VỆT NẮNG CUỐI CHIỀU

phamtinanninh

(Quí mến tặng vợ chồng em Trần H – Florida)

Tháng 7/75, khi mọi người vẫn còn đang ngơ ngác, chưa kịp hoàn hồn trước bao thù hận, mất mát chia lìa, thì ở khu làng biển nghèo Bá Hà, một cậu bé 15 tuổi lại ngỡ ngàng trước một tin vui – có mẹ. Khi bà ngoại dắt Hưng vào nhà và chỉ một người đàn bà xa lạ, bảo đó là mẹ mình. Hưng bất ngờ đến sững sờ, cứ ngỡ như bà mẹ này vừa mới từ trên trời rơi xuống.

Từ khi sinh ra, rồi cả một thời tuổi thơ Hưng chỉ sống với bà ngoại. Ngoại nghèo khổ, một thân một mình vất vả làm thuê, gánh mướn, chắt chiu nuôi đứa cháu duy nhất của mình. Hưng lớn lên bằng tấm lòng bao la của ngoại và sóng gió của biển khơi mênh mông. Trò chơi chỉ là rượt theo các chú dã tràng trên bờ biển vắng hoặc nhặt những chiếc vỏ ốc, vỏ sò sau mỗi lần thủy triều lên xuống. Càng lớn Hưng càng khôi ngô, khỏe mạnh. Có lẽ nhờ tiếng hát ru hời của ngoại cùng âm thanh rạt rào của biển luôn an ủi vỗ về mà Hưng gần như quên hẳn nỗi bất hạnh mồ côi và hun đúc Hưng thành một đứa bé khôn ngoan, thánh thiện, sớm biết nhìn bầu trời xanh bao la mà khát khao bao điều ước vọng.

Năm mới lên tám tuổi, vừa hết lớp ba, dù rất say mê học hành nhưng không đành nhìn ngoại ngày một còng lưng, Hưng phải xin nghỉ học để đi làm phụ ngoại. Theo ghe lưới cá của mấy người hàng xóm. Thời gian nghỉ ngơi, ở nhà tự học, đọc sách vở mà Hưng mượn được hoặc mua lại từ những bạn bè hay các anh chị học sinh lớn tuổi trong làng. Hưng ít khi hỏi ngoại về cha mẹ mình, vì Hưng không hề biết mặt họ, và trong ký ức non nớt cũng như trong cả những giấc mơ của Hưng cũng không bao giờ có hình ảnh cha mẹ. Chỉ nghe bà ngoại kể là cả hai người đều bị bạo bệnh qua đời lúc Hưng mới sinh ra. Có lẽ thấy tội nghiệp đứa cháu côi cút của mình, bà không muốn Hưng phải suy nghĩ hay nhớ đến chuyện buồn này, nên chỉ kể vội một đôi lần, lúc Hưng mới lớn lên và bắt đầu nhận hiểu đôi điều ở quanh mình. Rồi không bao giờ bà nhắc lại nữa.

Hưng có hai ông cậu, em của mẹ, nhưng ít khi gặp mặt. Ông cậu nhỏ đi làm xa ở đâu đó, còn ông cậu lớn thì đi lính quân dịch, một năm chỉ về phép đôi ba lần. Ông có vợ, nhưng gởi vợ lại cho ngoại. Bà mợ thì hiền lành, nhưng ông cậu lần nào về cũng ghen tương, gây gổ với mợ, với ngoại, mặc dù ông rất thương và lo lắng cho ngoại. Có lần ngoại buồn, hờn cậu, dắt Hưng theo ra tận vùng quê Xuân Tự, ngoài Vạn Giã ở với gia đình người em của ngoại. Sau hơn nửa tháng, nguôi ngoai và nhớ nhà, nhớ biển, nhớ cả đôi gánh tần tảo của mình, bà cháu lại dắt díu trở về làng cũ. Đó là kỷ niệm một lần đi xa độc nhất trong tuổi thơ của Hưng.

Mười lăm năm sống bên cạnh ngoại, trừ chuyến đi xa duy nhất ấy, Hưng chỉ quanh quẩn ở làng quê Bá Hà hay trong khu vực Hòn Khói. Một khu làng nghèo thuộc huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa, nằm bên bờ một cái vịnh nhỏ xa xôi, cách biệt thị tứ. Thời Pháp thuộc, chưa có nhiều phương tiện giao thông, nơi này chẳng khác nào một ốc đảo. Muốn đến nơi khác phải di chuyển bằng ghe thuyền. Dân chúng đa số sống bằng nghề đánh cá, làm muối, một ít làm ruộng. Nghèo, nhưng để bù lại, ông trời đã ban cho họ sự kiên nhẫn, trí thông minh, lòng hiếu học, cùng những cô con gái mặn mà nhan sắc.

Đầu thập niên 60, Bá Hà, Hòn Khói có khá nhiều người trẻ vươn lên, thành đạt bằng con đường chữ nghĩa, tốt nghiệp bác sĩ, kỹ sư, giáo sư, đã tạo một làn sóng đưa con cái vào các thành phố lớn Nha Trang, Sài Gòn theo học. Nhà nào cũng hy vọng con cháu mình sẽ bước ra khỏi cái nghiệp nghèo khổ, ít học, quanh năm chỉ soi mặt dưới biển, trên đồng từ mấy đời của dòng họ, cha ông. Điều đáng buồn là cùng với cái đà vươn lên ấy cũng là lúc xảy ra nhiều biến động đau thương của đất nước. Bá Hà, Hòn Khói lại là nơi có nhiều anh em ruột thịt và bạn bè thân thiết, kẻ đứng bên này, người đứng bên kia, trong cuộc chiến huynh đệ tương tàn. Chủ nghĩa Mác-Lê một thời đã hấp dẫn một số người trí thức trẻ, vươn lên từ những tầng lớp nghèo khổ, khi “đấu tranh giai cấp” trở thành mục tiêu và lý tưởng của họ. Họ không hiểu là người ta đã lợi dụng điều này, dẫn dắt họ vào con đường lầm lạc để cuối cùng chỉ phục vụ cho một nhóm người ác độc, chẳng hề có lý tưởng mà chỉ khát khao quyền lực, bạc tiền.

Hương là một trong số những người đi theo con đường cam go đầy bất trắc ấy. Có điều không nổi đình, nổi đám như nhà họ Đỗ cùng xóm. Một anh giáo sư có vợ bác sĩ và mấy người cháu ruột đều có bằng cấp cao, kẻ vào bưng, người hoạt động nội thành, sau 75 làm nhiều chức rất lớn trong đảng. (Nhưng cũng chỉ vài năm sau thì giật mình thấy “lạc đường” nên quay lại chống đảng để bị tù tội và mất hết bổng lộc) (*). Việc ra đi của cô gái tên Hương này kín đáo, thầm lặng và từ một lý do đặc biệt hơn, không ai biết được.

Hưởng ứng phong trào cho con cái tiến thân theo con đường sách vở, cha mẹ Hương chắt chiu tiền bạc cho cô con gái của mình vào Sài gòn học. Thương cha mẹ nghèo mà phải vất vả lo lắng cho mình, sau khi vào Sài Gòn một thời gian, Hương kiếm việc làm thêm; vừa làm vừa học. Công việc chỉ là phụ giúp trong một nhà máy dệt, nhưng sau một tháng, ông chủ thấy Hương vừa hiền lành thật thà, vừa có chí học hành nên cho Hương làm sổ sách, kế toán. Biết Hương thuê phòng trọ trong khu lao động nghèo, sống một mình giữa Sài Gòn ồn ào đầy bất trắc, ông chủ tốt bụng động lòng thương cho về ở chung với đám con cái trong ngôi nhà rộng lớn của mình. Vừa làm cho xưởng dệt vừa phụ giúp những chuyện lặt vặt trong nhà.

Ông Bùi Văn Trụ, chủ xưởng dệt Bắc Hà là một kiến trúc sư tài ba, từng thiết kế nhiều khu đô thị và nhận lãnh công trình xây cất khu chợ Hòa Bình Đà Lạt. Gia đình trước ở Hà Nội và đã mấy đời làm chủ nhiều xưởng dệt. Năm 1954, cả nhà di cư vào Nam, sống ở khu Phùng Hưng, Chợ Lớn. Sau khi tạm ổn định đời sống và việc học hành cho con cái, ông gầy dựng lại Xưởng dệt Bắc Hà này. Được sự giúp đỡ của chính quyền trong bước đầu, nhưng chính yếu là nhờ vốn liếng và nhiều kinh nghiệm của ông, xưởng dệt ngày càng phát triển, không bị thất thế giữa những xưởng dệt lớn khác ở chung quanh mà hầu hết do Hoa kiều làm chủ.

Biết ông Trụ là người có khả năng và tâm huyết, chính phủ Ngô Đình Diệm đã yêu cầu ông cộng tác trong chương trình tái định cư và kiếm công ăn việc làm cho hơn một triệu người đồng cảnh với ông. Xưởng dệt Bắc Hà cũng là nơi quy tụ nhiều người di cư có kinh nghiệm trong nghề dệt.

Vợ mất, để lại cho ông bốn người con, ba trai một gái. Ông tục huyền với bà vợ mới, là bạn thân của vợ ông và cũng chính là người quản lý mấy xưởng dệt của ông ngoài Hà Nội. Khi di cư vào Nam, gia đình ông, ngoài vợ chồng và cậu con trai nhỏ của bà vợ sau, còn có cả bốn đứa con của bà vợ trước. Vào Sài Gòn ông bà có thêm một cô con gái út. Các con đều theo học các trường Tây: Jean Jacques Rousseau hay Marie Curie. Ông Trụ rất cưng con, nhưng thường bận đi xa trong nghề kiến trúc, hay giúp việc định cư cho những bà con khác, nên giao cho vợ chăm sóc, dạy dỗ đàn con, ngoài việc quản lý xưởng dệt Bắc Hà. Có lẽ một phần do ảnh hưởng nghề nghiệp, nhiều năm với cương vị quản lý mấy xưởng dệt lớn, nhân viên lên đến mấy trăm người, nên bà khá nghiêm khắc với con cái.

Trong mấy cậu con trai có Hoành, con út của đời vợ trước, rất giống bố, khá đẹp trai, hiền lành, học hành chăm chỉ và luôn vâng lời cha mẹ. Hoành không những giống bố về khuôn mặt, dáng đi mà còn ở đức tính rộng lượng, thương người. Thấy Hương con nhà nghèo, nhưng xinh xắn, nhu mì và hiếu học, Hoành rất quí mến, thương yêu lo lắng cho Hương như cô em gái. Hoành thường dạy kèm thêm cho Hương. Những ngày nghỉ, khi đưa các em gái đi chơi, Hoành luôn rủ Hương cùng đi. Thường chỉ đi dạo trong Sở Thú, ăn kem hoặc xem ciné. Sự gần gũi, thân tình và hợp tính nhau dần dần đã làm tình yêu nẩy nở.

