
MEMORIAL DAY



Nửa vòng trái đất…là xa lắc
Em với anh nhìn không thấy nhau!
Ai khiến khi không mà thế nhỉ
Khi không mà sống giữa chiêm bao?
Khi không thư gửi không hề tới
Ai nỡ lòng nào xem lén thư?
Ai nỡ lòng nào tâm tỉnh rụi
Tình quen tình lạ cứ làm ngơ?
Liên lạc với nhau bằng điện thoại
Bằng email ảo tượng không hà!
Biển êm trời lặng, vài ba tiếng
Nếu thấy chập chờn…tại quá xa!
Tại, bởi, vì…luôn là cái lý
Để mình được nhớ – nhớ vô biên!
Nửa vòng trái đất là thăm thẳm
Có tỉnh như Thần cũng hóa điên!
Lên Chùa lạy Phật, Phật đây sao?
Tìm Chúa, tìm đâu, địa ngục nào?
Chúa, Phật, xưa nay là cổ tích
Tâm tình là nén cái nôn nao!
Ly khách! Ly khách con đường nhỏ
Đường lớn, người ta không cho đi…
Lỡ hứa ba năm về với Mẹ
Với Tình…mà mãi mãi Chia Ly!
Em ở đầu sông, anh cuối sông
Cùng nhau uống nước chảy chung dòng
Chung dòng nước mắt cùng ra biển
Mà biển Tây còn có biển Đông!
Trần Vấn Lệ

Ta không quỵ trong mưa bão
lại xiêu vẹo với mưa phùn
mưa phùn không làm ướt áo
sao làm tóc ta bị thương!
Sợi tóc ngày trai trẻ ấy
bồng bềnh chống chịu mù sương
không cho con gái vuốt tóc
sợ em lưu lại mùi hương
Thời gian sấy khô tất cả
tưởng làm mờ dấu vân tay
sao hoa trên đầu mỗi ngón
mấy mươi năm vẫn sum vầy
Hông eo của thời con gái
có chi hơi đẫy hơi đầy
đường gân mắt hồng hoang dại
vẫn còn chuốt đứt chùm mây
Những trận mưa phùn năm cũ
chưa già đâu còn lá lay
ta vẹo xiêu thì cũng đáng
đôi vai ấy đã thôi gầy!
Nguyễn Hàn Chung

Ra đi để lại bụi hồng Để sương để gió cuối đường xa xăm. Ra đi bước quá âm thầm, Bàn tay chới với không còn vẫy nhau, Ra đi chân vội qua cầu, Mắt thuyền đắm đuối dòng sâu tìm về. Ra đi vĩnh biệt niềm đau, Thiên thu ngơ ngác tìm đâu thấy người. Hương trầm thoang thoảng quanh đây, Nụ cười năm cũ ngậm ngùi trong ta. Thôi thì người đã đi xa! Nhạt nhòa như bóng chiều sa cuối ngày. Ra đi yên lặng thinh không, Nhạc rơi mấy nhịp âm thầm tiễn đưa. Chim trời gãy cánh năm xưa, Giấc mơ hồ điệp bây giờ ta bay. Tôn Nữ Thu Nga (Tưởng niệm Huỳnh Văn Phố - người bạn đã lặng lẽ bỏ tôi đi- tháng 2, mồng 7, 2020).

Sáng dậy. Ra sân. Châm điếu thuốc.
Nhớ nhà? Không phải nhớ nhà đâu!
Vườn, nhà…tan nát thời tao loạn
Vẫn nhớ…nhiều khi nhớ Trại Tù!
Không ai hành hạ mình đau đớn
Chỉ muốn mình ngày-tiến-bộ-hơn
Hai bữa cơm ăn dù rất ít
Bởi đời…rồi cũng khói và sương!
Mạnh Thường Quân đã không còn bạn!
Và Thạch Sùng không có bạn bè!
Nhà Nguyễn Bỉnh Khiêm là chái lá
Người khôn, mình dại…chẳng khen, chê!
Sáng dậy ra sân châm điếu thuốc
Phan Bội Châu ơi, ông nói gì?
