NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, “Má ơi, con đi bây giờ đây. Con sẽ làm cho má hãnh diện vì con”

nuocmattruocconmua
NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before The Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.

NGUYỄN THỊ HOA
“Má ơi, con đi bây giờ đây. Con sẽ làm cho má hãnh diện vì con”

Tôi lớn lên ở Saigon. Ba má tôi mở một quán ăn nhẹ, một quán cafeteria bán cho Mỹ. Nhưng khi Mỹ rút vào năm 1973, ba tôi mất cái quán vì chẳng còn buôn bán gì được. Không đủ khách. Ba tôi cũng bảo nhiều người Mỹ đã quỵt tiền, họ ăn đến cuối tháng mới trả, nhưng lúc đi, họ không thanh toán nên ba tôi thua lỗ, mất luôn chỗ buôn bán. Từ đó ba tôi trở nên chua cay, không còn thích người Mỹ nữa. Ba má tôi phải tìm việc khác. Chúng tôi cũng không còn được sống đầy đủ như trước.

Vào khoảng mùa Xuân năm 1975, bạn tôi và tôi rất sợ chuyện Cộng sản chiếm Saigon. Người ta kể Cộng sản sẽ giết hết mọi người giống như chúng đã làm hồi năm 1968 ở Huế. Tết năm ấy chúng đã giết 3,000 người mà chẳng có lý do. Chúng trói giật cánh khuỷu, bắn vào đầu họ. Cho nên chúng tôi rất sợ hãi.

Ba tôi không sợ. Ông bảo toàn chuyện tầm phào. Ông nói Cộng sản có chiếm thì cũng chẳng có chi thay đổi. Tôi không tin, tôi muốn đi khỏi nước, em gái tôi cũng vậy. Nhưng ba tôi nói: ’’Không đứa nào đi đâu hết nghe. Chẳng chết chóc gì mà lo. Tụi bay không nghe người ta nói sao? Cộng sản không đụng chạm gì tới bay đâu!”
Tuy nhiên, tôi vẫn quyết ra đi. Trước, tôi trù tính đi với anh tôi, nhưng rồi ảnh đổi ý, ở lại. Tôi bèn quyết định đi với em gái tôi. Lúc ấy, tôi mới có mười sáu. Em tôi tên Nguyễn Thị Thiết, kém tôi hai tuổi.

Đầu tiên phải kiếm đường dây, tất nhiên tôi không có tiền bạc gì. Nhưng tôi kiếm được một người bạn tên là Nguyễn Thị Xuân. Cha mẹ bạn tôi là chủ tàu. Bạn tôi bảo nếu chị em chúng tôi muốn đi, nó cho đi, khỏi cần tiền nong. Tôi nói tôi muốn đi. Bạn tôi bảo vậy khi nào đi, nó sẽ kêu.

Sáng 29 tháng Tư, bạn tôi kêu tôi đi. Nó biểu tụi tôi ra một góc đường sẽ có xe tới chở xuống bờ sông Saigon. Tôi và em gái tôi mỗi đứa đem theo một túi quần áo, hai chị em phải lén ra khỏi nhà vì ba tôi đâu có muốn cho đi. Do đó chúng tôi không chào ba tôi. Nhưng chúng tôi đi tới tiệm ăn, nơi má tôi làm. Bả nào có biết hôm đó chúng tôi đi. Tôi nói với má tôi rằng: “Má ơi, con đi bây giờ đây. Con sẽ làm cho má hãnh diện vì con”. Má tôi ôm hôn tôi, ôm hôn em gái tôi, má tôi nói “Thôi được. Má cầu Trời khấn Phật cho các con được mọi điều tốt lành”. Lúc đó má tôi thiệt cứng cỏi, bả không khóc khi nói lời từ biệt. Nếu lúc đó má tôi khóc chị em chúng tôi cũng ở lại rồi, có lẽ má tôi biết nhưng bà muốn cho chị em chúng tôi đi. Tên má tôi là Trần Thị Thanh. Má tôi đã giúp cho tôi có đủ nghị lực mà ra đi.

Chị em chúng tôi tới góc đường, nơi hẹn xe tới đón. Chúng tôi đợi hoài đợi hủy, xe không thấy tới. Em gái tôi biểu rằng: “Để em đi kiếm điện thoại kêu thử xem họ có tới không rồi quay về”. Em tôi bỏ túi quần áo lại, đi kiếm điện thoại. Khi em tôi đi thì xe tới. Trên xe đầy nhóc người ngồi. Tôi năn nỉ người tài xế chờ em tôi thì ông ta nói chẳng có cách gì: “Bây giờ mà chờ thì hết đi nổi”. Ông biểu vậy, nên tôi đành vô trong xe, bỏ quần áo em tôi lại trên vỉa hè. Lúc ấy, tôi vừa bấn loạn, vừa kinh hoảng vì không có em tôi.

Khi tới bờ sông, mọi người đều phải xuống tàu thiệt lẹ. Vào lúc bối rối như vậy, tôi mất luôn túi quần áo. Như vậy tôi chỉ còn một bộ quần áo trên người mà đi khỏi nước. Chiếc tàu chúng tôi đi tên là tàu Tân Nam Việt. Tàu này lớn lắm, chở được tới năm sáu trăm người. Tôi thầm mong cho em tôi tới kịp trước khi tàu đi, nhưng em tôi không bao giờ đến được nữa.

Khi tàu chạy, tôi rất sợ. Nhiều người đứng trên boong nhìn Việt Nam lần cuối. Hình ảnh cuối cùng là bãi biển Vũng Tàu, nhưng tôi không nhìn lui nữa vì buồn quá. Tôi đã bỏ hết mọi thứ lại nhà, chẳng biết từ nay trôi nổi tới đâu.

