nha trang – chuyện cũ

phamtinanninh

Xa quê nhà đã lâu. Mỗi lần đi đến một địa danh xa lạ nào đó, nhất là những dịp lái xe chạy dọc theo một bờ biển đẹp, lòng tôi lại nôn nao cái cảm giác như đang trên đường ngược về quê cũ – Nha Trang. Thành phố đã chôn giấu giùm tôi bao hang động tuổi thơ, dấu tích của những mối tình học trò một thời vụng dại, mà sau cơn sóng tháng tư năm nào bất ngờ ập xuống, ngỡ tất cả đã biến mất, có còn chăng cũng chỉ là chút sương khói mơ hồ trong lòng một người lưu lạc.

Ngày xưa, khi còn là cậu bé học trò, tôi từng nghĩ trên thế gian này có lẽ không nơi nào thơ mộng, hiền hòa và dễ thương bằng Nha Trang của tôi. Với tôi, nơi ấy còn là xứ thần tiên nữa. Bởi khi buồn, chỉ cần đạp xe dọc theo con đường Duy Tân lộng gió, nhìn biển trời mênh mông, nghe tiếng sóng rì rào, là cảm thấy lòng mình như vừa được vuốt ve, âu yếm. Ngôi trường Võ Tánh trên đường Bá Đa Lộc cũng nằm gần biển, nên cả một thời đi học, nhờ mỗi ngày được vỗ về bằng âm thanh rạt rào của biển và tình mến yêu của thầy, của bạn, mà tôi đã quên đi nỗi buồn tuổi thơ bất hạnh, ngước mặt hăm hở nhìn bầu trời xanh bao la với bao khát khao, ước vọng.

Như những thằng học trò đến tuổi biết mơ mộng khác, tôi cũng có vài mối tình ngây ngô vụng dại. Chỉ nghe mấy thằng bạn đùa nghịch gán ghép mình với cô bạn nào trong lớp, là về nhà vội vã tập tành ghép vần làm những bài thơ với lời lẽ si tình như một gã từng trải yêu đương. Sau này, mỗi lần nghe bài hát Phượng Hồng, phổ từ thơ của ông Đỗ Trung Quân nào đó, tôi lại thấy lòng lâng lâng cảm xúc, ngỡ như đang trở về tuổi 14,15, với những “bài thơ cứ còn hoài trong vở, giữa giờ chơi mang đến lại mang về”. Tôi nghĩ, có lẽ cũng như tôi, nhiều chàng học trò ngày xưa vẫn còn đang cất giữ những bài thơ đầu đời ấy trong ký ức. Bây giờ tuổi già, đem ra đọc lại chắc chắn sẽ nở nụ cười ngượng nghịu với một chút bâng khuâng man mác trong lòng.

Người ta cũng ca ngợi Nha Trang như là thành phố của tình yêu. Bởi Nha Trang không chỉ có đất trời thơ mộng mà còn sản sinh và đón nhận nâng niu bao nhiêu cô con gái đẹp từ các xứ Huế, Bắc Kỳ, trôi dạt đến đây. Đất lành chim đậu. Và có một thời, các cô nữ sinh Nha Trang đã làm khốn khổ trái tim của biêt bao SVSQ Hải Quân, Không Quân, những chàng trai say mộng hải hồ, lướt gió tung mây. Tiếc là Nha Trang đã không cho tôi mối tình lãng mạn say đắm nào để có tròn cảm xúc khi nghe ca khúc Nha Trang Ngày Về của ông nhạc sĩ Phạm Duy, nhưng vài mối tình học trò ngây ngô ngày ấy cũng đã để lại trong tôi bao kỷ niệm khó quên.

Năm 1963, tôi đang học năm cuối trung học thì bao nhiêu biến cố xảy ra, dồn dập: Những cuộc xuống đường, biểu tình, bãi khóa để chống chính phủ Ngô Đình Diệm. Trước cổng trường luôn có cảnh sát và lính gác. Nhiều học sinh bị bắt. Nghe nói có vài người nhảy núi. Một số giáo sư trẻ bị động viên, rời trường vào lính. Không khí ngột ngạt, căn thẳng.

Đúng vào thời điểm này, thành phố Nha Trang xuất hiện một người đàn bà điên. Trông bà trọng tuổi, lúc nào cũng ăn mặc sạch sẽ chỉnh tề với chiếc áo dài nhung đen. Trên cổ đeo nhiều vòng vàng. Có người bảo là vàng giả, nhưng có người lại bảo vàng thật, vì gia đình bà giàu có, con cái học hành tử tế. Gần như ngày nào người ta cũng thấy bà xuất hiện ngoài phố, chấp hai tay sau lưng đi bộ dọc theo con đường Phan Bội Châu – Độc Lập, vừa đi vừa nói những điều không ai hiểu được. Đặc biệt bà luôn ghé lại và ở khá lâu trong nhà sách Nguyễn Lê và Ty Thông Tin. Ở đây có treo tấm ảnh chân dung của Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Hai địa điểm này tôi thường có mặt. Lần nào cũng thấy bà đưa tay chỉ vào tấm ảnh mà chửi. Không ai biết là bà có ân oán gì với ông Diệm, vì khi chửi bà cũng không gọi tên và kể lể người trong tấm ảnh có tội tình gì. Có người biết chuyện, bảo là bà chẳng hề dính dáng gì tới chuyện chính trị hay cá nhân cụ Diệm, mà dường như bị ông chồng đào hoa phụ tình. Bà hận lắm. Thấy tấm ảnh cụ Diệm mà cứ tưởng là chồng bà. Oan và tội nghiệp cho cụ. Chắc chắn đến khi bị bọn phản tướng sát hại, cụ cũng không hề biết đã từng bị một người đàn bà chửi oan mình như thế..

Có lẽ đã chứng kiến nhiều lần, nên dần dà chẳng còn mấy ai quan tâm đến bà. Ngoại trừ tôi. Không biết mặt mũi của tôi có được cái hồng phúc giống cụ Ngô hay ông chồng đào hoa của bà ít nhiều gì không, nhưng cứ mỗi lần nhìn thấy tôi, ngay cả những khi đi chung, lẫn lộn trong đám bạn bè, bà vẫn tìm đến chỉ mặt tôi mà chửi. Sau này, vừa thấy bà là tôi vội vàng bỏ chạy, nhưng bà vẫn rượt theo và cố la lớn mấy lời nguyền rủa từ phía sau lưng. Biết bà điên và nghĩ trước đây cũng là một người giàu có tử tế, nên tôi cũng thấy thương hại, tội nghiệp cho bà. Nhưng mỗi lần bị chửi bới vô cớ trước đám đông, nhất là khi có đám con gái, tôi ngượng ngùng, lại thấy sợ và oán bà. Có thể nói bà là nỗi ám ảnh của tôi lúc ấy. Đôi khi trong giấc mơ, thấy bà rượt theo mình, mặt mày hung dữ như mấy bà phù thủy trong tranh phiếm họa. Thức dậy, tôi thở phào nhẹ nhõm nhưng cũng toát mồ hôi. Tôi đâm ra “hận” bà vì sau đó, tôi đành phải bỏ cái thú vào nhà sách Nguyễn Lê vờ mua sách, nhưng chỉ cốt để ngắm cô con gái mới lớn của bà chủ, có đôi mắt to với đôi mội mọng đỏ, đẹp như thiên thần và mấy cô bán sách khá xinh, cũng như không dám bước vào Ty Thông Tin đọc mấy tập Thế Giới Tự Do mà ông thầy sử địa gốc biện lý, giáo sư Nguyễn Hữu Thứ, thường ra những câu hỏi từ các đề tài trong đó, và cũng để được nghe giọng nói Bắc Kỳ rất dễ thương của bà chị quản thủ thư viện, ca sĩ Hoàng Yến (lúc ấy đang mặc áo bầu).

