LẶNG IM BIỂN. NGƯỜI VỀ

Khóc Nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, mất ngày 13.9.2014

nguyenthikhanhminh

Tin gió đưa về với mênh mông
Biển rất xanh và chân trời hư ảo
Sao ai trả lời kia sóng như bông*

Nở một đoá xôn xao chín suối
Tóc như mây trăm ngả sông về
Biển hò hẹn chắt lòng bông hoa muối

Động lòng câu hỏi ai xưa
Trời không im đất cũng vừa lên tiếng
Nghe thì thầm. Thì thầm… hãy lặng im như biển**

Biển mở ngàn tay tung nghìn bước sóng
Ai vừa đến hát mừng a cõi mộng
Hỏi một câu giờ trời đất mới hay…

Tan với cỏ cây một hồn sương sớm
Gió nghe không. Hạt lệ đó vừa khô
Mây nghe không. Bay vừa lên cánh mỏng

Tan với lòng xanh nhánh hồn như mộng
Hồn sóng dạt dào ôi biển nghe không
Biển thấy hết, nghe hết, hiểu hết, và biết hết…**

NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH

Sep14.2014

Cái chết của một ngôn ngữ: Tiếng Việt Sài Gòn cũ

Trịnh Thanh Thủy

Vấn đề ngôn ngữ là vấn đề của muôn thuở, không riêng gì của người Việt. Trong bài viết này, tôi muốn bàn về một thực trạng của tiếng Việt mà đã đến lúc, chúng ta không thể không suy nghĩ về nó một cách nghiêm túc. Đó là nguy cơ diệt vong của một thứ tiếng Việt mà người miền Nam Việt Nam dùng trước năm 1975 hay còn được gọi là tiếng Việt Sài Gòn cũ. Thứ tiếng Việt đó đang mất dần trong đời sống hàng ngày của người dân trong nước và chẳng chóng thì chầy, nó sẽ biến thành cổ ngữ, hoặc chỉ còn tìm thấy trong tự điển, không còn ai biết và nhắc tới nữa. Điều tôi đang lo lắng là nó đang chết dần ngay chính trong nước chứ không phải ở ngoài nước. Người Việt hải ngoại mang nó theo hành trình di tản của mình và sử dụng nó như một thứ ngôn ngữ lưu vong. Nếu người Việt hải ngoại không dùng, hay nền văn học hải ngoại không còn tồn tại, nó cũng âm thầm chết theo. Nhìn tiếng Việt Sài Gòn cũ từ từ biến mất, lòng tôi bỗng gợn một nỗi cảm hoài. Điều tôi thấy, có lẽ nhiều người cũng thấy, thấy để mà thấy, không làm gì được. Sự ra đi của nó âm thầm giống như những dấu tích của nền văn hoá đệ nhất, đệ nhị cộng hoà VN vậy. Người ta không thể tìm ra nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, Cổ Thành Quảng Trị, nghĩa trang Quân Đội, trường võ bị Thủ Đức, v.v… Tất cả đã thay đổi, bị phá huỷ hoặc biến đi như một sắp xếp của định mệnh hay một định luật của tạo hoá.
Nhắc đến tiếng Việt Sài Gòn cũ là nhắc tới miền Nam Việt Nam trước 1975. Vì cuộc đấu tranh ý thức hệ mà Nam, Bắc Việt Nam trước đó bị phân đôi. Sau ngày Việt Nam thống nhất năm 75, miền Nam thực sự bước vào sự thay đổi toàn diện. Thể chế chính trị thay đổi, kéo theo xã hội, đời sống, văn hoá và cùng với đó, ngôn ngữ cũng chịu chung một số phận. Miền Bắc thay đổi không kém gì miền Nam. Tiếng Việt miền Bắc đã chịu sự thâm nhập của một số ít ngữ vựng miền Nam. Ngược lại, miền Nam chịu ảnh hưởng trực tiếp sự chi phối của ngôn ngữ miền Bắc trong mọi lãnh vực. Nguời dân miền Nam tập làm quen và dùng nhiều từ ngữ mà trước đây họ không bao giờ biết tới. Những: đề xuất, bồi dưỡng, kiểm thảo, sự cố, hộ khẩu, căn hộ, ùn tắc, ô to con, xe con, to đùng, mặt bằng, phản ánh, bức xúc, tiêu dùng, tận dụng tốt, đánh cược, chỉ đạo, quyết sách, đạo cụ, quy phạm, quy hoạch, bảo quản, kênh phát sóng, cao tốc, doanh số, đối tác, thời bao cấp, chế độ bao cấp, chế độ xem, nâng cấp, lực công, nền công nghiệp âm nhạc, chùm ảnh, chùm thơ, nhà cao tầng, đáp án, phồn thực, sinh thực khí, từ vựng, hội chứng, phân phối, mục từ, kết từ, đại từ, nghệ sĩ ưu tú, nghệ sĩ nhân dân,v.v…dần dà đã trở thành những từ ngữ quen thuộc trong đời sống hàng ngày của người dân miền Nam.
Có những từ ngữ miền Nam và miền Bắc trước 75 đồng nghĩa và cách dùng giống nhau. Có những từ cùng nghĩa nhưng cách dùng khác nhau. Tỷ như chữ “quản lý” là trông nom, coi sóc. Miền Nam chỉ dùng từ này trong lãnh vực thương mại trong khi miền Bắc dùng rộng hơn trong cả lãnh vực cá nhân như một người con trai cầu hôn một người con gái bằng câu: “Anh xin quản lý đời em”. Hoặc từ “chế độ” cũng vậy, miền Nam chỉ dùng trong môi trường chính trị như “chế độ dân chủ”. Miền Bắc dùng bao quát hơn trong nhiều lãnh vực như “chế độ xem”, “chế độ bao cấp”. Có những từ miền Bắc dùng đảo ngược lại như đơn giản – giản đơn; bảo đảm – đảm bảo; dãi dầu – dầu dãi; vùi dập – dập vùi. v.v…
Song song với việc thống nhất đất nước, chính quyền Việt Nam đã thống nhất hoá tiếng Việt và gọi đó là “tiếng Việt toàn dân”. Cuối năm 1979, đầu năm 1980, Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam đã phối hợp với Viện Khoa học Giáo dục tổ chức một số cuộc hội thảo về vấn đề chuẩn hoá tiếng Việt. Bộ Giáo dục cũng thông qua một số quy định về chính tả trong sách giáo khoa cải cách giáo dục. Ngày 01/7/1983, Quyết nghị của Hội đồng chuẩn hoá chính tả và Hội đồng chuẩn hoá thuật ngữ đã được ban hành và áp dụng cho các sách giáo khoa, báo và văn bản của ngành giáo dục.
