KÝ ỨC THÁNG TƯ…

hochibuu

Ta thức dậy khi bài thơ đã chín
Bài thơ buồn của những gã tha hương
Bài thơ có từ khi ta vào lính
Bài thơ ngông ta viết giữa chiến trường

Đã đến rồi cái tháng tư chết tiệt
Buồn nhiều người và vui của nhiều người
Cái kỷ niệm của một thời chinh chiến
Ta quay về mà nước mắt rơi rơi

Ta dự đoán những gì khi đổi mới
Ở hay đi ? Ta quyết định một mình
Ở thì mất những gì ta mong đợi
Đi thì hồn ôm mãi khúc điêu linh…

Ta quyết định cứ chơi cùng với lũ
Bởi vì ta còn mồ mả ông bà
Ta còn có những nắm mồ vô chủ
Của một thời binh biến đã trôi qua

Ai đó nói thiên đàng và địa ngục
Dạ xin thưa tôi nghe đã nhiều rồi
Chỉ còn đây với nỗi buồn tủi nhục
Kẻ phương nầy – người phương đó – nổi trôi…

Ta đánh cược cả đời cho định mệnh
Tuồng hết rồi khán giả tự về thôi
Hãy chiêm nghiệm những bài ca rất sến
Rượu tràn ly – cứ uống đến cuối đời…

01.04.16
HỒ CHÍ BỬU

LẠI MỘT NGÀY KHÔNG MƯA

trantuan

Lại một ngày trời thôi không mưa.
Con phố khát, bụi mù thay lầy lội.
Đêm ta về đôi tay gầy chấp chới.
Dưới gót giày mặt đất quá chông chênh!

Trời quên mưa
cỏ hoa buồn héo hắt.
Con mèo lười – trên ghế – mắt lim dim.
Và hồn ta sóng sánh vạn nỗi niềm.
Một khoảng lặng
đợi chờ mùa giông bão!

Trời rất xanh – ta mơ về sắc áo.
Em ngang qua
cho phố nhỏ thôi buồn.
Một thoáng rùng mình – ta vẫn cô đơn!
Không hy vọng
nên tháng ngày lơ đãng!

Trời quên mưa
nên thời gian quắt quéo.
Đêm hoang vu – không một tiếng côn trùng.
Khẽ trở mình – hơi thở yếu – run run.
Hồ như tiếng…
Thạch sùng kêu
gọi bạn!

Trời vẫn không mưa!
Đời mong manh quá!
Dòng sông trơ
không chở nổi con thuyền!
Gã thương hồ – neo lại bến – ngủ yên.
Nghe thừa thải chút tàn hơi
tội nghiệp!

Và cứ thế,
tháng ngày buồn khô khát.
Hàng cây khô – ngơ ngác – giữa dương trần.
Bấu vào đời những móng vuốt lặng câm.
Và chờ đợi
chút từ tâm…nhỏ xuống!

Trần Tuấn

CƠN GIÓ MANG HỒN LỮNG THỮNG (TT)