Cuộc tình đẹp nhưng thầm lặng kéo dài gần hai năm, càng lúc càng say đắm, nồng nàn với kết quả là Hương mang thai. Hoành đem sự việc thưa cùng cha mẹ và xin được cưới Hương làm vợ. Lúc ấy Hoành đang học năm cuối trường Jean Jacques Rousseau và chuẩn bị thi BAC II. Cha của Hoành, sau khi la rầy rồi cũng đồng ý. Ông bảo Hương là đứa con gái hiền hậu dễ thương, lỗi là ở con trai mình. Cha mẹ phải có trách nhiệm, nhất là trong bụng Hương đang có giọt máu của họ Bùi. Nhưng bà kế mẫu của Hoành thì vừa nghiêm khắc, vừa bảo vệ nếp nhà “môn đăng hộ đối”, quyết liệt khước từ. Sau nhiều lần bàn cãi, cha của Hoành phải tạm thời nhượng bộ để giữ hòa khí gia đình. Cuối cùng ông bà đi tới quyết định: Thuê chỗ ở khác cho Hương sống để chờ sinh đẻ. Sau khi sinh xong, ông bà sẽ bắt đứa con và chu cấp tiền bạc như một đền bù để Hương về quê sinh sống, cắt đứt mọi liên lạc với gia đình cũng như với Hoành. Thực ra, trong thâm tâm ông Trụ, cha Hoành, đây chỉ là kế hoãn binh với bà vợ kế, chờ sau này, mọi việc lắng xuống, ông sẽ mua nhà riêng cho Hoành và tìm cách đưa Hương trở về sống với Hoành và con. Tiếc là ông không nói sớm điều ấy với Hoành. Hoành quá thật thà đem hết mọi việc kể cho Hương nghe, và khuyên Hương cứ ở lại sinh đẻ rồi sau này sẽ tính. Vừa bất bình trước sự khinh miệt giai cấp của gia đình Hoành, vừa giận thái độ khiếp nhược của Hoành, và nhất là sợ bị mất đứa con, hôm sau Hương viết để lại cho Hoành một lá thư từ biệt, trút bao đớn đau trách móc, rồi lặng lẽ ra đi. Để đánh lạc hướng gia đình Hoành, ngừa việc sau này họ đi tìm để bắt đứa con, Hương bảo sẽ về quê ở Diên Khánh (Thành) thay vì về Hòn Khói. Vì xưa nay, mọi người chỉ biết Hương là người từ Nha Trang vào học, thế thôi.
***

Mười lăm năm chưa biết mặt mẹ, chưa hề biết cảm giác của một đứa con có mẹ. Bây giờ bỗng dưng gặp một người bảo là mẹ mình, Hưng không có cảm xúc. Ngồi nghe mẹ kể lại cuộc đời bà và nguyên nhân sự có mặt của mình trên thế gian này, Hưng ngậm ngùi nhưng vẫn không hiểu hết được những điều đã xảy ra. Sao giống chuyện trong mấy cuốn tiểu thuyết mà mình đã đọc. Hưng thầm nghĩ như thế rồi hỏi mẹ:

– Vậy tại sao mẹ lại bỏ con lại cho bà ngoại khi con chỉ mới lên ba?
– Đó là điều đau xót và ân hận nhất của mẹ, đã dằn vặt mẹ bao nhiêu năm nay. Nhưng xin con hãy hiểu và tha thứ cho mẹ. Lúc ấy mẹ không có con đường nào khác. Phụ lòng bà ngoại, xấu hổ với bà con láng giềng vốn còn rất đậm nề nếp cũ, con gái không chồng mà có con là cái tội xấu xa, cái án vô hình nhưng nặng nề lắm, con ạ.

– Đã bao nhiêu năm, sao mẹ không tìm cách liên lạc với bà ngoại và với con, để bà ngoại vừa một mình khốn khổ nuôi con vừa buồn vì tưởng mẹ đã chết thật rồi.

– Thực ra thì lúc ấy mẹ cũng muốn chết lắm. Viết lá thư để lại cho ngoại, bảo là mẹ xuống biển tự tử. Khuya hôm ấy mẹ có ra biển, nhưng khi lội xuống biển, nhìn thấy biển mênh mông, đen sẫm, nghe tiếng sóng thét gào, mẹ bỗng giật mình sợ hãi, không còn một chút can đảm. Mẹ bước lên bờ với ý nghĩ bỏ đi, nhưng chưa biết đi đâu, mẹ ra trốn ngoài ghềnh đá bên động cát, thì bất ngờ gặp mấy người du kích trong xã, trong đó có cô Tám, bạn học của mẹ lúc nhỏ, rủ vào bưng theo kháng chiến. Mẹ đi theo cô ấy.

– Sao mẹ không ở trong đội du kích cho gần nhà mà lại đi ra tận ngoài Bắc?

– Mẹ được cô Tám dắt lên núi để học tập. Nghe nói cách mạng là thực hiện triệt để cuộc đấu tranh giai cấp, mẹ thấy rất hợp với ước nguyện của mẹ nên đã xin tình nguyện để được kết nạp vào đảng. Hơn nữa, mẹ cũng muốn rời xa quê hương, để không ai còn biết đến mình. Mẹ được đưa ra Liên Khu 5, ba năm sau chuyển ra Bắc. Và cũng ở tại Liên Khu 5 này mẹ đã gặp cha của con bây giờ.

Đưa tay chỉ người đàn ông cao lớn, mặc bộ áo quần bằng vải kaki Nam Định, vai mang xắc-cốt, nãy giờ ngồi yên lặng trên bộ phản, bên cạnh bà ngoại, và hai đứa trẻ lạ, mẹ Hưng tiếp tục:

– Chú Ba đây là chồng của mẹ. Và con Hồng, thằng Hà đây là em của con. Trước khi vào Nam, chú Ba nhất quyết bảo mẹ phải nói với con, chính chú ấy là cha ruột để cho con vui, nhưng mẹ không chịu. Mẹ muốn con biết rõ sự thật, vì chuyện cha con là chuyện máu mủ thiêng liêng. Con có nghĩ về mẹ thế nào cũng được, nhưng mẹ muốn con biết rõ lai lịch của mình.

Ông Ba đứng dậy, bước lại ôm vai Hưng thân mật :

– Mặc dù trước đây chưa được gặp con, nhưng mẹ con đã kể cho chú nghe về con từ khi mẹ và chú mới quen nhau. Chú rất thương con, và mong là con luôn xem chú như là ba của con. Nếu được, xin con cho chú cái vinh dự làm cha của con trong giấy khai sinh. Chú thực lòng không muốn trong khai sanh của con đề cha là vô danh, như mẹ đã kể cho chú nghe.

Nói xong ông Ba gọi hai đứa con lại, bảo anh Hưng đây là anh hai của hai đứa con. Từ nay phải gọi là anh hai và thương yêu, vâng lời anh ấy. Hai đứa nhỏ bước đến vòng tay, bẽn lẽn chào Hưng.

Cái giọng Bình Định lai Bắc kỳ của ông Ba hơi khó nghe. Nhưng Hưng hiểu được những điều ông muốn nói và tin những tình cảm ấy là chân thật. Mặc dù sau tháng 4/75, Hưng nghe người trong làng kháo nhau: Đừng nghe những gì Cộng Sản nói.

Sum họp được hai ngày, thời gian chưa đủ để Hưng cảm giác có mẹ, có em, thì mẹ Hưng cùng chồng và hai con phải vào Cam Ranh để nhận nhiệm sở mới. Nghe nói ông Ba làm ở Phòng Địa Chính còn mẹ Hưng thì làm hiệu trưởng một trường phổ thông cấp 1. Trước khi đi ông bà để lại cho bà cháu Hưng mấy bao gạo, một số tiền và ít áo quần.

Sự thay đổi qua bất ngờ và khá lớn lao đó vẫn chưa đủ làm cho Hưng mất đi cái cảm giác mồ côi. Mười lăm năm, đã quen và yêu cuộc sống tuy vất vả nhưng rất yên ả với ngoại, với biển cùng đám bạn bè ở cái làng nghèo Bá Hà này nên Hưng không muốn có một sự đổi thay nào nữa. Từ ngày người mẹ xuất hiện, với một lai lịch khá mơ hồ về cha, cùng với sự xáo trộn từ đầu tháng Tư, kéo theo bao âu lo của bà con trong xóm, đầu óc Hưng lúc nào cũng căng thẳng, chẳng khác nào những đêm biển lặng, theo thuyền đi lưới cá ngoải khơi, đột nhiên bị dông tố bất ngờ. Bao nhiêu năm sống với ngoại, Hưng ví ngoại như cây cổ thụ đầu làng, quanh năm phủ bóng che mưa, che nắng cho mình. Hưng không muốn có ngày bị người ta kéo ra khỏi cái bóng thần tiên ấy, cho dù người ấy là ai. Bỗng dưng Hưng thấy thương ngoại hơn. Tối tối, Hưng chui vào nằm bên ngoại, ôm ngoại thật chặt như sợ bà sắp tuột mất khỏi vòng tay bé nhỏ của mình. Còn ngoại thì khác, bà tỏ ra phấn chấn, vui mừng, thường nắm tay Hưng bảo nhỏ:

– Hãy vui lên nghe con, bây giờ thì con đã có mẹ. Trước đây ngoại rất lo sợ, vì ngoại đã già rồi, nếu có bề gì biết có ai lo lắng cho con. Bây giờ con có mẹ, ngoại yên lòng.

Ngoại nói là ngoại mừng, nhưng nhìn vào mắt ngoại, Hưng thấy ngoại đang khóc.

Hơn một tháng sau, mẹ và chú Ba đưa xe con về đón ngoại và Hưng vào Cam Ranh. Gia đình ông bà được cấp ngôi nhà khá rộng trong khu cư xá, nghe nói của một công chức VNCH bị tịch thu. Mới làm việc chỉ hơn một tháng, nhưng ông bà tỏ ra chán ngán. Ông bảo làm trong ngành địa chính nên biết rõ nhiều điều bất công, khuất tất. Từ việc tịch thu tài sản của nhiều người dân vô tội đến việc giành giật chia chác từ chức tước đến nhà cửa, đất đai giữa những cán bộ trong các ban quân quản và guồng máy chính quyền mới vừa “biên chế”. Mẹ Hưng thì dễ dàng nhận ra hệ thống giáo dục và trình độ của các giáo chức miền Nam, hơn hẳn bây giờ và cả ngoài Bắc. Tuy phải chấp hành cấp trên, nhưng với chức vụ hiệu trưởng, bà cảm thấy e thẹn, nhất là những khi phải họp hành “giao ban” với các giáo chức cũ. Hưng nghe mẹ thường buồn bã tâm sự với ngoại :

– Điều buồn nhất sau bao nhiêu năm trở lại quê nhà là con cảm thấy thật cô đơn. Láng giềng, bạn bè cùng lớp cùng trường ngày xưa dường như đều muốn xa lánh con. Có ai bất ngờ gặp con giữa đường, họ giả vờ vồn vã nhưng con nhìn thấy rõ sự dè dặt trong mắt họ.