Sau đó, chỉ thỉnh thoảng tôi mới thấy bà, nhưng dường như cơn điên trong bà ngày một tệ hơn. Trông bà già và ốm đi nhiều lắm. Có lần chứng kiến một đám con nít đi theo trêu chọc để bà múa may la hét lung tung, tôi động lòng dừng xe lại la rầy và khuyên bảo các em không được quấy rầy bà. Thấy tôi, bà vội vàng chạy tới. Không biết lúc ấy bà có còn nhớ tôi không, và có thay đổi thái độ vì tôi vừa mới giúp bà, nhưng tôi vẫn ám ảnh những lần bị bà xỉ vã trước đây, nên vội vã đạp xe đi. Bất giác tôi nhớ đến mẹ tôi. Mẹ mất khi tôi mới ba tuổi. Tôi chưa hề biết cảm giác của một đứa con có mẹ. Nếu có một người mẹ điên như bà, để tôi lo lắng, chăm nom, biết đâu tuổi thơ của tôi sẽ hạnh phúc hơn. Ngẫm nghĩ, tôi càng thấy tội nghiệp và thương bà, ân hận vì trước đây từng nghĩ bởi vì bà mà thành phố Nha Trang đã mất đi một chút yên lành, đẹp đẽ đối với riêng tôi.

vie1bb87t-nge1bbaf-nha-trang1

ngã ba Trần Quý Cáp (Ty Thông Tin)

Những năm đi học, tôi ở nhà ông chú, một tiệm buôn nằm ngay ngã ba Trần Quý Cáp – Quốc Lộ 1, gần Ty Thông Tin. Ông chú tôi làm nghề thầu khoán, nên những ngày cuối tuần nhà thường có khách. Để tránh bớt không khí ồn ào và bị sai vặt, tôi thường viện cớ đến nhà thằng bạn cùng lớp học bài, nhưng thực ra là chỉ để chơi đùa và đàn địch hát ca. Điều đặc biệt quyến rũ tôi hơn là cô em gái có răng khểnh rất dễ thương của nó, học sau bọn tôi hai lớp, bên trường Nữ Trung Học. Hai đứa -cô bé và tôi – thường đóng vai Ngọc Cẩm – Nguyễn Hữu Thiết, bắt chước giọng, hát mấy bài song ca cho thằng bạn tôi, anh cô bé, tập dạo đàn theo.

Nhà ở khu Rộc Rau Muống, phía dưới một con hẻm lớn từ đường Trần Quý Cáp. Ngôi nhà bề thế nằm kín đáo dưới mấy tàng cây bàng phủ bóng. Mẹ nó mất sớm, nên ba nó thường vắng nhà. Nghe nói ông sống với bà tình nhân trẻ ở đâu đó, vì không muốn đưa bà về đây để phải phiền muộn cảnh mẹ ghẻ con chồng. Ông cưng con, thuê một chị giúp việc từ trên Thành về ở đây luôn. Chị rất siêng năng, vui vẻ làm hết mọi việc trong nhà. Ngôi nhà rộng rãi trở nên thừa thải nên ba nó cho thuê nguyên cả dãy nhà sau gồm khá nhiều phòng ốc. Nhà trước và khu nhà sau được ngăn ra bằng một hàng rào song sắt. Điều đặc biệt là cái giếng nước nằm ngay giữa hàng rào, để hai nhà có thể dùng chung.

Một hôm, thằng bạn nháy mắt cho tôi biết một tin vui: Gia đình vừa mới dọn tới gồm mấy anh em mà có đến ba cô con gái, cô nào cũng xinh. Ban đầu, tôi tỏ ra thờ ơ trước cái tin với cái vẻ hí hửng đó của thằng bạn thân, để chứng tỏ ta đang “ăn cây nào rào cây nấy”. Khi ấy tôi còn ngu ngơ chưa biết cô em gái của nó đang là cánh “hoa biển” của một anh chàng SVSQ Hải Quân bô trai nào đó. Cho đến một hôm bất ngờ đụng đầu trên dốc con hẻm, khi thấy hai người ôm nhau từ giã, tôi mới hụt hẫng, biết canh bạc này chưa kịp bắt đầu mà mình đã trắng tay. May mà lúc ấy tôi chưa kịp tỏ tình và cũng chưa biết si tình, nên chưa “chết ở trong lòng một ít”, chỉ thấy ngượng ngùng bâng khuâng một chút. Không được làm người tình, tôi bèn quay sang làm anh cô bé, để lâu lâu còn được nghe nũng nịu và nhất là được vỗ về chút tự ái của người thua cuộc.

Sau khi “con tim đã vui trở lại”, tôi bắt đầu (và ra mặt) nhòm ngó khu nhà phía sau. Cái giếng mà trước đây gần như thứ bảy và chủ nhật nào, sau khi tắm biển về, tôi và thằng bạn đều ra tắm lại, thích thú đùa nghịch, đổ cho nhau những gầu nước trên đầu, bây giờ ngại người ta nhìn thấy hai “bộ xương cách trí”, nên đành tắm vội trong phòng tắm. Nhưng cái giếng ấy lại trở nên vô cùng quan trọng đối với bọn tôi. Là chỗ có thể nhìn thấy “mục tiêu” rõ ràng nhất, khi các cô nàng ra xách nước, giặt áo quần trên thềm giếng. Cô em thằng bạn, sợ bọn tôi phá đám mối tình đầu, nên bây giờ trở thành bà mai, con chim xanh đắc lực của hai ông anh. Bọn tôi dần dà biết được tên, tuổi, trường lớp của ba cô nàng. Đặc biệt hơn là hoa nào đang có chủ và hoa nào đang trong tình trạng đợi chờ. Cô chị thường đi vắng vào ngày cuối tuần bởi tình yêu đang thời kỳ mặn nồng, ở nhà thường chỉ còn lại hai cô em. Hai thằng tôi bò qua thành giếng sang nhà hàng xóm. Thằng bạn thì mang theo cây guitar đàn cho cô chị hát, còn tôi thì vờ hỏi cô em chuyện học hành, dịch hộ những bài Pháp văn, giải nghĩa vài điển tích trong Cung Oán Ngâm Khúc, lâu lâu tặng một bài thơ tình con cóc. Dần dà tôi lọt mắt xanh cô em út Quỳnh Chi(*), học đệ ngũ bên trường Nữ, rất hiền lành dễ thương. Cũng chỉ là tình yêu học trò, ngây thơ trong sáng. Thỉnh thoảng để giúp vui, tôi đem chuyên bị bà điên rượt kể cho hai chị em nghe. Có khi tôi còn nhại tướng đi và giọng hét của bà. Hai cô nhìn nhau sợ sệt.

