THƯƠNG NHỚ NGƯỜI …CẦM ROI !

Gửi Đỗ Hồng Ngọc

Anh Ngọc à, nếu “nghĩ từ trái tim” như anh thường nói, tôi thấy mình không thể nào thương nhớ nổi đòn roi được, mà phải là thương nhớ người cầm roi, tức là thương cha thương mẹ và thương thầy, những người dạy ta trước khi vào đời. Cũng có nghĩa rằng thương cái cách cho roi cho vọt của họ, nói chữ là cách giáo dục.

Mặc dù “làng tôi không xa kinh kỳ sáng chói”, nhưng vẫn là một làng quê nghèo. Cha mẹ tôi và cả thầy giáo vỡ lòng của tôi, cũng là nông dân từ đầu đến chân và từ suy nghĩ đến hành động. Cho nên cách dạy con của họ phải nói là không được văn minh, nếu không muốn nói là thô bạo, tức là theo cách “thương thì cho roi cho vọt”.

Như bao đứa trẻ khác, tôi cũng thường bị ăn đòn!

Người để lại dấu ấn sâu sắc nhất chính là cha tôi. Ông ấy hơn tôi chỉ đúng 18 tuổi, nhưng tôi tưởng hơn cả ngàn và sợ ông như sợ các bạo chúa Trung Hoa! Vừa gia trưởng, vừa độc đoán, chẳng riêng gì tôi mà cả ông nội bà nội và mẹ tôi đều sợ.

Ngọn roi đầu đời mà tôi được nếm cay xè là thế này. Hôm ấy, cách đây đúng 75 năm, sau khi chạy đi xem ông hàng xóm đánh con gái, tôi về khoe: “cha ơi, ông Ánh ổng ánh con Ánh”, trong bụng tự cho là mình ngon hơn con nhỏ nọ. Cha tôi liền bảo, bẻ cái roi đem vào đây! Tôi nghĩ bụng (chứ không nghĩ từ trái tim) chắc là để đánh thêm con nhỏ đó cho nó chừa, nên tôi ra bụi trảy đầu hè bẻ một nhánh trảy thật dài, thường gọi là roi mót, đánh rất đau. Nào ngờ ông bảo nằm lên phản, nhịp nhịp đầu roi trên hai cái mông. Ông  lớn tiếng:

”nói lại coi, ông Ánh làm gì”?

“Dạ, ổng ánh con ánh!”

“ Trật rồi, ông Ánh đánh con Ánh, nói đi”

Ba lần đều sai cả ba. Cứ mỗi lần nói sai là “ăn” một ngọn roi đau buốt tận óc.

Đánh đủ 3, ông cất roi, bảo: “cho 3 ngày, còn nói sai, đánh đủ 10 roi”.

Lệnh ban ra còn hơn cả lệnh vua, vì không chỉ riêng tôi mà cả nhà đều “ánh ánh…đánh đánh”!

Từ đó tôi không còn nói đớt nữa. Và rất “may” cho tôi, là ông mang roi theo sau một trận thương hàn, mặc dù càng lớn tôi càng mắc nhiều lỗi!

Dĩ nhiên, hồi đó tôi không “thương” ông được. Nghĩ từ cái bụng cho nên tôi không khóc khi ông mất. Nhưng khi bước vào đời, tôi thấy rất cần có ông. Những vấp ngã, những lầm lỡ, rất cần cánh tay vững chải và khối óc sáng suốt của cha hơn là những giọt nước mắt của mẹ.

Và, lúc chớm già, phải chi có một ông “bạn” già hơn mình đúng một giáp rưỡi, mời nhau một điếu thuốc, một ly rượu hay “khà” một tiếng sau khi cạn một cốc bia! Ấm áp xiết bao, dịu ngọt xiết bao!

Còn mẹ tôi, bà không chỉ cho ăn cơm nhai từ cái miệng răng đen mà còn cho “ăn” đòn từ đôi tay đầy chai sạn của bà.

Chuyện là thế này. Tôi đã bớt tiền mua nước mắm để mua kẹo, và tôi được ăn thêm trận đòn nhớ đời.

Không đánh bằng roi mót mà bằng tàu cau. Không nằm phơi mông trên phản mà nằm úp mặt trên sân đất trước nhà. Mẹ tôi như một bà nữ quan, ông tôi và bà tôi như sai nha. Ông thì đè đầu, bà đè chân (sợ phạm nhân vùng dậy chạy trốn). Tôi bị đánh 3 roi, không đau như roi mót, nhưng caí bản tin mà bà ghi trên vách khiến tôi khá đau. Ấy là, để tôi nhớ và chừa, bà lấy than viết trên vách: “thằn Sơn ăng cắp”.* Vì bà mới tốt nghiệp bình dân học vụ nên chỉ có 4 chữ mà đến 2 lỗi chính tả, còn chữ thì như gà bới.