Khi tiếng Việt được thống nhất và chuẩn hoá, toàn quốc sử dụng chung một thứ ngôn ngữ theo một tiêu chuẩn, mẫu mực nhất định. Tiếng Việt Sài Gòn cũ, gồm những từ ngữ mà tiếng Việt miền Bắc đã có từ ngữ thay thế, sẽ bị quên đi hoặc bị đào thải. Những từ ngữ thông dụng cho cuộc chiến trước đó sẽ biến mất trước tiên. Những: trực thăng, cộng quân, tác chiến, địa phương quân, thiết vận xa, xe nhà binh, lạnh cẳng, giới chức(hữu) trách, dứt điểm, phi tuần, chào bãi, tuyến phòng thủ, trái bộc pha, viễn thám, binh chủng, phi hành, gia binh, ấp chiến lược, nhân dân tự vệ, chiêu hồi, chiêu mộ, v.v… hầu như ít, thậm chí không được dùng trong hiện tại. Những từ ngữ thông dụng khác như ghi danh, đi xem đã bị thay thế bằng đăng ký, tham quan. Nhiều từ ngữ dần dần đã bước vào quên lãng như:sổ gia đình, tờ khai gia đình, phản ảnh, đường rầy, cao ốc, bằng khoán nhà, tĩnh từ, đại danh từ, túc từ, giới từ, khảo thí, khán hộ, khao thưởng, hữu sự, khế ước, trước bạ, tư thục, biến cố, du ngoạn, ấn loát, làm phong phú, liên hợp, gá nghĩa, giáo học, giáo quy, hàm hồ, tráng lệ, thám thính, tư thất, chẩn bệnh, chi dụng, giới nghiêm, thiết quân luật, v.v…
Ở hải ngoại, khi bắt đầu cầm bút, trong tâm thức một người lưu vong, viết, đối với tôi, là một động tác mở để vỡ ra một con đường: Đường hoài hương. Nhiều người viết hải ngoại cũng tìm đến con đường về cố hương nhanh nhất này như tôi. Hơn nữa, để đối đầu với cơn chấn động văn hóa thường tạo nhiều áp lực, tôi xem viết như một phương pháp giải toả và trám đầy nỗi hụt hẫng, rỗng không của một người vừa ly dị với quê hương đất tổ sau một hôn phối dài. Tôi không bao giờ để ý đến việc mình viết cho ai, loại độc giả nào, trong hay ngoài nước, và họ có hiểu thứ ngôn ngữ mình đang dùng hay không vì lúc đó, chỉ có một vài tờ báo điện tử liên mạng mới bắt đầu xuất hiện ở hải ngoại. Sau này, nhờ kỹ thuật điện toán ngày một phát triển, cầu giao lưu giữa trong và ngoài nước được nối lại, độc giả trong và ngoài nước đã có cơ hội tiếp xúc, thảo luận, đọc và viết cho nhau gần như trong gang tấc. Đó là lúc tôi được tiếp xúc với dòng văn học trong nước và làm quen với nhiều từ ngữ mới lạ chưa từng được nghe và dùng. Ngược lại, trong nước cũng vậy, số người lên mạng để đọc những gì được viết bởi người cầm bút ngoài nước cũng không ít.
Thế hệ chúng tôi được người ta âu yếm gọi là thế hệ một rưỡi, thế hệ ba rọi hay nửa nạc nửa mỡ, cái gì cũng một nửa. Nửa trong nửa ngoài, nửa tây nửa ta, nửa nam nửa bắc, nửa nọ nửa kia, cái gì cũng một nửa.
Do đó, nhiều lúc tôi phân vân không biết mình nên dùng nửa nào để viết cho thích hợp nữa. Nửa của những từ ngữ Sài Gòn cũ hay nửa của tiếng Việt thông dụng trong nước? Mình có nên thay đổi lối viết không? Tôi nghĩ nhiều người viết hải ngoại cũng gặp khó khăn như tôi và cuối cùng, mỗi người có một lựa chọn riêng. Không chỉ trong lãnh vực văn chương, thi phú mà ở các lãnh vực phổ thông khác như giáo dục và truyền thông cũng va phải vấn đề gay go này. Việc sử dụng nhiều từ ngữ thông dụng của quốc nội ở hải ngoại đã gặp nhiều chống đối và tạo ra những cuộc tranh luận liên miên, dai dẳng.
Các cơ quan truyền thông như báo chí, truyền thanh, truyền hình thường xuyên bị chỉ trích và phản đối khi họ sử dụng những từ trong nước bị coi là “chữ của Việt Cộng” và được yêu cầu không nên tiếp tục dùng. Nhất là ở Nam Cali, báo chí và giới truyền thông rất dễ bị chụp mũ “cộng sản” nếu không khéo léo trong việc đăng tải và sử dụng từ ngữ. Chiếc mũ vô hình này, một khi bị chụp, thì nạn nhân xem như bị cộng đồng tẩy chay mà đi vào tuyệt lộ, hết làm ăn vì địa bàn hoạt động chính là cộng đồng địa phương đó.
Trong cuốn DVD chủ đề 30 năm viễn xứ của Thúy Nga Paris, chúng ta được xem nhiều hình ảnh cộng đồng người Việt hải ngoại cố gìn giữ bản sắc văn hoá Việt Nam bằng cách mở các lớp dạy Việt ngữ cho các con em. Khắp nơi trên thế giới, từ nơi ít người Việt định cư nhất cho tới nơi đông nhất như ở Mỹ, đều có trường dạy tiếng Việt. Riêng ở Nam California, Mỹ, hoạt động này đang có sự khởi sắc. Ngoài những trung tâm Việt ngữ đáng kể ở Little Saigon và San José, các nhà thờ và chùa chiền hầu hết đều mở lớp dạy Việt ngữ cho các em, không phân biệt tuổi tác và trình độ. Nhà thờ Việt Nam ở Cali của Mỹ thì rất nhiều, mỗi quận hạt, khu, xứ đều có một nhà thờ và có lớp dạy Việt ngữ. Chùa Việt Nam ở Cali bây giờ cũng không ít. Riêng vùng Westminster, Quận Cam, Cali, đi vài con đường lại có một ngôi chùa, có khi trên cùng một con đường mà người ta thấy có tới 3, 4 ngôi chùa khác nhau. Việc bảo tồn văn hoá Việt Nam được các vị hướng dẫn tôn giáo như linh mục, thượng tọa, ni sư nhắc nhở giáo dân, đại chúng mỗi ngày. Lớp học tiếng Việt càng ngày càng đông và việc học tiếng Việt đã trở thành một trong những mối quan tâm hàng đầu của cộng đồng lưu vong. “Tại Trung tâm Việt ngữ Hồng Bàng, năm nay số học sinh nhập học tiếng Việt lên tới 700 em. Những thầy cô dạy tiếng Việt đều làm việc thiện nguyện hoàn toàn, đã hết lòng chỉ dạy cho các em, nhất là các em vừa vào lớp mẫu giáo tiếng Việt” (trích Việt báo, Chủ nhật, 9/24/2006)
