng Kiều bang chủ đã giết chết Mã phó bang chủ để bịt đầu mối về xuất xứ Khiết Đan của mình. Một tay đại ca nào đó còn post lên cả một note dài, mô tả lúc ra tay hạ sát Mã phó bang chủ Kiều Phong đã làm như thế nào. Thậm chí còn mô tả tỉ mỉ lúc đó Kiều Phong đã phun ra bao nhiêu bãi nước bọt, cười khằng khặc mấy tiếng và còn… ngáp mấy cái nữa.

Lại một chỗ khác trên Facebook, bọn quần hào lại comment nhăng nhít ý kiến cho rằng chính Kiều Phong đã bỏ tiền thuê Mộ Dung Phục “dứt điểm” Mã phó bang chủ. Bọn họ kể y như thiệt, rằng lúc mấy giờ Bắc Kiều Phong và Nam Mộ Dung đã gặp nhau ở quán nhậu nào, lúc đó ăn món lẩu dê hay món thịt cầy trước, nhậu rượu gì…

Kiều Phong không nhịn được, vung gậy lên, định tung đòn vào cái iPad của Đoàn Dự, hét:
-Bọn chó sủa bậy! Ta sẽ cho chúng biết thế nào là đả cẩu bổng!
Đoàn Dự lính quýnh ôm chặt iPad, can:
– Không được đại ca ơi! Không thể đả cẩu được vì đây không phải là… cẩu. Chỉ là Phây-búc-cơ thôi, đại ca có biết chúng là ai, ở đâu đâu. Làm sao đại ca đả được?
Kiều Phong vẫn chưa hiểu, hùng hổ:
-Đã thế ta sẽ cho chúng biết thế nào là Hàng long thập bát chưởng!
Đoàn Dự cố giải thích
– Hàng long thập bát chưởng cũng vô phương. Trên Phây chỉ là cái nick, không ai biết chắc nick đó là ai, ở đâu. Vì thế đại ca không thể làm gì được chúng. Ngược lại, chúng tha hồ đưa đủ thứ thông tin lên mạng, chẳng cần biết đúng sai. Tha hồ chửi bới, tha hồ thóa mạ, vu khống… Ác một nỗi là những thông tin này được hàng ngàn, hàng triệu, thậm chí hàng tỷ người đọc… Ờ, cái này có thể gọi là “Cách không thần chưởng” đó đại ca.
Kiều Phong ủ rũ hỏi Đoàn Dự:
-Vậy theo đệ ta phải làm gì đây?
Đoàn Dự rụt rè đề nghị:
-Hay là… hay là đại ca học sơ sơ IT rồi tạo một trang Phây-búc, lên đó chửi lại bọn nó cho… dzui? Tiểu đệ cũng tham gia… chửi phụ!
Kiều Phong lắc đầu, thét lên một tràng dài rung chuyển cả rừng hạnh:
-Tình thế đã như thế này ta sao còn có thể làm bang chủ cái bang được nữa! Ta sẽ đi tìm xem ta là ai, và sẽ luyện võ công để đánh bại cái… cái Phây-búc thần chưởng đó!
Kiều Phong quay lưng bước đi, không nhìn lại. Vù một tiếng, thanh đả cẩu bổng được chàng ném ngược trở lại.

Bi kịch bắt đầu từ đây.

PHẠM HOÀI NHÂN

MÙA XUÂN VỚT NẮNG

daolam

ta lặng thầm vớt nắng đắp lên môi
chiều ngượng ngập bàn tay ai đi lạc
hương của gió, hương của trời có khác
cứ oằn mình trườn khao khát hỏi han

ta ngập ngừng vớt nắng tự tình xuân
dựng nguyên mẫu của một thời đã hết
thời non xanh đã chìm vào góc khuất
chợt rùng mình thương đứt ruột chồi xuân

ta ngồi buồn vớt nắng ủ tay trơn
mắt đau đáu một chỗ ngồi đi lạc
gói ngày trên năm ngón tay gầy rạc
không kịp rồi-phác thảo một tình duyên