ledachoanghuu

Ba tháng sau ngày khánh thành con đập, hồ tích đầy nước. Còn thằng Chí nhận được hai giấy báo, một giấy báo đậu đại học, một giấy báo… bị đuổi việc. Nữa tháng sau nó cũng nhận được giấy báo, giống giấy báo sau của thằng Chí. Nhưng hai đứa bị đuổi thì không liên quan gì với nhau.
Kèm với tờ giấy báo đuổi việc thằng Chí còn bị một trận đòn nhừ tử. Vài ngày sau nó mới biết được lý do ngay từ người đánh nó, một tay quậy phá xóm làng gần huyện, tay này ăn năn kiếm gặp hai đứa nó mời bằng được ra quán nhậu một chầu, tay tên Chiến lưu linh. Ra quán nhậu, Chiến lưu linh đẩy bộc thuốc bự trên bàn qua thằng Chí:
“Cho anh xin lỗi thằng Chí, trong này đầy đủ thuốc uống, thuốc xoa bóp anh cất công trèo núi lên chùa xin về coi như tạ lỗi, anh vì chút tiền mà chẳng tìm hiểu kỹ, cứ nghĩ cha đó nói thiệt, đâu ngờ chả ba xạo, mong tụi em bỏ qua”.
Thằng Chí hỏi lại:
“Cha nào?’.
Chiến lưu linh rót rượu, gắp mồi vô chén tụi nó:
“Cạn ly đi nghen, ủa mà tụi em hông biết gì sao?”.
Thằng Chí lắc đầu, cả ba cùng cạn, Chí lưu linh nói tiếp:
“Là cha sếp của em đó”.
Hai đứa nó giựt mình, thằng Chí trợn mắt:
“Anh đừng nói bậy”.
Chiến lưu linh khoát tay liên tục:
“Hông nói bậy à nghen, anh nói bậy ông Trời oánh Thánh vật à”.
Nó xen vô:
“Chuyện thế nào, anh nói đi”.
Chiến lưu linh chậm rãi:
“Cha đó nói bữa em gặp chả xin đi học lớp theo tiêu chuẩn phòng phải hông?”.
Thằng Chí gật đầu:
“Phải, ổng hông cho đi, ổng nói hông có người làm”.
Chiến lưu linh cười khẩy:
“Làm gì có vậy, chả sợ thì có”.
“Sợ gì, ổng là thủ trưởng mà?”.
Chiến lưu linh tiếp tục cười:
“Chả hông có trình độ phải hông, chả sợ thằng này học về chả sẽ mất ghế”.
“Đúng rồi, chả chỉ có cái bằng bổ túc lớp chín, đang bổ túc tiếp, mà học hành khỉ gì bổ túc đó, đi cho có vài năm có cái bằng”.
Nó thắc mắc:
“Nhưng hổng lẽ chỉ vậy mà oánh thằng Chí?”.
Chiến lưu linh lắc đầu:
“Đâu chỉ vậy, người ta hông có học chớ có mưu mô đầy mình, oánh thằng Chí là mũi tên trúng hai đích, chả yêu cầu anh oánh cho nhập viện lâu lâu, thằng này có lành bịnh cũng đâu còn chỗ, đã có người khác thế, coi như nhổ được cái gai, hai là báo công được với cấp trên”.
Thằng Chí hỏi lại:
“Báo công?”.
“Ờ, tụi em bị mất trộm sạch sành sanh đúng hông?”.
Hai đứa nó gục gật, Chiến lưu linh đưa ly rượu cụng:
“Thiệt ra là giả đó, chả vô phòng hai đứa tình cờ hay sao chả có được tấm ảnh chụp xe chở vật liệu cho mấy cha cán bộ gộc, chả dàn ra cuộc trộm đó, tụi anh dọn sạch, đưa chả hết xấp ảnh, còn lại tiền bạc, tư trang chả biểu tụi anh chia nhau, có cả cái máy ảnh nè, giờ tụi anh xin trả lại hết”.
Thằng Chí cầm cái máy ảnh Chiến lưu linh đưa trả mà ngèn nghẹn, nó bật ra:
“Cha này đểu quá”.
Chiến lưu linh hất hàm:
“Ờ, mà chưa hết, ba mũi tên chớ hông phải là hai, chả móc nối với kiểm lâm luôn, thằng Chí được phân công vô rừng tìm hiểu về lâm tặc chớ gì, sau khi oánh đổ vạ cho lâm tặc, tụi anh rút êm thì kiểm lâm xuất hiện, có công đưa thằng này về rồi thêm công chặn bắt được lâm tặc khét tiếng, chống trả người thi hành công vụ, giải thoát cho phóng viên, được viết lên mặt báo đó, nhưng có nêu tên thằng lâm tặc nào đâu, được nhận bằng khen, có tiền thưởng ăn nhậu hà rầm”.