Về vấn đề giáo trình thì mỗi nơi dạy theo một lối riêng, không thống nhất. Sách giáo khoa, có nơi soạn và in riêng để dạy hoặc đặt mua ở các trung tâm Việt ngữ. Còn ở đại học cũng có lớp dạy tiếng Việt cho sinh viên, sách thường được đặt mua ở Úc. Một giảng sư dạy tiếng Việt tâm sự với tôi: “Khi nào gặp những từ ngữ trong nước thì mình tránh đi, không dùng hoặc dùng từ thông dụng của Sài gòn cũ trước 75 vì nếu dùng cha mẹ của sinh viên, học sinh biết được, phản đối hoặc kiện cáo, lúc ấy phải đổi sách thì phiền chết.”
Sự dị ứng và khước từ việc sử dụng tiếng Việt trong nước của người Việt hải ngoại có thể đưa tiếng Việt ở hải ngoại đến tình trạng tự mình cô lập. Thêm nữa, với sự phát triển rầm rộ của kỹ thuật điện toán và thế giới liên mạng, báo chí, truyền thông của chính người Việt hải ngoại đến với mọi người quá dễ dàng và tiện lợi. Độc giả cứ lên mạng là đọc được tiếng Việt Sài Gòn cũ nên họ dường như không có nhu cầu tìm hiểu tiếng Việt trong nước. Kết quả là tiếng Việt trong và ngoài nước chê nhau!!!
Việc người Việt hải ngoại chống đối và tẩy chay ngôn ngữ Việt Nam đang dùng ở trong nước có vài nguyên do:
Thứ nhất là do sự khác biệt của ý thức hệ. Những người Việt Nam lưu vong phần lớn là người tị nạn chính trị. Họ đã từ bỏ tất cả để ra đi chỉ vì không chấp nhận chế độ cộng sản nên từ chối dùng tiếng Việt trong nước là gián tiếp từ chối chế độ cộng sản.
Thứ hai, sự khác biệt của từ ngữ được dùng trong cả hai lãnh vực ngữ nghĩa và ngữ pháp. Đây là một thí dụ điển hình. Trong cùng một bản tin được dịch từ một hãng thông tấn ngoại quốc, nhà báo ở trong nước và ngoài nước dịch thành hai văn bản khác nhau:
Trong nước:
Tàu ngầm hạt nhân Nga bốc cháy
Interfax dẫn một nguồn tin Hải quân Nga cho hay ngọn lửa bắt nguồn từ phòng điện hóa và dụng cụ bảo vệ lò hạt nhân đã được kích hoạt, do đó không có đe dọa về nhiễm phóng xạ. Phát ngôn viên hạm đội này cho hay: “Lửa bốc lên do chập điện ở hệ thống cấp năng lượng phần mũi tàu.
(http://vnexpress.net/Vietnam/The-gioi/2006/09/3B9EDF89/)
Ngoài nước:
Hỏa hoạn trên tàu ngầm Nga
Hải quân Nga nói rằng lò phản ứng hạt nhân trên tàu Daniil Moskovsky đã tự động đóng lại và không có nguy cơ phóng xạ xảy ra. Chiếc tàu đã được kéo về căn cứ Vidyayevo. Nguyên nhân hỏa hoạn có thể do chạm giây điện.
(http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=48362&z=75)
Một người Việt hải ngoại khi đọc văn bản thứ nhất sẽ gặp những chữ lạ tai, không hiểu nghĩa rõ ràng vì sự khác biệt như những chữ: phòng điện hoá, được kích hoạt, chập điện, hệ thống cấp năng lượng…
Hơn thế nữa, Việt Nam mới bắt đầu mở cửa thông thương giao dịch với quốc tế; những từ ngữ mới về điện toán, kỹ thuật, y khoa, chính trị, kinh tế, xã hội, ồ ạt đổ vào. Có nhiều từ ngữ rất khó dịch sát nghĩa và thích hợp nên mạnh ai nấy dịch. Ngoài nước dịch hai ba kiểu, trong nước bốn năm kiểu khác nhau, người đọc cứ tha hồ mà đoán nghĩa. Có chữ thà để ở dạng nguyên bản, người đọc nhiều khi còn nhận ra và hiểu nghĩa nó nhanh hơn là phiên dịch.
Trong việc phiên dịch, theo tôi, địa danh, đường phố, tên người nên giữ nguyên hơn là phiên dịch hay phiên âm. Nếu có thể, xin chú thích từ nguyên bản ngay bên cạnh hay đâu đó bên dưới bài viết sẽ giúp người đọc dễ theo dõi hay nhận biết mặt chữ. Tỷ như việc phiên âm các địa danh trên bản đồ trong sách giáo khoa của Bộ Giáo dục trong nước là việc đáng khen nhưng tôi nghĩ, nếu đặt từ nguyên thủy lên trên từ phiên âm thì các em học sinh chưa học tiếng Anh hoặc đã học tiếng Anh sẽ dễ nhận ra hơn. Xin lấy tỉ dụ là những địa điểm được ghi trên tấm bản đồ này. (http://i12.photobucket.com/albums/a215/unisom/thualuonJPG.jpg)
Tôi thấy một hai địa danh nghe rất lạ tai như Cu dơ Bây, Ben dơ mà không biết tiếng Mỹ nó là cái gì, ngồi ngẫm nghĩ mãi mới tìm ra: đó là hai địa danh Coos Bay và Bend ở tiểu bang Oregon, nước Mỹ!
Ngôn ngữ chuyển động, từ ngữ mới được sinh ra, từ cũ sẽ mất đi như sự đào thải của định luật cung cầu. Tiếng Việt Sài Gòn cũ ở trong nước thì chết dần chết mòn; ở ngoài nước, nếu không được sử dụng hay chuyển động để phát sinh từ mới và cập nhật hoá, nó sẽ bị lỗi thời và không còn thích ứng trong hoạt động giao tiếp nữa. Dần dà, nó sẽ bị thay thế bằng tiếng Việt trong nước. Nhất là trong những năm gần đây, sự chống đối việc sử dụng tiếng Việt trong nước ngày càng giảm vì sự giao lưu văn hoá đã xảy ra khiến người ta quen dần với những gì người ta đã phản đối ngày xưa. Tạp chí, sách, báo đã đăng tải và phổ biến các bản tin cũng như những văn bản trong nước. Người ta tìm được nhiều tài liệu, ấn phẩm, sách nhạc quốc nội được bày bán trong các tiệm sách. Các đài truyền thanh phỏng vấn, đối thoại với những nhà văn, nhà báo, chính trị gia và thường dân trong nước thường xuyên. Đặc biệt, giới ca sĩ, nhiều người nổi tiếng ra hải ngoại lưu diễn, đi đi về về như cơm bữa. Giới truyền thông bây giờ sử dụng từ ngữ trong nước rất nhiều, có người mặc cho thiên hạ chỉ trích, không còn ngại ngùng gì khi dùng từ nữa. Khán thính giả có khó chịu và chê trách, họ chỉ giải thích là thói quen đã ăn vào trong máu rồi, không chịu thì phải ráng mà chịu.
Sự ra đi của một chế độ kéo theo nhiều thứ: con người, tài sản, nhà cửa, vườn tược, lịch sử… nhưng có cái bị lôi theo mà người ta không ngờ nhất lại là “cái chết của một ngôn ngữ”