Cuối năm đệ nhất, khi chuẩn bị kỳ thi Tú Tài 2 thì tôi bất ngờ lâm bệnh. Một buổi sáng chủ nhật, thức dậy, thấy người hơi sốt, khó chịu. Tưởng chỉ cảm cúm, uống vài viên thuốc aspirin là khỏi. Không ngờ đến trưa cơn sốt lên cao, người nóng như lửa đốt, đến nỗi không thể cử động, nói năng gì được. Ông chú vội vàng chở tôi đến bác sĩ. Bác sĩ trực hôm ấy là bà Chung Thị Luông, có phòng mạch ở đường Công Quán, gần rạp ciné Minh Châu. Nghe nói bà chích cho hai mũi thuốc thì tôi tỉnh lại. Tôi nhớ lúc vừa mở mắt ra, đang còn mơ màng, tôi đã thấy bà bác sĩ đẹp quá chừng. Biết danh bà từ lâu nhưng đó là lần đầu tiên tôi mới trông thấy bà. Và dường như sắc đẹp của bà bác sĩ đã giúp cho những thằng bệnh nhân trẻ con mới lớn như tôi mau tỉnh táo hơn là thuốc. Sau đó bà đề nghị chú tôi nên đưa tôi đến bệnh viện tư của bác sĩ Thạch nằm trên đường Trần Quý Cáp để điều trị. Tôi đã nằm ở đây hơn một tháng và đành phải bỏ thi kỳ ấy.

Một hôm, Quỳnh Chi đến thăm khi tôi đang lên cơn sốt, nằm mê man. Không biết cô bé đến từ lúc nào. Tỉnh dậy tôi thấy cô đã ngồi bên cạnh. Sau khi phụ cô ý tá dìu tôi ngồi dậy, cho uống một ly nước cam vắt, cô bé nắm lấy tay tôi, nhìn thật lâu vào mắt tôi, rồi buồn bã nói nhỏ lời từ giã. Tôi mệt quá chưa kịp nói lời gì thì nàng đã bước ra cửa. Tôi cố gắng đưa bàn tay lên vẫy, nhưng không thấy nàng quay nhìn lại. Chỉ còn nghe tiếng chân bước vội xuống những bậc tam cấp.

Và đó cũng là lần cuối cùng tôi gặp Quỳnh Chi..

Sau khi lành bệnh, tôi đến thăm anh em thằng bạn dưới Rộc Rau Muống. Vừa mở cửa, cô em buồn bã cho biết là mấy chị em Quỳnh Chi đã dọn đi nơi khác, vì có bà mẹ điên, trên cổ mang đầy vòng vàng, không biết vì sao tìm được nơi mấy cô con gái ở, đến la hét, khóc than cả một buổi. Và đây cũng không phải là lần đầu các cô dọn nhà với lý do như thế!

Tôi giật mình, nhớ lại bà cụ điên thường rượt theo tôi ở nhà sách Nguyễn Lê và Ty Thông Tin. Bất ngờ và xúc động, nước mắt tôi trào ra. Tội nghiệp cho bà và cho cả mấy cô con gái xinh xắn, thùy mị và học hành chăm chỉ của bà, trong đó có cô con gái út Quỳnh Chi. Tôi cảm thấy ngượng ngùng như vừa phạm tội, vì đã mấy lần thản nhiên kể chuyện không mấy đẹp về bà trước chị em Quỳnh Chi. Và cũng có thể, vì mấy lần rượt đuổi theo tôi, mà bà đã khám phá ra căn nhà trọ của mấy cô con gái ở cuối con hẻm khá kín đáo này.

Sau đó, tôi vào Sài gòn học tiếp vài năm thì đi lính. Cuộc chiến ngày một khốc liệt, kéo tôi theo như cơn lốc xoáy. Thời gian trong lính, mỗi năm tôi chỉ về thăm Nha Trang một đôi lần bất chợt. Đầu tháng 4/75 Nha Trang đổi chủ sau cơn hồng thủy. Gia đình tan tác. Cha tôi và tôi vào tù. Chỉ một năm sau cha tôi chết, còn tôi thì bị lưu đày hơn tám năm từ nam ra bắc. Ngày trở về, Nha Trang nghèo nàn xơ xác và buồn thảm như còn phủ màu tang. Đi trên con đường Phan Bội Châu – Độc Lâp cũ , giờ đã đổi tên, bỗng dưng tôi nhớ tới người đàn bà điên ngày trước. Tôi tưởng tượng đang có rất nhiều người đàn bà điên khác, mất chồng, mất cha, mất con, mất nhà cửa sau cuộc đổi đời oan khiên bi thảm. Họ đã bị đuổi ra khỏi thành phố này hay gia đình không dám để họ chạy ra ngoài vì sợ phải rước thêm phiền lụy. Bất giác tôi rùng mình có cảm giác mọi thứ trở thành xa lạ. Thành phố này không còn là Nha Trang của tôi ngày trước nữa. Mấy tháng sau, tôi cùng vợ con xuống biển ra đi, lẵng lặng giã từ Nha Trang giữa một đêm mưa tầm tã . Dường như ông trời cũng đang sụt sùi trước cuôc chia ly.

Sau này, và cho mãi đến bây giờ, tôi không có cơ hội nào gặp lại bà cụ điên và mấy chị em Quỳnh Chi. Bà cụ thì chắc đã qua đời từ lâu rồi, còn mấy chị em Quỳnh Chi không biết trôi dạt về đâu, sau bao nhiêu thăng trầm dâu bể. Cầu mong cho tất cả đều may mắn vượt qua dông bão để có cuộc sống an bình. Riêng Quỳnh Chi, một cô gái xinh xắn, thùy mị, hiền lành, xứng đáng để có một gia đình hạnh phúc. Xin nguyện cầu bà cụ được an nghĩ nơi cõi thiên đường thênh thang nào đó, chẳng còn gì để phải bận lòng ở chốn trần thế đảo điên. Và xin tất cả, hãy cho tôi được nói một lời xin lỗi- dù rất muộn màng.

Hai anh em thằng bạn thân thiết của tôi cũng không còn ở trong ngôi nhà dưới Rộc Rau Muống. Thằng bạn vào lính sau tôi một năm và đã chết ở trận Pleime, chỉ sau bốn tháng rời khỏi quân trường Thủ Đức. Cô em gái xinh đẹp của nó, sau này không lấy chàng SVSQ Hải quân ngày xưa, mà làm vợ một đồng nghiệp. Giáng Sinh năm 70, nhân theo đơn vị tham dự một chuyến hành quân bất ngờ, giữ an ninh cho một khóa Võ Bị làm lễ ra trường, tôi có dịp gặp hai vợ chồng. Cả hai đều dạy học tại Đà Lạt, đẹp đẽ hiền lành, sống rất hạnh phúc. Sau 75, vì anh chồng gốc sĩ quan biệt phái, nên cả hai đều không được “lưu dung”, phải về tá túc nhà cha mẹ chồng ở Sài gòn, buôn bán chợ trời kiếm sống. Năm 81, vợ chồng và hai đứa con mất tích trên đường vượt biển từ Rạch Giá. Tôi rất đau đớn khi biết tin này, lúc vừa mới ra tù. Nhiều lúc tôi trách ông trời, sao nỡ bất công với những con người quá hiền hậu dễ thương.

Nha Trang đã cho tôi nhiều niềm vui nhưng cũng đã để lại trong tôi bao nỗi buồn, những vết đau như vậy đó. Không biết Nha Trang bây giờ có còn đẹp và thơ mộng như ngày xưa? Vừa rồi tôi có đọc ở đâu đó, người ta xếp Nha Trang là một trong mười thành phố du lịch tồi tệ nhất thế giới. Tôi đau lòng lắm. Nhưng cho dù có đẹp đẽ, lộng lẫy hay “hoành tráng” đến đâu đi nữa, Nha Trang cũng chỉ còn trong tôi như cổ tích, một nơi chốn thần tiên cho tôi cùng đám bạn bè thơ dại, những thằng học trò của một thời quá đỗi dễ thương mà giờ đây phần đông đã chết trong chiến tranh, tù ngục, vài thằng sống sót thì cũng tản mác khắp muôn phương.