ta một mình vớt nắng đậy tình quên
ngồi ủ rũ tô môi rồi kẻ mắt
viền chì đen làm sao che vết cắt
tuổi trăng tròn một thuở đã cũ xưa

ta ra vườn vớt nắng cuối ban trưa
chiều rủ rê gió bày mâm dọn cổ
con kiến cánh ngồi trơ vơ hốc cỏ
nhớ nhánh cành đụn mối bãi gò hoang

ta thẩn thờ vớt nắng, nắng kip tan
ngày kịp hết và đời đang kịp tới
ta hụt hơi…mày mò ngồi đếm tuổi
cuối đằng tây trăng khuyết kịp tỏ bày

từng mùa xuân lặng lẽ vuột qua tay
buồn đã chín trên từng ngăn tuổi tác
ta vớt nắng đắp lên đuôi mắt ướt
ngẩn ngơ mùa! lòng vọng tưởng bao năm

NGHINH XUÂN-LẶNG LẼ-NGÓ THẦM
NGỒI VỚT NẮNG BÊN THỀM XUÂN…LẮNG BUỒN!

DaoLam

thơ muộn

nhatphong
1.
ở nơi đây
ngay trong căn phòng này
ẩn hình một nỗi buồn
hát lên sự sống
dè dặt

2.
trái đất lẽo đẽo đi theo mặt trời
lấy mặt trời làm mục tiêu
rồi một ngày kia trái đất lật lọng
khẳng định mình chính là mục tiêu

3.
nước sạch
thực phẩm sạch
không khí sạch
rừng sạch
biển sạch
tài nguyên sạch
siêu sạch
sạch sành sanh

4.
thơ
là sản phẩm ăn may
khi đã đủ một vòng tuần hoàn
mê đắm

Nhật Phong

William Walker Nguyễn

dokh

Tôi đến đây, thực ra lại vì tình cảm, lý do này nên mang theo chiếc áo rằn ri. Một vài năm sau 1975 (ở Việt Nam), thì ở Nicaragua chiến tranh tăng cường độ, từ mức tảo trừ phiến loạn, đàn áp chống đối và ức hiếp dân chúng chuyển sang một giai đoạn quy mô, cần có đôi chút tay nghề chứ mang giày sô đạp vào bụng đàn bà chửa thôi không còn đủ hiệu quả. Cậu “Tachito” Somoza, tức là Anastasio cháu, hay Anastasio III, con của Tổng thống Anastasio cha (hay Anastasio II) và cháu của Tổng thống Anastasio ông nội (hay Anastasio I) bèn thuê một chuyên gia từ Mỹ. Vị Lực lượng Đặc biệt Hoa Kỳ mới giải ngũ này sang Managua rủ theo hai anh cựu Mike Force người Việt Nam đi chơi cho có bạn và làm phụ tá. Ba người dày dạn kinh nghiệm trên giúp cậu này tổ chức lại và huấn luyện tiểu đoàn Phủ Tổng thống của Guardia Nacional.

Vệ binh Quốc gia Nicaragua, công cụ quyền lực của nhà Somoza, ngay vào thời kỳ này, cũng chỉ có 10.000 tay súng. Ngoài tiểu đoàn Phủ Tổng thống chỉ có thêm một tiểu đoàn Chiến thuật Trừ bị, một tiểu đoàn Công binh, một đại đội Cơ giới với 10 tăng M4 Sherman cọc cạch, một đại đội Pháo binh và 16 đại đội Bảo an cho 16 tỉnh. Chuyện tha phương cầm súng của hai người Việt là chuyện tôi cũng chỉ nghe phong thanh, ai biết rõ chi tiết thì tôi xin hậu tạ (một phù hiệu đeo ngực “Hồn ma biên giới” của Biệt kích Mỹ còn mới nguyên [10] ). Tiểu đoàn Phủ Tổng thống tất nhiên được coi là ưu tú, được mệnh danh là Pantera Negra, diễn sang tiếng Việt là Hắc Báo [11] . Hỏi không lãng mạn sao được, và nhất là trùng hợp.