TRỊNH THANH THỦY

giấc mơ cổ tích

reu

có những ngày vui trôi qua ngắn ngủi..
có những niềm buồn ở mãi quanh ta..
có tia mắt nhìn nhưng chưa dám nói
chợt có một hôm bỗng thấy mình già

có lúc muội mơ hóa mình trẻ nhỏ
chợt khóc, chợt cười, chợt hát hồn nhiên
có lúc muội mơ hóa thành cọng cỏ
cọng cỏ vô ưu khép nép quanh triền..

rồi có lúc muội mơ làm công chúa
nằm bên bìa rừng ngủ giấc mê say
trong giấc ngủ lung linh màu cổ tích
có chàng thợ săn lạc lối quên về…

RÊU

BIÊN CƯƠNG LÁ RƠI…THU HÀ EM ƠI !!!

phamhoainhan

Dân miền Tây 10 người thì hết… 11 người thuộc bài ca vọng cổ Võ Đông Sơ của soạn giả Viễn Châu:
Biên cương lá rơi, Thu Hà em ơi
Đường dài mịt mù em không tới nơi…

Trong 11 người ấy, ai cũng biết Võ Đông Sơ bị trúng tên mà chết, bởi câu vọng cổ đầu tiên trong bài là:
Trời ơi, bởi sa cơ giữa chiến trường thọ tiễn, nên Võ Đông Sơ đành chia tay vĩnh viễn Bạch Thu (ớ ơ ờ)… Hà!
Thế nhưng cũng trong số… 11 người ấy, chắc chỉ có 1 người biết Võ Đông Sơ con cái nhà ai!

Cũng phải thôi, vì nhân vật Võ Đông Sơ xuất hiện lần đầu tiên trong tiểu thuyết lịch sử Giọt máu chung tình của Tân Dân Tử từ năm 1926, cách đây gần cả thế kỷ. Tiểu thuyết này chuyển thể thành cải lương vài năm sau đó, nhưng bản vọng cổ thì mãi đến thập niên 1960 mới ra đời. Bản vọng cổ lâm ly này tập trung ở tình tiết Võ Đông Sơ sắp chết (và vô vọng cổ trước khi chết), chớ hổng phải là tiểu thuyết và cũng hổng phải tiểu sử Võ Đông Sơ nên thế hệ sau này chả biết chàng là con ai. Có người còn nghĩ chàng là… Tàu khựa, vì tên người yêu là Bạch Thu Hà, giống tên Tàu quá!

May sao, nhờ thời buổi Internet, có người sục sạo Gu-gồ, đọc lại tiểu thuyết Giọt máu chung tình và biết được Võ Đông Sơ không phải Tàu, mà là người Việt, con của một nhân vật lịch sử có thật hẳn hoi: Đó là Võ Tánh, một danh tướng triều Nguyễn, là cha, và mẹ là công chúa Ngọc Du!

Ai đọc qua sử Việt cũng đều biết Võ Tánh giữ thành Quy Nhơn và đã tuẫn tiết tại đây năm 1801. Võ Tánh là nhân vật có thật, vậy Võ Đông Sơ thì sao? Đến 99% rằng đây chỉ là nhân vật hư cấu của Tân Dân Tử, vì ngoài tiểu thuyết Giọt máu chung tình của ông không hề có bất kỳ tư liệu lịch sử nào nhắc đến con trai Võ Tánh là Võ Đông Sơ cả. Hơn nữa, tình tiết của tiều thuyết không có gì khớp với lịch sử vào thời kỳ đó (thời kỳ đầu triều Nguyễn).

Ấy, nhưng sau khi tìm ra tung tích Võ Đông Sơ rồi, nhiều bài viết trên mạng mặc nhiên cho rằng chàng là nhân vật có thiệt, và phăng ra nhiều tình tiết y như thiệt! Tỷ như ở Gò Công (là nơi Võ Tánh khởi nghiệp) nay còn đền thờ ông, người ta bèn kể chuyện rằng dạo ấy Võ Đông Sơ đã từ Quy Nhơn phi ngựa về Gò Công để tế cha giữa đêm trường ai oán! Người ta cũng căn cứ theo sử liệu rằng Võ Tánh sinh ra ở Trấn Biên và nói rằng ông sinh quán tại Biên Hòa. Hic, nghe qua tưởng là đúng, nhưng mà trật lất. Thủ phủ Trấn Biên đúng là Biên Hòa, nhưng hồi ấy Trấn Biên rộng lắm, bao trùm cả Bà Rịa – Vũng Tàu, và thật sự sinh quán của Võ Tánh là Bà Rịa chớ đâu phải Biên Hòa!
Tiếc rằng những suy diễn trật lất này nhờ công nghệ trích và sao chép trên mạng lan ra tùm lum và nhiều người cứ tưởng là đúng. Vậy là nhờ Internet ta tìm ra thông tin, và cũng nhờ đó ta làm thông tin đi lạc luôn!
Thôi, sai thì cũng chẳng chết ai (có chết chăng là Võ Đông Sơ, thì… đã chết rồi!). Sẵn mọi người chế biến quanh Võ Đông Sơ, Tui cũng góp phần xí-xọn một chút.
Võ Đông Sơ kêu Trời: Trời ơi! Bởi sa cơ giữa chiến truờng thọ tiễn nên Võ Đông Sơ đành chia tay vĩnh viễn Bạch Thu… Hà.
Kêu, nhưng mà vừa kêu vừa ca, nên ta gọi là kêu ca. Có phải Võ Đông Sơ đã kêu (ca) như vậy không?
Nếu Võ Đông Sơ là người Bắc thì chàng đã kêu như thế này:
Ối giời ơi! Bởi sa cơ giữa chiến truờng thọ tiễn nên Võ Đông Sơ đành chia tay vĩnh viễn Bạch Thu… Hà.
Võ Đông Sơ không phải người Bắc, nên không ca Ối giời ơi!, nhưng chàng đâu phải người Nam mà ca Trời ơi!
Theo tiểu thuyết Giọt máu chung tình, Võ Đông Sơ lớn lên ở Quy Nhơn, và khi cha mất chàng sống với chú ở Quy Nhơn, vậy ắt là chàng… nói giọng Bình Định! Người Bình Định phát âm chữ Trời ơi nửa giống Trầu quâu, nửa giống Trờ quơ… thôi thì ta tạm “phiên âm” thành Trầu quâu vậy.
Và như vậy ắt hẳn là Võ Đông Sơ đã ca như vầy:
Trầu quâu! Bởi sa cơ giữa chiến trường thọ tiễn, nên Dzõ Đông Sơ đành chia te dzĩnh dziễn Bạch Thu…ớ ơ ơ… Hèa!….
Dẫy nghen!