Ông đã viết gì Trên-Biển-Máu?
Thanh Tâm Tuyền viết gì về Hungarie?
Ta chỉ viết chơi…Thơ mấy đoạn
Cầm chơi mà tưởng Khúc Tân Thanh
Lát tàn lửa rụi…Thơ thành bụi
Ta ngó trời xanh…mây rất xanh!
Trần Vấn Lệ

Tặng Nguyễn Sông Trẹm
Gặp nhau đất khách quê người
Nhớ ơi cố quận chân trời đã xa!
Bốn muơi năm mộng phôi pha
Tóc xanh phiêu bạt phong ba dập vùi
Tháng Tư đen! Hận không nguôi
Bước chân lịch sử chôn vùi giấc mơ!
Bạn ơi! Kỷ niệm ngày xưa
Giòng sông quê mẹ lặng lờ trôi xuôi!
Gặp nhau, chén rượu ngậm ngùi
Cố tri ơi! Cụng! Buồn vui kiếp người!
Mai xa ngày vắng đêm khơi
Trần gian viễn mộng chân trời ta đi!
TRẦN THOẠI NGUYÊN

Bàn Tay Đen
Tháng tư lau trắng dựng cờ
Gió ơi đừng phất mịt mờ buồn xưa
Nắng vàng kéo sợi mưa thưa
Tay che mặt mốc, tay đưa em về
Tháng tư giọt nước thèm đi
Đất không bằng mặt đá ghì eo xanh
Mộng va thực quá tam bành
Ai còn phơ phất dỗ dành đời trôi
Tháng tư lau cháy ngút trời
Phù dung che lấp mặt người phù du
Thôi về xé nửa lời ru
Bàn tay đen, đố cầm tù được thơ…
Còn Chút Nắng Chưa Phai
Còn chút nắng trên nóc đời mê muội
Hồn phân lô chờ cơ hội bán nền
Tim ra vẻ điệu đàng chờ sám hối
Từng nhịp trầm tô đậm lại miền quên
Ngẩn ngơ vén khoảng trời vô tích sự
Một thời trai dăm giấc mộng ươn hèn
Thân tắc kè hết vàng đến đỏ
Chợt bàng hoàng mai mốt toàn đen
Gom cờ xí cắm lên miền hoang tưởng
Tiếng binh reo một trận ảo thiên đường
Té sấp mặt hóa bù nhìn giữ ruộng
Đất bạc màu xơ xác tròn vuông
Những cô gái nõn nà mươi năm trước
Mươi năm nay càng nặng trĩu tay bồng
Chàng trai trẻ thập thò cửa lớp
Ngày đẹp trời bạc tóc thành đàn…ông
Mà chí lớn chưa về tay đâu đó
Mà sông hồ vẫn chìm nổi lao xao
Ta chạy trốn khỏi bọn người đắc chí
Đang tưng bừng rao bán chiêm bao!
Lưu Xông Pha
ĐÔI KHI TÔI THẤY MÌNH NHƯ MỘT DÒNG SÔNG ĐÊM
Đôi khi tôi thấy mình như một dòng sông đêm
Trôi lấp lánh những vì sao của nghìn phương diệu vợi
Trôi giữa đôi bờ yêu thương mà lòng cứ nôn nao,
cứ rộn ràng như đâu đây lòng em trên bến đợi
Tôi vừa trôi vừa vỗ nhẹ cơn mơ mình
Tôi vỗ vào bờ em nghe từng nỗi nhớ quên
Đêm thao thức, đêm trở mình nhè nhẹ
Những vì sao cứ rầm rì chuyện kể
Gió xôn xao làm ngàn tiếng sóng loang xa
Gió diệu hiền thầm thỉ những lời ca
Tôi vỡ sóng lăn tăn như mùa thu rối bời trên tóc
Tôi vỡ sóng lăn tăn như hạnh phúc ai ngà ngọc
Trôi vào đêm mầu nhiệm giấc mơ huyền
Tôi vỡ hồn tôi như điệu vũ Nghê thường huyền thoại thần tiên
Tôi trôi với Tôi chảy cùng Tôi tan vào Mê đắm
Tôi có phải là dòng sông chảy qua đời em vô tận
Chảy trong chiêm bao
Trong huyền mộng
Mênh mang.