Sau này tôi được tin em tôi cũng cố tìm cách đi nữa nhưng bị bắt lại. Nó bị nhốt tù. Ra khỏi tù, nó lại đi nữa, rồi lại bị bắt nữa. Lần này nó bị nhốt vô một nhà giam đặc biệt. Nó vẫn còn kẹt lại ở Việt Nam.

CHÚT TÌNH ĐàXA

vungocgiao

ta về
thăm lại ngày xưa
phố biển vẫn sáng
vẫn trưa
vẫn chiều
vẫn hàng cây đứng quạnh hiu
vẫn con đường nắng buồn thiu bốn mùa
vẫn là người trong hiên mưa
lạnh căm cùng gió
mà , khua hồn mình !
ta đi
trời đất lặng thinh
thấy , trong mắt dại chút tình đã xa !

vũ ngọc giao

SAO NGƯỜI KHÔNG GỌI TÊN TÔI

truongdinhphuong

Sao người không gọi tên tôi
bằng tia lửa mắt
bằng đôi ngọn lòng?
bằng âm vực những đời sông
hay muôn lá đắng -phiêu bồng kiếp mây?
bằng giông bão cuả bàn tay
bằng muôn vía cỏ hồn cây gió ngàn ?
bằng lệ chát những cung đàn
bằng đêm côi cút đèn tàn bóng đau?
sao người cứ gọi tên nhau
bằng bờ môi thắm lợt màu thủy ngân?

Trương Đình Phượng

Đọc bài thơ của tác giả Du Tử Lê – “Ở chỗ nhân gian không thể hiểu”

nguyenhoanganhthu

BÀI NHÂN GIAN THỨ NHẤT

Ở chỗ nhân gian không thể hiểu
đôi mắt người hồ như biển đông
có mưa-tôi-cũ về ngang đó
tự buổi thiên đàng chưa lập xong

Ở chỗ nhân gian không thể hiểu
mái tóc người hồ như rừng cây
có mây che lối về cho lá
và những con đường thật riêng tây

Ở chỗ nhân gian không thể hiểu
tôi có người hồ như vết thương
có đêm ngó xuống bàn tay lạnh
và chỗ em ngồi đã bỏ không

Ở chỗ nhân gian không thể hiểu
tôi có người hồ như tấm gương
thấy tôi thắt cổ trên cành tuyết,
và bóng đo dài nỗi tủi thân

Ở chỗ nhân gian không thể hiểu
tôi có người hồ như hạt sương
có bông hoa đỏ chiều tâm khúc
tôi thấy từ em một quê hương

Ở chỗ nhân gian không thể hiểu
tôi có người hồ như tiếng chim
theo cơn bão rớt về ngang phố
tôi học từ em: niềm lãng quên

Ở chỗ nhân gian không thể hiểu
tôi có người hồ như ấu thơ
đêm đêm khóc vụng cùng chăn gối
và thấy buồn như mẹ ở xa

Ở chỗ nhân gian không thể hiểu
tôi biết người mang một nỗi buồn
biết ta cuối kiếp tim còn lạnh
cùng nỗi sầu bay đầy hư không

Ở chỗ nhân gian không thể hiểu
tôi xin người sớm phục sinh tôi

Bài thơ đầu tiên tôi đọc được là “Bài nhân gian thứ nhất”. Một cảm giác “hồ như” có và không, đan xen điều nghĩ ngợi, nhưng tôi cũng không định hình mình đang nghĩ về điều gì, chỉ cảm nhận một điều là: rất thơ, rất tình!

“…Ở chỗ nhân gian không thể hiểu
tôi có người hồ như hạt sương
có bông hoa đỏ chiều tâm khúc
tôi thấy từ em một quê hương ”

Và từ đó, tôi cảm thấy hứng thú về việc khám phá ngôn ngữ, hình ảnh thơ của tác giả Du Tử Lê.

Rất nhẹ nhàng trong lắng, một lời thơ gọt nhẹ nhàng từng cánh mỏng ngôn từ. ” Bài nhân gian thứ nhất” là một bài thơ như thế, nỗi đau đã giấu trong tầng thẳm cảm xúc giữa một vùng hoài niệm mênh mang. Một thể thơ bảy chữ với rất nhiều ngôn ngữ niệm hoài.

“Ở chỗ nhân gian không thể hiểu
đôi mắt người hồ như biển đông
có mưa-tôi-cũ về ngang đó
tự buổi thiên đàng chưa lập xong”

Hình như chỉ là mộng, mộng mới là “hồ như”, “ đôi mắt hồ như biển đông” và “cơn mưa- tôi- cũ về ngang đó/ tự buổi thiên đàng chưa lập xong”. Với tôi thì lại cảm nhận nó rất thực, thực như đang cảm nhận nỗi buồn đang ướt đẫm trước mắt. Hình như nhà thơ rất thích mưa, thích trầm mình với mưa, mưa ký ức, mưa trên “những con đường thật riêng tây” , mưa “đêm ngó xuống bàn tay lạnh/ và chỗ em ngồi đã bỏ không”. Nghe có vẻ nhẹ nhàng và mơ hồ thật nhưng lời trách cứ dùng dằng đau buốt. Ý thơ cứ tăng cấp, càng nhẹ càng sâu, mơn man lại thấy lòng bải hoải. Chỉ có thể dùng một từ diễn đạt một cảm giác: Rỗng!. Đúng như vậy, rỗng bởi chỉ còn lại thơ, còn lại “người”, còn lại nỗi mong cầu: xin hiểu cho…