PHẠM HOÀI NHÂN

NGHIÊNG

khatiemly

Cờ nghiêng tướng sĩ xôn xao,
Ai nghiêng hôn trộm má đào của em?
Bầu nghiêng, lãng tử say mèm
Đèn nghiêng, mới biết màn đêm não nùng.
Gối nghiêng, quạnh quẽ cô phòng
Tóc nghiêng che khuất môi hồng giai nhân
Áo nghiêng rũ bụi phong trần,
Tuổi nghiêng tiếc một trời xuân năm nào
Ai nghiêng nhìn mắt ai trao
Cây nghiêng, lá đổ trăm màu tương tư

Chén nghiêng đợi rót rượu hờ,
Ta nghiêng một chốc, dại khờ trăm năm
Lá nghiêng hứng trận mưa dầm,
Đò nghiêng ta cứ tay cầm tay nhau.
Đàn nghiêng nức nở tơ sầu,
Nón nghiêng nên để qua cầu gió bay!
Chân nghiêng mỏi bước đường dài,
Tay nghiêng tìm một bờ vai ân tình.

Chiều nghiêng che má em xinh,
Bóng nghiêng tìm dáng băng trinh một thời,
Môi nghiêng tìm một bờ môi,
Sầu nghiêng, tìm được một lời nhớ nhung?
Má nghiêng tìm chút thẹn thùng,
Tình nghiêng, để lắm lạnh lùng cho em!
Anh nghiêng tìm chút hương duyên,
Em nghiêng, rớt chút dịu hiến cho anh

Đời nghiêng nặng kiếp phiêu linh,
Khói nghiêng hư ào bóng hình ngày xưa.
Duyên nghiêng tìm nụ hôn thừa,
Lời nghiêng một chút cho vừa lòng nhau.
Vôi nghiêng tìm một lá trầu,
Trầu nghiêng tìm một miếng cau mặn nồng.
Vợ nghiêng tìm ấm hơi chồng,
Chồng nghiêng tìm vợ tấm lòng thủy chung.
Thơ nghiêng, vần điệu não nùng,
Mây nghiêng che núi, nghìn trùng yêu thương.
Đá nghiêng, mấy tuổi đá buồn?
Lợi nghiêng chi lắm mà danh rẻ hời!

Rượu nghiêng tìm chút tình thôi,
Ta nghiêng lần nữa nên đời bơ vơ!


Kha Tiệm Ly

THI SĨ BÙI GIÁNG

tamnhien

IMG_0951

Không chỗ trú chẳng bến bờ
Vẫn bầu rượu với túi thơ dặm dài
Ngút mùa cuồng sĩ lai rai
Nghêu ngao vô sự hát bài Hoa Nghiêm

Có gì đâu phải đi tìm
Ba nghìn thế giới trong tim của mình
Tà tà giữa cuộc phiêu linh
Một hôm bất chợt thấy hình bóng xưa

Nên về cà rỡn bông đùa
Múa ca diệu dụng cùng mưa nắng cười
Miền hoan hỷ địa rong chơi
Khơi nguồn sáng tạo mở trời đất ra

