thả vào lửa đốt

nói gì nữa tình cũng đành quay mặt
cuối cùng rồi em nỡ bỏ ta đi
chút phản trắc đã ngời lên đôi mắt
lời chanh chua đọng môi mỏng xuân thì

kệ đời ta mắc chi mà tội nghiệp
tên ngu ngơ lạc lối cõi ta bà
tên khờ dại cầu thánh thần hóa phép
thắp đèn mù leo lét mộng sao sa

hề chi ta đeo gươm cùn áo rách
mấy câu thơ tưởng gánh cả sơn hà
ôm hoang tưởng một đời nhìn lên vách
tưởng thánh thần đâu ngỡ hóa yêu ma

khóc chi ta tên nước sông gạo chợ
hai bàn tay trắng bợt cũng như hồn
tiễn ta chi bóng đêm sầu nặng nợ
ném đời mình thua cuộc cuối hoàng hôn

thì đành vậy em lìa ta cũng phải
gió với trăng thôi bi lụy má hồng
thả vào lửa đốt bài thơ ân ái
có khi nào em còn nhớ ta không ?

nguyễn minh phúc

NHÀ TÙ: CHƯƠNG 18

Ba ngày Tết, các tù nhân nguy hiểm ở cachot được “giải phóng” xiềng xích. Nguyễn Việt Hưng, tướng Phục Quốc Nguyễn Việt Hưng, thường đứng dán mặt vào ô cửa nói chuyện với chúng tôi. Các bạn trẻ của 1 C-1 đấu ào ào, bất chấp Nội quy. Ổng Hưng hỏi thăm tôi chuyện “nội các” Đinh Xuân Cầu khiến tôi tê tái. Ở đề lao Gia Định, tất cả can phạm phản động đều qúy mến ông Đinh Xuân Cầu. Chuyện Hai Nghiêm mỉa mai ông “Mặt anh mà đòi làm thủ tướng à?” đã thành giai thoại ở đề lao. Ông Cầu đang nằm tại 7 C-2, vào cachot vì Sao giò trốn trại. Sau ba ngày Tết, Nguyễn Việt Hưng bị máng chân vào cùm ở ngay tường, ông ta phải nằm ngửa suốt ngày đêm, trừ hai bữa ăn. Tù nhân vụ Vinh Sơn có người nhái AIi Hùng thổi sáo tuyệt diệu, về khuya, Ali Hùng trổ tài Trương Lương. Tiếng sáo của anh ta buồn não nuột. Cả khu C-l thức nghe anh ta thổi sáo. Trong hơi sáo sau của Ali Hùng, chợt nổi lên một giọng nữ gai góc từ khu B vọng sang “Báo cao cán bộ phòng 4 có người bệnh nặng”, tưởng chừng nhạc thiều âm ty. Tôi đã sống những phút giây hãi hùng và kỳ ảo đó. Nghĩa đời không phải ở đấy. Nhưng ở đấy, người ta tìm thấy nghĩa đời.

Hạ tuần tháng 2-1977, Toà án Nhân Dân Thành Phố Hồ Chí Minh xử vụ Vinh Sơn. Sáng sớm, mỗi tù nhân được phát một ổ bánh mì rồi bị xích chân còng tay đưa tới Tòa án. Buổi chiều được dẫn về. Nguyễn Việt Hưng, Ali Hùng, linh mục Nguyễn Vãn Nghị, linh mục Nguyễn Văn Chức, thiếu tá Tiếp và hai người tôi không biết tên ở cachot l, 2, 3, 4, 5, 6, 7 đã hầu toà ba ngày liên tiếp. Buổi chiều cuối cùng của phiên tòa chung thẩm, khi trở lại cachot Nguyễn Việt Hưng dơ ba ngón tay rồi dùng gan bàn tay chặt lên gáy mình, ông ta báo tin có ba tù nhân bị xử tử. Vài hôm sau, bẩy tù nhân vụ Vinh Sơn chuyển cachot. Chúng tôi hết được nghe Ali Hùng huýt sáo đêm khuya. Bẩy cái cachots dành cho tù nhân mới mà hai cái là nơi “ngự trị” của hai nữ hoàng cachot Hoàng Thị Nga và Ngô Thị Lan. Doãn Quốc Sĩ, hình như, ở cachot số 9. Tôi lại bị gọi sang khu A làm việc với chấp pháp số 11, người Thanh Hoá.

Chấp pháp số 11 yêu cầu tôi bổ sung bản tự khai liên hệ với văn nghệ sĩ Hà Nội. Hắn muốn biết ngoài tôi còn anh em nào thù tạc văn nghệ sĩ Hà Nội không và tôi nghe thấy gì do anh em khác kể lại. Bản tự khai bổ sung rất ngắn. Vì tôi không biết, không nghe, không thấy. Chấp pháp số 11 nhã nhận. Hắn không hạch hỏi. Tôi viết buổi sáng là xong. Buổi chiều hắn mạn đàm:

– Anh Duyên Anh, tại sao anh giao du nhiều mà chỉ khai có một bạn thân.

– Tôi ít bạn.

– Tại sao?

– Vì tôi ưa viết báo công kích, không ai thích thân với tôi.

Câu trả lời của tôi hợp lý quá. Chẳng còn gì nhảm hơn là khai hết tên bạn bè để làm phiền họ, nhỡ họ bị công an chiếu cố. Mà thực ra, bạn thân đúng nghĩa trước 1975, tôi chỉ có một người. Là Đặng Xuân Côn. Ngày Đặng Xuân Côn vượt biên, tôi bị hạch hỏi, bị quay chóng mặt- Như ngày Nhật Tiến vượt biên, dù đã được tha, Nguyễn Đình Toàn vẫn bị gọi lên Sở Công An viết… tự khai.

