XANH (2)

phuonguy

khi những ngón tay không còn theo đuổi những thanh âm
phím đàn nghẹn ngào góc tối
cây tỳ bà bỏ quên bên vách tường khóc lời trăn trối
hoang vu  trăng xanh

khi những ngón tay không còn cầm níu
phím đàn buông bỏ đợi chờ
tôi về bên dốc gió
trỗi khúc thủy tinh

khi lời không kịp nói đã tắt giữa mong manh
cơn mưa xưa không kịp tối
em không bên tôi giữa đêm sao vời vợi
tôi còn gì trong lòng?

Khi chiếc ly rỗng không còn mang hợp chất nồng say trong suốt
tôi làm sao còn đong đếm tương tư?
chén rượu thề bồi chưa kịp uống
đêm xanh hút ánh trăng thừa

phím tỳ bà lã ngọn dây đàn đứt
con hồ ly xanh khóc suốt mấy mùa bạc mặt
ngón tay rời nhau mùa giông bão sau cùng
điệu kí ức cưu mang lời nguyền cuối
nghe mùa đi giữa lao lung

Phương Uy

Giữa Bình Minh Và Hoàng Hôn

tranvanle

Vĩ đại nhất là mặt trời.
Nóng bỏng nhất là Tình Yêu!
Tôi nghĩ thế, một buổi chiều
khi mặt trời đã tắt bóng,
khi bầu ngực tôi rang nóng:
tôi nhớ người ta, nhớ thôi!

Người ta ngó Trời, gọi Trời.
Người ta cô đơn biết mấy!
Mặt trời nóng nhưng không cháy
được trái tim của người ta…
bởi mặt trời hóa đóa hoa
khi con người ta đau khổ!
Mặt trời chỉ làm loang lỗ
hai chữ Tình Yêu mà thôi!

Hình như tôi đang rối bời,
chữ “thôi” đã hai lần viết!
Tình Yêu sợi dây tơ siết
mặt trời tan như khói sương?
Mặt trời không còn chỗ nương
trên những con đường ngang dọc
của tờ giấy xanh nhăn góc,
những giọt nước mắt muốn tuôn.
Tình Yêu luôn luôn là buồn?
Không bản nhạc nào vui nhộn
hơn bản tình ca sắp xướng…
chưa nghe chi đã nghe đau…

Những con vạc bay nhặt sao
những đêm trời trăng không hiện.
Lúc đó mặt trời đã biến
thành giọt lệ của người ta.
Những con vạc cứ bay qua
những cánh đồng đen bát ngát.
Mặt trời ngân vang tiếng hát
một khúc tình ca thê lương…

Thơ tôi đang trôi lạc đường.
Tại em. Tại em. Tất cả!
Mặt trời nắng trên chiếc lá;
em là đóa hoa, tôi hôn!
Mặt trời mãi mãi dễ thương…
cả khi lòng tôi lạnh ngắt!
(Ai biểu em là Đức Phật
cho tôi núp bóng từ bi…)

Trần Vấn Lệ

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, “Họ như đàn kiến vây quanh chúng ta”

nuocmattruocconmua

nguyenbatracnmtcm
larryengelmann

TRẦN THỊ MỸ NGỌC
“Họ như đàn kiến vây quanh chúng ta”

Cha mẹ tôi thôi nhau khi tôi mới vừa sinh. Cha tôi đang học luật nhưng rồi phải gia nhập quân đội. Mẹ tôi quen sống dựa dẫm, nương tựa nhiều vào cha tôi, do đó cha tôi chán nản. Vì thế cuộc tình duyên của cha mẹ tôi tan vỡ từ khi tôi mới ra đời. Mẹ tôi một mình gánh hai con thơ. Tôi có một người chị lớn hơn tôi ba tuổi.

Mẹ tôi không có tiền. Chúng tôi sống trong một xóm bình dân. Những người hàng xóm coi vậy mà rất tốt và thân thiện. Họ giúp mẹ tôi trông nom săn sóc tôi. Bỏ mẹ tôi rồi, cha tôi lập gia đình khác sau một thời gian ngắn và đem chị tôi về nuôi. Tôi tiếp tục ở với mẹ cho đến khi gần sáu tuổi.

Mẹ tôi làm nghề buôn bán. Ở Việt Nam có nghề buôn vé số. Bà vào nghề bằng cách bán vé số lẻ, sau đó từ từ khá lên cho đến khi trở thành nhà thầu, phân phát vé số ra miền Trung cũng như lục tỉnh. Mẹ tôi kiếm tiền bằng nghề này.

Khi tôi khoảng sáu tuổi, cha tôi mang tôi về sống với ông để tôi có cơ hội học hành. Mẹ tôi vì buôn bán nên quá bận rộn. Từ đó, tôi lớn lên bên cha, chỉ về thăm mẹ vào cuối tuần. Trong thời gian tôi sống với cha thì ông đã trở thành một vị quan toà của toà áo đỏ. Với chức vụ này, ông đã xử nhiều vụ án gian thương. Sau đó, chuyển về làm tại Toà án quân sự mặt trận cho đến ngày Sàigòn thất thủ.

Khi sống với cha, tôi rất hồn nhiên vì cuộc sống của tôi nay được bao che đầy đủ. Tôi làm bạn với những trẻ em cùng giai cấp khá giả. Tôi học trường Pháp, trường Marie Curie trên đường Công Lý. Tôi học trường Pháp từ khi còn bé cho đến khi Sàigòn mất. Tôi biết đọc biết viết tiếng Pháp trước khi biết đọc biết viết tiếng Việt. Tôi vẫn không quên ngày bắt đầu học tiếng Việt, tôi cứ bị bà Thầy rầy mắng vì tôi khó dạy. Tiếng Việt có nhiều dấu, không sao nhớ hết nổi. Tôi bị thầy đánh luôn cho đến khi tôi khôn ra bằng cách cố học thiệt mau thiệt giỏi. Đây là một cách tự bảo vệ lấy mình.

Từ đầu năm 1975, tôi bắt đầu thấy nhiều việc không ổn. Trước Tết, theo phong tục Á Đông, chúng tôi đem quà biếu lẫn nhau. Hôm đó cha tôi và mẹ kế tôi đem quà đến thăm và biếu ông bộ trưởng tài chánh. Ông là bạn thân của cha tôi, cha tôi và ông nói chuyện rất lâu. Hồi đó, tôi còn nhỏ nên không để tâm mấy đến cuộc đàm thoại này, nhưng khi về nhà, tôi nghe cha tôi và mẹ kế tôi nói chuyện: Bạn cha tôi bảo là cha tôi cần phải ra khỏi Việt Nam ngay, Cộng sản đã vây quanh Sàigòn rồi. Bạn cha tôi nói họ đang tiến vào. Tôi nhớ mãi câu nói ám chỉ sự việc quân cộng sản đến: “Họ như đàn kiến vây quanh chúng ta”.

Bạn cha tôi từ chức ra đi. Vào khoảng thời gian này, cha tôi phải đi xử án tại Cần Thơ. Ông xử những người đào ngũ và những Việt cộng bị bắt tại miền Tây. Cha tôi không muốn rời Việt Nam. Mẹ tôi và mẹ kế tôi rất sợ hãi. Họ đều khuyên cha tôi đừng đi xử vì lo sẽ có việc không hay xảy ra. Nơi miền Tây có vẻ không được yên.

Nhưng cha tôi nói: “Tôi phải làm nhiệm vụ của tôi.” Ông cứ đi. Chuyến đi cuối cùng của ông vào tháng Tư, nhưng ông phải bay về Sàigòn lại vì tình hình chiến sự. Tôi thì vẫn đi học bình thường trong thời gian này với một tâm trạng không mấy lo sợ vì Sàigòn chưa hề bao giờ thất thủ. Năm 1968, họ đã từng vào nhưng bị chúng tôi đánh bật ra.

Tôi chỉ cảm thấy kỳ kỳ nhưng không biết sợ vì tôi thật sự không biết người Cộng sản là gì. Tôi hiểu chúng tôi đánh với họ, nhưng thật sự không biết họ là những người như thế nào. Vào thời kỳ này có rất nhiều dư luận như là: họ sẽ giết người, giết những người nào ăn mặc đẹp, người nào sơn móng tay. Hoặc nếu bắt được những người sơn móng tay, họ sẽ kéo tróc móng tay những người đó. Tôi nghe vậy thì có sợ, nhưng nghĩ lại, tôi có sơn móng tay đâu.

Ngoài ra, tôi vẫn còn cảm thấy an tâm phần nào. Lời đồn, tin đồn thì đủ thứ. Tuy nhiên, gần cuối tháng Ba, trong Nam thấy có nhiều người mới đến. Bà con bạn bè từ Nha Trang chạy vào. Tôi vẫn chưa cảm thấy sợ. Mọi việc xảy ra quá nhanh, nhưng cha mẹ tôi vẫn chưa có hành động gì, tôi cũng không biết làm sao. Tôi vẫn cứ nghe rất nhiều tin đồn.

Khi cha tôi trở về Sàigòn sau chuyến đi miền Tây cuối cùng, ông nói tin đồn bị rút móng tay là có thật, vài làng nhỏ có mấy cô giáo đã bị hình phạt như thế.

Tin đồn nào cũng kinh khủng. Có tin họ sẽ tra tấn những người làm việc cho chính phủ. Vào khoảng thời gian này, bạn bè cha tôi bắt đầu đi. Họ sắp đặt cho ông đi, nhưng cha tôi không thể bỏ đi, vì họ chỉ dành một chỗ cho riêng ông, chớ không có chỗ cho cả gia đình. Vì thế, cha tôi không chịu đi.

Lúc đó, chính phủ cũng có ra thông cáo nếu ai bỏ nước ra đi mà bị bắt lại, có thể bị xử bắn hoặc đưa ra toà án mặt trận. Cha tôi lại là một chánh án của Toà án quân sự mặt trận.

Tôi có một người chị bà con lấy chồng người Phi. Bấy giờ họ đang chuẩn bị rời Việt Nam và đang chờ tại Tân Sơn Nhứt. Tôi và em tôi ra đi với họ. Đây là vào khoảng tuần lễ thứ hai của tháng Tư. Chúng tôi chờ ba ngày, đợi máy bay đến. Tôi không hiểu vì sao nhưng tình hình Tân Sơn Nhứt rất điên cuồng. Chúng tôi ở đấy chờ vì toà đại sứ Phi đang chuẩn bị đem dân họ về. Chị họ tôi và chồng chị ấy có tên trên danh sách. Họ sẽ đem chúng tôi theo với tư cách thân quyến.

Tôi rất bình tĩnh. Đó là bản chất của tôi. Khi ở trong tình thế hiểm nghèo, tôi bình tĩnh, nhưng sau đó, tôi sẽ bị xúc cảm.
Chúng tôi chờ hoài đâm mệt. Cha mẹ chúng tôi lo sợ nên đón chúng tôi về. Vừa khi cha mẹ chúng tôi đưa chúng tôi về, thì đêm đó, máy bay đến, gia đình chị họ tôi ra đi. Họ không liên lạc được với chúng tôi do đó họ ra đi, còn chúng tôi kẹt lại.

Kế tiếp, gia đình hàng xóm tôi, có cô con gái lấy chồng kỹ sư Mỹ. Chị ấy rời Việt Nam năm 1972. Lúc đó vợ chồng chị ấy sống tại Iran, ở thủ đô Teheran. Chị yêu cầu chồng sang Việt Nam mang gia đình chị ra. Nhân số gia đình chị cũng cỡ nhà tôi, khá đông người. Cha tôi bàn vói nhà hàng xóm, hỏi xem họ có thể đem hai đứa trong đám con ông đi không.
Nghĩ cũng ngộ. Cha mẹ tôi quyết định chỉ cho tôi và một em trai cùng cha khác mẹ đi thôi. Tôi còn có chị cả và một đàn em trai cùng cha khác mẹ nữa. Tôi không hiểu tại sao chỉ có tôi và em tôi được sắp đặt ra đi.