Hai đứa nó ngao ngán:
“Phải nói là xảo quyệt”.
Chiến lưu linh thấy lạ hỏi:
“Ủa nhưng mà sao em lại bị đuổi, đâu có nằm nhà thương, đâu có nghỉ nhiều, chỉ hai ba bữa mà?”.
Thằng Chí cười khảy:
“Họ đã xảo quyệt thì bằng mọi cách, thua keo này bày ngay keo khác”.
Nó gục gật:
“Đúng vậy đó anh Chiến, họ muốn đuổi cho bằng được mà, họ bươi móc tìm ra tội, họ lục bài viết của thằng này đời nảo đời nao, lúc đó chẳng nói gì, giờ gán ghép tội”.
“Viết cái gì mà đến nổi vậy?”.
“Cũng viết về rừng rú, về những người đi làm rừng, những người bị cho là phá rừng, đại ý là hỏi những người làm rừng thì người ta trả lời, tui đâu có phá, phá là phải chặt xuống bỏ đó cho hư cho mục, nhưng vì nghèo đói, hai mùa mưa nắng, mùa nắng chẳng còn biết làm gì phải vào rừng làm củi làm gỗ để nuôi thân nuôi gia đình, có thể là khai thác trái phép, khai thác hông đúng nhưng có thấy ai hướng dẫn, khai thác như thế nào, làm ra sao, chỉ thấy kiểm lâm vây bắt rồi xong”.
Chiến lưu linh uống cạn rồi khà một tiếng:
“Nói có lý mà”.
Nó chen vô:
“Mình thì thấy có lý, nhưng họ cho là đâu có lý, họ cho ngược lại là thằng này sai quan điểm, sai lập trường, tư tưởng có vấn đề, a dua theo dân phá rừng mà viết, hết họp cơ quan kiểm điểm, là ngày ngày được tuyên giáo mời làm việc, nói đủ điều, nhiều người giáo huấn làm sao chịu nỗi, thằng này còn tâm trí đâu mà làm việc, công việc bỏ bê chẳng hoàn thành, vậy là cái kết cục thế nào ai cũng rõ”.
Chiến lưu linh thở hắc:
“Thua với tiểu nhân thâm độc”.
Nó bực tức:
“Nhưng hổng lẽ thua, nhân chứng vật chứng đầy đủ hết mà”.
Thằng Chí đưa ly cụng rồi uống cạn:
“Có cũng thua thôi, vật chứng mất hết rồi, họ đã vậy sẽ làm mọi cách, họ lại đông cấu kết với nhau, chuyện gì họ hông dám làm, nguy hiểm tới tính mạnh anh em chớ giỡn, bỏ qua thôi, với lại tao tự đi thi, đậu rồi nên đi học thôi”.
Chiến lưu linh đồng ý:
“Có lẽ vậy là tốt nhứt”.
Nhấm thêm ngụm rượu Chiến lưu linh chỉ nó hỏi tiếp:
“Ủa, còn em sao bị đuổi. có dính dáng gì với thằng Chí?”.
Nó lắc đầu:
“Chuyện em khác, hông dính gì với thằng Chí”.
Nó kể, một bữa về nhà thì hay tin, ông Thành sẹo về lại thị xã, ông ta đem căn nhà và miếng vườn ngày nào năn nỉ ỉ ôi cho ở sang nhượng cho người khác, không một lời với gia đình nó và chính chú Tư râu ký giấy cho ông này chuyển lên xã, xã chứng nhận. Nó tức mình đi tìm chú Tư râu hỏi cho ra lẽ, chú Tư râu trốn biệt không dám giáp mặt lại đưa vợ ra tiếp tục năn nỉ, ông Thành sẹo này thiếu nợ hợp tác xã, hợp tác xã sang nhượng để cấn trừ. Nó tìm hoài hông được, một phút nóng giận đã giựt sập cái chái nhà, vậy là bị ghép tội manh động, xã nhốt cho tuần lễ, báo lên huyện, còn tư cách nào mà làm việc, nhận giấy báo cho về vườn.
Thằng Chí hậm hực:
“Thằng cha Tư râu cũng là hạn tiểu nhân, ngày trước gia đình nó cưu mang cho làm thuê làm mướn kiếm cơm. Sau có cơ hội là trở quẻ, một hạng với Thành sẹo, một hạng với cha sếp của tao”.
Chiến lưu linh lắc đầu:
“Tiểu nhân sao quá nhiều, cứ tưởng mình đã là tiểu nhân có người còn tệ hơn nữa”.
Nó rót đầy ba ly rượu, thở một tiếng mạnh:
“Thôi, bỏ qua bên hết đi, uống rượu chơi, coi như kết thúc thêm một tập”.
Cả ba nâng ly, miệng cười mà lòng man mác.