Cũng may là nhà bị đốt cháy, cái bức vách ghi tội lỗi ấy cũng không còn nên tôi đỡ phải xấu hổ với con vợ vừa mới cưới sau này!

Thầy giáo vỡ lòng của tôi, ngoài việc sai những đứa lớn đi bắt tụi trốn học đem về trường, đánh đến quắn đít, còn bắt quỳ xơ mít và bắt đứng ngửa người ra sau vì cái tôi viết chữ đứng không thẳng.

Nói cho cùng, những người cầm roi ấy, quả thật rất thô bạo, nói theo kiểu Âu Mỹ là làm mất nhân cách, tổn hại tinh thần, sẽ bị tòa kêu án ít ra cũng mấy tháng tù treo.

Nhưng nghĩ từ trái tim như anh, tôi thấy họ cũng chỉ đánh bằng trái tim, cho nên, dù vụng về, dù không giống ai, về già mình chỉ thấy thương chứ không hề oán ghét. Còn nên hay hư chủ yếu là do xã hội và nhà trường. Với một thế giới đầy những Putin, Kim jung Un, Tập Cận Bình, Trump. Duterte, Cờ lờ mờ…thì bọn trẻ trước sau gì cũng sẽ trở thành những Hồng vệ binh, vậy thôi!

Nói chơi cho vui, chứ không dám cãi anh đâu!

Gửi anh lời chúc mừng đã đạt ngưỡng “đỉnh cao” Tám Mươi năm cuộc đời!

Khuất Đẩu

22/7/2020

*Vợ anh bạn tôi vừa mới mất, ghi lên bảng mắng con như thế này: “Hãy giết tôi bằng gươm bằng giáo/Xin đừng giết tôi bằng những lời hỗn láo”!

CÀNG GIÀ CÀNG NHỚ MẸ!

Mẹ ơi!
Khi viết những dòng chữ hư ảo này gửi vào thinh không, con đã tám mươi tuổi rồi và xa mẹ đã ba mươi năm hơn.
Ba mươi năm mất mẹ, dù đã lớn, con vẫn là một kẻ mồ côi.

Mồ côi tội lắm ai ơi
Đói cơm khát nước ai người chăm lo!

Cho dù không đói cơm khát nước, nhưng con thèm xiết bao được nghe hai tiếng con ơi từ miệng mẹ gọi
Con ơi, ăn miếng bánh mẹ mới mua nè!
Con ơi, mặc thử cái áo mẹ mới may nè!
Con ơi!
Con ơi!
Ba mươi năm rồi, con chỉ nghe cha ơi, ông ơi, chứ không còn nghe con ơi nữa, buồn biêt mấy!

Chẳng những thèm được nghe mẹ gọi mà con còn thèm được mẹ hôn, cho dù lúc nhỏ con thường tìm cách tránh né vì răng mẹ đen, miệng mẹ đỏ vì ăn trầu.

Cũng cái miệng ấy mẹ đã nhai và mớm cơm cho con, miếng cơm đầu đời dù có màu hồng vẫn cay cay và bị chê là mất vệ sinh, giờ con nhận ra rằng đó là mùi vị ngọt bùi và cay đắng của cuộc đời, mẹ đã tập cho con nếm trước để mai sau bước vào đời không bất ngờ và tuyệt vọng.

Đến tuổi đi học, mẹ  vào giường lay con dậy, rửa mặt, thay áo mới dẫn con đi tới trường. Nhà mình nghèo, cả mẹ và con đều đi chân không, mẹ thường nhấc bổng con lên qua những chỗ đầy bùn và phân trâu bò trên đường làng, khi tới lớp chân con vẫn trắng trẻo sạch sẽ, chân mẹ thì bùn đất lấm lem, đến nỗi mẹ xấu hổ không dám nhìn thẳng vào mặt thầy giáo.

Khi con cảm sốt, mẹ ra vườn hái đủ thứ lá nấu nước xông, sợ rằng con có thể ngã mẹ đã ngồi ôm con vào lòng cùng xông cho đến khi mình mẩy con và mẹ ướt dầm. Rồi cháo hành cho mau hạ sốt, rồi mật ong và cháo nếp cho mau lại sức…và nhiều thứ khác nữa ngay cả khi con đã lớn sồ sinh con đẻ cháu cho mẹ.

Mẹ là như vậy, là miếng cơm nhai cho con dễ nuốt, là chiếc chiếu khô cho con nằm ấm áp, là chỗ đất sạch cho con đặt chân lên, là nồi lá xông thơm lừng cho con khỏi bệnh, là chén mật ong vàng óng cho con tẩm bổ.