Vào dạo ấy, nghề đánh thuê còn đầy hào khí (tuy đã gọi là thuê thì cũng phải trả tiền). Tôi còn nhớ trên tấm ảnh chụp bởi Gilles Caron, tại Biafra (nội chiến Nigeria 1968), một anh Bỉ cởi trần lưng trắng hếu đang được mấy người lính đen vác xác lội qua sông. Đánh thuê lúc ấy còn là một hoạt động nghệ nhân (với Mad Mike Hoare… hay đạt hàng nghệ thuật với những trường hợp như hầu tước Thuỵ Điển von Rosen [12] ), chưa kỹ nghệ và công nghiệp hoá như ngày nay ở Iraq với các mafia quốc phòng Blackwater, Triple Canopy… đấu thầu dịch vụ với Lầu Năm Góc. Nếu có bẩn thỉu thì cũng chỉ bẩn thỉu kiểu chạp phô hàng xén thôi, như ông Bob Denard ở quần đảo Comores chẳng hạn. Hai bạn đồng hương này, tuy không một túi nhét cơm nắm vắt và túi kia lựu đạn, nhưng có lẽ cũng chẳng đến nỗi tệ. Tôi tưởng tượng mỗi chiều họ thả bộ ra bùng binh Santo Domingo, áo hoa giày saut, ngồi uống bia Victoria chai lớn trong cái động đĩ không tên cạnh cửa hàng lốp xe Kelly (động đĩ này, chứ không phải là cửa hàng lốp xe, chẳng hiểu tại sao lại lủng lẳng bày toàn yên ngựa [13] ), hát a capella (vào dạo chưa phát minh ra karaoke) bài “Kẻ ở miền xa” [14] .

Trong mọi phim Mỹ về chiến tranh Việt Nam, bất luận là phim nào, nếu có một người lính miền Nam, thì bắt buộc là anh phải mang phù hiệu hình một đầu beo đen trên ngôi sao năm cánh màu vàng. Bằng chứng, gần đây thì vai Kit Carson Scout – thông dịch trong We were soldiers của Mel Gibson hay dấu ấn điện ảnh thì vai ARVN chạy xe máy (và dắt gái) trong Full Metal Jacket của Stanley Kubrick. Đến nỗi ngay cả trong một phim B, tướng công an cộng sản lại cũng mang phù hiệu này mới oai! Đây là phù hiệu của binh chủng miền Nam Ta Biệt động quân danh lừng bốn phương [15] với tiếng hô “Biệt Động Quân, Sát!” khi lâm trận [16] . Phù hiệu này bắt mắt đến như vậy và chẳng riêng gì điện ảnh nên tôi đồ rằng, tiểu đoàn Phủ Tổng thống Pantera Negra cũng mang một phù hiệu tương tự chứ không thể tránh.

Câu hô lâm trận thì dễ thôi, đã có tiền lệ của Lê dương Bắc Phi của Đại tá Milan Astray (ông này vừa chột mắt vừa cụt tay nhưng cho dù ông có lành lặn, khi ông cười nhìn răng ông lởm chởm là đã đủ dựng tóc gáy) trong thời nội chiến Tây Ban Nha (1936-1939). Khẩu hiệu của Lê dương do ông thành lập là “Viva la Muerte!” đầy mâu thuẫn hào hùng (đã Viva lại còn Muerte). Như vậy, theo tôi nghĩ, đóng góp quốc tế của hai người đánh thuê Việt Nam này là danh xưng, phù hiệu và Ta Biệt động quân nung rèn chí trai khi chuyển ngữ sang Tây Ban Nha trở thành, vẫn là theo tôi suy diễn và đồ chừng, hẳn phải là “Pantera Negra: Viva la Muerte!”

Làm sao mà tránh khỏi tình cảm, ở đây với tôi là tình đồng đội miền Nam cũ. Tình cảm, theo nghĩa thông dụng hơn, tôi không biết vào dạo ấy, có cô mestizo nào phải lòng anh chiến sĩ (di tản) xa nhà để ra bến Tico Bus mà ca Tàu đêm năm cũ.