Chấp pháp số 11 không yêu cầu gì thêm, hỏi vẩn vơ hai ba câu rồi nói chuyện văn nghệ… tiền chiến. Tôi làm việc với hắn vỏn vẹn một ngày. Bất thình lình, 1C-l bị giải tán. Từng nhóm, từng nhóm, tù nhân khăn gói quả mướp chuyển tới các phòng ở khắp đề lao. Tôi vào tuốt 7 C-1, phòng giam tăm tối và hôi hám. Vì cần tiến nhanh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa nên ủy ban nhân dân quận Bình Thạnh đã xây cái chuồng heo tại góc sân sát vỉa hè Phan Đăng Lưu, sát tường sau 7C-1. Tù nhân tha hồ hít thở phân tiểu heo cách mạng, hương thơm của chủ nghĩa ưu việt. Tôi “tái ngộ” vua cachot Đoàn Kế Tường ở đây. Ở đây, đầy đủ mặt phản động. Già có cụ Cao Văn Diên, cụ Trần Văn Liễu, cụ Nguyễn Văn Thông. Trẻ có Hoàng Sơn Trường, Đinh Cường, Nguyễn Hữu Trí. Tư sản mại bản có Đỗ Bá Thúc đã từng làm Thứ trưởng thời Diệm và dạy ở trường Luật. Linh mục Phạm Minh Thiện cũng về 7 C-l “họp đàn”. Ngoài phản động còn có vài tù nhân vượt biên, vài cảnh sát đặc biệt trốn trình diện. Sĩ quan mới phải trình diện. Riêng an ninh quân đội, cảnh sát đặc biệt, hạ sĩ quan cũng phải trình diện học tập cải tạo. Và Phủ trung ương tình báo thì anh gác cổng, anh bưng nước đều… tinh báo hết. Ra đi lâu về. Hoặc ra đi không về. Trưởng phòng tên Nguyễn Văn Mâu do Hai Phận chỉ định. Tôi đã có tí chức tước: Thư ký tù, chuyên viết biên bản các buổi họp cuối tuần và lập danh sách mua hàng chợ.

Hai Phận sáng tạo kiểu điểm danh mới. Ngày hai lần, sáng và chiều, hắn bắt tù nhân ra xếp hàng đôi ngay ngắn. Trưởng phòng hô “nghiêm” rồi báo cáo:

– Báo cáo ông Trưởng khu, phòng 7 hiện diện 56 người đủ.

Hai Phận vĩ đại hất tay:

– Được.

Chúng tôi lần lượt dơ tay đọc số, đọc tên và vào phòng. Hai Phận mở cuộc thi đua vệ sinh, ngăn nắp cho tù nhân. Khẩu hiệu của hắn: “Bỏ cờ trắng, vượt cờ xanh, giành cờ đỏ”. Điểm danh cũng được tính điểm thi đua. Tù nhân thi đua ở tù! Nhờ màn thi đua nên có cuộc họp trưởng phòng toàn khu. Thư ký đi ghi chép biên bản. Tôi được gặp Mặc Thu Nguyễn Viết Khánh, Thanh Thương Hoàng và được biết anh em của tôi đã “họp đàn” hết tại đề lao Gia Định, Đủ mặt. Lúc này, Hai Phận vĩ đại thống lãnh lưỡng khu C-l, C-2. Chúng tôi có một tháng thi đua. Phái đoàn trưởng phòng tham quan các phòng và… chấm điểm. Tù chấm điểm tù. 7 C-l cầm cờ trắng hạng bét vì toàn mùi phân heo và mùi ghẻ mủ. Hai Phận chửi chúng tôi ăn ở bẩn thỉu. Hắn ví chúng tôi với heo và ra lệnh cho chúng tôi “phải khắc phục mùi phân heo”!

Năm 1977 có hai biến cố. Biến cố thứ nhất: Toàn dân ăn độn. Biến cố này được dân gian đánh dấu bằng lời ca số 2 của ca khúc Miền Đông đất đỏ:

Ai đã qua miền Đông đất đỏ
Xem xe chở vào thành phố khoai mì
Cả khoai lang và rồi thì khoai bí
Dân mình xếp hàng mua kí về ăn

……

Tổ quốc ơi!
Ăn khoai mì ngán quá
Từ giải phóng đến nay
Ta ăn độn dài dài
Từ giải phóng đến nay
Ta ăn độn bằng khoai…

Hai Phận “triệu tập” một phiên họp “đột xuất”. Các trưởng phòng và thư ký đi phó hội. Hai Phận buồn bã nói:

– Trung Quốc nó đòi nợ, ta phải trả nợ nó, ta không thèm khất nợ, ta trả hết, trả khẩn trương. Do đó, từ mai, các anh sẽ ăn độn. Các anh khắc phục ăn khoai, ăn sắn nhé! Cũng đầy đủ vi-ta-min. Đấy, gà nó ăn ngô béo ra phết. Lợn nó ăn khoai thịt vẫn ngon.

Chúng tôi không dám cười. Hai Phận đau đớn:

– Người ta cứ bảo đất miền Nam tốt, làm không ăn có, ném thóc giống rồi nhắm mắt chờ mùa gặt. Thế mà từ giải phóng, hết hạn hán lại lụt lội…

Hai Phận vò đầu bứt tóc.

– Trời hại ta, trời cũng theo đế quốc Mỹ!

Tôi thấy Hai Phận đích thực vĩ đại hơn Hồ Chí Minh vĩ đại. Hắn trấn an chúng tôi:

– Nhưng ta đã có mỏ dầu hỏa ở Tiền Hải, Thái Bình. Mỏ ngay trên đất, không cần giàn khoan, không cần nhà máy lọc…

Biết rồi, khổ lắm, nói mãi. Hai Phận đã dạy bài này bên Sở Công An. Hắn dạy lại.