Me giản dị như thế, quê mùa như thế, nhưng mẹ là mẹ của con. Mẹ rất tầm thường nhưng với con thì thật phi thường.

Vậy nên. Mẹ ơi, càng già con càng thương mẹ và nhớ mẹ xiết bao!

Khuất Đẩu

Tháng sáu trời không mưa, 2020

NỔI CHÌM DÂU BIỂN MỘT CÂU THƠ

Em tiếc thương chi mà câu hát
Vàng cả đêm tôi tiếng thở dài
Em tiếc thương chi mà xa hút
Còn về gọi mãi những phôi phai

Tình không níu được tình như mây
Xa rồi tay nhớ quá bàn tay
Từng ngón đan buồn trăm nỗi nhớ
Từng ngón thơ xưa cũng úa gầy

Em hát về ai lời dỡ dang
Em gửi về đâu mộng héo tàn
Mà nghe tiếng hát như dòng lệ
Chảy mãi vào trong những vỡ tan

Em gửi về đâu mà tiếng hát
Như lời hoài vọng giấc mơ xưa
Sông chảy về đâu mà xa hút
Nổi chìm dâu biển một câu thơ.

                         

 PHƯỢNG HỒNG


Lòng đã xuân chưa mà hạ thắm
Em về áo đỏ phượng hồng môi
Con ve nào trốn trong lời gió
Gửi khúc tình vui vạn nẻo đời

Nắng đan lụa mỏng lùa trong tóc
Tóc nhớ thương ai mà rối bời
Để nghìn giọt nắng bay theo gió
Giọt nắng nào vương trong mắt ai

Mùa chớm sen hồng
Em chớm nguyệt
Tình chớm quỳnh hương
Em chớm rằm
Con chim nào múa trên cành phượng
Lá chớp hàng mi mắt lá răm

Lòng đã hồng chưa mà nụ thắm
Như môi tình nở buổi xuân thì
Em về áo nhuộm thơ mùa phượng
Áo người hay lụa chảy trong mây.

QUÊ NHÀ


Đi và đứng như một loài thú lạ
Ta trở về tìm lại quán quê xưa
Thuở trời đất và linh hồn hoang dã
Rừng núi mong ta, khe suối đợi chờ

Bay và lượn như con chim con bướm
Ta trở về nghe tiếng gọi rừng thiêng
Thuở Trời Đất mang tên là Ánh Sáng
Rọi soi về trăm Nẻo Hạnh Vô Biên

Ca và hát như con giun con dế
Ta trở về nghe mặt đất hồi sinh
Ôi hạnh phúc đã xanh từ giọt lệ
Ta nẩy mầm trong tận trái tim em

Triệu triệu năm như một loài thú lạ
Ta trở về tìm lại bóng ta xưa
Ta tìm lại một Bí Huyền Vô Ngã
Trong vô biên vời vợi cả trời Thơ.

  

QUÊN ĐI

Ta rót ta vào trong cốc rượu
Thấy đời nghiêng ngã cuộc tình em
Ta rót hồn ta buồn lệ ứa
Ai rót vào lòng em nhớ quên?

Đập vỡ ly không rượu vỡ tràn
Đập vỡ sầu xưa sầu chưa tan
Ta nghiêng bầu rượu, lòng chưa cạn
Ta nghiêng tình vơi, tình chưa vàng

Sao đành bỏ ta, này rắn dữ
Ta ăn trái- cấm- tình thương đau
Sao đành bỏ ta, thần cám dỗ
Sao không cùng ta cạn cuộc sầu

Ta rót ta tràn ly ngàn năm
Ta rót đời ta buồn căm căm
Hỡi ta rượu chảy tàn cơn mộng
Ta rót về đâu giọt lệ bầm?

Sao đành bỏ đi? Sao đành quên
Sao đành quên hết cuộc tình duyên
Ôi rượu đời ta như lửa cháy
Ta rót về đâu? Em! Hỡi em?

                       

VẪN CÒN THĂM THẲM TỪNG GIỌT SƯƠNG

Tôi vẫn biết vòng tay mình bé nhỏ
Triệu vòng ôm không ấm cuộc tình người
Nỗi chia biệt chảy trăm dòng dang dở
Mùa tình xưa vàng úa lá thu phai

Tôi vẫn biết trái tim mòn mỏi nhịp
Mãi dội vào bờ bải bến hoang vu
Năm mươi năm cửa hoàng hôn đã khép
Tình hoàng hôn từ đấy cũng xa mù

Tôi vẫn biết men rượu chiều đã nhạt
Em không về tôi rót cạn đời tôi
Tôi rót mãi vào trùng trùng quên lãng
Máu trong tim từng giọt chảy ngậm ngùi

Ôi dẫu biết một ngàn năm ảo mộng
Mà ngàn năm còn vọng mãi phương người
Mắt mù sương hay mùa sương quá mỏng
Đã tan vào thăm thẳm giấc mơ tôi.