Ông bà luôn chăm sóc ngoại, vỗ về an ủi Hưng. Nhiều đêm bà ngủ cùng phòng với Hưng để mẹ con tâm sự. Nước mắt của mẹ dần dà đã thấm đẫm trong lòng Hưng, làm Hưng xúc động. Nằm trong vòng tay, với những cái nhìn âu yếm, cùng những giọt nước mắt ấy của mẹ đã làm Hưng thấy gần gũi, thấu hiểu được nỗi lòng và ước mơ của mẹ. Nhiều lúc, thấy mẹ ngồi thẫn thờ nhìn xa xăm, Hưng biết là cả một quá khứ đau buồn đang trở về với mẹ, nhưng không hiểu là hình bóng của cha Hưng đã hiện lên như thế nào trước mắt mẹ. Mẹ có còn thương cha, có dành một ngăn nhỏ nào trong trái tim của bà cho người tình xưa, hay chỉ có oán trách, hận thù? Còn chú Ba, chồng của mẹ bây giờ, thực ra cũng là một người tốt, chân chất hiền lành, thường tâm tình khuyên bảo, năn nỉ Hưng ở lại với ông bà và hai em. Ông sẽ lo cho Hưng đi học trở lại, có mẹ kèm thêm để Hưng học nhanh hơn. Ông cũng tỏ ý muốn thay mặt cho cha Hưng để bù đắp những gì mà hơn 15 năm qua Hưng bị mất mát quá nhiều. Ông tha thiết mong được Hưng gọi mình là ba như hai đứa em của Hưng.

Hai tuần ở đây, tình cảm trong Hưng có nhiều biến chuyển. Hưng bắt đầu gọi ông Ba bằng cha, và cũng là lần đầu tiên Hưng cảm giác mình có mẹ. Hưng thấy hạnh phúc và cũng có chút hãnh diện về mẹ, một người đàn bà lớn tuổi nhưng còn nhan sắc và hiểu biết. Có một điều Hưng vẫn mơ hồ, không biết con đường gai góc mà mẹ đã đi trong gần mười lăm năm, bỏ Hưng côi cút với ngoại, có phải mẹ đã thực sự tìm đúng lý tưởng của mẹ ? Hưng thấy cái làng Bá Hà này vốn cũng đã nghèo, giờ lại càng nghèo khổ xơ xác hơn. Các chủ ghe mà Hưng đã từng đi theo phụ lưới, giờ phải đem ghe thuyền giao nộp hết cho hợp tác xã. Các anh chị từng vươn lên trong học hành, có cả ông thầy trẻ từng dạy Hưng, một thời làm hãnh diện cho Bá Hà, giờ một số bị tù đày, số còn lại thì quay về nghiệp cũ; đánh cá, làm muối, làm ruộng. Chẳng lẽ học hành, giỏi giang chữ nghĩa lại có tội ? Mọi người ai cũng ngờ vực, sợ sệt lo âu.

***

Tháng 5/78, một chiếc thuyền nhỏ vượt biển tắp vào một hoang đảo ở Nam Dương. Trên thuyền gồm có 18 người, đa số là thanh, thiếu niên. Tất cả được Cơ Quan Cao Ủy Tị Nạn LHQ đón nhận đưa về tạm trú tại trại tị nạn Tandungpinang. Trong số 18 người này có Hưng, cậu bé đánh cá vùng biển Hòn Khói năm nào, bây giờ đã 18 tuổi. Được phái đoàn Mỹ nhận, Hưng đến định cư tại Tiểu bang Florida vào đầu tháng 10/79 với sự bảo trợ của một gia đình người Mỹ tốt bụng.

Nhờ có sẵn đức tính cần cù chăm chỉ, từng trải qua cả một thời tuổi thơ cơ cực, và cũng nhờ vào trí thông minh của ông trời ban cho người dân nghèo Hòn Khói, Hưng vừa đi làm giúp đỡ gia đình, nhất là bà ngoại ở Việt Nam, vừa theo học tại một trường Cộng Đồng dành cho người lớn tuổi. Hưng học rất nhanh và luôn đạt điểm cao, được khích lệ của các thầy cô giáo. Hưng theo gương Nguyễn Xuân Nam, một người bạn nghèo cùng làng Bá Hà, sang Mỹ trước Hưng một năm, nổi danh hiếu học (**). Trong chuyến đi của Hưng có cậu em ruột của Nguyễn Xuân Nam.

Khi được Cao Ủy Tị Nạn và Phái Đoàn Mỹ phỏng vấn, hỏi do động cơ nào mà Hưng vượt biển ra đi. Hưng trả lời là chính bà ngoại đã khuyên và giúp Hưng tìm mọi cách, bà bảo :

– Chỉ mới sau mấy năm “giải phóng” mà coi bộ dân chúng khốn khổ quá chừng. Ai cũng lo sợ, oán than cách mạng. Ngoại già rồi, nhưng con còn trẻ phải tìm mọi cách ra đi. Ở lại coi bộ khó sống lắm con ạ.

Đó là lời khai hoàn toàn thành thật, vì xưa nay Hưng không hề biết nói dối. Có điều Hưng hơi ngạc nhiên khi nghe ngoại bất ngờ nói ra điều này, mà trước đó Hưng chưa bao giờ nghe bà nói tới. Sau này, Hưng mới biết đó là quyết định của mẹ và ông cha kế. Cả số tiền để Hưng trả cho chủ ghe cũng do ông bà đưa cho ngoại.

Lá thư đầu tiên nhận được của mẹ, có cả ông Ba, người cha kế viết chung trong đó, Ông bà chúc mừng Hưng đã đến xứ tự do, nơi bảo đảm tìm thấy tương lai, nếu ở lại, giờ này Hưng đã bị đi nghĩa vụ quân sự và có thể bỏ xác oan uổng ở chiến trường Campuchia trong cuộc tranh giành quyền lực giữa những người Cộng Sản. Hai năm sau, tháng 12/81, Hưng được tin ông xin phục viên, viện cớ chứng đau nhức đến buốt óc do một mảnh đạn còn nằm trong đầu, bị thương trong trận tấn công Quảng Trị 1972, không thể giải phẫu lấy ra được. Mẹ Hưng còn dạy học thêm vài năm nữa, sau này xin nghỉ vào Bình Dương làm nghề trồng cây ăn trái.

Năm 1992, sau khi tốt nghiệp đại học và đã có công việc làm ổn định, được tin ngoại ốm nặng, Hưng vội vã về Việt nam thăm ngoại. Xin bảo lãnh ngoại sang Mỹ để chữa bệnh và sống với Hưng, nhưng ngoại nhất quyết chối từ, bảo là bà đã sống ở làng quê Bá Hà cả một đời người, như cây đa mọc rễ không dễ gì mà bứt ra được. Không ngờ đó là lần cuối cùng Hưng gặp ngoại. Bà qua đời vào năm 1998. Được tin ngoại mất, Hưng có cảm giác như cả bầu trời sập xuống. Hưng tưởng tượng cái cây cổ thụ xum xuê to lớn ở đầu làng Bá Hà vừa bị bật gốc. Dù bây giờ Hưng đã thực sự trưởng thành, có một gia đình hạnh phúc với vợ con, công ăn việc làm ổn định, nhưng Hưng vẫn cảm thấy như vừa mất đi cái bóng mát vĩ đại để tâm hồn mình trú ẩn. Bởi mỗi khi buồn, cảm thấy cô đơn lạc lõng trên xứ lạ quê người, nghĩ tới ngoại là tinh thần Hưng phấn chấn. Nhớ những ngày mình còn bé, ngoại thường dắt lên chùa lễ Phật. Hưng chấp tay trước ngực, đứng nép bên ngoại trước tượng Phật, nghe ngoại chỉ cầu xin bao điều may mắn tốt đẹp cho đứa cháu côi cút của mình. Có lẽ nhớ những lời cầu xin này của ngoại mà cuộc đời mình mới được như hôm nay. Bây giờ trang sách cuộc đời như vừa bị ai đó xé đi mất nửa trang đầu, để nửa sau không còn ý nghĩa gì nữa. Hưng khóc hết nước mắt và hụt hẫng đến suy sụp cả tinh thần.

Ông Ba, người chồng sau của mẹ cũng qua đời mấy năm sau đó. Hưng dắt vợ con về Việt Nam để chịu tang ông như người cha ruột của mình. Hưng xin xây mộ phần cho ông, an ủi mẹ và hai em. Trước khi rời Việt Nam, Hưng gởi lại cho mẹ một số tiền và hứa mỗi tháng sẽ gởi thêm về để phụ cho hai em ăn học đến nơi đến chốn.

Trong lần về Việt Nam lo đám tang cho ngoại, Hưng có dịp tâm tình riêng với mẹ. Mấy ngày hai mẹ con nằm trong khách sạn Hải Yến ở Nha Trang, khi ngoài trời gió mưa tầm tã, mẹ đã kể lại tỉ mỉ hơn về cha ruột của Hưng, về cuộc tình thật đẹp, thật lãng mạn nhưng kết cục quá đau đớn của ông bà. Mẹ cũng không còn trách cha. Bảo ông ấy là người tốt, hiểu biết, thương người, nhưng lúc ấy còn đang đi học, lệ thuộc nhiều vào gia đình, hơn nữa lại là đứa con luôn vâng lời cha mẹ. Hôm ấy, lần đầu tiên mẹ ngỏ ý muốn Hưng đi tìm cha, dù điều ấy bây giờ rất nhiêu khê, nhất là sau tháng 4/75, những người giàu có đã phải bỏ nhà cửa, bỏ Sài gòn ra nước ngoài hay đến một vùng quê xa xôi nào đó để mong còn giữ được cái thân.

Nghe lời mẹ, trước khi trở lại Mỹ, Hưng thuê xe đến khu Phùng Hưng trong Chợ Lớn. Đúng như lời mẹ nói, tất cả đã đổi thay, không ai biết gì về gia đình ông chủ xưởng dệt Bắc Hà ngày trước. Vừa thất vọng, vừa nghĩ là nếu có tìm được ai đó trong gia đình cha, chắc gì họ đã đón nhận mình. Bởi trong mười lăm năm Hưng sống côi cút khổ cực, cũng không hề thấy có ai đi tìm đứa con, đứa cháu lạc loài bất hạnh. Hưng quyết định bỏ hết, cố quên đi cái quá khứ đau buồn và phiền muộn ấy để cho lòng thanh thản. Hưng nhủ thầm “không ai thay đổi được quá khứ, mình nên dồn hết trí óc và thời gian còn lại để xây dựng tương lai”. Hôm ấy, khi máy bay lấy cao độ để rời khỏi không phận Sài gòn, Hưng nhìn xuống, qua khung cửa kiến nhỏ, nhận ra khu vực Chợ Lớn nằm xa xa phía dưới, bất giác Hưng đưa tay lên chào. Hưng nghĩ đó không chỉ là cái vẫy tay từ biệt khu phố Phùng Hưng, mà còn từ biệt luôn một quá khứ mơ hồ. bất hạnh với một người cha chỉ nghe như huyền thoại.

***

Cách đây hai tuần, khi đang say ngủ Hưng giật mình bởi chuông điện thoại reo. Xem đồng hồ, đã hơn hai giờ sáng. Giờ này mà ai gọi chắc là có điều khẩn cấp lắm. Hưng bốc ống nghe. Bên kia đầu dây là Hà, đứa em trai cùng mẹ khác cha đang gọi từ Sài gòn. Hà gọi từ một trạm internet, nên hiện lên trên khung điện thoại của Hưng một dãy số lạ hoắc. Hà báo tin đã tìm được một người biết gia đình ông bà Bùi văn Trụ, chủ xưởng dệt Bắc Hà. Việc đi tìm tin tức về người cha ruột của Hưng hy vọng có nhiều manh mối. Cái tin bất ngờ đó làm cho Hưng lo lắng hơn là vui mừng. Không biết khi tìm được rồi họ có nhận mình không?