ĐƯỜNG CÓ NHIỀU HOA XUYẾN CHI
Trên những con đường có nhiều hoa xuyến chi
Tôi bắt gặp mùa thu phơi sương trắng
Những sớm mai lòng tôi chưa kịp nắng
Và tình em chưa kịp trải lụa vàng
Những đóa hoa xuyến chi rạo rực nở và náo nức tỏa hương
Hương của đất nghìn năm còn ủ mật
Hương của em thiên thu còn cháy khát
Ái ân người rằm suốt một mùa trăng
Tôi bước đi trên những con đường có nhiều hoa xuyến chi
Hoa dung dị như môi tình mới nở
Hoa hồn nhiên như áo tình bay trong gió
Để lụa là chảy mượt mấy dòng thơ
Hoa nở trắng
Như người về trắng giấc sương mơ
Ôi nhẹ quá, lòng tôi như cánh bướm
Ôi nhẹ quá, đôi cánh tình rất mỏng
Tôi bay cùng hoa trắng một mùa sương.
NỤ ĐỜI THƠM NGÁT MỘT CÂU THƠ
Tôi trải hồn tôi lên cỏ mượt
Nằm nghe chim hót tận rừng xa
Em nở búp sen từng nhịp bước
Hương chìm trong áo ủ trong hoa
Cơn gió tình si cũng ướp nồng
Màu thơm của tóc chảy như sương
Màu của thiên thu hồ thủy bích
Màu của trăng phai bóng nguyệt hồng
Tôi trải hồn thơ lên nỗi nhớ
Mà nghe nhạc rót mật bên trời
Trăm đóa hoa mây vờn như bướm
Em về hò hẹn cuộc tình vui
Con dế đa tình khan cả giọng
Ru mãi lời ru nồng ái ân
Xin rước em về đêm huyễn mộng
Sương ngàn gió núi cũng dâng hương
Con chim cổ tích về xây tổ
Đan chiếc nôi tình trong giấc mơ
Huyền diệu lòng em hoa chợt nở
Nụ đời thơm ngát một câu thơ.
VƯỜN XƯA
Mai người về lại vườn xưa
Nhặt câu thơ cũ cũng vừa rêu xanh
Gói câu thơ lại tội tình
Chôn vào vô tận mông mênh đất trời
Câu thơ còn ấm lệ người
Hồn thơ siêu thoát chưa nguôi nỗi tình
Rồi đành quên ! Có đành quên ?
Lối xưa vườn cũ vàng hanh nắng chiều
Thơ tàn tro khói vàng thiu
Ngàn năm bay mãi vào hiu quạnh này
Ai chôn dưới cội mai gầy
Hoa vàng mấy độ vàng phai rụng vàng.
TA GỬI GÌ VÀO GIỌT RƯỢU CHIỀU NAY
Ta ném vội nỗi buồn vào quên lãng
Những đợi chờ, hy vọng sẽ tàn vơi
Và ta sẽ như một loài cây cỏ
Cứ nở hoa khoe sắc hiến dâng đời
Lòng ta sẽ vì thơ mà thắm lại
Yêu nhân gian, yêu cả những phụ phàng
Ta yêu cả những tình đi không trở lại
Yêu em như yêu Chúa, bỏ thiên đàng
Ta sẽ ném nỗi buồn không tưởng tiếc
Giọt rượu này trôi suốt cõi vô biên
Ta yêu cả những sinh tồn hủy diệt
Ta yêu em yêu giấc mộng không thành
Chiều nay ta uống mà không thể
Gửi đến lòng ta ly rượu cay
Đã ném đời ta vào dâu bể
Mà nghe tình em như mây bay.