Hai Phận, tinh hoa của cộng sản đấy. Chúng tôi đã được học tập cải tạo tư tưởng như thế với những ông thầy như thế. Sau buổi họp “chuẩn bị tư tưởng” ăn sắn, ăn khoai, chúng tôi ăn sắn, ăn khoai thay cơm. Tại sao Hai Phận phải “triệu tập” cuộc họp “đột xuất”? Vì đề lao Gia Định là đề lao kiểu mẫu của thành phố. Chế độ muốn làm dáng dân chủ trong nhà tù. Đã xẩy ra một lần cơm đầy thóc, nhiều phòng… tuyệt thực. Tù nhân phản đối: Chúng tôi không giống gà. Chấp pháp phê bình quản giáo, thay đổi một trưởng khu. Họ sợ giữa thành phố, tù nhân nổi loạn sẽ tạo tiếng xấu cho cách mạng.

Biến cố thứ hai: Nổ kho đạn ở Long Bình. Tù nhân sung sướng, tưởng chừng sắp xô gục cửa ngục mà ra. Cả buổi chiều, hành lang vắng bóng công an. Đạn nổ ầm ầm. Nhưng đâu lại vào đó. Đạn ngưng nổ, ước mơ của tù nhân tắt lịm. Ngoài đời, dân gian cũng tuyệt vọng không kém. Những tù nhân “to tiếng bàn luận” vụ nổ bị làm kiểm điểm, bị cúp thăm nuôi. 7 C-l bình yên nhờ “lãnh tụ” Đoàn Kế Tường bảo anh em “im iặng” nghe đạn nổ. Sinh hoạt đề lao bình thường.

Thêm một sáng tạo ăn. Nghe đồn Đức Giáo Hoàng bán đấu giá vương miện lấy tiền mua bột mì tặng tù nhân chính trị Việt Nam. Đề lao xây lò bánh mì. Bánh mì đề lao thiếu bột nổi. Ăn nóng thì rát họng, ăn nguội thì mỏi răng. Để đến ngày mai thì y hệt cái giầy tã. Bèn đề xuất bánh tầm bì không bì heo. Rồi bánh cuốn. Rồi mì sợi nấu với nước muối. Mì sợi bị chê, đề lao trở về cơm hẩm. Tiêu chuẩn ca đầy ngọn chì còn lưng ca.

Đúng dịp cơm tù bị bớt để trả nợ chiến tranh giải phóng, Doãn Quốc Sĩ ra cachot sau 11 tháng “thiền” trong bóng tối. Anh về 6 C-1 ở chung với Thái Thủy. Tôi bị đuổi qua 3 C-l. Thời gian ở 7 C-l, Đoàn Kế Tường tả cho tôi nghe các cachots anh đã nằm, các hình phạt anh đã chịu. Hồi ở 5 C-2, tôi đã chứng kiến Đoàn Kế Tường chửi quản giáo Hùng kẽm gai. (Hùng mở cửa cho cơm vào phòng. Một tù nhân thấy thùng canh rau muống già, ngao ngán nói: “Lại canh kẽm gai”. Hùng bắt bẻ. Tù nhân tặng nó biệt danh Hùng kẽm gai). Hùng kẽm gai báo cáo Hai Phận. Hai Phận đến tận phòng hỏi:

– Đứa nào dám chửi cán bộ cách mạng dã man?

Đoàn Ké Tường đáp:

– Không có đứa nào cả. Tôi đây, Nội quy cấm ông ăn nói lỗ mãng.

Hai Phận nổi giận:

– Nội quy của ai?

– Của nhà tù. Tôi đọc cho ông nghe: “Can phạm gọí cán bộ là anh xưng tôi. Cán bộ gọi can phạm là anh xưng tôi”.

– Anh dám chửi cán bộ.

-Tôi chửi luôn chế độ dã man!

Hai Phận bắt Đoàn Kế Tường ra làm việc. Vị anh hùng đề lao Gia Định, người nằm cachot bị ra phòng tập đã đập cửa hò hét xin trở lại cachot, đâu ngán cachot.

Tù nhân ở C-2 phục chàng quá. Hai Phận làm việc xong, đưa chàng về. Hắn cho chàng gặp vợ con. Hắn cho chàng khiêng đồ ngày thăm nuôi. Hắn cho chàng chế thuốc ở Y Tế. Chàng nóng tính đánh nhau với ai, kẻ bị chàng đánh đi kỷ luật, chàng bình yên.

– Đang là anh hùng, em trở thành “ăng-ten” anh ạ! Cộng sản thâm hiểm thật.

Cộng sản thâm hiểm, dĩ nhiên. Hạ gục uy tín vị anh hùng, tạo mâu thuẫn để tín đồ bôi bẩn thần tượng rồi bỏ rơi thần tượng. Lúc ấy, thần tượng đã nhào, anh hùng đã hèn mọn! Thay vì người ta “học tập” thủ đoạn cộng sản, người ta chỉ nghị luận “ăng-ten”. Người ta khó mà khôn lớn, dẫu nằm tù cộng sản suốt đời.

