THÁNG TÁM VÀ TÔI

phamkhanhvu

tháng tám, biển không có gì khác
vỗ giữa ngàn xanh sóng bạc đầu
Ta nhớ một người, ta bạc tóc
nối những sợi dài suốt bể dâu

tháng tám, mơ hồ ta định hướng
về đâu về đâu những ngả đường
nhìn đâu con mắt cay mùi khói
quay người đối diện thú đau thương

tháng tám một ngày ta nhớ lại
mênh mông chiều thu, thu mênh mông
có con châu chấu nằm trong lá
ăn những chồi non mới nhú lên

Tháng tám lơ ngơ tìm con phố
cà phê và lá rụng trên bàn
một chút gì đau hoài niệm ấy
một chút gì ta nghe nát tan

tháng tám có khi là cơn bão
ngụ giữa lòng ta bao nhiêu năm
bao nhiêu năm ấy còn mơ được
sao phút này đây lại khóc thầm

tháng tám với em không gì cả
em vẫn hồ như không nhớ ta
không nhớ một ngày nằm đợi chết
mưa đổ nghìn trùng trong cách xa…

PHẠM KHÁNH VŨ

MỘT TIẾNG EM

dinhhung

Từ giã hoàng hôn trong mắt em
Tôi đi tìm những phố không đèn
Gió mùa thu sớm bao dư vị
Của chút hương thầm khi mới quen

Cùng bóng hàng cây gập giữa đường
Âm thầm tôi ngỏ tấm tình thương
Bao nhiêu hoài bão, bao hy vọng
Nói hết cho lòng nhẹ mối vương

Rồi đây trên những lối đi này
Ta sẽ cùng ai tay nắm tay
Nhịp bước năm cung đàn ảo tưởng
Buông chìm tâm sự nửa đêm nay

Từng bước trôi cùng trăng viễn khơi
Thâu đêm chưa hiểu miệng ai cười
Nụ cười gởi tự thiên thu lại
Tiền kiếp xưa nào em hé môi?

Dĩ vãng nào xanh như mắt em
Chao ôi! màu tóc rợn từng đêm
Hàng mi khuê các chìm sương phủ
Vời vợi ngàn sao nhạt dáng xiêm

Kỷ niệm thơm từ năm ngón tay
Trăng lên từng nét gợn đôi mày
Bóng hoa huyền ảo nghiêng vầng trán
Chưa ngát hương tình, hương đã bay

Sông biển nào nghe thấu nỗi niềm?
Sóng đâu còn khóe mắt thâm nghiêm
Lòng ơi hoài vọng bao giờ nói
Thăm thẳm trùng dương một tiếng em

Nhẹ bước chiêm bao tưởng lạc đường
Rưng rưng mùi phấn bỗng ngùi hương
Sương đầm vạt áo mong manh lệ
Sao rụng bay vào tóc dạ hương

Tôi lánh trần ai đi rất xa
Bâng khuâng sao lạnh ánh trăng tà
Ngày mai hứa hẹn bừng hương cỏ
Tôi sẽ say nằm ngủ dưới hoa

ĐINH HÙNG

Nỗi buồn trong đôi mắt sâu

nguyentri

Nó chết là quá xá đúng!
Người chết tên Minh, ghê gớm lắm nên dân chơi gọi đại ca. Trong bốn đứa con của vợ chồng Hai Phở thì Minh là út. Nhà giàu nên Minh hư từ bé. Bé bé con con cha mẹ anh chị thương quá mà hư hao chút đỉnh là chuyện thường, xứ ta được mấy nhà vừa giàu vừa có trí tuệ đi kèm để con em không ỷ? Đi học Minh hoang đàng chi địa không trường nào chịu xiết. Cuối cùng bị đuổi khỏi trung tâm giáo dục thường xuyên về tội đánh thầy giáo ngay trong giờ học. Nó la cà với chúng bạn ở vỉa hè xóm chợ. Biết uống rượu năm mười ba tuổi và dính vô ma tuý năm mười bảy. Hai mươi hai tuổi Minh có năm năm vừa cai nghiện vừa tù tội. Với bề dày thành tích cộng thêm được bà mẹ thương kiểu mù mắt nên Minh hoá quỷ.
Vợ chồng Hai Phở đau khổ vì thằng con nầy lắm. Nó phá trời còn chắp tay mà bái. Mười bảy bước qua mười tám, Minh và con ma tuý đã phá của Hai Phở gần nửa gia sản, là ông Hai nói vậy. Không xiết với thằng phá gia, nó lấy của nhà phục vụ cho chính mình nói làm chi, ma tuý mà nó dám đãi bạn bè chơi cho vui thì tiền nào chịu nổi? Mà Minh thì bạn nhiều lắm, trai gái có đủ, đứa nào cũng hít choác ngày đôi ba cử chứ không ít. Ông Hai Phở phải đưa con trai đi cai. Tiền đưa vô trung tâm sáu tháng chục triệu ngoài là nhỏ, tiền thăm nuôi mới lớn, tuần một lần thì giàu cỡ nào cũng đuối. Thôi thì có con phải khổ vì con. Bà Hai nói vậy, nhưng ông Hai văng tục:
– Nó chết là tôi cúng một cặp heo quay chứ một con còn ít lắm.
Vừa ra khỏi trại Minh chơi ma tuý lại ngay. Ở cái nơi nó cai cũng không thiếu. Anh chị em trong nhà bất mãn lắm. Vậy là đứa nào cũng xin ra, có gia đình rồi thì riêng chứ chung chạ làm chi cho rách việc? Lò phở thì con làm với tư cách công nhân cho ba má. Nếu ba má không đồng ý con đi thuê phòng trọ đi làm công ty kiếm sống, người làm kẻ phá như thế nầy chịu sao xiết hả má? Má cưng nó cũng vừa thôi. Cứ cái đà nầy nay mai bọn con cũng cuốn gói đi ăn mày. Vậy là vợ chồng Hai Phở cắt đất ra chia, cho tiền con cất nhà. Tất nhiên cái nhà đang có cái lò sản xuất phở là của Minh. Của Minh, Minh có quyền xài, đúng không?
Anh lấy vợ, hai con chị lấy chồng. Đứa nào có cơ ngơi nấy, lò phở và cái nhà không của Minh thì của ông trời à? Vậy là nhóm bạn bụi đời tôn Minh lên làm anh. Kính cẩn nghiêng mình khi đại ca sai phái. Sau năm năm lấy trại làm nhà, Minh trở về và ông bà Hai có vẻ tin Minh đã bỏ cuộc chơi làm lại đời khi dẫn về nhà một cô gái tên Anh. Cô Anh là con gái của Ba Đạo.
Vợ mất để lại cho Ba Đạo hai đứa con một trái một gái. Thuê mướn suốt một đời Đạo chăm chút cho con. Vậy mà chả hiểu làm sao mới lớp chín thằng Đức bỏ học. Ông cha nghèo khổ có nói cách mấy nó cũng chẳng nghe theo. Thoạt đầu nó đi mua hồ sơ giả xin vô công ty làm công nhân. Ba Đạo đành phải chấp nhận, dù sao nó cũng tự kiếm ra tiền khi chưa đến tuổi thành niên. Khổ cái, ông con làm ra bao nhiêu xài bấy nhiêu nên hư hao sớm, bọn lơn lớn tuổi trong công ty mười hết chín cứ cuối tuần là nhậu nhẹt. Cu Đức cũng ra vẻ dân chơi anh nhậu tui cũng nhậu, anh thuốc lá tui cũng thuốc lá chả sợ thằng pháp nào. Thêm một lần Ba Đạo tự an ủi đàn ông thì tránh sao được.
Nhưng con Anh mới là một nỗi đau tận trái tim ông cha khốn khổ. Mẹ mất nên ông thương nó lắm. Đi học nó chẳng thua một đứa bạn nào, vậy mà mới mười lăm tuổi, Anh đàn đúm theo bè bạn trốn học đi chơi. Nó xinh xắn nên lũ bạn trai o bế lên tận trời. Mới một dúm tuổi nó cặp một thằng. Ngoài đường ngoài sá, giữa ban ngày mà chúng ôm eo ếch như chỗ không người. Là ông Ba chứng kiến tận mắt chứ chẳng ai lê mách gì. Ông lệnh cho Anh về nhà, cha con giằng nhau và con bé bị toạc vai áo. Ba Đạo choáng váng khi mục kích trên vai con gái là một hình xâm xanh đỏ. Giận quá ông cho con gái bạt tai. Nhưng chuyện trốn học và xâm mình là vặt. Ông ghé cái quán xi rô đá bào bên hông trường mới biết thêm vài chuyện:
– Con Anh hả? – Chủ quán nói – nó mà học hành gì ông anh ơi, tôi cũng chả hiểu cha mẹ đâu mà không để ý đến con cái. Nó trốn học thường xuyên, sáng nào cũng ghé đây cùng với một con bạn làm chai xì tinh và hai cái tẩy đá. Lúc đầu tôi tưởng nó hiền, ngờ đâu nó pha rượu vô xì tinh uống cho bốc. Cứ một chai là nửa xị rượu. Nó còn hút thuốc nữa đó ông.
Chủ quán nói đến đâu Ba Đạo rụng rời đến đó. Ông về gác tay lên trán, tìm kế sách sửa sai con gái. Nhưng e chừng giận cha vì một bạt tai ngoài đường chiều ấy nó không về. Đêm cũng biệt tăm. Ông cha nói với con trai chuyện con em uống rượu. Thằng con cười:
– Thời buổi giờ đàn bà con gái đứa nào không uống? Ông làm như thời xưa chỉ đàn ông mới rượu.
Ba Đạo chưa hết hốt hoảng thì cô giáo chủ nhiệm của Anh tìm đến nhà. Trời ơi – ông ôm đầu rên rĩ cùng cô giáo – Cô ơi từ khi nó ra đời má nó ốm đau suốt. Nó bú sữa ngoài nên tôi thương lắm cô ơi. Con Anh năm tuổi bà xã mất tôi ôm hai đứa con khóc thâu ngày thâu đêm…
Cô giáo nghe mà đứt ruột cho ông cha. Nuôi con từ thuở lọt lòng mà nay nó hư hao vậy ai chả buồn? Mà vì sao vậy cô giáo ơi? Ba Đạo hỏi. Nhưng cô giáo biết đâu mà trả lời? Không gian và thời gian của cô là bên trong cổng trường. Còn bên ngoài? Cô cũng có nghe đến những tệ nạn đang rủ rê học trò cô vào tăm tối. Vũ khí của cô chỉ là lời khuyên. Ở cái thời mà người ta nói chuyện với nhau bằng lưỡi dao và mã tấu thì lời khuyên liệu có ích chi?
Một tuần sau con Anh về. Nhìn nó Ba Đạo muốn khóc quá. Nó xơ xác, héo úa lắm. Ông nhìn lên bàn thờ vợ mà chả biết phải làm sao. Đu đưa trên võng suốt đêm trường Ba Đạo nhớ đến những ngày con gái còn thơ dại, nó lẩm đẩm chạy theo cha, nó khóc nó cười nó ốm đau rồi khoẻ mạnh, một mình ông lo toan. Và thế là trong tịch mịch đêm dài nước mắt người cha khốn khổ chảy. Con Anh ngủ vùi cả ngày, tỉnh dậy nó lục cơm ăn rồi đi tiếp. Ba Đạo tím môi nâng chén để quên buồn. Cả hai đứa con chả đứa nào ngó ngàng chi đến cha già. Chúng bay ngoài đường không cho cha một lần gặp để hơn thiệt đúng sai, năm thì mười hoạ chúng có nghe cha nói, nhưng phớt lờ kiểu ông già rồi lẩm cẩm quá thôi.
Ba Đạo thét lên với tối cao cả một càn khôn cay đắng. Ông quỳ xuống xin dâng mình đời đời cho hoả ngục nếu có thể đưa đứa con gái tội nghiệp về lại tay ông. Nhưng Chúa, Phật cả đấng tôi cao đã bỏ ông. May mà có ba giọt rượu nên cũng vơi bớt nỗi sầu khi say. Cứ như vậy ba nhân mạng trong cùng một căn nhà mà là cả ba thế giới tách biệt. Mạnh yếu tự ai nấy biết. Ba Đạo biết con gái tệ lắm trong việc kiếm ra tiền để phục cho chính mình, nó tuy chưa đến cái đận để bị đánh giá là cặn bả nhưng nào có khác chi. Con gái mà nay cặp thằng nầy, mai thằng khác vào nhà nghỉ thì là cái chi trời hỡi?
Một đêm khuya khoắt kia con Anh về. Ba Đạo đang đu đưa trên võng, có tí hơi men vào buổi chiều nên cha già cáu kỉnh:
– Mày vẫn còn nhớ đây là nhà của mày à?
– Chớ tui làm cái gì mà ông khó với tui vậy?
– Mày làm cái gì thì tự biết lấy. Con gái mà nay thằng nầy mai thằng khác, lấy nhà nghỉ làm nhà mình là cái giống gì mày nói tao nghe?
– Ông đừng lo cho tui, ông lo cho thằng Đức kìa.
Thật là hết nước mắt để khóc, con cái ông tui với cha, kêu anh bằng thằng. Ba Đạo thở một hơi não nuột buồn:
– Ít nhiều cha cũng cho con đi học mà ông tui với cha con ngó được sao con? Mày nói tao lo cho thằng Đức là lo làm sao?
– Nó bỏ công ty cả tháng nay rồi ba biết không?
– Sao vậy?
– Ba kêu nó về mà hỏi. Quan trọng là bây giờ nó làm lính cho thằng Minh.
– Minh nào?
– Út Minh con Hai Phở.
– Đi làm mướn trong lò phở hả?
– Được vậy là may. Thằng Minh chơi xì ke, ba nghĩ coi ông Đức nhà mình theo nó thì ra làm sao?
Ba Đạo nghe mà điếng người, tỉnh rượu ngay tức khắc. Cả thế giới nầy ai chả biết đến hiểm hoạ của ma tuý. Cái xứ mà Ba Đạo đang sống bọn nghiện làm đủ thứ trời ơi từ trộm cắp đến cướp của giết người. Thằng Đức ăn trúng cái giống gì mà đần ngu vậy kìa? Nhưng may cho Ba Đạo, một may mắn đầy đau đớn. Vài ngày sau cả cái ổ của Minh bị công an bài trừ tệ nạn hốt, trong đó có thằng Đức. Vậy là thằng con bị bắt đi trung tâm hai mươi bốn tháng.
Trong hai mươi bốn tháng ấy Ba Đạo đi thăm được hai lần. Già rồi, sức khoẻ kém. Đạo làm nuôi thân còn tàm tạm, con Anh đâu có làm chi nên phải gánh luôn. Nếu chỉ cơm ăn và nước uống thì chả nói làm gì, đằng nầy con bé còn rượu và thuốc lá. Nhìn đứa con gái chếnh choáng hơi men miệng phì phèo thuốc lá Ba Đạo muốn tự sát. Ông đưa mắt nhìn về nơi thằng con đang cai nghiện thêm một lần muốn chết cho rồi. Nhưng giật mình khi nghĩ đến cha chết rồi các con sẽ ra sao? Sau hai năm thằng Đức về, nó có vẻ biết hối cải. Thế giới của cai nghiện tất nhiên đâu có ấm bằng gia đình. Nó ghé vào làm thuê cho cơ sở gia công cửa sắt. Mười hai tháng sau Đức thành thợ thì Minh cũng mãn hạn tù về tội tham gia cướp.
Ba Đạo nghe con gái cặp kè với Minh là rùng mình. Ngay tức khắc kêu con trai đến để bàn chuyện. Đức thân chinh đến gặp Minh. Chả hiểu làm sao mà sau đó Đức bỏ luôn thợ cửa sắt theo Minh làm long tong. Ông Đạo hỏi con trai bằng cái giọng não nùng tuyệt vọng:
– Con không làm lại cuộc đời sao Đức? Thằng Minh con nhà giàu mày theo sao kịp? Rồi tương lai mày và con Anh ra làm sao?
– Ba yên tâm đi – Đức nói đầy tự tin – Nếu đã chơi con chơi lại lâu rồi. Con còn phải lấy vợ có con nũa chớ ba. Con làm mướn trong lò phở có ăn hơn bên cửa sắt. Thằng Minh bây giờ cũng làm lại rồi ba ơi. Không tin con đi test về cho ba coi.
Ba Đạo bán tín bán nghi. Vì nghi nên phải tìm hiểu cho ra ngọn ra ngành. Quả là thằng Minh đàng hoàng thiệt chứ không chơi. Nó đến nhà ra mắt cứ như rể thiệt thọ. Đem rượu đến tạc thù cùng ông, con Anh làm mồi nhậu lâu lâu cũng ghé làm một ly. Minh không có biểu hiện của kẻ nghiện. Nó ngồi cho đến tàn cuộc nhậu rồi lăn ra ngủ. Ngủ cho đến chiều rồi về. Tỉnh queo. Người nghiện thì không vậy, thằng Đức một thời gian nghiện ngập nên Ba Đạo quá xá rành. Ông khấp khởi mừng. Nhưng khấp khởi hoá khấp khểnh ngay tức khắc.
Mọi chuyện đổ vỡ ra khi hôm ấy ông Đạo bỏ dỡ buổi làm đột ngột trở về vì bị cảm sốt. Ông mục kích cả ba Minh, Anh và Đức đang ngồi bên một bộ đồ chơi trông giống như một điếu bát thuốc lào nhưng toàn bằng thuỷ tinh. Con Anh đang ngậm cái dọc tẩu và ra sức kéo. Lúc đầu ông Đạo cứ tưởng chúng kéo thuốc lào cho vui, ngờ đâu cả bọn đang chơi đá.
Sau một năm tù Minh ranh như một con ma. Đúng là nó không chích choác nữa mà chìm vào đập đá. Thoạt tiên ba Đạo không biết đá là cái chi nhưng sau đó con ông đã đưa Minh về nhà, chúng che buồng thật kín đáo rồi phân hàng để bán lại cho tay chơi. Minh vừa bán đá vừa bán cả đồ nghề để sử dụng. Nó nằm trong phòng riêng nghe điện thoại. Đức và Anh có bổn phận giao hàng cho Minh. Chúng ở nhà ông một tuần rồi di chuyển đi nơi khác, rồi từ phòng trọ nầy chúng đến nhà trọ khác. Ba Đạo hiểu chúng luôn di dộng để tránh tai mắt của bài trừ tệ nạn.
Ông cha tội nghiệp hỏi con trai:
– Mày không sợ bị bắt đi trại lần nữa sao con?
– Ông đừng lo cho tui, con lâu tui mới bị đi lần nữa.
– Mày là thánh hả?
– Ba cái hàng nầy chỉ hít chớ đâu có choác. Mà không choác thì đâu có trong máu mà test cho ra. Máu không có ma tuý thì ai dám bắt? Ông yên tâm đi. Mà ông tưởng tui có tiền để chơi thứ nầy hả? Nó đắt gấp bốn lần ma tuý ba ơi. Riêng cái ống thuỷ tinh dùng để kéo là cả trăm ngàn chứ không ít, mà nó bể liên tục.
– ….
– Tui đang cố theo thằng Minh để học thổi cho ra ống hít. Cái ống đó chỉ hai ngàn bạc, nhưng nếu thổi cho ra thành phẩm là trăm ngàn.
Đức nói như một thằng say. Mà đúng là nó đang say khói của đá:
– Dùng đèn khò xài gaz đốt cái ống thuỷ tinh cho mềm rồi thổi cho ra một cái bầu bằng ngón tay cái, quan trọng là cái bầu đó phải có một cái lỗ để tiêm đá vào đó. Kỹ thuật nầy ở xứ nầy chỉ duy nhất thằng Minh làm được, nó đang truyền nghề cho tui. Ông nghĩ coi một bình ga tám ngàn ống thuỷ tinh thô hai ngàn là mười. một bình gaz ông có thể thổi ra chục cái ống hít. Lời khẳm chế độ luôn.
– ???
– Ba biết sao mà nó luôn bị bể không? Khà khà …khi hít xong là phải lấy ống ra khỏi bình cất kỹ dành cho lần hít sau, nhưng lúc đó phê quá nên cầm đâu có chắc, hơ hỏng rớt một cái là tong liền, ông ba hiểu không? Tui mà thành cái vụ thổi nầy là không lo đá cho cả con Anh luôn.
– Trời ơi là trời – Ba Đạo than – Sao mầy nở để em mầy sa địa ngục vậy Đức?
– Ông quan trọng hoá vấn đề quá đó ông ba, thứ nầy có thì chơi cho vui, không có thì thôi chớ đâu có vã như ken mà ông lo.
Khi say thì chả bí mật nào không được phơi ra:
– Có ba loại. Ba mươi, bảy mươi và kim cương. Ba mươi rẻ nhất thì bốn trăm ngàn một chỉ. Bảy mươi thì một triệu. Kim cương thì đại gia mới chơi nổi.
Ba Đạo đưa mắt nhìn thằng con thao thao bất tuyệt:
– Ba mươi là đá xô pha trộn đủ thứ ba láp chỉ có ba mươi phần trăm thuốc. Ông phê thì nó lâu tới đỉnh và mau hoai. Còn bảy mươi thì kéo một cái là tới chỉ liền. Để tui nói ông nghe. Ma tuý không phê bằng mà lại mau hoai lắm. Đá kéo dài sự mê đắm gấp năm lần hơn. Tất nhiên là đắt lắm. Ba bốn thằng hùn vô lấy một chỉ rồi chia đều ra kéo. Nó sướng gấp ba lần hàng trắng và phê lâu hơn cũng chừng đó lần. Ông ba biết không mua bán thứ nầy lời ác liệt lắm. Tui thí dụ mấy thằng mới chơi lần đầu đâu biết khỉ mẹ gì, hàng ba mươi thằng Minh chặt giá bảy mươi. Gặp mấy thằng nhà giàu, một nửa bảy mươi trộn với nửa kim cương là ngon ăn nhứt. Tui mà có tiền tui chơi như thằng Minh là lên luôn ông ba ơi.
Ba Đạo nghe mà thở dài cho đứa con đã bị ma tuý ám cho hết cả hồn người. Ông nhìn thấy thần chết đang réo gọi tên con mà không biết phải làm sao để cứu. Cuối cùng ông theo hạ sách là đến thẳng phòng bài trừ tệ nạn huyện để báo về hành vi của hai đứa con. Làm cha mà đi tố cáo con mình thì cũng bất nhẫn, có thể chúng sẽ hận ông, nhưng Ba Đạo còn lối nào để bước? Ông phải cứu hai đứa con thoát khỏi cái chết được báo trước, bằng không ông ăn làm làm sao nói làm sao với bà vợ đã chết? Nghe đâu người ta sẽ gặp lại nhau ở thế giới bên kia.
***
Ông trình bày hết lẽ. Nhưng:
– Chú biết không – Cán bộ nói – chúng tôi biết hết mọi điều thằng Minh làm. Nhưng ông nghĩ coi, nó lên xe buýt rồi dạo chơi ở Sài gòn cho đến nửa đêm mới đến chỗ lấy hàng. Nó giao tiền và bọn giao hàng sẽ giao cho nó ở xứ mình đây. Mỗi lần giao tụi nó đi cả vài chiếc phân khối lớn, trong năm chiếc chỉ một chiếc có hàng. Ta biết chắc chiếc có hàng cũng không bắt được vì bọn đi theo ngáng đường cho đồng bọn tẩu thoát. Ở đây thằng Minh phân hàng trong nghĩa địa, mỗi một bộ hạ của nó chỉ được nhận lần năm phân, nửa chỉ để giao cho khách, hàng trong lòng tay, có động nó quăng mất lần sao cho ra mà quả tang hả chú?
Người nghiện – chú biết đó – khi thiếu thuốc chúng có thể làm mọi việc, kể cả tội ác chỉ để phục vụ cho cơn đói nhất thời. Hành vi như thằng Minh là có tội, vì nó mê hoặc mấy đứa mới lớn sa vô cám dỗ để phục vụ cho lợi ích của nó. Con chú cũng là một nạn nhân. Sau năm năm hết cai nghiện rồi tù tội thằng Minh rút ra rất nhiều kinh nghiệm để đối phó. Phải có quả tang mới bắt được chú à, còn kêu nó lên test máu để xác định thì đập đá chỉ đưa khói vào não, huỷ diệt não chứ trong máu đâu có để làm hồ sơ đưa đi cai hả chú? Và biết là nó có tội, tội nặng luôn nhưng chỉ có thể đưa đi chữa bệnh như là một nạn nhân chứ đâu phải tội phạm mà đưa ra toà kết án. Chú cứ về đi, tất cả đều đã vào tầm ngắm của bài trừ tệ nạn, đâu thể để bọn nầy ung dung làm hại xã hội được chú.
Hai ngày sau Minh và Anh bị truy đuổi. Trên chiếc “ẹc” 125 phân khối Minh chạy như điên. Nhưng nó bị chận lại từ bốn phía, cùng đường Minh dừng xe bỏ chạy vào nghĩa địa. Nó để con Anh lại hiện trường. Trong xách tay đeo trên vai Anh khai nửa ký ma tuý đá là của Minh. Minh bốc hơi mất dạng, ông bà Hai Phở cũng không biết đâu mà lần. Anh bị tạm giam ở điều tra xét hỏi huyện. Nguyên cái ổ của Minh xáo xác như gà mất mẹ. Thằng Đức không có đá để đập nên làm một tép hê rô in cho thoả cơn ghiền.
Nó tiêm một phát vô tĩnh mạch. Chỉ một mình trong nghĩa địa lại chơi trúng hàng bị pha chế nên sốc.
Mà sốc thì phải chết.