Tàu cũ năm xưa
Đưa người tình (Việt Nam) biên khu (Nicaragua) về chưa
Trắng đêm tôi chờ nghe
Chuyến tàu đêm tìm về…

Và vô vọng, 1979 du kích FSLN chiến thắng, chàng đã di tản lần thứ hai, tuy vẫn là di tản sang Hoa Kỳ mà thôi. Mỹ cũng là quê hương của Từ Hải William Walker, một tay đánh thuê vào thế kỷ 19 được thành Léon mời sang Nicaragua giúp để hạ thành Granada (tranh chấp lâu dài giữa Léon và Granada là lý do Managua lúc đó còn bé nhỏ và ở giữa, được chọn lập thành thủ đô cho khỏi phải giằng co). Năm 1859 thành công đánh mướn, Walker tự tấn phong Tổng thống Nicaragua! Bị đuổi đi và lại âm mưu trở về, Walker rốt cuộc tròn kiếp phiêu bồng của ông, làm Từ Hải thì chỉ có mà chết đứng. Đó là số phận của ông nhưng các bạn William Walker Nguyễn, William Walker Trần của tôi thân trai dặm trường Trung Mỹ không được như ông và vô danh hậu thế.

Đêm càng trễ thì càng nhũn người ra vì ẩm. Tôi đưa Gừng về đến tận nhà, trên đường đi tuyến Bắc và hun hút ngõ sâu nhưng vẫn còn một vẻ gì đồng áng. Căn nhà ngoại ô, một căn nhà xinh có hoa thơm trái hiền và lập lòe nê ông. Mẹ Gừng ra mở cửa, một thiếu phụ ngoài 50, tuy mới ở tuổi nửa đời hương phấn nhưng đã cằn cỗi những lo toan cuộc sống, tình cảm đã đi qua khuôn mặt chỉ để lại những đường nhăn khắc nghiệt. Tôi chưa kịp nhìn bà, bà đã nhìn tôi chầm chập, ngơ ngác và lặng người một lúc lâu khiến tôi thêm bối rối.

Anh đã về đấy hả? Bà run run giọng nói [17] . Bà lui lại một bước, và tôi tiến vào nhà nhưng không hiểu chuyện gì.

Không… Không thể nào… Không phải… Bà lập cập, Gừng đứng cạnh ngẩn người.

Mẹ Gừng vào phòng, lục đục một lúc bên trong và trở ra mang theo một gói bọc bằng giấy báo. Bà trao cho tôi trọn gói, giấy báo bằng chữ Việt đã ố, loại đánh máy vào thời mang đi in còn phải bỏ dấu bằng tay. Bài viết trên tờ giấy gói ngả màu là một bài kỷ niệm ngày giỗ thứ bao nhiêu đó của họ Ngô Đình (chứ không phải họ Somoza) nhưng giờ không phải là lúc để tôi đọc Văn Nghệ Tiền Phong, ấn bản hải ngoại vào cuối thập niên 70. Tôi nhìn Gừng, thì đôi mắt em dìu dịu buồn đông phương (chứ không phải là tây). Tôi mở gói báo ra. Bên trong là một cái áo rằn ri cũ, vải worstead tropical tức là loại vải có “gân”, thời chiến tranh ở miền Nam rất được chuộng. Vai của chiếc áo phong trần này còn khâu phù hiệu đầu beo trên sao vàng năm cánh của tiểu đoàn Phủ Tổng thống (chứ không phải là của Biệt động quân miền Nam, tuy coi rất giống). Mắt mẹ Gừng mờ đi, chiều sương không thấy bóng Esteli (chứ không phải bóng Ba Vì) [18] .

Người cha không biết mặt của Gừng, chính là người chiến sĩ tự do của lưỡng quốc! Vào một ngày đen tối 1979, trước khi thấy mặt con, ông đã phải lần nữa mịt mờ Mỹ tiến (chứ không phải là Tây) [19] . Con chưa sinh, ông đã đặt tay lên bụng bà dặn đặt tên nó là “Rừng” (vì ông là beo nhớ rừng nên mới sang Nicaragua cầm súng trở lại). Bởi thế tôi đoán ông là người Bến Tre, chữ “R” phát âm thành chữ “G”, cho nên người con gái vai ngang thuỳ mị đang ướt mi cạnh bên tôi mới mang tên là Gừng chứ không phải Jungle.