Đến 3 C-1, tôi gặp cụ Đỗ Văn Lựu, nhạc phụ của tướng Phạm Văn Phú. Vị đại tá Ngự Lâm Quân này, thời còn đeo lon trung úy, đã đóng ở tô giới Thượng Hải, đã có những trang tình sử với các kiều nữ Tô Châu. Trung thành với Bảo Đại, cụ Lựu chống Ngô Đỉnh Diệm, bị Diệm bỏ tù. Hôm nay, cụ vào tù cộng sản về tội phản động, về tội phó thủ tướng chính phủ Liên Bang Đông Dương.* Tôi gặp Hoàng Mạnh Hùng, tiến sĩ, giáo sư đại học Bách Khoa Thủ Đức. Tôi gặp Ngô Tỵ, Nguyễn Khánh Long. Tôi gặp Tổng giám đốc nhà phát hành Nam Cường. Tôi gặp Đặng Hải Sơn. Tôi gặp nhóm bạn trẻ Song Vĩnh. Tôi gặp cụ Nguyễn Đồng chăn bò làng Song Vĩnh bỗng trở thành đại phản động. Trưởng phòng 3 C-1 là gã Việt cộng gốc QuảngNam. Tôi quên họ của hắn, chỉ nhớ hắn tên Đoan. Hắn vào tù vì tội tham nhũng. Đoan tập kết trở về. Trong số các trưởng phòng tôi biết, Đoan là thằng khốn nạn nhất. Giữa hắn và tù nhân có một sự cách ly ngấm ngầm. Chúng tôi không nói chuyện với hắn. Đoan cấu kết với tên Ba, can tội vượt biên. Không khí 3 C-1 căng thẳng. Hắn bắt chúng tôi thay phiên nhau đọc báo Nhân Dân và phát biểu cảm tưởng những gì mình thu hoạch. Giờ đọc báo, Đoan quan sát các tù nhân có ngủ gục. Hắn yêu cầu ngồi nghiêm chỉnh nghe báo Đảng. Những giờ hành chính, tù nhân không được nằm.

Các bạn trẻ 3 C-l thường tụ tập quanh tôi nghe “quay phim” Đông Chu Liệt Quốc, Hán Sở Tranh Hùng. Và tôi bị Đoan báo cáo là tuyên truyền phản cách mạng, bị Hai Phận gọi ra nạo dũa tơi bời. Không sao, bù lại tôi gặp Nguyễn Văn Quả,** binh nhì Thủy quân Lục chiến, hiền như đất, nói ngọng níu lưỡi mà dám làm phản động có đại liên, có tổ chức. Tôi yêu những ngời như Quả biết mấy. Đi chiến đấu là để chiến đấu. Thế thôi. Khác hẳn những ông sư đoàn trưởng Phục Quốc Quân vốn đeo lon hạ sĩ, trung sĩ của quân lực Việt Nam Cộng Hòa. A, tôi còn gặp Quang dù (anh ta bảo anh ta là đại úy), người thấp, ngực đầy lông, chân mang thương tích, nắm chức vụ Tư lệnh Lực Lượng Kháng Chiến thủ đô. Anh em quen gọi đùa Quang dù là ông Đô trưởng. Đô trưởng rất ham nói, dẫu nói nhăng nói cuội, và rất dễ chọc giận. Anh ta bị quân báo bắt, bị nhốt ở Tô Hiến Thành, bị đánh sưng phổi. Vài hôm quen với 3 C-l, Hoàng Mạnh Hùng*** sang chỗ tôi tâm sự còm:

– Trước ngày bị bắt, tôi định đi gặp ông?

– Làm gì?

– Mời ông xuất ngoại với chúng tôi.

– Đê làm gì?

– Chiến đấu!

A, lại thêm một người mời tôi chống cộng vào lúc “trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn.”

– Chừng đi gặp ông thì hay tin ông đã bị bắt.

– Và ông cũng bị bắt.

– Không ngờ gặp ông tại phòng này.

Hoàng Mạnh Hùng du học ở Mỹ về. Anh ta đã từ chối không nhận chức thứ trưởng Văn hóa Giáo dục của chính phủ Thiệu. Quốc gia cực đoan như Duy Dân, anh ta xếp các chính phủ Việt Nam từ sau 1945 là ngụy quyền. Để tiện phân biệt, anh ta chia hai: Hà Nội phỉ quyền, Saigon ngụy quyền. Anh ta muốn chiến đấu cho một chính quyền. Và như thế, cần thiết cuộc chiến đấu phải mới, thật mới với tư tưởng mới và lãnh đạo mới. Tôi đồng ý. Chúng tôi trở thành thân. Tôi bắt đầu sống bằng ước mơ ở 3 C-l. ít nhất còn một người hiểu giá trị tung hoành của ngòi bút của tôi. Tôi kể cho Hoàng Mạnh Hùng nghe “nội các” Đinh Xuân cầu. Anh ta nói:

– Cộng sản đã lưu manh hoá thị dân miền Bắc và cả nông dân miền Bắc nữa. Mỹ và ngụy quyền đã lưu manh hóa thị dân miền Nam, bây giờ, thêm cộng sản. Chúng ta phải nghĩ đến nông dân miền Nam còn chân thật mà chiến đấu. Và phải quên những thứ Trương Phiên, Bùi Ngọc Phương nhan nhản cuộc sống hôm qua, hôm nay. Tôi chỉ còn tin đám trẻ. Ông đã đi nhiều phòng giam, chắc ông đã rõ, đám trẻ hào sảng và nhiệt tình vô cùng. Họ không biết thở đài.

Tôi ghi nhận điểm son chói lọi này.

– Tại sao trước J 975 ông không tìm tôi.

– Tôi ngại!

– Ngại gì?

– Ông cao ngạo bỏ mẹ đi ấy, tìm ông sợ bị ông đồng hoá với bọn bẩn, ông chửi mất mặt. Nhiều người ghét ông vì ông cao ngạo!

– Ngộ nhận cả, ông ạ!