Phạm Tín An Ninh

Tương Tư

nguyensa

Tôi đã gặp em từ bao giờ
Kể từ nguyệt bạch xuống đêm khuya
Kể từ gió thổi trong vừng tóc
Hay lúc thu về cánh nhạn kia ?

Có phải em mang trên áo bay
Hai phần gió thổi một phần mây
Hay là em gói mây trong áo
Rồi thở cho làn áo trắng bay ?

Có phải mùa xuân sắp sửa về
Hay là gió lạnh giữa đêm khuya
Hay là em chọn sai màu áo
Để nắng thu vàng giữa lối đi ?

Có phải rằng tôi chưa được quen
Làm sao buổi sáng đợi chờ em
Hay từng hơi thở là âm nhạc
Đàn xuống cung trầm, mắt nhớ thương

Buổi tối tôi ngồi nghe sao khuya
Đi về bằng những ngón chân thưa
Và nghe em ghé vào giấc mộng
Vành nón nghiêng buồn trong gió đưa

Tôi không biết rằng lạ hay quen
Chỉ biết em mang theo nghề thường
Cho nên đôi mắt mờ hư ảo
Cả bốn chân trời chỉ có em.

Nguyên Sa

Nhã ca

nguyenminhphuc

Trong Thánh kinh có Nhã Ca
nhưng trong Nhã Ca không có Thánh kinh…

Tặng Huyền Huyễn Thạch

Nghe ngoài trời gió dựng
Một đời người đi qua
Tình hắt mù con sóng
Sông trôi ngày mưa xa

Bên hiên bờ hạnh ngộ
Có một vì sao rơi
Chuyến xe buồn thổ mộ
Đợi một người- hay tôi?

Khói nhang trầm ngút cháy
Đã vọng lời lâm chung
Thác ghềnh xô sóng chảy
Trôi về phía muôn trùng

Tôi về chiều cuối gió
Thả sầu trên sông xa
Hắt hiu sầu dựng mộ
Nghe mưa buồn, nhã ca…

Nguyễn Minh Phúc

NHA TRANG.

nguyenthaibinh

Đi hoài! Đời rất mệt
Thôi cứ nằm xuống đây
Thôi! Hãy bò với lết
Biển rất gần đâu đây

Biển kề bên đây này
Bọt sóng hay sợi tóc
Trắng hay vàng lánh nắng
Nha Trang! Này Nha Trang

Có một phần tuổi nhỏ
Ta bỏ quên nơi này
Giờ ta tìm trong mây
Giờ ta tìm trong cát
Sẽ thấy con dã tràng
Se từng hạt tuổi nhỏ
Của buổi chiều mắt đỏ
Của đêm về tóc xanh
Tiếng vĩ cầm cuối ngõ
Nha Trang! Này Nha Trang

Những hàng cây trứng cá
Giờ ta tìm ở đâu?
Phương Sài hay Phước Tiến
Xi nê về mưa đêm

Núp nhau trong vạt áo
Thế nào lạc mất nhau?
Ba mươi năm hoài niệm
Ta lần tìm trong cát
Ta lần tìm trong mây
Tìm nhau trong nắng gắt
Tay lại tìm thấy tay
Nha Trang! Này Nha Trang.