THƠ TÔI LÀ GIỌT LỆ NGƯỜI TRĂM NĂM
Tôi đang khát cháy cả lòng
Uống nghìn chung mà nỗi buồn chưa vơi
Đi qua mấy dặm luân hồi
Thơ tôi là giọt lệ người trăm năm
Đi qua mấy cuộc thăng trầm
Thơ tôi là hạt sương tan giữa chiều
Đi, về trong cõi quạnh hiu
Thơ tôi là tiếng chim kêu cuối ngàn
Qua em là những dỡ dang
Thơ buồn đọng lại điêu tàn thu xưa
Tôi đang khát, cháy niềm đau
Rượu người chảy một dòng sầu vô biên
Xin đời giây phút bình yên
Cho tôi neo đậu bóng thuyền đời tôi
Xin cho tàn cuộc luân hồi
Thơ tôi là giọt lệ người trăm năm.
NỖI BUỒN BỎ QUÊN
Như những chuyến tàu mùa đông
Người bỏ quên một nỗi buồn trong tôi
Bỏ quên từ những tàn phai
Từ câu thơ úa trên tay lá vàng
Bỏ quên từ những dỡ dang
Từ hoang vắng nhuộm tím hoàng hôn tôi
Bỏ sợi mưa ướt vai người
Hai bờ tóc rối chảy hoài trong mơ
Bỏ quên câu đợi câu chờ
Lòng xưa rêu biếc vườn xưa ai về
Hình như những chuyến tàu khuya
Réo vào vô vọng tiếng còi mùa đông
Người bỏ quên một nỗi buồn
Trong tôi là những mênh mông cõi người.
LÊ VĂN TRUNG

Nhân cách của các Tướng – Tá Quân Lực Việt nam Cộng Hòa
Một chế độ có nền giáo dục tốt sẽ sản sinh những hiền tài cho quốc gia đó. Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) tuy tồn tại trên bản đồ thế giới chỉ có 20 năm, nhưng đã để lại một di sản rất lớn về nhân cách của những người phục vụ cho nền Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa. Họ là những người đã hấp thụ được một nền giáo dục tốt từ các ngôi trường đào tạo có tầm vóc nhất trong khu vực. Và nền giáo dục được định hướng Nhân Bản, Dân Tộc và Khai Phóng. Triết lý nhân bản của nền giáo dục VNCH là đặt con người vào vị trí trung tâm để định vị cho hướng đào tạo, nên đã cung cấp hàng hàng lớp lớp những con người tinh anh để phục vụ trong quân đội cũng như các cơ sở công quyền thuộc 49 tỉnh với 247 quận.
Triết lý Nhân Bản chấp nhận có sự khác biệt giữa các cá nhân nhưng không chấp nhận dùng sự khác biệt đó để đánh giá con người vì con người tự nó là một cứu cánh chớ không phải là một phương tiện, và Giáo Dục Nhân Bản (GDNB) không chấp nhận sự kỳ thị hay phân biệt giầu nghèo, địa phương, tôn giáo, chủng tộc… Với triết lý nhân bản, con người có giá trị của con người như nhau, và mọi người đều có quyền được hưởng những cơ hội đồng đều về giáo dục. Từ triết lý nhân bản đó, người lính VNCH đã biết đặt chữ Nhân trên nòng súng, đánh giặc là: “Đem Đại Nghĩa Thắng Hung Tàn / Lấy Trí Nhân Thay Cường Bạo” (Bình Ngô Đại Cáo – Nguyễn Trãi) đúng theo lời dặn của Tiền Nhân.
Đây chính là sự khác biệt của người lính miền Nam và miền Bắc. Người lính miền Nam dùng vũ khí để tự vệ, để khử bạo, khác với người lính miền Bắc lấy chủ nghĩa đặt lên nòng súng dùng bạo lực chuyên chính vô sản để trấn áp giai cấp tư sản, tiến hành xây dựng một xã hội không giai cấp (lý thuyết của chủ nghĩa Marx-Lenin).