Chưa ai gặp tôi nói chuyện có ý nghĩa cho cuộc đời phải thất vọng về tôi hết. Người ta không gặp tôi rồi bảo tôi cao ngạo! Một lần, người ta đề nghị tôi vào ban giám khảo văn chương toàn quốc, tổng trưởng Ngô Khắc Tinh nói: “Đừng đừng, ông ta nhận không sao nhưng ông ta từ chối, ông ta sẽ chửi bới um sùm.” Toàn tưởng tượng rồi ghim thành kiến xấu. Lại một lần, có ông tướng hồi hưu muốn ra nhật báo, nhờ người kiếm tôi làm chủ bút. Tôi đặt vấn đề lương: 200 ngàn một tháng. Đáng lẽ 150 ngàn thôi. Chủ nhiệm một tuần báo đi làm thuê cho chủ nhiệm một nhật báo phải 200 ngàn. Ông tướng đồng ý. Tôi đòi trả trước 5 tháng lương. Tại sao? Vì nhỡ báo ông xuất bản được hai tháng, cao hứng ông dẹp tiệm hay cạn vốn ông dẹp tiệm, tôi mất tiếng cần gỡ tiền. Làm báo phải chịu đựng, ít nhất, sáu tháng. Ông tướng lắc đầu và bảo tôi cao ngạo. Quyền lợi hợp lý mà cũng cao ngạo à? Thêm lần nữa, ông Nguyễn Văn Bé xuất bản nhật báo Thách Đố mời tôi viết vài mục. Tôi đòi 200 ngàn một tháng, đưa trước một tháng và sẽ viết từ số 2 nếu báo của ông ta đúng lập trường tôi đã đồng ý với ông ta. Ông Bé lôi tên tôi quảng cáo om sòm. Báo Thách Đố ra số 1. Đó là nhật báo đốn mạt, tôi không viết. Đem tên tuổi tôi quảng cáo đã đủ 200 ngàn. Chưa kể tôi sẽ kiện Thách Đố để Tô Văn viết bài ký tên tôi. Có gì đâu mà cao ngạo?

– Tôi nghĩ thế.

– Bây giờ ông còn thấy tôi cao ngạo không?

– Không, với tôi.

– Dĩ nhiên là với những người đừng để tôi coi thường, bất cứ nơi chốn nào. Tôi yêu và phục tất cả những người tài năng, những người có tâm hồn. Tôi ít học, có dốt nhưng không ngu. Nói chuyện với tôi vài câu là, hoặc tôi yêu mến, hoặc tôi khinh bỉ. Tôi không cao ngạo. Ai sống có chính kiến cũng đều giống tôi. Tôi không thích làm hòn bi với triết lý ba phải. Tôi chỉ có thể là nghệ sĩ là chiến sĩ mà không thể là chính khách hay chính trị gia. Tôi không thích làm vừa lòng mọi người. Với tôi, thiện và ác rõ rệt, xấu và đẹp phân minh, dối và thật sáng tỏ. Sự lầm lẫn của tôi là yêu ai thì yêu hết mình, ghét ai thì ghét hết mình. Tôi bằng lòng sự lầm lẫn đó và trung thành suốt đời với sự lầm lẫn đó. Bởi tôi không cần ai bỏ phiếu cho tôi.

– Người ta sẽ dùng ông như một kẻ châm lửa cho một phong trào.

– Ai là người ta?

– Tuổi trẻ có tâm hồn.

– Tôi rất mong được hầu hạ những người ấy. Những người ấy có quyền cưỡi lên lưng tôi. Tôi tình nguyện làm con ngựa già nhẫn nại. Những thằng lãnh tụ khụ khị thì đừng hòng. Chúng nó có gì hơn tôi? Và chúng nó cứ ghét tôi, cứ bảo tôi cao ngạo. Tôi phục vụ cho tương lai, không cho dĩ vãng.

Tháng 6-1977, một số bạn trẻ rời đề lao đi lao động cải tạo, một số bị chuyển phòng vì chống tên Đoan. 3 C-1 tiếp nhận người mới, có Nguyễn Văn Mẫn bộ đội đào ngũ (anh này đã ở với tôi tại 6 C-I, 7 C-I) và Lê Văn Nhân, trưởng phòng thương nghiệp. Anh Nhân “30 năm đời ta có Đảng,” tập kết năm 1954, về Nam năm 1975. Anh quê Rạch Giá, hồi hương giữ chức trưởng phòng thương nghiệp thành phố Hồ Chí Minh. Vợ anh người Hà Nội, cháu nhạc sĩ Đoàn Chuẩn. Muốn loại bỏ thành phần tập kết, chế độ lấy lý do anh ở nhà lầu, đi xe Fiat (của gia đình ở Saigon cho), chụp lên đầu anh ta cái mũ “mất phẩm chất cách mạng”, tịch thu thẻ Đảng, khai trừ anh ta ra khỏi Đảng rồi tống anh vào nhà tù. Khi khép cửa phòng lại, Hai Phận nói với anh ta:

– Bây giờ anh đã trở thành kẻ thù của Đảng, của nhân dân, anh hết là đồng chí của chúng tôi. Anh được đối xử như mọi can phạm.

Tình nghĩa và tình cảm cộng sản đó. Những anh chị cộng sản làm dáng, làm cảnh, vừa tích cực hoạt động Hội vừa nhẩy đầm nên suy nghĩ. “Ba mươi năm đời ta có Đảng” vẫn nằm tù. Thì cái thứ cộng sản dây máu ăn phần… về quê thăm nước ra cái gì nhì? Anh Nhân có vẻ khoái tôi. Tôi thì méo mó nghề nghiệp cứ thích “phỏng vấn” can phạm Việt cộng.

– Thật sự anh can tội chi?

– Chiến chinh đã tàn, cung nỏ đốt cháy. Đấy, tội của tôi. Chúng nó muốn người Bắc nắm mọi chức vụ.

– Bác Hồ dạy “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết” mà?

– Ổng nằm hòm kính rồi.

– Anh tin ai nữa?

– Hết, tôi không tin ai nữa. Có mỗi thứ để tin là Đảng, Đảng chơi quá nặng tin ai bây giờ?

Cùng với anh Nhân, một đảng viên trung kiên cũng vô cachot đối diện 3 C-l. Anh này tối ngày chỉ hát hai bài và mỗi bài hai câu:

Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng
Lời bác nay thành chiến thắng huy hoàng…

……..

Chưa có hôm nào đẹp như hôm nay
Đất nước thanh bình lòng ta mê say

– Thằng ấy dân tập kết như tôi, anh Nhân nói.