***
Sáng ấy Minh ghé nhà Ba Đạo. Cả xóm nầy ai cũng xem Minh là kẻ cần loại ra khỏi cộng đồng xã hội. Vì sao? Vì hầu hết bọn mới lớn đứa nào cũng bị Minh cho vào tròng sa đoạ, ba trên mười hộ đều có con em là nạn nhân của Minh. Bảy hộ còn lại sợ một ngày nào đó sẽ đến lượt nên vừa thấy Minh xuất hiện là họ mở ngay di động.
Nhưng khi cơ động đến thì Minh đã chết. Ba Đạo đã thọc một ngọn dao thái vào ngay ngực trái thằng khốn. Minh ôm ngực lảo đảo ngã xuống còn Ba Đạo thì tiếp tục ngồi xuống võng. Mắt vô hồn nhìn vào khoảng trống của hư vô. Thiên hạ bu vòng quanh để xem kẻ giết và người chết. Vợ chồng Hai Phở và anh chị em của Minh cũng có mặt nhưng chả ai có một giọt sầu bi cho nó. Có lẽ họ quá mệt mỏi về thằng con hư hỏng. Ngay cả bà mẹ rứt ruột đẻ ra mà mặt cũng trơ như đá tảng.
Minh đúng có tội. Lớn tội chứ không đùa. Ai cũng cho rằng chết là đáng lắm. Nhưng anh là ai? Là cái gì mà dám phản xử người khác? Thằng Minh đâu phải là kẻ cướp, nó đâu có đánh người gây thương tích trầm trọng. Nó chỉ là nạn nhân của ma tuý, nó bán để kiếm dư mà lo cho bản thân mình. Những thằng theo đuôi gọi nó là anh, giao hàng cho nó là tự nguyện hay bị buộc? Ai nói nó dụ dỗ bầy trẻ vào sa đoạ? Bằng chứng đâu cứ trưng ra? Và cuối cùng chuyện phán xử và trừng phạt một con người không phải của các anh. Nó thuộc về pháp luật.
Tất cả đều tiếc cho Ba Đạo. Rồi đây ông cha tội nghiệp sẽ phải tù vì tội giết người. Đúng rồi. Giết người là vi phạm pháp luật, anh sẽ bị cách ly khỏi cộng đồng xã hội, sẽ bị trừng phạt để làm gương cho kẻ khác.
Thiên hạ đứng bên lề nhìn Ba Đạo bị bắt lên đặc chủng. Xúm xít khi Minh được đưa lên hồng thập tự về bệnh viện để khám nghiệm tử thi. Khi quay lại nhìn nhà mình lần cuối đôi mắt Ba Đạo trìu trịu một nổi buồn sâu thẳm.
Nguyễn Trí

Bài thơ buổi trưa

phuongxichlo

Tôi ngồi dưới mái nhà xưa
Nghe con nắng cháy trong giờ Ngọ thiêng
Nhìn qua am miễu láng giềng
Một vùng nhang khói u huyền tỏa quanh
Điệu Chầu Văn
Giục thúc nhanh
Âm hồn khắp nẻo về quanh bệ thờ
Hai bên nhập lại một bờ
Bên ni hoà điệu
Lời thơ đoạn trường
Tử sinh như một con đường
Người đi trước
Kẻ ngập ngừng theo sau
Về đâu? Ai biết về đâu?
Cũng tuỳ mầm nghiệp ban đầu lỡ gieo
Phận người – Trước gió đèn treo
Mong manh như đám bọt bèo trên sông
Hơn nhau chỉ một tấm lòng
Để đen muôn thuở hay hồng ngàn thu

PHƯƠNG XÍCH LÔ

GIỌT CÀ PHÊ

linhphuong

Tìm em
trong
giọt cà phê
Mang hương vị đắng
si mê một thời
Xót xa
gần hết nửa đời
Ghế xưa bỏ trống
chỗ ngồi thiếu em
Hai con mắt ngó
đã thèm
Giọt cà phê
rớt
giữa nghìn bể dâu
Buồn
vui
lặng lẽ
mùa ngâu
Giọt cà phê đắng
bỗng đâu ngọt ngào
Trên bàn phím
sáng mai nào
Chữ thương
chữ nhớ
bạc đầu gặp nhau