                              Lê Văn Trung

Từ Hôm Nay

Con chim sẻ
tập bay,
Biết đường nào
là lối.
Bão tình cờ
qua đây.
Mưa,
như
từng sám hối.

Con chim sẻ
tập bay,
Ngậm
chùm-hoa-lời-nói.
Trời rộng
hay là dài,
Mà cánh
không thể mỏi?

Sẫm chiều
buông
mái ngói.
Ngày đi,
sương sớm bày.
Chim cúi nhìn
lần cuối,
Rồi đi,
từ Hôm Nay!

TRÂN SA

BIỆT

Ta đi có lẽ không về nữa
Về làm chi quê quán mịt mùng
Mẹ cha chắc đã tan thành đất
Đất ở đâu cũng lạnh vô cùng

Đất ở đâu cũng màu luân lạc
Và nỗi buồn trải quạnh như sương
Ta đi có lẽ không về nữa
Về làm chi bến mịt sông mù

Em giờ chắc đã thành góa phụ
Xương trắng cồn hoang đêm chó tru
Hồn ai xiêu lạc đền rêu cũ
Cũng đành nén lệ khóc thiên thu

Ta đi là biệt đời nhau nhé
Em có lên ngàn ngóng bốn phương
Đã biết trăm năm tình hóa đá
Thì mong chi giọt lệ tương phùng

Đã biết ta trăm đường muôn ngả
Không chốn nào là chốn dung thân
Thôi cứ xem như ta chẳng về
Xem như đời chỉ tạm ngang qua

Thân là hạt bụi bay trong gió
Đậu xuống trần gian như giấc mơ
Đậu xuống lòng em như điềm gỡ
Nỗi đau truyền kiếp tự bao giờ


Thôi xem như chưa hề có nhau
Hai ta là hai cõi chiêm bao
Em và ta là hai chiếc
Chiếc rơi triền thấp chiếc đồi cao

Giông bão thổi tung ngàn số phận
Lạc nhau từ giấc mộng ban đầu
Về làm chi thôi về làm chi
Thà cứ như người không bản quán
Không họ hàng không cả tông chi
Đời ở đâu cũng đời nhiểu loạn
Ta ở đâu nào có hơn gì

Người ở đâu cũng người xa lạ
Thôi về chi rào chắn giậu che
Thôi về làm chi đừng hỏi nữa
Gươm cuồng tay mỏi chí tàn suy


Đốt đuốc mà soi lòng nhân thế
Đất trời là một khối vô tri
Qua bao vong diệt cùng dâu bể
Trái tim người là nấm mộ đây
Đôi mắt đã mù khô cả lệ
Thì rót làm sao chén rượu đầy


Về làm chi về làm chi hỡi
Ngươi phương mù áo rách tang thương
Ta nghe ngươi hát lời vinh Thánh
Mà buồn hơn khúc hát đoạn trường


Ta thấy ngươi ngồi ôm tượng Chúa
Mà như ôm cả thế gian buồn
Thôi về làm chi về làm chi
Ngươi và ta hai kẻ sau cùng


Cứ đi cho hết vòng luân chuyển
Mà ngắm nhân gian đã loạn cuồng
Trái tim người chứa toàn sâu bọ
Rắn rít trườn lên cuôn chặt hồn


Ta đi có lẽ không về nữa
Gặp ngươi nơi góc biển chân trời
Tình như phù vân không hò hẹn
Lòng như sương khói chẳng buồn vui


Ta chỉ thương ngươi còn vọng tưởng
Một trần gian quá đổi ngậm ngùi
Ta chỉ thương ta còn ngất ngưỡng
Đi- về hai nẻo vẫn chưa nguôi.


Lê Văn Trung

Lời tựa cho tập thơ MÂY BAY QUA TRỜI XƯA( Nguyễn thị Hoàng)