Tâm Nhiên

KHÔNG THẤY NÚI

khuatdau

Hồi đó bọn tôi còn nhỏ tuổi lắm. Được bộ đội cho một miếng lương khô là cả một cái gì hết sức to tát. Nhà thằng Hành nằm sát lề đường, bộ đội thường ngang qua nên mới có cái may rơi rớt đó, chứ không phải đứa nào cũng được. Lương khô của Trung Quốc lốm đốm màu nâu, cứng như gỗ. Hành khoe ăn một miếng bảy ngảy không thấy đói. Nó cầm cái miếng lương khô chết tiệt đó nhơi nhơi trước mặt bọn tôi rồi le lưỡi liếm một cái, bảo là ngon hết sẩy. Nó liếm rồi dấu, dấu rồi lại liếm khiến bọn tôi muốn nổi điên. Có đứa tức quá nhào tới giựt đại, nhưng nó nhanh tay hơn dấu biến vào túi.
Thì đành phải kiếm thứ khác đổi vậy, đó là cái cách mà nó muốn bọn tôi phải hàng phục. Đổi xoài, nó nói ở đây ai mà thèm xoài. Đổi mía, nó chê mía cứng ăn gãy răng. Đổi dế than, nó bảo đồ ăn, ngu sao đổi dế. Sau cùng nó chịu đổi trứng gà luộc. Mỗi trứng được cắn một miếng. Trứng gà thì nó bóc ra tộng vào mồm như rắn nuốt nhái, không sứt mẻ một chút nào. Nhưng lương khô của nó thì dấu kín trong lòng bàn tay, như con rùa dấu kín trong mai chỉ thò ra một cái đầu bé xíu. Nó bấm chặt ngón cái để làm dấu, chưa cắn được đã bị nó giụt ra. Nó là cái thằng tham ăn số một.
Nó khôn bỏ mẹ, nhưng thằng Mạnh còn ranh ma hơn. Đến lượt mình, Mạnh cắn một phát vào tay, khiến nó hốt hoảng buông ra. Miếng lương khô quý như vàng của nó rơi đánh bộp xuống đất. Tôi nhanh tay hơn chụp được chạy tuốt vào nhà.Cả bọn bên ngoài liền tru tréo chửi rủa.Anh tôi từ trên cao, chộp xuống tay tôi như con chim cắt, lấy mất.Anh lật qua lật lại săm soi, đưa lên mũi ngửi khịt khịt, thè lưỡi liếm thử rồi nhăn mặt bảo: như cục cứt khô, có ngon lành gì đâu mà tụi bay giành. Kệ em, tôi dậm chân bành bạch, khóc đòi lại.
Thôi để tao chia cho, mỗi đứa nếm thử một chút của ngon vật lạ của mấy ông cộng sản cho biết mùi. Anh lấy dao và cả búa, kê lên ghế chặt bộp bộp như bổ củi. Mỗi đứa được anh chia một miếng chỉ bằng nửa cái móng tay, nhưng sung sướng còn hơn được cả lon đồ hộp của Mỹ. Đứa nào cũng ngửa cổ ra, trịnh trọng bỏ vào mồm như đón nhận bánh thánh của cha, rồi cứ thế mà ngậm chứ không dám nhai. Ngòn ngọt, măn mẳn, lại hơi beo béo, như bắp rang giã nhỏ trộn đậu phụng. Đúng là chẳng ra cái quái gì cả, nhưng là của bộ đôi nên đứa nào cũng gục gặt đầu khen ngon! Dĩ nhiên đến trưa đứa nào cũng tộng vào bụng bốn chén cơm đầy nhưng đều bảo có lương khô, no, chẳng cần ăn.
30/4 đúng vào dịp hè nên bọn tôi chẳng phải đi học. Chúng tôi suốt ngày đá banh, đuổi bắt nhau, hay đợi tối đến rủ rỉ kể chuyện ma trong vườn xoài. Phải nói là rừng xoài vì vườn nọ nối tiếp vườn kia, cả chục cây số, chỉ có xoài với xoài. Những cây xoài xanh đen như những cây dù khổng lồ, suốt ngày phủ kín mặt đất, không để rơi một giọt nắng nào.Nằm giữa hai hai ngọn núi lớn, hòn Bà ở phía đông quanh năm mây phủ, hòn Ông ở phía tây sừng sững đụng trời, ai ở mấy cái xã này, sáng mở mắt ra là đã nhìn thấy núi. Cái hẻm núi sâu dài kẹp giữa hai đường quốc lộ và xe lửa như một con mãng xà đen và một con rồng lửa cùng thi nhau chạy tới vịnh Cam Ranh.
Dường như đất ở đây chỉ dành để trồng xoài.Tuy mỗi năm chỉ có một mùa, nhưng nhà nào cũng có cả ngàn cây, nên thu nhập nhiều gấp mấy lần làm ruộng. Đến mùa xoài trổ bông, hàng triệu con ong kêu vù vù bay đi bay lại suốt ngày, rì rầm như tiếng tụng kinh. Ấy vậy mà có lúc người ta định phá hết để trồng lúa. Trên bảo xoài không phải là lương thực.Với lại thành lập hợp tác xã nông nghiệp chứ ai lại đi thành lập HTX xoài!
Đó là nói chuyện sau này, chứ hồi đó người ta chỉ lo trừ gian diệt ngụy, lùng sục những phần tử chống phá cách mạng, chứ hơi sức đâu mà nghĩ tới cây xoài. Mà những kẻ đáng bị đem ra bắn bỏ ấy thì chỉ có ngu mới đi trốn trên cây xoài. Cho nên cái âm u bí mật của rừng xoài, cái giang sơn không hổ báo này, chỉ có bọn tôi làm chủ mà thôi. Nhưng bà tôi nói, tụi bay phá vừa vừa thôi, đất này là của quỷ ma đó. Ý bà tôi muốn nói tụi tôi là học trò chỉ đứng hàng thứ ba. Thì thứ ba cũng oai ra phếch chớ bộ. Vừa rồi, người chết đầy đường đầy sá, bà nói tiếp,có ai cúng kiếng gì đâu, bọn họ biến thành những con ma đói. Ma gặp được những cây xoài có bóng mát là mừng lắm. Giữa nắng trưa họ lơ lửng trên cây. Những con ma có con nhỏ lại còn cột võng tòn teng đưa con, hát ru văng vẳng.
Trời ạ, nghe bà nói cứ như thật. Và dù cha tôi nói bà lẫn rồi, đừng có mà tin nhảm, nhưng bọn tôi vẫn cứ tin. Chẳng những thế lại còn thêu dệt thêm đủ thứ chuyện. Thằng Mạnh bảo tối nào ma cũng tới giếng nhà nó xách nước rửa chân, có khi còn cởi đồ ra tắm. Núp trong nhà nhìn ra, nó nói, tao thấy cái gàu tự dưng nhảy xuống giếng, múc đầy nước rồi nhảy lên. Sau đó nước đổ lênh láng, không rửa chân hay tắm là gì! Thằng Hành lại bảo thấy ma đứng dựa gốc cây, những con ma tóc dài chấm đất, tối nào cũng đứng đợi người yêu là những người lính biệt động mũ đỏ.
Tôi thì bảo có lần tao nghe ma thở, đôi lúc lại nghe ho khúc khắc. Ma ho và thở giữa ban ngày đó. Cả bọn bảo láo làm gì có ma giữa ban ngày. Tôi úp úp mở mở, bảo không tin thì thôi. Chỉ có mỗi mình tao biết là có một con ma sống lại. Chúng nó hỏi dồn ở đâu. Tôi nói, muốn biết ở đâu thì phải đổi cái gì chớ.Thế là cả bọn nhao nhao, đổi gì, đổi gì tao cũng đổi. Một con chó con nghe? Không thèm. Một trái lựu đạn nghe, cha tao còn dấu một trái để ném cá. Có mà đi tù. Cái xe hơi của tao, được không? Xe tí tẹo hồi mày một tuổi làm sao tao ngồi. Vậy biết đổi gì bây giờ, sao mày khó thế. Cả bọn mắng tôi dóc tổ, không thèm chơi.
Vườn xoài nhà bác Ba giáp vườn nhà tôi. Vườn rộng ngút ngàn chạy tận núi.Hơn 20 năm trước, bác từ Phù cát vào mua rẫy lập vườn cùng với cha tôi. Hồi đó chỉ toàn cát sỏi, rẻ rề. Chỉ vài cây vàng là có cả một vùng đất rộng bằng cả xóm. Nhưng hai người đã phải bỏ nhiều công sức, chịu đói chịu rét suốt mười năm mới có được cơ ngơi như ngày hôm nay. Khi tôi sinh ra, vườn xoài đã trĩu trái. Ngoài dầu khuynh diệp, mẹ tôi nói, tao và mầy đều dược ướp mùi xoài chín thơm ngạt mũi.
Cha tôi là người Diên Khánh, chẳng họ hàng gì với bác Ba, nhưng ở gần nhau, cùng trồng một thứ cây, và cùng nhờ nó mà sống được, nên coi nhau như anh em. Bác từ vùng chín năm kháng chiến vào nên nhiều người gọi đùa là ông Ba Việt cộng. Lâu dần thành tên. Bác cũng có khó chịu chút đỉnh, thực ra là sợ chính quyền cũ hiểu lầm, nhưng chính các ông ấp trưởng và đại diện xã, cứ một điều bác Ba VC, hai điều bác Ba VC một cách vui vẻ, nên Bác cũng đành chịu chết danh với cái tên bất đắc dĩ đó. Bác là người lặng lẽ, ít nói, nên giá như có vì thế mà bắt bác bỏ bót thì chắc bác cũng cắn răng mà chịu thôi. Bác thường ngửa mặt trông lên núi, u uất nói với cha tôi, cái vận hạn của đất nước còn tối tăm lắm, chưa thấy có chút gì sáng sủa. Cha tôi nói, núi hai bên che chắn hết mặt trời, sáng sủa cái nỗi nào. Thì đó, cái vận hạn của đất nước mình cũng bị kẹp giữa Nga và Mỹ như hai cái núi này mà thôi.