Ai người khăn gói gió đưa,
Về đây… quên hết nắng mưa bụi đời.
Khi yêu! Yêu lắm người ơi!
Cả trời, cả đất, cả người Bến Tre.

Bà mẹ mắt rưng rưng, thì hoa trắng đã thôi cài trên áo tím [20] , bà cầm tay tôi và đặt vào tay con gái bà (chứ không phải là tay tôi bà cầm luôn không tha). Người ca sĩ ở quán lúc nãy bỗng hiện ra ở ngưỡng cửa, ông đi xe ôm theo chúng tôi về đến đây để búng nhẹ vào đàn và giờ thì cất tiếng hát bằng tiếng Việt (chứ không phải Besamé).

Tàu xa dần rồi, thôi tiếc thương chi
Khi biết người ra đi vì đời
Trở gót bâng khuâng
Tôi hỏi lòng đêm nay buồn không?
Chuyến xe đêm lạnh không?
Để người yêu vừa lòng .

Thật ra thì Gừng sinh năm 82 chứ không phải 79 (cho dù có thêm hay bớt ba tuổi thì đối với tôi đằng nào cũng vẫn còn trẻ chán) và Nicaragua không có xe ôm, nhưng cũng chẳng sao hết, đây là hiện thực huyền ảo Trung Mỹ. Tựa của truyện này, tôi xin đặt là, “Tình mẹ, thì duyên con chứ sao”.

Đỗ Kh.

TIẾNG CHIM THIÊN CỔ BỘI PHẦN LÍU LO

truongdinhtuan

khi đang chạy trật đường rầy
xiêu hồn lạc phách sa lầy tay em
động lòng hãy vớt tôi lên
làm rêu meo mốc bám thềm linh thiêng

trầm luân từ độ trống chiêng
luân hồi chuông gọi mấy miền biên cương
biết đâu mà gọi mười phương
trần ai thấm giọt lệ hường chưa khô

khi đang xuống ruộng lên bờ
lạc đường cá lội dưới hồ thu ba
động lòng hãy dắt tôi qua
nhịp cầu tiền kiếp mưa xa mưa gần

đầu non cuối mộng một lần
tiếng chim thiên cổ bội phần líu lo

TRƯƠNG ĐÌNH TUẤN

Một Định Nghĩa Thơ

trantrungta

Em ít khi để ý
anh nói gì trong thơ.
Em cứ nghĩ anh mơ
nên thơ nói toàn mộng…

Mộng thì như lượn sóng
thấy đó rồi tan đâu?
Những bọt nổi trên đầu
tan đi…vì bèo bọt!

Trái khế chua không ngọt.
Ly chè ngọt sẽ chua.
Chuyện đó không phải mơ
mà nó là sự thật!

Anh nói y ông Phật:
Sắc tức là thị không!
Ờ nhỉ thơ mấy dòng
chẳng qua không và có…

Nhiều khi thơ – hơi thở.
Hơi thở đâu có bền?
Thơ không phải cái nền
dựng nên lầu Văn Hóa…

Thơ anh là chiếc lá
– một chiếc lá Thu vàng.
Là một chút mơ màng.
Cảm ơn em cảm nhận!

Nếu gửi em giấy trắng,
hỏi thật em mừng không?
Chắc mái tóc bềnh bồng
em lắc đầu…dễ ghét!