LINH PHƯƠNG

“QUÂN NGỰ LÂM” CỦA NGUYỄN VƯƠNG – PHÚC ÁNH

truongnghi

Hiểu theo nghĩa thông thường, quân Ngự Lâm là loại quân hậu cận, ở bên cạnh và bảo vệ an toàn cho vua. Nhưng trong trận chiến tiến ra Quy Nhơn giao tranh với nhà Tây Sơn những năm 1799 – 1802, trong quân thứ của Nguyễn Ánh có binh chủng Quân Ngự Lâm mà ở đây quân binh đều kén lấy người của Quy Nhơn, hầu hết tướng lĩnh chỉ huy – kể cả cao cấp lại là hàng tướng của Tây Sơn theo về. Trong trận chiến, đội quân Ngự Lâm nầy đã có nguyên một quân hiệu trở ngược lại ngọn giáo làm khốn đốn cho quân của Nguyễn Vương không ít, làm cho Vương phải bao phen gọi là lao tam khổ tứ, ăn chẳng ngon mà ngủ cũng không yên.
Năm 1780, Nguyễn Ánh xưng Vương ở Gia Định, dùng theo niên hiệu của vua Lê. Năm 1781, sau khi giết Đỗ Thành Nhơn, Nguyễn Ánh lấy quân Đông Sơn của Nhơn chia làm bốn quân Tiền, Hậu, Tả, Hữu, làm cơ sở gầy dựng nên đại binh với các dinh Trung Quân, Tiền – Hậu – Tả – Hữu Quân sau nầy. Khi lực lượng đã phát triển, Nguyễn Ánh còn có Vệ Thần Sách, là đội cận vệ được trang bị và tập luyện chiến đấu theo kỷ – chiến thuật Tây phương. Năm 1793, Vệ Thần Sách được nâng lên thành Quân Thần Sách, được xem như là thân quân, lính hậu cận của Nguyễn Vương.
Đến tháng 6 năm 1798 Quân Thần Sách cải đặt làm 5 Đồn quân. Mỗi Đồn đặt một Chánh thống và một Phó thống.
• Trung Đồn có 4 Vệ : Túc Trực, Hùng Uy, Phấn Uy và Võ Uy
• Tiền Đồn có 4 Vệ : Ban Trực Tiền, Ban Trực Hậu, Long Võ và Kiên Uy
• Tả Đồn có 4 Vệ : Ban Trực Tuyển Phong Hữu, Diệu Võ, Dương Võ và Túc Võ
• Hữu Đồn có 4 Vệ : Ban Trực Hữu, Ban Trực Tuyển Phong Tiền, Hổ Oai và Uy Võ
• Hậu Đồn có 4 Vệ : Ban Trực Tả, Ban Trực Tuyển Phong Tả, Ban Trực Tuyển Phong Hậu và Hùng Võ
Nguyễn Vương lấy Phạm Văn Nhân làm Chưởng cơ Giám quân Quân Thần Sách, quản tướng sĩ năm đồn. Những chiến tướng có tên tuổi trên các chiến trường trước đây như Vệ úy Vệ Diệu Võ là Lê Văn Duyệt làm Chánh thống Tả đồn, Vệ úy Vệ Hùng Võ là Nguyễn Đức Xuyên làm Phó thống Trung đồn… Quân Thần Sách là binh chủng tinh nhuệ của Nguyễn Ánh, binh chế cũng như nhân sự của Quân Thần Sách là nòng cốt, kiểu mẫu để Nguyễn Ánh thành lập phiên hiệu Quân Ngự Lâm năm 1799.
Trước đây, năm 1793 binh Phú Xuân của vua Quang Toản vào giải cứu Quy Nhơn rồi kê biên luôn kho tàng, võ khố, khiến vua Thái Đức Nguyễn Nhạc uất ức mà chết đã gây không ít nỗi thất vọng trong lòng tướng sĩ nhà Tây Sơn. Đến năm Mậu Ngọ 1798, con của Thái Đức là Nguyễn Bảo cũng bị binh Phú Xuân vào bắt giết làm cho nhà Tây Sơn ly tán. Một số thuộc tướng của Nguyễn Nhạc đã bỏ vào Nam theo về với Nguyễn Ánh. Hàng loạt các Đại đô đốc Đoàn Văn Cát, Lê Chất, Võ Đình Giai, Nguyễn Văn Điểm, các Đô đốc Lê Văn Niệm, Hồ Văn Viện, Trần Văn Lân, Đô úy Mai Gia Cương, Nguyễn Văn Trí… chạy về với quân thứ Gia Định. Những tướng lĩnh nầy sau sẽ là cấp chỉ huy Quân Ngự Lâm của Nguyễn Vương Phúc Ánh.
Tháng 6 năm Kỷ Mùi 1799, Nguyễn Ánh đánh chiếm Quy Nhơn, đổi Thành Quy Nhơn làm Thành Bình Định. Tháng 8 cho kén binh ở phủ Quy Nhơn, cứ theo ngạch binh cũ trong 6 Thuộc ở đây tuyển được gần 19.000 quân. Tháng 9 lấy quân ở 2 Thuộc Võng Nhi, Hà Bạc và các xã miền dưới sung vào Thủy quân, lấy quân của 4 Thuộc An Ngãi, Nhơn Ân, Nghĩa Hòa, Sơn Điền đặt làm 5 Đồn quân Ngự lâm, biên chế mỗi Đồn có 5 Chi gọi là Trung Chi, Tiền – Hậu – Tả – Hữu Chi; mỗi Chi gồm 5 Hiệu gọi là Trung Hiệu, Tiền – Hậu – Tả – Hữu Hiệu; mỗi Hiệu có 2 Đội gọi là Nhất Đội và Nhị Đội.
Lược sơ các viên tướng quản lĩnh Ngũ Đồn Ngự lâm quân :
• Trung Đồn quân Ngự Lâm : Đô Thống chế là Khâm sai Phó tướng Tổng nhung Cai đội Phan Tiến Hoàng, trước là Cai cơ Phó tướng Tiền quân bị giáng làm Cai đội vào tháng giêng năm 1798 lúc còn quản dinh Bình Thuận. Thống chế là Thuộc nội Vệ úy vệ Võ Uy – Trung Đồn quân Thần Sách Hoàng Công Thành. Theo Liệt truyện, Thành người Phù Cát – Bình Định, Đô đốc của Tây Sơn theo vào Gia Định từ năm 1793.
• Tiền Đồn quân Ngự Lâm : Đô Thống chế là Đại Đô đốc Đoàn Văn Cát của Tây Sơn, Cát người Bình Sơn – Quảng Ngãi, năm 1798 trấn thủ Phú Yên, xảy ra binh biến Tiểu triều Nguyễn Bảo, Cát bỏ vào Diên Khánh theo Nguyễn Vương. Thống chế là Đô đốc Lê Văn Niệm của Tây Sơn, người Phù Cát – Bình Định, mới theo về tháng 4 năm 1799.
• Tả Đồn quân Ngự Lâm : Đô Thống chế là Đại Đô đốc Lê Chất của Tây Sơn. Thống chế là Đại Đô đốc Võ Đình Giai. Cả hai đều là người Phù Cát – Bình Định, cùng theo về với quân Gia Định vào tháng 4 năm 1799.
• Hữu Đồn quân Ngự Lâm : Thống chế là Khâm sai Thuộc nội Cai cơ Vệ úy vệ Dương Võ – Tả Đồn quân Thần Sách Từ Văn Chiêu, nguyên trước là Tham tán của Thái Đức Nguyễn Nhạc, năm 1795 theo về Gia Định. Phó Thống chế là Đại đô đốc Nguyễn Văn Điểm của Tây Sơn, mới theo về tháng 4 năm 1799.
• Hậu Đồn quân Ngự Lâm : Thống chế là Khâm sai Thuộc nội Cai cơ Vệ úy vệ Diệu Võ – Tả Đồn quân Thần Sách Nguyễn Văn Phát. Theo Liệt truyện, Phát người Phù Cát, Bình Định, ở với Tây Sơn làm tới chức Chỉ huy, từ năm 1793 đã theo vào với Gia Định. Còn Phó Thống chế là Đô đốc Hồ Văn Viện của Tây Sơn, mới theo về Nguyễn Vương tháng 4 năm 1799.
Binh chế Ngũ Đồn quân Ngự Lâm là Đồn, Chi, Hiệu, Đội, có lẽ dưới Đội còn có Thập và Ngũ. Với hơn 18.900 binh tuyển được ở Tuy Viễn phải phân lực lượng của 2 Thuộc Võng Nhi và Hà Bạc về với Thủy binh, nên chưa xác định rõ mỗi Đồn quân Ngự Lâm gồm bao nhiêu quân lính. Nhưng máy móc một chút, nếu một Đội có 5 Thập thì mỗi Hiệu sẽ có 100 quân, dẫn đến mỗi Đồn khoảng 2.500 quân. Cộng lại 5 Đồn được 12.500, gần đúng với 2 phần 3 số quân đã kén tuyển từ 4 Thuộc trong 6 Thuộc của Tuy Viễn.
Định xong biên chế, 5 Đồn quân Ngự Lâm và quân 2 Vệ cũng vừa chỉnh đốn lại ở đây là Thiên Trường (của quân Thần Sách) và Tín Trực (của dinh Hậu Quân), cùng duyệt quân ở Tam Tháp tức là nơi núi Long Cốt. Xưa kia trên hòn Long Cốt có ba ngọn tháp Chàm cao lớn xây trên ba đỉnh núi, bởi vậy núi có tên nữa là Tam Tháp Sơn. Ít lâu sau Phó thống chế Hậu Đồn quân Ngự lâm là Hồ Văn Viện xin lập 3 đội Chiến võ quân Lạc tòng (có lẽ là quân binh lưu lạc được thu nạp về). Nguyễn Vương y cho. Lại cho năm Đồn và hai Vệ Thiên Trường, Tín Trực, từ Đô thống chế đến Đội trưởng tham luận, đều được mộ lập thuộc quân theo mình sai sử. Nhưng chính điều nầy đã làm lủng củng đội quân ngay bước đầu thành lập. Tháng chạp năm 1799, xảy ra chuyện ở Hậu Đồn có việc sửa chữa sổ sách tuyển quân, che dấu sự nhập nhằng lính Lạc tòng với lính trốn ở trong quân… Việc bị phát giác, Thống chế Hậu Đồn quân Ngự lâm là Nguyễn Văn Phát và Tham tri Binh bộ Hồ Văn Định đều bị miễn chức. Nguyễn Ánh điều Thống chế Trung Đồn là Hoàng Công Thành sang quản lãnh Hậu Đồn.
Mùa gió bấc thổi mạnh, Nguyễn Vương Phúc Ánh rút quân về Gia Định, đặt Ngũ Đồn Ngự Lâm dưới quyền sai bát của Chưởng Hậu quân Võ Tánh, cùng cho trấn giữ thành Bình Định. Nhưng trong sách lược điều binh của mình, Phúc Ánh cho Chưởng Tiền quân Nguyễn Văn Thành kiêm quản Tả Đồn quân Ngự lâm đưa binh về đóng ở Trấn Biên, Chưởng Hữu quân Nguyễn Huỳnh Đức kiêm quản Hữu Đồn quân Ngự lâm đưa binh về trấn giữ Mỹ Tho.
Chẳng bao lâu sau đó đại tướng Tây Sơn là Thiếu phó Trần Quang Diệu và Đại tư đồ Võ Văn Dõng đem binh Phú Xuân vào hòng lấy lại Quy Nhơn. Ở Phú Yên, hàng tướng Phạm Văn Điềm cũng bất thần quay ngược lại đánh úp quân Nam, Lưu thủ Phú Yên là Hồ Đức Vạn không biết sống chết thế nào, một số thuộc tướng kẻ chạy ra với Võ Tánh ngoài Bình Định, người chạy vô Diên Khánh. Tham đốc Phạm Văn Điềm liên kết với binh Phú Xuân chiếm giữ Phú Yên, án ngữ, ngăn viện binh Diên Khánh ra giải cứu Bình Định. Binh biến ở Phú Yên làm đảo ngược tình thế, bất lợi cho quân Nam, khiến Nguyễn Vương phải đưa binh trở lại Quy Nhơn mong giải vây Thành Bình Định.
Kể từ đây, tháng giêng năm 1800 cho đến 1802 kết thúc trận chiến ở Quy Nhơn giữa Nguyễn Vương Phúc Ánh với Nhà Tây Sơn, binh chủng quân Ngự Lâm có 3 phiên hiệu Trung – Tiền – Hậu Đồn dưới quyền của Võ Tánh đang bị hãm trong thành Bình Định, 2 phiên hiệu Tả – Hữu Đồn nằm trong biên chế lực lượng giải vây của Nguyễn Văn Thành và Nguyễn Huỳnh Đức.
Dấu vết của Trung, Tiền, Hậu Đồn quân Ngự lâm ở tại Thành Bình Định, hiện diện trong bộ Đại Nam Thực Lục :
♣ Về Hậu Đồn Ngự Lâm Quân :
• Tháng 4 – 1800 : Bọn hàng tướng ở thành Bình Định là Trưởng chi Trung Chi Hậu Đồn quân Ngự lâm Võ Văn Sự cùng với Trưởng chi Hữu Chi Nguyễn Bá Phong đem đồ đảng làm phản, giết quân ta, mở cửa thành phía bắc để đầu hàng giặc. Võ Tánh sai Vệ úy Vệ Nhuệ Phong là Ngô Văn Sở chiếm giữ cửa, bọn quân phản đã ra trước ngoài thành hơn 400 người, còn dư thì không dám ra. Tánh liền xét bọn đồng mưu đem giết hết, phòng giữ nghiêm mật hơn [tr.438].
Hơn 400 người ra được ngoài thành, còn dư thì không dám ra, một số bị Võ Tánh giết chết. Theo thư tịch từ các nhà truyền giáo, lá thư của Longer gởi cho 2 giáo sĩ Boiret và Descourvières ngày 4.9.1801 cho thấy rõ con số binh lính gây biến còn ở trong thành bị Võ Tánh đem ra hành quyết là chừng bảy, tám trăm người. Con số không phải nhỏ. Số lính Hậu Đồn còn lại có gì đi nữa cũng sẽ bị khống chế, giám sát chặt chẽ… Qua binh biến nầy, cứ tạm xem như là Hậu Đồn quân Ngự lâm chỉ sau vài tháng thành lập đã mất hiệu lực chiến đấu. Thống chế trước đây của Hậu Đồn quân Ngự lâm là Nguyễn Văn Phát chết trong quân không rõ vào lúc nào, ở đâu, nhưng chắc chắn là không chết ở trong Thành, vì sau đó được tặng Chưởng cơ thờ ở Miếu núi Độc Sơn cửa Thị Nại – nơi thờ Võ Di Nguy, Tống Viết Phước và các tướng chết trận chết bệnh từ Quảng Ngãi đến Thị Nại… Còn Phó Thống chế Hồ Văn Viện kể từ khi về ở trong quân của Võ Tánh tại Thành Bình Định không thấy ghi chép gì nữa, cả trong Thực Lục cũng như Liệt Truyện.
♣ Về Trung Đồn Ngự Lâm Quân :
• Tháng 2 – 1802 : Đô thống chế Trung Đồn quân Ngự lâm là Phan Tiến Hoàng tự trong giặc đem quân lẻn về, sai lệ theo Lê Văn Duyệt để đánh giặc [tr.515].
Khi Võ Tánh cùng Ngô Tùng Châu người uống thuốc độc người tự thiêu tuẩn tiết tháng 5 – 1801, Trần Quang Diệu vào thành Bình Định mà không giết binh tướng của Võ Tánh. Tới bây giờ Phan Tiến Hoàng đem binh trở lại với Nguyễn Ánh mà không rõ là bao nhiêu quân số, nhưng chắc chẳng nhiều gì, lại cho lệ vào lính của Duyệt. Xem như Trung Đồn quân Ngự Lâm không còn tên tuổi. Sau thấy Tiến Hoàng có mặt đánh các trận ở Đạm Thủy (Cát Minh – Phù Cát, Bình Định bây giờ) và Tân Quan (Tam Quan – Hoài Nhơn, Bình Định bây giờ). Dưới triều Gia Long, ra Bắc hà Tiến Hoàng thụ chức Trấn thủ Kinh Bắc, rồi Lưu thủ Quảng Ngãi, đi đánh giặc Đá Vách thất bại bị Lê Văn Duyệt hài tội trói giải về kinh. Còn Thống chế Trung Đồn Ngự lâm quân Hoàng Công Thành trước đã điều sang quản lãnh Hậu Đồn, chết trong quân thứ, sau được tặng Chưởng cơ, thờ ở Đền Song Trung – Chiêu Trung Từ, nơi thờ Võ Tánh, Ngô Tùng Châu cùng các tướng chết trận chết bệnh ở trong thành Bình Định.
♣ Về Tiền Đồn Ngự Lâm Quân :
• Tháng 2 – 1802 : Thống chế Tiền Đồn quân Ngự lâm là Lê Văn Niệm, Khâm sai Cai đội là Võ Viết Bảo từ Bình Định về [tr.516].
Nguyên trong đợt về lại quân thứ nầy còn có Phó Đô Thống chế Trung dinh quân Thần Sách là Phan Văn Kỳ. Phan Văn Kỳ và Vệ úy Nguyễn Văn Trí là tù binh bị quân Tây Sơn bắt được vào tháng giêng năm 1801 trong trận Càn Dương (Cát Tiến – Phù Cát, Bình Định bây giờ). Còn Niệm và Bảo cùng quân Tiền đồn Ngự lâm bấy lâu bị hãm trong Thành Bình Định với Võ Tánh, là tù binh của Trần Quang Diệu hồi tháng 5 năm 1801. Sau nầy ra Bắc, Lê Văn Niệm thụ chức Trấn thủ Thái Nguyên. Còn Đô Thống chế Tiền Đồn quân Ngự lâm Đoàn Văn Cát trước đã chết trong quân tại Thành Bình Định, sau thờ ở Đền Song Trung, được tặng Chưởng cơ.
Dấu vết của Tả, Hữu Đồn quân Ngự lâm ở bên ngoài Thành Bình Định, hiện diện trong bộ Đại Nam Thực Lục :
♣ Về Hữu Đồn Ngự Lâm Quân :
• Tháng 5 – 1800 : Sai Thống chế Hữu Đồn quân Ngự lâm là Từ Văn Chiêu và Phó thống chế Nguyễn Văn Điểm đem quân bản đồn vượt núi Cù Mông đánh giặc, Binh bộ Nguyễn Đức Thiện tham biện việc quân [tr.441].
• Tháng 6 – 1800 : Triệu Nguyễn Huỳnh Đức đến hành tại. Sai Đô thống chế Tả dinh quân Thần sách là Lê Văn Duyệt đem quân theo đường Cù Mông, kiêm quản Phó tướng Hữu quân là Mạc Văn Tô và Nguyễn Đức Thành cùng tướng sĩ Hữu Đồn quân Ngự lâm, thẳng tiến đến Phú Trung đánh giặc…
Binh đi tuần của Hữu Đồn quân Ngự lâm bắt được một người Quán quân và hai người lính đem nộp. Thưởng tiền 100 quan… [tr.443].
• Tháng 7 – 1800 : Hàng tướng là Thống chế Hữu Đồn quân Ngự lâm Từ Văn Chiêu làm phản. Chiêu trước là tướng của giặc… sau lẻn vào Gia Định theo ta, đã được nhiều lần cất nhắc. Đến đây thầm ôm chí khác, bèn cùng Phó thống chế Nguyễn Văn Điểm đem 500 quân đồn theo giặc. Vua sai mật dụ bọn Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Huỳnh Đức, Nguyễn Văn Trương rằng: “Bọn tiểu nhân giở giói, dù có hay không cũng chẳng đủ gì. Duy nghĩ binh cơ của ta bị chúng tiết lộ, nếu ta không đề phòng trước tất khó chống chế. Bọn khanh nên cẩn thận”. Sau khi Chiêu đi, liều đánh cho giặc, nhiều lần cản quân ta, mọi người đều nghiến răng căm tức [tr.444].
Kể từ thời điểm nầy Hữu Đồn quân Ngự lâm được xem như là đã xóa sổ, Từ Văn Chiêu đem binh Hữu Đồn về lại với Tây Sơn, là lực lượng gây không ít tổn thất cho quân của Nguyễn Vương sau đó. Trong các trận chiến nẩy lửa với quân Nam hầu như đều có mặt Từ Văn Chiêu. Trận Thị Giã (Chợ Giã – là Tp. Quy Nhơn bây giờ) tháng 11 năm 1800, quân binh của Chiêu đã ngăn chặn bước tiến quân của Chưởng Tiền quân Nguyễn Văn Thành và Tả dinh quân Thần Sách Đô thống chế Lê Văn Duyệt (Duyệt đến năm 1802 mới được phong Chưởng Tả quân). Trận Càn Dương tháng giêng 1801, Chiêu bắt lấy Thống chế Phan Văn Kỳ, Vệ úy Nguyễn Văn Trí, giết 2 Vệ úy Hoàng Phước Bảo và Hoàng Văn Tứ. Trận Tân Quan tháng 6 năm 1801, Chiêu phục binh ở Hang Dơi bắt giết Trung dinh quân Thần Sách Đô Thống chế Tống Viết Phước… Sau Từ Văn Chiêu bị bắt cùng các tướng tháp tùng Trần Quang Diệu lúc chạy ra Thanh Chương – Nghệ An. Lên ngôi, Gia Long cho giết ngay Từ Văn Chiêu khi Chiêu còn xiềng ở trong ngục. Phó Thống chế Hữu Đồn quân Ngự lâm Nguyễn Văn Điểm có lẽ sau bị xử, chết cùng với các đại tướng Tây Sơn tháng 11 năm 1802 trong lễ tuyên cáo võ công, yết tế Thái miếu “dâng lễ hiến phù” ở Phú Xuân.