Người chồng của chị hàng xóm về đến Việt Nam. Lúc đó, anh gặp sự ngăn trở của chính phủ Mỹ. Họ nói đồng ý mang chúng tôi đi nhưng phải làm thủ tục giấy tờ. Anh ấy nói với cha mẹ tôi là, nếu anh mang chúng tôi đi, thì sau này phải lo nhiều phí tổn cho chúng tôi, phải tốn kém trong việc trông coi chúng tôi. Cha tôi nói “Không sao, tôi sẽ lo việc tiền nong cho anh.” Anh người Mỹ này tên là David. Khi đó anh khoảng ba mươi mấy tuổi. Tôi nhớ anh ấy rất tốt.

Vào khoảng thời gian này, mọi sự như một trò chơi đối với tôi. Tôi thật không biết sợ. Tôi được nuôi dưỡng trong sự bao bọc từ lâu cho nên không nghĩ việc đời có thể thay đổi. Tôi không nghĩ đến việc phải đi khỏi Việt Nam vĩnh viễn hay dù chỉ tạm thời. Lúc đó, gia đình tôi còn nhiều tiền trong nhà băng, đang cố chuyển tiền qua ngoại tệ. Tuy nhiên, nhà băng chỉ có thể cung cấp 2,000 đô thôi, sau đó, ngưng đổi ngoại tệ. Hết tiền đô rồi. Vì thế, mẹ tôi phải mua tiền đô ngoài chợ đen. Anh David lo hoàn tất tất cả các giấy tờ cần thiết, ngày ra đi được ấn định vào 27.4.75. Tôi vẫn còn nhớ mãi. Anh ấy nói tình hình rất khó khăn, và có lệnh người Mỹ không được đi ra đường nữa. Anh ấy dặn chúng tôi lúc nào cũng phải sẵn sàng để đến Tân Sơn Nhứt. David thu xếp giấy tờ, nói “Tôi sẽ trở lại đón các em, khi tôi đến, chúng ta sẽ phải đi liền”. Anh ấy cũng dặn gia đình vợ như thế. Nhưng rồi anh vào Tân Sơn Nhứt và không được phép trở ra nữa. Anh ấy gọi điện thoại, khóc. David nói: “Nếu tôi ra là sẽ bị bắn ngay!” Tôi nhớ sân bay đóng cửa vào ngày 24- 4-75 gì đó. Anh ấy nói: “Tôi bị kẹt rồi và không thể trở ra. Vậy bây giờ tất cả hãy chuẩn bị chờ, có thể tôi sẽ cho xe ra đón đi. Hãy chuẩn bị.”

Chúng tôi chờ đến ngày 28. Anh vẫn không ra được. Cũng không có xe đến. Rồi anh ấy phải rời Việt Nam trở lại Iran.
Tôi nghĩ cha tôi bắt đầu lo sợ. Tôi cũng cảm thấy vô cùng buồn bã vào những ngày cuối đó. Chúng tôi không biết miền Nam sẽ mất vào ngày 30 tháng Tư. Chỉ thấy mọi người chạy như điên cuồng vào khoảng 28 tháng Tư. Nhiều người đổ vào thành phố. Mọi sự tán loạn. Thiên hạ chạy tới lui ngoài đường phố. Tôi không hiểu họ đi đâu, nhưng chỗ nào cũng thấy họ đi với hành lý. Bây giờ đã có thể nghe tiếng bom rơi gần Sàigòn. Chưa bao giờ trong đời tôi nghe chiến tranh đến gần như thế.

Ngày 29, nhìn lên trời tôi thấy có hai máy bay trong tư thế đánh nhau. Lúc đó vào buổi trưa. Chúng tôi không biết đó là máy bay gì. Tôi không biết gì về máy bay cả, nhưng tôi biết có hai chiếc máy bay đang bắn phá.

Sau khi ông Minh tuyên thệ nhậm chức, cha tôi nói: “Thế là hết. Chúng ta thua rồi. Mình phải đi. Tất cả đều đã mất.”
Gia đình chúng tôi chuẩn bị đồ đạc sẵn sàng vào ngày 29. Điện thoại reo vang từ sáng. Hễ cúp điện thoại xuống là lại reo. Những cú điện thoại do người quen gọi, những người khuyên gia đình chúng tôi đi, những người gọi lại hỏi ý kiến cha tôi. Có nhiều người quyết định việc ra đi hay không căn cứ theo gia đình chúng tôi. Nếu cha tôi chưa bỏ đi thì có lẽ tình thế không đến nỗi nghiêm trọng. Họ chờ và cũng chờ đợi ý kiến cha tôi. Cứ thế, điện thoại không ngừng reo.

Tôi bắt đầu cảm thấy buồn. Tôi có cảm tưởng một việc gì rất xấu đang sắp xảy đến. Tôi biết bà hàng xóm, chồng đang ở Canada. Ông ấy đi vào tháng trước. Bộ dạng bà vô cùng rối loạn, cứ chạy tới lui với hai đứa con. Sau cùng, bà thu xếp đồ đạc và bỏ đi. Tôi nghĩ là bà ấy biết có một chuyến tàu sắp đi.

Có lần tôi thấy một chiếc máy bay trực thăng bay trên trời, nhưng không biết chiếc trực thăng này thuộc về ai, bay đi đâu. Chiếc trực thăng này muốn đáp xuống gần toà cao ốc của một nhóm tôn giáo. Tôi thấy viên phi công muốn đáp xuống mà không được vì có nhiều cột ăng – ten và dây điện. Cuối cùng, viên phi công phải bay đi. Lúc trước, ông ta muốn đáp xuống và khi gần xuống thì người ta đã tranh nhau muốn leo lên. Cha tôi không cho chúng tôi ra đường vì có quân lính bắn nhau ngoài đường. Nếu lái xe đi ngang là có thể bị bắn. Vì thế chúng tôi bị nhốt cứng trong nhà.

Cuối ngày 29, chúng tôi biết chắc chắn thành phố coi như mất rồi. Tôi nhớ cha tôi nói rằng hai kẻ thù lớn nhất của chúng tôi là Thiệu và Cộng Sản. Cha tôi nói: “Đừng bao giờ quên những gì họ đã làm! Thiệu và Cộng Sản.”

Điện bị cúp vào ngày 29, chúng tôi phải dùng đèn cầy. Cha tôi lấy giấy tờ tài liệu đem đốt, đổ tro xuống cầu tiêu. Ông cũng lấy hết súng đạn ra, bỏ vào thùng rác công cộng. Cuối cùng, ban đêm, khoảng 11 giờ khuya, gia đình tôi nhận cú điện thoại của người chỉ huy trưởng một chiến thuyền. Ông đã gọi vài lần, cuối cùng ông ấy nói với cha tôi là phải quyết định mau nếu muốn đi. “Tôi sẽ cho mấy chiếc xe Jeep đến đón gia đình anh và cả gia đình vợ trước của anh nữa. Anh có thể mang mọi thứ anh cần!” Cha tôi suy nghĩ nhiều. Cuối cùng khoảng nửa đêm, bạn ba tôi gọi một lần nữa, nói: “Tôi phải đi, không thể chờ được nữa.” Cha tôi nói: “Thôi anh đi vậy”. Cha tôi quyết định ở lại.
Ngày hôm sau, Cộng sản tiến vào Sàigòn bằng xe tăng. Họ lái đến Dinh Tổng thống. Mẹ tôi khuyên ba tôi dời nhà, đến một căn an toàn hơn để tránh mặt Cộng sản. Vào buổi sáng, cha tôi chất chúng tôi lên xe hơi, chở chúng tôi đến đó, bởi ông sợ gia đình chúng tôi sẽ bị giết hại, nếu vẫn ở tại nhà. Thiên hạ xem chừng rối loạn, không được bình thường. Buổi sáng đó, khi ba tôi lái xe chở chúng tôi đi, tôi chứng kiến nhiều cảnh. Tôi thấy xe tăng tiến vào dinh tổng thống, cán dẹp hàng rào sắt của dinh. Tôi không nhìn thấy nhiều và rõ hơn vì ba tôi lái lẹ quá.

Tiếp đến, tôi thấy lính cầm cờ với ngôi sao vàng. Tôi nói: “Thôi rồi ! Thế là hết!” Lúc đó nỗi sợ hãi lan tràn. Chúng tôi sợ bị giết. Tôi thật lo sợ cho cha tôi hơn là lo cho bản thân chúng tôi. Trong thân quyến, ai cũng sợ cho ba tôi.
Đường xá vắng hơn những ngày trước. Vào buổi sáng đó, có lẽ xe tăng nhiều hơn người.

Nơi chúng tôi ở lúc trước có 36 căn nhà. Có một gia đình tỏ vẻ thật là vui. Liền sáng đó, họ đeo băng tay đỏ, chứng tỏ họ là Cộng sản. Họ ra mặt, ngày 29 thì chưa. Nhưng ngày 30, họ lộ diện. Có lẽ vì vậy cha tôi mang chúng tôi đi thật lẹ sáng hôm đó. Mẹ tôi khuyên cha tôi mang chúng tôi đến toà nhà lầu này, gần nơi mẹ tôi ở, vì những người ở đó là bạn mẹ tôi, họ sẽ giúp đỡ chúng tôi.

Đường xá vắng tanh, giống như sau một trận giặc. Đồ đạc ngổn ngang, đầy rẫy y phục quân nhân, có nhiều món đang cháy. Rác rưởi um sùm. Nhiều chiếc xe bị vất bỏ ở ngoài đường. Đường phố chỉ thưa thớt vài chiếc xe chạy. Không có các trạm kiểm soát, không có những quân lính cướp bóc. Họ mắc bận xục xạo các dinh thự.

Quân đội Cộng sản chạy vượt ngang xe chúng tôi, nhưng họ không tỏ vẻ quan tâm. Chúng tôi nhìn họ, họ nhìn chúng tôi, ba tôi lái xe vượt qua thật lẹ. Tôi có ý nghĩ là quân đội Cộng Hoà ăn mặc chỉnh tề, quân phục đẹp và vừa vặn hơn. Mấy người lính cộng sản mặc quân phục quá rộng, có vẻ như lạc lõng, cũng như chúng tôi. Ông có biết họ giống cái gì không? Giống như là du khách đi lạc vậy?

Không ngờ nơi chúng tôi đến lại là nơi ở của người Cộng sản. Thật ra là những người nằm vùng. Chúng tôi rất quí mến ba người bạn mẹ tôi mà tôi gọi là dì và người đàn ông chúng tôi gọi là chú, chúng tôi biết họ từ khi còn trẻ thơ. Nhưng chúng tôi không bao giờ ngờ họ là cộng sản. Chúng tôi hỏi xem có thể tạm ở đó không, họ nói không sao. Mẹ tôi biết rõ mọi chuyện nhưng cha tôi thì không. Cha tôi lo lắng, mẹ tôi cũng lo cho cha tôi. Nhưng họ nói không ai có thể xâm phạm căn nhà này. Người ta có thể vào các nhà bỏ hoang, nhưng trong căn nhà này, cha tôi và chúng tôi sẽ được yên ổn, không ai hãm hại gia đình chúng tôi cả. Cha tôi nói “Tốt lắm”, ông đưa chúng tôi vào. Ông chạm trán những người mà ông chưa hề gặp. Những người này có bộ dạng rất khác lạ. Cha tôi liền bước ngay trở ra khỏi căn nhà. Ông dặn: “mấy con ở đây, các con sẽ được an toàn, nhưng ba phải đi liền”.” Chúng tôi không hiểu tại sao cha tôi phải đi vội vã như thế. Tôi nói: “sao ba kỳ vậy? Sao không ở đây? Nơi này rất an toàn mà” Cha tôi nói: “Im đi cứ ở đây. Cứ làm như bình thường, đừng nói nhiều, như vậy các con sẽ bình an”. Cha tôi không nói cho chúng tôi biết ông sẽ đi đâu.