Và tất cả chỉ còn lại một cái bóng cô độc, một hình nhân mang linh hồn thật buồn, một bài thơ thủ thỉ ngọt ngào mà lại có cảm giác đau buốt:

Ở chỗ nhân gian không thể hiểu
tôi có người hồ như tiếng chim
theo cơn bão rớt về ngang phố
tôi học từ em: niềm lãng quên

Làm sao quên được đây người ơi? Có lẽ tôi đã quá cảm câu thơ này của tác giả: “tôi học từ em: niềm lãng quên”. Cảm chừng như người đang học lãng quên: từ phố, từ tiếng chim, từ rừng cây, từ cớ mượn mây che lá, về từ ấu thơ nhìn thấy mẹ ở xa…Lời thơ cứ thì thầm thì thầm, cơ chừng mãi mãi đến cạn khô kiếp người. Lãng quên hay nỗi khát khao từ trong tiềm thức – mà hình như Người cũng chẳng hiểu chính bản thân mình.

Ở chỗ nhân gian không thể hiểu
tôi biết người mang một nỗi buồn
biết ta cuối kiếp tim còn lạnh
cùng nỗi sầu bay đầy hư không”

Bài thơ kết thúc trên vết rạn của niềm khát khao cháy bỏng, một tâm trạng nhớ nhung đã phó thác vào cảm giác “hồ như” tất cả như nhòa đi, nhòa đi với dòng lệ chảy (tôi đang tưởng tượng ra như vậy)

“Bài nhân gian thứ nhất” trải rộng nỗi niềm sâu đến tận địa đàng, trải tình tôi lên tận mấy ngàn. Nhân gian rộng lớn quá, cụ thể quá, mà lại mơ hồ quá. Cái hữu hạn của đời người đang nghẹn ngào trước cái vô cùng của nhân gian. Bài thơ kết thúc trên vết rạn của niềm khát khao cháy bỏng, một tâm trạng buồn phó thác cho một điều kỳ diệu từ “người”:

Ở chỗ nhân gian không thể hiểu
tôi xin người sớm phục sinh tôi

Từng câu, từng chữ đang bay, tất cả đều “hồ như ” – đang nhòa, nhòa…bởi “Ở chỗ nhân gian không thể hiểu”. Cầu mong Người sẽ phục sinh