***
LÊ ĐẮC HOÀNG HỰU

MÂY NƠI GÓC NÚI

sunyata

“Đồi chè dưới ánh nắng chói chang này không thể nào gọi là buồn. Nhưng bảo là vui, hẳn cũng không phải. Tháng hạ sắp mưa, chiều đang chuẩn bị tới, trời tà còn hắt từng tia từ thảm lá lên gương mặt chần chừ của thiếu phụ những thoáng thay đổi và thay thế lần lượt sáng tối, tùy theo các khóm thực vật có rung động hay không. Căn nhà gỗ ọp ẹp bé xíu lọt thỏm giữa đồi nương, với mái ngói hài lòng màu yên ắng, vừa đủ để tạo thành một khối nâu đen nổi bật trong gam sắc thái xanh, từ tươi đến ủ. Nhà tựa vào cây mít cổ thụ để đứng vững. Có lẽ thế. Bằng chứng là vuông cửa sổ nhỏ nhưng cao cũng nghiêng nghiêng, vừa đủ để làm duyên cho ai đó muốn làm họa sĩ.
Phía bên trong vuông cửa ấy, như mọi thiếu phụ, cô đang ngóng chờ. Từ đây, cô có thể nhìn xuống con đường đất ngoằn ngoèo ẩn hiện sau từng khúc quanh, và tùy theo từng mùa thay lá thay hoa, cô sẽ nhìn thấy anh suốt một thôi dài, hay là vừa đấy mất đấy, như là chơi trốn tìm. Trước kia xuân thu nhị kỳ anh lên thăm cô thật bất chợt, khiến cô tuy ngỡ ngàng vui nhưng vẫn lúng túng, khi trái tim thổn thức pha với ít nhiều tự trọng cứ muốn cho không gian này thật đẹp đẽ gọn ghẽ, thật nữ tính, sao cho xứng với chuyến hành trình vất vả hàng nghìn cây số. Thời gian gần đây, mỗi lần anh lên, cô được báo trước, nên mọi thứ đều đâu vào đấy cả, nhưng đổi lại, sự chờ đợi khiến thiếu phụ cháy bỏng cả tâm can. Không mặc áo thun quần bò như vài năm trước, dạo sau này cô đã diện những bộ dịu dàng hơn, mặc dù hơi quá mượt mà khi so với khung cảnh sống. Cô muốn anh cảm thấy đây là chốn ấm êm, mặc dù chỉ ấm êm vài lần trong năm, vào những dịp như hè, lễ tết, và càng về sau này, là vào những dịp mà cả hai đều cố vin vào để có nhau. Bởi vì anh vẫn phải gánh những bổn phận riêng.
Cô bâng quơ nhìn những thứ đã sắp sẵn, ngăn nắp như trong một bức tranh. Biết là anh sẽ bảo rằng cô đừng sắp xếp gì cả, cứ để mọi thứ trong sự bộn bề của chúng, mà anh gọi là sự bộn bề rất nghệ thuật. Ba năm trước ở lần thăm đột xuất, anh lù lù vào lối cửa nhà bếp khiến cô giật phắt người. Mặt bàn bằng gỗ thật dày ở góc gian bếp đang la liệt vài củ khoai, bắp ngô, con dao cùn, cái bát sứt, bên cạnh chiếc đèn bão dấy bùn màu da ngựa. Anh cười cười bảo “bọn chúng rất đẹp, chúng khiến anh liên tưởng đến một bức tranh của Cézanne…”
Vì thế hôm nay cô cũng không vun vén quá khéo, e rằng sự chỉn chu khiến căn nhà nhỏ có thể thêm nét lạnh lùng hay khắc khổ. Bày bừa một tí, như thể có bóng dáng đàn ông.
Vì cái bóng dáng ấy mà cô chưa bao giờ tận hưởng hạnh phúc một cách trọn vẹn. Vắng, đã đành là phải trống trải, nhớ nhung như thiết như tha. Nhưng như thế vẫn còn dễ chịu hơn là khi có nhau mà đã phải nghĩ đến lúc anh ra về, lầm lũi xuống hết triền đồi. Buổi trưa của hôm trước chưa kịp trôi qua mà trong lòng cô đã hừng đông. Để rồi ngày hôm sau, nhìn quẩn nhìn quanh nơi đâu trong căn nhà vắng lạnh cũng thấy bóng dáng anh như ma ám. Ngẩn ngơ nhớ chỗ anh ngồi cạnh chiếc bàn gỗ cũ đến sờn cả mép, vì đó là chỗ anh ngồi lâu nhất. Hẫng hụt tại bìa giường này, nơi tựa vào nhau mà nghe hết cả buổi chiều xuống đầy hương. Mủi lòng khi nhìn ra ngạch cửa, nơi cô ngồi luồn tay vào mái tóc dày của anh, vạch tóc ra để nghịch vết chàm nơi mé trán. Những hình ảnh êm đềm ấy chính là giây phút đáng sợ nhất. Hơn cả nỗi chờ trông.

Bây giờ cô thẫn thờ nhìn cái bàn cũ có đôi quả mọng lẩn giữa mớ rau đang héo dần. Xuyên qua ô gió, nắng xiên thêm một chút và vãi một loạt trứng gà lốm đốm trên mớ rau khiến đôi quả chừng như phập phồng thổn thức cứ như muốn gào lên. Nhưng không phải thế. Cô lại thở dài quay nhìn ra ngoài, thấy cặp cây si đực cái, chúng từng rải hàng đợt lá phì nhiêu căng nhựa xuống mặt đất trước thềm nhà, biến thành tấm thảm, đủ dày để cho cô soi lấy đời mình.
Mỗi lần nghĩ đến đôi si, cô hơi cáu cho bản thân. Sống lặng lẽ qua xuân hạ thu đông, cô điềm nhiên đến độ có lần phải vỗ về anh, khi tự ví mình như mây núi, nhàn nhã vô tư, trong khi anh lại như dòng nước dưới khe kia, tuy sống động nhưng quá rộn ràng. Song dường như đã có sự đổi ngôi, khi dần dà mây núi biết chờ mong, và dòng suối đã từ từ chảy chậm. Giờ đây, thời gian giữa hai lần gặp nhau đã khó có thể chịu đựng hơn, vào lúc cô không còn kịp nhìn thấy con chim chào mào bay qua cửa sổ, mà chỉ đau đáu xót xa với tiếng hót vang vọng những tụ tan khi bóng nó đã khuất tự bao giờ.
Nhẩm lại những gì đã diễn ra, lúc khoan lúc nhặt, nhiều khi cô không biết là mình tỉnh hay mơ. Cái khung cảnh mà anh gọi là thần tiên này, biết đâu chỉ như là cung quế nhung lụa ấm êm, nhưng sẽ đọa đày ta suốt cả quãng đời còn lại, trong khi cô lại còn quá trẻ. Nhưng thôi, cũng chẳng tiếc rẻ, cứ điềm nhiên như thế mà sống. Vả chăng, anh từng thì thầm rằng anh yêu cô cũng vì nét hời hợt ấy. Vả chăng hiện nay cô cũng chẳng còn thảnh thơi để lo nghĩ thêm. Ở góc giường, thằng bé đã đạp tung chăn. Cô rướn người lên kéo kín lại, nhân tiện vuốt ve mấy sợi tóc tơ lòa xòa đang che phủ vết chàm nơi mé trán.”