♣ Về Tả Đồn Ngự Lâm Quân :
• Tháng 4 – 1800 : Thuyền vua tiến đến Tích Áo (Vũng Tích – Phú Yên), sai Chưởng Tiền quân Nguyễn Văn Thành điều bát quân bản dinh và tướng sĩ vệ Ngũ Thần Tả quân và Tả Đồn quân Ngự lâm đến cửa biển Xuân Đài tiến theo đường bộ đánh giặc, bộ binh của bọn Nguyễn Đức Xuyên đều theo Thành tiết chế, Hộ bộ Trần Đức Khoan thì theo làm việc quân lương [tr.440].
• Tháng 5 – 1800 : Vua nghe rằng binh Tả Đồn quân Ngự lâm nhiều người trốn, Lê Chất lấy làm lo. Vua xuống chỉ dụ rằng: “Vua tôi gặp nhau, xưa vẫn khó. Khanh dẫu ở bên giặc về hàng, ta vẫn lấy lòng thành đối đãi, mà khanh cũng đem lòng thành thờ ta, bầy tôi cũ của nước chắc cũng không hơn thế. Nay khanh vâng mệnh đánh giặc, hăng hái quên mình, ta đã nghe biết, không xiết khen ngợi. Trong bộ khúc hoặc có kẻ quá nhớ làng mà trốn, ta cũng không để ý, đừng lo” [tr.441].
Thành (Tiền quân Nguyễn Văn Thành) đóng ở Thị Giã, bày trận đối lũy với địch, cho các quân do sáu đường cùng tiến. Giặc ở trong bảo bắn ra, tiếng súng không ngớt, quân ta hết sức đánh, từ giờ dần đến giờ tý không phá được. Vệ úy vệ Thần Võ là Nguyễn Văn Sử chết trận. Sĩ tốt bị thương và chết cũng nhiều. Phó Trưởng chi Hữu Chi Tả Đồn quân Ngự lâm là Lương Văn Cương và Trưởng Hiệu Hậu Chi là Nguyễn Văn Vân đem hơn 200 quân chạy sang với giặc. Thành thấy binh cơ của mình đã tiết lộ mà sức quân cũng mỏi, bèn kéo quân về Thị Giã [tr.442].
• Tháng 7 – 1800 : Phó trưởng chi Trung Chi Tả Đồn quân Ngự lâm là Đỗ Văn Pháp cùng với hơn 150 người lính ốm thuộc đồn ở tại bảo Hội An (ở Phú Yên), nhân ban đêm trốn đi. Vua nghe tin, hạ lệnh hết thảy những lính ốm thuộc Tả Đồn, Hữu Đồn đều thả cho về thăm nhà… [tr.445].
• Tháng 3 – 1801 : Tham đốc giặc là Phạm Văn Điềm giữ bảo Hội An. Sai Lê Chất đem quân Tả Đồn và kiêm lĩnh các đội Vệ Túc Trực đến đánh. Lại giục Hoàng Văn Khánh tiến lên hội tiễu. Chất đến, đánh nhau với giặc ở Mễ Tân [Bến Gạo], bắt được Đô ty giặc là Nguyễn Nhiễu. Điềm thua chạy. Chất bèn đóng quân ở Hội An, chia sai đuổi bắt… [tr.467].
Đô Thống chế Tả Đồn quân Ngự lâm là Lê Chất, viên tướng vào triều Gia Long sau nầy năm 1819 làm tới Tổng trấn Bắc Thành, nên nói chung Tả Đồn Ngự Lâm Quân dù có thế nầy thế kia đi nữa cũng tồn tại đến năm 1802. Tháng 5 – 1802, vừa lên ngôi Gia Long cho đổi Tả Đồn quân Ngự lâm làm dinh Hậu quân, cho Lê Chất làm Khâm sai Chưởng Hậu quân Bình Tây tướng quân. Còn Thống chế Võ Đình Giai trước đã chết trong quân khi còn đóng binh ở Hoa An. Sau được tặng Chưởng Cơ, thờ ở Miếu Hòn Nần vũng Cù Mông – nơi thờ Đô thống chế Hậu dinh quân Thần Sách Mai Đức Nghị và các tướng chết trận chết bệnh từ Thị Giã đến Phú Yên… Trong quân thứ tướng lĩnh Tả Đồn còn có người họ thuộc với Giai là Đô đốc Võ Đình Duyên trước cũng theo Giai về cùng lúc, là Trưởng chi Tiền chi Tả Đồn quân Ngự lâm. Mùa xuân 1801 Duyên được thăng Ngự lâm quân Tả đồn Phó Thống chế, sau là Phó tướng Hậu quân.
Ngũ Đồn Quân Ngự Lâm tồn tại trong quân thứ Nguyễn Ánh chưa tròn đủ 3 năm. 3 Đồn quân Trung, Tiền, Hậu đặt dưới quyền thống lĩnh của Chưởng Hậu quân Võ Tánh phòng ngự Thành Bình Định, nơi đây đã xảy ra biến cố 2 Chi của Hậu Đồn là Trung Chi và Hữu Chi giết quân, mở cửa thành tìm về với Tây Sơn. Biết đâu biến cố nầy có bàn tay sắp đặt của Phó Thống chế Hậu Đồn Hồ Văn Viện, vì trong hầu hết sách sử nhà Nguyễn sau nầy không hề thấy nhắc đến tên ông kể từ khi quân Hậu Đồn về đây. Trong khi đó các chỉ huy cấp thấp như Trưởng hiệu, Cai đội Đội trưởng của các phiên hiệu trong Ngũ Đồn quân Ngự lâm thấy chép có người được thuyên chuyển qua Quân Thần Sách, có người được ghi tên nơi các Miều thờ… Còn với Hữu Đồn, xem ra Nguyễn Vương Phúc Ánh cho giết Đô Thống chế Từ Văn Chiêu ngay khi ông còn bệnh ở trong ngục, đủ biết Vương căm hận binh tướng Hữu đồn Ngự lâm quân biết chừng nào. Còn đối với Tả Đồn, bên ngoài thì an ủy phủ dụ nhưng bên trong Nguyễn Ánh không phải là không ghét cay ghét đắng Lê Chất, viên tướng quản lĩnh Đồn quân Ngự Lâm nầy. Rất nhũn nhặn nhưng đã có lần Nguyễn Ánh phải cắn răng đồng tình với thuộc tướng quy trách nhiệm Lê Chất đã không truy đuổi bắt Vua Quang Toản :
Tháng 5 năm 1801, khi Nguyễn Ánh bỏ chiến trường Quy Nhơn tiến ra đánh lấy Phú Xuân, Quang Toản chạy ra Bắc, Lê Chất được sai phái đuổi theo. Nhưng Lê Chất cứ “khua trống mà đi thong thả. Khi quân đến châu Nam Bố Chính thì Quang Toản đã qua sông đi rồi. Đến đây bị gọi về, đem dâng hai quả ấn ngụy. Vua cùng các quan bàn việc đánh Tây Sơn, nói rằng : Quang Toản được thoát là tự người chứ không phải tự trời” [tr.472].
Với Ngũ đồn Ngự lâm quân, nói cho cùng chỉ có Tả Đồn của Lê Chất là đem lại nhiều chiến công cho quân Nam, nhưng thật ra các tướng lĩnh của quân Nam cũng chẳng tin cậy gì ở đội quân nầy. Tháng 6 – 1800 Tiền quân Nguyễn Văn Thành đã dâng sớ lên Nguyễn Vương :
“Số quân của giặc hiện nay thêm nhiều, chúng dựa núi đắp lũy, hiện đã vượt qua sau lưng quân ta, mà quân ta thì bị ốm, con số có phần sút kém. Hơn nữa, quân Tả đồn thì mỗi ngày thường ra đầu hàng giặc, trong quân hư thực thế nào giặc đều biết cả. Số còn lại cũng không đủ tin, nên không dám sai khiến. Thần đương tính thế giặc, lánh chỗ khỏe, đánh chỗ yếu, đem các quân đánh đằng trước, quân voi ngăn đằng sau. Nếu nay lại chia tượng quân làm hai, sợ quân chia thì sức yếu, chưa phải là kế vạn toàn” [tr.443].
Thống quản Tượng binh là Nguyễn Đức Xuyên cũng theo đó dâng sớ nên rút quân Tả Đồn về hành tại để khỏi lo về sau. Còn theo Liệt truyện thì ngày trước, khi Lê Chất về hàng đầu, Nguyễn Ánh cho Chất ở trong quân của Võ Tánh, nhưng Tánh cũng tìm cách đẩy Chất vô Gia Định.
Vậy điều gì đã khiến Nguyễn Vương Phúc Ánh cho thành lập đội quân với binh tướng đều toàn là quân của Quy Nhơn. Tại sao Vương cho lấy phiên hiệu là Quân Ngự Lâm. Tại sao Vương phải bao phen lao tam khổ tứ an ủy, phủ dụ binh tướng đội quân sớm đầu tối đánh nầy. Tại sao Vương phải đưa mẹ và vợ con của Chất vào tận Gia Định cấp tiền lương nuôi nấng.
Trước tiên phải nói là Gia Định đất rộng nhưng người chưa đông. Lính Gia Định cũng đâu phải toàn tâm theo đuổi cuộc chiến, họ lẩn trốn, bỏ hàng ngũ khiến quan địa phương phải bắt nhốt gia thuộc họ để làm áp lực. Năm 1798 Đông cung Cảnh từng xin với Phúc Ánh : “Trai gái có phân biệt, đó là chế độ xưa, người đàn bà bị giam kín một đêm, trọn đời khó lòng biện bạch. Nay vợ con lính trốn bắt giam lẫn lộn, sợ không được phân biệt, xin hạ lệnh cho hữu ty làm chốn giam riêng” [tr.393].
Với nhu cầu cho cuộc chiến, Nguyễn Ánh phải thu nạp nhiều quân binh người nước ngoài, không riêng chỉ lính đánh thuê Tây dương người Pháp, người Y Pha Nho (Tây Ban Nha)… Khi Võ Tánh trấn giữ Thành Bình Định, quân binh dưới quyền ông ngoài lính bản dinh cùng với Ngũ Đồn quân Ngự lâm, các tướng sĩ Vệ Võ Lương Trung chi Hữu quân, Đội Thuộc Viên Trung chi Tiền quân, Tả chi Túc Uy dinh Tiên phong, hai Vệ Thiên Trường và Tín Trực… còn thấy cả một vạn quân Xiêm (Thái Lan hay Cao Miên !?) có mặt ở đó [tr.423]. Lúc đem binh giải vây Quy Nhơn, khi các tướng Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Đức Xuyên xin đưa Tả Đồn Ngự lâm quân về phía sau để tránh hậu họa, qua lời Dụ của Nguyễn Vương cho các tướng cũng thấy ở đây có mặt 5.000 lính Chân Lạp (Cao Miên) của tướng Cao La Hâm Sâm :
“Việc dụng binh cần phải biết địa hình. Thị Giã là nơi núi rừng hiểm hóc, không phải là nơi dùng voi; mà đường Cù Mông thì từ Dự Nguyên đến Vân Sơn Phú Trung, địa thế bằng phẳng, rất lợi việc đánh bằng voi. Huống chi bọn giặc chỉ phô trương hão ở đấy, không phòng bị gì, chính nên nhân mà đánh chiếm lấy. Phải kén ngay voi đực những con đã từng ra trận, cùng 100 tượng binh mà sai đi. Còn quân Tả Đồn thì hãy đợi khi quân Chân Lạp đến, sẽ có cách xử trí riêng, động gấp không phải là hay” [tr.443 – 444].
Lục đục giữa quân Phú Xuân và quân Quy Nhơn đã tạo cơ may cho Phúc Ánh thu nạp được binh lính Quy Nhơn về với mình. Với phiên chế của nhà Tây Sơn lấy Ấp làm Đội, biến toàn dân đều làm lính đã cung cấp cho Nguyễn Vương nguồn nhân lực tinh nhuệ, dồi dào để bổ sung, tổ chức quân đội. Thuở thành lập, chỉ trong thời gian ngắn ở Tuy Viễn mà Nguyễn Vương đã kén được gần 19.000 quân, đội ngũ sắp sẵn, chỉ cần biên chế lại là đã có liền phiên hiệu Ngũ Đồn Ngự Lâm Quân. Lính Quy Nhơn ở đây có phải trước là lính Ngự lâm cũ của Thái Đức Nguyễn Nhạc hay không… Hay là Phúc Ánh lấy tên gọi Ngự lâm để vỗ về, xem như lính Quy Nhơn mới kén tuyển là lính hậu cận của mình, hay là Phúc Ánh gieo rắc cho họ tự ám thị, xem đây là lực lượng của Thái Đức, xung trận đánh binh Phú Xuân trả thù cho vua Thái Đức…
Phải nói Nguyễn Vương Phúc Ánh chẳng phải là kẻ lơ mơ nghệ thuật chiến tranh, mù mờ việc thu phục kẻ về dưới trướng. Chẳng vậy đã không có Lê Chất theo về cúc cung tận tụy. Chỉ cần lấy hiểu biết của Lê Chất về quân tình thủy binh Tây Sơn cũng đủ giúp Nguyễn Vương thu được thắng lợi ở trận đại hải chiến cửa Thị Nại, đối đầu với Đại tư đồ Võ Văn Dõng tháng giêng năm Tân Dậu 1801. Còn để đối phó với hạng binh sĩ lúc nào cũng lăm le trốn về chủ cũ Tây Sơn, Phúc Ánh chẳng phải tay vừa. Thấy quân của Ngũ đồn Ngự lâm hầu như mỗi ngày đều có kẻ chạy về với giặc, có lúc trốn đi cả trăm người cùng với cấp chỉ huy, tháng 7 – 1800, Phúc Ánh liền cho những lính ốm của Tả Đồn, Hữu Đồn Ngự lâm quân về “thăm nhà” (lính ốm bệnh thì đánh đấm được ai, cho quách về nhà khỏi tốn quân lương, lính đã trốn đi thì đâu phải chỉ để về thăm nhà). Kèm bên cạnh đó Nguyễn Vương ban lời Dụ, đọc lại lời Dụ mới thấy tầm răn đe của Nguyễn Vương (hay chính là của bộ tham mưu quân Nam…) :
“Thương nhớ quê hương, ai không như thế. Bọn các ngươi từ năm ngoái về thành Gia Định, năm nay lại theo đại binh đi đánh giặc, trải từ Hội An đến Thị Giã, từ Lữ Quán đến Hoa Lộc, gian khổ chẳng từ, hoặc vì tên đạn mà bị thương, hoặc nhiễm gió sương mà mắc bệnh, thiếu người nuôi nấng, lòng về lại càng thiết tha, cho nên triều đình nghĩ thương, đặc biệt thả cho về. Nên về nói chuyện với những người đã trốn trước, cũng vì nóng về, trên đã soi xét, nên bảo ban nhau, chớ nên ngờ sợ, sớm muộn ta cũng lấy lại được Quy Nhơn, không bắt tội đâu” [tr.445].
Vì sao phần nhiều binh tướng của Ngũ Đồn Ngự Lâm Quân đã không toàn tâm toàn ý ở lại trong quân thứ của Nguyễn Ánh… Ngay như Đô đốc Nguyễn Đức Thu là em của Thống quản Tượng binh quân Phúc Ánh – chiến tướng Nguyễn Đức Xuyên, Thu theo Từ Văn Chiêu phản nghịch Nguyễn Vương, sau thất trận mới về hàng trở lại với quân Gia Định. Nếu nói riêng Từ Văn Chiêu có hằn thù cá nhân với tướng của quân Nam là Tống Viết Phước, thì binh tướng Hậu Đồn quân Ngự lâm gây ra binh biến ở Thành Bình Định lẽ nào cũng có hằn thù với Võ Tánh (!). Nếu nói Lê Chất phải ở lại trong quân của Phúc Ánh vì Chất có cơ tâm làm quan làm tướng, theo Nguyễn Vương để trả thù binh Phú Xuân đã giết Đại Tư lệ Lê Trung, hay là vì mẹ già vợ yếu con thơ của Chất đang ở trong tay của Nguyễn Vương tận trong Gia Định (!).
Các tướng lĩnh của Ngũ Đồn Quân Ngự Lâm trước kia thấy Nhà Tây Sơn anh em, chú bác tranh giành quyền lực với nhau gây ra giết chóc, họ đã không mong mỏi gì ở chính nghĩa của triều đại mới nữa mà bỏ theo vào với Phúc Ánh. Nhưng trong cuộc chiến ở Quy Nhơn nầy họ thấy Phúc Ánh cũng chỉ là người muốn lấy lại quyền lực của cha ông ngày trước mà thôi. Hồi mới đánh chiếm được Quy Nhơn năm 1799, vào tháng 7 sau khi đã tổ chức thu thuế điền ở đây, Nguyễn Vương còn có ý thu luôn thuế thân, là suất thuế mà trước rồi Tây Sơn đã tha cho dân binh Quy Nhơn. Tham mưu Trung dinh Đặng Đức Siêu dâng mật sớ ngăn cản, không nên thu để gây ơn. Phúc Ánh nghe theo, nhưng chỉ 3 tháng sau là lệnh thu thuế thân cả 2 phủ Quy Nhơn, Phú Yên. Đặng Đức Siêu cũng là tác giả của bài Văn tế Võ Tánh và Ngô Tùng Châu nổi tiếng, Siêu là người Quy Nhơn thì lẽ nào binh tướng người Quy Nhơn không biết chuyện. Vắt kiệt sức dân, nói một đằng làm một nẻo, cai trị bằng sự trí trá… dễ dẫn đến sự thất vọng trong lòng những kẻ từng khuấy nước chọc trời mới theo về. Bên cạnh đó binh tướng Nam hà thường ra mặt khinh khi kẻ về hàng, quân Ngự lâm sớm đầu tối đánh cũng là chuyện hiển nhiên.
Trong cuộc chiến với nhà Tây Sơn, Nguyễn Vương Phúc Ánh gặp nhiều cơ may đến với mình. Nhưng cũng phải thừa nhận là Phúc Ánh cùng Nam binh đã có những kỷ năng vốn có để tạo được quyền lực cho mình. Nguyễn Vương thành lập Ngũ Đồn Quân Ngự Lâm toàn người Quy Nhơn là mong được sử dụng lòng quả cảm, chí phục hận của họ. Tướng lĩnh của Quân Ngự Lâm hầu hết cũng là những người bỏ Nhà Tây Sơn theo về Gia Định, có người đã từng được trui rèn trong Quân Thần Sách, đội binh tinh nhuệ của Nguyễn Vương. Có lẽ Nguyễn Vương Phúc Ánh mong muốn trong quân thứ của mình, 5 đồn Quân Ngự Lâm sẽ trở thành quân hiệu ưu tú như 5 đồn Quân Thần Sách đã có. Sự thực đã không như mong muốn. Tháng 5 – 1802, khi Nguyễn Vương cho đổi Tả Đồn của Lê Chất thành dinh Hậu quân, thay thế cho dinh Hậu quân của Võ Tánh đã tan nát, xem như năm tháng nầy là thời điểm kết thúc quân hiệu Ngũ Đồn Quân Ngự Lâm.
Sự thực lịch sử cũng đã ghi nhận là Nguyễn Vương Phúc Ánh xuất phát từ Gia Định đi ra tới Thăng Long, lên ngôi cửu ngũ lấy niên hiệu là Gia Long. Chuyện được hay mất của Ngũ Đồn Quân Ngự Lâm chỉ còn là chuyện thắng thua của những người vì bên nầy, bên kia, chuyện ai vì chủ ấy, nó chỉ được mổ xẻ trên bàn của những ai quan tâm đến kỷ thuật, nghệ thuật tranh giành quyền lực, định bá đồ vương. Cuộc chiến 1771 – 1802 đã gây không biết bao ly tán trong lòng người, can qua đã đem bi thương, rẽ phân đến với những người cùng chung một quân thứ, đôi khi với người cùng trong một mái nhà.