Nguyễn Hoàng Anh Thư

linh hồn

tranbangkhue

Tôi vừa nhìn thấy một đốm sáng bay lượn loanh quanh bên trong khu vườn thánh. Những giai điệu trầm đục từ đâu đó ngân lên rồi im bặt. Đốm sáng đó biến mất. Có thể nó đã tìm được nơi chốn khác để nương náu. Có thể nó cũng chẳng cần và muốn trở lại khu vườn nằm chĩn chện trên mặt đất, trong bóng đêm mờ tỏ kia nữa.
Trí não tôi mờ mịt, không thể nghĩ thêm được điều gì, ngoài những ám ảnh. Câu chuyện mà kẻ lữ hành hôm nọ dừng lại bên đường, hứa kể nốt cho tôi nghe chỉ còn là chót lưỡi đầu môi, bay theo gió tự hồi nào. Đến cả cái vẫy tay từ biệt cũng chẳng kịp nữa. Lão ra đi vội vã. Lão khuất dần sau dải nắng trưa đổ xuống thành một vệt đen dài lầm lũi. Cái bóng ấy tưởng chừng không thể nào tan đi được. Lão đi mất rồi, chẳng có bản thánh ca du dương thánh thót, hoặc bổng trầm lên xuống. Tôi biết điều đó. Tôi nghi ngờ những đốm sáng. Chúng chỉ như ngọn đèn dầu le lói, cháy leo lét phía sau màn đêm ở khu vườn thánh âm u. Chỉ có một bầu trời rực đỏ, chói lòa bao trùm lên toàn bộ cỏ cây, những mái tôn nóng rẫy bỏng rát khi tháng tư vừa chạm vào từng ngõ nhà, từng góc đường chảy nhựa, từng cái nhíu mày của một ông già đạp xích lô giữa phố.
Tòa tháp mang tên ánh sáng ngập ngụa vào buổi ngày đầy rẫy những thứ không thể nào định hình nổi. Tôi tưởng tượng ra thế. Và, thứ mà tôi hoặc không phải tôi đang nhìn thấy chỉ là cái mạng nhện đan bện vào nhau dày đặc như một mê cung quen thuộc đã được xây dựng từ lâu lắm rồi. Đôi mắt tôi mờ mịt nhắm tịt lại. Tôi nghĩ, nếu bịt cả hai mắt và lắng nghe bằng hai tai chưa chắc đã thấu cảm được thế giới, hay nhận ra được những luồng ánh sáng mờ ảo trong đêm tối, đâu đó quanh chỗ mà tôi đang ngồi, hoặc là nơi nào khác. Nhưng cũng có khi, tôi thấu cảm được. Đó là khoảnh khắc, như nốt trầm đũng nước ở mỗi khuông nhạc, khiến tôi đau đớn và xót xa ngập ngụa.
Linh hồn không hẳn là ánh sáng chói lòa, trong vắt, thanh khiết. Những linh hồn bị vấy bẩn, chúng thường tồn tại dưới dạng đùng đục hoặc mờ mịt đen đúa, khó tan dưới bầu trời. Tôi đã thấy những linh hồn nặng trĩu trong bóng đêm, trong khu vườn thánh. Đâu phải chết là hết. Mẹ tôi thường bảo: đừng bao giờ đánh mất linh hồn, đừng bao giờ tráo đổi linh hồn cho quỷ dữ. Tôi bướng bỉnh cãi mẹ: nếu như thể xác còn nhiều ham muốn đến thế, làm cách nào để người ta gìn giữ lấy linh hồn. Mẹ cười hiền, tay khuấy nồi cám lợn, không ngẩng đầu lên, chỉ thì thầm: linh hồn sẽ được cứu rỗi. Tôi ngước lên bầu trời đêm đầy sao, một vệt sáng vụt qua. Tôi bất chợt nghĩ đến nụ cười của bố trong giây phút hấp hối…
Thỉnh thoảng, linh hồn cũng làm một cuộc dạo chơi bằng cách hóa thành những đốm sáng lang thang, lúc mờ lúc tỏ, lúc lấp lánh đẹp như những vì sao trên bầu trời đêm. Nhưng có khi tôi phát hiện, đôi lúc nó lại đen đúa một màu buồn thảm, u uất. Linh hồn chưa được giải thoát. Linh hồn vẫn sống. Người ta cho rằng, chết mới về với cát bụi. Tôi nghe bạn nói: khi đang sống cũng có thể là cát bụi rồi. Vậy, tôi cả quyết, linh hồn nên về với cát bụi ngay khi còn sống.
Tôi lẩm bẩm tự hỏi. Ai dám nhốt những đốm sáng ấy lại, trừ phi chúng tự nguyện bị giam cầm. Chết chưa phải là hết. Thế giới này, chắc là, không chỉ có âm – dương, không chỉ có ranh giới của thể xác và linh hồn. Đừng đổ lỗi và quy kết bằng cách nghĩ rằng: ngoài chúng ta, ngoài cái bản thể sinh học tồn tại dưới dạng nào đó, thì còn có những thế lực siêu nhiên khác. Phải chăng, đôi khi chính chúng ta, lúc mệt mỏi và thờ ơ bên đời tấp nập, tạo ra nó bằng ảo tưởng, rồi từ đó sự thật tạc thành? Và sau đó, chính sự thật lại khiến ta luôn hãi hùng khiếp đảm.
Bỗng dưng, tôi nảy ra cái ý định muốn nhìn thấy những đốm sáng chập chờn, chỉ để xác minh điều mà tôi đang suy đoán liệu có đúng hay không? Tôi đến vườn thánh quen thuộc, chỉ duy nhất đêm nay thôi. Tôi đã thấy nó. Cái đốm sáng vừa kịp lóe lên, rồi bay vút vào không trung. Tan biến. Tắt lịm. Trả lại cho đêm sâu một bản giao hưởng u ám trong khu vườn đầy những thập giá đang chen chúc lẫn vào từng vuông cỏ.
Không chỉ có xác thịt mới chết. Linh hồn là thứ mà quỷ dữ thường khao khát nhất. Tôi biết là thế. Bởi lẽ, tôi đã thấy một đốm sáng khác biến thành luồng khói đen trong chớp mắt. Tôi nghe đâu đây có tiếng cười rờn rợn ma quái của người đàn bà có đôi mắt u tối vừa đi ngang bên ngoài vườn thánh. Nhà Chúa không phải linh hồn nào cũng được phép bước chân vào. Mặc dù Chúa vẫn luôn thong thả làm công việc quen thuộc của mình, cứu rỗi các linh hồn.
Dưới những ngôi mộ đá chỉ là xác thịt đang phân hủy hoặc đã thành mấy nhúm xương vụn. Tôi nghĩ thế và đứng dậy. Giọt nước mắt của mẹ trĩu xuống, nhưng ấm áp bao dung. Nụ cười của bố lấp lánh như vệt sáng vừa quệt ngang bầu trời đêm. Sự đơn độc níu lấy linh hồn trong vũ trụ thẳm sâu này và không cho phép nó biến mất vĩnh viễn.

Trần Băng Khuê

TIỄN CON GÁI ÚT VỀ SÀI GÒN.

tranvannghia

Thương quí tặng con gái út: Trần Thái Thoại Trân

Thực tình ba muốn níu con
Sân ga chiều nay , ở lại
Nhà mình có hai con gái
Một người đi lấy chồng xa

Ngậm ngùi thương lắm câu ca
Về đâu bến trong , bến đục…
Bên thềm nắng buồn rưng rức
Gió cuối năm lạnh chợt về

Tiếng còi tàu xé trời quê
Nghiến đời ba theo bánh sắt
Hấp háy dụi hoài đôi mắt
Cố vui gượng vẫy tay chào

Mũi lòng quặn thắt cơn đau
Run run giấu vào giọng nói
Con về Sài Gòn đô hội
Theo chồng ,làm vợ, làm dâu

Dẫu hai mươi sáu tuổi đầu
Với ba , vẫn là bé bỏng
Vẫn còn dại khờ vốn sống
Chợ đời chưa nếm đắng cay

Giờ chim tự sổ lồng bay
Tìm góc trời riêng mơ ước
Tháp Chàm,ga chiều nghiêng bước
Đường về sao thấy càng xa !

Căn nhà như bỗng rộng ra
Từ lúc vắng con, hôm ấy
Số con giống như ba vậy
Quê nhà , chỉ để nhớ thương !

TRẦN VĂN NGHĨA

MƯỜI HAI GIỜ KHUYA

authiphucan

nỗi bất an chồm dậy
quá khứ bịt mắt
dòng máu luân lưu qua trái tim bầm dập

những kẻ đã đi qua đời tôi
đã vào cuối đường hầm
cuộc chia ly có trật tự

tiếng than khóc trên những nấm mồ
bao giờ cũng vậy
là khóc cho chính mình

tiếng gõ của đồng hồ
thắp nén nhang khuya
tôi gọi hồn ảo ảnh

thời khắc giữa hai miền
là cái chợp mắt bất chợt
cái ngáp nửa đêm

làm giật mình chiếc bóng . . .