Tôi có một cái giỏ nhỏ, trong đó chứa những vật dụng cần thiết như thuốc, bàn chải đánh răng, kem đánh răng, tôi nghĩ cũng có tiền nữa. Cha tôi gởi bảy chị em tôi ở đó với những người lạ lùng này. Họ có điệu bộ kỳ kỳ. Họ có vẻ thư thái, vui vẻ. Chúng tôi sợ muốn chết, còn họ cứ nhìn chúng tôi mỉm cười.

Họ hỏi chuyện chúng tôi, nhưng cha tôi đã dặn là không được nói nhiều. Họ hỏi: “ “Bây giờ đất nước được giải phóng rồi, các cháu cảm thấy ra sao? Có thích không? Các cháu nghe chính phủ ngụy nói gì về Việt cộng?” Tôi còn khờ dại nên nói: “Mấy bác biết không, nếu cộng sản bắt được người nào sơn móng tay, họ sẽ rút móng tay và hành hạ những người đó. Thêm nữa, ai giàu có và làm việc cho chính phủ trước, họ sẽ bắt và hành hạ những người này. Tụi con nghe vậy đó!” Họ cười xoà khi nghe thế.

Họ không nói gì khác, ngoài việc hỏi chúng tôi đã nghe những gì, cảm thấy thế nào. Tôi kể cho họ những gì tôi đã nghe. Họ nói: “Ở đây các cháu rất yên ổn, không việc gì xảy đến cho các cháu đâu. Vậy bây giờ cháu nghĩ sao?”. Khi họ nói thế, tôi bắt đầu thấy không ổn vì có lẽ tôi đã nói quá nhiều. Do đó tôi nói: “con nghĩ đó là tin đồn chính phủ nói láo thôi!” Tôi biết có việc gì đây. Họ không tuyên truyền cho Cộng sản, họ chỉ nói là: “Bây giờ cháu đã thấy sự thật. Chúng tôi không hại người.” Từ đó, tôi ngậm im luôn.

Chúng tôi ăn ngủ ở đó. Thiệt khó chịu. Sau trận hỏi đáp, tôi bắt đầu hiểu. Tôi hiểu họ không phải là người ở phía chúng tôi. Tôi thật không sợ hãi, chỉ lo lắng. Một cảm giác kỳ cục. Tôi chẳng có thể làm gì được, chỉ phải chờ. Tôi không hiểu chuyện gì sẽ xảy đến cho chúng tôi. Chúng tôi sẽ phải ở đây bao lâu, khi nào cha mẹ chúng tôi mới đến đón chúng tôi về. Chúng tôi không đi ra ngoài đường, chỉ nhìn qua cửa sổ.

Sau ngày 30, mọi nơi đều im lặng vắng vẻ. Mọi người đều ở trong nhà. Không có ai mua bán gì.

Ba bốn ngày sau, mẹ tôi đến đón chúng tôi về. Chúng tôi về nhà mẹ ruột tôi, ở gần đó. Cha tôi đã vào Chợ Lớn vì có bà con trong ấy. Thật ra, lúc đầu chúng tôi không biết cha tôi ở đâu, không ai chịu nói cả. Gia đình tôi sợ người Cộng sản sẽ hỏi chúng tôi. Cha tôi ở trong Chợ Lớn đến tháng Năm, khi tình hình có vẻ tạm yên và chính phủ mới nói là người chế độ cũ phải đi học tập cải tạo. Căn cứ trên chức vụ, ông sẽ phải đi từ ba tuần đến ba tháng. Những người chức nhỏ hơn thì đi một cho đến ba tuần.

Chúng tôi không biết gì nhiều về cha tôi nữa. Tôi nhớ mẹ tôi đã mang tôi vô Chợ Lớn gặp cha tôi. Tôi nghe cha tôi than phiền với mẹ tôi về việc đem chúng tôi đến căn nhà bạn bà: “Bộ bà điên hay sao? Bà kêu tôi đi thẳng vô hang cọp.” Mẹ tôi nói: “Tôi đâu có biết”. Cha tôi nói: “Sao bà biểu tôi đến đó? Bộ bà không biết là đó là hầm rắn hay sao? Vừa bước chân vô cửa, tôi biết ngay họ là ai, bởi thế tôi đã phải để mấy nhỏ đó và bỏ đi ngay đó.” Tôi không hiểu sao cha tôi biết.

Cha tôi tiếp tục ở trong Chợ Lớn cho đến khi ông bị gọi. Tôi nghĩ là ông đã đắn đo nhiều về việc nên đi trình diện hay không, nhưng sau cùng ông nghĩ là đi phứt cho rồi vì không thể nào lẩn mặt được mãi. Vả chăng, chỉ đi ba tháng thôi. Do đó, ông đành đi.

Vào khoảng tháng Năm, chúng tôi trở lại nhà. Gia đình Việt cộng ở khu nhà tôi đã bắt đầu tổ chức, trở thành lãnh đạo 36 căn nhà trong khu đó. Ai nấy phải theo kỷ luật mới. Thật ra cũng không có gì rõ rệt. Họ chỉ kiểm soát chúng tôi vậy thôi. Chúng tôi không dám mua bán gì. Chúng tôi không dám đi chợ. Tôi không nhớ đã ăn gì để sống. Có lẽ chỉ ăn đồ khô dự trữ thôi.

Cha tôi đi trình diện tại một địa điểm mà nhiều người phải đến để trình diện. Chỗ đó gần sở thú. Người ta xếp hàng thiệt dài, người nào cũng có hành trang. Họ không biết họ phải cần món gì, do đó họ mang theo áo quần và vài thứ cần dùng. Có nhiều hàng dài và người Cộng sản ngồi ở bàn để nhận người. Chúng tôi, gồm có mẹ kế tôi, chị lớn tôi, và tôi đứng đó chờ với cha tôi. Đến phiên cha tôi tiến lại bàn. Tôi nhớ là ông được biểu phải lột đồng hồ và vài món đồ khác. Và ông đã trình diện xong. Chúng tôi không biết họ sẽ đem những người đến trình diện đi đâu, nhưng cha tôi phải đi.

Từ đó, chúng tôi không còn biết họ đưa cha tôi đi đâu.

lời muốn trên môi

10735644_826194720769236_378143114_n (1)

nên từ nay sẽ thôi
nhưng tóc còn bay gió
hương xưa một chỗ ngồi
nắng qua mầu nơ đỏ

mưa từ xưa đã thôi
thấp thoáng còn nỗi nhớ
ngày nắng lụa trên đồi
bờ môi và tiếng thở

nên có lúc từ đêm
trong hương hoa quỳnh nở
ai bật một que diêm
nghe mầu tinh tú vỡ

những hạt bụi trần gian
bay trời khuya lấp lánh
em ngước mắt còn thơ
nghe nhập nhoà nhân ảnh

nên từ nay sẽ thôi
nỗi buồn em dâng hiến
sương đọng giữa vần thơ
bay bay mầu biến hiện

Ngô Yên Thái

EM ĐI QUA MÙA THU

nguyenanbinh
Em mang mùa thu đi
Mưa rất nhiều bong bóng
Bàn tay che gió lộng
Mặt nào cũng hư hao.

Không còn nghe lời chào
Tiếng chim non buổi sớm
Làn heo may vừa chớm
Tóc người giọt sương rơi.

Em mang mùa thu trôi
Trên tầng cao gió biếc
Lời hẹn hò nuối tiếc
Cõi đời quá quạnh hiu.

Nhà ai khói lam chiều
Níu chân tình hai đứa
Một thời bên khung cửa
Mơ màng mối tình thơ.

Em mang mùa thu xa
Tiếng đàn cầm thánh thót
Chim theo mùa nhả hột
Tương tư, một đóa quỳnh.

Hương đêm đợi bình minh
Hoa cải vàng chợt nở
Nhớ áo em qua ngõ
Thu phai dấu chân người.

Nguyễn An Bình

THẢO THƠM RẰM THÁNG BẢY

phantranghy

Lâu rồi ý niệm của câu tục ngữ Rằm tháng Bảy, kẻ quảy người không vẫn cứ in sâu trong lòng tôi. Tôi vẫn còn nhớ lúc cuộc sống khốn khó, tôi đã từng nghĩ, ừ thì mình có thì mình có mâm lễ, còn không thì năm ba cây hương cũng được. Rồi cũng qua chuyện cúng kiến, lễ bái.
Thế nhưng, trong tôi mãi vọng lên điệu kinh cầu về Rằm tháng Bảy. Đây là mùa báo hiếu của các Phật tử, của những người con đối với mẹ cha. Mục Kiền Liên là hiện thân của người con hiếu thảo. Trước tội lỗi của mẹ, Ngài có oán trách đâu. Chỉ có lòng nguyện cầu xin lượng hải hà vô biên của Bồ tát, cứu vớt linh hồn mẹ. Trong tôi cầu mong đạo hiếu của Mục Kiền Liên soi rọi tâm hồn mình để ứng xử với cha mẹ, tiên tổ, với những tiền nhân sao cho phải.
Tôi cũng được biết thêm cách hiểu khác như là tâm niệm của nhân gian về Rằm tháng Bảy. Đó là dịp xá tội vong nhân. Không cần biết người đã mất là ai, là kẻ thế nào, chỉ biết đó là hồn oan của những người đã mất, những hồn tìm sự an bình trong sự cầu an của người trần thế. Tôi cũng từng nghe bà nội tôi kể chuyện cúng cô hồn Rằm tháng Bảy là cúng các hồn không nơi nương tựa, cúng hồn đói cái ăn – cái ăn bởi kinh bởi kệ. Người đã chết, dù có tội, ít ra đến Rằm tháng Bảy cũng được xá tội, mong được bình an nơi cõi phúc. Trước mắt tôi là những hồn ma vất vưởng xếp thành hàng. Họ đi, đi âm thầm, mong được xá tội. Trong tôi hiện lên những hình ảnh của những hồn trong “Văn chiêu hồn” của Nguyễn Du. Có thể họ là những kẻ đâm thuê chém mướn, cũng có thể họ là kẻ cướp vợ đoạt chồng kẻ khác, có khi họ dối dưới lừa trên, cũng có khi họ là kẻ có chức có quyền cướp đất cướp ruộng của dân. Cũng có khi, họ là kẻ tranh chức đoạt quyền, cũng có khi là kẻ buôn thần bán thánh… Nói chung, các hồn ma đều mong được ân xá. Trong tiếng cầu nguyện của người đang sống, trong trầm hương của Rằm tháng Bảy, tôi thấy các hồn ma như được hồi tâm. Họ thực sự ăn năn hối lỗi. Tôi như thấy các hồn đang nguyện xin được xá tội. Duy không thấy được hồn của những kẻ bán nước cầu vinh. Tôi chẳng thấy hồn của Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống ở đâu. Nghe đâu bọn chúng đang chịu hình phạt ở hoả ngục, phải “khóc lóc nghiến răng đời đời”(Kinh Thánh). Thảm thay ! Tội nghiệp thay !
Bất chợt trong tôi cũng hiện lên hình ảnh những con người thực ở cõi đời, họ cũng thiếu ăn, thiếu gạo, thiếu muối trong những ngày giáp hạt, trong những lúc bão lũ, thiên tai…Này đây là hình ảnh còm xương của bao trẻ, bao dân lành miền núi thèm hơi muối, chút cơm. Này đây là những bàn tay giơ ra đón nhận gói mì tôm, chai nước. Này đây là cái chết oan khiên khi qua con suối, bờ nương…Họ làm gì nên tội mà phải đói khổ ở cõi trần ? Họ làm gì nên tội mà phải chịu thay cho tôi, cho bạn ?
Cũng về Rằm tháng Bảy, tôi quên làm sao được những lời của thầy tôi nói về thời cuộc, khi tôi học lớp 8 năm học 1969 – 1970 ở trường Đông Giang, rằng Rằm tháng Bảy là lễ giỗ những người chết trận. Lúc đó tôi lơ mơ hiểu rằng đã là người chết trận là phải được người đời sau làm lễ tưởng nhớ ghi ơn sự hy sinh của họ. Tôi nhớ lại lời kể của thầy, rằng, nước ta có thời bị chia cắt làm hai, lấy sông Gianh làm giới tuyến. Nhưng binh lính tử trận của cả hai bên đều được đời sau hương khói. Tôi nghe lời thầy, rằng như thế mới hợp đạo làm người. Rằng tiền nhân có lúc bất đồng ý kiến, có lúc gây gổ, đánh nhau vì quyền lợi nào đó, nhưng suy cho cùng, để dân phụng thờ tưởng nhớ, phải là người có công với dân tộc. Ai vì dân tộc đều được phụng thờ. Quân Trịnh, quân Nguyễn vì ai mà một thời đổ máu ? Vì ai mà hy sinh ? Vì ai mà chút xương tàn không tìm thấy ? Hồn của các chiến sĩ hai bên có khác gì nhau trong và sau trận chiến ? Hồn của họ có khác gì nhau trong ý niệm của thời gian, trong sự phán xét của người cùng thời, của hậu thế ?
Tôi bâng khuâng, như thấy trước mắt mình hồn của những chiến sĩ hai bên thuở nào cùng lặng im nghe lời khấn niệm của người đang sống, của kẻ cầm quyền, của người theo đạo này, tôn giáo nọ đang mong linh hồn của họ được siêu thoát. Các hồn như đang trò chuyện cùng nhau. Không có oán thù, không có tị hiềm, khích bác. Chỉ có sự hoà hợp của những hồn chiến sĩ năm nào. Chỉ có sự nguyện cầu cho đất nước an lạc.
Bao nén hương lòng thắp trong Rằm tháng Bảy. Khói hương vẽ đường đi cho những hồn về nơi cực lạc. Khói hương mang lòng thành đến người đã khuất. Khói hương Rằm tháng Bảy thảo thơm hồn con dân Việt như là tấm lòng nguyện cầu an lạc đến cả thế gian.