—————————————–
• Các Chú thích – lấy năm tháng theo âm lịch, trích dẫn từ Đại Nam Thực Lục Tập I, nxb Giáo Dục 2001, Tái bản lần thứ nhất

THAM KHẢO
• Đại Nam Thực Lục – QSQ triều Nguyễn, nxb Giáo Dục 2001, Tái bản lần thứ nhất
• Đại Nam Liệt Truyện – QSQ triều Nguyễn, nxb Thuận Hóa 2006, Tái bản lần thứ hai
• Hoàng Việt Hưng Long Chí – Ngô Giáp Đậu, nxb Văn Học 1993
• Địa Chí Bình Định, Địa Bạ Và Phép Quân Điền – Nguyễn Đình Đầu, Quy Nhơn 2002
• Việt Sử Xứ Đàng Trong – Phan Khoang, nxb Khai Trí, Sài Gòn 1969
• Tập San Sử Địa số 21 – nxb Khai Trí, Sài Gòn 1971
• Lịch Sử Nội Chiến 1771 – 1802 Ở Việt Nam – Tạ Chí Đại Trường, Sài Gòn 1969 – bản điện tử pdf

NGUYỄN TRƯỜNG NGHỊ

HẠT BỤI NGHÌN TRÙNG

nguyenanbinh

Chim đêm ngậm nhánh phù vân
Nương trên tay phật đợi tràng hạt rơi
Tôi chờ đón giọt nắng phai
Em qua ngõ trúc ngậm ngùi thềm rêu.
Trắng quỳnh hoa giữa tịch liêu
Hương thơm ngày cũ ít nhiều trong tôi
Đài sen vương ánh tơ trời
Sân thiền vọng mãi những lời vô ưu.
Tôi về từ cỏi thiên thu
Buồn treo tháp cổ sa mù trổ hoa
Bụi vàng ngỡ ánh châu sa
Em theo cánh én la đà khói sương.
Áo hồng rớt cuối nguồn sông
Hài thêu chưa kịp theo dòng nước xuôi.
Ngày xuân ai thả đèn trời
Trong trăng tiếng hạc ngọt lời ca dao.
Lời kinh khua động chiêm bao
Cánh chim lạc giữa ngàn sao mịt mùng
Thì thôi trong cỏi vô cùng
Tôi làm hạt bụi nghìn trùng bên em.