Cái vẫy tay từ biệt hôm nào trên máy bay, Hưng tưởng đã bỏ lại cho khu phố Phùng Hưng tất cả quá khứ buồn thảm. Hưng muốn xóa sạch hết tất cả, như cái xưởng dệt Bắc Hà giờ cũng chẳng còn một dấu tích nào. Nhưng rồi một giấc mơ đã làm Hưng thay đổi. Một giấc mơ kỳ lạ. Trong giấc mơ, có tiếng điện thoại reo, Hưng bốc máy lên nghe. Giọng một người đàn ông :

– Có phải Hưng đó không con ? Ba là Hoành, cha của con đây. Bao nhiêu năm đi tìm con khắp nơi mà không gặp. Ba rất thương nhớ con. Hãy tha thứ cho ba nghe Hưng!

Hưng giật mình tỉnh giấc, trong tai vẫn còn văng vẳng tiếng người vừa nhận là cha mình. Giọng nói trầm ấm, hiền lành, xúc động. Giấc mơ đã làm Hưng nhớ lại câu nói “cha con là máu mủ thiêng liêng” của mẹ trong ngày đầu tiên khi hai mẹ con gặp nhau tại căn nhà tranh của ngoại ở làng quê Bá Hà hơn 36 năm trước. Chính giấc mơ đã thôi thúc Hưng đi tìm lại cha mình

Hưng nghĩ ngay tới Hà, đứa em trai một mẹ khác cha, nhưng rất giống Hưng và luôn kính trọng, thương yêu, giữ tình nghĩa với Hưng chẳng khác nào anh em ruột. Từ hơn mười năm nay, Hà làm việc cho một công ty xuất nhập cảng lớn tại Sài Gòn, chắc chắn quen biết nhiều người. Hưng liền gọi điện thoại về Việt Nam, bảo Hà hỏi mẹ rõ ràng chi tiết về gia đình ông bà chủ xưởng dệt Bắc Hà để tìm ra tông tích của cha Hưng. Hà hết lòng ủng hộ mẹ và Hưng về việc này. Ngày nào, sau khi đi làm về, Hà cũng chạy ngay xuống khu phố Phùng Hưng.

Qua bao biến cố, thăng trầm, Sài Gòn – Chợ Lớn bây giờ đổi thay nhiều quá. Cả khu xưởng dệt Bắc Hà không còn lại một dấu tích gì. Người ta đã phá hết để xây khu chung cư mới. Hầu hết dân chúng ở khu vực này từ ngoài Bắc mới vào sau 75. Dường như chẳng còn ai biết có một xưởng dệt tên Bắc Hà từng hiện diện ở nơi này. Hơn nữa, mọi người đang tất bật rượt đuổi theo thời gian để tìm cơ may trong cơn sốt đổi đời, thì còn đầu óc và thời giờ đâu mà nhớ tới ngày xưa, ngay cả cái thời đẹp đẽ hạnh phúc mà họ đã mất. Sau mấy ngày, Hà may mắn gặp được một ông già tốt bụng. Ông thuê lại căn nhà của một người Bắc 54 đã ở đây hơn 30 năm kể từ ngày di cư vào Nam. Hy vọng ông ấy biết nhiều về gia đình chủ nhân xưởng dệt Bắc Hà. Ông tìm địa chỉ đưa cho Hà. Hà chạy ngay lên tận Biên Hòa và gặp được người chủ nhà gốc Bắc 54 ấy. Ông cụ đã trên 85 tuổi, nhưng trí nhớ còn rất tốt. Ông biết rất rõ về gia đình ông bà kiến trúc sư Bùi văn Trụ và xưởng dệt Bắc Hà nhưng ông bảo sau 75, cả nhà cửa và xưởng dệt đều bị tịch thu. Có lẽ tất cả đã ra nước ngoài. Vì từ ngày ấy ông không còn gặp và cũng chẳng nghe ai nói tới gia đình ấy nữa. Tuy nhiên, ông có biết một bà bác sĩ hiện ở bên Pháp, là bà con với gia đình ông bà chủ Bắc Hà. Bà có về Việt nam thăm thân nhân và bạn bè một đôi lần. Ông hứa sẽ tìm một người quen, là bạn thân của bà bác sĩ ấy, để hỏi giùm tin tức. Hà mừng quá, xin số điện thoại của ông cụ rồi chạy ngay đến một trạm internet ở gần đó để gọi cho Hưng, mặc dù biết ông anh của mình giờ này đang ngủ say. Hà bảo :

– Em báo tin để cho anh “phấn khởi” và tốt nhất là em cho anh số phôn của ông cụ, để anh gọi về trực tiếp nói chuyện. Sẽ hấp dẫn, hồi hộp và chính xác hơn là em.

Sáng hôm sau, Hưng gọi về và gặp được ông già Bắc Kỳ 54 khả kính. Nhưng ông bảo phải chờ ông hỏi thăm, vì chưa gặp được người ấy. Ông hẹn Hưng tuần sau gọi lại. Trong một tuần ấy, lòng Hưng rối như tơ vò. Không biết người cha ấy như thế nào, vợ con ra sao. Nhà giàu và học hành như thế đối với mẹ con Hưng họ là giai cấp thượng lưu. Hơn nữa còn bà vợ. Liệu bà có cho chồng nhận Hưng là con, khi sợ bị chia mất một phần gia tài, và nhất là tình cảm của mẹ con bà? Hưng tâm tình với vợ. Là một người hiểu rõ tính tình, suy nghĩ và cả một quá khứ bất hạnh buồn thảm của chồng, vợ Hưng luôn an ủi, khích lệ và chia sẻ cùng chồng mọi tâm sự, nỗi niềm:

– Em nghĩ anh nên vui và nắm lấy cơ hội này để tìm gặp lại cha. Vì hoàn cảnh của anh, của chúng mình hiện nay, em không sợ gia đình cha sẽ hiểu lầm. Mình không cần bất cứ tài sản gì nữa, còn tình cảm, đó là sự thiêng liêng như mẹ đã nói, không ai có thể nhẫn tâm chia cách được. Hơn nữa nếu còn sống, cha cũng đã già rồi. Em tin là dù trước kia có thế nào, bây giờ bất ngờ gặp được anh, chắc là cha sẽ vui mừng ghê lắm. Hơn nữa, đó chính là điều ước mong của mẹ.

Những lời nói của vợ làm cho Hưng bớt căng thẳng và vui vẻ hơn, nhưng chưa hết hẳn lo âu. Sau một tuần lễ dài nhất trong đời, Hưng gọi điện thoại về Biên Hòa gặp ông cụ Bắc Kỳ 54. Rất may mắn ông đã có số điện thoại của bà bác sĩ ở bên Pháp. Đó là bà bác sĩ Tuyết, trước kia là học trò của ông bác sĩ Bùi Huy Lâm hiện ở bên Mỹ. Hưng rụt rè gọi cho bà Tuyết. Một người đàn ông bốc phôn. Nhưng mới nói vài câu, Hưng nghe bên kia đầu dây im lặng, rồi cúp máy. Hưng đoán có lẽ ông là chồng của bác sĩ Tuyết, tưởng ai gọi nhầm số. Cũng có thể ông không muốn nghe, ngại dính vào câu chuyện phiền toái của Hưng. Suy nghĩ mãi, cuối cùng Hưng hỏi vài người quen ở Cali, xin số phôn của bác sĩ Bùi Huy Lâm. Ông này khá nổi tiếng ở đây. Ông Lâm thật nhân từ, tốt bụng, vui vẻ và chịu khó nghe Hưng trình bày một câu chuyện khá dài. Ông tỏ ra xúc động. Khi đang khóc trong điện thoại, Hưng nghe bên kia đầu dây có tiếng sụt sùi. Ông hứa sẽ liên lạc ngay với bà Tuyết để kể lại đầy đủ sự việc và bảo đảm bà sẽ sốt sắng trong việc này. Ông còn an ủi Hưng:

– Cháu yên tâm. Bây giờ không phải chỉ có cháu, mà còn có cả bác nữa, chúng ta nhất định sẽ tìm ra bố của con.

Tấm lòng của bác sĩ Lâm làm Hưng thực sự cảm kích. Hưng nghĩ mình đã may mắn gặp một người nhân từ, nên hy vọng mọi điều sẽ tốt đẹp.

Cuối cùng thì Hưng cũng gặp được bà bác sĩ Tuyết. Lần này bà lắng tai, thăm hỏi an ủi và cho Hưng số điện thoại của người cô út, em cùng cha khác mẹ với cha Hưng. Bà sống ở Thụy Sĩ.

Hôm nói chuyện với cô, tự dưng Hưng xúc động đến nghẹn ngào. Bà chỉ lớn hơn Hưng có bốn tuổi. Tuy hoàn toàn không biết gì về Hưng, không hề được nghe người anh tên Bùi văn Hoành của bà đã từng có một đứa con như thế, nhưng bà rất vui vẻ, thân thiện và dành cho Hưng những lời thương yêu, quí mến. Chính tấm lòng và giọng nói của bà đã làm cho Hưng có cảm giác người này thực sự có liên hệ máu thịt với mình.

Hưng gởi ngay cho bà vài tấm ảnh của Hưng qua email và ngược lại bà cũng gởi cho Hưng tấm ảnh của người anh, mà Hưng bảo là cha. Xem ảnh xong, bà bảo là Hưng giống cha Hoành như đúc. Còn Hưng, khi nhận tấm ảnh của cha, tấm ảnh lúc ông còn trẻ, nên cả vợ chồng Hưng đều giật mình tưởng người trong ảnh chính là Hưng bây giờ. Bà cũng báo tin cho người chị cả của bố, bác Hương, hiện định cư ở Canada gọi sang Mỹ thăm và vui mừng đón nhận Hưng. Tối hôm ấy, Hưng rất xúc động nhận được một email ngắn của cô út :

– Hưng đã quậy trời, quậy đất đi tìm bố, từ bác sĩ Lâm ở Cali, đến cô Tuyết, bác Túc ở Pháp. Tất cả đã biết và cùng chia sẻ niềm hạnh phúc. Cô ở Suisse và bác Hương ở Toronto đã mở rộng vòng tay đón Hưng vào gia đình họ Bùi. Cô rất vui vì Hưng tìm được dòng suối trong, và Hưng sẽ như dòng thác đổ, như sông Cửu Long chẩy về ôm hết những người Hưng muốn thương yêu

Có một điều không phải như Hưng nghe mẹ và ông cụ Bắc Kỳ 54 ở Phùng Hưng ước đoán trước đây, cha của Hưng không định cư ở Pháp sau 75, mà vẫn còn ở Sài Gòn. Điều ngạc nhiên hơn ông từng là đại úy phi công VNCH. Bị tù 7 năm sau tháng 4/75. Ông đủ điều kiện đi Mỹ theo diện HO, nhưng bà vợ, nhờ chôn giấu được một số vàng của cha mẹ để lại sau 75, nên còn vốn để buôn bán làm ăn, điều quan trọng hơn là cả cha mẹ bà đều bị bệnh nặng nằm một chỗ cần đến sự săn sóc của bà, nên bà không thể bỏ đi. Cuối cùng bố Hưng phải đành ở lại. Bà cô út rất tế nhị, vừa muốn tránh việc phiền muộn có thể ảnh hưởng tới cuộc kỳ ngộ, và cũng muốn dành trọn cảm giác ngạc nhiên cho ông anh, nên bà bảo sẽ không trực tiếp cho cha Hưng biết, mà chỉ cho Hưng số điện thoại và địa chỉ của ông, đề nghị Hưng nhờ đứa em ở Sài gòn tìm cách hẹn ông ra ngoài, kể chuyện về Hưng, rồi sau đó gọi điện thoại để hai cha con nói chuyện.

