Tôi giật mình, trợn tròn con mắt, “See what?” Trong đầu hình dung cảnh một tên ôm bom tự sát vừa vạch ngực áo, phô bày những thoi chất nổ màu nâu sậm, quấn viền quanh bụng. Chứ sao không. Thời buổi bọn khủng bố mọc lên như nấm khắp nơi thế này. Nhưng không thấy tên nào vạch áo, phơi bụng, mặt đằng đằng sát khí hết.
“You didn’t see that?” Vẫn cái giọng trong trẻo, thanh thoát.
Vẫn đứa tôi ngơ ngác, “See what?”
Và trong cái đầu nhỏ hẹp nhưng trí tưởng tượng lại vô cùng phong phú của tôi hiện ra hình ảnh một tay tội phạm, lăm lăm khẩu súng máy trên tay, nhưng cũng chẳng thấy đứa sát thủ nào khoác AK-47 của Nga hay AR-15 của Mỹ trên vai, lững thững đi trên hành lang đông người qua lại hết.
“Don’t tell me you didn’t see that!” Đôi môi hồng lại lao xao. Tôi ngẩn ra như đứa trẻ không thuộc bài, bị cô giáo tra vấn.
“See WHAT?”
“Thiệt tình, đàn ông mấy anh, có mắt cũng như không!” Cô gái lắc đầu. Xin nhấn mạnh là cô vẫn nói bằng tiếng Anh đấy nhé. Tôi chỉ lập lại bằng tiếng Việt cho dễ hiểu thôi.
Trí tưởng tượng phong phú trong cái sọ nhỏ hẹp của tôi càng lúc càng phình ra, tưởng chừng sẽ làm nứt toác những khúc nối xương sọ. Tôi hình dung một cô gái tóc vàng đứng thẳng, vai xuôi, hai tay buông thõng, bàn tay xòe rộng. Những ngón tay có móng sơn màu hồng thắm duỗi ra. Ngao ngán. Buông xuôi. Vô vọng. Cử chỉ mà những người vợ, sau một ngày làm việc vất vả, về đến nhà, thấy nhà cửa bề bộn, con cái nheo nhóc, nhơ nhớp, bẩn thỉu, mà chồng thì đang ngồi trước màn hình ti vi, xem nốt trận chung kết giải túc cầu quốc tế. Tôi chớp mắt vài lần để xua cái hình ảnh không mấy đẹp ấy đi.
Cô gái vẫn ngồi cạnh tôi. Cô đang lắc đầu. Chẳng biết lắc đầu vì lý do gì, nhưng xem ra có vẻ ngao ngán lắm, cái lắc đầu thay cho ý nghĩ sẵn sàng buông xuôi. Tôi bứt rứt nhìn quanh. Thấy cái gì mới được chứ? Thiên hạ đi qua đi lại, đủ mọi thứ người, tôi có thấy gì khác thường đâu.
“Không thấy thật hả?”
“Không.” Tôi quả quyết.
“Cái túi xách hai chục ngàn đồng?”
“Túi xách nào?”
“Túi xách con nhỏ (kiểm duyệt bỏ) đeo trên vai chứ đâu.”
À, con bé (lại kiểm duyệt bỏ) thì tôi biết. Cái người đã làm tôi mất ăn mất ngủ bao lâu nay; cái người khiến tôi mất bao nhiêu thời gian khai đi khai lại những chuyện ấm ớ ở đồn cảnh sát; cái người khiến tôi đặt vấn đề với chính mình rằng bản hiến chương có tên The Charter of Rights and Freedoms của Xứ Tuyết bảo vệ mọi thứ quyền cơ bản của người dân nhưng có bảo vệ luôn cái quyền nhìn (và) ngắm hay không. Tôi nhớ có thấy người đàn bà ấy đeo cái túi trên vai nhưng cái túi là cái túi, chẳng có gì khác lạ hết.
“Đàn ông các anh thật vô tích sự. Cái túi lồ lộ như vậy mà không trông thấy, vậy thì lúc con nhỏ ấy đi qua, anh nhìn cái gì?”
Tôi giật mình. Lúc người đàn bà trẻ ấy đi qua tôi quả có nhìn, nhưng nhìn cái gì thì tôi không chắc lắm. Mà có chắc tôi cũng không dám mạnh dạn nói ra. Bởi cái người vừa mới hỏi tôi “Did you see that?” là một cô luật sư chẳng những chuyên về luật hình sự mà còn đặc biệt chuyên biện hộ những tội liên hệ tới sách nhiễu tình dục. Và tôi đang là thân chủ của cô ấy. Người đàn bà vừa đi qua, vai đeo cái túi xách hai chục ngàn đô là người tố cáo tôi có hành vi sách nhiễu tình dục. Và chúng tôi đang ngồi trong hành lang tòa án, giữa giờ nghỉ giải lao của tòa.
“My God! Cái túi hàng hiệu ấy tôi mơ ước từ lâu lắm rồi mà chưa dám mua!” Cô luật sư biện hộ của tôi thở dài. Và chờ cho nỗi u uẩn lắng xuống, cô quay sang tôi, “Đấy nhé, nhìn là một chuyện mà có thấy không lại là chuyện khác; và đó mới là điều quan trọng. Lát nữa vào tòa, tôi sẽ đem cái lý luận ấy ra để đập công tố viên. Mình sẽ thắng. Anh cứ chờ mà xem.”
Khúc phim ngắn buổi sáng hôm ấy còn mãi trong trí nhớ tôi. Nhìn và thấy là hai thứ hoàn toàn khác nhau. Và điều làm tôi suy nghĩ là tôi nhận ra rằng cũng có hai mắt như nhau, cũng nhìn về cùng một hướng, nhưng hình ảnh ghi nhận được lại không giống nhau, nếu kẻ nhìn là hai người khác phái.
Tưởng tuợng nhé. Bạn là người đàn ông bảnh trai, bạn đi dạo với nửa kia của bạn trong thương xá, nửa kia của bạn cũng dễ thương, xinh xắn hết biết, sau khi để bạn chờ ngoài cửa tiệm giầy bốn mươi lăm phút, để thưởng công bạn đã chờ đợi và tán dương đức kiên nhẫn của bạn, nàng mua cho bạn ly Bubble Tea, cái thứ nước mà người Việt mình gọi là trà sữa trân châu. Rồi hai người lững thững đi bên nhau và bạn vừa nhấm nháp cái chất lỏng ngọt lịm và lạnh buốt vừa giả vờ chăm chú lắng nghe nửa kia thao thao kể cho nghe về những món hàng đang on sale trong tiệm giầy. Điều tôi muốn nói là nếu bạn để ý nhìn ánh mắt của những cô gái, của những bà xồn xồn, ngay cả của những nữ bô lão đi ngược chiều với bạn trước và sau khi bạn cầm ly Bubble Tea trong tay, bạn sẽ thấy sự khác biệt lớn lao. Lúc chưa có Bubble Tea, sẽ không có một phụ nữ nào đi ngược chiều với bạn, để mắt nhìn bạn dù chỉ một giây đồng hồ, mà phần lớn nếu có nhìn thì sẽ nhìn nửa kia xinh xắn của bạn. Đến khi bạn có ly Bubble Tea trong tay, bạn sẽ bắt gặp những cái nhìn đắm đuối từ những phụ nữ đi ngược chiều, những cái nhìn đắm đuối không phải cho bạn (dĩ nhiên), cũng không còn cho nửa kia nóng bỏng của bạn, mà cho ly Bubble Tea bạn cầm trong tay. Không tin bạn cứ thử mà xem. Tôi đã thực hành trắc nghiệm này nhiều lần và lần nào kết quả cũng giống nhau.
Ngược lại với các chàng trai, với các ông – nói chung – thì dù là ly Bubble Tea hay là ly gì đi nữa thì nếu có nhìn, các chàng thanh niên, các ông có tuổi… sẽ chỉ nhìn cô gái, tức là nửa kia của bạn mà thôi.
Nêu lên sự kiện rằng kết quả của thí nghiệm này chính xác, tôi không ngụ ý phê phán là phái nữ yêu thích Bubble Tea nói riêng và các món ăn nói chung (nghĩa là ham ăn), tôi chỉ muốn xác định cái lý thuyết rằng dẫu đàn ông và đàn bà cùng nhìn một thứ thì hình ảnh hiện lên trong võng mạc hai người vẫn hoàn toàn khác nhau.