VNCH một nước nhỏ chỉ từ vĩ tuyến 17 cho tới mũi Cà Mâu với diện tích 173.809 km², chỉ bằng 1/2 CHXHCNVN, với dân số 19,58 triệu người, một nước nhỏ bé không có “đỉnh cao trí tuệ” như CHXHCNVN, không nhiều tiến sĩ, thạc sĩ, giáo sư… Sài thành cũng không nhiều những nhân sĩ trí thức như Hà Thành… không có “bác hồ vĩ đại”, không có “đảng Cộng Sản quang vinh”….. không có những con người khát máu làm tay sai cho Nga Tàu, đem súng đạn về để phá hoại miền Nam VN và tàn sát đồng bào của mình, không có chủ thuyết Marx-Lenin để gối đầu, không bán nước cho ngoại bang như những thế hệ lãnh đạo của VNDCCH và CHXHCNVN… Nhưng trong cái nhỏ bé khiêm tốn đó của VNCH, có rất nhiều hiền tài cho miền Nam trong việc xây dựng một đất nước Tự Do – Dân Chủ với lợi tức đầu người hơn gấp 3 lần VNDCCH . Theo thống kê, vào thời điểm 1960, trong số 10 quốc gia Á Châu, Việt Nam Cộng Hòa (VNCH, South Vietnam, $223) có GDP đầu người đứng sau Tân Gia Ba ($395), Mã Lai Á ($299), Phi Luật Tân ($257), nhưng nhiều hơn Nam Hàn ($155), hơn gấp đôi Thái Lan ($101), gấp 2.4 lần Trung Quốc ($92), gấp 2.7 lần Ấn Độ ($84), và gấp 3 lần Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (North Vietnam, $73).…
Trong thời gian từ 1954 đến 1975, năm 1960 là năm VNCH có nền kinh tế huy hoàng nhất (thời của Tổng Thống Ngô Đình Diệm)
Tổng sản lượng quốc gia VNCH năm 1960 là 82 tỷ đồng VN, trong số này gồm có 4.481 tỷ đồng (5.5%) là tiền viện trợ Mỹ. Sau khi chiến tranh, mặc dù nền kinh tế VNCH bị người Cộng Sản phá hoại triệt để cho tới ngày 30.4.1975, hiền tài của miền Nam khi di tản ra ngoại quốc, đi đâu cũng được thế giới tiếp nhận và tài sản sau cùng trong ngân khố quốc gia VNCH vẫn còn tồn trữ được trên 16 tấn vàng và nhiều hiện kim trị giá hàng chục triệu US đô la để đảng cướp Ba Đình vào khiêng về Bắc, cướp vàng của VNCH xong lại xuyên tạc là Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu đem ra ngoại quốc, mức độ thô bỉ của đảng CSVN đến thế đó!
Tháng Tư Đen lại sắp trở về, hậu duệ VNCH không quên những nhân cách lớn đáng được vinh danh để những người trẻ lớn lên sau ngày 30.4.1975 biết và có cái nhìn, những phê phán đúng đắn hơn về một chế độ mà tà quyền Cộng Sản từng bóp méo, tuyên truyền dối trá đổi trắng thay đen trong nhiều thập niên qua. Những nhân vật, mà chúng tôi hậu duệ VNCH vinh danh ra đây chỉ là một số rất nhỏ trong kho tàng “Nhân Cách Lớn” của VNCH.
Bài Thơ Tháng Tư
Xướng:
Xót cảnh lưu vong mắt lệ tuôn
Hận người gây lắm nỗi tang thương
Trùng trùng tâm sự sầu xa xứ
Lớp lớp trầm tư tưởng cố hương
Xây tổ cành Nam chim Việt nhớ
Đón hơi gió Bắc ngựa Hồ buồn
Tóc xanh giờ đã thay màu bạc
Mãi vẫn vương mang kiếp đoạn trường
(Chú Bảy Tử Trận)
Họa:
Tháng Tư muôn thuở hận còn tuôn
Thế cuộc ai bày nặng tiếc thương
Quốc phá nổi trôi người biệt xứ
Gia vong phiêu bạt kẻ ly hương
Dõi Mây Tần Lĩnh liêu xiêu nhớ
Nhìn Nhạn Môn Quan khắc khoải buồn
Tự buổi lưu vong giờ tóc bạc
Hồn quê canh cánh mỗi đêm trường
(Trần Thiên Lang)
Những người đầu tiên mà chúng tôi muốn nói đến là những vị Tướng đã tuẫn tiết ngay sau khi miền nam VN thất thủ:
* Thiếu Tướng Phạm Văn Phú tự tử tại nhà vào ngày 30.04.75.
* Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư Lệnh Quân Ðoàn VI (1927-1975). Vào lúc 11 giờ 30, ngày 30.04.75, Thiếu Tướng Nam sau khi từ giã các binh sĩ đã tự kết liễu đời mình.
* Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Phó Quân Ðoàn VI (19??-1975). Tướng Hưng đã được vinh danh “Anh Hùng An Lộc” trong mùa hè đỏ lửa 1972 ở chiến trường An Lộc Bình Long. Tướng Hưng đã tự sát vào tối ngày 30.04.75 tại văn phòng riêng ở Bộ Chỉ Huy phụ của Quân Đoàn VI (đồng thời là nơi gia đình Tướng Hưng tạm cư trú), sau khi nói lời từ giã với gia đình và bắt tay từ biệt tất cả quân sĩ bảo vệ Bộ Chỉ Huy. Sau đó, ông đã quay vào văn phòng, khóa chặt cửa và tự sát bằng súng lục vào lúc 8 giờ 45 phút tối.
* Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ, Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh (1933-1975) Sau khi nhận được lệnh phải đầu hàng, Tướng Vỹ đã tự sát bằng súng lục vào lúc 11 Giờ, ngày 30.04.75 tại Tổng Hành Dinh ở Lai Khê.
* Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, Tư Lệnh Sư Ðoàn 7 Bộ Binh (1925-1975). Vào đêm ngày ngày 30.04.75, Chuẩn Tướng Hai đã tự sát tại Trung Tâm Ðồng Tâm.
* Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn (1940-1975). Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn đã anh dũng chiến đấu tới cùng và không chịu đầu hàng. Ðại Tá Cẩn đã bị quân Cộng Sản đem ra xử trước công cộng và sau đó bị xử bắn tại chỗ. Lời cuối của ông nói trước khi bị hành quyết: “Nếu tôi thắng trong cuộc chiến, tôi sẽ không kết án các anh như các anh kết án tôi. Tôi cũng không làm nhục các anh như các anh làm nhục tôi. Tôi cũng không hỏi các anh câu mà các anh hỏi tôi. Tôi chiến đấu cho tự do của người dân. Tôi có công mà không có tội. Không ai có quyền kết tội tôi. Lịch sử sẽ phê phán các anh là giặc đỏ hay tôi là ngụy. Các anh muốn giết tôi, cứ giết đi. Xin đừng bịt mắt”. Cộng Sản Việt Nam hèn hạ dùng nhục hình để xử tử hình Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn ngày 14/8/1975.
* Ðại Tá Ðặng Sĩ Vinh. Vào lúc 2 giờ ngày 30.04.75, hai tiếng đồng hồ sau khi Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng, Ðại Tá Vinh, cùng gia đình gồm vợ và bảy người con đã tự sát bằng súng lục.
* Trung Tá Cảnh Sát Nguyễn Văn Long. Trung Tá Cảnh Sát Nguyễn Văn Long tuẫn tiết sáng 30-4-75 dưới chân tượng đài Thủy Quân Lục Chiến.