Hưng nghe theo lời cô, nhờ Hà giúp mình mọi việc. Chiều hôm sau, từ một quán cà phê trong giờ vắng khách, ông Hoành lần đầu tiên nghe tiếng nói của đứa con hơn 51 năm chưa hề biết mặt.

Giọng nói đôn hậu pha lẫn chút đùa cợt, có lúc lại nghẹn ngào đứt đoạn của ông đã gây cho Hưng cảm giác gần gũi, thân thiết ngay từ phút ban đầu. Ông kể chuyện về bố ông và ông, đau buồn thế nào khi biết mẹ Hưng bỏ đi, vã đã vất vả kiên nhẫn đi khắp nơi tìm mẹ con Hưng mà không gặp. Khi nghĩ là mẹ Hưng đã tự tử mang theo dòng máu của mình, cha con ông đã ân hận đau đớn như thế nào. Trong phòng riêng ông có để tấm ảnh nhỏ của mẹ Hưng trên kệ thờ. Thấy ông đau buồn tiều tụy, bố ông xin giấy tờ cho ông sang Pháp du học. Nhưng khi ông chuẩn bị lên đường thì bố ông đột ngột qua đời do một tai nạn ở Lâm Đồng. Ông phải ở lại, phụ bà kế mẫu lo cho xưởng dệt và mấy đứa em. Khi đến tuổi động viên, xin vào trường Không Quân ở Nha Trang và làm phi công quan sát (L19) cho đến ngày mất nước. Thời gian biệt phái công tác ở Trà Nóc, ông quen cô con gái của một thương gia ở thành phố Cần Thơ. Sau này trở thành vợ của ông. Bây giờ ông bà có bốn người con, hai trai hai gái. Tất cả đều đã trưởng thành và có gia đình riêng. Những điều ông kể, nhiều lần bị gián đoạn. Không phải ông quên, hay ái ngại, mà vì phải dừng lại để lau nước mắt. Bên kia đầu dây, Hưng cũng sụt sùi.

Ông nhờ Hà về thưa lại với mẹ xin cho ông được đến thăm mẹ. Được bà đồng ý, sáng hôm sau ông lái xe lên Bình Dương. Vợ chồng Hà giúp trang điểm, thay áo quần mới cho mẹ. Vừa vui mừng, vừa xúc động khi nép vào cánh cửa nhà sau, nhìn lén cuộc trùng phùng kỳ diệu của mẹ mình với người tình xưa, Cả hai đều bạc tóc. Ông nắm tay bà :

– Bà còn giận tôi không ?

Mẹ Hưng không trả lời mà bật khóc. Đôi mắt của bà đã bị mờ từ hơn bốn năm nay, bây giờ càng mờ hơn qua làn nước mắt. Nhưng dường như bà đã nhận ra ông, nhìn thấy ông rất rõ qua ký ức và cả tâm hồn bà. Ông ôm lưng, dìu bà ngồi vào chiếc ghế bành bên cửa sổ. Khi thấy bà ngồi bỏ hai chân trên ghế, ông đùa :

– Bà ngồi cái kiểu này, hèn gì Thái Lan đang bị một trận lụt kinh hoàng bên ấy.

Bà hiểu ý, vội bỏ thòng hai chân xuống, đưa tay lau nước mắt rồi nhoẻn miệng cười. Vợ Hà véo nhẹ tay chồng khi thấy mẹ đã trên 70 nhưng vẫn còn giữ chút thẹn thùng của thời con gái.

Ông nói tiếp :

– Chắc bà thương tôi lắm hay sao mà đặt tên cho mấy đứa con sau này cũng bằng vần H, và cháu Hà trông cũng giống tôi lắm?

Bà lảng sang chuyện khác:

– Nghe nói ông là sĩ quan Cộng Hòa, khi biết tôi theo Việt Cộng ông có thù ghét tôi không?

Ông cười thật to :

– Nhiều lần bay trên trời, tôi phát hiện mấy cô du kích tắm truồng dưới suối. Tôi sà xuống thật thấp định phóng mấy trái hỏa tiễn, nhưng bỗng nhận ra có bà dưới đó, nên tôi vội vã bay đi. Chứ hồi đó tôi bắn một phát thì làm sao bây giờ hai đứa còn gặp nhau đây.

Không biết vì giọng bông đùa rất tự nhiên hay vì chữ “hai đứa” của ông vừa nói, bà bỗng im lặng, đưa đôi mắt đục mờ nhìn xa xăm. Trong ký ức của bà, hình ảnh anh học trò Hoành 19, 20 tuổi tuấn tú ngày xưa vừa sống dậy, tạo cảm giác trẻ trung, cùng một chút lãng mạn trong lòng bà.

Dường như ông đã đoán trước và chờ đợi thời điểm kỳ diệu này, bước ra xe lấy bó hoa vào trao cho bà :

– Xin bà nhận cho tôi vui. Đây là bó hoa đáng lẽ tôi trao cho bà trong ngày đám cưới, giờ lại trở thành bó hoa xin tạ tội, dù rất muộn màng. Cái lỗi lớn nhất của tôi là đã đẩy bà đi lạc vào một con đường, để đến cuối đời bà vẫn mãi ăn năn.

Khi thấy bà ôm chặt bó hoa vào lòng, rưng rưng nước mắt, ông bỗng trầm xuống:

– Tôi xin cám ơn bà. Dù bà không nói ra, nhưng tôi biết là bà đã tha thứ cho tôi. Thằng Hưng, đứa con bất hạnh của chúng ta, dù ở thật xa, nhưng tôi đang nhìn thấy nó mỉm cười. Tôi mong chờ để đón vợ chồng nó và hai đứa cháu nội của mình. Nay mai tụi nó sẽ về đây để cùng với bà và tôi ôm nhau mừng cho cuộc trùng phùng kỳ diệu này.

Trước khi chia tay, ông xin phép bà được thắp một nén hương trên bàn thờ ông Ba, chồng của bà.

Khi tôi ngồi viết lại câu chuyện này theo lời kể của Hưng, thì Hưng cùng vợ và hai cô con gái đang có mặt tai phi trường Tampa, bắt đầu cuộc hành trình về Việt Nam để tìm lại nguồn cội và quá khứ của mình. Cầu mong cuộc trùng phùng sẽ làm lành được những vết thương trong lòng mỗi người, trải qua bao đổi thay, tan thương dâu bể.

Đồi Hacienda Heights, Mùa Thanksgiving 2011

Phạm Tín An Ninh

(*) Gs Đỗ Trung Hiếu, sau 75 làm Ủy Viên Liên Lạc Các Tôn Giáo của Trung Ương Đảng CSVN, vợ là bác sĩ Văn và cháu là Đỗ Hữu Ưng. Cả ba đều là đảng viên Cộng sản. Riêng Hiếu gia nhập đảng CS (1956) trước khi hoạt động trong phong trào sinh viên Phật Tử Sài gòn. Sau này (1986) phản tỉnh, cùng với Nguyễn Hộ và các đảng viên kỳ cựu trong Câu Lạc Bộ Kháng Chiến Cũ, chống lại đảng nên (1992) đã bị tù và tước hết đảng tịch cùng các chức vụ.

(**) Nguyễn Xuân Nam, vượt biên trước Hưng một năm, lúc 19 tuổi. Ở Việt nam, Nam mồ côi mẹ, cha bị thương tật, chỉ học đến lớp ba, rồi nghỉ, theo cha làm nghề đánh cá. Vậy mà sau hơn mười năm sang Mỹ đã trở thành một bác sĩ nổi danh, được Hội Đồng Giáo dục Y Khoa trường đại học Harvard bình chọn là một trong những bác sĩ giỏi nhất nước Mỹ(2010), hiện là Trưởng Khoa Nhi Đồng bệnh viện Los Angeles, California và cũng là giáo sư tại một số trường Đại Học của Hoa Kỳ

KÝ ỨC THÁNG TƯ…

hochibuu

Ta thức dậy khi bài thơ đã chín
Bài thơ buồn của những gã tha hương
Bài thơ có từ khi ta vào lính
Bài thơ ngông ta viết giữa chiến trường

Đã đến rồi cái tháng tư chết tiệt
Buồn nhiều người và vui của nhiều người
Cái kỷ niệm của một thời chinh chiến
Ta quay về mà nước mắt rơi rơi

Ta dự đoán những gì khi đổi mới
Ở hay đi ? Ta quyết định một mình
Ở thì mất những gì ta mong đợi
Đi thì hồn ôm mãi khúc điêu linh…

Ta quyết định cứ chơi cùng với lũ
Bởi vì ta còn mồ mả ông bà
Ta còn có những nắm mồ vô chủ
Của một thời binh biến đã trôi qua

Ai đó nói thiên đàng và địa ngục
Dạ xin thưa tôi nghe đã nhiều rồi
Chỉ còn đây với nỗi buồn tủi nhục
Kẻ phương nầy – người phương đó – nổi trôi…

Ta đánh cược cả đời cho định mệnh
Tuồng hết rồi khán giả tự về thôi
Hãy chiêm nghiệm những bài ca rất sến
Rượu tràn ly – cứ uống đến cuối đời…

01.04.16
HỒ CHÍ BỬU

LẠI MỘT NGÀY KHÔNG MƯA

trantuan

Lại một ngày trời thôi không mưa.
Con phố khát, bụi mù thay lầy lội.
Đêm ta về đôi tay gầy chấp chới.
Dưới gót giày mặt đất quá chông chênh!

Trời quên mưa
cỏ hoa buồn héo hắt.
Con mèo lười – trên ghế – mắt lim dim.
Và hồn ta sóng sánh vạn nỗi niềm.
Một khoảng lặng
đợi chờ mùa giông bão!

Trời rất xanh – ta mơ về sắc áo.
Em ngang qua
cho phố nhỏ thôi buồn.
Một thoáng rùng mình – ta vẫn cô đơn!
Không hy vọng
nên tháng ngày lơ đãng!

Trời quên mưa
nên thời gian quắt quéo.
Đêm hoang vu – không một tiếng côn trùng.
Khẽ trở mình – hơi thở yếu – run run.
Hồ như tiếng…
Thạch sùng kêu
gọi bạn!

Trời vẫn không mưa!
Đời mong manh quá!
Dòng sông trơ
không chở nổi con thuyền!
Gã thương hồ – neo lại bến – ngủ yên.
Nghe thừa thải chút tàn hơi
tội nghiệp!

Và cứ thế,
tháng ngày buồn khô khát.
Hàng cây khô – ngơ ngác – giữa dương trần.
Bấu vào đời những móng vuốt lặng câm.
Và chờ đợi
chút từ tâm…nhỏ xuống!