NGUYỄN AN BÌNH
Tháng 6/2015

RAY RỨT VỚI MÙA THU

tranvannghia

Loáng thoáng bên thềm sân năm cũ
Có chút thu xưa bỗng chợt về
Có tiếng chân nào như là gió
Khẻ khàng chao rụng lá chiều quê

Đem theo bóng nhớ vùi trên tóc
Run nhẹ bàn tay tuổi dậy thì
Rụt rè để vuột bao lời hứa
Xui đời đưa mộng lạc lối đi

Hương của mùa qua còn đọng lại
Bên đời lấp loáng nắng tinh khôi
Ngập ngừng gói gió vào trong áo
Để bóng ngày phai mộng phố người

Giữ chặt chút tình xa buổi ấy
Em mang hoài niệm gửi quê chồng
Hờ hững bờ xưa mờ khói sóng
Gió thổi mang về lạnh bến sông

Ngồi nhớ mùa thu đi rồi đến
Vàng thu vàng áo lối hoa vàng
Đời đã theo mây về đất khách
Lòng còn ở lại đón mưa sang

TRẦN VĂN NGHĨA

THỦY TINH TAN VỠ (tt)

tonnuthudung

CHƯƠNG 7 :

– Đừng sợ nghe Diệp. Coi như một cuộc picnic vậy thôi .
Tôi thu người trong một góc tối nhất của hốc đá , tôi đang rất sợ hãi cái bóng tối hun hút âm u này , Lưu đang tựa người vào chiếc ba lô , không biết nó thức hay ngủ vì tiếng thở của nó rất rõ bên cạnh tôi… Nhiều người lạ cũng đang âm thầm chờ đợi . Cao nói nhỏ :
-Phi chuẩn bị theo sát anh , từng người một thôi nhé.
Tôi cột lại đôi bata , níu tay Cao đứng lên :
– Còn Duy đâu rồi anh ???
-Ở ngoài đảo . Diệp gọi Lưu dậy đi.
Tôi lay vai Lưu, tiếng sóng vỗ đều êm ả dưới kia. Từ hốc đá này , cát làm một vệt bóng nhờ nhờ trắng. Tôi thầm thì :
-Gần đến giờ chưa anh ?
Cao đưa chiếc đồng hồ lên , kim dạ quang lấp lánh:
-Độ 15 phút nữa.
Từ buổi chiều di chuyển người ra đây chờ đêm tới. Tôi chẳng nói với Lưu về chuyện nhà dù lòng tôi vẫn nhắc nhở không nguôi … Mẹ , Tùng , Ngô. Ngôi nhà xinh xắn nằm giữa vườn cây xanh có nhiều cửa sổ với những tấm rideaux màu tím nhạt… Có sân thượng buổi tối ngồi đếm sao chờ trăng mọc bên kia cư xá… căn phòng nhỏ quen thuộc với chiếc đàn tranh với những tiếng rung trong đêm khuya làm run rẩy trái tim… Còn nữa…”đêm nguyệt vỡ “ rạng ngời trên tường trắng , bóng sáng chập chờn trong đôi mắt mẹ tôi, tiếng hát Tùng ấm nồng từng đêm trong tiếng guitar gỗ bập bùng của từng giấc mơ tôi êm ả … Tôi muốn hỏi Lưu có nhớ điều gì khi đành đoạn chia lìa… nhưng tôi không thể nào nói lên thành lời, tôi chớp mắt khi nó chào mẹ với nụ cười vô cùng con nít , không gợn một chút buồn đau… Một điều gì đó đang dâng lên , uất ức nghẹn ngào … Lẽ ra ,giờ này , tôi đang học bài và nghe nhạc chứ , giờ này ba đang đọc báo hay nghe tin tức trên radio , giờ này mẹ vừa đan laine vừa coi vô tuyến truyền hình trong phòng khách với bọn nhỏ…
Rồi tôi quay lưng, tất cả bỏ lại phía sau… hạnh phúc trôi qua như một chớp mắt… thôi ,hãy bắt chước thiền sư Soyen Saku : hãy giữ vững thái độ không sợ hãi của một anh hùng và trái tim yêu của trẻ thơ…Đừng nuối tiếc quá khứ , hãy nhìn vào tương lai.
-Chúng ta đi thôi.
Dấu hiệu từ ghe nhỏ đã đáp , tôi nắm tay Lưu, váng vất, bàng hoàng như trong cơn mơ….thái độ không sợ hãi của một anh hùng … một anh hùng… câu ấy cứ lập đi lập lại từ vô thức. Nước lạnh buốt dưới chân tôi, tự nhiên có một nỗi sợ hãi nào đó dậy lên kinh khiếp, tôi thấy run rẩy khắp người … tôi bước nhanh , níu tay Cao , hốt hoảng:
-Anh Cao , tự nhiên Diệp sợ quá.
Cao dừng lại , trong bóng đêm tôi không nhìn thấy đôi mắt Cao xót xa ái ngại thế nào … Bây giờ nói câu gì cũng là thừa thãi… Cao kéo tôi bước đi trong làn nước lạnh . tôi muốn tháo đôi bata ra cầm tay mà cũng không cúi xuống nỗi.Tiếng máy ghe nổ nghe rất xa vời , tôi không nghĩ tới quá khứ , tôi cũng chẳng tha thiết gì tới tương lai nữa… trước mắt tôi là bóng tối của không gian vô tận, bóng tối với nỗi sợ hãi khủng khiếp bao trùm , đe dọa, ánh chớp của chiếc đèn pin của Cao với ghe nhỏ đột ngột tắt ngấm …như có ai rút hết máu trong người tôi khi tiếng súng nổ quá gần trên bãi … Cao chợt tỉnh dùng đèn pin ra hiệu cho ghe lớn thoát đi bằng mọi cách . Tên phản bội nào đó lợi dụng bóng đêm đã lên ghe nhỏ , giăng ra một chiếc bẫy người . Lưu vừa ném chiếc ba lô vừa hét :
-đồ phản bội , khốn nạn , đồ phản bội .
Cao vừa nhào tới che cho Lưu thoát khỏi cái báng súng của một tên du kích . Anh ngã xuống , hai ba tên khác nhào lên người anh… Chúng đâu biết anh là võ sư của một võ đường nổi tiếng … chỉ bằng đòn chân…Từng tên một văng xuống nước … Chiếc F5 chòng chành không người điều khiển,tiếng súng bắn gần như giữa trái tim tôi, giọng ai đó thất thanh :
-Đừng chống cự , Cao , đừng chống cự.
Cao nhoài người đứng dậy nhưng không được , anh bị thương đâu đó. Ai đó dìu anh đứng lên. Anh quay tìm tôi, thì thầm :
– Ném cây đi Diệp , ném hết đi , đừng giữ gì trong người …
Tôi níu tay anh , máu ướt nhớt đầy tay tôi , mùi máu mặn như nước biển… Phi đỡ anh lên bờ. Điều an ủi duy nhất là anh đã cố gắng ra tín hiệu cho ghe lớn nhổ neo trốn đi… Phi cột chiếc khăn choàng cổ lên tay anh cầm máu vết thương. Chiếc ba lô Lưu mang trĩu xuống nặng nề… Chúng tôi đi ngược lên con đường đã xuống , cát nặng nề vướng víu bước chân … đêm không trăng mà muôn ngàn vì sao sáng quá… những vì sao nhìn xuống trần gian chớp mắt tội tình…
Lên gần quốc lộ, ba Phi ngừng lại điều đình, không hiểu ông đã nói những gì mà tên du kích cộc cằn ra lệnh:
-Bây giờ mấy người bỏ hết cây ra đây đi rồi giải tán tự do.
Thêm mấy tên du kích nữa xuất hiện bao quanh . Ba Phi năn nỉ :
-Chúng tôi chung hết cho ghe lớn rồi , chỉ có mang theo 15 cây , anh em thông cảm cho lại 1/3 để về làm ăn .
Một tên cười khẩy :
-để ông nội còn vốn vượt biên nữa hả ? thôi dẹp đi .
Một tên khác hỏi :
-Mấy người cùng chung một gia đình sao ?
-Dạ , gia đình tôi và mấy đứa cháu .
Chiếc đèn pin soi qua mặt chúng tôi một lượt , tiếng ai hỏi , thất thanh :
-Chị Diệp , phải chị Diệp không ?
Tôi ngước lên , nheo mắt vì chói , Lưu thầm thì :
-Thằng Minh hồi sửa xe đạp trước nhà mình đó .
Tôi nhớ rồi , thằng bé mặt mũi thật dễ thương nhưng lấm lem dầu mỡ ngồi vá xe với ba nó dưới gốc phượng nhà tôi … Lúc ấy nó độ 13, 14 tuổi … Chính nó dạy tôi vá xe , sơn xe và đổi lại tôi đã cho nó những quyển truyện tranh tôi không thích đọc nữa … Sau 1972 nó về quê ở Ninh Hòa … Có tin đồn ba nó nằm vùng , giả dạng sửa xe để theo dõi ba tôi.
-chị Diệp đi với ai đó ?
Tôi trả lời khó khăn, không biết còn cuộc gặp gỡ nào giữa cố nhân oái oăm như thế này chăng :
-Gia đình bác chị , nhà anh Cao đó.
Minh quá biết Cao , nó vẫn thèm thuồng nhìn Duy,Lưu,Tùng ,Ngô mặc võ phục đi học… Nó trầm ngâm :
-Em không muốn làm khó gia đình chị , nhưng mọi sự đã đến nước này rồi thì rất kẹt . Thôi em lấy 10 cây .
Không ai nói thêm lời nào cả, ba Phi đưa vàng cho nó , nó cũng chẳng thèm đếm lại hay quan tâm vàng thật giả … Nó cho bọn kia giải tán rồi đích thân đưa chúng tôi lên quốc lộ đón xe về.

CHƯƠNG 8:

Số vàng của chúng tôi không bị mất mác , nhưng sau đó mẹ Cao nhắn mỗi người phải trả lại ba Phi 1 cây… Cao bị khủng hoảng nặng nề … suốt ngày nằm dài trong phòng không muốn trò chuyện với ai… Chúng tôi trở về 12 người nhưng 40 người đã thoát… trong đó có Duy… mấy tuần sau Minh ghé nhà cho biết : chủ ghe nhỏ đã nhiều lần tổ chức nên bị theo dõi rát đành “bán “ chúng tôi để lấy lại niềm tin… Cao kiệt quệ hẵn đi sau bao ngày hao tâm tổn trí mà kết quả là một con số không to tướng. Vết thương ở vai Cao đã lành sau 3 tuần lễ và thời gian đó đủ để Duy đánh bức điện tín về từ Palawan: Duy thi đậu.
Cái dấu hiệu “ thoát đi bằng mọi cách “ được gửi đi đêm nào từ chiếc đèn pin trên tay Cao đã dẫn đến kết cuộc ấy. Nhận được tin Duy , tôi vội đạp xe cầm điện tín đến nhà Cao. Cao đang ráp thử chiếc máy tín hiệu truyền tin cũ
-điện tín của Duy đây anh.
Cao đọc , nheo mắt nhìn tôi :
– Tiếc không Diệp ?
– Không có thì giờ để tiếc. Mẹ Diệp nói chiều anh tới nhà ăn cơm
– chi vậy ?
– Mẹ Diệp mừng , cúng đất đai gì đó.
Cao cười, sau cơn bệnh , anh có vẻ khác lạ sao đó tôi không hiểu được. Anh kéo ghế cho tôi ngồi bên cạnh ‘ xưởng cơ khí “ của anh… Chiếc radio chạy bằng máy biến thế , chiếc quạt máy chạy bằng pin… vô số những máy móc ngộ nghĩnh… Ngày xưa , khi anh học lớp 7 và tôi mới chập chững vào lớp 1, anh đã cho tôi một chiếc quạt máy chạy bằng moteur sơn màu xanh két, mỗi khi khởi động máy chạy rầm rầm nghe điếc cả tai nhưng tôi rất thích . Một hôm đang chạy ngon lành bỗng rã rời bay tan hoang mỗi nơi một mảnh…
– Nghĩ gì vậy cô ?
– Diệp nhớ tới cái quạt máy anh cho Diệp ngày xưa . Mười mấy năm rồi mà Diệp cũng nhớ cái hình ảnh nó tả tơi từng mảnh , Diệp vừa lượm vừa khóc khi thấy món quà tan nát … Sau đó anh hứa anh sẽ làm cái khác , nhưng rồi cả anh lẫn Diệp đều quên bẵng đi .
Cao bật cười :
-Hồi nhỏ anh ngớ ngẩn tệ
-Bây giờ anh còn ngớ ngẩn hơn
Cao ngạc nhiên :
-Sao thế cô ?
Cao nói giọng Bắc thật dễ thương bởi mẹ anh người Bắc nhưng ít khi nào anh nói giọng Bắc … Anh luôn nói tiếng Huế với tôi vì ba anh người Huế.
-Anh không thấy sao , đáng lẽ chỗ của Duy là của anh.
– Nói gì lạ vậy nhỏ ?
-Chứ gì nữa , hôm nọ ba Hoàng nói anh sẽ cùng ông lo chuyện ghe lớn chứ anh đâu có bổn phận hướng dẫn người từ ghe nhỏ.
Cao nhìn tôi :
– Diệp này , Duy đi được em không mừng hơn anh đi được sao ???
Tôi nhìn thẳng vào mắt Cao , tôi không muốn nói dối và không thể nói dối :
– Nói cho đúng thì Diệp mừng như nhau nhưng đó là một sự bất công … Duy chẳng bỏ ra tí công sức nào trong khi anh đã đầu tư bao nhiêu tim , óc … không kể tiền bạc nữa…
Cao nói nhỏ :
-Có một lần Diệp nói Diệp bực mình khi thấy gia đình mình quá đạo đức , quá trong sáng để luôn bị thiệt thòi , nhưng ở Diệp , đức tính đó cũng bị nhiễm nặng ghê đấy chứ .
-Đừng nói lăng nhăng nữa đi , chắc mẹ anh cũng tố khổ anh nhiều rồi… ai cũng biết anh nhường chỗ cho Duy .
– Thì có sao ! Mạng anh sao thiên di chưa chiếu tới . Mỗi người một số chứ em .
– Thôi bây giờ Diệp về , chiều nhớ tới !
Tôi đạp xe về, tôi đã vừa nói cho Cao nghe một trong những xôn xao dư luận . Cao đổi chỗ cho Duy vì biết tôi là một con nhóc chết nhát sẽ không dám đi đâu nếu không có người thân bên cạnh , hơn nữa , sẽ không ai dám hoạch họe khi Lưu đi không vé … tôi đã quen ra đường phải níu tay một người nào đó mà tôi tin tưởng nếu không tôi sẽ chẳng muốn ra đường.
Tôi đi theo Cao như đi theo định mệnh của mình, chưa bao giờ Cao làm mất niềm tin của tôi… Với Cao , tôi như một đứa bé yếu đuối cần được chở che , bảo bọc … tôi quen được đối xử kiểu ấy từ Cao , nhưng cũng cách đối xử ấy ở người lạ , tôi coi như một xúc phạm nặng nề … Ngoài cái nhạy cảm vốn có trong bản ngã , tôi còn được bao phủ bởi cái cao ngạo cần thiết như con nhím vậy để đối phó với cuộc đời.

CƯỠI NGỌN SẤM 20

cuoingonsam

eric-joseph-hieu

Chương 15
Trở về Hoa Kỳ

Hội nhập trở lại cuộc sống khi về Mỹ có những sự khó khăn nhất định của nó. Đối với nhiều cựu chiến binh Việt Nam hồi hương thì khía cạnh đau khổ và gây hãi sợ nhất sau thời kỳ phục vụ trong quân ngũ không phải là các kinh nghiệm ghê gớm mà họ đã trải qua vẫn thỉnh thoảng ám ảnh họ trong giấc ngủ. Không phải là vì tất cả mọi người đã từng phục vụ và sống sót đều có bạn bè bị mất mạng trong những điều kiện khắc nghiệt và khủng khiếp nhất. Cũng không phải ai cũng bị thương tích và bị biến đổi mãi mãi về thể xác cũng như tinh thần chỉ vì đã đáp lại lời gọi của sông núi. Điều làm George ưu tư hơn tất cả mọi thứ, điều làm anh và các đồng đội làm việc tại Trường Sinh Viên Sĩ Quan OCS (Officer Candidates School) bối rối hơn cả là cách bị đối xử khi họ trở về nước bởi những người chưa hề đi lính bao giờ.