Anh làm thơ như vẹt
chẳng có nghĩa lý gì,
coi như tiếng thầm thì
của gió và cây chạm…

Thơ anh là vết nám
của vết thương ngày xưa,
của một thời nắng mưa
lá cờ bay ngõ trúc…

Anh xin em đừng khóc
nếu em đọc kỹ hơn.
Anh xin em đừng thương
bởi anh xa em lắm…

Trần Trung Tá

Colonial bầu không khí

dokh

La Cocina de Doña Haydée là kiến trúc kiểu thuộc địa, giống như những biệt thự kế cận, và ở khu vực này cao cấp, giống như những khu vực gia cư trung lưu rủng rỉnh ở Hoa Kỳ, không cổng không tường ngoài, không hàng dậu để còn có những cô da ngăm nấp đằng sau ngấp nghé. Thập niên 60 loáng thoáng qua như một làn gió thoảng, một vài căn kiểu Le Corbusier bán khai làm tôi nhớ lại căn nhà bố mẹ tôi cất hơn 40 năm về trước, mặt tường đá tô và mái nhà xe kiểu streamline modern, rất tương xứng với tên do anh em chúng tôi đặt vào dạo đó cho con chó trong nhà và không kém modern là “Boeing”.

Doña Haydée không có bán rượu. Mấy ngày hôm qua, Managua cấm vì lý do bầu cử và người Nicaragua có thể là hăng máu khi bàn đến vấn đề chính trị cộng với chất cồn ở trong người nhưng họ rất tôn trọng pháp luật và nơi nào tôi hỏi thử mua bia đều bị lắc đầu! Đây có thể gọi là Đức quốc của Mỹ La Tinh, lưu thông thấy đèn đỏ là… ngừng, buôn bán không tuỳ theo mặt khách, giá các cuốc xe cũng chỉ cần trả một tiếng là đủ, và nằm trong một phạm vi co giãn phải chăng. Chính quyền hữu khuynh Bolaños lo xa thế thôi, lần ẩu đả duy nhất xảy ra trong cuộc tranh cử này là giữa quần chúng của phe Sandino cách tân (MRS) và phe Sandino truyền thống (FSLN) chứ không phải là giữa tả và hữu hay giữa cực tả và cực hữu. Chẳng qua là chuyện trong nhà, tả này đả tả kia xem ai tả hơn ai, mà cũng bắt cả nước phải nhịn rượu.

Hàng hiên mở ra mặt đường, cách một khoảng vườn nho nhỏ và gạch men cẩn ở chân tường, kiểu Ottoman biến thái đời thứ tư tôi đoán thế (nếu kể đời thứ nhất là Ottoman nguyên thuỷ, thứ nhì là Ả rập Trung Đông, đời thứ ba là Ả rập Tây Ban Nha và ở đây thứ tư là Tây Ban Nha thuộc địa). Phục vụ mặc áo quần truyền thống dân tộc nhưng không xun xoe vồn vã, bản sắc này có vẻ thật thà. Lát nữa cũng sẽ chẳng có màn trình diễn gọi là dân tộc với mấy cô vũ công thi trượt hoa hậu và trang phục thiếu vải như ở bên ta, mặc dù ở đây muốn lấy cớ dân tộc để mà phơi bày thì Maya, Inca, Aztec gì cũng rất tiện để chống chế cho việc vén khố lên đến bẹn và không mang nịt vú. Khách ở đây tôi thấy toàn người địa phương nhỏ nhẹ, một đêm cuối tuần thư giãn, đối với tôi chỉ thiếu có rượu nho Chile hay là bia nội Bò rừng (Buffalo). Dura ley, sed ley y la ley es seca, luật “khô” là luật.

Không có rượu thì Gừng vẫn cười, Gừng là người thể thao chỉ uống nước trái cây và vui tính. Cô miệng rất rộng và răng rất trắng, chắc lại gene từ bờ biển Đông (tức gen Phi châu) trôi dạt đến tận hàm (sau khi cặp bến ở bờ mông như đã nhận xét). Khi Gừng cười, tít mắt thổ dân meso-america và thăm thẳm mùa mưa nhưng tôi nhìn bên trong miệng hai hàng, ờ thì… ngà ngọc, thẳng đều và nguyên vẹn, không thiếu một chiếc và không một dấu chì, dấu bạc hay dấu thiết của một tay nào nha sĩ.