ÂU THỊ PHỤC AN

Nhật ký mở lần thứ 141

tohai

XIN BÁI PHỤC DÂN LÀNG VĂN LẠI GIỎI… VÕ
HƠN MỌI DÂN NGHỆ MÀ LẠI…”SĨ” MỘT CỤC!

(Ngày 21/5/2015)
Đã mấy năm nay. mình ôm mấy cục thắc mắc lớn với “phe ta” mà không biết nên làm gì, viết gì để giữ được tinh thần “đoàn kết nội bộ”.
Đó là:
1- Chẳng hiểu nổi vì sao có khá đông các vị đảng viên có tên tuổi, đã ba lần chín lượt hết “kiến nghị” đến “kính gửi”cho các bác lãnh đạo cao nhất của đảng họ để yêu cầu:
a-/ Từ bỏ ngay cái mục đích xa vời “chủ nghĩa xã hội” “ đi không bao giờ đến” mà họ đang kiên trì dắt dẫn toàn dân vào con đường bế tắc, thua kém cả Lào và Căm đến nơi rồi đi!
b-/Nên đổi tên đảng, đổi luôn tên nước mà dùng những cái tên mà bác Hồ đã đặt khi khai sinh đất nước !
Tóm lại là phủ nhận con đường mà đảng các vị ấy đi đã sai bét và CẦN PHẢI THAY ĐỔI NGAY nếu muốn lấy lại uy tín trong dân chúng!
Có điều , không một vị nào dám đi tiên phong “xin rút lui khỏi cái đảng mà các vị ấy đã phủ nhận để làm gương lôi kéo cả trăm, ngàn, vạn….đảng viên khác”….như mình mơ ước!
2-/Chẳng hiểu nổi tại sao một số nhà văn mình rất thân quen đã dám đứng ra vận động thành lập “Văn đoàn độc lập”mà lại có chủ trương “cùng song song tồn tại, cùng thi đua cạnh tranh lành mạnh” với “ Hội Nhà Văn của đảng “ mà cái đảng toàn trị này lại có thể “cho phép” được sống sót để cùng “song song tồn tại” Một “chiến thuật” mà, cho đến hôm nay thì đã rõ: A25 đã “bắt bài” ngay từ đầu?
Nhưng cuối cùng, một trong hai nỗi ưu tư của mình đã được giải tỏa trước khi giã từ cuộc đời gần cả thế kỷ làm “văn nghệ nhi nhô” này đã đến
: 20 nhà văn thứ thiệt ,(tất cả đều gần như vào loại cả nước biết tên, thế giới biết mặt), đã thẳng thừng tuyên bố : Giã từ vĩnh viễn cái tổ chức “chính trị và nghề nghiệp”của Đảng vô sản nhưng lại đòi làm nghệ thuật như người có ăn học tử tế! Cái tổ chức được nuôi sống bằng tiền của dân để…..suốt đời không có được lấy một mẩu “tác phẩm xứng tầm thời đại” dù hàng năm,chi cả núi tiền treo giải “leo cột mỡ” hoặc…”liếm chảo” (như thời còn ông Tây Phú-Lãng-Xa treo giải cho dân chết đói may ra kiếm được bát cháo mỗi năm đến ngày quốc khánh Tây cát-tó-gi-giê-14/7), !Kèm với việc khen thưởng ba vạ hàng năm gây kiện cáo,là việc… phân phát bạt mạng đủ thứ danh hiệu (cũng kèm tiền ) để rồi…có dịp nội bộ lại vạch mặt nhau, lộ ra đủ kiểu bộ mặt vô lại bất tài, thậm chí “tỷ phú cơ hội” muốn mang danh “nhà văn” như Hoàng quang Thuận!
Nghĩa là cái hội mà nhiều người quá kinh tởm đã (hơi quá lời) khi gọi nó là “cái hội sọt rác!”. Vậy mà, những kẻ có quyền lực văn nghệ trong tay cứ vung tay làm liều theo đúng chỉ đạo của những kẻ chẳng viết nổi một câu văn nào bao giờ!
Cú đánh đầu tiên vào chân, thiện, mỹ….vào sự vùng lên “không chịu uốn cong ngòi bút” là việc phủ nhận sự đổi mới ….giả vờ của lãnh tụ cả đời hy sinh cho “kách mệnh” nên có hơi…ít học bậc nhất, nhì….Nguyễn văn Linh. Đó là việc phủ nhận toàn bộ nhũng tác phẩm được đánh giá cao cái thời chính ông Lĩnh văn Nguyên hô hào…” mị” văn nghệ sỹ “Hãy tự cứu mình trước khi….trời cứu”. Hậu quả là…..Tổng Biên Tập báo Văn Nghệ bị cách chức do cho đăng hàng loạt những bài “có hại cho đường lối văn nghệ của đảng”….??? Nào là: “Cái đêm hôm ấy đêm gì” của Phùng Gia Lộc., “Phẩm tiết” của Nguyễn Huy Thiệp…và nguy hiểm hơn cả là “Nỗi buồn chiến tranh” mà chính Tổng Biên Tập Nguyên Ngọc gọi là: “Thành tựu cao nhất của thời kỳ đổi mới” để rồi nhận lấy cái quyết định mồm “cách chức Tổng Biên Tập”…Tiếng tăm của :NỖI BUỒN CHIẾN TRANH” bay xa ngay từ những năm mới ra đời (1981) đến mức thế giới tư bản cũng hùa theo gọi “ Đó là tác phẩm viết về chiến tranh hay nhất” của cả thế giới”! Và Viện Hàn Lâm Thụy Điển thì đã đề nghị trao giải Nobel về văn chương!Ngay sau đó là hàng loạt nhà xuất bản nước ngoài đều cùng nhau, chẳng ai báo ai dịch và giới thiệu “Một phía Tây không có gì lạ” mới! Nổi bật là bản dịch “The sorrow of war” của của Frank Palmos…!.
Đến đây thì A25 không thể chịu được nữa rồi..Anh Trung tướng Dương Thông và thiếu tướng Khổng Minh Dụ phải vào cuộc thôi !Phải dập tắt mọi luận điểm khác biệt với “ý trên” : Không có đổi mới, đổi cũ gì về văn nghệ xất! Chính ông Võ văn Kiệt, người có tiếng là cởi..mở (tí ti) đã nói : “Dù kinh tế có 4,5 thành phần nhưng văn hóa-văn nghệ chỉ có một mà thôi!”
Còn ông chỉ đường “to” nhất và nắm quyền sinh sát cả từ tác phẩm đến sinh mệnh mọi văn nghệ sỹ thì vội uốn nắn: “Thời đại là thế nào hè?…Thực tế của ta bây chừ là rất đẹp,có thể nói là…tuyệt diệu .Tại sao các đồng chí ngại ghi chép hở?Thậm chí sao chép cũng đẹp!”(ghi chép của nhà văn Đào xuân Quý lời của Tố Hữu tại cuộc họp các nhà văn đảng viên tháng 6/1979)