Từ cái chuyện vặt ấy nở ra những thắc mắc khác cũng lặt vặt không kém. Tôi biết các cô sinh viên y khoa gốc Việt khi đi thực tập thường mang theo ô mai, xí muội, tầm ruộc để nhâm nhi nhưng tôi thắc mắc không biết khi đã ra trường hành nghề, các nữ bác sĩ có mang theo gói tầm ruộc, ô mai, me dầm, cóc dầm chấm muối, ổi, xoài… – toàn những thứ độc địa dưới con mắt người thầy thuốc – trong cặp sách, bên cạnh cái ống nghe không. Và tôi phát hiện ra là: có! Không tin bạn cứ hỏi bất kỳ bác sĩ Việt Nam nào mà xem.
Thì ra dù ngồi trên ngôi cao nữ hoàng, trong phòng thí nghiệm không gian của NASA, dù là phi hành gia đi bộ ngoài không gian, hay là chánh án tối cao pháp viện, dù là chiến sĩ đấu tranh cho nhân quyền hay chỉ là người nội trợ khiêm nhường các cô muôn đời vẫn là… các cô: dễ thương và… dễ thương hết biết.
Trở lại chuyện cái túi xách hàng hiệu. Từ lúc ngồi cạnh cô luật sư hình sự trong hành lang tòa án ngày hôm ấy, tôi bắt đầu học cách nhận diện những túi xách hàng hiệu. Một cô bạn của em gái tôi có thói quen sưu tập túi xách. Bộ sưu tập của cô lên tới hàng trăm món, từ những cửa hàng trứ danh trên thế giới, những cái tên mà tôi nghe như vịt nghe sấm nhưng lại là những cái tên có thể khiến nhiều người gọi thầm trong giấc ngủ: Chanel, Fendy, Hermes, Hilde Palladino, Lana Marks, Louis Vuitton, Marc Jacobs, Mouawad, Prada, Judith Leiber… (Những cái tên này tôi nhờ Google chỉ giùm chứ thật ra chẳng biết ất giáp gì.) Cô mua túi xách về, giấu biệt trong một cái walk-in closet của riêng cô, lâu lâu đem ra ngắm nghía, chuyện trò với cái túi, rồi lại cất vào góc tối. Những khi chồng cô có việc, phải đi xa hàng tuần lễ, phải ở nhà một mình nhưng cô không lo lắng, không buồn phiền. Cô cũng chẳng buồn chán hay cô đơn, bởi cô có thể đem toàn bộ sưu tập của mình rải đầy phòng khách, lan qua phòng ăn, xuống tận nhà bếp. Đứng trước rừng túi xách, như vị nữ tướng đứng trước đoàn quân tinh nhuệ, cô đắm đuối nhìn chúng. Cô vuốt ve cái mềm mại, mịn màng, mướt mát của lớp da, cô cầm từng cái xách tay lên hít hà mùi da mới thơm ngây ngất. Cô chuyện trò với từng đứa như chuyện trò với người bạn thân lâu ngày không gặp. Rồi cô cứ để rải ra như thế suốt mấy ngày chồng vắng mặt. Mỗi tối, cô lựa một vài “đứa” mà cô yêu thích nhất, cho ngủ chung giường với cô. Cứ thế, những ngày chồng đi xa lại là những ngày hạnh phúc nhất trong đời cô.
Những lúc chồng có nhà, để hợp thức hóa sự có mặt của đám túi xách xâm nhập gia cư bất hợp pháp, thỉnh thoảng cô đem một cái túi ra, lượn qua lượn lại cho chồng thấy và chờ chồng hỏi cái câu quen thuộc, “Mua hồi nào vậy?” là cô nhanh nhảu, “Mua lâu lắm rồi, cũ xì anh hổng thấy sao.” Và anh chồng dễ tính của cô cũng lại nhìn cái túi xách mà chẳng thấy gì hết, bèn xuống giọng, “Vậy sao!”
Hết chuyện.
Cô gái ấy là chuyên viên cao cấp về túi xách hàng hiệu. Và cái chân lý nhìn và thấy là hai chuyện hoàn toàn khác nhau bao giờ cũng đúng. Nhiều lần tôi muốn nhờ em gái nói với cô bạn cho tôi học một khóa nhận diện túi xách, nhưng con bé em khó chịu, không muốn anh mình vướng vào những chuyện không nên vướng, tôi đành thôi.
Để đền bù công ơn cô luật sư hình sự đã giúp mở mắt tôi để biết nhìn những thứ có giá trị – dù là vật chất – và quan trọng hơn là giúp tôi trắng án trong phiên xử ấm ớ ngày hôm đó – dĩ nhiên là trắng án bởi người ta chỉ nhìn mình một cái mà đã vội la toáng lên là bị sách nhiễu, là bị “he stared at me” thì ai mà tin được – tôi hứa với lòng là từ nay sẽ cố lựa thứ để nhìn cho phải phép.
Và nhìn thì phải thấy mới không uổng công vén mắt nhìn.
Bởi NHÌN và THẤY là hai chuyện hoàn toàn khác nhau.
Tôi ghé vào cây xăng, châm đổ nửa bình. Thừa ít đồng tiền thối, tôi bỏ ra đánh vé số. Tôi vừa chở vợ vào nhà thương, mất nửa ngày ngồi trên lửa, kết quả là mẹ tròn con vuông. Tôi lựa 6 số dựa vào ngày, giờ, tháng, năm con bé chào đời. Tôi không tin số mạng, không tin vào vận số đỏ đen may rủi, nhưng lúc đó thay vì mua phong kẹo, mua thỏi chocolat, tôi lại mó tay vào tờ giấy chơi vé số. Một xúi dục kỳ lạ khó giải thích. Tôi tin ở đời có thiên thần, có ma quỉ.
Bạn biết đó, ba ngày sau tôi vào bệnh viện đón hai mẹ con về, tôi xem báo và tôi dụi mắt lắm phen. Hoang đường thật, tôi dò trúng cả 6 con số. Tôi nghe tim đập sai nhịp, tôi vừa trở thành một thằng triệu phú ? Tôi hỏi vợ: Em có mang ước ao gì không ? Vợ nói không suy tính: Hai mẹ con cần có một căn nhà mới. OK. Tôi đặt tên gọi cho con bé cưng là Money, tôi mở riêng cho nó một trương mục. Tôi mua một tiệm tạp hoá để tự mình làm chủ bán buôn. Có đứa con gái tóc vàng vào xin việc, chừng ba tháng sau nó bảo vừa mang thai, đưa tôi xem cái que nhựa tự xét nghiệm mà nó vừa đái vào đó: “Em từ bỏ nơi này, em đi phá thai, hãy trao cho em 15.000 bồi thường thiệt hại đời con gái”. Tôi nghe theo yêu sách, tôi chẳng muốn vợ tôi đau tim. Lần này thì tôi tuyển nam nhân công, chưa đầy tháng, tiệm tạp hoá bị hai thằng có vũ trang vào cướp sạch tiền. Tôi khai với nhà chức trách, với công ty bảo hiểm, họ đến xem cuốn băng video thu hình, họ bảo sẽ đền bù sau khi kết thúc cuộc điều tra. Buồn bực nhiều thứ khiến tôi siêng tấp vào sòng bài Casino tìm mua cảm giác mới. Đánh nhỏ thua nhỏ, đánh lớn thua lớn. Tôi bán rẻ tiệm tạp hoá. Vợ đâm đơn ly dị, làm chủ căn nhà và được quyền nuôi con. Bạn biết đó… Hãy nhìn hình hài tôi bây giờ…
2.
Tôi làm ca đêm cho một nhà hàng người Pháp. Mỗi khi mang rác đi đổ sau con hẻm lầy lội tôi vẫn trông rõ dáng nằm ngồi vật vạ của một ông già khó đoán ra tuổi tác. Thỉnh thoảng tôi mang thức ăn thừa ra cho ông, thấy thùng giấy nào còn mới thì trải rộng ra, trao cho ông để che chắn thứ giang sơn tàn tệ ấy. Dĩ nhiên người ông luôn bốc mùi, lấn áp nhất là nồng độ cồn của rượu bia ông dung nạp vào người. Cảm ơn người bạn trẻ, tôi tên Paul. Tôi thích thuốc lá và tìm quên qua men say hơn là các thứ sơn hào hải vị này, ăn cho có, ăn như mèo, thực bất cầu no.