SUN YATA

ANH VỀ PHỐ CŨ TRỜI MƯA

linhphuong

Giữ ngoan
tiếng hát em buồn
Để mai chiều xuống
mà thương lấy người
Anh về
phố cũ
trời mưa
Tìm em áo
của ngày chưa nhạt màu
Giữ ngoan
nghĩa nặng
tình sâu
Thuở
mi khẽ chớp
mắt sầu đã mơ
Cho con bướm
mộng vào đời
Qua ô cửa sổ
một thời bâng khuâng
Giữ ngoan
mười ngón tay cầm
Giấc mơ hoa
ngọt môi hồng
em xưa
Anh về
phố cũ
trời mưa
Sài Gòn ơi !
Áo em
chưa
nhạt màu
Bây giờ
cho đến mai sau

Linh Phương

CHẬP CHỜN MÀU HOA CẢI

tranvannghia

* Tặng bạn Ngô Đại Hùng
Màu hoa cải ven sông
Vàng cả chiều tháng Chạp
Có miền quê xa tắp
Mây trời trắng tìm đâu?

Bóng mẹ nép chân cầu
Rét run mùa gió tạt
Vẫn nặng lòng câu hát
Ru đời con lớn khôn

Mắc nợ chuyện áo cơm
Lệch vai đời lữ thứ
Quên dòng sông xóm cũ
Long đong kiếp thương hồ

Chợt bắt gặp cơn mưa
Biết mùa đông trở lại
Chập chờn đêm, hoa cải
Nở rực vàng giấc mơ

Rưng rưng trước ảnh thờ
Nén hương buồn nhớ mẹ
Con suốt đời nhỏ bé
Giữa màu nắng và hoa

TRẦN VĂN NGHĨA

DẠO KHÚC 1

nguyenquangtan

Khi chúa cứu thế làm rơi giọt máu nhân loại mong chờ
Ướt đẫm trang thơ
Tôi xé chiếc áo độc nhất
Lau gương mặt em bụi mờ.

Khi những ngón tay nhạc công bắt đầu kiệt lực
Linh hồn tôi khao khát ngã xuống ven đường
Từ phương xa em đến
Tay ôm bình nước ngát hương

Khi bầy rắn xảo quyệt khôn ngoan
Cùng nhau giết chết chim phượng hoàng
Em từ trời bước xuống
Và lòng xót thương

Khi con hoàng oanh trong tôi chẳng còn ca hát
Vì nỗi buồn đâm suốt trái tim
Từ bức tranh xưa em về hiển hiện
Và hàng mi dài
Cong vút cánh chim

NGUYỄN QUANG TẤN

TƯỞNG NIỆM LARRY ENGELMANN

buihuuliem

Cuộc phỏng vấn này được thực hiện bởi phóng viên JOE HOLT vào ngày Chúa Nhật ngày 30 tháng 10 năm 2011 tại tư gia của LARRY ENGELMANN ở SAN JOSE.
Bản dịch của BÙI HỮU LIÊM