Phan Trang Hy

HOA KỲ HỐT RÁC VIỆT NAM VỀ XÀI

thaiquocmuu

Ngày nay, người trong nước đi du lịch ra nước ngoài không ít, còn người có thân nhân ở nước ngoài nhiều hơn. Nhất là ở Mỹ. Nhờ đó, hai nền văn hóa Đông Tây không còn xa lạ, cách biệt như thời xa xưa. Tuy nhiên, dù du lịch đến Mỹ, định cư ở Mỹ hoặc có thân nhân từ Mỹ về nước kể chuyện Mỹ cũng không ai có thể tự hào biết nhiều về đất nước có gần 10 triệu cây số vuông.

Sau bảy, tám năm “thụ huấn” trong các trại “cải tạo” được trở về với gia đình. Tại địa phương nhà, tôi không còn là người mà là một thứ cặn bả, một thứ rác rưới của xã hội. Thậm chí còn tệ hơn thế nữa! Chừng tháng sau ngày về, trong khi tôi đang lui cui xách nước từ giếng lên, thì một “vị” du kích, đến tự lúc nào, đứng phía sau cái chòi không mái, không vách của tôi, vẫy vẫy tôi và nói to, “Ê! Thằng già vô biểu coi” (khi ấy tôi 42 tuổi). Tôi vội vàng chạy vô, đứng trước mặt “vị quan du kích” ấy. “Ông” ta, khoảng hăm ba, hăm bốn tuổi, đưa cho tôi tờ giấy và bảo, “Ngày mai đem lương khô một tháng vô rừng lấy cốt chiến sĩ đem về nghĩa trang liệt sĩ.”

Là kẻ khi trong tù bị vợ “chia xa”, về không có cơm ăn, quần áo duy nhất chỉ là bộ đồ phát trong trại mà lưng áo được vá trọn bao cát. Với bầy con 6 đứa nheo nhóc, đi làm công không ai dám mướn vì sợ vấy với hủi, họ sợ bị “mời, gọi” lôi thôi. Phải đi hái mót bắp, đậu, chuối chín, đu đủ chín trên cây ăn qua ngày, (vì trái chín không chuyên chở được, chủ rẫy thấy thương tình cho hái ăn)… thì… lấy lương khô đâu mà đem theo một tháng?

Tối hôm đó, tôi thì thầm với phụ thân tôi, để bầy con lại cho cha già 72 tuổi, đã bị đánh tư bản tan tác, nên nghèo xác xơ. Tôi trốn lên Sàigòn, không hẹn ngày về, mỗi ngày tay cầm ly, tay xách ấm nước bán trà đá ở bến xe, tối mướn chiếu ngủ ở đó.

Do sống bất hợp pháp. Nhiều đêm bị “giặc càn” tôi chạy thụt mạng.

May, nhờ Trời xót thương…

Tôi đến Mỹ ngày 22-02-1992, tính đến khi viết bài nầy thì… trong 76 tuổi đời mà nương thân xứ người hết 24 năm, coi như một phần ba cuộc đời “vừa làm Việt Gian vừa là Việt Kiều Yêu Nước”. Vậy mà tôi vẫn là thằng tôi, một kẻ chân quê thứ thiệt, là kẻ có dân tộc tính đầy mình, nhất định không thèm… nói tiếng Mỹ. Ra cửa, trên đường gặp người bản xứ, chẳng thèm “Hi!”, chẳng thèm “How are you?” gì ráo, tôi chỉ đưa tay lên cười là… xong.

Đi đâu gặp dân mũi tẹt da vàng đồng lứa nghe họ xổ tiếng Mỹ ì xèo, thấy hứng quá, không kềm lòng được tôi bèn xoạc, “Hao a-rờ du tùm lum”, kể cũng oai!

Ở Mỹ tôi trung thành với bản chất Chân Quê của Nguyễn Bính, vẫn “… cái yếm lụa sồi? Cái dây lưng đũi… cái áo tứ thân?… Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen?”

Lúc mới đến Mỹ, hội bảo trợ đưa tôi vào làm hãng (ở Mỹ dù là Corporation nhưng “dân ta” vì “tự ái dân tộc”, chẳng thèm gọi là Công ty mà chỉ gọi là hãng (Company) mà thôi) bào chế dược phẩm, đi đâu gặp bạn bè họ hỏi tôi làm gì? Tôi đáp, “lau chùi cầu tiêu”. Họ ngạc nhiên, “ở đây làm gì có hãng cầu tiêu mà cần người lau chùi? Nói thật đi cha, anh làm hãng gì?” / “Hãng bào chế dược phẩm, nhưng phần hành là lau chùi cầu tiêu” / “À ra thế! Nhưng nè, ai có hỏi thì anh nói là làm ở hãng dược chứ đừng nói lau chùi cầu tiêu nha!” / “Dược mẹ gì mà dược? Tôi chùi cầu tiêu thì nói chùi cầu tiêu. Sao lại phải nói là dược?” / “Ngày trước mình làm ông nầy ông nọ chẳng lẽ giờ qua Mỹ lại đi chùi cầu tiêu? Mình phải có tự ái dân tộc chứ anh!” / “Tự ái cái quái gì cho mất công, làm gì thì nói nấy cho xong. / Bộ anh không biết tự ái sao? Nếu mình làm Job (công việc) ngon thì mình nói để còn hãnh diện với người ta, chứ lau chùi cầu tiêu mà nói làm chi?”

Thì ra, nhiều người vẫn thích cái “ảo” giữa đời.

Chả trách, có lần về nước, khi trở qua Mỹ, ngồi nơi phòng chờ ở phi trường Tân Sơn Nhất, gần một “vị” khoảng gần năm mươi, dáng gầy gầy, tay chân gân guốc, màu da Phi châu… Buồn miệng tôi bắt chuyện mua vui. Khi tôi hỏi, “Xin lỗi, ở bển (Mỹ) chú làm hãng gì?” “Vị” ấy đáp rất “oanh liệt”, “Tôi có công ty riêng” / “Ồ vậy à! cho tôi xin lỗi”. “Trời bất dung gian”, vị ấy muốn đi vệ sinh, cô vợ đang đứng tán gẫu gần đó, trở lại ngồi trông hành lý ngay ghế người chồng vừa đứng lên. Tôi tự nhủ, “mình chân quê thứ thiệt mà nhìn cô nầy còn chân quê rặc ròi hơn mình nữa…” Tôi nghĩ ra câu châm ngôn, “Ở đâu, nơi nào cũng có người hơn mình” (hơn điều gì là việc khác). Thấy cô ta chân chất như khoai sắn, tôi gợi chuyện, “Bên Mỹ hai ông bà mở công ty gì vậy cháu?” / “Làm gì có công ty hả chú? Cháu đi làm hãng, còn chồng cháu thì cắt cỏ” (tức là nghề cắt cỏ thuê ở sân, vườn các tư gia). Lát sau, thấy vị ấy trở lại, tôi đứng lên, nhường ghế cho ông ta ngồi bên vợ mình.

Nhiều “Việt kiều ác ôn” ở Mỹ đi cày tróc vẩy, về nước nổ như B52 oanh tạc ầm ầm, như Việt Cộng pháo kích đùng đùng. Thiếu điều điếc con ráy.

Công ty Dược tôi làm, rất nhiều nhân viên có 5 restroom (phòng vệ sinh), mỗi restroom có 10 bàn cầu, 5 bồn tiểu, cứ luân phiên lau chùi hoài, hết cái nầy đến cái kia, ngày lau chùi 8 tiếng, muốn “ná thở” chứ chơi sao? Nói tội lỗi với trời đất, phòng vệ sinh ở Mỹ còn sạch sẽ hơn cái “biệt thất” của những người đồng bệnh “cải tạo” với tôi khi trở về sum họp vợ con.

Sau giờ “công tác” ở hãng về, tôi giết thời gian bằng cách viết văn, làm thơ gởi cho vài tờ báo. Sau hai năm lau chùi cầu tiêu, tôi gom góp tiền đi làm của ba đứa con, ra tờ Tạp Chí Kiến Thức Phổ Thông Dân Việt và sống bằng nghề báo đến ngày nghỉ hưu.

Về văn học, thỉnh thoảng bạn bè ở khắp năm châu – kể cả trong nước, khi ra tuyển tập, họ mời tôi hợp tác. Tính đến nay, có khoảng 60 tác phẩm văn học viết chung ở Mỹ, Pháp, Úc, Canada, Việt Nam… Còn riêng mình, tôi có 11 tác phẩm văn thơ, một tuyển tập nhạc và một CD ca cổ và chủ nhiệm trang nhà liêutiênsinh.com (vì tuổi già, tôi tự động bỏ mấy năm rồi).