Paul biết giờ tôi tan việc, 12 giờ khuya đứng run thân nơi góc đường chờ đợi để xin thuốc lá và bạc lẻ. Paul cho hay là vừa di dời nơi chốn cũ từng ăn nhờ ở đậu, tôi hiện ở trong căn nhà bỏ hoang, thú vị lắm, vì mỗi đêm khuya thường có ma hiện ra. Paul mô tả và tôi biết chỗ ấy, hai năm trước từng xảy ra hoả hoạn. Đã hai năm, đi ngang qua vẫn còn ngửi ra mùi khét, như kiểu vẫn còn khói âm ỉ cháy ngún.
Một tối kia, ở quán ăn tặng tôi chai rượu chát nổi tiếng của Pháp, “chúng tao biết mày sắp ăn Tết”. Đã sang tháng Hai, họ vẫn mừng chúc năm mới. Tôi nghĩ tới Paul, tạt về căn nhà có ma để thăm ông già vô gia cư, trao tay ông chai rượu thượng hảo hạng. Ôi, quý hoá quá. Buồn ngủ mà gặp chiếu manh, giữa sa mạc mà gặp nguồn nước ngọt. Ông uống, ly này qua ly khác và ông thuật lại, tóm gọn cuộc đời ông mà tôi vừa kể ở đầu bài. Tôi không ngờ là mình đang tiếp xúc với một người từng là triệu phú. Tôi tin hoàn toàn những gì xảy đến trên cuộc đời ông, tin tới các thứ gọi là vô thường, rồi tự dưng tôi mong được gặp ma, thử một lần cho biết. Paul nói đêm nay trời lạnh quá, chúng ta phải nổi lửa, đốt bậy bạ thứ gì đó cho qua giấc cơ hàn. Này, con ma ấy xinh đáo để và em rất mực dịu hiền, hai đứa cứ nhìn nhau mà chẳng nói ra lời gì. Đời thằng Paul này đã hứng chịu bao nhiêu trầm luân, có chết trong vòng tay ma nữ cũng là một diễm phúc cuối đời vậy!
Sắp tết một mình trong quán vắng Bất chợt sa mưa giữa thị thành Trời cũng đành hanh đời lam lũ Đắng lòng chất vấn phía cao xanh.
Tấp mái hiên người chân run rẩy Cụ già vé số chẳng mời ai Chiếc xe chở nặng đồ phế thải Chị guồng chân đạp giữa mưa dài…
Ta thấy trong mưa màu nước mắt Những phận phù du bám phố phường Ta thấy trong mưa màu suy sụp Nỗi buồn thấm đẫm kẻ ly hương.
Ta thấy trong mưa màu ly loạn Tóc bạc thôi rồi tội tóc xuân… Ừ thôi trời cứ mưa ngang trái Gột rửa bao nhiêu bụi khốn cùng Quán chật giữa một thành phố rộng Nguyện lòng cộng nghiệp nỗi đau chung.
Gió xuân rón rén ngoài khe cửa Gởi chút hương người áo mới thay Trời đất cũng chừng đang trở giấc Gởi sắc vàng mơ hoa nắng bay
Ai rót vào thơ tôi rượu mật! Ai ươm vào thơ tôi hương trầm! Ai pha vào thơ mây ngũ sắc! Ai tấu vào thơ khúc nhạc xuân!
Hình như có tiếng ai thầm gọi Về mau cho kịp đón Giao Thừa Hình như có tiếng ai thầm hỏi Rừng xuân vàng thắm Cúc hoa chưa?
Trời đất cũng chừng đang hối hả Lòng tôi Nguyên đán đón em về Dù ở phương người xa vời vợi Tôi ướp xuân hồng những giấc mơ.
EM VỀ VI DIỆU BÓNG XUÂN SANG
Trời đất cũng không đành phụ rẫy Cho ta vàng với cánh mai vàng Cho ta xanh với lòng xuân mới Và nắng hồng thơm hương phấn son.
Em cười một đóa trăng hồng ngọc Gió cũng trầm hương áo lụa là Em về như bóng chim huyền thoại Nhiệm mầu đậu giữa giấc mơ ta.
Trời đất cũng mở lòng ân điển Cho ta về tắm bến xuân người Ta nghe rộn rã từng con sóng Một thời hoa mộng tuổi đôi mươi.
Em về áo đính sương như ngọc Và tấm lòng xưa cũng tỏa hương Ta thấy màu xuân trên suối tóc Vàng ươm như sắc thắm mai vàng Trời đất cũng không đành phụ rẫy Em về, Vi diệu… Bóng xuân sang.
Nebraska khoảng 1giờ sáng ngày 12 tháng 9 năm 2022.
Con đường hiu hắt ánh đèn vàng.
Con đường hun hút vắng im.
Chỉ có trăng đi cùng má và các con gái.
Út lái xe, tìm đường đến phi trường Kansas để bay về California.
Các con gái vừa nhận tin ba vừa đi xa.
Bàng hoàng! Thảng thốt!
Con đường khuya và ánh đèn hiu hắt vàng và hun hút vắng và lặng im lặng im.
Chỉ có trăng đi cùng má và các con gái.
Các con gái lặng im cố nén chặt mọi cảm xúc. Nén chặt đến độ đông cứng. Không chịu tin đó là sự thật.
Trăng mười sáu lặng im giữa bầu trời mờ sương se lạnh, mải miết đồng hành cùng chiếc xe đơn độc trên nẻo đường dài thăm thẳm hun hút vắng.
Chỉ có trăng đi cùng- vẫn đi cùng chiếc xe chở nặng đớn đau yêu thương.
Ba ơi, qua khung cửa bên phải xe, con nhìn thấy ánh mắt nụ cười hiền hậu bao dung của ba in vào vầng trăng.
Lần đầu tiên trong đời con hiểu thế nào là yêu thương đến đau đớn, ba ơi!
Má và các con gái tiếp tục vững vàng hướng về Cali với niềm tin tuyệt đối, niềm tin mãnh liệt: Chúa đang ngự vào chiếc xe, gìn giữ tay lái của Út, vây phủ phước hạnh quanh xe, bảo bọc che chở cho mọi người về tới nơi bình an.
***
Ba ơi! Khi nghĩ về ba, chúng con luôn cảm nhận được niềm hạnh phúc “yêu thương và được yêu thương.”
Ba ơi, chúng con cảm ơn ba đã cho chúng con niềm hạnh phúc đó. Và hạnh phúc càng trọn vẹn hơn- khi ba là niềm tự hào của chúng con, là Tấm Chắn vững chãi cho mỗi chúng con. Tấm Chắn đó được nung đúc bằng chất liệu yêu thương, nhân từ, độ lượng, tin cậy. Tấm Chắn đó vững chãi đến độ, dù chúng con đứa đã có con có cháu, vẫn cảm thấy bé bỏng khi chạy về ôm lưng ba, dụi đầu vào đó mà hít thở hương thơm tình phụ tử.
Ba ơi, nghĩ về ba, chúng con nhớ những câu chuyện ba thường kể bằng giọng Quảng Ngãi mặn mà chân chất. Mỗi câu chuyện là một bài học làm người. Bài học lớn nhất mà ba đã dạy chúng con là bài học Yêu Thương, bằng chính cuộc đời ba: Thời loạn lạc, ngôi nhà ba má ở thị xã, luôn mở rộng cửa cưu mang nhiều bà con ở vùng xôi đậu lên ăn tối, ngủ nhờ. Với chức vụ và công việc của ba, ba đã cứu sống được bao người dân vô tội. Và còn nhiều việc nữa không thể kể hết.
Rồi cơn lốc xoáy của lịch sử đã tung hê tất cả… Gia đình mình tan đàn xẻ nghé. Bầy con của ba, đứa nhỏ nhất chỉ vài tháng tuổi, dại khờ ngơ ngác, bơ vơ côi cút giữa bão tố cuộc đời. Đứa về quê nội, đứa theo má đến miền đất sình lầy. Đời bầm dập nhưng chúng con vẫn luôn giữ gìn nếp nhà yêu thương, hiếu thuận, đùm bọc lẫn nhau.