Trần Tuấn

CƠN GIÓ MANG HỒN LỮNG THỮNG (TT)

ledachoanghuu

Ba tháng sau ngày khánh thành con đập, hồ tích đầy nước. Còn thằng Chí nhận được hai giấy báo, một giấy báo đậu đại học, một giấy báo… bị đuổi việc. Nữa tháng sau nó cũng nhận được giấy báo, giống giấy báo sau của thằng Chí. Nhưng hai đứa bị đuổi thì không liên quan gì với nhau.
Kèm với tờ giấy báo đuổi việc thằng Chí còn bị một trận đòn nhừ tử. Vài ngày sau nó mới biết được lý do ngay từ người đánh nó, một tay quậy phá xóm làng gần huyện, tay này ăn năn kiếm gặp hai đứa nó mời bằng được ra quán nhậu một chầu, tay tên Chiến lưu linh. Ra quán nhậu, Chiến lưu linh đẩy bộc thuốc bự trên bàn qua thằng Chí:
“Cho anh xin lỗi thằng Chí, trong này đầy đủ thuốc uống, thuốc xoa bóp anh cất công trèo núi lên chùa xin về coi như tạ lỗi, anh vì chút tiền mà chẳng tìm hiểu kỹ, cứ nghĩ cha đó nói thiệt, đâu ngờ chả ba xạo, mong tụi em bỏ qua”.
Thằng Chí hỏi lại:
“Cha nào?’.
Chiến lưu linh rót rượu, gắp mồi vô chén tụi nó:
“Cạn ly đi nghen, ủa mà tụi em hông biết gì sao?”.
Thằng Chí lắc đầu, cả ba cùng cạn, Chí lưu linh nói tiếp:
“Là cha sếp của em đó”.
Hai đứa nó giựt mình, thằng Chí trợn mắt:
“Anh đừng nói bậy”.
Chiến lưu linh khoát tay liên tục:
“Hông nói bậy à nghen, anh nói bậy ông Trời oánh Thánh vật à”.
Nó xen vô:
“Chuyện thế nào, anh nói đi”.
Chiến lưu linh chậm rãi:
“Cha đó nói bữa em gặp chả xin đi học lớp theo tiêu chuẩn phòng phải hông?”.
Thằng Chí gật đầu:
“Phải, ổng hông cho đi, ổng nói hông có người làm”.
Chiến lưu linh cười khẩy:
“Làm gì có vậy, chả sợ thì có”.
“Sợ gì, ổng là thủ trưởng mà?”.
Chiến lưu linh tiếp tục cười:
“Chả hông có trình độ phải hông, chả sợ thằng này học về chả sẽ mất ghế”.
“Đúng rồi, chả chỉ có cái bằng bổ túc lớp chín, đang bổ túc tiếp, mà học hành khỉ gì bổ túc đó, đi cho có vài năm có cái bằng”.
Nó thắc mắc:
“Nhưng hổng lẽ chỉ vậy mà oánh thằng Chí?”.
Chiến lưu linh lắc đầu:
“Đâu chỉ vậy, người ta hông có học chớ có mưu mô đầy mình, oánh thằng Chí là mũi tên trúng hai đích, chả yêu cầu anh oánh cho nhập viện lâu lâu, thằng này có lành bịnh cũng đâu còn chỗ, đã có người khác thế, coi như nhổ được cái gai, hai là báo công được với cấp trên”.
Thằng Chí hỏi lại:
“Báo công?”.
“Ờ, tụi em bị mất trộm sạch sành sanh đúng hông?”.
Hai đứa nó gục gật, Chiến lưu linh đưa ly rượu cụng:
“Thiệt ra là giả đó, chả vô phòng hai đứa tình cờ hay sao chả có được tấm ảnh chụp xe chở vật liệu cho mấy cha cán bộ gộc, chả dàn ra cuộc trộm đó, tụi anh dọn sạch, đưa chả hết xấp ảnh, còn lại tiền bạc, tư trang chả biểu tụi anh chia nhau, có cả cái máy ảnh nè, giờ tụi anh xin trả lại hết”.
Thằng Chí cầm cái máy ảnh Chiến lưu linh đưa trả mà ngèn nghẹn, nó bật ra:
“Cha này đểu quá”.
Chiến lưu linh hất hàm:
“Ờ, mà chưa hết, ba mũi tên chớ hông phải là hai, chả móc nối với kiểm lâm luôn, thằng Chí được phân công vô rừng tìm hiểu về lâm tặc chớ gì, sau khi oánh đổ vạ cho lâm tặc, tụi anh rút êm thì kiểm lâm xuất hiện, có công đưa thằng này về rồi thêm công chặn bắt được lâm tặc khét tiếng, chống trả người thi hành công vụ, giải thoát cho phóng viên, được viết lên mặt báo đó, nhưng có nêu tên thằng lâm tặc nào đâu, được nhận bằng khen, có tiền thưởng ăn nhậu hà rầm”.
Hai đứa nó ngao ngán:
“Phải nói là xảo quyệt”.
Chiến lưu linh thấy lạ hỏi:
“Ủa nhưng mà sao em lại bị đuổi, đâu có nằm nhà thương, đâu có nghỉ nhiều, chỉ hai ba bữa mà?”.
Thằng Chí cười khảy:
“Họ đã xảo quyệt thì bằng mọi cách, thua keo này bày ngay keo khác”.
Nó gục gật:
“Đúng vậy đó anh Chiến, họ muốn đuổi cho bằng được mà, họ bươi móc tìm ra tội, họ lục bài viết của thằng này đời nảo đời nao, lúc đó chẳng nói gì, giờ gán ghép tội”.
“Viết cái gì mà đến nổi vậy?”.
“Cũng viết về rừng rú, về những người đi làm rừng, những người bị cho là phá rừng, đại ý là hỏi những người làm rừng thì người ta trả lời, tui đâu có phá, phá là phải chặt xuống bỏ đó cho hư cho mục, nhưng vì nghèo đói, hai mùa mưa nắng, mùa nắng chẳng còn biết làm gì phải vào rừng làm củi làm gỗ để nuôi thân nuôi gia đình, có thể là khai thác trái phép, khai thác hông đúng nhưng có thấy ai hướng dẫn, khai thác như thế nào, làm ra sao, chỉ thấy kiểm lâm vây bắt rồi xong”.
Chiến lưu linh uống cạn rồi khà một tiếng:
“Nói có lý mà”.
Nó chen vô:
“Mình thì thấy có lý, nhưng họ cho là đâu có lý, họ cho ngược lại là thằng này sai quan điểm, sai lập trường, tư tưởng có vấn đề, a dua theo dân phá rừng mà viết, hết họp cơ quan kiểm điểm, là ngày ngày được tuyên giáo mời làm việc, nói đủ điều, nhiều người giáo huấn làm sao chịu nỗi, thằng này còn tâm trí đâu mà làm việc, công việc bỏ bê chẳng hoàn thành, vậy là cái kết cục thế nào ai cũng rõ”.
Chiến lưu linh thở hắc:
“Thua với tiểu nhân thâm độc”.
Nó bực tức:
“Nhưng hổng lẽ thua, nhân chứng vật chứng đầy đủ hết mà”.
Thằng Chí đưa ly cụng rồi uống cạn:
“Có cũng thua thôi, vật chứng mất hết rồi, họ đã vậy sẽ làm mọi cách, họ lại đông cấu kết với nhau, chuyện gì họ hông dám làm, nguy hiểm tới tính mạnh anh em chớ giỡn, bỏ qua thôi, với lại tao tự đi thi, đậu rồi nên đi học thôi”.
Chiến lưu linh đồng ý:
“Có lẽ vậy là tốt nhứt”.
Nhấm thêm ngụm rượu Chiến lưu linh chỉ nó hỏi tiếp:
“Ủa, còn em sao bị đuổi. có dính dáng gì với thằng Chí?”.
Nó lắc đầu:
“Chuyện em khác, hông dính gì với thằng Chí”.
Nó kể, một bữa về nhà thì hay tin, ông Thành sẹo về lại thị xã, ông ta đem căn nhà và miếng vườn ngày nào năn nỉ ỉ ôi cho ở sang nhượng cho người khác, không một lời với gia đình nó và chính chú Tư râu ký giấy cho ông này chuyển lên xã, xã chứng nhận. Nó tức mình đi tìm chú Tư râu hỏi cho ra lẽ, chú Tư râu trốn biệt không dám giáp mặt lại đưa vợ ra tiếp tục năn nỉ, ông Thành sẹo này thiếu nợ hợp tác xã, hợp tác xã sang nhượng để cấn trừ. Nó tìm hoài hông được, một phút nóng giận đã giựt sập cái chái nhà, vậy là bị ghép tội manh động, xã nhốt cho tuần lễ, báo lên huyện, còn tư cách nào mà làm việc, nhận giấy báo cho về vườn.
Thằng Chí hậm hực:
“Thằng cha Tư râu cũng là hạn tiểu nhân, ngày trước gia đình nó cưu mang cho làm thuê làm mướn kiếm cơm. Sau có cơ hội là trở quẻ, một hạng với Thành sẹo, một hạng với cha sếp của tao”.
Chiến lưu linh lắc đầu:
“Tiểu nhân sao quá nhiều, cứ tưởng mình đã là tiểu nhân có người còn tệ hơn nữa”.
Nó rót đầy ba ly rượu, thở một tiếng mạnh:
“Thôi, bỏ qua bên hết đi, uống rượu chơi, coi như kết thúc thêm một tập”.
Cả ba nâng ly, miệng cười mà lòng man mác.