Tính tôi “ngông ngông” ăn ra ăn, làm ra làm, khi “chơi” thì hết biết, nên sách tôi viết không cuốn nào dưới 350 trang, có cuốn đến 600 trang. (Khác xa với những vị đầy thông minh, họ in một tác phẩm chừng hơn trăm trang, đôi khi còn ít hơn nữa. Để hầu khi “rặn” thêm tác phẩm nữa ra điều “ta đây” ra mắt tác phẩm thứ hai!).

Những vị cầm bút xưa nay “bị bệnh khen” không tiếc lời, họ khen tôi tóe lửa, khen đáo để. Thậm chí có vị ở Việt Nam còn viết cả cuốn sách 400 trang chỉ nói về tôi và giao công ty Amazon ở Mỹ phát hành toàn cầu. Wow! Kể cũng vui!

Nhưng vốn là RÁC tôi không muốn mặt mình phình lên như xác chết ai kia để lại chỉ làm ô nhiễm môi trường xã hội.

Có những ông cầm bút thân thiết trong giới viết lách họ gọi tôi là “thợ đụng”, đụng thể loại nào tôi chơi thế loại đó! Chẳng kiêng cử gì cả. Từ Bình luận, phê bình văn học, truyện ngắn, truyện dài, các thể thơ, tản mạn, phiếm, cả Cổ Nhạc tôi cũng… chơi luôn. Có người với “ngụ ý chơi khăm” họ nói, “Thứ nào anh cũng “chơi!” Làm như tôi là lính viễn chinh khát gái vậy!

Về sinh hoạt văn học nghệ thuật, tôi được bầu làm Đệ Nhất Phó Chủ Tịch Trung Tâm Văn Bút Đông Nam Hoa Kỳ và Florida, là thành viên International PEN và thành viên Văn Bút Đông Dương (Indochine Writes In-Exile). Dự Đại Hội Thi Ca Quốc Tế ở nhiều quốc gia, Và vài lần dự Đại Hội Truyền Thông Báo Chí Hoa Kỳ.

Về sinh hoạt quần chúng, ngày kỷ niệm không quân Hoa Kỳ, tôi được làm khách mời, chụp hình chung với tướng tư lệnh ba sao, kể cũng hay hay!

Còn Bộ Trưởng Du Lịch Hàn Quốc, sang Mỹ, trước khi trở về nước, tổ chức bàn tiệc chiêu đãi 7, 8 người, chẳng biết vì sao cũng được Ban Tổ Chức mời dự. Tính tôi hay chiều người, ai “ép ăn” thì đi. Khi sắp tàn tiệc, ông ta trao tôi tấm danh thiếp và dặn, “khi nào đến Seoul, ở đâu xin gọi tôi”. Khi ra về, ông ta vội vàng bước ra cửa, cúi rạp người rồi bắt tay tôi chào tạm biệt. Trời! Làm như tôi là… Chủ Tịch Nước… (nào đó) không bằng.

Đọc tin tức, thấy anh chàng gốc Phi Châu da đen thui, người ốm tong muốn đổi chiến lược Hoa Kỳ bằng cách quay lại Châu Á Thái Bình Dương, tôi liền viết thư gởi cho anh chàng có màu da đen, ốm nhách ấy, nhắc nhở đôi điều…”. (Ông ta là người mà Putin Tổng Thống Nga, khi đối diện với đồng nhiệm đấu lý không lại, bèn hùng hồn mạt sát với thủ hạ, “Tôi đã từng đấu với gấu, chẳng lẽ lại sợ thằng ốm nhách nầy sao?” Thật lãng xẹt! Putin đúng là một lãnh tụ “gương mẫu”, một tay ngoại giao tầm cỡ, một cách nói “lịch sự” biểu hiện của kẻ còn thua… Rác Việt Nam như tôi)

Được thư tôi, anh ta mừng húm mấy ngày sau tôi nhận được thư hồi đáp. Thư gởi tôi anh ta cám ơn lia lịa, lại còn bày đặt khuyến khích tôi vào trang mạng White House để tham gia chánh quyền Hoa Kỳ. Trời! Làm như tôi là “Tiến sĩ gió!”

Được chút thành công trong viết lách, nghề làm báo, “thừa thắng xông lên”, tôi mở công ty Quốc Tế Vụ, đưa học sinh từ Việt Nam sang Mỹ học. Gõ đúng cửa vào thời gian Mỹ còn hạn chế du sinh từ Việt Nam sang Mỹ, lại thành công. Với “chiến thắng không ngừng nghỉ”, nghe lời người bạn rủ rê, tôi cùng anh ấy thành lập công ty xuất nhập khẩu THÁI & NGUYỄN IMEX, INC. đưa máy lạnh, máy giặt, máy sấy, xe gắn máy về Việt Nam, nhập hàng gỗ từ Việt Nam qua Mỹ. Ông Trời thấy “thằng nầy” tham quá, cho “chết” một lần để nó có kinh nghiệm sống. Thất bại 100%. Trắng tay! Giờ sắp theo ông theo bà, hưởng hưu và trợ cấp $700/tháng. Khi đau bệnh “bắt đền” chánh quyền Mỹ phải lo. Ai biểu để tôi bệnh làm chi, để “nó” lo cho đáng đời!

Đôi khi, bất chợt thấy trong người khác lạ, bảo con cháu gọi xe cứu cấp, vài phút sau, xe đến trước nhà, bốn năm “ông Mỹ” bấm chuông reng reng, đập cửa rầm rầm, vác băng-ca, dụng cụ cứu cấp,… chẳng khác gì bọn cướp hùng hổ xông vào nhà, chạy lên lầu, ông thì đo huyết áp, ông nghe mạch, ông “điều tra” hôm qua ăn gì, sáng nay ăn gì, đã uống thuốc gì, phải “thật thà khai báo”,… Không thì “ông” cho “tự vận” trong đồn Công an.

Xong, hè nhau khiêng ông cụ 70 ký xuống lầu, tống vô xe, đèn cấp cứu quay lia lịa, còi hú rợn người, trên đường tất cả xe đang chạy đều phải dạt ra hai bên đường và ngừng lại hẳn. Đến ngả tư đèn đỏ, còi hú dồn dập hơn, to hơn, báo cho xe chạy trên “khắp các nẻo đường đất nước” phải tránh xa, để xe cứu cấp vượt đèn đỏ khẩn cấp đưa “ông cụ về Dinh”.

Vào bệnh viện, nhiều cô y tá xinh như mộng, mỗi lần đo huyết áp miệng cười như hoa, khi tiêm thuốc, lụi xong thì “xin lỗi đã làm ông đau”. Hết y tá, đến Bác sĩ luân phiên hoài. Chán bỏ bu! Mẹ! Tôi chỉ là thứ Rác trong nước, mà Mỹ “nó ngô nghê” đến mức coi mạng sống tôi chẳng kém gì những công dân thượng đẳng trên thế giới. Đúng là “đồ điên!”

Nhớ lại, có lần về trong nước, tôi bị bệnh, “bồ nhí” đưa vào Chợ Rẫy, phải xì tiền mới được khám, mới có giường nằm, tim thuốc thì phải nạp vài chục ngàn để làm vừa lòng “quan y tá”. Không thì “sao biết sau sẽ ra sao!”

(Xin mở ngoặc, nói thêm chuyện xe cứu cấp, xe chống hỏa, để quý bạn đọc mua vui)

Hồi năm nẳm, một lần lái chiếc Mercedes đời mới, mua xong đi xin số xe, nhân viên phụ trách phải buộc miệng, “Xe ông đẹp quá! Đây là chiếc thứ hai ở tiểu bang mình”. Khi lái xe đi bưu điện lấy thư, lúc trở ra đường, chờ đèn xanh quẹo trái. Từ hướng trái, cách khoảng 300m, một xe chống cháy quay đèn, hụ còi inh ỏi, tự nghĩ còn xa, vừa lúc đổi đèn xanh quẹo trái liền, chạy chưa đầy 50 mét, nhìn kính chiếu hậu, thấy xe Police quay đèn sáng rực sau đuôi xe, tìm chỗ tấp vào, bấm kính xe xuống, hai tay để trên tay lái thì… xe cảnh sát “hộ tống” trờ tới, đậu sát bên.

Người cảnh sát nữ da màu, bụng bự, vú như hai trái dưa hấu, lúc lắc bước đến, “Chào ông, xe ông đẹp quá!” / “Cám ơn! Xin lỗi, tôi đã phạm lỗi gì?” / “Ông đã quẹo trước đầu xe chống cháy đang “thi hành công vụ”. “Ông có nhận lỗi không?”… Thế là… ký tên vào và nhận giấy phạt, chờ ngày “đối diện với quan tòa”.

Ngày ra tòa, ngồi chờ khá lâu, thì tới lượt “đứng trước vành móng ngựa” (nói vậy chứ chỉ đứng trước bàn làm việc của ông Tòa thôi). Quan tòa nói, “Ông có nhận lỗi không? / “Yes sir” / “Ông biết lỗi ông nặng lắm không?” / Yes Sir!” / “Thấy ông lớn tuổi, phạm lỗi lần đầu, tôi rất muốn tha ông, nhưng lỗi nầy nặng quá. Xin lỗi, tôi phải phạt ông $600 (sáu trăm). Ông có bằng lòng không?” / “Yes Sir!” / “Ông muốn khiếu nại không?” / “No Sir!”. Thế là nhận và “vác” giấy phạt đem về nhà.

Sau đó, nhận giấy từ tòa gởi đến, nội dung như sau: Nợ $600.00. Mỗi tháng trả tối thiểu $15.00. (cứ như vậy trừ dần cho tháng kế, đến khi nào trả hết thôi). Tính tôi vốn “sợ nợ”, liều mình, bấm bụng ký cái check trả quách một lần cho xong.

Tôi than với bằng hữu, “mới ra tòa, bị phạt sáu trăm”. “Họ hỏi, vụ gì vậy?” Đáp, “Đua với xe chống cháy.” Họ trợn mắt, cười rồi phán, “Đáng đời!”

Là kẻ lưu lạc quê người mà lọt thỏm vào thiên đàng hạ giới, thành công có, thất bại có, “vinh quang” tủi nhục đầy mình. Vậy mà, tôi vẫn là tôi. Vẫn chân quê rặt ròi của người dân Nam Bộ.

Ở Mỹ, sau 5 năm, vào quốc tịch Mỹ, nhiều người thay tên đổi họ cho thành công dân Mỹ chính thống. Còn tôi, vốn quê mùa vẫn giữ Thái Quốc Mưu, nhưng ở Mỹ người ta “tự cải biên” biến tên tôi thành “Mưu, Quốc Thái”. Tôi rất khó chịu về cái tên quỷ quái nầy. Vậy mà, bây giờ ở trong nước, thỉnh thoảng tôi thấy có người đã đảo lộn họ tên như thế!

Với tôi, cái tên của Cha Mẹ đặt cho tôi, cũng như với Tổ Quốc Việt Nam có cái gì thiêng liêng cao cả và vĩnh hằng. Vì thế, với tổ quốc, tôi có châm ngôn “Non sông tổ quốc cao hơn hết. Hãy đặt lên trên mọi vấn đề.” Bản chất thật thà, chân chất nhưng đầy khi phách của dân tứ chiếng Nam Bộ, nên tôi không theo phe phái, còn bạc tiền hay quyền lực nào đủ sức mạnh đẩy tôi vào còn đường phản bội quê hương, dân tộc mình.

Có lẽ do “NGU” nên tôi nên tôi chẳng biết “phi thương bất phú, phi mại quốc bất vinh thân”. Và, tôi tự bảo, tự an ủi mình, thà ngu như mầy để về sau không bị lịch sử lên án, dân tộc nguyền rủa.