Còn Tống Biên tập báo Lao Động Tống văn Công, ngay khi chưa “bị” mất chức và ra khỏi đảng cũng đã từng viết ngay trên báo đảng: “Cỗ xe báo chí trên con đường tự do, cần bao nhiêu tay lái?” Câu hỏi này chắc sẽ làm cho các quốc gia có nền báo chí tự do vô cùng kinh ngạc!
Anh Nguyên Ngọc cũng vấp bước trên con đường tự do ấy, chuyện báo Văn Nghệ chỉ là giọt nước tràn ly. Sau ngày đất nước thống nhất, nhà văn đã hy sinh cả tuổi trẻ, ấp ủ “Đề dẫn tự do sáng tạo những tác phẩm xứng tầm thời đại” nghĩ rằng, đã đến lúc nói to ước mơ cao cả đó với đồng nghiệp. Anh đã nhầm! Tiếng nói của quyền lực lập tức át giọng anh !
Còn có thể kể ra nhiều điều “bất trị đáng yêu ”khác của giới nhà văn chân chính và có lương tâm, biết tự trọng và tự ái nữa …mà các giới “sỹ” khác còn lâu mới có cái gan nói lên nỗi đau của cuộc đời làm văn nghệ theo chỉ dạo của những kẻ…”ngoại đạo”, thậm chí…..chuyên “phá đạo”bằng cách “tảng lờ” những hoạt động văn hóa gì mà họ cho là “vô thưởng vô phạt”,cố tình hay ngu dốt khuyến khích văn hóa-nghệ thuật đi vào những cái mà thế giới tư bản đã nôn ọe ra từ lâu,như “triển lãm lông và chim” của chính tác giả, như nghệ thuật…tự sắp đặt tác giả vừa đi ị vừa đọc sách cho khán giả thưởng ngoạn hoặc gần đây nhất một cuộc biểu diễn ca nhạc lấy tên vô cùng….bất cần đời… “.PHÁ!”. Tất cả đều…”xong ngay”miễn là không dính gì đến….. “chính trị”.(Họ đâu có biết những trò cởi truồng tự triển lãm , những thứ “destroy”(Phá!), “no future”(Không ngày mai) hoặc “vive sa majesté le bruit’(Hoan hô thánh thượng tiếng ồn) là sản phẩm của thời mồ ma những tay G.Morrisson,J&gt,Hendrix, Osborn, N.T.M ,các nhóm gangtarap…. đã bị lên án và vứt vô sọt rác từ những thập kỷ,70, 80 của thế kỷ trước rồi!
Cái số đông im lặng “không nói chỉ làm”(majorité silencieuse) này ,trong mọi giới không tồn tại bằng… chữ nghiã như các nhà văn , té ra nó lại đang có một ý nghĩa khá…bạt mạng : “Kệ mày muốn nói gì thì nói, việc tao, tao làm”! Kể ra thì cũng….là một chiêu võ khá độc …..
Chỉ tiếc rằng mọi sự “im lặng mà mần ăn” này nó đã cứ thế kéo dài và… thẳng tiến không có gì ngăn nổi! Hậu quả là hiện nay :Giá trị bị đảo lộn, hồn dân tộc đã dần biến mất…trên thị trường văn hóa-văn nghệ !Đẹp-Xấu, Giả-Thật, Đúng-Sai lẫn lộn đến mức người ta còn bào chữa cho sự tự do biểu lộ tình cảm khi khóc vì được nhìn thấy các ngôi sao Kpop hoặc hôn hít cái ghế mà các ngôi sao này vừa ngồi thì khác chi các cổ động viên bóng đá? Cũng vui buồn, cười khóc với cầu thủ mình yêu mến, vậy tại sao lại lên án lớp thanh niên của thời đại mới này???(Thảo luận công khai trên báo T.Trẻ rồi….không kết luận sau cả tháng trời)
Giữa cái tình hình ít chữ nghĩa để bảo vệ cho một nền văn nghệ tự do không bị ai giắt mũi,
Giữa cái tình hình mạnh ai tìm cách sống ,cách tồn tại riêng ,sáng tạo riêng mà không động chạm tới ai, một sự vùng lên của những nhà văn khi biết được ngón đòn chuyên chính đã được mang ra áp dụng trong cuộc gạch tên đi đại hội 9 lần này
Một số các nhà văn khả kính đã nổ những phát súng đầu tiên là công khai phủ nhận cái tổ chức vô lý, vô dụng và….vô duyên của cái “Hội chính trị và nghề nghiệp” mà họ đã trót chui đầu vào bấy lâu để rồi té ngửa ra rằng .. “không phải là hội viên để viết cho hay như các thứ “phức tạp”, “thoái hóa” Bảo Ninh, Hoàng Minh Tường, Nguyễn Duy, Nguyễn quang Lập,.. mà chỉ cần viết sao cho vui lòng mấy tay không biết viết! ”
Hoan hô! hoan hô những nhà văn đã xóa đi cho tôi “Nỗi buồn Hòa Bình”!
Riêng đối với các vị “không thích tuyên bố”, “không thích ầm ĩ”,.”không thích xì-căng-đan,” “kê-me-ít thứ thiệt” thì mình chỉ mong sao;
-Các vị cố gắng viết chim, hoa, lá, cá,… cái gì cũng được nhưng đừng làm gì có hại đến nhân cách ,lối sống và tư tưởng tình cảm của lũ con cháu chúng ta!
-Cũng đừng bắt chước bên Tầu, “phá thối cho nó thối đến mức phải vứt bỏ”(Vệ Vệ) bằng những thứ văn hóa “siêu tự do”kiểu loại sách ngôn tình như “Đồng lan cộng hôn” của Diệp Lạc Võ Tâm hay “Nở rộ” của Sói sám mọc cánh!…của nước bạn “đồng lý tưởng” đã được dịch và phổ biến ngon lành ở nước ta…
Tốt nhất là : “CỨ YÊN TÂM SỐNG BẰNG SỔ HƯU CỦA MÌNH” Không cần hoặc không thèm tham gia bất cứ cái gì gọi là hoạt động của cái Hội chính trị và nghề nghiệp của mình nữa !
Được thế cũng là ủng hộ cho các nhà văn đi đầu trong cuộc đấu tranh thoát khỏi sự cai quản toàn diện của cái gọi là đảng cộng sản VN lắm rồi!
Một lần nữa xin mở mũ cúi chào các nhà văn dũng cảm, khảng khái đáng kính của tôi! Mong sao con số 20 sẽ có thêm một con số 0 nữa thôi thì….chắc..những người chỉ huy tối cao mấy cái hội hè của họ,dù muốn hay không cũng phải xét lại cái sự tồn tại hay không tồn tại của những tổ chức vô tích sự mà chính họ đã sai lầm tạo ra và bao cấp nó đến tận ngày nay giữa lúc chính họ cũng đang loay hoay “đổi mới cơ chế” nhưng đang bí rì rì về lý luận lẫn thực tế của một xã hội nửa dơi nửa chuột này./.