Còn ba, chốn lao tù khổ sai nơi rừng thiêng nước độc, đói lạnh bệnh tật, cận kề bên cái chết, vẫn đêm đêm cặm cụi khắc tên cả gia đình trên chiếc lược bằng vỏ đạn. Bầy con đông nên chiếc lược khá dài, dài theo niềm thương nỗi nhớ. Miếng vỏ đạn thì lạnh cứng mà nét chữ của ba lại ấm áp mềm mại, bởi ba đã gửi gắm vào từng nét chữ bằng cả trái tim yêu thương mong nhớ. Có lần má đi thăm nuôi ba, dẫn theo đứa con nhỏ, đứa nhỏ đó giờ đã 50 tuổi, vừa kể lại rằng ba cứ ôm chặt nó vừa hôn vừa nói “nhớ con quá… nhớ con quá…”
Rồi ba ra tù trong bộ quần áo màu nâu đất, xộc xệch rách rưới, chân yếu mắt mờ, vàng vọt tiều tụy, suy sụp, kiệt quệ… Nhưng không lâu sau, ba lại vững vàng, sáng suốt, vẫn là cây cổ thụ che chắn, định hướng tương lai con cái. Lần lượt ba đem các em ở quảng Ngãi vào Cần Thơ để đoàn tụ, học hành.
Sau đó, may mắn đã đến với gia đình mình như nhiều gia đình HO khác, ba đã dắt má cùng chúng con đến xứ sở nầy, để chúng con được sống cuộc đời tự do, được hít thở bầu không khí trong lành.
Ba ơi, mảnh vườn nho nhỏ sau nhà được nhiều rau trái tươi ngon, là những món quà yêu thương mà chúng con được nhận vào mỗi cuối tuần khi về thăm ba má. Hổm rày chúng con ăn rau muống, thanh long, chúng con uống nước lựu ép. Từng cọng rau xanh mượt, từng trái thanh long ngọt lành, từng hạt lựu đỏ thắm, từng nhánh hoa thơm…Tất cả, tất cả…đều có bóng dáng ba cạnh má lom khom chăm sóc gieo trồng, vun xới tưới tẩm.
Ba ơi! Từ bữa ba vắng nhà, chúng con luôn xúm xít cạnh má. Cùng kể lại những kỷ niệm về ba. Có đứa kể, lần nọ ba tới nhà em, ba ho, em rót nước mời ba uống. Ba cạn chén, em lại rót tiếp… Cứ vậy… nhiều lần… Tối, ba tủm tỉm cười: “Chưa bao giờ ba được uống nước nhiều như bữa nay!” Em hỏi: “Sao ba hổng biểu con đừng rót nữa?” “Bây lo cho ba, sao ba lại không uống!” Kể xong, em chặm nước mắt: “Ba mình hiền quá! Thương ba quá!” Rồi chuyện đứa này bịnh, đứa kia bị tai nạn… là ba gọi thông báo ngay để chúng con cùng chăm sóc nhau! Bao nhiêu kỷ niệm, mà qua đó, chúng con mới nhận ra rằng ba luôn để mắt quan tâm từng đứa, còn chúng con thì nhiều lúc vô tình với ba. Ba ơi, chúng con xin lỗi ba.
Vắng ba, nhà trống trải quá, đến nỗi đứa chắt mới 6 tuổi của ba má, vừa bước vô nhà, liền hỏi “Ông cố đâu rồi”. Lúc về nó lại hỏi với vẻ mặt ngơ ngác buồn: “Ông cố đâu rồi?” Làm sao tránh khỏi nỗi buồn đau quặn thắt nhức nhối khi vắng ba, ba ơi!
Mấy năm gần đây, dù tuổi già sức yếu, ba vẫn chăm chỉ đi nhà thờ, học lời Chúa, rất sốt sắng trong nhiều sinh hoạt của nhà thờ. Nhìn ba đứng cạnh má trong ban hát, nhìn ba đọc kinh thánh, chúng con vui mừng lắm. Má con hàng đêm vẫn thích nghe và hát Thánh ca. Bài nào má con thích, ba hăm hở in ra cho má hát. Vậy đó, ba luôn dạy chúng con bằng chính việc làm của ba: Bài học về đức tin, về tình nghĩa vợ chồng.
Ba ơi! Ba xa lìa nơi nầy đột ngột quá khiến cả nhà thảng thốt, bàng hoàng, đau nhói, trống vắng, hụt hẫng… Cứ ngỡ chỉ là giấc mộng! Phải, chỉ là giấc mộng thôi mà ba ơi ba ơi…
Nhưng… những lúc tỉnh táo, chúng con nhận ra: sự đột ngột đó lại chính là ước nguyện của ba, vì trước phút chia tay, thân thể ba không hề phải chịu đựng đau đớn. Ba từ giã miền đất tạm nầy thật bình an nhẹ nhàng để trở về chốn phước hạnh đời đời.
Và chúng con cũng nhận ra rằng: Việc ba đột ngột rời bỏ cõi tạm lại chính là lời nhắc nhở chúng con: Hãy sống tốt hơn nữa để khi nhắm mắt xuôi tay, lòng được vui thỏa. Hãy sống bao dung độ lượng nhiều hơn nữa. Hãy sống yêu thương nhiều hơn nữa, bởi vì, chỉ trong tích tắc- Phải, chỉ trong tích tắc thôi, người ta có thể bất ngờ vĩnh viễn xa lìa người thương yêu của mình.
Vậy đó! Cho đến giây phút cuối cùng, cuộc đời ba vẫn là bài học cho chúng con: Bài học làm người, bài học yêu thương.
Ba đã sống vuông tròn cả đạo lẫn đời. Chúng con tin chắc rằng giờ nầy ba đang thảnh thơi thỏa nguyện nơi miền vĩnh phúc.
***
Ba ơi! Bình tâm lại, con nhận ra Trời ( God), vẫn được người Việt gọi là Chúa, đã luôn ở cùng ba trọn lối đi trên cõi tạm và trọn lối về chốn phước hạnh vĩnh hằng.
Ngày nào ba trong quân ngũ, rồi những năm tháng bị tù đày… Trời đã luôn bảo bọc che chở ba vượt qua tất cả gian lao khó nhọc, hiểm nguy.
Rồi khi con cháu đã được sống cuộc đời tự do, mọi sự đã tốt lành, thì sức ba đã yếu nên Ngài đã nhậm lời cầu xin của ba: Ba không muốn sống với những ốm đau thể xác của tuổi già, không muốn sống đời thực vật.
Nên đúng vào ngày Chúa Nhật, ngày Thánh, ngày của sự Phục Sinh, ngày của Yêu Thương, ngày nghỉ ngơi. Hôm đó cũng nhằm vào ngày Yêu Nước (9/11), ngày Lễ Ông Bà (9/11/2022), Chúa đã chọn ngày đặc biệt đó để dắt ba trở về ngôi nhà vĩnh phúc.
Thế là ba đã hoàn tất cuộc hành trình đời người, đã về đến đích cách hiển vinh, đầy tràn ân điển.
Nhưng dù sao con vẫn ôm nỗi nhớ thương ba.
Hổm rày con cứ mở voicemail để nghe những lời ba nhắn lại mỗi khi con không bắt máy. Giọng ba vui vẻ ấm áp làm sao. Nghe mà thương quá chừng thương. Nghe mà nhớ quá chừng nhớ ba ơi…
Hai cây cột đèn bên kia đường mỗi cây ném cho hắn một chiếc bóng. Một nghiêng về bên phải, một ngả sang bên trái nhưng cùng một đôi chân, như thể từ đôi chân ấy mọc ra hai hình hài riêng biệt. Hắn liếc nhìn ông anh vợ đi bên cạnh. Bóng anh ta cũng chẻ thành đôi. Những đôi chân dán cứng xuống đất khi hai người ngập ngừng bước lên bậc thềm, lọt vào khung một cửa tiệm đỏ thẫm ánh đèn.
Mùi thơm phảng phất của nước hoa, của trái cây chín tới lùa vào mũi hắn.
Ánh đèn đỏ lè bên trong. Hắn phải nheo mắt lại để nhìn cho rõ. Ngay bên lối vào là một cái quầy phủ lớp vải ren mỏng. Một đĩa trái cây nằm trên mặt quầy. Hắn liếc vội mấy trái táo tròn bóng lưỡng chen chúc với chùm nho chín mọng, rồi hồi hộp nhìn qua người đàn bà đứng tuổi ngồi phía sau quầy.