Nói với…
Thơ là tiếng im thoát ra từ niềm đau, như giọt máu ứa từ vết thương lặng lẽ. Là tiếng vọng thiết tha của yêu thương, bâng khuâng của tưởng tiếc những vẻ đẹp, nguồn vui đã đến rồi đi mất hút suốt đời. Đôi khi cũng là tiếng gào la thống hận, hay tiếng vang lừng ca ngợi hân hoan. Là tiếp điểm của cảm ứng giữa con người và thiên nhiên, mối nối êm đềm giữa nội tâm cùng ngoại giới. Là nguồn xúc động ngắn ngủi hay dài lâu của chủ thể và tha nhân, khi tình cờ bắt gặp hay tìm kiếm được đáp số trên hành trình thao thức chờ mong.
Nên, thơ là nguồn xúc động, phản chấn bên trong từ một hiện tượng, sự kiện, tình thế bên ngoài, hoặc một bất ngờ hiện tại vang dội từ đáy thẳm hồi ức và hoài niệm. Cuộc bốc thoát và trôi lướt hồn nhiên của ý trên dòng êm vô thức ấy, dẫu lặng mà không tịnh vì huyên náo âm vang khắp thần trí và tâm can người cảm niệm.
Krishnamurti nói chỉ trong định tĩnh mới phát sinh hiện thể sáng tạo. Ngược lại, với thơ không thể nào định tĩnh được. Cũng không một hiện thể nào. Lại càng không có bất cứ sáng tạo nào. Vì, thơ không nhờ làm ra mà có.
Người ta vẫn nói làm thơ. Chỉ có thể làm bàn ghế, cá thịt, nhưng không thể
làm ra thơ, trừ một số trường hợp thơ bị biến dạng dưới những chủ đề được đặt định sẵn do tình thế bắt buộc, như thời xưa là thi cử, thời nay là nhóm họp, tuyên dương… thành vịnh, thành vè… dù vẫn khoác sắc màu và vần điệu của thơ. Với thơ, có thể có và cũng có thể không một hiện thể. Vì sự cảm nhận đôi khi từ vô hình vô ảnh, những thấp thoáng âm vang thành cuộc hòa âm triền miên trong cõi tâm tình.
Nếu tiểu thuyết giới hạn trong mô hình của chủ đề thì thơ mông lung vô tận
như mây trời, vì là cuộc vỡ tràn của uẩn thức nương theo vay mượn ngôn từ của ý thức bốc thoát ra cõi hữu hình xa lạ và đôi khi đối nghịch. Vì thế thơ phải hoàn toàn được tự do về ý tứ diễn tả, trừ những thể loại tất yếu chìu theo âm luật của thơ. Và cũng không thể uốn ép thơ như tóc đàn bà theo kiểu mẫu của người nhìn ngắm. Cũng đừng thắc mắc dò hỏi từ đâu và tại sao. Vì, nó như thế là như thế.
Vấn đề là cảm hay không cảm. Có thể cảm mà không nhận. Có thể cảm và nhận thì cảm nhận ấy sắc phong thơ thành hòa điệu vô thanh của những tâm hồn cách trở mà vẫn có thể cùng nhau.
Liên quan, ngoài làm thơ còn chuyện nhà thơ. Những tên tuổi lớn trùm phủ
văn học Pháp thế kỷ 19 như Lamartine lãng mạn và thanh thoát, Alfred de Vigny dữ dội và nồng nàn, nặng nề và trầm trọng như Beaudelaire… đích thực là những nhà thơ… Và sau đó là Gérard de Nerval, John Keats… những mái nhà thơ trên không gian và thời gian thế giới xưa kia bây giờ và mãi mãi.
Ở ta, một thế giới thơ tôn nghiêm quý giá như Nguyễn Du với Truyện Kiều, hay thiết tha thâm trầm tài hoa như Đoàn Thị Điểm với Chinh Phụ Ngâm không ai gọi là nhà thơ, chỉ cụ và bà. Trong những tác phẩm ấy, từng khúc đoạn, từng câu từng chữ, diễn tả là của một nhà thơ bậc nhất.