Dân tập kết, giám đốc công ty xuất khẩu thảm Trương Văn Loan nằm ở 5 C-l, chủ nhiệm công ty ăn uống quốc doanh nằm ở 4 C-l, vân vân. Anh Nhân thường để dành miếng cháy bữa chiều làm điểm tâm sáng sau. Lúc anh nhai cháy, anh nhìn tôi, nghẹn ngào hát: Chưa có hôm nào đẹp như hôm nay. Hoàng Mạnh Hùng bảo, cuộc chiến đấu mới cần mở rộng cho những Lê Văn Nhân tham dự. Họ đã thấm đòn cộng sản, họ sẽ phóng lên tuyến đầu. Tôi đồng ý. Nhưng sự đồng ý của tôi, sự gần gũi những người cộng sản đã “trở thành kẻ thù của Đảng, của nhân dân” đã làm khó chịu những người quá khích. Họ không muốn nhìn kẻ bị cộng sản khu trừ như một con người, con người đang khốn khổ như những con người trong ngục tù cộng sản, con người đang khao khát chiến đấu phục hận. Cái nhìn xa không giống cái nhìn gần. Cận thị và viễn thị khác nhau. Không giống và khác nhau tạo thành bất đồng quan điểm. Khi quan điểm bị nâng lên, sự bất đồng thay đổi triệu chứng. Cái triệu chứng khốn kiếp nhất là bôi bẩn nếu chưa quyền bính, là tàn sát nếu có quyền bính, Con người muốn sống đích thực với lòng mình thật khó. Nó sẽ cô đơn khôn cùng. Để thoát khỏi cô đơn, nó phải toa rập với đám đông thường là mê muội, độc đoán, ngu xuẩn. Thế thì con người chọn cái đích thực phải căng ra mà hứng những mũi tên tẩm thuốc độc. Hơn bất cứ ai, nghệ sĩ sáng tạo cần thiết cô đơn. Bởi vì, từ trong nỗi cô đơn, anh sẽ soi sáng được chân lý, anh sẽ dâng hiến cho đời sống những ý nghĩa mầu nhiệm về con người, về cuộc đời. Tôi bắt đầu chê bỏ thứ tiểu thuyết mua vui của các chuyên viên phơi-ơ-tông. Loại penilletonistes rỗng tuếch tư tưởng xem chừng đã lạc hậu ỏ cái thế lưu vong của chúng ta. Không thể réo gọi thời đại bằng nước mắt những cuộc tình lẩm cẩm. Cũng dễ hiểu thôi, loại này trăm năm chưa biết cô đơn là cái gì. Những kẻ ồn ào dễ a dua, toa rập. Họ cần có im lặng và bóng tối để truy nã bản thân mình.

3 C-l cho tôi nhiều suy nghĩ. Một trong những suy nghĩ của tôi là trường hợp ôngNam Cường. Vợ ông nằm vùng làm tới chức Phường trưởng. Ông vẫn đi tù. Trường hợp thứ hai không đáng suy nghĩ nhưng cũng nên nhắc: Ông Tư Bôn, giám đốc Việt Nam tổng phát hành, cậu ruột của Mai Văn Bộ, tê liệt ở đề lao Gia Định, Bộ vào thăm mà không thể xin cho cậu mình được tha. Bạn sẽ có một định nghĩa nào về tình cảm cộng sản?

DUYÊN ANH

* Sẽ viết chi tiết về Chính Phủ Liên Bang Đông Dưưng ở phần ba.

** Năm 1978, Qủa ra tòa cùng tổ chức, lãnh án 25 năm, bị đưa sang chí Hòa.

*** Đã có mặt tại Santa Ana, California, USA.

RUỘNG ĐẤT

Từ em bay theo địa hình chim Lạc
Anh cũng theo về trên đất nước mênh mông
Một chút nhớ đủ ngút trời xanh ngát
Một chút bình an đủ nhẹ trong lòng

Chim nhớ nơi chôn nhau
Chim nghiêng đầu về cõi bắc
Dù đường bay là soải cánh phương nam
Giữa nắng sớm thơm tiếng hò ruộng đất
Giữa chiều hôm còn thắm đượm hương ngàn

Anh gửi cho em bóng hình sông núi đó
Như ân tình ta trĩu nặng hai vai
Lời thề ước dù một lời rất nhỏ
Vang trong anh ngọn lửa suốt đêm dài

Có anh đến từ phía ngoài rất nhẹ
Như mây trời quấn phủ giữa tim em
Có biển có sông có lời ru mẹ
Có ánh mắt soi nhau như sợi tơ mềm

Từ giọng nói quê hương vút cao đêm đêm
như lúa đang thì
xanh đòng
mập mạp
Dù đường bay rất xa nhưng mình đã chung lòng
bằng vốn liếng là câu hò
đưa theo
bóng cò bóng vạc
cùng triệu nụ bông hiền đang nở
giữa gai chông.

Nguyễn Đức Bạt Ngàn

Lời Phỉnh Phờ Như Nấm Mọc Sau Mưa

Vô tư gắp ơn đời từng miếng nhỏ
Rượu trăm năm chuốc mãi hóa ươn hèn
Lý khô cạn chân quàng xiên nghiêng ngả
Vén lối mòn phóng bút chẳng xuyên đêm

Ta quờ quạng trong quỉ hầm ma huyệt
Túi vô lương giam kín mộng chân trời
Thác tham vọng mịt mù làn tử khí
Bức tử chiều tự sát giữa chơi vơi

Thử úp mặt lên con đường vời vợi
Nghe thời gian đau xót giẫm lên hồn
Cánh buồm đen giương nanh cào xé đất
Tiếng nước gào chìm dưới sóng vô tâm

Bầy nhện chữ lưới tình giăng kín mạng
Lời phỉnh phờ như nấm mọc sau mưa
Đám bụi lớn bay cuồng trong gió loạn
Đợi bình minh hư ảo đến bao giờ

Trong cõi tình bước ra từ vô thủy
Với cuộc đời ngâm vọng bước vô chung
Nhưng vẫn tiếc trăm năm toàn bạc lẻ
Không đủ mua một góc nhỏ yên bình!