Hắn vội vã gật đầu. Bởi chần chừ, người đàn bà sẽ hỏi han lôi thôi bằng thứ tiếng Anh lai giọng, hắn sẽ phải vất vả tìm câu trả lời. Hơn nữa đây là tiệm massage. Bảng hiệu ba thứ tiếng gắn ngoài cửa ghi rõ ràng như thế.
Người đàn bà nói giá tiền. Hai gã thanh niên loay hoay đếm từng đồng bạc. Hắn đã chuẩn bị sẵn. Những đứa có dịp trốn trại ra thành phố chơi, đem về vô số thông tin. Tiệm nào, ở đâu, giá cả bao nhiêu, đi ta-xi hết bao nhiêu. Có đứa còn cả quyết tiệm này hình như có một em người Việt. Người đàn bà tỉ mỉ vuốt cho thẳng và thong thả đếm những đồng tiền giấy. Hắn cẩn thận nhét tờ hai chục – tờ giấy bạc duy nhất – còn lại sâu vào túi quần. Mất là lát nữa không có tiền trả ta-xi về trại.
Người đàn bà chỉ những chiếc ghế kê cạnh nhau ở sát vách ba bức tường, “Ngồi đi.” Hai đứa nhanh chân ngồi thụp xuống chiếc ghế nệm dài. Mỗi đứa một đầu. Cả hai quả tim cùng lao xao trong hai lồng ngực. Người đàn bà ngoái cổ ra phía sau réo một tràng tiếng Mã Lai. Vài giây sau, ba cô gái vén tấm màn ren thưa như vải mùng bước ra nhìn hai đứa hắn.
“Pick one.” Người đàn bà nói lớn. Hắn hiểu. Gã anh vợ của hắn cũng hiểu và nhanh tay chỉ cô gái da đen to con gấp đôi anh ta. Hắn nhếch mép cười và rụt rè chỉ ngón tay vào cô gái có dáng người nhỏ nhắn nhất: cô gái Á Châu. Thông tin rỉ tai quả là chính xác, nhìn cô gái này biết ngay là người Việt. Nhưng người Việt sao lại lạc qua tận nơi này. Chút băn khoăn dấy lên trong lòng hắn.
Cô gái thứ ba – một cô Ấn Độ có đôi mắt to, bộ ngực bề thế và chếc váy cũn cỡn trên đùi – nhún vai, xoay lưng, vén tấm màn ren ngúng nguẩy bước vào phía trong. Hắn chợt áy náy. Hắn không muốn làm ai thất vọng. Trong đời hắn đã thất vọng nhiều rồi. Hắn cảm được nỗi ê chề của cô gái không được chọn. Nhưng biết làm sao bây giờ.
Cô gái da đen nắm tay anh vợ hắn lôi đi. Cô gái Á Châu nhìn hắn, cười, rồi ngoắc tay. Hương trầm thoang thoảng không gian. Hắn ngoan ngoãn bước theo cái dáng mỏng manh ấy, thầm tiếc sao cô không nắm cổ tay hắn mà kéo đi, như cô gái da đen làm với anh vợ hắn.
“Con ấy nhỏ xíu, đấm bóp yếu xìu, sao không lấy con nhỏ Ấn Độ?” Anh vợ hắn đã bị kéo đi còn ráng nghểnh cổ lại, nói tiếng Việt với hắn. Hắn vội xua tay, bởi hắn sợ lỡ cô gái của hắn nghe được tiếng Việt thì kỳ lắm.
Anh vợ hắn toét miệng cười. Dưới ánh đèn đỏ lè, mờ ảo, cái bóng nhỏ bé của gã Việt Nam chìm vào cái khung đồ sộ của cô gái da đen. Cả hai biến đi sau một khung cửa. Cô gái của hắn thoăn thoắt bước, buông lại phía sau mùi hương lạ lẫm. Hắn nhanh chân bước theo. Hai cánh mũi phập phồng. Lồng ngực căng cố nén cho đầy, cho sâu cái mùi dịu dàng hương phấn lẫn chút trầm hương thanh thoát. Lâu lắm không hít hà được mùi hương của đời sống. Phải như hắn có thể đổ đầy cái mùi gợi cảm ấy vào một chiếc hộp, đậy nắp kỹ, đem về cái góc lụp sụp trong căn lều ở trại tị nạn, lâu lâu mở ra hít hà thì hạnh phúc biết chừng nào.
Đang thoăn thoắt bước, cô gái đứng sựng lại, quay người đẩy một cánh cửa bên lối đi. Hắn dán mắt vào tấm bảng nhỏ gài trên khung cửa. Ba con số nằm cạnh nhau. 007. Vậy là hắn vào phòng số bảy. Hắn quên nhìn xem ban nãy anh vợ hắn bị kéo vào phòng số mấy. Và hắn ngạc nhiên về cách ghi số phòng của tiệm này. Như thể họ có hàng trăm căn phòng nên phải ghi tới ba con số để khỏi nhầm lẫn. Cô gái khép cửa, vói tay bật công tác điện. Ánh sáng màu xanh tràn ngập căn phòng. Vừa mới quen với chất màu đỏ thẫm của ngọn đèn hành lang và phòng khách, hắn phải chớp mắt mấy lần mới quen được với ánh đèn xanh dịu dàng, màu của bầu trời mùa hạ ngập nắng và vũng biển biếc xanh. Máy lạnh ở góc phòng phả ra cái hơi mát dịu dàng.
Cô gái cởi áo khoác, treo lên cái móc trên tường. Rồi cô xoay lại, nhoẻn miệng cười, chỉ vào người hắn. Hắn lúng túng loay hoay mấy cúc áo. You need help? Cô hỏi, giọng trong. Hắn xua tay, it’s okay. Cô cởi luôn áo ngực, treo lên tường. Thân hình mỏng mảnh chỉ còn chiếc quần lót vừa một lòng bàn tay. Hắn hồi hộp liếc trộm đôi vú vun đầy. Dưới ánh đèn biếc xanh, vệt bớt son trên vòm cong ngực trái cô gái tím ngắt, như vết bầm. Và hắn chóng mặt. Ánh đèn xanh mướt biến thân thể cô thành loài thủy quái dưới thủy cung.
Cô lấy trong túi xách một cái kẹp tóc, gom mái tóc và kẹp lại sau lưng. Hắn đứng ngẩn nhìn và thầm tiếc. Phải chi cô cứ để tóc xõa nhìn sẽ thơ mộng hoặc có chút gì đó liêu trai hơn.
Cô chỉ chiếc giường nhỏ có tấm nệm mỏng và khăn trải biếc xanh ánh đèn, gật đầu nhìn hắn. Hắn ngoan ngoãn trèo lên và nằm sấp trên lớp vải mát rượi. Cô leo lên giường theo hắn, hai đầu gối hằn trũng mặt nệm.
“Anh ở đâu?” cô hỏi bằng tiếng Anh, hai bàn tay xoa nhẹ trên lưng hắn.
Hắn nghiêng đầu trên mặt chiếc gối tẩm nước hoa để trả lời, “Kuala Lumpur.”
Hai bàn tay cô sựng lại, “Đây là Kuala Lumpur mà.”
“À, trong trại tị nạn.”
Những ngón tay lại xoa đều trên lưng hắn, “Làm gì trong đó?”
Hắn bảo hắn chẳng làm gì cả. Ngày ngày học Anh Văn và chờ được phỏng vấn. Những ngón tay người con gái lại nằm yên trên lưng hắn. Hắn vội tiếp, “Tôi là dân tị nạn.” Và để cô khỏi hiểu lầm, hắn nói thêm, “Tôi là người Việt Nam.”
“À!” Cô gái thở phào. “Thì ra vậy.”
Cô vừa xoa bóp lưng hắn vừa hỏi ở trại tị nạn được ăn những gì. Hắn kể về những con cá rán cháy. Những miếng thịt gà nướng khô. Và những thố cơm nồng mùi khét. Cô chép miệng. Cô hỏi hắn hết ở trại tị nạn thì đi đâu. Hắn bảo cũng không biết nữa. Tính xin đi Mỹ mà chẳng biết có được nhận không.
Nắn bóp từ cổ sang bả vai, xuống lưng hắn xong, cô chống hai tay hai bên người hắn, và đắp thân thể cô lên người hắn. Dùng đôi vú mềm xoa đều lưng hắn.