Thời nay, chỉ vài ba tập in mỏng manh, có khi chỉ một ít bài rải rác đó đây, vẫn được hay bị gọi là nhà thơ. Vì sao? Ai hiểu biết và quý yêu thơ, có thể cũng công nhận một điều. Bản chất của thơ không cần dấu huyền. Nhưng cũng đừng ném cho thơ dấu nặng. Bởi vì thơ chỉ là dấu hỏi. Là thở. Là hơi thở, thở ra, thở dài hay thở than. Chỉ để gởi trao từ cõi trong ra ngoài niềm xúc động chứa chan, nỗi trầm uất nghẹn ngào, niềm hân hoan thoát khỏi nguồn cơn không nói được bằng lời lẽ thông thường với trần gian thế tục…
Lời giải trình mong được hiểu, những trang muộn màng này, Mây bay qua trời xưa là gì và tại sao.
… Từ lớp nhất (lớp 5 bây giờ) trường Đoàn Thị Điểm, Huế, những bài thơ rỉ rả đầu tiên, không vì đâu vì sao viết vào trang vở xé, nhét xuống hộc bàn, bỏ quên đâu đó, rồi những bài được gọi là thơ khởi nguồn từ lớp đệ ngũ (lớp 7) Đồng Khánh, bạn bè và cô giáo bắt gặp chuyền nhau đọc, in lên bích báo trường, chép lén chia nhau… Người viết ra không có và cũng chẳng nhớ bài nào. Chỉ một câu trong Tình vật lý cô giáo khen ngợi ngâm nga “ai bình phương cường độ của lòng đau”, toàn những chữ của bài đã học. Mười bốn tuổi chưa có lòng thì lấy gì đau, thật là… láo toét. Cũng có thể là dự báo thời tiết cho cuộc đời bất ổn mai sau. Cùng thời là bài Chi lạ rứa. Bạn bên cạnh chép, rồi truyền đi, lớp này, lớp khác. Người viết lại không có và không nhớ, trừ một vài câu nghe mãi xung quanh “chi lạ rứa chiều ni tui muốn khóc. Ngó chi tui đồ cỏ mọn hoa hèn”. Nói cho văn vẻ thôi, không là cỏ mọn, hoa hèn gì đâu. Thơ biến mất nhưng nguyên nhân thì còn lại.
Ngồi tựa gốc cây phượng sân trường giờ chơi nhìn ra lối vào bên kia bãi cỏ, người đi vào lững thững đứng lại nghiêng đầu nhìn không đăm đăm nhưng lâu hơn một thoáng, mỉm cười… Có vậy thôi mà “chi lạ rứa bên ni bờ tui khóc”.
… Cho đến khoảng 1960, nhóm Bách Khoa của Lê Ngộ Châu, tình cờ mà cơ
duyên, tìm được và tóm gọn những bài thơ đầu tiên trong mấy tập thơ viết tay bị lấy mất. 1964 là chuyển đoạn qua cuộc trường kỳ kháng chiến phu thê, thơ biến mất nhường lời cho tiểu thuyết (Nguyễn Hiến Lê gọi Nguyễn Thị Hoàng là tiểu thuyết gia, mấy người khác còn gọi là văn hào, đại văn hào, thật hay đùa không cần biết nhưng vẫn được trả lời vui vẻ, đúng rồi, thêm giùm chữ g, là văng đại xuống hào).
Những năm 70, rồi 80, 90, thơ sống lại từ những nguồn cơn và tâm cảnh khác, thoi thóp và bất thường như hơi thở khi triền miên khi đứt nối chập chờn. Thật ra, từ 90, thơ theo dòng những biến chuyển khác, cuộc đời và cảm nghĩ, dần dần ra khỏi những ác mộng triền miên, thấy biết mà chưa thể lên đường phương hướng mới.
Vì, khi vui thì ngộ nghĩnh:
trong quán cà phê
có một người ngồi
nhìn qua phía tôi
trong tôi
có một quán cà phê
nhìn về phía khác
Khi buồn thì thương thân:
vầng lá xanh ngoài kia của ai
cây tôi diệp lục tố khô rồi
có người bỏ vắng đời như ngõ
từng bước đi về cõi nhạt phai