***
LÊ ĐẮC HOÀNG HỰU

MÂY NƠI GÓC NÚI

sunyata

“Đồi chè dưới ánh nắng chói chang này không thể nào gọi là buồn. Nhưng bảo là vui, hẳn cũng không phải. Tháng hạ sắp mưa, chiều đang chuẩn bị tới, trời tà còn hắt từng tia từ thảm lá lên gương mặt chần chừ của thiếu phụ những thoáng thay đổi và thay thế lần lượt sáng tối, tùy theo các khóm thực vật có rung động hay không. Căn nhà gỗ ọp ẹp bé xíu lọt thỏm giữa đồi nương, với mái ngói hài lòng màu yên ắng, vừa đủ để tạo thành một khối nâu đen nổi bật trong gam sắc thái xanh, từ tươi đến ủ. Nhà tựa vào cây mít cổ thụ để đứng vững. Có lẽ thế. Bằng chứng là vuông cửa sổ nhỏ nhưng cao cũng nghiêng nghiêng, vừa đủ để làm duyên cho ai đó muốn làm họa sĩ.
Phía bên trong vuông cửa ấy, như mọi thiếu phụ, cô đang ngóng chờ. Từ đây, cô có thể nhìn xuống con đường đất ngoằn ngoèo ẩn hiện sau từng khúc quanh, và tùy theo từng mùa thay lá thay hoa, cô sẽ nhìn thấy anh suốt một thôi dài, hay là vừa đấy mất đấy, như là chơi trốn tìm. Trước kia xuân thu nhị kỳ anh lên thăm cô thật bất chợt, khiến cô tuy ngỡ ngàng vui nhưng vẫn lúng túng, khi trái tim thổn thức pha với ít nhiều tự trọng cứ muốn cho không gian này thật đẹp đẽ gọn ghẽ, thật nữ tính, sao cho xứng với chuyến hành trình vất vả hàng nghìn cây số. Thời gian gần đây, mỗi lần anh lên, cô được báo trước, nên mọi thứ đều đâu vào đấy cả, nhưng đổi lại, sự chờ đợi khiến thiếu phụ cháy bỏng cả tâm can. Không mặc áo thun quần bò như vài năm trước, dạo sau này cô đã diện những bộ dịu dàng hơn, mặc dù hơi quá mượt mà khi so với khung cảnh sống. Cô muốn anh cảm thấy đây là chốn ấm êm, mặc dù chỉ ấm êm vài lần trong năm, vào những dịp như hè, lễ tết, và càng về sau này, là vào những dịp mà cả hai đều cố vin vào để có nhau. Bởi vì anh vẫn phải gánh những bổn phận riêng.
Cô bâng quơ nhìn những thứ đã sắp sẵn, ngăn nắp như trong một bức tranh. Biết là anh sẽ bảo rằng cô đừng sắp xếp gì cả, cứ để mọi thứ trong sự bộn bề của chúng, mà anh gọi là sự bộn bề rất nghệ thuật. Ba năm trước ở lần thăm đột xuất, anh lù lù vào lối cửa nhà bếp khiến cô giật phắt người. Mặt bàn bằng gỗ thật dày ở góc gian bếp đang la liệt vài củ khoai, bắp ngô, con dao cùn, cái bát sứt, bên cạnh chiếc đèn bão dấy bùn màu da ngựa. Anh cười cười bảo “bọn chúng rất đẹp, chúng khiến anh liên tưởng đến một bức tranh của Cézanne…”
Vì thế hôm nay cô cũng không vun vén quá khéo, e rằng sự chỉn chu khiến căn nhà nhỏ có thể thêm nét lạnh lùng hay khắc khổ. Bày bừa một tí, như thể có bóng dáng đàn ông.
Vì cái bóng dáng ấy mà cô chưa bao giờ tận hưởng hạnh phúc một cách trọn vẹn. Vắng, đã đành là phải trống trải, nhớ nhung như thiết như tha. Nhưng như thế vẫn còn dễ chịu hơn là khi có nhau mà đã phải nghĩ đến lúc anh ra về, lầm lũi xuống hết triền đồi. Buổi trưa của hôm trước chưa kịp trôi qua mà trong lòng cô đã hừng đông. Để rồi ngày hôm sau, nhìn quẩn nhìn quanh nơi đâu trong căn nhà vắng lạnh cũng thấy bóng dáng anh như ma ám. Ngẩn ngơ nhớ chỗ anh ngồi cạnh chiếc bàn gỗ cũ đến sờn cả mép, vì đó là chỗ anh ngồi lâu nhất. Hẫng hụt tại bìa giường này, nơi tựa vào nhau mà nghe hết cả buổi chiều xuống đầy hương. Mủi lòng khi nhìn ra ngạch cửa, nơi cô ngồi luồn tay vào mái tóc dày của anh, vạch tóc ra để nghịch vết chàm nơi mé trán. Những hình ảnh êm đềm ấy chính là giây phút đáng sợ nhất. Hơn cả nỗi chờ trông.

Bây giờ cô thẫn thờ nhìn cái bàn cũ có đôi quả mọng lẩn giữa mớ rau đang héo dần. Xuyên qua ô gió, nắng xiên thêm một chút và vãi một loạt trứng gà lốm đốm trên mớ rau khiến đôi quả chừng như phập phồng thổn thức cứ như muốn gào lên. Nhưng không phải thế. Cô lại thở dài quay nhìn ra ngoài, thấy cặp cây si đực cái, chúng từng rải hàng đợt lá phì nhiêu căng nhựa xuống mặt đất trước thềm nhà, biến thành tấm thảm, đủ dày để cho cô soi lấy đời mình.
Mỗi lần nghĩ đến đôi si, cô hơi cáu cho bản thân. Sống lặng lẽ qua xuân hạ thu đông, cô điềm nhiên đến độ có lần phải vỗ về anh, khi tự ví mình như mây núi, nhàn nhã vô tư, trong khi anh lại như dòng nước dưới khe kia, tuy sống động nhưng quá rộn ràng. Song dường như đã có sự đổi ngôi, khi dần dà mây núi biết chờ mong, và dòng suối đã từ từ chảy chậm. Giờ đây, thời gian giữa hai lần gặp nhau đã khó có thể chịu đựng hơn, vào lúc cô không còn kịp nhìn thấy con chim chào mào bay qua cửa sổ, mà chỉ đau đáu xót xa với tiếng hót vang vọng những tụ tan khi bóng nó đã khuất tự bao giờ.
Nhẩm lại những gì đã diễn ra, lúc khoan lúc nhặt, nhiều khi cô không biết là mình tỉnh hay mơ. Cái khung cảnh mà anh gọi là thần tiên này, biết đâu chỉ như là cung quế nhung lụa ấm êm, nhưng sẽ đọa đày ta suốt cả quãng đời còn lại, trong khi cô lại còn quá trẻ. Nhưng thôi, cũng chẳng tiếc rẻ, cứ điềm nhiên như thế mà sống. Vả chăng, anh từng thì thầm rằng anh yêu cô cũng vì nét hời hợt ấy. Vả chăng hiện nay cô cũng chẳng còn thảnh thơi để lo nghĩ thêm. Ở góc giường, thằng bé đã đạp tung chăn. Cô rướn người lên kéo kín lại, nhân tiện vuốt ve mấy sợi tóc tơ lòa xòa đang che phủ vết chàm nơi mé trán.”

SUN YATA

ANH VỀ PHỐ CŨ TRỜI MƯA

linhphuong

Giữ ngoan
tiếng hát em buồn
Để mai chiều xuống
mà thương lấy người
Anh về
phố cũ
trời mưa
Tìm em áo
của ngày chưa nhạt màu
Giữ ngoan
nghĩa nặng
tình sâu
Thuở
mi khẽ chớp
mắt sầu đã mơ
Cho con bướm
mộng vào đời
Qua ô cửa sổ
một thời bâng khuâng
Giữ ngoan
mười ngón tay cầm
Giấc mơ hoa
ngọt môi hồng
em xưa
Anh về
phố cũ
trời mưa
Sài Gòn ơi !
Áo em
chưa
nhạt màu
Bây giờ
cho đến mai sau

Linh Phương

CHẬP CHỜN MÀU HOA CẢI

tranvannghia

* Tặng bạn Ngô Đại Hùng
Màu hoa cải ven sông
Vàng cả chiều tháng Chạp
Có miền quê xa tắp
Mây trời trắng tìm đâu?

Bóng mẹ nép chân cầu
Rét run mùa gió tạt
Vẫn nặng lòng câu hát
Ru đời con lớn khôn

Mắc nợ chuyện áo cơm
Lệch vai đời lữ thứ
Quên dòng sông xóm cũ
Long đong kiếp thương hồ

Chợt bắt gặp cơn mưa
Biết mùa đông trở lại
Chập chờn đêm, hoa cải
Nở rực vàng giấc mơ

Rưng rưng trước ảnh thờ
Nén hương buồn nhớ mẹ
Con suốt đời nhỏ bé
Giữa màu nắng và hoa

TRẦN VĂN NGHĨA

DẠO KHÚC 1

nguyenquangtan

Khi chúa cứu thế làm rơi giọt máu nhân loại mong chờ
Ướt đẫm trang thơ
Tôi xé chiếc áo độc nhất
Lau gương mặt em bụi mờ.

Khi những ngón tay nhạc công bắt đầu kiệt lực
Linh hồn tôi khao khát ngã xuống ven đường
Từ phương xa em đến
Tay ôm bình nước ngát hương

Khi bầy rắn xảo quyệt khôn ngoan
Cùng nhau giết chết chim phượng hoàng
Em từ trời bước xuống
Và lòng xót thương

Khi con hoàng oanh trong tôi chẳng còn ca hát
Vì nỗi buồn đâm suốt trái tim
Từ bức tranh xưa em về hiển hiện
Và hàng mi dài
Cong vút cánh chim

NGUYỄN QUANG TẤN

TƯỞNG NIỆM LARRY ENGELMANN

buihuuliem

Cuộc phỏng vấn này được thực hiện bởi phóng viên JOE HOLT vào ngày Chúa Nhật ngày 30 tháng 10 năm 2011 tại tư gia của LARRY ENGELMANN ở SAN JOSE.
Bản dịch của BÙI HỮU LIÊM