TÔ HẢI

Trần Hoài Thư Và ‘Xa Xứ’

dangphuphong

 

10404203_780536348728180_8887881635005580515_n

“Xa Xứ”, thơ của Trần Hoài Thư do Thư Ấn Quán xuất bản là một tập thơ, trước hết: Đẹp. Tranh Bìa của Tống Phước Cường (cũng là một trong những họa sĩ như Thân Trọng Minh, Nguyễn Trọng Khôi, Đinh Cường…có tranh phụ bản cho tập thơ). Tập thơ in hoàn toàn bằng giấy láng, dày, tốt với 38 đoạn thơ cùng 38 phụ bản tranh màu. Tác giả đã rất công phu tìm , chọn 38 bức tranh rất ư liên quan đến 38 đoạn thơ trong tập. quả là một điều thú vị. Một tập thơ, hình thức hết sức công phu, trau chuốt, trình bày trang nhã. Tác giả in chỉ để tặng.
Trần Hoài Thư. Một khuôn mặt rất quen thuộc trong giới cầm bút của Nam Việt Nam từ thập niên 60, một thành viên trụ cột của nhóm Ý Thức. Anh là cựu sĩ quan và là cựu phóng viên chiến trường của QLVNCH. Tù cải tạo 4 năm. Vượt biển , định cư tại Hoa Kỳ 1980. Về hưu sớm, dành toàn thời gian cho việc sưu tập di sản văn học miền Nam , cơ sở Thư ấn quán và tạp chí văn học Thư Quán Bản Thảo. Anh đã xuất bản hơn hai chục tác phẩm thơ, văn. Có thể nói 38 đoạn thơ trong tập ( đoạn ngắn nhất là 2 câu, dài nhất là 8 câu) là 38 bài thơ cùng có tên là “Xa Xứ”. Nói một cách khác bài thơ “Xa Xứ” của Trần Hoài Thư dài 38 đoạn.
Gạt lệ, từ bỏ quê nhà, đối diện với may rủi. Rủi nhiều hơn may. Cho dù đến được với bến bờ tự do. Trần Hoài Thư cũng như những người yêu Việt Nam, vẫn bị cái rủi bao vây, khống chế. Đó là cái rủi của một con người bị mất quê hương
Từ bên này địa cầu, Trần Hoài Thư, luôn luôn mang nặng một nỗi buồn xa quê. Nỗi nhớ mang tên mưa, những cơn “mưa tối mặt”, liên quan đến sinh tử của người lính chiến:
“Tây Nguyên đèo ải ngăn sinh lộ
“Trăm đứa lên có mấy kẻ về
“Giày trận bám bùn mưa tối mặt”

( “Xa Xứ”, tr. 6”)
Nỗi nhớ mang tên cây như rễ cây đa cổ thụ “đâm lòng đất”:
Cây đa. Ngàn rễ đâm lòng đất
“Như tấm lòng người với Bồng Sơn
“Đa bám làng, tôi đi bám đất
“Đất và làng, thương quá quê hương….”