Vào mùa Xuân năm 1970, sau khi đã giúp xong bốn khóa huấn luyện Sinh viên Sĩ quan với vai trò Trung đội trưởng, George được chính thức bổ nhiệm làm huấn luyện viên cho trường OCS. Anh rất hài lòng với nhiệm vụ mới này.

Vào khoảng thời gian các lực lượng Hoa Kỳ và VNCH vượt qua biên giới Cambodia để tấn công vào hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh và các khu an toàn rộng lớn của Bắc Việt mà cho tới khi đó vẫn được phe địch sử dụng một cách tự do, Trung úy George Philip cảm thấy bất an và không thoải mái lắm trong vai trò huấn luyện viên tại trường OCS nữa. Anh nghĩ là anh có thể làm một cái gì đó cao hơn thế.

George bắt đầu cảm thấy buồn chán với công việc đều đặn được giao tại trường OCS. Anh muốn tìm một công việc khác, một nhiệm vụ nào hay hơn là việc cạo giấy, một trách nhiệm tích cực và có ý nghĩa hơn. Anh nghe nói có những cơ hội dành cho các sĩ quan từ các ngành chuyên môn khác có thể chuyển qua Không quân. Triển vọng được lái trực thăng chiến đấu khá hấp dẫn và có thể thỏa mãn được tính phiêu lưu mạo hiểm vẫn còn nung nấu trong anh.

George đã được leo trực thăng khá nhiều tại Việt Nam, đã thấy tận mắt các phi công Lục quân và TQLC thực hiện những phi vụ rởn tóc gáy và hào hùng bay vào bay ra các bãi đáp trong lửa đạn địch quân. Lái trực thăng chắc chắn sẽ ngon lành hơn là dạy học về y tế phòng ngừa ngoài mặt trận cho các SVSQ tại Quantico rồi. Lái trực thăng cũng sẽ đưa anh trở lại với công tác hoạt động tích cực và không thể nào buồn chán được.

Trung úy George Philip nộp tất cả các giấy tờ cần thiết. Mắt anh tốt. Anh vượt qua được các cuộc thi viết. Anh cũng qua luôn vụ khám sức khỏe phi hành. Anh có đủ các giấy giới thiệu. Và anh được nhận. Anh đã sẵn sàng và được chuyển qua trại Ft. Rucker ở Alabama để nhập trường của Lục quân.

Tuy nhiên chỉ trong một vài ngày sau khi được nhận, binh đoàn TQLC bỗng dưng ngưng hết mọi cuộc tuyển dụng. Cái nhu cầu lớn cần thêm phi công tự nhiên chấm dứt không biết tại sao. Khá thất vọng, George ghé lên Washington, D.C. để gặp sĩ quan chỉ huy đỡ đầu hầu thăm dò các khả năng khác.

Ngồi thẳng trước vị sĩ quan đã từng chỉ huy đỡ đầu cho các sĩ quan pháo binh trẻ dạo nào, thoạt tiên George hơi bồn chồn một chút. Viên chỉ huy chăm chú lược qua xấp hồ sơ mà binh đoàn TQLC có sẵn về trường hợp Trung úy George Philip. Ông nhận thấy có một chuyện có thể làm được. Ông thấy các điểm trắc nghiệm của George đã chứng tỏ là anh có một khả năng đặc biệt về ngoại ngữ. Do đó, tại sao anh không tham dự một khóa học bẩy tháng về Việt ngữ tại trường Sinh Ngữ Quốc Phòng ở Monterey California để trở thành cố vấn quân sự về pháo binh cho binh chủng TQLC VNCH? Bất ngờ và hơi nản, George cố nén một nụ cười. Lúc còn học trung học anh đã phải trải qua hai năm để học xong lớp 1 tiếng Tây Ban Nha. Giờ đây binh đoàn nói là anh có khả năng giỏi về sinh ngữ. Anh là ai mà dám cãi lại sự khôn ngoan của binh đoàn TQLC Hoa Kỳ? Ngoài ra, bẩy tháng tại Monterey cũng không đến nỗi nào. Cái trò cố vấn và binh chủng TQLC Việt Nam thì anh chẳng có một tí ý niệm nào cả, hay ít nhất là chưa, nhưng được cái là anh rất phóng khoáng. Viên Thiếu tá nói anh suy nghĩ vài ngày nữa đi. Ngày hôm sau George gọi lại. Anh nhận lệnh.

Cuộc xâm lăng Cambodia và hậu quả tiếp theo

Hình phạt kinh hoàng giáng lên quân Bắc Việt qua cuộc tấn công vào những cứ điểm an toàn lâu nay bất khả xâm phạm của chúng tại Cambodia rất đáng kể. Các lực lượng Hoa Kỳ và VNCH đã thực hiện, theo lời TT Nixon. “Một cuộc hành quân thành công nhất trong cuộc chiến Việt Nam.” Từ 29 tháng Tư đến 30 tháng Sáu 1970 các lực lượng đồng minh, với cái tổn thất cộng chung là 1.200 người thiệt mạng, địch quân đã bị thiệt hại gấp 10 lần số lượng đó. Thêm vào đó và có lẽ quan trọng hơn cả là đã chận đứng được nguồn tiếp vận của đối phương nhằm thực hiện các cuộc công kích. Hằng ngàn tấn gạo, hàng triệu đạn dược khác nhau và đủ các loại trang thiết bị tối cần thiết đã bị tịch thu hoặc phá hủy. Khả năng tác chiến của bộ đội Bắc Việt và Việt Cộng đã bị ảnh hưởng một cách nghiêm trọng.

Hoạt động của quân Bắc Việt và Việt Cộng đã suy giảm rõ rệt, đặc biệt là tại hai Vùng III và IV Chiến Thuật của miền Nam Việt Nam (Vùng III Chiến Thuật là vùng bao gồm Sài Gòn và Vùng IV nằm ở phía Nam Sài Gòn) đã tạo phần dễ thở cho các lực lượng Hoa Kỳ để họ triệt thoái ra khỏi Việt Nam một cách có trật tự. Điều này cho phép chương trình Việt Nam hóa chiến tranh được thực hiện dưới một áp lực nhẹ hơn của đối phương. Sự giảm thiểu hoạt động của Cộng sản cũng tạo thêm thời gian cho QLVNCH phát triển thêm về khả năng chiến đấu và lòng tự tin đang chớm nở nơi họ.

Tiểu đoàn 3 TQLC Việt Nam, với Đại úy Lê Bá Bình làm Tiểu đoàn phó, đã tham gia chiến dịch Cambodia trong thành phần Lữ đoàn 147 TQLC. Mặc dù không phải là một cuộc dạo chơi nhưng khu vực họ phụ trách hoàn toàn thuận lợi để chống lại kẻ thù trong tình huấn thật bất ngờ không sửa soạn được bất kỳ điều gì ngoài chiến trường. Qua cái nhìn của một Tiểu đoàn phó, công tác giao cho đơn vị anh đã được hoàn thành xuất sắc. Các binh sĩ Tiểu đoàn Sói Biển đã hạ sát được rất nhiều Cộng quân mà chỉ chịu một sự tổn thất không đáng kể.

George tại Monterey

George Philip được chuyển về Viện Ngôn Ngữ Quốc Phòng DLI (Defense Language Institute) học trong bẩy tháng. Viện này nằm khá gần trường Hậu Đại Học nổi tiếng của bộ Hải Quân Hoa Kỳ NPGS (U.S. Navy Post Graduate School).

Có một câu chuyện đùa có tính cách biểu lộ và hơi khó chịu nhiều hơn là khôi hài được truyền tụng như sau:

“Một người nói được ba thứ tiếng thì gọi là gì?”
Tam ngữ
“Một người nói được hai thứ tiếng?”
Song ngữ
“Còn người chỉ nói được một thứ tiếng?”
Ngưòi Mỹ

Nhiệm vụ của trường DLI là cố gắng thay đổi cái quan niệm trên, dù trong một phạm vi nhỏ hẹp nào đó. Trong trường quy tụ cả nam và nữ đang phục vụ trong các ngành khác nhau của quân đội và các cơ quan chính quyền. Họ được học về các ngôn ngữ cần thiết cho chính sách ngoại giao và thu thập tình báo cho Hoa Kỳ. Các sinh ngữ được dạy gồm những thứ tiếng khá thông dụng như tiếng Nga, tiếng Quan Thoại, tiếng Tây Ban Nha cho đến các thứ tiếng đặc biệt như tiếng Swahili, tiếng Farsi và tiếng Hindi. Ngoài ra trường còn dạy một số ngôn ngữ mà người Mỹ bình thường có thể chưa bao giờ được nghe đến. Các giáo viên, đặc biệt là những người dạy các ngôn ngữ thiết yếu cho công tác phòng thủ trong Chiến Tranh Lạnh, thường là những người tỵ nạn đến từ các quốc gia đang bị Cộng sản đàn áp. Thời gian tại Monterey, một địa danh mà Eric Burdon đã thể hiện trong bài hát diễn tả Hội Nhạc Rock (Pop Festival) 1967, hoàn toàn thoải mái đối với George. Nhạc sĩ Burdon còn thốt lên: “Cả cảnh sát cũng múa với chúng ta…”

Có những lúc mà George không nhớ là đất nước đang trong thời kỳ chiến tranh nữa. Nhiều bạn đồng khóa cũ của anh từ trường Annapolis, hầu hết là sĩ quan Hải quân đang là khóa sinh tại trường NPGS. Trong thời gian George thụ huấn tại Monterey, anh cũng đã chơi cho đội bóng chày của họ.

Thời khóa biểu học khá chặt chẽ nhưng không đến nỗi khó khăn lắm. Nhóm giảng viên đều sinh trưởng từ miền Bắc Việt Nam và là dân di cư vào trong Nam năm 1954. Mỗi người đều có những câu chuyện của cải bị tịch thu và người thân bị sát hại thảm khốc bởi bọn Cộng sản. Mỗi ngày, lặng ngập suốt sáu tiếng đồng hồ của lớp học và còn phải cộng thêm hai hay ba tiếng đồng hồ làm bài tập nữa.

Vì còn độc thân nên George có khả năng sắm được một chiếc xe gắn máy. Trong những ngày nghỉ lễ hay nghỉ cuối tuần anh thường lái trên xa lộ số 1 và thưởng thức cảnh đẹp tuyệt vời ngoài bãi biển của những vùng như Big Sur. Một thời gian ngắn sau khi đến trường anh đã gặp và làm quen được với một phụ nữ quyến rũ đang dạy tiểu học tại thị trấn Carmel.

Trường hợp của George Philip, một học viên sinh ngữ tại trường DLI và đã từng hoàn tất cả một chu kỳ nhiệm vụ tại Đông Nam Á, bây giờ mới là lần đầu tiên được biết về văn hóa Việt Nam và tiếp xúc với những người Việt Nam thì thật là một bằng chứng trớ trêu và đáng buồn về đường lối mà Hoa Kỳ đang tiến hành chiến tranh tại Việt Nam. Giống như 90% các người Mỹ khác đã từng đến Việt Nam sau 1964 nhưng họ chỉ nằm trong cái vỏ bọc văn hóa Mỹ, George không hề tiếp xúc thật sự với người Việt Nam hay tạo các mối thân tình bạn hữu ngoài phạm vi các đồng đội TQLC của anh. Hầu hết lính Mỹ chỉ làm việc với người Việt lúc nào họ cần và từ những góc cạnh hạn hẹp đó, các kinh nghiệm thường không được tốt đẹp lắm.

Những chú lính thiếc và sự xuất hiện của Nixon

Lẫn lộn trong công tác tường thuật của báo chí về các hoạt động chung quanh việc tấn công qua Cambodia và những kết quả của nó là tác động tích cực, trực tiếp về mặt tinh thần đối với các binh lính đang tham gia cuộc chiến bên đó. Mặc dù không có một người lính Mỹ nào muốn trở thành người cuối cùng bị mất mạng trong tiến trình Việt Nam hóa chiến tranh đang diễn ra, nhưng đã có một sự nhẹ nhõm đối với những người đang chiến đấu ngoài mặt trận vì các quy tắc kỳ cục về giao tranh cuối cùng đã được bãi bỏ. Các quy tắc này trước kia không cho phép lính Mỹ thực hiện các cuộc tảo thanh kẻ thù vào tận các hang ổ của chúng.

Trước khi vượt biên giới vào những vùng hậu cần của kẻ thù tại Cambodia, lực lượng Hoa Kỳ trong năm năm trời giống như những con chó trong phim hoạt họa bị xích lại và chỉ có thể tự vệ và làm chủ, mặc dù không trọn vẹn lắm, trong phạm vi cái xích cho phép. Cho đến cuối tháng Tư 1970, cái xích đã giữ họ chỉ được hoạt động trong phạm vi lãnh thổ VNCH. Còn quân Cộng sản giống như con thỏ Bugs Bunny hay con vịt Daffy Duck đối diện với con chó canh tuyệt vọng, tha hồ hưởng tự do mỗi lần họ vượt biên giới màu nhiệm của Lào hay Cambodia. Chúng lại còn thường xuyên chọc quê đối thủ Hoa Kỳ, lúc này giống như con chó trong phim hoạt họa nói trên chỉ biết sủa và gầm gừ một cách tức tối.

Nói cho cùng, cái số lượng hơn 12 ngàn lính Bắc Việt bị tiêu diệt bởi các lực lượng Hoa Kỳ và QLVNCH tại Cambodia không hẳn là vô ích. Phản ứng ngược từ quyết định của TT Nixon đã xảy ra nhanh chóng và đắt giá trong dư luận chính trị quốc nội. Với một nhận thức mới là chiến tranh đã lan rộng, đã có một sự phẫn nộ gần như là tức thời trong toàn nước Mỹ. Hàng ngàn sinh viên trong hàng trăm trường đại học xuống đường phản đối mạnh mẽ.

Thảm kịch xảy ra tại trường đại học Kent State, được đưa vào những bài hát bất tử của Crosby, Stills, Nash và Young, đã trở thành ngọn cờ dẫn dắt cho phong trào phản chiến vừa được hâm nóng lại. Bất cứ vì lý do nào, những người phản chiến đã trở thành các đồng minh vô tình hay cố ý cho cho bọn lãnh đạo Cộng sản Việt Nam. Chúng đã nhìn thấy trước một cách sâu sắc và tinh ma sau biến cố Tết Mậu Thân, trọng tâm của cuộc chiến đã chuyển từ các khu vực rừng rú và các cánh đồng lúa ở Đông Nam Á vào trong đấu trường chính trị của Hoa Kỳ.