Cuộc chiến ngưng tiếng súng, toàn bộ QL.VNCH tan hàng, người thì tuẫn tiết để chết theo vận nước, người thì phải vượt biên lánh nạn cộng sản, còn lại những người bị kẹt không di tản được bị CS trả thù một cách hèn hạ bằng cách đưa vào trại tập trung trá hình gọi là ”Trại Cải Tạo”. Trong số những người chấp nhận ở lại chết trên quê hương có Tổng Thống Trần Văn Hương, ông đã từ chối mọi lời mời của Pháp và Mỹ để di tản ra ngoại quốc, ông đã chọn quê hương là điểm đến sau cùng của đời một lãnh đạo VNCH, một lòng vì nước vì dân VNCH. Ông Hương là nhà lãnh đạo cao cấp nhất vào những ngày sau cùng của miền Nam VN. Tuy không bị đưa vào trại cải tạo, nhưng ông lui về sống trong căn nhà 216 đường Phan Thanh Giản, tại đây ông sống với vợ chồng người em gái út cho đến lúc qua đời vào ngày 27 tháng 1, 1982 (nhằm ngày Mồng Ba Tết), hưởng thọ 80 tuổi, hài cốt được hỏa thiêu. Ông đã không chấp nhận việc Cộng Sản trả quyền công dân cho ông và ông giữ nguyên quốc tịch VNCH cho đến khi nhắm mắt. Ông nói với người Cộng Sản như sau: “Chừng nào những người tập trung ‘cải tạo’ được về hết, chừng nào họ nhận được đầy đủ quyền công dân, chừng đó tôi sẽ là người cuối cùng, sau họ, nhận quyền công dân cho cá nhân tôi!”. Tiết tháo của cụ Trần Văn Hương đã cao ngất ngưởng là tấm gương sáng cho các hậu duệ VNCH noi theo.
Thức Tỉnh
Tháng Tư năm đó đã qua
Nỗi đau uất hận, và là mất quê
Tháng Tư đi… mãi không về
Bao người nằm xuống… ”lời thề nước non”
Kính dâng tâm nguyện nước Trời
Đón đưa hết thảy Hồn Người Lính, Dân
Yên lòng ngơi nghỉ…. Thiên thần
Phù trợ hồn Việt chinh thân vững bền….
Tháng Tư sử sách làm nền
Sẽ noi gương sáng Tiền Nhân hậu đời
Tháng Tư nay phải tiếp lời
Tiền Nhân giữ nước “hậu đời” giữ Quê
Thức tỉnh, chớ có u mê
Quê ta, ta giữ chẳng nề gian lao
Xiết chặt tay giữ chiến bào
Một lòng vì Nước lẽ nào không nên….
Tháng Tư thắp nén nhang lòng
Quân Dân Cán Chính ngủ say ngàn đời.
(T/g Nguyễn Văn Được)
Chúng tôi, những người trẻ trong mùa tưởng nhớ về vận đen của đất nước VNCH sắp đến (30.4.1975 -30/4/2018) xin thành kính dâng lên hương hồn Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu, Trần Văn Hương và quân, cán, chính VNCH các cấp đã nằm xuống trong việc bảo vệ miền Nam trước sự phá hoại của Cộng Sản Bắc Việt. Những nén hương lòng của chúng tôi để kính nhớ và vinh danh công trạng của tất cả những người đã tuẫn quốc vì sự tự do của miền Nam trước 30/4/1975.
Lý Bích Thủy

BÀI CHO THÁNG TƯ
Tháng tư vọng mãi mùa hoa
Cõi riêng vọng tiếng người xa vỡ hồn
Em như vời vợi ngọn nguồn
Thời gian vẽ bóng nỗi buồn tháng năm
Tháng tư em cõi xa xăm
Trong ngần mắt biếc đã rằm trăng xưa
Tình ơi đong những thiếu thừa
Đêm lòng như gõ nhịp đưa người về
Tháng tư em vịn cơn mê
Hoa bay trong nắng đề huề lòng nhau
Từ ly một bước đời đau
Yêu thương từ độ nhạt màu áo xưa.
CHƯA PHAI LÒNG HUẾ
( tặng những người bạn Huế)
O nớ lang thang Thành Nội
Gió về ăm ắp mùi hương
Nghiêng vai về qua nguồn cội
Tóc chiều bỗng chợt thương thương
Vọng ngân câu hò mái đẩy
Mười thương tóc Huế ngang vai
Thuyền trôi dòng Hương lơ lửng
Em qua bên nớ lòng phai
Ta về trong lòng như mới
Ấm tình quê khúc ca dao
Thì thầm giao duyên mở lối
Hương đêm mắt biếc dạt dào
Mưa bay phố buồn vời vợi
Xa chừng mấy dặm sơn khê
Áo xưa những ngày rất Huế
Ta về níu lại cơn mê.
HOÀNG CHẨM