“Trại tị nạn tên gì?” Cô hỏi. Hơi thở nóng ran trên gáy hắn. Da thịt mùi trầm gây gây. Hắn nói cho cô nghe cái tên trại bằng giọng hụt hơi. “À,” cô reo lên khe khẽ. “Tôi biết rồi. Ngày nào tôi cũng đi qua chỗ ấy. Thấy người ta đứng bám tay vào hàng rào, nhìn ra ngoài.”
Cô làm hắn nhớ những buổi chiều đứng ở hàng rào bên hông trại, nhìn ra Kuala Lumpur, đứng hoài cho đến khi đêm xuống, mơ tưởng cái ngày khăn gói rời trại, đi định cư ở một quê hương khác. Đêm xuống, một vừng ánh sáng bao phủ những cao ốc nhấp nhô trong cái nền đen của bầu trời nhiệt đới lấp lánh những vì sao. Có những đêm trăng tỏ, hắn say trăng. Nhìn hoài, bởi trăng rất quen, như trăng ở quê nhà.
“Nhìn họ, thấy tội nghiệp,” cô chợt nói.
“Có tôi trong đám ấy đó.”
Hắn nghe tiếng thở dài của cô gái, cảm động hay mỏi mệt sau một ngày dài làm việc hắn cũng không rõ, nhưng hắn cố tin cô thở dài vì cảm động.
“Tôi cũng người Việt Nam,” cô chợt nói.
Hắn ngóc đầu dậy như con kỳ đà thấy mồi.
“Hồi nhỏ tôi ở Việt Nam,” cô nói nhỏ. “Trong Chợ Lớn.” Cô phát âm hai chữ Chợ Lớn nghe tức cười nhưng hắn không buồn cười. “Mẹ tôi gửi tôi cho dì nuôi tôi hồi ba tuổi.”
“Tại sao?”
“Bên Việt Nam đánh nhau hoài… với lại cha tôi không thích…”
“Sao cha cô lại không thích?”
“Tôi không phải con ông ấy.”
“Thế bây giờ cha mẹ cô…”
“Mất liên lạc.”
Hắn nhớ như in thời kỳ chiến dịch bài Hoa trong nước lên cao độ khi có chiến tranh biên giới phía Bắc. Giọng cô rì rầm, “Sau 75, mất liên lạc. Nhưng nếu ông bà trốn ra nước ngoài được, chắc chắn họ sẽ liên lạc với dì tôi. Chỉ sợ…” Cô ngưng ngang câu nói và bảo hắn lật người nằm ngửa cho cô nắn bóp bả vai và hai cánh tay.
Hắn hiểu cái nỗi “chỉ sợ” của cô gái. Và hắn trấn an cô, “Chắc không sao. Người Hoa được cho phép đi, chỉ cần có tiền.” Hắn nghĩ cha mẹ của cô gái này trong Chợ Lớn hẳn phải có đủ khả năng đóng ghe, mua bãi. “Không chừng họ đang ở cùng trại với tôi…” Hắn nói.
Cô gái tròn con mắt. Ánh đèn xanh làm đôi mắt ấy long lanh, và hắn đọc được trong đó niềm hy vọng. Từ bao lâu nay, con người – ở bất cứ nơi đâu – đều bám lấy hy vọng mà sống.
“Cha cô tên gì?” hắn hỏi.
Cô đọc cho hắn một cái tên, nhưng cô phát âm bằng tiếng Quảng Đông, nghe lạ lẫm. Hắn cố lẩm nhẩm cái tên ấy.
“Khi về trại tôi sẽ để ý tìm,” hắn nói.
Hắn nghe tiếng thở dài của cô gái. Giọng cô bỗng đượm nỗi buồn, “Lúc trước dì tôi cứ nói sẽ đưa tôi qua thăm mẹ tôi, nhưng chần chừ mãi. Bây giờ thì hết thăm được rồi.”
Not anymore. Âm thanh hụt hẫng. Nghe như một lời than của đám đông hàng chục, hàng trăm, hàng ngàn, hàng triệu người thở ra cùng một lúc. Chẳng còn nữa đâu, chẳng còn gì nữa đâu.
Hắn hình dung đến những người Việt gốc Hoa trong trại. Và hắn chợt nhận ra cái hay của họ là ở đâu cũng xoay sở để nắm được những chức vụ then chốt. Trong trại tị nạn nơi hắn tạm trú. Ban Ẩm Thực, Ban Thư Tín, Ban Y Tế, Ban Nhân Lực, Ban Vệ Sinh… nghĩa là những ban có đặc quyền hoặc có những thứ “ăn” được đều do người Hoa làm trưởng ban. Câu réo gọi của nhân viên ban ẩm thực bằng tiếng Quảng Đông khi nhận thẻ từ tay người xếp hàng lãnh cơm còn vang trong đầu hắn. Dất co. Dì co. Sám co. Một người. Hai người. Ba người. Tất cả bằng tiếng Quảng, để nhân viên cho một, hai, hay ba con cá. Cha mẹ của cô gái này biết đâu là một trong những nhân viên ấy.
“Mẹ tôi thương tôi lắm,” cô gái nói, tay vẫn không ngừng nắn bóp hai vai hắn. Hắn nghĩ thương mà lại đem con cho người khác nuôi. Như đọc được ý nghĩ hắn, cô nói, “Ở lại bị pháo kích chết á.”
Rồi cô hỏi hắn có vợ con chưa. Hắn thật thà kể chuyện đi vượt biên, xuống ghe hoảng hốt sao đó, vợ hắn bị lọt lại. Hắn đi thoát. Và hắn thở dài. Hắn nhớ vợ và đứa con còn ẵm trên tay, nhưng phút giây này hình ảnh vợ nhòe nhoẹt như bức tranh màu nước chưa kịp khô, ai đó sơ ý đánh rơi vào vũng nước. Và mùi trầm thoang thoảng từ thân thể cô gái làm lòng hắn lâng lâng.
“Anh nhớ vợ anh không?” Cô gái chợt hỏi. Câu hỏi như nhát cuốc đào trúng mạch nước ngầm, hắn ngậm ngùi, “Nhớ chứ. Hồi còn ở đảo Bidong, nhiều đêm không ngủ được, tôi ra bờ biển, nhìn hoài về phía Việt Nam. Bị phạt mấy lần vẫn không chừa.”
“Sao lại bị phạt?” Cô hỏi.
“Giới nghiêm. Sau chín giờ không được ra ngoài.”
“Bây giờ hết nhớ chưa?”
“Còn chứ, nhưng trại tị nạn ở Kuala Lumpur không có biển, nên chẳng biết nhìn về đâu.”
Những ngón tay thuôn vuốt lên má hắn, “Anh thèm lắm phải không?”
Câu hỏi xoáy vào thịt da hắn như trăm ngàn mũi kim châm cứu đâm sâu vào huyệt đạo khát khao. Hắn nuốt nước bọt.
“Anh muốn không?” Cô thì thầm.
Tim hắn ngưng đập. Hắn chưa biết trả lời sao thì có tiếng gõ cửa. Và giọng phụ nữ gắt gỏng vọng vào, “Phone.”
Cô gái ngưng vội hai bàn tay. Bước qua người hắn, xuống đất, vói tay lấy chiếc áo choàng khoác lên người. “Anh chờ chút xíu,” cô nói rồi thoăn thoắt bước ra ngoài. Giọng người đàn bà gắt gỏng bên ngoài, hắn nghe tiếng được tiếng không, và hắn đoán là cô gái đang bị mắng vì để ai đó gọi cô trong giờ làm việc. Hắn ngểnh cổ nhìn theo. Ánh đèn xanh trong phòng hắt ra, trộn lẫn với ánh đèn đỏ ngoài hành lang, tô thân hình cô gái một màu nâu sẫm như màu gạch cũ.
Một lát cô trở lại, mang theo một không gian đằm thắm hương trầm. “Dì tôi gọi.” Cô vừa nói vừa thở phì phò.
Hắn “Vậy à?” rồi lặng thinh. Hắn không biết nên hỏi tiếp câu gì cho phù hợp. Nói chuyện với phụ nữ đã khó mà còn không được nói bằng tiếng nước mình thì khó gấp trăm lần. Nhưng vừa leo lên chiếc giường bé và chật nơi hắn đang nằm tay chân duỗi dài, cô đã tiếp, “Dì tôi không đến đón được.”
Hắn lại “Vậy à?” và vẫn lặng thinh. Hắn chờ cô hỏi lại cái câu ban nãy, bởi cả người hắn đang bừng bừng cơn sốt.