Có lần chơi biển, tôi thấy các nàng Mỹ, chân dài như cây cau lão, cô thì mặc quần xì, cô kia nịt ngực đều may bằng hình lá quốc kỳ Mỹ. Thậm chí, có cô thêu 3 chữ USA ngay trên Cái Quạt Giấy của Hồ Xuân Hương. Lạ! Ở nhiều quốc gia khác, nếu có kẻ nào xâm mình, may quần lót, nịt ngực có biểu tượng lá Quốc Kỳ nước đó, thì chắc chắn không tù mọt gông thì cũng “tự vận” trong đồn công an.

Khi về, tôi đến nhà người bạn Mỹ cùng xóm, dùng tay “hỏi cho ra lẽ”, vì sao những người ăn mặc như vậy mà Police không bắt. Ông ta cười đáp, “người ta thích Quốc Kỳ, yêu nước của mình, họ mới mặc như vậy. Ông không nhớ ở nước ông thường hô hào, “chỗ đó” là cái ngàn vàng, vậy lấy Quốc Kỳ, lấy đất nước mình giữ cái nghìn vàng có gì là tội lỗi? Nhưng ông nên nhớ, khi Quốc Kỳ bị cũ, rách ông phải xếp lại đàng hoàng, cho vô bọc nilon rồi đem giao cho Bưu Điện hoặc Ngân Hàng gần nhất. Ngược lại, nếu ông không làm như vậy mà đem Quốc Kỳ Mỹ ném vào thùng rác thì ông sẽ bị truy tố trước tòa án.” Quái!

Sơ sơ đã thấy, ở quê hương tôi, tôi là Rác, thậm chí còn tệ hơn rác, người Mỹ hốt rác từ Việt Nam về nước họ đặt rác lên bàn. Đúng là tên Sen Đầm Quốc Tế “điên” quá đi thôi!

Phần trên, tôi cố tình “huênh hoang, xạo và nổ” để có cớ lấy tôi làm điển hình cho những thứ “RÁC” mà Việt Nam đem vứt bỏ để bọn “Đế Quốc Mỹ” tha hồ nhặt đem về nước Mỹ, để rồi ngày nay sang thế hệ thứ hai của Rác, trong quân đội Mỹ có một Chuẩn Tướng, hàng chục Đại Tá, vài chục Trung Tá, còn cấp dưới hơn thì hàng hà sa số. Tất cả đều được đào tạo đúng với tiêu chuẩn sĩ quan quốc tế. Còn hàng dân chính thì biết cơ man nào kể xiết!

Thế nào là tiêu chuẩn Sĩ Quan Quốc Tế, tôi không rõ lắm. Có điều tôi biết chắc chắn rằng, với học vị Tiến sĩ Y khoa (Bác sĩ) tốt nghiệp ở Việt Nam, nếu qua Mỹ mà không học lại thì chỉ có nước ngày cày 8 tiếng ở hãng mà thôi. Từ học vị Bác sĩ, ta có thể tự suy nghĩ tiêu chuẩn Sĩ Quan Quốc Tế khác với bọn sĩ quan đào tạo kiểu Tàu phù như thế nào?

Sĩ Quan được đào tạo như bọn sĩ quan Tàu phù nếu trôi dạt ra nước ngoài chẳng ma nào thèm dùng chúng điều binh khiển tướng. Còn sĩ quan Mỹ đến bất cứ quốc gia nào cũng được “nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa”. Đó là điều không ai có thể chối cãi.

Nếu thế hệ RÁC thứ thứ nhất ở Việt Nam, “không bị Đế Quốc Mỹ” hốt về Mỹ, thì những thứ RÁC như TUI làm sao được ngồi chung bàn “đớp hít” với Bộ trưởng Du Lịch Hàn Quốc? Làm sao được đứng chung chụp hình với Tướng Tư Lệnh Không Lực Mỹ, với Đại Sứ Mỹ, với mấy ông Giám Mục, Tổng Giám Mục cùng vô số Học giả, Tiến sĩ, Viện Sĩ… ở khắp nơi trên thế giới?… Và, làm gì có thế hệ RÁC thứ hai lớn lên ở Mỹ, đã cung ứng cho đất nước Mỹ vô số nhân tài, như Sĩ Quan, Hạm Trưởng, Nghị Viên, Dân Biểu, Thượng Nghị Sĩ, Cố Vấn Chánh Phủ, Bác sĩ, Luật sư, Nhà khoa học, Học giả… vân vân và vân vân.

Và, giả sử, nếu bây giờ thế hệ RÁC thứ hai đó còn ở lại Việt Nam họ sẽ như thế nào? Câu hỏi ai cũng có thể trả lời: “Lượm bọc là cái chắc!”

Nếu đất nước tôi không phí RÁC cho Mỹ hốt đem qua Mỹ, thì giờ đây làm gì có “huyền thoại” “Tập Cận Bình” hay quan chức của ông ta sang Mỹ phải đi cửa hậu để tránh bị RÁC ném thứ gì đó vào mặt mũi? Buồn thay!

Tiếc thay, đất nước tôi đã một thời hoang phí “RÁC!” Ai là kẻ chịu trách nhiệm những sai lầm nghiêm trọng và mất mát lớn lao nầy?

Người viết không đủ khả năng trả lời.

Atlanta, Aug. 01, 2015
Thái Quốc Mưu

MÙA THU PARIS…

cungtramtuong

Mùa thu Paris
Trời buốt ra đi
Hẹn em quán nhỏ
Rưng rưng rượu đỏ tràn ly

Mùa thu đêm mưa
Phố cũ hè xưa
Công trường lá đổ
Ngóng em kiên khổ phút, giờ

Mùa thu âm thầm
Bên vườn Lục-Xâm
Ngồi quen ghế đá
Không em buốt giá từ tâm

Mùa thu nơi đâu?
Người em mắt nâu
Tóc vàng sợi nhỏ
Mong em chín đỏ trái sầu

Mùa thu Paris
Tràn dâng đôi mi
Người em gác trọ
Sang anh, gót nhỏ thầm thì

Mùa thu không lời
Son nhạt đôi môi
Em buồn trở lại
Hờn quên, hối cải cuộc đời

Mùa thu! mùa thu
Mây trời âm u
Yêu người độ lượng
Trông em tâm tưởng giam tù

Mùa thu!… Trời ơi! Tình thu!

CUNG TRẦM TƯỞNG

Ðợi Mãi, Giọt Sương, Mai Thôn

vienlinh
Ðợi mãi nàng không thấy hiện lên
Ở đâu về gấp hỡi hồ tiên
Muông nương thảo dã cầm tinh nữ
Cửa ngõ trăng mờ mộng thiếu em.

Nhà học đêm mưa mộng thấy nàng
Thân ngà lồng lộng mở từng trang
Cái yêu ẩn mật trong lòng ấm
Một giọt sương chìm giữa chấm son.

Người đến Mai thôn trọ một đêm
Ðược cùng Mai nữ ngủ chung mền
Sáng ra chỉ thấy nằm trên cỏ
Và một cành mai trắng ở bên.

Viên Linh

ÁO EM CÀI HOA TRẮNG

download (1)

Tôi được đi học chậm hơn mọi đứa trẻ khác . Sáu tuổi mà vẫn chưa ôm sách tới trường . Nguyên do vì má tôi đau bệnh dai dẳng, má không muốn tôi sống xa cách, dù mỗi ngày chỉ bốn năm giờ đồng hồ . Khi má tôi phát bệnh thì bác sĩ đã cho ba tôi biết là má tôi sẽ không sống lâu thêm được quá hai năm . Má không được nghe điều đó nhưng tự xét sức khoẻ của mình, má biết là con đường đi của má không còn dài lắm . Mặc kệ những lời trấn an liên tiếp của ba tôi, má giữ một thái độ cam chịu và chờ đợi .

Thấy tôi cứ lêu bêu quấn quít cạnh mẹ, ba tôi có lần gắt:

— Em phải để cho con nó học chớ . Bằng tuổi nó người ta đã vào lớp tư rồi . Trẻ con lên bốn tuổi, người ta đã cho vào ấu trĩ viên để chúng vừa chơi vừa học .

–Học sớm hay muộn gì rồi cũng sẽ đến đích một lượt . Đứa bốn tuổi học một năm bằng đứa năm tuổi học sáu tháng . Đứa năm tuổi học sáu tháng bằng đứa sáu tuổi học ba tháng .

–Anh biết rõ điều đó . Nhưng nó đã sáu tuổi rồi mà chưa đi học được tháng nào .

–Thôi, để em dạy con .

Má tôi gom những miếng bìa cứng, cắt thành từng mảnh vuông to bằng bàn tay . Má vẽ lên đó những cái vòng tròn, những cái hình mà má gọi là lưỡi câu , cái gáo, con cá . Má chỉ cái vòng tròn và bắt tôi gọi bằng O, cái lưỡi câu bằng i, cái gáo bằng q, con cá bằng e . Lưỡi câu là cái tôi không hề biết nên tôi hỏi lại :

–Lưỡi câu là cái gì vậy má ?

Má tôi ngạc nhiên bởi câu hỏi . Má nhìn tôi giây lâu rồi đưa bàn tay mềm mại vỗ lên đầu tôi . Má nói :

–Ờ ! Con chưa biết cái lưỡi câu . Đó là mô.t cái kim nhọn bẻ cong lại, nơi đầu người ta móc một con mồi vào .

–Con mồi là con gì, má ?

–Là con trùn, con dế hoặc nhiều khi là miếng bánh, miếng cơm, những món mà con cá nó thích ăn .

–Móc con mồi vô cái kim chi vậy ?

–Để đem thả xuống nước . Con cá thấy mồi, mừng quá, lật đật bơi lại táp . Miệng cá dính vào cái kim, người ta giật lên, cá không chạy trốn được, người ta bắt nó .

Tôi chỉ nhìn xuống hình vẽ con cá trên một mảnh bìa cứng (chữ e của má tôi đó) hỏi lại má tôi :

–Người ta bắt con cá này phải không má ?

Má tôi mỉm cười, gật đầu . Tôi lại hỏi:

–Má có đi bắt những con cá bằng cái kim uốn cong như vậy không ?

–Có . Hồi nhỏ má có đi bắt như vậy . Người ta gọi là đi câu .

–Sao má không cho con đi bắt ?

–Khi nào rảnh, vào ngày chủ nhật hay ngày lễ, ba con sẽ dẫn con đi câu một lần .

Tôi lắc đầu:

–Không, con muốn má dẫn con đi . Con không muốn ba dẫn .

–Má bệnh, má đâu có đi được ?

–Thì hôm nào má mạnh má dẫn con đi .

Má tôi “ừ” và lặng lẽ nhìn tôi . Một lát, thấy từ nơi khoé mắt của má có hai giọt nước mắt chầm chậm ứa ra, lăn dài chạy xuống cằm . Tôi không hiểu tại sao điều tôi yêu cầu có thể làm má tôi buồn như vậy . Sau này lớn lên, ngồi nhớ lại tôi mới hiểu . Một người đã đoán biết được ngày chết gần kề của mình mà phải hứa với con một điều mình biết chắc không thể nào thực hiện được ! Không những không thực hiện được việc dẫn con đi câu cá, cả đến việc được ngồi cạnh con trước những tấm bìa cứng này cũng không còn kéo dài được bao lâu nữa .

Tôi học không được bao nhiêu chữ . Bởi ngồi với tôi chừng một lát thì má phải nằm nghỉ . Tôi sung sướng nằm theo, cạnh má, tay cầm xấp “bài học” xếp xếp như người ta đánh bài . Tôi nói với má:

–Nằm học khoẻ hơn, má há ?