Nghe Ban Mê Thuột bị mất, bác có vẻ lo, suốt ngày cứ ôm đài. Cha tôi nói, đánh chiếm lại mấy hồi.Dưới đất có thiết giáp, trên có máy bay, ngoài khơi có hạm đội Mỹ, đánh một trận là xong ngay. Không dễ đâu! Không dễ đâu anh Năm à. Sao không dễ, cha tôi ực một phát, mặt đỏ gay. Không dễ thiệt mà, họ đánh đủ nơi đủ chỗ. Biết đâu họ đã đưa quân tới phục chỗ của mình rồi. Từ hai bên núi họ đánh ụp lại như kẹp cổ một con rắn, chạy đi đâu cho thoát! Bác cứ ngồi trầm tư trước mặt cha tôi, mồi không chịu gắp, rượu không buồn đưa lên miệng. Cha tôi giục, uống đi chớ anh Ba, cộng sản cũng là người như mình, họ vào đây thì mời họ uống rượu chớ việc gì mà lo. Bác nói, anh chưa biết đấy thôi, kinh hoàng lắm, sống không nổi đâu. Thì chết, cha tôi đã bắt đầu lè nhè. Đâu dễ mấy ai được chết dưới bàn tay cộng sản. Anh say rồi, bác nói, thôi vào nhà ngủ đi, tôi về.
Từ đó cho đến ngày chạy đi, bác không qua chơi với cha tôi nữa. Chỉ đến khi sắp lên xe, bác mới qua chào. Bác nói thôi ở lại mạnh giỏi. Cha tôi không biết nói gì, chỉ rơm rớm nước mắt.
Cứ tưởng bác đi là không trở lại. Bởi vì ngày đó người ta đồn Mỹ đã chia cho CS từ Phan Thiết trở ra. Bác nói vùng quốc gia dẫu sao cũng dễ thở hơn. Nhưng sau ngày 30 tháng tư ít hôm, lại thấy cả nhà bác buồn bã lộn về. Bác bảo cùng đường rồi, thôi về đây có chết cũng được. Tôi thương mấy cây xoài quá. Rồi sau đó công tác này nọ các thứ, cha tôi và bác cũng không còn rảnh rồi để mà ngồi lai rai dưới gốc xoài nữa. Cũng có thể bác hơi mắc cỡ với cha tôi, có khi là giận và sợ cha tôi vì đã quyết định ở lại. Mẹ tôi nói, chắc bác ấy tưởng mình là CS nằm vùng. Nằm vùng gì tui, nằm mùng với bà thì có, cha tôi cười lớn. Mẹ hứ cái cốc, phủi đít, đứng lên bỏ đi.
Chuyện nghe ma thở là như thế này. Lúc ở Sài Gòn chạy về, bác Ba mua hai con ngỗng trắng. Hai con ngỗng thấy trẻ con là cứ à oạc, à oạc tới rỉa vào chim đau thấy mẹ. Sợ rỉa đau nhưng vẫn cứ thích chọc. Bọn tôi tuột quần khỏi háng chìa chim trước ngỗng, đợi đến khi cái mỏ vàng vàng như cái kẹp lửa của nó xỉa tới là quay đít bỏ chạy. Năm ba đứa cùng hè nhau chọc phá, hai con ngỗng chỉ rượt đuổi một lúc rồi thôi. Nhưng chỉ một đứa là nónrượt tới bến.Tôi bị nó rượt một lần chạy ná thở. Lần đó hai con đuổi tôi chạy tới tận cuối vườn, sát bìa rừng vẫn chưa tha. Tôi phài chạy vòng vòng sau cái nhà tắm mới xây của bác Ba và liều mạng đá vào cổ chúng mới thoát được.
Đúng là mệt ná thở. Không ngờ bọn ngỗng gan lì và hung tợn quá. Hèn nào bác Ba nuôi chúng để giữ nhà. Chúng nó à oạc suốt đêm, chẳng bọn trộm nào dám vào.Lúc hết mệt, đứng dậy định về, tôi bỗng nghe có tiếng thở. Ban đầu, tôi tưởng tiếng thở của mình. Nhưng nghe kỹ thì không phải. Áp tai vào vách, dường như có tiếng thở từ bên trong. Tiếng thở yếu, đứt quãng.Nghe như tiếng thở của người già hay của người bệnh. Tôi liền đi quanh tìm cửa nhưng không thấy.Rõ ràng là gạch xây không trát hồ chứ không phải chất thành đống.Một cái nhà dài hai thước, ngang một thước, cao cũng chừng đó giống như một cái hộp.
Biết bao câu hỏi mọc lên như nấm trong đầu óc non dại của tôi. Rõ ràng là bác Ba mới xây cái nhà này, xây vội vàng và rất vụng. Chắc chắn đó không phải là nhà tắm vì bác đã có một nhà cầu và nhà tắm cạnh nhà tôi. Vậy thì xây làm chi, xây để dấu ai? Mà sao phải dấu, sao phải trốn? Ai ở nổi trong một cái nhà mồ như thế.Thật là hoang mang, nhưng tôi không dám nói cho ai biết. Một phần, tôi thích tự mình khám phá ra bí mật. Nếu tôi tìm ra được sự thật, chắc hẳn tụi bạn tôi phục sát đất. Phần nữa, tôi sợ chính quyền mới sẽ kéo quân du kích tới đập nát nó ra, lôi cổ ai đó ra bắn bỏ hay cho đi tù. Và như thế là tôi có tội với nhà bác Ba.
Suốt ngày tôi cứ dõi mắt sang cái nhà gạch bí ẩn đó. Có lúc tôi leo núp trên những cây xoài.Tôi hồi hộp đợi chờ một con người to lớn hay một con gấu đập vỡ gạch chui ra. Đêm, tôi vừa sợ vừa mong, thấy một con ma áo trắng, y như bà tôi nói người chết có lúc đội mồ sống dậy. Tôi đã định lân la hỏi chuyện bác gái, nhưng chính bác sang nói với mẹ đừng cho tôi chọc phá ngỗng nữa. Bác trai nghe nói về quê, các anh chị đi lên rẫy. Nhà bác lúc nào cũng cửa đóng, lá rụng ngập đầy vườn. Khi chiều xuống, khí núi và sương đêm lạnh buốt, lại thêm có con chim cú ở đâu mới tới, thả vào bóng tối những tiếng kêu như quỷ gọi hồn. Có cho kẹo tôi cũng không dám tới cái nhà mồ đó. . .
Tôi đã nản định bỏ cuộc, thì trong một buổi chạng vạng, thấy có người đến. Người ấy là bác Ba gái. Bác nhìn trước ngó sau, thập thò như kẻ trộm. Rồi bác ngồi xuống,vẹt đống lá xoài ra, gỡ mấy viên gạch sát đất để lộ một cái cửa nhỏ đủ đưa nước và thức ăn vào. Sau đó, bác bịt kín, vun lá xoài khô che lại như cũ. Bác đứng lên mang theo một cái bô đi vào nhà cầu.
Đúng là ông Ba Việt cộng. Nhưng sao Việt cộng tới ông không reo mừng, không nhảy ra giữ chức này chức nọ mà lại tự nhốt mình như thế. Tôi nói điều đó với anh Hai, anh lấy tay bịt miệng tôi lại, không nói gì. Hôm sau anh bảo tôi đứng canh, rồi chính anh cạy những viên gạch và luồn vào trong một tờ giấy và cây bút bi. Một lúc sau, anh lấy ra, lấp lại gạch, kéo lá xoài tủ lại rồi chạy như bay vào nhà. Tôi cũng bắt chước cách anh dọa tôi, vừa đuổi theo vừa dọa, không cho em coi, em mét ba. Anh lại bịt miệng tôi, đưa tờ giấy soi dưới ánh đèn cho tôi đọc. Giấy ghi chỉ có hai câu: Phải bác Ba đó không? Và: phải, im coi như không biết, cảm ơn! Anh giật tờ giấy châm vào lửa, nghiêm sắc mặt không phải đe mà ra lệnh: không được nói cho ai biết nghe chưa? Kể cả cha và mẹ.Tôi vừa run vừa dạ.
Và chuyện con ma sống lại ấy, bọn bạn hỏi một đôi lần, tôi bảo không phải ma, chỉ có một con chồn đào hang chui vào nhưng đã bắt được rồi.
Đến tuổi không còn sợ ma và cũng chẳng thích nghe chuyện ma nữa, cả bọn tản mác theo cha mẹ phát rẩy trồng thêm mì, cũng chẳng còn dư thì giờ mà lêu lổng trong vườn xoài và cũng quên mất cái nhà tù kỳ lạ đó. Tôi cũng vậy, mấy năm sau đi lính sang xứ chùa Tháp, chết chóc thật khủng khiếp. Biết bao chuyện người sống còn lạ lùng hơn chuyện ma. Được sống sót trở về đã là may. Chuyện bác Ba tự nhốt mình trong cái hộp ấy chỉ là chuyện nhỏ, tôi cũng quên mất.
Mãi đến khi tôi lấy vợ, sang mời bác Ba thì mới biết bác đã mất rồi. Bác mất trong cái nhà tù đặc biệt đó. Con trai bác gỡ từng viên gạch đem bác ra tắm rửa. Mẹ tôi nói bác gầy và khô như que củi. Bác đã sống trong đó suốt 15 năm. Từ xưa tới nay chưa có ai tự làm tù mình như thế. Có người bảo bác là dân Bình Định, chắc trước kia là gia đình địa chủ, sợ cộng sản quá hóa ra lẩn thẩn. Nhưng anh Thức, nói nhỏ vào tai tôi, không phải sợ mà là ghét.
Giờ tôi cũng đủ khôn để hiểu bác ghét ai. Ghét đến nỗi không muốn nhìn thấy núi. Và tôi cũng hiểu ra rằng, núi chỉ đẹp và đáng nhìn khi được tắm dưới ánh sáng mặt trời./.