Nguyễn Thái Bình

ĐIỀU CÒN LẠI

nguyenythuan

– Chú kể hết cho Khanh nghe về chú đi.
Người con gái nắm lấy tay chàng, nói giọng nũng nịu. Chàng ngồi im, nhìn cô gái 22 tuổi. Mười năm ở Mỹ với cuộc sống đầy rẫy tiện nghi, với những hoang loạn của xã hội không làm cô gái mất vẻ dễ thương của người thiếu nữ Việt Nam. Mái tóc cắt ngắn. Đôi mắt to. Bờ môi cong lên, gợi cảm. Khanh đẹp. Một thứ nhan sắc pha trộn giữa đông và tây đã cho Khanh vẻ quyến rũ đầy lửa cộng nét ngây thơ, dịu ngọt. Chàng khẽ gỡ tay cô gái ra.
– Kể hết là sao? Đời chú chẳng có gì cả…
– Không được! Bố bảo chú sống cuộc sống… ly kỳ lắm.
Chàng lắc đầu nhìn cô bé thương hại. Ly kỳ? Là thế nào? Có phải là chuỗi ngày chiến đấu? Có phải chuỗi ngày đắng cay tủi nhục, chui rúc để né tránh kẻ thù? Có phải quá khứ với vùng hào quang nhỏ được Phan – bố của Khanh – người bạn gìa của chàng vẫn kể cho con cái để tìm lại chút ấm êm trong đó, hòng khỏa lấp những lo âu của đời sống tại đây? Và từ đó, Khanh, đứa con gái đầu lòng của Phan – đã nghĩ về chàng qua một thứ lăng kính đẹp.
– Khanh lầm rồi. Đời chú cũng bình thường như trăm ngàn người khác. Đi học, lớn lên đi lính, vào tù rồi trốn trại. Bây giờ thì ở đây.
– Nhưng mỗi đoạn đường chú qua không bình thường như những người khác.
– Ai bảo thế.
– Bố bảo và cháu nghĩ thế.
Lại bố bảo! Chàng ngán ngẩm nghĩ đến Phan. Sang Mỹ từ 75, Phan vẫn không bỏ được những kỷ niệm cũ. Mười năm ở đây với Phan thoảng qua như cơn mộng. Làm. Kiếm tiền. Sống với dĩ vãng. Nghĩ cũng tội, trên một mặt nào đó Phan là người có tình, có nghĩa. Nhưng từ phía khác, Phan thành một kẻ đi lạc đường. Ngày được tin chàng đến trại tỵ nạn, Phan cứ nằng nặc đòi bảo trợ. Dù sao chú cũng phải sang với tôi. Chàng cảm động khi nhận được thư Phan. Và đồng ý.
Vừa đặt chân xuống phi trường, chàng đã được gia đình Phan đến đón. Đông đủ cả và người thiếu nữ 22 tuổi với vẻ đẹp đông tây lẫn lộn nhìn chàng chăm chăm. Chàng cười, chào cô gái và quay sang Phan.
– Ai đây?
– Con bé Khanh đấy.
– Con bé Khanh ngày xưa vẫn…
Cũng may chàng kịp ngừng ở đó. Con bé Khanh – đứa con gái ốm o, bé xíu vẫn đái dầm hằng đêm và mỗi lần chàng đến hay bỏ chạy ra nhà sau vì xấu hổ. Chàng hình dung lại căn nhà của Phan ở vùng Bà Quẹo. Ừ, qua khỏi ngã ba, vào một con đường đất nhỏ, tận cuối dãy là căn nhà gỗ. Hai vợ chồng Phan sống tại đó. Âm thầm, bình lặng như hầu hết cuộc sống của các nhà giáo. Chàng bấy giờ đang là một sĩ quan trẻ của một đơn vị tác chiến. Đôi lần ngồi uống với nhau Phan đã ao ước có cuộc sống như chàng. Lần nào cũng thế, chàng mỉm cười với bạn.Thôi ông, ông hãy lo cho bà chị và mấy đứa bé. Nói thế như một lời an ủi người bạn hơn tuổi – đã quen nhau từ Nha Trang – thuở còn học trường Võ Tánh. Mọi mơ ước của những ngày ở vùng biển cũ đã tắt ngấm từ lâu trong Phan. Hạnh phúc còn lại với người vợ, đàn con, một căn nhà nhỏ ở vùng ngoại ô Saigon, sự bình yên giữa cuộc chiến đang bùng cháy là quá đủ. Phan biết những ao ước đó chỉ nhóm lên khi trà dư tửu hậu. Nhưng vẫn nói. Để khỏi bị khuất lẫn vào giòng đời bình lặng. Cũng như chàng, nghe bạn nói. Hiểu và mặc nhiên thốt ra những lời an ủi không thực tế nhưng rất cần thiết cho những lần gặp lại. Căn nhà vùng Bà Quẹo đã thành nơi chốn trở về cho chàng trong những lần về phép. Thân quen đến độ đứa con gái đầu lòng của bạn, năm đó đâu như còn cởi truồng vẫn nhớ từng lần về của ông chú. Bây giờ là cô gái đó,đang chăm chăm nhìn chàng. Như tìm một nét gì quen thuộc hơn mười năm về trước. Bất giác chàng cảm thấy ngượng ngập. Những thứ tầm thường như quần áo, đôi dép, chiếc sắc tay mà chàng vẫn coi thường nay trở thành vướng víu, khó chịu trong ý nghĩ mang đầy mặc cảm thua kém.
Thái độ tự nhiên – dĩ nhiên là phải có với người đã sống gần mười năm tại đây – của Khanh,của vợ Phan và 2 đứa con nhỏ làm chàng chợt thấy lạ lùng. Những con người lam lũ, quê mùa thay đổi đến thế sao? Duy nhất chỉ có Phan đứng nhìn chàng thông cảm. Nhưng từ đôi mắt Phan,cũng thấy ánh lên một chút thương hại. Cố nén tiếng thở dài,chàng quay lại bạn:
– Nhà có xa đây không?
– Gần thôi. Khoảng 15 miles.
Chàng làm một con tính thật nhanh trong đầu, 15 miles mà bảo gần thôi. Bất giác chàng thấy mình… lạc hậu. Đất Mỹ với 15 miles. Chuyện thường. Nhưng từ đó chàng chua xót nhận thấy thêm một điều: sự ngạc nhiên về 15 miles với giá trị xa gần. Khác biệt với Phan. Sự khác biệt đã mặc nhiên xác nhận chàng đi sau thế giới một khoảng cách lớn.
– Sao? Cháu Khanh học đến đâu rồi.
– Cháu đang theo năm thứ hai ở college.
– Mau quá nhỉ!
– Vâng. Chú sang đây có một mình, còn thím vẫn ở lại?
– Thím nào?
Chàng ngạc nhiên hỏi lại. Cô gái cười:
– Thì vợ chú.
– Chú vẫn còn độc thân.
Chàng trả lời thật nhanh. Như vẫn trả lời câu hỏi đó cho những người đã hỏi. Cảm giác đau buốt chợt có trong tim. Hình ảnh người con gái nằm xõng xượt trên đường. Mái tóc dài be bét, đẫm máu, đỏ quánh lại màu đỏ chết. Tiếng ồn ào của đám đông vang lên. Chết rồi. Chết rồi. Chàng nhắm mắt lại gọi thầm một cái tên. Lâu lắm rồi, đã 6 năm phải không Cát. Mãi cho đến giờ này anh vẫn nhớ. Nếu anh đến sớm hơn vài phút. Phải rồi! Nếu anh đến sớm hơn vài phút…
– Chú đang nghĩ gì thế?
Tiếng Khanh vang lên. Chàng giật mình nhìn chung quanh. Mình đang ở đây mà. Ở tại một quán cà phê của thị trấn này. Chàng gượng cười nhìn Khanh.
– Sao cháu thích – điều tra- chú thế?
Vẫn nụ cười đầy quyến rũ. Cô gái lại cầm tay chàng.
– Chú ngộ lắm!
– Ngộ thế nào?
– Quê không ra quê Tỉnh không ra tỉnh. Bạn bè Khanh thấy chú đi với Khanh bọn nó – tức- lắm.
– Tức?
– Vâng. Có nhiều đứa để ý chú.
– Để ý đến chú?
– Vâng.
Chàng phì cười:
– Ai thế?
– Chú hỏi làm chi?
Giọng cô gái bực bội làm chàng ngạc nhiên. Ngước nhìn, chàng bắt gặp hình ảnh thân quen. Thật thân quen với chàng. Mái tóc cắt ngắn xõa ngang tầm vai, khuôn mắt trái soan, bờ môi cong. Cát của những năm Nha Trang trở về. Đã mất rồi một thời mơ mộng cũ. Biển, gió, thành phố và tình yêu. Làm sao anh quên được em. Giữa cuộc sống quay cuồng đến chóng mặt của xã hội này anh vẫn còn những phút sống riêng cho anh. Thật an bình. Thật dịu ngọt với vùng biển cũ. Cát ơi, nếu anh đến sớm vài phút. Hẳn bây giờ ta đã có nhau… Anh nhớ đón em. Yên chí cô bé. Thôi em về. Chưa về được. Còn gì nữa? Một nụ hôn. Mẩu đối thoại cuối cùng sau buổi họp tràn đầy yêu thương. Nụ hôn cuối cùng trước thềm nhà, dưới dàn thiên lý. Chút nắng trưa qua khe lá lấp lánh trên gương mặt em. Đôi mắt to tròn như chứa đầy mơ ước. Thế mà mãi mãi không còn. Vào cuộc,anh đã có cái để mất. Cuộc đời. Qúa khứ sĩ quan. Gia đình thượng lưu. Còn em. Em đâu có gì để mất với chế độ. Vậy mà vẫn căm thù, vẫn đấu tranh. Tình yêu cho anh chăng? Đâu phải thế, có bao giờ loài người lấy tình yêu làm động lực đấu tranh đâu. Tương lai ư? Em có chứ – nếu chấp nhận xã hội… Phải. Mãi đến giờ này anh vẫn chưa hiểu được tại sao em lao vào đấu tranh. Với anh. Với bạn bè anh. Đầy lửa,đầy đam mệ Hẳn những kẻ giết em cũng phải ngạc nhiên. Làm sao hiểu nổi. Cát ơi! Hình ảnh cuối cùng của mái tóc dài be bét máu, chiếc cặp da bật nắp, đống truyền đơn tung toé trên mặt đường. Chết rồi! Chết rồi! Những tiếng nói của đám đông ồn ào. Vẫn còn trong anh. Như một lời buộc tội đeo đẳng theo anh trong cuộc sống. Sáu năm mà tưởng như hôm qua.