(Xa Xứ, tr.8).
Nỗi nhớ của anh còn mang tên nhiều thứ nữa. Những cái tên ấy đều mộc mạc chân quê. Như là : “cây chuối”, “con Bìm bịp”, “lúa Chiêm”…
Những lần hành quân, người lính chiến đang tuổi thanh niên, không thể không vấn vương trong lòng mái tóc của người con gái tuổi dậy thì trong vụ Chiêm vàng bát ngát.
Uống một cốc cà phê, nhớ bạn. Hình ảnh cái ly xây chừng của cà phê bít- tất bỗng sống dậy trong anh. Lặng lẽ nhưng sừng sững. Ảo ảnh nhưng chừng như tác giả có thể nắm bắt:
“Cốc xây chừng ta để lại Việt Nam
“Chắc sẽ nguội và đóng thành lệ đá”

(“Xa xứ”, tr. 20)
Cây chuối là hình ảnh của quê hương mình, tình cờ thấy nó ở vườn ai (!) bên đường, anh không khỏi bàng hoàng thảng thốt, dừng xe :
Bụi chuối nhà ai bên đường đã mọc
“Chuối mẹ chuối con, trời hỡi quê nhà!

(“Xa Xứ”, tr. 22)
Tình cờ hai kẻ xa xứ gặp nhau . Rủ nhau vào quán:
Hỏi em: em xa xứ
“Hỏi anh : anh xa nhà
“Mời em vào quán vắng
“Uống thêm màu mây xa.”

(“Xa Xứ”, tr. 36)
Đây là đoạn thơ hay nhất trong thi tập Xa Xứ.
“Em xa xứ/ Anh xa nhà/ Mời vào quán vắng”. Nếu để kể lể, chia sớt nỗi buồn lưu lạc thì chắc tác giả chẳng nói làm chi. Chỉ để “ Uống thêm màu mây xa”. Câu thơ như suối nguồn tuông chảy, làm ngập lụt cả không gian bằng nỗi nhớ vợi vời. Uống thêm màu mây xa là uống một thứ thuốc độc thơ mộng. Một lối tự tử tuyệt vời. Chữ “thêm” và chữ “xa” là 2 chữ đắc địa . Không gian của 4 câu thơ là không gian tuyệt đối tĩnh lặng cô đơn. Chao ôi, trống vắng của kiếp người như vậy có thể nói là cùng kiệt!
Cái tĩnh lặng cô đơn ở đây là chính do tự lòng mình mở ra dẫu cho đang đứng giữa phố xá đông người. Cảnh quang không tĩnh như trong bài Tĩnh dạ tư (1). Nó khiến ta nhớ đến bài Ức Đông Sơn:
“Bất hướng Đông Sơn cửu
“Tường vi kỷ độ hoa?
“Bạch vân hoàn tự tán
“Minh nguyệt lạc thuỳ gia?”.

Lý Bạch.

Dịch nghĩa(ĐPP): Nhớ Đông Sơn
Lâu không đến Đông Sơn
Hoa tường vi đã nở mấy lần?
Mây trắng hợp rồi tan
Trăng sáng lạc vào nhà ai?

Lý Bạch nhìn mây. Trần Hoài Thư uống mây. Cả hai bài thơ đều không đề cập đến nỗi nhớ, nỗi cô đơn nhưng đều gây cho người đọc bàng hoàng đến lặng người vì nỗi cô đơn cùng cực.
Trần Hoài Thư biết rõ mình “ đứng giữa nỗi buồn lịch sử” nên đành phải ngậm ngùi với thân phận mất mát dù thỉnh thoảng cũng muốn tìm “có exit nào để bớt cô liêu” (trg 58).. Nhưng, tất cả chỉ là chiêm bao:
“ … Ta về chứ đêm qua
“Ta vẫn về, rất thầm lặng thiết tha
.” (“Xa Xứ”, tr. 78)
Kẻ lưu vong mà cứ canh cánh bên lòng nỗi mất mát thì sẽ trở thành một người chung thân bất mãn. Hay ít ra là một kẻ mang bệnh trầm cảm. Mong nhà thơ chúng ta tìm được chỗ, nơi, chốn thoát thân.
____
ĐẶNG PHÚ PHONG

Chú thích:
(1)“Tĩnh dạ tư” của Lý Bạch.
Sàng tiền minh nguyệt quang
Nghi thị địa thượng sương
Cử đầu vọng minh nguyệt
Đê đầu tư cố hương.

.

.

Biếc phố

phamthienthu

Lắng nghe từng sợi mưa dài
Cơn mây xõa tóc bên ngoài hè xanh
Hạt nào biếc phố long lanh
Hạt nào cẩn ngọc trên nhành tay hương.
Lắng nghe ủ rũ con đường
Mùa thu lấp ló trên tường rêu hoang
Lắng nghe đôi ngọn lá vàng
Xạc xào như tiếng thời gian thở dài
Lắng nghe đôi cánh mày ai
Dường như đậm nét cảm hoài bâng khuâng
Lắng nghe hồn nhẹ lâng lâng
Cảm ơn! Từng sợi tóc bồng bềnh mưa.

Phạm Thiên Thư