Phóng Viên: Từ lúc nào Ông biết là mình muốn trở thành nhà văn?
Tác giả: Tôi sinh ra và lớn lên tại Austin, một thành phố nhỏ cách Thành Phố lớn Minneapolis 100 dặm Anh. Thành phố này có cơ sở làm thịt heo xay “spam” đóng hộp nổi tiếng. Nơi đây chỉ có một người tốt nghiệp Đại Học, đó là vị Bác Sĩ Địa Phương. Đây là vùng nhiều cư dân sinh sống và chúng tôi không rõ mọi người sinh sống bằng các ngành nghề gì. Khi tôi vào Đại Học, tôi vẫn nghĩ đến các ngành chuyên môn như Triết học, Xã hội học, Lịch sử mà không bao giờ cho Viết văn là một nghề nghiệp . Lối nhận định nầy cũng nghịch lý vì viết và kể chuyện như là phần đời sống chúng tôi lớn lên, đặc biệt là tiểu bang Minesota. Tôi ở rất gần Sauk center nơi nhà văn lớn Sinclair Lewis sinh ra và lớn lên. Ngoài ra tôi có đọc tác phẩm của một nhà văn nổi tiếng khác là Ole Edvart Rovaag, con của ông là Thống Đốc Carl Rovaag thời tôi vào Đại Học. Tôi muốn nhắc một bối cảnh lịch sử khi Thế Chiến thứ hai chấm dứt, lúc đó tôi là cậu bé rất nhỏ nhưng vẫn nhớ các cựu chiến binh bạn của cha mẹ tôi và cả cha tôi nữa, họ kể lại những câu chuyện lich sử thật truyền cảm và sống động. Đúng là chúng tôi lớn lên trong cái nôi của nền văn hóa truyền khẩu, và các câu chuyện viết thời Trung Học. Thời đó vào Đại Học xu huớng thường chú trọng đến nền khoa học kỹ thuật nên tôi đã chọn ngành chính là Toán và Hóa Học, hy vọng sẽ trở thành một khoa học gia, một chuyên gia về Hỏa Tiễn. Nhưng vị giáo sư Hóa Học thuyết phục tôi nên từ bỏ giấc mơ này… tôi còn học vài môn phụ trong khi kiếm một ngành học chính khác. Giáo sư môn Lịch sử thật là tuyệt vời với các bài giảng quá hay. Tôi ra trường Cao Học chuyên ngành Lịch sử và Kinh Tế. Sau đó tôi lên Đại Học Michigan theo chương trình Tiến sĩ Lịch sử. Thời gian học các Thầy giảng cho những bài tuyệt vời về Cộng Hòa La Mã, Lịch Sử Âu Châu thế kỷ 19. Thực sự từ các câu chuyện hay sinh viên phải viết lại các bài nghiên cứu. Tôi được dạy là các bài viết này khô khan và chán ngắt… vậy mà tôi nhận được việc làm giáo sư Đại Hoc San Jose State năm 1969. Lúc đó tôi có hai đứa con gái , vợ tôi là nghiên cứu sinh ở Stanford. Lương giáo sư thấp lắm khoảng 6,000 USD một năm nên tôi đã viết cho các tờ báo Chúa Nhật địa phương đế có thêm phụ trội nhờ tiền nhuận bút.
Phóng Viên: Ông có nhớ tờ chi phiếu đầu tiên không?
Tác giả: nhớ chứ hình như là 150 USD ,tôi nghĩ là phải nhiều hơn, đương nhiên sau này tôi kiếm được nhiều hơn, rồi trong tiềm thức tôi bắt đầu nghĩ là mình có những năng khiếu mà người khác không có. Các câu chuyện thể loại này được đăng trên các tờ báo Chúa Nhật, đôi khi tôi lấy các bài nghiên cứu của tôi lúc trước… Như Câu chuyện tàu ngầm L44 bị đắm ở Daly city năm 1942 chẳng hạn… Lúc đó tôi gởi bài này đến tờ Life magazine. Một hôm đang ăn sáng có tiếng điện thoại, có người xưng là Jones London goi đến và cho biết đọc bài tôi viết trên báo Life, bài viết về Tàu ngầm… tờ báo Life trả 6500 USD bằng lương giáo sư của tôi 1 năm. Anh bày tỏ ý định mời tôi hợp tác với chương trình “Good Morning America”. Tôi tưởng tôi làm ở đây nhưng họ đưa tôi qua New York . Đây là một bước ngoặc thay đổi quan trọng trong sự nghiệp viết văn của tôi. Viết những áng văn, được trả công viết lách thật là điều rất hạnh phúc, như là một phần thưởng. Khi về lại con gái tôi đi đón và chúng tôi đến một tiệm Cafe nơi có các nhà văn mặc áo pull cổ cao màu đen hút thuốc và tập trung viết lách. Họ là nhà văn sao? Tôi viết văn mà sao không măc đồ như họ và không hút thuốc. Tôi thực sự là viết, việc này khác với giả vờ viết. Lúc này tôi chắc là mình có năng khiếu viết văn. Lúc đó tôi bán được cuốn sách đầu tiên.
Phóng viên: Ông có lúc nào giới thiệu mình là Nhà văn trong các buổi tiệc tùng này khác không?
Tác giả: Tôi nhớ tôi đã gặp một người phụ nữ và không bao giờ quên cuộc gặp gỡ này mặc dù không còn nhớ khuôn mặt của bà ta. Bà ta hỏi tôi làm nghề gì, tôi trả lời là viết văn (Tôi không nói nghề dạy học ít lương của tôi ). Bà ta nói là tôi trông rất giống văn sĩ. Về nhà tôi soi gương mãi xem tôi có nét nào văn sĩ như bà ta nói không?