Lưu Xông Pha

TT Trump Đốt Địa Cầu?

Địa cầu bị hâm nóng và môi sinh bị ô nhiễm là những tai họa có thật, không ai phủ nhận.

Nói TT Trump là “vua quậy” thật quả không sai. Bất cứ ông làm hay nói gì, hay không làm, không nói gì, cũng đều có thể nổ đùng ra như bom nguyên tử!

Quyết định mới nhất của ông, rút Mỹ ra khỏi thỏa ước Paris về biến đổi khí hậu đã gây tranh cãi hơn vỡ chợ, mà đại đa số là cãi theo phe nhóm trong khi hiểu biết thật sự thì mù mờ hơn sương mù sáng sớm Đà Lạt.

Bên này kết án TT Trump đã ký án tử hình cho nhân loại, bên kia cám ơn TT Trump đã cứu nước Mỹ khỏi trở thành một loại máy ATM phát tiền cho cả thế giới xài chơi trong khi dân Mỹ thất nghiệp, đói dài người.

Ta cần hiểu vấn đề cho rõ hơn một chút trước khi bàn. Hiểu về chuyện hâm nóng địa cầu (theo sự hiểu biết lờ mờ của kẻ này), và về Hiệp Định Paris.

HÂM NÓNG ĐỊA CẦU

Đây là một vấn đề cực kỳ phức tạp cả ngàn khoa học gia đã, đang, và sẽ tiếp tục tranh cãi.

Đại cương là trái đất trải qua những chu kỳ nóng lạnh không tránh khỏi, bất kể có nhân loại hay không. Cái khác biệt là có nhân loại và nhân loại đang làm nhiều chuyện sai lầm nên tốc độ thay đổi trở nên nhanh hơn. Như thời kỳ đông đá sau cùng cách đây 15.000 năm, phải đợi tới 5.000 năm sau, trái đất mới đủ ấm lại cho nhân loại bắt đầu sống được. Bây giờ, theo giả thuyết bi quan nhất, thay vì cả vài ngàn năm mới có thay đổi thì có thể vài trăm năm là có thể bị hâm nóng đến mức hủy diệt hết nhân loại, hay vài chục năm là nhân loại sẽ điêu đứng vì chết đói, vì bão lụt,…

Nhân loại đã làm gì?

Tạo hoá có bàn tay thần. Cả tỷ năm về trước, trái đất toàn là núi lửa, xịt ra chất carbon dioxide, hâm nóng trái đất đủ ấm để cây cỏ, sinh vật ra đời và sống được. Rồi tạo hoá sinh ra cây cỏ là thứ tiêu thụ bớt carbon sinh ra chất oxygen. Oxy nuôi dưỡng thú vật và con người. Chúng ta hít oxy và thở ra carbon trả lại cho cây cỏ tiếp tục sống. Một sự cân bằng nhu cầu tuyệt hảo của tạo hóa.

Thế rồi nhân loại trở nên văn minh, chế đủ loại nhà máy để tạo đủ loại hàng hóa cho nhân loại tiêu dùng. Những nhà máy đó đốt quá nhiều oxy trong khi thải ra quá nhiều carbon, mất thế thăng bằng. Chưa kể hàng loạt phát minh mới như xe hơi, máy bay, xe lửa, máy lạnh, máy sưởi,… tất cả đều thải carbon. Số carbon đó một phần bị giam lỏng trong lớp khí quyển của địa cầu, không thoát ra được, một phần phá lớp ozone cản bớt sức nóng của mặt trời, đưa đến tình trạng khí quyển bị hâm nóng (là chuyện không liên quan gì đến thay đổi thời tiết).

Theo phe bi quan, hâm nóng quá sẽ đưa đến tình trạng không khí bị xáo trộn mạnh gây ra bão táp ngày một mạnh, hay gây ra hạn hán phá hại mùa màng, trong khi làm tan chẩy các tảng băng đá tại bắc và nam cực, sẽ nâng mức nước biển, thay đổi địa dư cả thế giới với các vùng ven biển bị chìm sâu dưới nước biển, kể cả các thành phố lớn như New York, Miami, Los Angeles,…

HIỆP ĐỊNH PARIS (HĐP)

Đây là hiệp định về thay đổi khí hậu được 195 quốc gia bắt đầu ký tháng Chạp năm 2015 tại Paris. TT Obama chần chừ cả năm vì biết rất bất lợi cho Mỹ, đợi đến vài ngày trước khi về hưu mới ký.

HĐP có ông tổ ra đời từ sau thế chiến, sau đó là các hiệp định con cháu. Hiệp định “bố” của HĐP là Nghị Định Thư (Protocol) Kyoto 1997, do TT Clinton ký, nhưng TT Bush con rút ra.

Tất cả dòng họ hiệp định này có hai đặc điểm:

1) Cứ vài năm lại đẻ ra một thằng con, có tên mới, dáng dấp thay đổi đôi chút để đáp ứng với những khám phá mới về thay đổi khí hậu, và để thu hút càng nhiều nước càng tốt.

2) Tất cả đều chẳng có tính áp chế, chỉ là những hứa hẹn mà tôn trọng hay không là chuyện… tùy hỷ. Thành ra dùng danh từ “hiệp định” không chính xác.

Ta không cần đi vào chi tiết kỹ thuật quá khó hiểu, chỉ cần biết theo HĐP, tất cả các quốc gia ký tên đều cam kết sẽ tự nguyện lấy những biện pháp để cắt giảm việc thải carbon, làm chậm lại sự hâm nóng địa cầu, cho dù chẳng ai biết chậm được bao nhiêu năm.