KHUẤT ĐẨU

MỘT THOÁNG TÌNH

tranvannghia

Bởi đời lạc mất nhau
Nửa đêm về bật khóc
Nhớ cơn mưa hôm nào
Lênh đênh mùi hương tóc

Lỡ đánh mất dọc đường
Chút tình riêng thở dốc
Ngửa mặt ngóng tinh sương
Phố buồn xanh rêu mốc

Người xa hút bóng chim
Lưng trời cơn gió thấp
Nghe lãng đãng quanh thềm
Rưng rưng giàn hoa khóc

Nơi đó với mùa xưa
Quanh em đầy nhan sắc
Bao đeo đuổi ghẹo tình
Thấy trần gian lây lất

Cõng nỗi buồn trên vai
Đời phập phù lơ láo
Chợt vấp ngã mệt nhoài
Mơ vầng trăng mười sáu

TRẦN VĂN NGHĨA

NHẶT

hoangvancham
Người về nhặt vội mùa hoa
Không nhau cúi mặt từ xa nghìn trùng.
Chia nhau chút đợi tận cùng
Người đem góp lại thêm nồng nàn xưa.
Nhặt chiều phai với giọt mưa
Đong đầy hương củ thu vừa đi qua
Mùa hoa em níu phôi pha
Buồn dâng mắt đỏ chia xa ngậm ngùi.
Nhặt riêng em một bờ vui
Chia lòng sau trước lấp vùi niềm đau
Thương ai vẻ bóng ngàn lau
Người xa khuất nẽo giữa màu hoàng hôn.

HOÀNG VĂN CHẨM