Gừng tốt nghiệp Quản trị Kinh doanh ở một đại học có tiếng, nhưng dưới đời Enrique Bolaños, có tới tấp xuất cảng may mặc thì việc làm vẫn thiếu. Cô tìm được chức Phụ tá Quản lý ở một công ty phân phát nệm, lương 300 USD và thực chất là một công việc thư ký văn phòng. Công ty sản xuất nệm này gốc ở Guatamela, đã lan sang thị trường Honduras nhưng ở Nicaragua còn giới hạn. Gừng định đi học thêm bằng Thạc sĩ kế toán nhưng trong công ty không có đường thăng tiến và nếu công ty không phát triển thêm thì đến có bằng Tiến sĩ Kinh tế vẫn thế thôi. Mà rời hãng này ra thì phiêu lưu mạo hiểm vô cùng, việc hiếm người đông, khả năng lao động và trình độ bằng cấp đều được dùng ở dưới mức, nhất là đối với phụ nữ. Người anh trai của Gừng thì mấy năm làm kỹ sư vi tính, gia đình cô nhờ vậy đã dọn ra ở riêng được ở một ngoại ô xa trên đường đi Léon. Ba người con và bà mẹ, hộ hai buồng ngủ, tuy bà vẫn ở nhà chủ, cứ hai tuần mới một lần được nghỉ phép về nhà. Đứa em trai út lên 18 tuổi, thì Gừng buồn không muốn kể tới. Giờ thì không còn chuyện nghĩa vụ quân sự, ra biên khu trong một chiều sương âm u như hai thập niên về trước, thì cậu đi các tụ điểm ca nhạc, chưa tốt nghiệp phổ thông mà đã bỏ học hành.

Nó để tóc dài, lúc nào cũng mặc toàn đồ đen. Thằng em tôi là rocker!

Lúc nãy, ngang Pista Juan Pablo el Segundo, tôi có thấy treo một băng rôn quảng cáo của một buổi biểu diễn sắp tới của ban nhạc Los Angeles del Infierno (“Những thiên thần của địa ngục”): somos todos los angeles (chúng ta đều là thiên thần cả). Ngay bên cạnh cũng phất phơ là băng rôn tranh cử của comandante Bayardo Arce (FSLN, tức liên danh số 2, kỳ bầu cử này vừa Tổng thống, vừa Quốc hội, vừa địa phương và cả Nghị viện Cộng đồng các Quốc gia Trung Mỹ Parlacen [8] ). Thì ứng cử viên nào mà chẳng là thiên thần, họ đều là thiên thần cả, tuy hẳn không phải là thiên thần nhạc rock.

Rock gì mới được, tôi hỏi.

Heavy metal, Gừng trả lời.

Đêm Managua rất là tĩnh, tôi không nghe thấy tiếng dây xích quấn lưng của quần chúng Heavy metal loảng xoảng, tiếng cụng ly (vào dịp bầu cử là cụng ly nước ngọt) hay cười nói ồn ào. Đêm lặng lờ, chỉ thiếu có tiếng Tây Ban cầm thánh thót.

Người đàn ông trung niên cầm đàn đã xuất hiện từ bao giờ không biết. Ông hẳn là phải có râu mép (đây là Trung Mỹ nhé), áo guayabera ngắn tay nhiệt đới, không phải phục sức mariachi. Tiệm ăn giờ đã đông khách thầm thì trong những khoảng nửa tối nửa sáng bập bềnh của hàng hiên một đêm mùa mưa nhiệt đới. Giọng ấm của chàng ca sĩ đong đưa từng bàn những giai điệu của tình yêu. Cái này Pablo Milanés (Cuba), sang đến bàn bên cạnh Leonardo Fabio (Argentina), Gừng một tai theo dõi và chú thích. Gừng giờ hết còn nghe Spice Girls, Gừng thích nghe Dixie Chicks, Gừng thích nghe Cristina Aguilera, Gừng thích nghe cả Edith Piaf. Rồi người ca sĩ nhà hàng cũng phải đến cạnh bàn chúng tôi, đứng ở góc giữa hai người, đảo đôi mắt nhung một vòng dò xét. Khi đã nhận ra tôi là người Viễn Đông, ông bắt đầu cất tiếng một giọng trầm.