Phóng Viên: Từ lúc nào Ông biết là mình muốn trở thành nhà văn?
Tác giả: Tôi sinh ra và lớn lên tại Austin, một thành phố nhỏ cách Thành Phố lớn Minneapolis 100 dặm Anh. Thành phố này có cơ sở làm thịt heo xay “spam” đóng hộp nổi tiếng. Nơi đây chỉ có một người tốt nghiệp Đại Học, đó là vị Bác Sĩ Địa Phương. Đây là vùng nhiều cư dân sinh sống và chúng tôi không rõ mọi người sinh sống bằng các ngành nghề gì. Khi tôi vào Đại Học, tôi vẫn nghĩ đến các ngành chuyên môn như Triết học, Xã hội học, Lịch sử mà không bao giờ cho Viết văn là một nghề nghiệp . Lối nhận định nầy cũng nghịch lý vì viết và kể chuyện như là phần đời sống chúng tôi lớn lên, đặc biệt là tiểu bang Minesota. Tôi ở rất gần Sauk center nơi nhà văn lớn Sinclair Lewis sinh ra và lớn lên. Ngoài ra tôi có đọc tác phẩm của một nhà văn nổi tiếng khác là Ole Edvart Rovaag, con của ông là Thống Đốc Carl Rovaag thời tôi vào Đại Học. Tôi muốn nhắc một bối cảnh lịch sử khi Thế Chiến thứ hai chấm dứt, lúc đó tôi là cậu bé rất nhỏ nhưng vẫn nhớ các cựu chiến binh bạn của cha mẹ tôi và cả cha tôi nữa, họ kể lại những câu chuyện lich sử thật truyền cảm và sống động. Đúng là chúng tôi lớn lên trong cái nôi của nền văn hóa truyền khẩu, và các câu chuyện viết thời Trung Học. Thời đó vào Đại Học xu huớng thường chú trọng đến nền khoa học kỹ thuật nên tôi đã chọn ngành chính là Toán và Hóa Học, hy vọng sẽ trở thành một khoa học gia, một chuyên gia về Hỏa Tiễn. Nhưng vị giáo sư Hóa Học thuyết phục tôi nên từ bỏ giấc mơ này… tôi còn học vài môn phụ trong khi kiếm một ngành học chính khác. Giáo sư môn Lịch sử thật là tuyệt vời với các bài giảng quá hay. Tôi ra trường Cao Học chuyên ngành Lịch sử và Kinh Tế. Sau đó tôi lên Đại Học Michigan theo chương trình Tiến sĩ Lịch sử. Thời gian học các Thầy giảng cho những bài tuyệt vời về Cộng Hòa La Mã, Lịch Sử Âu Châu thế kỷ 19. Thực sự từ các câu chuyện hay sinh viên phải viết lại các bài nghiên cứu. Tôi được dạy là các bài viết này khô khan và chán ngắt… vậy mà tôi nhận được việc làm giáo sư Đại Hoc San Jose State năm 1969. Lúc đó tôi có hai đứa con gái , vợ tôi là nghiên cứu sinh ở Stanford. Lương giáo sư thấp lắm khoảng 6,000 USD một năm nên tôi đã viết cho các tờ báo Chúa Nhật địa phương đế có thêm phụ trội nhờ tiền nhuận bút.
Phóng Viên: Ông có nhớ tờ chi phiếu đầu tiên không?
Tác giả: nhớ chứ hình như là 150 USD ,tôi nghĩ là phải nhiều hơn, đương nhiên sau này tôi kiếm được nhiều hơn, rồi trong tiềm thức tôi bắt đầu nghĩ là mình có những năng khiếu mà người khác không có. Các câu chuyện thể loại này được đăng trên các tờ báo Chúa Nhật, đôi khi tôi lấy các bài nghiên cứu của tôi lúc trước… Như Câu chuyện tàu ngầm L44 bị đắm ở Daly city năm 1942 chẳng hạn… Lúc đó tôi gởi bài này đến tờ Life magazine. Một hôm đang ăn sáng có tiếng điện thoại, có người xưng là Jones London goi đến và cho biết đọc bài tôi viết trên báo Life, bài viết về Tàu ngầm… tờ báo Life trả 6500 USD bằng lương giáo sư của tôi 1 năm. Anh bày tỏ ý định mời tôi hợp tác với chương trình “Good Morning America”. Tôi tưởng tôi làm ở đây nhưng họ đưa tôi qua New York . Đây là một bước ngoặc thay đổi quan trọng trong sự nghiệp viết văn của tôi. Viết những áng văn, được trả công viết lách thật là điều rất hạnh phúc, như là một phần thưởng. Khi về lại con gái tôi đi đón và chúng tôi đến một tiệm Cafe nơi có các nhà văn mặc áo pull cổ cao màu đen hút thuốc và tập trung viết lách. Họ là nhà văn sao? Tôi viết văn mà sao không măc đồ như họ và không hút thuốc. Tôi thực sự là viết, việc này khác với giả vờ viết. Lúc này tôi chắc là mình có năng khiếu viết văn. Lúc đó tôi bán được cuốn sách đầu tiên.
Phóng viên: Ông có lúc nào giới thiệu mình là Nhà văn trong các buổi tiệc tùng này khác không?
Tác giả: Tôi nhớ tôi đã gặp một người phụ nữ và không bao giờ quên cuộc gặp gỡ này mặc dù không còn nhớ khuôn mặt của bà ta. Bà ta hỏi tôi làm nghề gì, tôi trả lời là viết văn (Tôi không nói nghề dạy học ít lương của tôi ). Bà ta nói là tôi trông rất giống văn sĩ. Về nhà tôi soi gương mãi xem tôi có nét nào văn sĩ như bà ta nói không?
Sau đó tôi ra mắt và bán cuốn sách đầu tiên Intemperance 1979. Năm 1984-1985 Tôi ký hợp đồng hai cuốn sách “The goddness and American girl” và “Tears before the rain”. Tôi không thích nói về tiền, chưa bao giờ nghĩ sẽ kiếm được bao nhiêu tiền trước khi viết, nhưng mình cố gắng viết hay, bỏ thời gian và tâm trí vào và được trả công xứng đáng cho việc mình làm là điều quá tốt. Năm 1988 “The goddness and American girl ” được chọn là cuốn sách hay nhất của năm. Tôi nhớ lúc đó nhận hợp đồng 1 năm đi dạy ở Trung Quốc và trước khi đi tôi phải tham dự khóa hướng dẫn ở Đại Học John Hopkins, có vị giáo sư mua cuốn sách của tôi từ tiệm sách ở trường bước vào và đưa cuốn sách lên, mọi người trong phòng họp đứng lên vỗ tay. Đây là phần thuởng tinh thần rất có giá trị với tôi. Mọi người nghĩ tôi là nhà văn, điều ấy rất ư đặc biệt. Cuốn sách này dày 500 trang viết về hai người đàn bà 20 tuổi và 30 tuổi. Sau đó tôi qua Trung Quốc và năm 1991 Tôi xuất bản cuốn “Tears before the rain”, xong cuốn sách này “hàng ngàn giờ công sức”, tôi mà biết được phải tốn quá nhiều thời gian như vậy thì đã không bắt đầu. Tôi được cơ hội giới thiêu sách trước Hiệp hội Thuơng Mại Người Việt ở San Jose, có mấy trăm người Việt, họ rất xúc đông và đưa tôi lên mục đích để vinh danh và tri ân tôi. Khi đến phần giới thiệu sách tôi không nói nên lời. Một người đàn bà trong ban tổ chức đứng gần đó vỗ vai tôi và nói là tôi cần nghỉ ngơi nhiều hơn. Người viết bỏ hết thời gian, tâm hồn và trái tim cùng ước muốn viết hay rồi chinh phục được người đọc, họ đồng cảm và tri ân người viết, đó là một niềm an ủi to lớn đối với tôi. Và rồi tôi nhận thức được là mình càng viết nhiều thì lại càng khó vì những thiếu sót cuốn sách trước, đòi hỏi những tiêu chuẩn cao hơn cho cuốn kế tiếp.
Gần đây tôi có dự khóa huấn luyện cho người mới viết văn. Tôi thấy là tôi khó có thể dạy cho người khác. Sự nghiệp viết văn của tôi là một sự thẩm thấu lần lần, do học vấn, môi trường sinh sống và trưởng thành, và có thể từ DNA sinh học, cho tôi khả năng viết truyện thật xúc cảm. Bắt đầu viết văn bằng những kỹ năng viết trên báo, các bài viết ở trường Đại Học, nhưng viết để đời là cả một nghệ thuật, mà nghệ thuật là một tiến trình rất kỳ ảo. Tôi không hút á phiện tạo cảm hứng khi viết vì sợ tổn hại năng khiếu đặc biệt trong tâm thức, không muốn nó dãn ra hoặc co rút lại. Câu chuyện “The daughter of China” tưởng chừng không xảy ra – Tác giả như nghẹn lời và xúc động khi kể bối cảnh bắt đầu từ 1930 khi một gia đình có đứa con gái chào đời và dự định đổi về một đứa con trai, Người vợ đưa con cho người chồng đem đi, người chồng biết gia đình kia đổi ý không chịu nên trên đường về ném đứa con gái nhỏ xuống một con kinh đào và đem về tấm mền. Người mẹ giữ lại cho đến khi đứa cháu nội gái mở ra và thấy những mảnh vỡ vụn đỏ như máu . Khi tôi viết, lúc nào cũng thấy những thước phim này quay trong đầu và bật khóc, đọc cho vợ nghe đoạn nầy nhưng quá nghẹn ngào không nói được ra lời. Tôi như có một nối kết vô hình với những con người vô hình khi viết nên không biết làm sao dạy những điều cảm nhận rất đặc biệt này cho người khác… Cần phải có tấm lòng đồng cảm và nhân ái và thực sự sống trọn ven. Các Nhà văn lớn phải sống một cuộc đời, cần nên đi đến một nơi nào đó như Hemingway là một nhà văn lớn tôi rất ái mộ, không chỉ là tham dự những khóa hội thảo là có thể viết. Chúng ta phải bắt tay vào việc, mua một vé tàu và đi nơi nào đó. Chúng ta sẽ hiểu về mình nhiều hơn ở nơi xa lạ. Nếu biết một cuốn từ đầu đến hòan tất tốn cả hàng ngàn giờ có lẽ tôi đã không bắt đầu, nhưng rồi ta sẽ quên đi khi hoàn tất và lại có một bắt đầu mới (như là Mẹ tôi có 5 đứa con, lần nào sinh xong bà cũng không muốn sinh nữa rồi lại tiếp tục sinh đứa con khác.) Viết cuốn “the goddess and American Girl ” hơn 500 trang, từng đoạn, từng hàng, từng chữ, từng mẫu tự để hoàn thành. Tôi nghĩ là phí đi thời gian của Học viên và của tôi… đây hoàn toàn là một vấn đề không dạy được. Có ai biết dạy làm sao để đi xe đạp, phải tự đi lấy, có dự khóa huấn luyện này nọ cũng phải tự ngồi xuống và viết cả hàng ngàn giờ.

(Phóng Viên nhắc Ông Larry còn hai phút nữa. Ông kể chuyện trong hồi ký của Ông Henry Kissinger khi làm cố vấn An Ninh Quốc Gia năm 1969, có một chương trình điện toán của bộ Ngoại Giao và bộ Quốc phòng đưa vào các dữ kiện và đặt ra câu hỏi là khi nào thắng lợi trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Máy điện toán vận hành một hồi lâu và đưa ra đáp án là chúng ta thắng từ năm 1966. Giáo sư cười lớn và Phóng viên cười theo chấm dứt cuộc phỏng vấn 33 phút.)

Bùi Hữu Liêm (dịch)

TƯỞNG NIỆM 1 NĂM NGÀY MẤT CỦA TÁC GIẢ: Nước Mắt Trước Cơn Mưa ( Larry Engelmann) 01/04/2015- 01/04/2016

tuongtri

8111_engelmann_larry

Tears Before the Rain, Nước Mắt Trước Cơn Mưa, là tựa một cuốn sách của Larry Engelmann, giáo sư khoa sử của đại học San Jose, California và được Nguyễn Bá Trạc, tác giả của Ngọn Cỏ Bồng dịch ra tiếng Việt.

Như trong một video clip phỏng vấn mình, tác giả Larry Engelmann cho biết mình không phải là nhà văn mà chỉ là người kể chuyện, storyteller, đến với sách vở chữ nghĩa chỉ là một sự tình cờ. Ông sinh năm 1941, lớn lên tại một thành phố nhỏ ở tiểu bang Minnesota. Ngay từ nhỏ ông đã say mê nghe người lớn, trong số đó là những người trở về từ Thế Chiến Thứ 2, kể chuyện. Ông say mê nghe người ta kể chuyện rồi từ nghe ông lại trở thành người kể chuyện. Nên không có gì lạ khi ông mê môn sử và chọn sử là ngành mình theo học khi lên bậc đại học, và học xong, ra trường lại đem chính cái tài kể chuyện của mình ra dạy môn sử tại đại học San Jose, California. Lương dạy học không đủ chi phí cho gia đình, ông mới viết và gửi bài cho một số báo để kiếm thêm tiền. Tài kể chuyện của ông khi đưa lên trang giấy lại gây lôi cuốn và xúc động cho người đọc, và ông thành nhà văn, không, ông thành nhà kể chuyện, storyteller, storyteller for money, người kể chuyện để kiếm tiền, như ông xác nhận mình là ai và vì sao viết.

Nước Mắt Trước Cơn Mưa xuất hiện cũng là sự tình cờ như vậy. Khởi đầu ông gửi cho một nhà xuất bản 38 trang đầu tiên ông mới viết nháp để thăm dò. Chỉ đọc xong 38 trang bản thảo, đúng 11 giờ khuya, nhà xuất bản gọi điện thoại cho ông, trước tiên cho ông biết, theo lẽ thường, những cú điện thoại của bác sĩ gọi 11 giờ đêm là tin xấu, còn của nhà xuất bản là những tin tốt lành. Nhà xuất bản đề nghị ký hợp đồng xuất bản cuốn sách, và vì cuốn sách chỉ mới có 38 trang, nên đưa ra thời hạn trong vòng 12 tháng, ông phải hoàn tất và giao bản thảo cho nhà xuất bản và nhà xuất bản ứng trước cho ông 175 ngàn đô.

Cú điện thoại 11 giờ khuya của nhà xuất bản với 38 trang đầu là như vậy, nên bạn sẽ không ngạc nhiên khi đọc Tears Before the Rain qua bản dịch của Nguyễn Bá Trạc mà Tương Tri được phép của dịch giả Nguyễn Bá Trạc sẽ đánh máy lại và đưa lên. Xúc động, xúc động và xúc động như hai câu thơ đầy định mệnh:

Thùng thùng trống đánh ngũ liên
Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa


TƯƠNG TRI