Cô bảo hắn nằm sấp trở lại và nắn bóp hai bả vai hắn. Hắn nằm ngoan thưởng thức cái mềm mại, ấm áp của những ngón tay thon. Rồi hắn bỗng nghĩ ra được câu để hỏi, “Vậy làm sao lát nữa cô về nhà được?”
“Tôi phải đi bộ ra bến xe.”
Hắn “Vậy à?” rồi lặng im suy nghĩ. “Sao không đi ta-xi?” Hắn hỏi, bởi hồi chiều hắn và ông anh vợ cũng đi ta-xi ra đây. Có hơi đắt chút xíu nhưng bảo đảm đến đúng nơi, đúng chỗ mình muốn. “Sao không đi ta-xi?” Hắn lặp lại câu hỏi.
“Đi ta-xi thì còn được bao nhiêu tiền để đi chợ mua đồ ăn,” cô nói.
Trán hắn cau lại, mặt hắn nhăn nhúm. Hắn cố hình dung những đồng tiền Mã Lai, những đồng Ringit. Thân nhân ở nước ngoài gửi chi phiếu qua trại, đổi sang tiền Mã Lai có hình ông vua Abdul Rahman, trên đầu quấn thứ vương miện có hình dáng lạ kỳ. Tất cả tiền giấy đều có hình ông ấy ở một mặt. Chỉ mặt sau tiền giấy thì có những hình ảnh khác nhau. Mỗi đồng có một màu riêng biệt. 5 đồng xanh lá mạ, 10 đồng màu đỏ gạch, 20 đồng màu cam, 50 đồng màu xanh da trời, 100 đồng màu tím. Và những đồng tiền cắc có kích thước khác nhau. Từ lúc đến Mã Lai, hắn đã cố nhớ mặt những đồng tiền giấy và tiền cắc của xứ này. Trong túi hắn chỉ còn mỗi một tờ màu cam đủ để trả tiền ta-xi về trại tị nạn. Mấy tháng trời ăn nhờ ở đậu trên cái đất Mã Lai này hắn chưa từng thấy tờ giấy bạc màu tím nào.
Cô nhún vai, “Không sao, chỉ là từ đây ra bến xe hơi xa, qua mấy khúc đường vắng, tôi sợ, vậy thôi.”
Hắn buột miệng, “Tôi sẽ đi với cô ra bến xe.” Nói rồi hắn chợt nhớ mình đi chung với ông anh vợ, chẳng biết anh ta có chịu đi cùng với hắn đưa cô gái ra bến xe không. Nhưng lỡ nói rồi, hơn nữa, đưa cô gái lẻ loi, dù xa lạ, một quãng đường có mất mát gì đâu. Cứ coi như đi dạo Kuala Lumpur. Thăm những con phố lạ về đêm.
Cô gái chợt nằm hẳn lên người hắn. Sức nặng thân thể và hơi ấm da thịt cô làm tim hắn rối nhịp. Rồi cô ngồi lên bên cạnh hắn, luồn tay vào sợi dây thun chiếc quần đùi của hắn, tuột xuống.
Hắn run rẩy nắm lấy bàn tay cô, “Tôi không đủ tiền.” Hắn nghĩ đến đồng hai chục nhét sâu trong túi quần, vừa đủ chuyến ta-xi về trại tị nạn.
Cô gái cười. Nụ cười thiểu não dưới ánh đèn biếc xanh khuấy lên nét liêu trai pha chút u uẩn, “Cho anh thiếu nợ.”
Hắn điếng người, “Tôi cũng không có tiền để tip cho cô.”
“Cũng cho thiếu luôn,” cô nói, giọng vui, nhưng với nụ cười buồn.
Cô bước xuống giường, mở ngăn kéo chiếc tủ kê sát tường, bới loạt xoạt mớ đồ trong ngăn tủ, lôi ra vật gì đó, đưa cho hắn. “Cho thiếu nợ, nhưng anh phải mang cái này.”
Hắn trố mắt nhìn cái vật nằm gọn trong lòng bàn tay cô gái. Bao cao su ngừa thai bọc trong giấy kính màu đỏ càng sậm lại dưới ánh đèn xanh mờ ảo.
Rồi cái thân hình mỏng mảnh ấy nằm ép xuống bên hắn, đẩy hắn sát cạnh giường. Hơi hướm Việt Nam rộn ràng khứu giác. Tóc rất đen và mắt đặm nâu. Hắn bàng hoàng nhìn thân mình mỹ nhân ngư biếc xanh ngan ngát hương trầm. Ký ức những lần nằm dài trên bãi cát biển Bidong, chờ con sóng cuốn đi, hoặc nhắm mắt hình dung một nàng tiên cá dạt vào bờ nằm kề bên bỗng tràn về như trăm ngàn con sóng. Da thịt mát rượi vỗ về hắn. Người con gái Mã Lai gốc Việt. Em là người Việt, người Hoa hay người Mã. Những câu hỏi vô nghĩa. Em là ai tôi cũng thấy quá đỗi gần. Như cô gái bên nhà. Như cô bạn học ngồi ở bàn ngay phía trước. Những câu hỏi quấn vào nhau trong óc. Tim hắn rối nhịp. Hơi thở ngắt quãng. Hắn thấy mình run rẩy, lúng túng và vấp váp như thằng bé học trò lần đầu làm chuyện người lớn. Lâu lắm rồi, hắn không được gần gũi, không được ôm ấp, không được nâng niu một thân thể đàn bà. Người con gái xa lạ này ban cho hắn niềm hạnh phúc bất ngờ. Hắn sắp ngất đi vì hạnh phúc. Hắn hít hà mùi da thịt ngai ngái hương trầm. Hắn vùi mặt vào mái tóc nồng hương thơm thứ thuốc gội đầu nào đó mà cả đời hắn chưa lần nào bắt gặp. Đôi cánh tay lạ lùng của người con gái xa lạ siết quanh tấm lưng èo uột của gã lưu dân ốm đói. Đôi cánh tay ấy ôm hắn sát vào thân thể nàng. Hắn hung hăng nhưng dịu dàng, mạnh bạo nhưng nhẹ nhàng, bởi hắn sợ sức nặng thân mình trần tục hắn làm nhàu nhò đôi vòm cong của bờ ngực mỏng mềm con gái. Hắn cong người, đứt hơi, hai bàn tay vò nát cơn thèm trên mặt nệm. Rồi hắn rũ xuống, đuối người, vô vọng. Hắn ngẩn ngơ tiếc nuối cơn động kinh hạnh phúc chưa đầy một phút đồng hồ. Phù du biết chừng nào.
Cô gái ngơ ngác một giây rồi nhẹ nhàng gỡ hai cánh tay rã rượi như hai khúc bột mềm của hắn thả xuống mặt nệm. Hắn bối rối giấu cái bao cao su trong lòng bàn tay. “Đừng bỏ ở đây.” Cô nói nhỏ, và lấm lét nhìn quanh, “Tôi không muốn bị phạt.”
Hắn nhét vội cái vật nhơm nhớp vào túi quần, rì rầm, “Mai mốt…”
Cô nhướng mắt nhìn hắn, ngón tay gài vội cái khuy áo ngực, gói lại hai bầu vú xanh non. Hắn nói như hụt hơi, “Mai mốt kể chắc chẳng ai tin.”
“Chuyện gì?” Cô hỏi.
Hắn lắp bắp, “Chuyện tôi có… người yêu ở Kuala Lumpur.”
“Người yêu?”
“Vâng, người yêu, bởi…” hắn toan nói “người yêu mới không tính tiền” lại ngậm ngay lại, và nói trớ đi, “người yêu mới… yêu như thế.”
“Cho thiếu nợ mà.”
“Biết bao giờ trả được.” Giọng hắn trộn lẫn chút hớn hở và một thoáng ngậm ngùi.
Cô gái cười. Rồi cô suy nghĩ một giây, “Tôi sẽ cho anh cái gì đó làm bằng chứng.”
“Chi vậy?”
“Để người ta tin anh nói thật.”