Bây giờ chiều đã xuống, quán bắt đầu đông khách. Hai người vẫn ngồi yên. Từ góc phòng tiếng hát Khánh Ly vang lên trong một bản tình ca cũ. Chuỗi kỷ niệm lại quay về. Khẽ gỡ tay cô gái ra, chàng ôm mặt. Hai bàn tay chà sát thật mạnh trên vùng thái dương. Tiếng nói của Khanh đến mơ hồ như từ xa lắm. Nghe ngắt quãng, chìm khuất từng đoạn, lẫn vào tiếng hát. Cảm giác nhức nhối lại có. Chàng bàng hoàng mở mắt. Qua khe của những ngón tay, khuôn mặt cô gái đầm đìa nước mắt.
– Khanh.
– Dạ.
– Sao cháu khóc.
– Chú lại nhớ dì Cát phải không?
Chàng gật đầu thay cho câu trả lời. Sự im lặng đến giữa hai người. Biết nói thế nào? Chú biết nói thế nào đây Khanh. Vùng trời cũ sống mãi trong chú. Hình ảnh của Cát mãi sống trong chú. Đã thành máu. Đã thành tim. Như một phần thân thể.
Qua khuôn mặt đầm đìa nước mắt của cô gái, chàng bàng hoàng nhận thấy một điều từ lâu chàng đã bỏ quên: Khanh đã làm sống lại hình ảnh của Cát. Phải. Sự liên hệ huyết thống giữa hai dì cháu đã cho Khanh những nét của Cát năm 18 tuổi. Và những lần ngồi quán cà phê, những buổi đón chàng tan học, những chiều kể chuyện Việt Nam bên giòng sông Sunvalley đã thành thân quen. Thân quen đến độ cần thiết.
– Nín đi cháu.
– Sao lúc nào chú cũng nghĩ đến dì Cát. Dì chết rồi. Đã sáu năm…
– Cháu làm sao hiểu được? Chú đã có lỗi rất nhiều với dì Cát.
– Dì Cát bị bọn công an Việt cộng bắn. Đâu liên quan gì đến chú.
Đâu liên quan gì đến chú. Gật đầu công nhận là xong, là quên hết những dằn vặt từ mặc cảm chạy trốn, phản bội nhau. Sự trốn chạy là hành động cần thiết, anh không thể ở lại để bị bắt. Nhưng quay lưng. Gạt đám đông. Len lỏi bỏ đi. Những động tác dập dờ vô thức – bỏ em nằm xõng xượt trên mặt đường với vết máu đẫm loang mái tóc. Anh đã làm điều đó. Sự trừng phạt chỉ nằm trong tâm thức. Một mình anh biết. Không nói, chẳng ai biết. Như anh đã giữ kín sáu năm naỵ Tự mình chịu đựng và lơ là với những an ủi chung quanh. Tất cả chỉ là lời an ủi có tính cách giải thoát. Cậu làm thế là đúng, ở lại bị bắt ngaỵ Bạn bè, đồng đội nói thế. Công an Việt cộng bắn chứ chú đâu liên quan gì. Khanh – cháu của em cũng nói thế. Nhưng Cát ơi! Chỉ là lối giải quyết của mọi người – để chọn cuộc sống. Chẳng hiểu giữa chúng ta còn những thứ khác biệt. Đó là tình yêu. Đó là buổi trưa ngập nắng dưới giàn thiên lý. Đó là những môi hôn vội vã từ ngày trung học. Mười năm cho một tình yêu. Nuôi dưỡng,chắt chiu. Vậy mà anh bỏ em ở lại.
– Chú.
– Sao Khanh?
– Cháu…
Cô gái ngập ngừng. Bàn tay bóp nhẹ trên tay chàng. Chàng ngại ngùng nhìn vào mắt Khanh. Có thoáng lửa bối rối lẫn âu yếm trong đó.
– Cháu phải nhớ. Chú là bạn của bố cháu và chú yêu dì Cát.
– Nhưng…
– Mình về.
Chàng thở dài đứng dậy. Thoáng gió lạnh hắt vào mặt khi chàng bước vội ra cửa. Hệt như lần trốn chạy sáu năm trước tại Sàigòn.
Hai người bạn ngồi tại một góc của quán ăn dưới núi. Phía trước mặt họ là dãy cọc dẫn dài theo sườn núi, cao vút và khuất lẫn vào tuyết. Đã bắt đầu mùa đông. Cái lạnh cùng khắp, se sắt với từng cơn gió trôi đến. Phan cười với chàng:
– Lạnh quá nhỉ.
– Ừ. Giống như Đà lạt năm 69.
– Lại thèm một tô phở Tùng.
– Chàng mỉm cười nhìn bạn. Mười năm vẫn thế. Vẫn ước ao. Vẫn thèm khát những điều bình thường trong cuộc sống,bằng tình cảm. Mặc những xô bồ, chen chúc chung quanh. Phan sống bình yên. Saigon cũng vậy. Sunvalley cũng thế. Đâu có gì khác biệt. Hình như tự Phan đã chọn lựa lối sống. Và an tâm với chính mình. Chàng nói ý nghĩ đó với Phan. Trong nụ cười hiền hậu, Phan choàng tay qua vai chàng:
– Tại sao phải thay đổi? Hội nhập ư? Mười năm ở đây, làm việc, sống, và sống riêng mình. Chẳng chết…
– Thì đâu chết. Nhưng có vẻ như lạc hậu.
– Lạc hậu?
– Phải.
– Thì đã sao? Đất Mỹ này có phải quê mình đâu. Tại sao ngoài những tiện nghi vật chất và văn minh quá mức này mình không tìm riêng cho mình một cuộc sống?
Chàng im lặng nhìn khoảng không gian trước mặt. Dãy núi ngập tuyết ánh lên màu trắng loé. Gây cảm giác gai lạnh từ cái nhìn. Lại cô đơn hơn với hàng cọc sắt trải dài. Một cành cây khô, chơ vơ bật lên giữa khoảng trắng xoá đó. Cô đơn, lạc lõng. Như Phan và cuộc sống mười năm ở Mỹ.
– Này cậu.
– Sao.
Phan ngập ngừng, cầm ly nước lên, rồi nói thật nhanh.
– Cậu nghĩ sao về con bé Khanh?
– Khanh?
Chàng giật mình nhìn bạn. Nét mặt Phan vẫn hiền hoà, nhưng nụ cười không còn. Vẻ nghiêm trang hiện rõ.
– Phải.
– Nghĩ gì là nghĩ gì?
– Về nó.
– Tôi làm sao biết được. Khanh là con của cậu…
– Cậu không thành thật.
Phan buông lời trách móc. Chàng ngượng ngập nhìn bạn.
– Khanh nó yêu cậu. Hôm qua nó nói với tôi.
Phan nói với giọng đều đều. Chàng ngạc nhiên, cố tìm một nét giận dữ hay khó chịu trên khuôn mặt bạn. Nhưng tuyệt nhiên không có.
Vẫn bình thường và thản nhiên. Như đang nói đến chuyện của người khác.
– Khanh nói thế nào?
– Thì như cậu biết. Nó yêu cậu và…
– Nhưng tôi… còn Cát…
– Cát đã chết! Gia đình tôi cảm ơn cậu về tình yêu cho Cát. Nhưng Cát đã chết, tôi nhắc lại. Cậu còn trẻ, phải có cuộc sống khác. Không thể ôm hoài một kỷ niệm được…
Cát đã chết. Chàng xót xa nhìn Phan. Thế đấy, trong ý nghĩ của mọi người em đã chết. Cả Phan – anh của em cũng khuyên anh nên chọn cuộc sống khác. Dĩ nhiên phải thế… Nhưng với anh đâu được. Còn tình yêu, còn chuỗi ngày quá khứ, còn sự ăn năn trải dài. Em đã theo anh, theo bạn bè anh trong cuộc đấu tranh thầm lặng của tuổi trẻ Saigon sau 75. Không có gì để mất. Không có gì để đòi hỏi cho riêng bản thân. Làm sao giải thích được. Chính anh cũng không hiểu được động lực nào thúc đẩy em có hành động phản kháng chế độ. Đã có lần anh bắt gặp những con người như em trong cuốn truyện của một nhà văn viết cho tuổi trẻ. Cảm thông được tuổi trẻ. Ông ta đã viết về những người trẻ như em. Không có gì để mất. Không có gì để đòi hỏi. Đã đứng dậy trong âm thầm của Saigon những năm cuối thập niên 70. Anh mừng rỡ. Đọc. Lấn lướt từng trang để tìm nguyên dọ Mà chính anh, kẻ trong cuộc, cũng chưa hiểu được. Vẫn không giải thích ở phần cuối truyện. Chỉ nhắc đến. Chỉ ghi nhận thái độ. Một thái độ thách đố mà lịch sử không có quyền lãng quên. Một thách đố dành cho Cộng sản. Đêm đó anh chợt hiểu. Em và những người như em còn sống. Mãi sống. Lại nữa… Làm sao anh quên được. Chàng thú nhận với Phan:
– Phải! Cát đã chết. Nhưng chỉ với cuộc sống. Còn với tôi, Cát vẫn còn… Tôi có lỗi với Cát.
– Cậu hãy quên đi. Mình biết nhau gần hai mươi năm naỵ Đâu như lúc đó cậu còn cởi trần đạp xe khắp phố đi đá bóng. Sự thân thiết như ruột thịt. Có cậu thêm vào gia đình là điều tốt. Đừng nghĩ gì cả.
Chàng nhìn Phan cảm động. hai mươi năm với tình bạn đã cho Phan những lời nói hôm naỵ Còn chàng, cũng với tình bạn đó thì thế nào? Chàng bối rối, gượng đùa:
– Vậy tôi gọi ông là gì? Bố hả? Chịu thôi.
– Ai bảo cậu gọi tôi là bố.
Chàng phì cười. Phan cũng bật cười theo. Cả hai đều nhận thấy điều ngớ ngẩn vừa có. Rồi im lặng. Sau cùng Phan vỗ vai bạn:
– Cậu suy nghĩ đi. Vợ chồng mình đã bàn với nhau. Cậu đã thành một người của gia đình mình từ lâu. Bây giờ thành… rể thì đã sao.
Chàng mỉm cười nhìn về phía sườn núi. Chiều đã xuống, đổ dài theo hướng nắng bóng gốc cây khô kéo thành một vệt đen trên mặt tuyết. Lung linh và chơ vơ.
Sáng hôm sau, trên chiếc xe bus Trailsway màu đỏ từ Sunvalley về một thành phố trung Mỹ. Chàng bùi ngùi nhìn lại bóng cây khô lần chót. Đi theo chàng, vẫn chỉ có chiếc sắc tay cũ. Hệt như khi chàng đến nửa năm về trước.