Dấu vết trên đường đi của một con người qua số mệnh, mỗi một có vẻ như
chính là nhưng chẳng phải. Như mỗi hạt ngọc hay đá không là xâu chuỗi, mà phải liên kết bằng sợi dây ẩn khuất bên trong mới biết được là gì. Từ những than van rên rĩ vì những biến cố tội phúc đầu tiên, đến lời câm trách oán về lối rẽ bất ngờ từ nợ duyên tiền kiếp, giây phút hồi sinh xao xuyến vì vẻ đẹp tương giao thoáng qua thân ái xa vời, trở về ngõ đời phận sự tắt tiếng im hơi. Một thời dài chìm đắm viết để sống mà không bao giờ được sống để viết.
Rồi đêm mưa khởi đầu cơn ác mộng triền miên. Thơ trở về nỉ non, tha thiết,
đắm đuối, mơ say… Toàn thể tâm thức và tình thế của một thứ người nín sống từ lâu tỉnh dậy. Chỉ là tỉnh dậy trong chiêm bao để nương tựa và phóng hóa tương đối thành tuyệt đối, để tìm lại mình, để níu lại đời. Cho đến khi đêm dài dứt nẻo, ngày trở về nguyên sơ thể tính bình minh.
Qua những khúc đời lưu chuyển ấy, thơ đến rồi đi, không giữ gìn không ước
hẹn. Đến, từ một xúc động bất chợt mong manh vẻ thoáng hiện sáng ngời của bóng dáng, sợi nắng, giọt mưa, cơn gió, bông hoa, bờ rêu, vệt cỏ … Trên tất cả thường là một hình tượng mơ hồ ảo giác không bao giờ có thật trên đời, hoặc có thì cũng chỉ là lầm tưởng. Những lúc ấy thơ như con dã tràng trên bãi cát, chụp bắt nhanh hoặc biến mất vào những lỗ sóng xoi mòn. Nên vớ phải bất cứ thứ bút gì, mảnh giấy vụn nào, tờ lịch xé, mẩu hóa đơn… ghi nhanh có khi trong đêm chưa kịp bật sáng đèn, ngoài đường đi, trên xe tàu, bãi bờ, bất cứ lúc nào và bất cứ nơi đâu, hứng đón lấy khi nó ứa ra, như giọt máu từ vết thương, nước mắt khi hoài niệm, mồ hôi thời bửa củi trên rừng… Chỉ cần thở ra được hơi thở lửa nén vào lúc ấy. Sau đó, những mảnh rời vất bỏ, mất mát, lẫn lộn vào đâu trong mớ bản thảo cùng chôn vùi rách nát mấy mươi năm.
Cho nên, những trang sau, dù tuần tự xếp hàng theo dòng thời gian từ ấy đến bây giờ, sáu mươi đến sắp sửa hai mươi, vẫn chỉ là chứng tích tan tành của những khúc đoạn thác ghềnh trôi chảy không êm đềm của vượt thoát. Chỉ là những mảnh gương vỡ tan tành chẳng đủ soi thấy gì dưới kính hiển vi đã mờ đục của trần gian.
Chỉ là, dừng lại cuộc chạy – chạy mà không đua – suốt một cuộc đời không
được giống bất cứ đời nào khác, thử nhìn lại giấc chiêm bao vừa ngắn ngủi vừa lê thê qua những trang thơ vô chủ như tờ rơi suốt dọc đường đời. Vô chủ vì thơ đúng nghĩa là tác phẩm văn học thường có chủ đề hay chủ trương, riêng Mây bay qua trời xưa thì rõ là hoàn toàn… vô chủ.
Dù sao, vẫn mang ơn những cơn đau trong ác mộng đã chuyển thành thơ và
những thương tích từ thực tại đã chuyển Tình qua Đạo.
Trên cao, mây bay đi, trời vắng, nhưng rồi mây khác đến, nhờ thế mà trời còn.
Dưới đời, mây đã bay đi, không mây khác đến, hoặc nếu có cũng trượt khỏi Miền Không Tịch Tịnh. Để chỉ còn lại Tĩnh Lặng. Hoàn toàn tĩnh lặng sau những ngàn năm gió bão tơi bời. Đôi mắt của Tĩnh Lặng ấy có thể nhìn xuyên suốt (không phải xuyên thấu của thời trang!) nội tâm và ngoại giới bất chấp mọi đòn roi thực tại mãi hoài tiếp tục những bất công và bất thông quất ngược vào chút hình hài mong manh khách trọ trần gian.
Không bến bờ nào khác, không cõi giới nào khác, Tĩnh Lặng ấy, sau qua đi và đi qua tất cả, chính là Nơi Đến của Trời Mây.