Sau đó tôi ra mắt và bán cuốn sách đầu tiên Intemperance 1979. Năm 1984-1985 Tôi ký hợp đồng hai cuốn sách “The goddness and American girl” và “Tears before the rain”. Tôi không thích nói về tiền, chưa bao giờ nghĩ sẽ kiếm được bao nhiêu tiền trước khi viết, nhưng mình cố gắng viết hay, bỏ thời gian và tâm trí vào và được trả công xứng đáng cho việc mình làm là điều quá tốt. Năm 1988 “The goddness and American girl ” được chọn là cuốn sách hay nhất của năm. Tôi nhớ lúc đó nhận hợp đồng 1 năm đi dạy ở Trung Quốc và trước khi đi tôi phải tham dự khóa hướng dẫn ở Đại Học John Hopkins, có vị giáo sư mua cuốn sách của tôi từ tiệm sách ở trường bước vào và đưa cuốn sách lên, mọi người trong phòng họp đứng lên vỗ tay. Đây là phần thuởng tinh thần rất có giá trị với tôi. Mọi người nghĩ tôi là nhà văn, điều ấy rất ư đặc biệt. Cuốn sách này dày 500 trang viết về hai người đàn bà 20 tuổi và 30 tuổi. Sau đó tôi qua Trung Quốc và năm 1991 Tôi xuất bản cuốn “Tears before the rain”, xong cuốn sách này “hàng ngàn giờ công sức”, tôi mà biết được phải tốn quá nhiều thời gian như vậy thì đã không bắt đầu. Tôi được cơ hội giới thiêu sách trước Hiệp hội Thuơng Mại Người Việt ở San Jose, có mấy trăm người Việt, họ rất xúc đông và đưa tôi lên mục đích để vinh danh và tri ân tôi. Khi đến phần giới thiệu sách tôi không nói nên lời. Một người đàn bà trong ban tổ chức đứng gần đó vỗ vai tôi và nói là tôi cần nghỉ ngơi nhiều hơn. Người viết bỏ hết thời gian, tâm hồn và trái tim cùng ước muốn viết hay rồi chinh phục được người đọc, họ đồng cảm và tri ân người viết, đó là một niềm an ủi to lớn đối với tôi. Và rồi tôi nhận thức được là mình càng viết nhiều thì lại càng khó vì những thiếu sót cuốn sách trước, đòi hỏi những tiêu chuẩn cao hơn cho cuốn kế tiếp.
Gần đây tôi có dự khóa huấn luyện cho người mới viết văn. Tôi thấy là tôi khó có thể dạy cho người khác. Sự nghiệp viết văn của tôi là một sự thẩm thấu lần lần, do học vấn, môi trường sinh sống và trưởng thành, và có thể từ DNA sinh học, cho tôi khả năng viết truyện thật xúc cảm. Bắt đầu viết văn bằng những kỹ năng viết trên báo, các bài viết ở trường Đại Học, nhưng viết để đời là cả một nghệ thuật, mà nghệ thuật là một tiến trình rất kỳ ảo. Tôi không hút á phiện tạo cảm hứng khi viết vì sợ tổn hại năng khiếu đặc biệt trong tâm thức, không muốn nó dãn ra hoặc co rút lại. Câu chuyện “The daughter of China” tưởng chừng không xảy ra – Tác giả như nghẹn lời và xúc động khi kể bối cảnh bắt đầu từ 1930 khi một gia đình có đứa con gái chào đời và dự định đổi về một đứa con trai, Người vợ đưa con cho người chồng đem đi, người chồng biết gia đình kia đổi ý không chịu nên trên đường về ném đứa con gái nhỏ xuống một con kinh đào và đem về tấm mền. Người mẹ giữ lại cho đến khi đứa cháu nội gái mở ra và thấy những mảnh vỡ vụn đỏ như máu . Khi tôi viết, lúc nào cũng thấy những thước phim này quay trong đầu và bật khóc, đọc cho vợ nghe đoạn nầy nhưng quá nghẹn ngào không nói được ra lời. Tôi như có một nối kết vô hình với những con người vô hình khi viết nên không biết làm sao dạy những điều cảm nhận rất đặc biệt này cho người khác… Cần phải có tấm lòng đồng cảm và nhân ái và thực sự sống trọn ven. Các Nhà văn lớn phải sống một cuộc đời, cần nên đi đến một nơi nào đó như Hemingway là một nhà văn lớn tôi rất ái mộ, không chỉ là tham dự những khóa hội thảo là có thể viết. Chúng ta phải bắt tay vào việc, mua một vé tàu và đi nơi nào đó. Chúng ta sẽ hiểu về mình nhiều hơn ở nơi xa lạ. Nếu biết một cuốn từ đầu đến hòan tất tốn cả hàng ngàn giờ có lẽ tôi đã không bắt đầu, nhưng rồi ta sẽ quên đi khi hoàn tất và lại có một bắt đầu mới (như là Mẹ tôi có 5 đứa con, lần nào sinh xong bà cũng không muốn sinh nữa rồi lại tiếp tục sinh đứa con khác.) Viết cuốn “the goddess and American Girl ” hơn 500 trang, từng đoạn, từng hàng, từng chữ, từng mẫu tự để hoàn thành. Tôi nghĩ là phí đi thời gian của Học viên và của tôi… đây hoàn toàn là một vấn đề không dạy được. Có ai biết dạy làm sao để đi xe đạp, phải tự đi lấy, có dự khóa huấn luyện này nọ cũng phải tự ngồi xuống và viết cả hàng ngàn giờ.