Cô nhìn quanh, tìm kiếm, hắn nghĩ đến cái áo ngực mỏng và nhỏ như cánh bướm ban nãy cô treo trên móc và vừa mới khoác lại lên người. Giả như cô dúi vào tay hắn cánh bướm màu đen ấy chẳng biết hắn có dám đem về trại không. Nhất là khi đang ở chung phòng với ông anh vợ. Dù hai đứa xê xích tuổi nhau nhưng khi đã là anh vợ, vai vế của gã cũng được nâng cấp lên theo. Nếu đem về được qua xứ sở định cư, hắn sẽ treo cánh bướm ấy trong phòng ngủ, để sống mãi phút giây hạnh phúc bất ngờ. Dẫu vô cùng ngắn ngủi.
Chợt cô đưa tay lên đầu, nhanh nhẹn tháo cái kẹp tóc. Mái tóc đen nhánh bung ra, lòa xòa hai bờ vai. Cô đưa cái kẹp tóc cho hắn. “Có tên tôi khắc trên đó đó,” cô nói.
Hắn nghiêng cái kẹp tóc kim loại dưới ánh đèn. Ba chữ Tàu khắc trên mặt ngoài cái kẹp tóc. Hắn xoay chiếc kẹp tóc về phía cô, “Cô đọc tên cô được không?”
Cô cười, “Không. Anh tự tìm lấy. Và nhớ đọc bằng tiếng Phổ Thông nghe mới hay.”
Rồi cô mở cửa căn phòng màu xanh cho hắn bước ra cái hành lang đỏ loét. “Đừng kể cho cha mẹ tôi nghe chuyện này.” Cô dặn với theo làm như chắc chắn hắn sẽ tìm cha mẹ dùm cô. Hắn mau mắn gật đầu.
Hắn ngồi với ly nước lạnh. Không biết thằng anh vợ hắn làm gì mà lâu lắc đến như thế. Quán sắp đóng cửa rồi. Cuối cùng, anh ta cũng ra tới, hai tên thanh niên cảm ơn người đàn bà ngồi ở quầy rồi bước ra cửa. Phố đêm mờ ảo ánh đèn. Hắn đứng xớ rớ bên cánh cửa. Cô gái người Hoa (của hắn) cũng ra tới. “Let’s go!” Cô nói nhỏ. Và nhanh chóng rảo bước. Hắn lặng lẽ đi theo. Phố vắng tanh. Chiếc bóng nhỏ nhoi của cô lạc loài trong đêm tối. Tiếng giầy cao gót lóc cóc khua vang động lòng phố.
“Đi đâu đây?” Gã anh vợ hỏi.
Hắn lắp bắp, “Tôi hứa đưa cô ta ra bến xe. Khuya rồi, đường vắng, tội nghiệp.”
Anh vợ hắn tròn mắt ngạc nhiên, nhìn hắn rồi nhìn cái bóng nhỏ bé của cô gái nhập nhòe trong bóng đêm. Gã nhún vai, rồi lặng lẽ gật đầu.
Không nói gì với nhau, họ đi hoài như thế. Qua vô số ngõ ngách quanh co, qua những đoạn đường vắng tanh. Thỉnh thoảng một chiếc xe chạy vụt qua dưới lòng đường. Lũ đèn giao thông xanh đỏ, chớp tắt ở ngã tư, những cửa tiệm rực rỡ ánh đèn, lác đác đám người đi chơi đêm. Cuối cùng ba người cũng đến được bến xe. Hắn đứng nhìn bóng cô gái lọt vào trong lòng chiếc xe bus dài. Bỗng dưng hắn muốn chạy ào tới, leo lên xe, đi với cô thêm một đoạn đường nữa. Hắn đã sống lẻ loi trong trại tị nạn, đã khao khát vô cùng chút ấm áp mềm mại của thịt da người nữ. Bỗng dưng hắn nhận ra nỗi cô đơn như cảnh sát nhận diện được can phạm. Nỗi cô đơn quyện lấy hắn như cơn lốc xoáy. Hắn thèm đi với cô một đoạn đường. Hắn thèm đi với cô nhiều đoạn đường. Đường phố hay đường đời, cho nhạt bớt nỗi cô đơn.
Cho tôi ở lại đây, với một người con gái Việt, giữa trăm ngàn con phố lạ.
Hắn cứ đứng hoài như thế. Cho đến khi ông anh vợ níu vai áo hắn, “Chờ gì nữa?”
Hắn không biết mình chờ điều gì. Cô gái đã lên xe, cô đã an toàn rồi, còn chờ gì nữa. “Thì về vậy,” hắn nói nhỏ.
Trên ta-xi trở về trại, gã anh vợ tò mò về “con nhỏ Tàu”, rằng con nhỏ có mát-sa tử tế không mà cậu lịch sự với em ấy như thế. Hắn không trả lời mà hỏi ngược lại rằng cô gái da đen vai u thịt bắp của anh thế nào.
Anh vợ hắn lắc đầu, “Nó lười lắm, làm qua loa, chẳng thấm vào đâu.”
“Thế có nói chuyện nhiều không?” Hắn hỏi.
“Nó hỏi tôi làm nghề gì, ở đâu, tôi nói tôi là du khách.”
Hắn tròn mắt ngạc nhiên. Câu nói dối của ông anh vợ không phù hợp chút nào với cái diện mạo xác xơ, với áo quần nhăm nhúm trên người, và đôi dép Nhật mòn nhẵn dưới chân hai đứa. Hắn nghĩ đêm nay hắn may mắn chắc là nhờ nói thật. Mẹ hắn ngày trước đã chẳng từng nhắc đi nhắc lại rằng thật thà là cha quỷ quái đó hay sao.
Hắn bâng khuâng nhớ dáng mỏng cô gái lạc loài trên lề phố Kuala Lumpur. Hắn biết hương trầm của thịt da, cảm giác mát lạnh đôi vú người con gái miết trên lưng, vệt bớt son trên vòm cong ngực trái, ánh đèn xanh nhập nhòe vóc dáng loài thủy quái trong căn phòng hẹp mang số 007 sẽ mãi còn đặm nét trong trí nhớ. Và tiếng gót giầy khua vang lòng phố đêm Kuala Lumpur sẽ còn hoài trong ký ức rộn ràng.
“Thế còn cánh hồng Trung Quốc của cậu thế nào?” Anh vợ hắn hỏi.
Hắn muốn kể hết cho anh ta nghe cái phép lạ hắn bắt gặp trong căn phòng nhỏ bé dưới ánh đèn màu xanh dịu dặt, hắn muốn kể về mùi thịt da ngan ngát hương trầm làm hắn ngất ngây, hắn muốn kể về những móng tay bấu vào lưng hắn như móng vuốt lũ cào cào, châu chấu thời thơ ấu, và nhất là hắn muốn khoe với gã anh vợ cái kẹp tóc nhưng nghĩ sao đó lại thôi. Hắn biết anh ta sẽ không bao giờ tin hắn. Hắn biết không có người nào trên thế gian này tin đó là chuyện có thật, rằng có một người con gái hoàn toàn xa lạ, cho hắn yêu mà không tính tiền.
Hai người về đến trại tị nạn lúc gần sáng. Cái kẹp tóc có khắc tên cô gái cả chục năm sau hắn vẫn giữ. Như dấu tích của một lần hạnh phúc. Thứ hạnh phúc nhỏ nhoi hái được trong tiệm massage. Như một nhắc nhở rằng hạnh phúc có thật cho dù quá đỗi phù du.
Ít lâu sau, bảo lãnh vợ qua, đôi lần vợ hỏi, hắn nói dối là kẹp tóc của một đứa em bà con đi cùng chuyến ghe vượt biên. Vợ nghĩ hắn nói dối bởi hắn không giải thích được vì sao bà con người Việt lại có chiếc kẹp tóc khắc ba chữ Tàu.
Nhiều lần hắn toan nói thật hết cho vợ nghe nhưng hắn không sợ vợ sẽ ghen cho bằng sợ vợ sẽ không tin và nhạo rằng hắn nói dóc để xóa đi cái mặc cảm thua thiệt. Cái mặt anh, con nào điên mới cho anh chạm vào người nó. Thì thôi vậy, cứ giữ lấy một mình cho yên chuyện. Vợ không biết và sẽ không bao giờ biết rằng ở giữa thủ đô Kuala Lumpur có một cô gái Hoa gốc Việt cho hắn yêu mà không lấy tiền.
Hắn chỉ áy náy một điều là đã không bỏ công tìm cho ra bố mẹ của cô gái Kuala Lumpur. Cũng vì cô đọc tên họ bằng tiếng Quảng Đông hắn chẳng biết phiên âm thế nào sang tiếng Việt.