–Ừ .

–Sao ở trường học họ không cho học trò nằm ngửa mà học ?

–Nằm ngửa ra, tụi nó ngủ quên hết .

Tôi gật đầu, ờ ờ .

Dù khi tôi ngồi cạnh hay nằm cạnh, má cũng hay lấy bàn tay rờ đầu tôi, vuốt ve lên má, lên cằm, lên tai tôi . Dường như để xác định rằng tôi có hiện diện đó thực, tôi, vật quí báu nhất do má tạo ra và má sắp bỏ lại trên cõi trần này .

Ba tôi bắt gặp mấy lần lối học “nằm ngửa” này của tôi . Ông kiểm soát lại xem có chữ nào còn sót lại trong khối óc ưa nằm ngửa đó không và rõ ràng là một tư thế như vậy làm cho mọi chữ nghĩa đều trôi tuột đâu hết . Ông nghiêm sắc mặt bảo tôi:

–Ngồi dậy mà học .

Tôi líu ríu ngồi dậy .

–Lại nơi bàn mà học .

Tôi líu ríu đi lại bàn .

–Sắp lên bảy tuổi rồi mà học chưa hết hăm bốn chữ cái . Bằng tuổi mày, người ta đều học lớp tư .

Má không phân biệt cho tôi chữ nào đực, chữ nào cái .

Tôi đoán chữ i, chữ t gầy gò là đực , chữ o, chữ a mập mạp là chữ cái .

Thường thì tôi nghe lời ba tôi lại bàn ngồi ngay ngắn, nhìn xuống mặt chữ và lẩm nhẩm gọi tên nó . Má tôi im lặng để nhường tiếng nói cho ba tôi .

Một hôm tôi ngoan ngoãn nghe lời ba líu ríu lại bàn thì má tôi cất tiếng :

–Thôi, cho con đi chơi .

Tôi không biết nên nghe lời ai . Nghe lời má thì tôi sướng quá rồi, nhưng ba tôi còn đứng đó . Mà ba tôi thì không nghiêm khắc nhưng ông biết bắt người ta vâng lời . Tôi biểu lộ sự lưỡng lự bằng cách vẫn đi bước tới nhưng bước chậm lại .

Má tôi giục :

–Con chạy ra ngoài chơi đi con .

Tiếng ba tôi:

–Thôi, cho con đi chơi .

Tôi nghe lời ba, đi rẽ ra phía hành lang . Vừa bước ra khỏi phòng thì nghe tiếng nói của má tôi:

–Anh đừng làm cho con sợ .

–Anh không muốn vậy, nhưng phàm uốn tre thì phải uốn khi nó còn là măng . Anh tập cho con biết nghe lời phải .

–Phải uốn dịu dàng!… Em biết là em quấy khi giam giữ con ở cạnh mình mà không chịu rời nó ra cho nó đi học . Nhưng anh ơi, em đâu có còn sống được nhiều ngày tháng ? Bác sĩ nói với anh là bệnh em sẽ chữa khỏi . Anh đừng tin . Em biết sức khoẻ của em mà . Vì vậy mà em muốn sống quây quần bên cạnh con những ngày chót của đời em .

Tiếng má tôi khóc nấc lên làm tôi bàng hoàng . Tôi đi trở ngược lại và qua khung cửa mở, tôi thấy ba tôi cầm tay má tôi . Má tôi lấy khăn lau nước mắt:

–Con nó nhút nhát vì từ nhỏ đến giờ nó chỉ sống cạnh em . Gần như không tiếp xúc với những trẻ con khác . Vậy anh đừng làm cho con sợ . Anh phải thương con bằng tình thương của anh và thay em mà thương con bằng tình thương của người mẹ . Bổn phận thứ hai nặng hơn bổn phận thứ nhất .

Má tôi ngậm một chéo khăn mù-soa như để ngăn chận tiếng nấc .

Những tấm bìa cứng tỏ ra bất tiện mỗi khi tôi muốn nhìn lại gương mặt của một chữ . Cứ lật lên, bỏ xuống, loay hoay kiếm hoài . Đôi khi miếng bìa mang chữ cái tôi muốn kiếm lại không nằm trong “bộ bài” đó mà nằm lạc ở một nơi nào khác . Ngày nào cũng có dịp để lục tứ tung mền gối với mục đích tìm chữ . Rất tốn thì giờ . Bởi vì kiếm chữ thì không ra mà lại gặp toàn những thứ mình không định kiếm . Chẳng hạn hòn bi . Rõ ràng là hôm kia tôi ngồi bắn bi một mình ở ngoài mái hiên, thế mà buổi chiều ra mái hiên để tìm bắn tiếp thì một hòn biến đâu mất . Chạy kiếm sáng con mắt, chẳng chỗ nào có . Má tôi đưa hai đồng sai chị bếp ra hiệu sách mua cho tôi hòn bi khác . Bây giờ khi tìm chữ mà học thì lại thấy hòn bi đó nằm dưới tấm “ra” . Chẳng hạn tìm thấy cái móc tai . Hôm qua ba tôi ngứa tai, tìm cái móc tai nhưng không thấy, ông la vang cả nhà . Bây giờ không tìm thì nó lại nằm tô hô ra đó . Nhưng tôi không chịu nhặt đem đi cất ngay để trưa về đưa cho ba đâu . Tôi phải dùng nó để móc tai tôi cái đã . Công việc đó làm tôi say mê và khi tôi chịu rời nó ra thì bên phòng ăn đã nghe tiếng muổng nĩa rổn rảng .

Má tôi nhận thấy sự bất tiện của phương pháp học bài trên bìa cứng nên một hôm đưa tiền cho chị bếp sai ra hiệu sách mua cho tôi một cuốn vần .

A! Có cuốn sách mới chính hiệu là học trò đây! Tôi giành lấy quyển sách . Nhìn xem cái bìa thấy có vẽ hình hai đứa con nít đang lật mở cuốn sách . Tôi nói:

–Học cuốn sách phải cần có hai đứa không má ? Con học có một mình thì học sao được ?

–Má sẽ cùng học với con .

–Nhưng má đâu phải là con nít ? Đứa con gái này lớn hơn thằng kia một chút . Chắc là chị của thằng kia . Đáng lẽ má đẻ cho con một đứa chị gái như vậy .

Má gật gật đầu:

–Ừ . Đáng lẽ má đẻ cho con một đứa chị như vậy . Nhưng mà thôi, đưa sách đây má lật dạy cho con . Đây, cái lưỡi câu đây . Lưỡi câu là chữ gì ?

Tôi lật đật nói liền như sợ có ai tranh nói trước :

–Chữ i .

–Giỏi lắm . Chữ i dùng để viết đi học, đánh bi . Con coi hình vẽ thằng nhỏ đi học . Vài hôm nữa con cũng ôm cặp và xách ve mực đi học như nó vậy . Còn thằng này thì ngồi đánh bi . Hai đứa nhỏ này đang chạy thi .

Tôi vội lật qua trang sau để xem có món gì lạ trong đó . Tôi la to lên:

–A! Con cá! Con cá đang bơi .

–Tên con cá là gì con biết không ?

Tôi lắc đầu:

–Không .

–Cá thu . Con cá thu có chữ u .

Chữ o thì thật dễ nhận ra . Má tôi chỉ hình vẽ một chùm trái cây rồi hỏi:

–O chùm … chùm gì ?

Tôi nói liền:

–Chùm ruột .

Má bật cười:

–Chùm nho chớ sao lại chùm ruột ?

Tôi cười ồ theo . Tôi quen kêu chùm ruột chớ ít nói chùm nho . Trên lối đi ngoài vườn có đến ba, bốn cây chùm ruột . Mùa hè, trái lòng thòng từng chùm .

Má chỉ hình con ve sầu (dạy chữ e) rồi hỏi tôi con gì .

Tôi nhìn xuống hình, nhíu mày suy nghĩ một lát rồi nói :

–Con dán .

Má lại cười . Rõ ràng là sự học vẫn làm cho mẹ con tôi vui vẻ .

Có một trang vẽ làm cho má ủ dột nét mặt . Đó là trang dạy chữ ê vẽ hình một con dê mẹ cho dê con bú và con bò mẹ cho bò con bú . Con dê mẹ có bầu sữa thật lớn và đứng lom khom . Nó có một chùm râu nơi cằm nên không ra dáng một bà mẹ . Con bò cái trông dễ thương hơn . Nó quay lại nhìn con bú . Đôi con mắt trìu mến hiền từ, như mắt má tôi vẫn nhìn tôi khi tôi ngồi trong lòng má .

Học đến chữ q “con nhỏ quét nhà ” thì bịnh của má tôi phát nặng trở lại . Bác sĩ cấm không cho tôi được vào phòng má . Ba tôi âu lo, mỗi ngày gương mặt mỗi héo dần đi . Trong phòng má bước ra, ba đi thẫn thờ hoặc bước vội vã, và dường như ba không còn thấy sự hiện diện của tôi nữa, của chị bếp, của chị Năm giúp việc, của căn nhà, của mọi vật xung quanh . Có lẽ chỉ còn thấy sự hiện diện của cái cửa để bước ra, của cái bàn để đi tránh . Tôi buồn bã cô đơn, đem cuốn sách vần ra nhìn mặt chữ, nhìn hình vẽ . Lật xuôi lật ngược, đọc ngược đọc xuôi, nhưng cứ đến trang “con bé quét nhà” là dừng lại . Trang bên cạnh có vẽ con khỉ trèo cây . Chẳng biết chữ gì đó, đọc như thế nào và sự tích làm sao . Chắc phải hay lắm, thú vị lắm bởi một con khỉ thì không thể chán như hai trái đu đủ hay như cái lư đồng . Nhưng ai đọc cho tôi ? Ai giải thích cho tôi ? Thật ra thì ba tôi có thể chỉ cách đọc, chị bếp có thể chỉ cách đọc, nhưng tôi không muốn ai chen vào sự học của tôi để thay thế má tôi hết . Tôi chỉ tin ở má tôi thôi . Tôi chỉ an tâm thoải mái bên cạnh má tôi thôi . Đôi lúc ba tôi đi ngang cạnh tôi, đứng dừng lại, nhìn tôi ngồi trước trang sách . Tôi phải đọc vội những chữ u chữ e và đưa tay lật liền về những trang đầu sách . Khi vội quá không kịp lật ra trang trước thì tôi đưa bàn tay lại che cái hình con khỉ . Đáng lẽ ba tôi để ý tìm hiểu vì sao nhưng dáng ba mệt nhọc bơ phờ nên ba đứng dừng lại một chút rồi bỏ đi luôn . Tôi không muốn ba tôi nhìn đúng vào trang con khỉ trèo cây . Tôi sợ ba hỏi chữ gì rồi bày cho đọc luôn . Không! Tôi Để dành chữ đó cho má tôi . Tôi muốn nhìn đôi môi xinh xắn của má tôi đọc, ngón tay trắng thon của má tôi chỉ và tai tôi nghe giọng nói dịu dàng của má tôi phát âm tiếng đó . Tôi muốn má tôi kể cho tôi nghe về chuyện con khỉ đó như má kể chuyện con ve đi vay gạo của con kiến trong bài học chữ e, con tò vò nuôi con nhện trong bài học chữ t, đời sống của chúa sơn lâm, con sư tử giữa rừng Châu Phi trong bài học chữ s . Nhưng than ôi! Điều ao ước đòi hỏi của tôi không thể thực hiện đươc. Má tôi từ trần trong kỳ bệnh tái phát đó, má vĩnh viễn lìa bỏ tôi . Cuốn vần quốc ngữ chứng kiến sự ra đi đành đoạn của má . Nhìn trang bên này thì má tôi còn, nhìn trang bên kia thì má tôi mất . Con đường chỉ đóng ngăn cách hai trang như là con đường phân ranh giữa sự còn và sự mất, sự Sống và sự Chết của má tôi .