NGUYỄN Ý THUẦN

NHỮNG BÔNG HOA TRÊN TUYẾN LỬA

dotrungquan

… bài thơ tôi viết từ chiến trường này, sau 30 năm nó được khắc lên tường của nhà tưởng niệm TNXP Bến Cầu – Tây Ninh… chỉ vài năm sau đó, khi tác giả của nó đặt chân xuống mặt đường phản đối bọn xâm lược trung quốc cùng thanh niên Sài Gòn, bài thơ bị đục bỏ….
(ĐỖ TRUNG QUÂN)

Ở trong rừng đâu có gương soi
Làm sao em thấy được vết bầm trên má
Chuyến tải thương về mấy lần trượt ngã
Vì mùa mưa nào chưa dứt ở đây.

Anh bộ đội thương binh vừa tỉnh lại sáng nay
Đã hỏi thăm em người cáng thương hôm trước
“Cô ấy ngã mấy lần tôi đếm được
Mà sao không khóc mới lạ lùng!”

Chắc anh hiểu rồi em ở tấm lòng
Nước mắt chỉ dành cho người ngã xuống
Nên dù té đau, gai rừng đâm chân buốt
Đâu để vết thương anh rỉ máu hai lần

Em là người thanh niên xung phong
Không có súng, chỉ có đôi vai cáng thương, tải đạn
Giữa tầm đạn thù, tấm lòng dũng cảm
Em vượt đường dài tiếp thêm lửa tiến công

Tôi thấy rồi em ơi giữa cuộc hành quân
Niềm kiêu hãnh trong mắt em kỳ lạ
Trong chiếc áo bạc màu đôi miếng vá
Cô gái Việt Nam đẹp đến lạ thường

Ôi! Những bông hoa nở giữa chiến trường

Đỗ Trung Quân

MỘT NGÀY PHẢI KHÁC MỌI NGÀY

buichivinh

Chào một ngày giống hệt mọi ngày
Sóng truyền hình phủ toàn phim Trung Quốc
Từ HTV, VTV, BTV, Đồng Nai, Long An, Bà Rịa Vũng Tàu, Cà Mau… cho đến “cáp”
Hết “Triều Đại Mãn Thanh” đến “Đại Tống Truyền Kỳ”

Chào một ngày giống hệt mọi ngày
Đọc báo thấy cha ông mất hút
Thấy thiên hạ quỳ mọp dưới tượng đài Binh Pháp Mặc Công, Ngọa Hổ Tàng Long, Họa Bì, Xích Bích…
Con nít thuộc lòng Hoắc Nguyên Giáp, Hoàng Phi Hồng, Diệp Vấn, Diệp tùm lum hơn thuộc sử Tiên Rồng

Chào một ngày đất nước tự lưu vong
Cội rễ văn hiến 4000 năm trốc gốc
Tuổi teen gối đầu giường Lý An, Ngô Vũ Sâm, Trương Nghệ Mưu, Trần Khải Ca lạ hoắc
Pano giăng khắp nơi hình ảnh Củng Lợi, Chương Tử Di, Thành Long phơi phới toét miệng cười

Chào một ngày phát triển giống đười ươi
Đi trên xã tắc thấy người thua xa khỉ
Thấy lô cốt ngáng đường, thấy nước ngập tận mông, thấy thánh hiền sợ quỷ
Thấy truyền thống chống ngoại xâm co rúm lại vì… tiền

Chào một ngày vong bản vì… hèn
Sống chết mặc bây, túi thầy vô cảm
Ải Nam Quan nằm ngoài ranh giới Việt Nam, xưa rồi Diễm…
Nước mắt Nguyễn Trãi khóc Nguyễn Phi Khanh rơi ở tận… nước Tàu

Chào một ngày bãi biển hóa nương dâu
Thác Bản Giốc rời Cao Bằng như có cánh
Thắng cảnh để lại của tiền nhân bị cháu con ghẻ lạnh
Các di tích, kỳ quan cứ mất tích đều đều

Chào một ngày hình chữ S tong teo
Tài nguyên bôxit bị bới đào như… bọ xít
Nhôm và đô la chẳng thấy đâu, chỉ thấy đất Tây Nguyên rên xiết
Ô nhiễm mạch ngầm, nước sông làm nghẹt thở Chín Con Rồng

Chào một ngày long mạch bị xới tung
Máu bầm đất đỏ bazan, máu tràn ra hải đảo
Ai cho phép Hoàng Sa Trường Sa thành Tam Sa lếu láo
Tội nghiệp rừng cọc nhọn của Hưng Đạo Đại Vương trên sóng Bạch Đằng

Chào một ngày giống hệt cõi âm
Những xác chết anh hùng bật dậy
Máu trả máu, đầu trả đầu. Nhớ đấy
Mãi quốc cầu vinh tất quả báo nhãn tiền
Chào một ngày soi rõ mặt anh em!