Chiến tranh và tất cả những gì liên quan đến nó từ khía cạnh chính trị trong nước đã làm đảo lộn tất cả mọi thứ và vượt ra khỏi tầm kiểm soát của mọi người. Sự kiện Vệ Binh Quốc Gia đã bắn chết các sinh viên tay không đã khẳng định cho những người chống chiến tranh rằng tất cả những gì nhỏ nhặt nhất về Việt Nam đều đáng nghi ngờ, và sự đê tiện, tính tàn ác và tình trạng tham nhũng ở Việt Nam đều là sự thật.

Thay vì là một trường hợp đơn độc, đặc biệt, và là một vết nhơ không thể tả đã làm vẩn đục danh dự của quân đội Hoa Kỳ, bây giờ nhiều người tin rằng những hành động tại Mỹ Lai là cái lối thông thường khi quân đội Hoa Kỳ tiến hành các cuộc hành quân. Trong nước, cho dù một câu chuyện có hoang tưởng hay không, và nguồn gốc có thể từ một người này đã quen một người kia, và người kia có bà con với người đó đang làm việc tại Bing Bang Bong – luôn luôn có những chuyện hoang đường được vẽ vời, thêm mắm thêm muối, kể đi kể lại về những tội ác, giết chóc, ma túy v.v… và vì không có chuyện gì ở Việt Nam là quá hoang tưởng, nên tất cả những gì về Việt Nam đều có thể tin được, nhất là nếu đó là những điều xấu xa.

Tại Washington, phản ứng chính trị trực tiếp sau cuộc xâm lăng Cambodia là những toan tính hạn chế quyền lực của Tổng thống để theo đuổi chiến tranh khi không được sự chấp thuận rõ ràng của Quốc hội. Nhiều người tin rằng ngành Hành pháp từ hồi TT Franklin Roosevelt đã từ từ lấn quyền khai chiến của Quốc hội, vốn đã được Hiến pháp công nhận. Tu chính án Cooper-Church là điều khoản bổ sung Hiến pháp đầu tiên nhằm giới hạn quyền hạn của Tổng thống trong chiến tranh. Mục đích của nó nhằm từ chối cung cấp tài chánh cho các lực lượng trên bộ của Hoa Kỳ đang được sử dụng tại Lào và Cambodia sau tháng Sáu 1970.

Bản Tu chính án đầu tiên đã không được thông qua. Vả lại khi đó các lực lượng Hoa Kỳ cũng đã rút trở về biên giới VNCH rồi. Bản Tu chính án sửa lại nhẹ nhàng hơn được lưỡng viện Quốc hội Hoa Kỳ thông qua vào cuối tháng Mười Hai và trở thành luật vào đầu tháng Giêng 1971. Từ nay, mặc dù các hạn chế về cách sử dụng hỏa lực trên không trong tương lai chỉ ở mức tối thiểu, nhưng các lực lượng trên bộ của Hoa Kỳ bất cứ nơi nào trong vùng Đông Nam Á, cho dù là vai trò cố vấn cho quân đội VNCH đều bị cấm ngặt.

Chiến dịch tiếp theo của QLVNCH nhằm triển khai các thắng thế sau cuộc hành quân Cambodia từ tháng Tư đến tháng Sáu 1970 đã phá vỡ được các khu an toàn của Cộng quân được đặt tên là Hành Quân Lam Sơn 719. Khe Sanh, chính cái căn cứ mà TQLC Hoa Kỳ đã chiến đấu với quân Bắc Việt trong cuộc bao vây lừng danh 77 ngày đêm trong năm 1968, được dùng làm bàn đạp cho các lực lượng VNCH. Trong cuộc hành quân Lam Sơn 719, các đơn vị VNCH cuối cùng đã biết sử dụng Khe Sanh theo phương cách mà tướng Westmoreland đã nhìn ra trước đó và phải dùng cái căn cứ quân sự đó như thế nào mới đúng.

Mục đích của cuộc Hành Quân Lam Sơn 719 nhằm tấn công vào các khu an toàn của bộ đội Bắc Việt và chiếm đóng các phần thiết yếu của hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh cho đến tận Tchepone và làm tê liệt khả năng của kẻ thù đánh phá miền Nam Việt Nam. Đối với QLVNCH, cuộc hành quân vĩ đại nầy sẽ rất là quan trọng và đầy tham vọng cho nỗ lực chiến tranh không khác gì trận đột phá Cambodia trước đó.

Vào cuối tháng Giêng 1971, khi chiến dịch Lam Sơn 719 khởi sự thì Tu chính án Cooper-Church đã có hiệu lực hoàn toàn. QLVNCH trên bộ vẫn còn lệ thuộc nặng nề về mọi khía cạnh vào Không yểm của Hoa Kỳ. Từ những cuộc dội bom rộng rãi của B-52 theo kế hoạch ARCLIGHT cho đến vô số các cuộc không tập chiến thuật thả những trái bom thông thường và bom napalm để yểm trợ gần cho các hoạt động của bộ binh, vai trò hỏa lực của Không quân Hoa Kỳ rất đáng kể. Quan trọng hơn phóng pháo cơ và chiến đấu cơ là sự phụ thuộc vào hàng trăm chiếc trực thăng của quân lực Hoa Kỳ cần thiết cho việc xâm nhập, đón rước, tiếp tế, tản thương, dọ thám, chỉ huy tuần tra và bắn yểm trợ. Các sĩ quan bộ binh Hoa Kỳ với vai trò cố vấn cho các đơn vị QLVNCH và TQLC tham dự chiến trận là những cặp mắt và bộ óc bổ sung để hỗ trợ công tác sửa soạn cho chiến dịch và quan trọng hơn cả, họ là những người phối hợp hỏa lực yểm trợ của Hoa Kỳ. Họ đều ở lại căn cứ Khe Sanh và theo dõi diễn tiến trận đánh bằng điện đàm trong các hầm trú ẩn đã được sửa chữa lại.

Xét trên mọi khía cạnh, Hành Quân Lam Sơn 719 là một nỗ lực vĩ đại. Vị tướng VNCH được giao trách nhiệm chỉ huy chiến dịch là tướng tư lệnh từ 1965 của các lực lượng QLVNCH thuộc Vùng I Chiến Thuật, còn được phía Hoa Kỳ biết dưới cái tên là Quân Đoàn 1. Trung tướng Hoàng Xuân Lãm tương đối có uy tín đối với người Mỹ. Tuy nhiên các sĩ quan cao cấp của TQLC Việt Nam không ưa ông ta lắm.

Để thực hiện các mục tiêu đầy tham vọng của Lam Sơn 719, tướng Lãm có trong tay một lực lượng hùng hậu gồm nhiều đơn vị khác nhau của QLVNCH. Ngoài Sư Đoàn 1 BB, một số đơn vị pháo binh, thiết giáp và mấy tiểu đoàn Biệt Động Quân, Trung tướng Lãm còn được quyền điều động gần như toàn bộ lực lượng Tổng Trừ Bị gồm cả hai sư đoàn Nhẩy Dù và TQLC. Lam Sơn 719 có thể coi là chiến dịch đầu tiên mà TQLC Việt Nam được đưa toàn bộ sư đoàn ra mặt trận.

64 ngày đêm xa luân chiến kéo dài từ ngày 30 tháng Giêng cho đến ngày 24 tháng Ba 1971. Tuy QLVNCH chịu những sự tổn thất khá nặng nề nhưng mọi người đều đồng ý là họ cũng tiêu diệt được một số lượng kẻ địch lớn hơn. Bộ đội Bắc Việt đã đưa vào trận đánh những đơn vị xuất sắc nhất và thật nhiều phương tiện để chống lại lực lượng VNCH và TQLC. Sau khi chiến dịch hoàn tất có nhiều cuộc tranh cãi về các thắng lợi đã đạt được. Mặc dù không được nói gì nhiều trên truyền thông, nhưng trên thực tế quân Bắc Việt đã bị giáng cho những đòn chí tử gây tổn thất đáng kể, cũng giống như cuộc đột phá Cambodia trước đó vậy.

Nhưng nếu nhìn dưới nhãn quan của TT Nixon muốn hướng mục tiêu vào nỗ lực Việt Nam hóa chiến tranh thì Lam Sơn 719 là một thảm bại về truyền thông báo chí. Mỗi một sự yếu kém hay thiếu sót của quân lực VNCH đều bị tường thuật và thổi phồng bởi giới truyền thông Tây phương. Các vấn đề của QLVNCH khởi đầu với sự can thiệp của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vào tiến trình cuộc hành quân. Vị Tổng thống này được bầu ra trong một đất nước có một nền dân chủ còn non trẻ thành thử hết sức nhậy cảm và sẽ là hậu quả tiêu cực về phương diện chính trị nếu quân lực bị tổn thất quá nhiều. Phe lãnh đạo Cộng sản Hà Nội thì không hề bị áp lực này.

Những thử thách về các mặt chỉ huy, kiểm tra và phối hợp ngoài mặt trận đã được tường thuật lại bởi một hệ thống truyền thông báo chí không mấy thiện cảm với VNCH. Sự trình bày dai dẳng, lặp đi lặp lại nhiều lần về chiến dịch Lam Sơn 719 trong giới truyền thông Tây phương chỉ là những đoạn phim về lính VNCH tự ý trèo lên trực thăng tiếp tế. Những đoạn phim này được chiếu đi chiếu lại trong nước Mỹ giống như các khúc phim kinh hoàng của Tết Mậu Thân vậy. Những người trong nước thật sự khó mà có cảm tình nổi với những binh lính có vẻ như không chịu chiến đấu cho chính đất nước họ trong khi người Mỹ đã đổ máu quá nhiều để giúp đỡ, và còn tiếp tục làm như vậy bằng cách yểm trợ trực thăng cho toàn bộ chiến dịch, để rồi một số phi hành đoàn đã bị địch bắn hạ và giết chết.

Mặt tích cực của Lam Sơn 719 thì đã bị bỏ quên trong khi các phóng viên làm nhiệm vụ tường thuật của họ. Cũng tương tự như lần ở Cambodia, các lực lượng Bắc Việt cùng các phương tiện của họ đã bị thiệt hại nặng nề. Điều được ghi nhận rộng rãi bởi tình báo đồng minh là các cuộc xâm nhập qua đường mòn Hồ Chí Minh và các hoạt động của kẻ thù trên toàn bộ lãnh thổ miền Nam Việt Nam đã bị suy giảm trong những tháng tiếp theo.

Thành tích của TQLC Việt Nam trong suốt quá trình Lam Sơn 719, khi tổng kết, được công nhận là khá xuất sắc. Tuy nhiên lòng dũng cảm và sự hy sinh của các TQLC Việt Nam phần nào đã bị vẩn đục bởi sự lạm dụng để củng cố mình của các cấp cao hơn tại bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH. Sự tranh chấp cay đắng và tai hại giữa một số sĩ quan cao cấp, trong đó đặc biệt tướng Lãm nổi tiếng là thù hằn với TQLC và ngược lại sự khinh ghét của Trung tướng Lê Nguyên Khang (mới lên từ Thiếu tướng) và các sĩ quan thuộc hạ đối với tướng Lãm cũng đã tăng thêm mà thôi.

Lam Sơn 719 là một sự lặp lại đối với lực lượng TQLC đã từng đụng độ với kẻ thù đáng ghét chỉ vài tháng trước đây tại Cambodia. TQLC Việt Nam đánh nhau lần này trên một địa thế hiểm trở hơn thành thử họ đã phải trả một cái giá tương xứng với những tổn thất giáng lên địch quân.

Tiểu đoàn 3 với Lê Bá Bình làm Tiểu đoàn phó hoạt động như một đơn vị thuộc Lữ đoàn 258. Hầu hết TQLC hành quân tập trung gần một vùng gọi là Cơ Rốc. Địa thế núi non hiểm trở và rừng rậm dày đặc là kẻ thù đối với họ không kém gì quân Bắc Việt ngoan cố. Cuộc đụng độ nặng nề nhất của Tiểu đoàn Sói Biển là khi Tiểu đoàn 1 bị một Trung đoàn Bắc Việt tấn công và Tiểu đoàn 3 đã xung phong đánh ngang hông địch để giải tỏa áp lực đang đè nặng trên người anh em TQLC. Khi trận chiến tàn lụi và lực lượng VNCH cũng như TQLC Việt Nam rút về lại miền Nam, Bình và ban chỉ huy của anh là những người rời chiến trường cuối cùng để đáp trực thăng bay về Khe Sanh.

Các công tác tiếp vận và soạn thảo kế hoạch càng lúc càng cần thiết vì sự lớn mạnh của binh chủng TQLC Việt Nam. (Năm 1970 Tiểu đoàn 9 TQLC được thành lập thêm). Việc duy trì hai phần ba các đơn vị TQLC liên tục chiến đấu ngoài mặt trận Vùng I Chiến Thuật đã khiến cho công tác hỗ trợ hạ tầng cơ sở trở nên căng thẳng. Các sĩ quan cao cấp cùng làm việc với các sĩ quan Hoa Kỳ nhằm bàn bạc và thực hiện các nhu cầu càng lúc càng nhiều hầu chăm sóc cho các TQLC đang chiến đấu và gia đình của họ trong những chung cư ở trong và chung quanh Thủ Đức. Các phương tiện về xây dựng đã được dành ra để thiết lập các khu gia binh, trạm y tế v.v…

Chăm lo cho các chiến sĩ và gia đình của họ một cách đầy đủ là một trong những vấn đề mà các nhà soạn thảo kế hoạch đã phải rất bận tâm. Các gia đình quân nhân được khuyến khích trồng rau cải và lúa gạo trong những thửa ruộng thuộc quyền kiểm soát của TQLC để tăng thêm thu nhập vào tiền lương ít ỏi bằng các phương tiện sẵn có. Có một chuyện xảy ra được ghi nhận là trong cuộc hành quân Vũ Ninh XII, không lâu trước chiến dịch Lam Sơn 719, là có nhiều quân nhân TQLC đã từng chiến đấu tại Vùng I Chiến Thuật sau một thời gian dài đã phải được tản thương về với các triệu chứng tương tự như sốt rét. Hóa ra, những binh sĩ đó đã bị mắc chứng bệnh thiếu chất đạm trong khẩu phần ăn của họ. Tựu chung thì bệnh này dễ chữa hơn là bệnh sốt rét do muỗi cắn.

Giải pháp cho vấn đề thiếu chất đạm một phần đã được giải quyết bởi một cố vấn Hoa Kỳ tháo vát có tên là Gene Harrison. Trước khi tình nguyện đi chiến đấu, Thiếu tá Harrison là một nông gia và một công chức quận hạt tại Florida. Giải pháp của ông để cải thiện khẩu phần thịt cho các TQLC là đi Philippines tìm mang về một giống heo tốt hơn và cho nhiều thịt hơn. Thiếu tá Harrison trở thành một người rất nổi tiếng với tất cả mọi người và còn được các gia đình sống trong khu vực trại Thủ Đức mang ơn nhiều nhất. Sau vụ mang giống heo tốt và nhiều thịt về thì hiếm khi nào có chuyến tiếp tế từ phi trường Tân Sơn Nhất bay ra ngoài trận địa ở phía Bắc mà không có một vài con lợn chở ra theo cho các tiểu đoàn TQLC để bổ sung vào khẩu phần ăn mà họ tự kiếm được tại địa phương.