( Nguồn Nguyễn Trường Trung Huy)


Nguyễn Thị Hoàng
Saigon 2019


BẮN CHẬM THÌ CHẾT

Tom nghe tiếng chuông nhà thờ thong thả đổ. Tuỳ ngày giờ, tuỳ lễ lạc mà nóc giáo đường bằng đá trắng kia phát tiếng ngân nga. Cũng có khi tiếng lãnh lót ấy gióng lên liên hồi nhằm thông báo, cảnh giác về nỗi an nguy của thị trấn khi dưới thung lũng có đoàn kỵ mã nhốn nháo thúc ngựa khuấy bụi mù trời.
Ngựa của Tom thuộc giống quý, thuần chủng, có thể băng qua sa mạc suốt ngày mà không biểu lộ sự mệt mỏi, muốn quỵ vó. Tuy nhiên không phải vì ưu điểm nọ mà Tom mãi “bóc lột sức lao động”. Đây là lúc nên cho ngựa vào thị trấn nghỉ ngơi, cởi bỏ yên cương, ăn uống và tắm táp. Cá nhân Tom cũng thế, trên lầu quán rượu đằng kia nghe đồn có tiểu đội chân dài nguyện thư giãn tới bến với khách lãng tử người ám bụi trần thân hôi như cú. Tom cho ngựa đi thủng thẳng vào, bên vệ đường những tên người Mễ mặc poncho nón rộng vành chụp kín mặt ngủ vật vạ bất kể ruồi bu kiến đậu. Tiếng búa đóng đinh của gia đình lão Lee người Tàu chuyên nghề làm hòm cứ đều đặn, uể oải tạo khúc nhạc đơn điệu, nhát gừng. Tuy vậy, qua chuỗi tiếng động khô khan ấy, người nghe sẽ hiểu rằng độ rày số người chết có gia tăng. Một mai, chẳng còn nghe ra âm thanh cộc cằn nọ, lão Lee thất nghiệp và điều đó luôn là nỗi ước mơ của chúng sinh. Éo le nằm giữa đời này là bằng đủ mọi cách hòng vươn ra, với tới, ước mơ vẫn luôn nằm ngoài vòng tay. Mơ ước biến thành củ cà-rốt treo trước mũi con lừa, nỗi khát khao đong đưa theo vòng tròn khép kín. Thứ mà nhà Phật gọi tóm gọn “đời là bề khổ”.
Bin từ văn phòng hành chánh quận xô cửa bước vội ra khi vừa nhát thấy bóng Tom. Với tư cách một cảnh sát trưởng yêu cầu bạn trao vũ khí cho tôi tạm cất giữ. Luật liên bang vừa loan truyền xuống và mọi quận hạt đều vui vẻ chấp hành. Tom ngó vào ngực trái Bin, nơi có gắn ngôi sao đồng khắc chữ Sheriff bắt ánh sáng, nhếch môi: Nhảm nhí, hoang tưởng! Muốn xua đuổi ta đi? Cởi tháo súng ra? Vợ chú có rời đi tư tình với thằng khác lần nào chưa? Mặt Bin thoáng thay đổi, nhưng vội kềm chế không để Tom nhìn thấy. Được đôn lên chức coi ngó an ninh cho thị trấn, Bin biết thành tích của Tom. Hắn có biệt tài biết điều khiển đường đạn đi. Ngay trán, ngay tim hoặc nếu muốn, với chỉ một viện hắn có thể làm rơi rụng ngón tay trỏ của kẻ đứng cách hắn 10 thước. Dân chuyên vọc súng mà rụng đi ngón chuyên bóp cò thì chết sướng hơn. Bin biết thêm chuyện đáng biết, hiện nay chưa có ai rút súng nhanh bằng Tom. Dĩ nhiên một kẻ tài ba như vậy sẽ có khối đứa ghét, mang tâm thù hằn. Bin thậm ghét nhưng chưa mất khôn, Bin lôi trong ngực áo ra vuông giấy lớn gấp làm tám, là tờ cáo thị in khuôn mặt Billy, chết hoặc bắt sống đều nhận được tiền thưởng là 500.000 đô. Số tiền lớn có thể mua được nguyên cái thị trấn đèo heo hút gió này. Bin giả bộ tâng bốc: Tom ạ, với tài nghệ anh dư sức khử được tên ác ôn khát máu này, anh sẽ thế thiên hành đạo và khi đó toàn bộ miền viễn tây sẽ xem anh như một ông vua. Tom vuốt mặt, vậy thì sao, ta muốn vào Saloon uống vài cốc rượu có trở ngại gì không? Được, tôi sẽ đi cùng, tôi sẽ mời rượu anh, chẳng mấy khi thị trấn này có anh ghé thăm… Bin biết thực lực thằng Billy, doanh trại hắn nằm bên kia thung lũng, chỉ một đường vào và hầu như chưa có ai trở ra vì cái sườn núi kia có 50 tay súng trường thiện xạ luôn phục kích. Nếu dụ Tom đi bắt Billy cũng đồng nghĩa đày Tom vào cõi chết vậy.
Trong quán rượu máy hát đang chơi bản “November Rain” của ban nhạc hard rock Guns N’ Roses. Tiếng guitar điện chơi đoạn solo nghe tựa nước cuốn hoa trôi. Tom gật gù: Tháng 11 ta sẽ làm cho mưa ngưng rơi.

HỒ ĐÌNH NGHIÊM

ANH VỀ PHỐ CŨ TRỜI MƯA



Giữ ngoan
tiếng hát em buồn
Để mai chiều xuống
mà thương lấy người

Anh về
phố cũ
trời mưa
Tìm em áo lụa
ngày
chưa nhạt màu
Giữ ngoan
nghĩa nặng
tình sâu
Thuở
mi khẽ chớp
mắt sầu đã mơ

Cho con bướm
mộng vào đời
Qua ô cửa sổ
một thời bâng khuâng
Giữ ngoan
mười ngón tay cầm
Giấc mơ hoa
ngọt môi hồng
em xưa
Anh về
phố cũ
trời mưa
Tìm em áo lụa
ngày chưa
nhạt màu
Bây giờ
cho đến mai sau…

LINH PHƯƠNG

ĐÂU THUỞ VÓ KHUA HÍ LỘNG

gió trợt chân trên thảo nguyên cỏ cháy
trời râm ran mùi tóc rụng xuân thì
mắt chết đuối trong vụng đời son dại
thân quay tròn bên nỗi chết sực ghi

hồn Tấm Cám quay đầu về chất vấn
bỏ chiếc hài bên đầu bãi truông khe
đâu trong đục.sạch dơ.đâu oán thán
đâu no say.tiên tửu.mỹ nhân hề

thời nắng đổ thèm mưa đen bão lượn
quạt trên mồ nhung nhúc kiến hành hương
xếp trang sách nghe vó khua hí lộng
mở buồn ra. chép miệng. bật: Vô-Thường !

Lê Hát Sơn