(Phóng Viên nhắc Ông Larry còn hai phút nữa. Ông kể chuyện trong hồi ký của Ông Henry Kissinger khi làm cố vấn An Ninh Quốc Gia năm 1969, có một chương trình điện toán của bộ Ngoại Giao và bộ Quốc phòng đưa vào các dữ kiện và đặt ra câu hỏi là khi nào thắng lợi trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Máy điện toán vận hành một hồi lâu và đưa ra đáp án là chúng ta thắng từ năm 1966. Giáo sư cười lớn và Phóng viên cười theo chấm dứt cuộc phỏng vấn 33 phút.)

Bùi Hữu Liêm (dịch)

TƯỞNG NIỆM 1 NĂM NGÀY MẤT CỦA TÁC GIẢ: Nước Mắt Trước Cơn Mưa ( Larry Engelmann) 01/04/2015- 01/04/2016

tuongtri

8111_engelmann_larry

Tears Before the Rain, Nước Mắt Trước Cơn Mưa, là tựa một cuốn sách của Larry Engelmann, giáo sư khoa sử của đại học San Jose, California và được Nguyễn Bá Trạc, tác giả của Ngọn Cỏ Bồng dịch ra tiếng Việt.

Như trong một video clip phỏng vấn mình, tác giả Larry Engelmann cho biết mình không phải là nhà văn mà chỉ là người kể chuyện, storyteller, đến với sách vở chữ nghĩa chỉ là một sự tình cờ. Ông sinh năm 1941, lớn lên tại một thành phố nhỏ ở tiểu bang Minnesota. Ngay từ nhỏ ông đã say mê nghe người lớn, trong số đó là những người trở về từ Thế Chiến Thứ 2, kể chuyện. Ông say mê nghe người ta kể chuyện rồi từ nghe ông lại trở thành người kể chuyện. Nên không có gì lạ khi ông mê môn sử và chọn sử là ngành mình theo học khi lên bậc đại học, và học xong, ra trường lại đem chính cái tài kể chuyện của mình ra dạy môn sử tại đại học San Jose, California. Lương dạy học không đủ chi phí cho gia đình, ông mới viết và gửi bài cho một số báo để kiếm thêm tiền. Tài kể chuyện của ông khi đưa lên trang giấy lại gây lôi cuốn và xúc động cho người đọc, và ông thành nhà văn, không, ông thành nhà kể chuyện, storyteller, storyteller for money, người kể chuyện để kiếm tiền, như ông xác nhận mình là ai và vì sao viết.

Nước Mắt Trước Cơn Mưa xuất hiện cũng là sự tình cờ như vậy. Khởi đầu ông gửi cho một nhà xuất bản 38 trang đầu tiên ông mới viết nháp để thăm dò. Chỉ đọc xong 38 trang bản thảo, đúng 11 giờ khuya, nhà xuất bản gọi điện thoại cho ông, trước tiên cho ông biết, theo lẽ thường, những cú điện thoại của bác sĩ gọi 11 giờ đêm là tin xấu, còn của nhà xuất bản là những tin tốt lành. Nhà xuất bản đề nghị ký hợp đồng xuất bản cuốn sách, và vì cuốn sách chỉ mới có 38 trang, nên đưa ra thời hạn trong vòng 12 tháng, ông phải hoàn tất và giao bản thảo cho nhà xuất bản và nhà xuất bản ứng trước cho ông 175 ngàn đô.

Cú điện thoại 11 giờ khuya của nhà xuất bản với 38 trang đầu là như vậy, nên bạn sẽ không ngạc nhiên khi đọc Tears Before the Rain qua bản dịch của Nguyễn Bá Trạc mà Tương Tri được phép của dịch giả Nguyễn Bá Trạc sẽ đánh máy lại và đưa lên. Xúc động, xúc động và xúc động như hai câu thơ đầy định mệnh:

Thùng thùng trống đánh ngũ liên
Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa


TƯƠNG TRI

Chiều tháng Tư ở San Francisco

trantrungdao

Vô tình thôi, ta trở lại nơi này
Chiều tháng tư ngồi trông ra cửa biển
Cơn gió lạnh thổi lòng ta xao xuyến
Thái Bình Dương, ta nhớ lắm, Thái Bình Dương

Cũng thấy gần thêm, một chút, với quê hương
Một chút nữa trong nghìn trùng diệu vợi
Ôi đất nước, sau mười năm “đổi mới”
Có lớn hơn thêm một chút tình người

Từ độ vầng trăng tắt bóng trên đồi
Ta mang thơ đi vào đời máu chảy
Hờn vong quốc trong lòng ta lớn mãi
Vẫn ngày đêm mang nguyện ước đi tìm

Bước giữa quê người, đường mấy nẻo chênh vênh
Bao toan tính và bao lần dang dở
Chiều San Francisco, ta nghe hồn trăn trở
Bay về đâu, đàn chim Việt, sẽ về đâu?

Vô tình thôi, như những hạt mưa ngâu
Thấm ướt trên vai ta đời đơn bạc
Ba mươi tháng tư, mười lăm năm lưu lạc
Chưa nguôi niềm thao thức thuở hoa niên.

Trần Trung Đạo