Besamé…
Besamé mucho…

Đây là chuyện xấu hổ cả dân tộc (ta nói riêng) và cả nòi giống (da vàng nói chung) nhưng tôn trọng sự thực nên tôi phải kể, ca sĩ quán địa phương thấy mặt Tàu là phải hát Besamé! Đây hẳn là thói quen theo yêu cầu của khách Viễn Đông, chẳng lẽ họ đòi phải hát cho họ nghe “Mùa thu lá bay”. Tôi không nhớ ra tựa một bài nào Victor Jara, một bài nào Carlos Mejía (người Nicaragua và ứng cử viên Phó Tổng thống 2006) để yêu cầu, hay ngay tới cả một bài xập xình Carlos Gardel (lại là người gốc Pháp theo truyền thuyết). Tôi là người Việt và nếu ông này đoán được, chắc ông đã hát bài… “Mexico”! (Nhân tiện ở đây tôi xin chào riêng bạn Dũng. Dũng nào? Thì “Dũng Mexico”!)

Gừng vặn tôi về nhạc Mỹ La Tinh, tôi ấp úng, phim Buena Vista Social Club của Wim Wenders tôi chỉ còn nhớ có Ry Cooder! Và xa hơn nữa, vào thuở mà Gừng chưa sinh ra thì làm sao nàng biết, thuở phong trào “Chúng ta sẽ thắng” (Venceremos) hay “Nhân dân đoàn kết/Sẽ không bao giờ bị đánh bại” (El pueblo unido/Jamás será vencido) của các ban Quilapayun hay là Inti Illimani. Du dương nhất mà tôi biết đến, cho phù hợp với hoàn cảnh lúc này thì vẫn là ca từ rực lửa Canto General (Pablo Neruda, trên nhạc của Mikis Theodorakis với giọng vàng ríu rít đến lạnh mình của Maria Farandouri). Bandonéon Argentina huyền ảo tôi chỉ thuộc có vài lời của Cuarteto Cedrón:

Nadie detiene al sol
Nadie detiene al gallo cantar
Không ai ngăn được mặt trời mọc
Không ai ngăn được tiếng gà gáy

Tức là không ai ngăn nổi lời ca, Mỹ La Tinh tôi chỉ biết những bài hát cách mạng. Dù đang ở Trung Mỹ, giờ vẫn là thế kỷ thứ 21 không phải là thập niên 70-80, tôi phải biết, đến ông Ortega còn biết nữa là. Đêm đang mềm nhũn người ra ở Doña Haydée mà tôi không vét ở đâu ra một nốt nào tình cảm. Giờ là đêm và Gừng không đưa một sợi tóc nào lên miệng ngậm để mà tôi mở giọng Phú Quang (“Buổi sáng”)

Đỗ Kh.

Nhớ Thương Còn Một Giấc Chiêm Bao

 

truongnghiaky

Người lính nằm im như thế đó
Có lẽ lâu rồi, chắc đã lâu?
Y tá cầm tay anh bắt mạch
“Thôi chào anh mùa Thu Thiên Thu!”

Người vợ đứng nghe và bật khóc
Đưa tay vuốt mặt bạn trăm năm
Sa trường trải trắng drap màu trắng
Kẻ mất, người còn: Ôi cố nhân!

Người lính sẽ đi vào huyệt mộ
Đêm trăng nào nghỉ mát nơi nao?
Gió ù ù thổi qua dặm nhớ
Nhớ thương còn…một giấc chiêm bao!

Bốn mươi năm nhớ về ngày tháng
Bóng mù sương mờ gió xuýt xoa
Người Mẹ chỉ lên hình của Bố:
“Con nói đi một tiếng Thưa Ba!”

Bốn mươi năm lòng ai cũng đá
Lạnh căm căm mỗi lúc gục đầu
Giống Hồng Lạc một trăm đường lạc
Mở mắt nhìn thấy biển thành dâu!

Tôi cũng lính chậm chân rồi cũng chết
Nhìn bạn mình chấm hết tuổi Xuân
Bốn mươi năm bỗng buồn nhớ lại
Rồi thở dài: Đã Bốn Mươi Năm!

Trương Nghĩa Kỳ