Má mất được hai tháng thì ba tôi dẫn tôi xuống trường Tiểu học Lai Đức xin cho tôi học lớp Năm . Cô giáo bắt dùng một cuốn sách vần khác không có vẽ hình con khỉ . Càng hay . Hình con khỉ nên chỉ để dành riêng cho má tôi và tôi thôi . Tôi không muốn ai dính dự vào đó hết . Hãy để cho nó giữ vẹn sự bí mật đối với tôi cũng như sự bí mật bao quanh má tôi từ khi má mất . Tôi không biết bây giờ má tôi ở đâu . Hài cốt thì chắc chắn là nằm ở nghĩa trang thành phố, dưới ngôi mộ đắp vun lên, xây đá, quét vôi trắng và phía trước có tấm bia ghi rõ tên má . Hàng chót của tấm bia ghi tên tôi, đứa con trai độc nhất của má mà người khắc bia ghi là: Trưởng nam phụng tự . Cái thân xác của má còn đó nhưng linh hồn thì phiêu lãng ở cõi nào ? Tôi không tin là cái linh hồn đó bị tiêu diệt đi được .

Từ ngày má mất, ba tôi dịu dàng với tôi nhiều hơn trước, mặc dù sự học của tôi không theo kịp nổi những đứa cùng tuổi . Ba tháng học của một thằng sáu tuổi kết quả bằng một năm học của một đứa lên bốn tuổi, điều má tôi nói có thể đúng, nhưng những đứa sáu tuổi lại không chịu ngừng học để đợi tôi, để cho tôi theo kịp . Chúng nó cứ học như điên và tôi phải vừa học theo vừa trả nợ liên miên . Trả nợ hồi lên bốn, trả nợ hồi lên năm, trả nợ hơn nửa năm lên sáu . Ba tôi khuyên:

–Con cứ yên tâm mà học . Chẳng cần phải vội chi . Lớp Năm, lớp Tư con thua chúng bạn nhưng lên lớp Ba, lớp Nhì con sẽ bằng, lên lớp Nhất con sẽ hơn . Con đường học vấn còn dài lắm .

Tôi nói thầm:

–Con cám ơn Ba, nhưng con sẽ cố gắng học để mau cho bằng chúng bạn . Con chỉ thua chúng bạn ở lớp Năm, bằng chúng bạn ở lớp Tư và lên lớp Ba con sẽ hơn . Con phải làm vui lòng má con, làm sao cho má khỏi phải hối hận là bởi má mà con đi học chậm trễ thua sút con người ta .

Tôi đã giữ lời hứa, dù đó là lời hứa âm thầm . Tôi đã can đảm ngồi lại bàn học lâu hơn những đứa bạn tôi, bị thúc đẩy bởi lòng yêu thương má tôi tha thiết không nguôi . Lâu lâu, tôi lén mở cuốn sách vần cũ, cuốn vần đầu tiên của chúng tôi . Hai đứa nhỏ vẫn cứ chạy thi hoài, chạy suốt đêm suốt ngày không biết mệt . Thằng nhỏ vẫn ngồi bắn bi, bắn bi mà y như cầm hòn bi dứ vào miệng con cá phi đang lừ mắt nhìn . Trang sau có thằng nằm ngủ miệng há ra để vớt những chữ o trên tay, và dưới tấm hình người ta biên là ngáy o o .

A! Cái chùm nho mà ngày xưa tôi kêu là chùm ruột! Từ ngày má mất, chị Năm và chị bếp tị nạnh nhau lười biếng tưới cây . Cây chùm ruột cạnh giếng thì còn tươi tốt trái bâu đầy cành, còn mấy cây chùm ruột đứng ở góc rào thì thiếu nước nên bị đói trông thấy . Lá mỏng đi và hay xếp quặp lại . Rầy bám đen thân cây như có ai rảy bột than lên đó .

Tôi lật thêm vài trang . Con dê mẹ còn đứng khom lưng, con bò mẹ vẫn quay mặt âu yếm nhìn con dê đang say sưa bú . Tôi nhớ đến nét mặt buồn của má tôi lần đầu tiên khi má lật trang này . Má ơi, hôm nay thì con biết tại sao má buồn như vậy . Má muốn đem má so với con bò mẹ đó . Con bò mẹ còn nhiều ngày tháng để âu yếm nhìn con nó, còn má thì sắp sửa phải vĩnh viễn xa con . Con nhớ buổi sáng đó má nhìn lâu bức hình rồi má thở dài . Má quay mặt đi nơi khác . Con hỏi má:

–Con bò con nó bú hết sữa thì lấy đâu để người ta làm sữa bò, hở má ?

Con đợi lâu không thấy má trả lời . Khi má quay lại thì con thấy mắt má đỏ và ươn ướt . Con còn dại không hiểu là má đang khóc . Con hỏi:

–Sao mắt má đỏ vậy má ?

Má nói:

–Có hột bụi nó rớt vô mắt má .

Má ơi, hôm nay coi lại hình con bò mà con nhớ má quá chừng . Con muốn được ngồi cạnh má và được má nhìn bằng đôi mắt âu yếm như đôi mắt của con bò cái nhìn con nó vậy .

Nghĩ tới đây, nước mắt tôi lặng lẽ trào ra . Tôi không muốn khóc mà! Tôi chỉ muốn nhớ tới má tôi thôi, nhớ đôi môi xinh xắn, ngón tay trắng thon và giọng nói dịu dàng . Tôi lật thêm vài trang . Đến trang con bé quét nhà và con khỉ trèo cây thì cơ hồ mắt tôi không còn nhìn rõ hình vẽ nữa . Màng nước mắt đã dày và những hình vẽ chập chờn rung rinh .

Mỗi lần mở cuốn vần ra coi, tôi sợ ba tôi bắt gặp . Tôi thường đợi lúc nào ba đi vắng . Tôi không muốn bị ba phê bình là đa cảm uỷ mị . Hồi má còn và thấy tôi lớn đầu mà còn quấn quít bên mẹ, ba tôi tỏ ý lo rằng sau này lớn lên tôi thiếu mạnh dạn can đảm . Chính vì lẽ đó mà mặc dù rất chìu chuộng má tôi, có nhiều lần ba tôi phải la lối gay gắt .

Quyển sách vần, tôi cất kỹ trong tủ sách của tôi . Hễ lật coi xong là len lén đem cất dưới đáy tủ . Thế nhưng có hôm vì bạn tới chơi bất ngờ hay có việc gì đó hốt nhiên xảy đến, tôi lật đật quên dẹp nó . Và rồi tôi cũng quên bẵng nó nữa . Tuổi nhỏ có trí nhớ rất dai nhưng dễ lơ đễnh lộn xộn . Khi mở cặp học bài, bỗng thấy cuốn vần nằm trong đó . Lần đầu tiên, tôi kêu chị bếp:

–Chị có bỏ quyển vần cũ trong cặp của em phải không ?

Chị lắc đầu:

–Không .

Tôi nói:

–Vậy thì chắc chị Năm .

Tôi kêu chị Năm và lặp lại câu hỏi . Chị Năm dài dòng hơn:

–Từ sáng đến giờ chị đâu có vô phòng em mà bỏ ? Ai bỏ đó chớ, chị bỏ thì chị nhận liền .

Chắc chị Năm nghi chị bếp bỏ . Và chắc chị chưa nghe rõ câu hỏi, chưa biết bỏ cái gì, bỏ vô đâu và bỏ như vậy thì có hại gì . Chắc chị đang nghĩ “kẻ đó” đã làm một điều lỗi, và chị muốn đổ riệt cho chị bếp . Tôi không muốn hỏi dài dòng thêm . Một cái chạng cây ổi nơi đó tôi ngồi núp dưới bóng lá để nghe con chim kêu chích chích đối với tôi thích thú hơn những chuyện đôi co .

Một lần sau lại cũng bỏ quên quyển vần và cũng lại tìm thấy trong cặp . Lần này tôi bận làm toán đố, không kịp điều tra .

Một buổi sáng nọ tôi đang mê ngủ thì chợt giật mình thức dậy . Nhìn ra cửa sổ thấy ánh sáng ban mai còn mờ mờ . Bên phòng ba tôi có tiếng lục đục . Ba có thói quen dậy sớm . Một lát sau có tiếng cửa mở nhẹ, rồi tiếng dép của ba đi về nhà sau . Chợt tôi nghe tiếng ba tôi hỏi:

–Đứa nào đem bỏ quyển vần Quốc Ngữ của em vô đây ?

Tôi lo quá khi nghe ba tôi nhắc đến quyển vần Quốc Ngữ . Đúng rồi, chiều qua tôi lật ra coi rồi bỏ quên không dẹp . Chắc chị bếp tánh hay làm ẩu, lấy đặt vào một nơi nào mà ba tôi không bằng lòng . Đặt lên đầu tủ lạnh, trên mặt tủ búp – phê chẳng hạn . Tính ba tôi sạch sẽ mà quyển vần thì lem luốc rách rưới .

Tiếng chị bếp:

–Dạ thưa ông, cháu đó .

–Quyển sách của em mà, sao đem quăng vô đây ?

–Dạ cháu thấy cuốn sách rách bìa, bỏ rớt dưới sàn gạch phòng ăn . Cháu tưởng em nó bỏ . Cháu lượm quăng vô giỏ để hồi nào nhen lửa . Cuốn sách vần cũ mà, thưa ông .

–Ừ, cuốn vần cũ chớ sao ?

–Em học lên tới lớp Nhất rồi, còn dùng cuốn vần đó chi nữa .

Một khoảng im lặng hơi dài . Tôi nghĩ rằng ba tôi bỏ đi chỗ khác không trả lời chị bếp . Nhưng không . Vẫn nghe tiếng ông nói ở chỗ cũ:

–Em nó giữ để lâu lâu nó mở ra coi . Kỷ niệm của má nó đó mà . Lần sau hễ thấy em nó bỏ lạc chỗ nào thì nhớ lượm lên đem bỏ vô cặp cho em .

–Dạ .

Tiếng dép ba tôi đi lên nhà trên . Tay nắm cửa phòng tôi quay nhè nhẹ và cửa phòng mở nhè nhẹ . Tôi vội vàng nhắm mắt giả vờ ngủ . Ba tôi lại gần giường đúng nhìn tôi giây lâu rồi nhẹ mở cái cặp của tôi đặt quyển vần vào trong . Ông đóng cặp lại rồi rón rén bước ra khỏi phòng . Cánh cửa nhẹ nhàng đóng lại sau lưng .

Tôi cảm động muốn kêu lên: “Má ơi! Ba không nghiêm khắc với con như má hằng lo sợ hồi má còn sống . Ba uốn nắn con nhẹ lắm, nhẹ hơn uốn cây măng non . Ba quý trọng những giờ phút quấn quít cạnh nhau của mẹ con ta, hồi xưa và cả bây giờ và mãi mãi sau này nữa, má có biết không ?” Tôi rất yên tâm bởi không bị cản trở trong việc thỉnh thoảng ngồi nhớ má tôi, nhớ những ngày cũ êm đềm cạnh má, sự hồi tưởng bâng khuâng mà khi lớn lên tôi coi như những cuộc hành hương lặng lẽ về Quá Khứ có má hiện diện, về Đất Thánh của tâm hồn tôi .

Võ Hồng
(Nhân mùa Bông Hồng Cài Áo – Vu Lan 1969)