Bùi Chí Vinh

LÒNG TỰ TRỌNG

Hovietkhue

Bà lão bảy mươi tuổi lẻ, từng bị tai biến não nên tê liệt nhẹ, khi di chuyển kéo lê một chân, một tay cứng đơ cử động chậm chạp. Vậy mà hàng ngày bà vẫn phải đi bán vé số trên đường phố.
Thị xã nhỏ, công việc buộc tôi thường chạy xe máy ngoài đường nên tôi thường nhìn thấy bà lão tàn tật đáng thương vai mang cái sắc nhỏ chào mời mọi người mua vé số.
Không nhớ từ lúc nào, ở các nơi tôi đến làm việc, người ta thường tặng phong bì. Không nhiều, vài ba trăm ngàn, với đôi lời biện bạch để dùng bữa cơm, hẹn dịp khác rảnh rổi sẽ nhậu lai rai tâm sự. Mỗi lần có phong bì, tôi không quên chia sẻ cùng bà lão không vì tôi mơ làm tỷ phú, tôi cũng biết sáng mua vé số chỉ để chiều xé và giúp cán bộ công ty xổ số có thu nhập ngất ngưỡng nhưng vì hoàn cảnh đáng thương của bà. Bởi có lần hỏi chuyện, tôi biết bà lão bán vé số không con cháu, phải tự kiếm sống.
Tôi làm phóng viên cho một tờ báo địa phương. Thời ngồi ghế nhà trường, tôi không hề nghĩ mình sẽ trở thành nhà báo, dù tôi học môn văn luôn đạt điểm cao. Chú tôi là chức sắc ở địa phương ấn tôi về tòa soạn báo, dù tôi tốt nghiệp đại học ngành thủy lợi. Tôi phản ứng yếu ớt thì chú nghiêm mặt: “Làm thủy lợi chỉ khai thông đường nước cho một cánh đồng, còn làm báo khai thông dòng tư tưởng cho cả xã hội. Cháu thấy nhiệm vụ nào vinh quang hơn?”. Thật tình tôi nghĩ được đi làm sớm thì có lương sớm, không ăn bám cha mẹ chứ không nghĩ nhiệm vụ vinh quang hay hèn mọn gì!
Chú tôi điện thoại: “Thằng X sắp được phong thống chế ngành xây dựng. Cháu viết một bài về nó đi. Chú giới thiệu cháu với nó rồi”. X là chủ tịch một tập đoàn xây dựng lớn, trúng thầu xây dựng hầu hết các công trình có nguồn vốn từ ngân sách nhà nước như cầu cống, đường sá, bến cảng, trụ sở cơ quan trong khu vực. Tôi biết X không chỉ là cánh hẩu với chú tôi mà còn cánh hẩu với lô lốc vị chức sắc khác. Nếu không, dễ gì hàng năm X bú bầu sữa ngân sách ngọt sớt vài trăm tỷ đồng.
Vừa gặp, chủ tịch X dúi ngay vào tay tôi tập báo cáo thành tích đề nghị phong tặng danh hiệu tuyệt đại cao quý ngành xây dựng. Ông xua tay khi tôi bấm máy ghi âm: “Tất cả đều gói trong này. Em nghiên cứu rồi viết chứ anh kể lể dông dài lắm”. Tôi liếc nhanh, người khai báo thành tích báo cáo đầy đủ từ thành phần xuất thân, bước đầu khởi nghiệp, các công trình xây dựng đã hoàn thành, các đóng góp vật chất cho xã hội, các chương trình từ thiện ủng hộ người nghèo…Tôi chỉ hỏi thêm một câu ngắn: “Ông tâm đắc nhất là chương trình từ thiện nào mà ông và tập đoàn đã triển khai?”. Ông X cười hóm hỉnh: “Cái tâm đắc nhất là cái mình còn ấp ủ. Giàu có, làm ra tiền đến phát ngán thì khi chết cũng đâu mang xuống âm phủ xài được? Sắp tới tôi sẽ xây một nhà dưỡng lão để nuôi dưỡng khoảng một trăm người nghèo neo đơn, tàn tật”. Tôi hí hoáy ghi chép, hân hoan tán thành ý tưởng nhân đạo của một doanh nhân thành đạt biết cảm thông, chia sẻ với người bất hạnh. Tôi sẽ lấy câu tuyên bố này để giật cái sa-pô cho bài báo hoành tráng viết theo tập tài liệu dầy cộm có trong tay.
Thằng đồng nghiệp chụp ảnh đi cùng hoan hỉ lắm, nó lạc giọng: “Phong bì tới hai triệu lận, mày ạ!”. Thì ra khi hai thằng bước xuống cầu thang, nó đã sè sẹ mở phong bì đếm mấy tờ giấy bạc. Thôi thì cũng bõ công nó nghiêng ngó tìm góc cạnh đẹp nhất để chụp ảnh chân dung ông thống chế ngành xây dựng của địa phương. Còn tôi, tôi thầm so sánh, hai triệu là thu nhập cả tháng tôi chạy xe máy khắp hang cùng ngõ hẻm để lấy tin chó cán xe.
Tôi quên bẵng cái nhà dưỡng lão của thống chế X một thời gian dài, cho đến một trưa nắng đổ lửa, tôi thấy bà lão tàn tật lê lết men theo các mái hiên trên đường phố. Chiều đó, xong việc sớm, tôi tạt vào trụ sở tập đoàn X. Tiếp tôi là một chủ tịch trẻ. “Ông X là ba cháu. Ba cháu bàn giao cho cháu quản lý tập đoàn ở Việt Nam, còn ông đã định cư ở Huê Kỳ”. Tôi vớt vát: “Còn dự án nhà dưỡng lão ba cháu tuyên bố với báo chí?”. Tân chủ tịch tập đoàn nhún vai: “Cháu đâu nghe ba cháu nói gì về dự án đó”.
Về nhà, tôi nhận được thiệp mời dự tiệc tiễn đứa em con chú tôi đi du học Mỹ. Tôi nhiều lần nghe thím tôi bàn bạc trong gia đình chuyện em gái đi học và tìm cách định cư ở nước ngoài. Nếu em có quốc tịch nước ngoài thì chú thím tôi cũng có cơ hội có thêm một quốc tịch thứ hai khi chú tôi đã nghỉ hưu. Vì sao nhiều người làm giàu nhờ xứ sở này lại muốn bỏ quê hương?

Có lần tôi trót hứa với bà lão bán vé số sẽ xin cho bà một chiếc giường trong nhà dưỡng lão một trăm chỗ nên tôi tránh bà dù vẫn thường thấy bà trên phố. Trưa nay, tôi tắp vào một cây xăng để đổ xăng thì gặp bà nhưng bà tảng lờ như không nhận ra tôi. Tôi vồn vã: “Chào bác, bác không nhận ra cháu sao?”. Bà cười móm mém: “Sao không nhận ra cậu. Nhưng tôi bán cho cậu toàn vé số trật nên gặp cậu tôi ngại ngùng lắm. Tôi không thể lạm dụng lòng tốt của cậu”. Tôi đùa: “Bác mà biết vé số sẽ trúng thì bác đâu có bán cho mọi người”. Dù hôm nay không có phong bì nhưng tôi cũng mua giúp bà lão năm tờ vé số.
Đêm đó, tôi xem tivi thấy cảnh chú tôi thăm một xã miền núi. Chú động viên người dân về tinh thần kiên trì bám đất sản xuất, chung tay xây dựng bản làng. Chú trò chuyện rất chân tình giống như ông X ngày nào nói với tôi về mục đích xây dựng nhà dưỡng lão. Và tôi nhớ đến bài báo bốc thơm của mình, cũng như thái độ miễn cưỡng của bà lão bán vé số trưa nay khi trao năm tờ vé số cho tôi.

Hồ Việt Khuê

bình minh. đời tạ ơn nhau

khalycham

náu thân vào giọt đêm tràn
mắt khuya rướm máu ngỡ ngàng điêu linh
núi sông chìm xuống vô minh
chừng nghe âm vọng muôn nghìn đau thương

choàng ôm gió đứng tìm hương
khát trăng hú quỷ vô thường cùng say
cuồng ca sương rụng nào hay
lòng reo man dại hồn bay phương nào

bình minh. đời tạ ơn nhau
mai sau ánh mắt trầm màu thiên thu
thưa em: môi thơm ngục tù
cháy trong hơi thở hời ru cuộc tình!

KhaLy Chàm