XXX

Trên đây là đại cương. Bây giờ ta bàn sâu hơn.

Ít ai chối cãi đang có hiện tượng hâm nóng địa cầu. Những điều tranh cãi là 1) bao nhiêu phần là trách nhiệm của nhân loại và bao nhiêu là chuyện thiên nhiên, 2) mối nguy diệt chủng là sang năm hay vài ngàn năm nữa, và 3) làm sao cân bằng nhu cầu của đời sống ngày hôm nay với những hậu quả xa vời vợi.

Trách nhiệm của nhân loại và thời gian đi đến đại họa là chuyện mà cả ngàn khoa học gia, với đủ loại Nobel, tranh cãi hơn mổ bò. Mà ai cũng sẵn sàng trưng đủ mọi bằng chứng, từ các con số khoa học mà thiên hạ chẳng ai hiểu gì ráo, cho đến những bức hình xanh đỏ chụp bề dầy của các tảng băng đá mà cũng chẳng ai đo được. Nếu có 30 nhà khoa học ra tuyên cáo trái đất sẽ cháy thành tro trong 100 năm nữa, thì cũng sẽ có ngay 30 nhà khoa học khác bảo đảm trái đất sẽ yên ổn thêm một vạn năm nữa.

Những người tin vào đại họa đã có những tiên đoán mà chỉ mới nghe cũng đủ thấy… nóng thật, toát mồ hôi hột.

Năm 1970, gs Paul Ehrlich la hoảng chỉ một chục năm nữa là sẽ có khoảng 100-200 triệu người chết đói mỗi năm. Kinh hoàng hơn nữa, George Wald của Harvard cảnh báo đến 2000, văn minh nhân loại sẽ cáo chung. Năm 2009, văn minh nhân loại may mắn thay, vẫn còn đó, nhưng cựu PTT Al Gore báo động “có 75% triển vọng tất cả băng đá bắc cực sẽ tan chẩy hết trong vòng 5 tới 7 năm nữa”. Bây giờ đã là 8 năm rồi. Vậy chứ ông Gore được giải Nobel Hòa Bình về công trình nghiên cứu hâm nóng địa cầu đấy, không đùa đâu.

Tại sao họ sai lầm dữ vậy? Một phần vì phóng đại để hù dọa, phần còn lại là vì họ tính sai bét, hay cố lờ đi rất nhiều yếu tố. Chẳng hạn như không tính việc con người rất sáng tạo, khoa học tiến bộ rất nhanh, đã phát minh rất nhiều công nghệ mới, ít nguy hại hơn. Như cách đây 30 năm một chiếc xe với một ga-lông xăng chỉ chạy được một chục dặm trong khi bây giờ, cũng một ga-lông xăng đó cho phép ta chạy tới 30-40 dặm. Chưa kể xe điện chẳng cần một ga-lông xăng nào.

Nhân loại hiện có 7 tỷ người sống trên khoảng 5% diện tích của trái đất. 95% còn lại là biển, sông, hồ, núi, rừng, sa mạc, băng đá không sống được. Thử hỏi cái khối người sống trong 5% đó làm sao có thể thải carbon tới mức tiêu diệt hết nhân loại trong vòng vài trăm năm chứ đừng nói tới vài chục năm?

Theo các nhà khoa học, mỗi năm hiện nay, nhân loại thải ra khoảng 7 tỷ tấn carbon, trong khi đó tạo hoá thải ra hơn 200 tỷ tấn, gấp 30 lần, qua các núi lửa cũng như qua cây cối hư thối, thú vật trong rừng và cá dưới sông biển khi chúng thở ra carbon. Nhân loại có cắt giảm 20% thì chỉ giảm được hơn 1 tỷ mỗi năm, chẳng thay đổi được gì nhiều.

Thật ra, nếu – một chữ “nếu” rất lớn – trái đất bị hâm nóng thật thì cũng phải kéo dài cả mấy trăm năm nếu không phải là mấy ngàn năm. New York nếu có bị chìm thì cũng không phải như bị tsunami nhận chìm trong vài tiếng đồng hồ, cả triệu người chết, mà phải là trong 5-7 trăm năm, dân cư dư thừa thời giờ di cư vào sâu trong đất liền, hay phát minh ra cách gì ngăn cản được hâm nóng địa cầu. Vài trăm năm là thời gian rất rất dài: 200 năm trước, Gia Long còn đang làm hoàng đế, Tự Đức chưa ra đời.

Năm 1998, TT Clinton ký Nghị Định Thư Kyoto 1997 (bố của HĐP), nhưng không được Thượng Viện phê chuẩn vì trước đó, Thượng Viện đã thông qua một quyết nghị chống Nghị Định Thư với số phiếu 95-0. Tất cả nghị sĩ, CH và DC, đều chống. TT Obama đơn phương ký HĐP, cũng không có phê chuẩn của Thượng Viện vì ông biết Thượng Viện sẽ bác. Thiên hạ đang xúm lại sỉ vả TT Trump, nhưng không một ai hỏi sao tất cả các nghị sĩ của cả hai đảng cũng đều chống HĐP. Sao không đả kích họ mà chỉ đả kích TT Trump?

Đây là căn bản của thỏa thuận Paris: 195 nước cam kết sẽ “cố gắng” giảm việc thải carbon, như bớt khai thác và xử dụng than đá, dầu thô; giảm số lượng nhà máy kỹ nghệ; kiểm soát lượng carbon do mấy nhà máy đó thải ra; khai thác các nguồn năng lượng khác như gió, nguyên tử, khí thiên nhiên, mặt trời; bắt các hãng xe phải chế ra xe tiêu thụ ít xăng hơn, chế ra các máy lạnh, tủ lạnh thải ít carbon hơn,…

Những biện pháp và tiêu chuẩn do chính các quốc gia đó tự đặt và đưa ra qua những “kế hoạch” ngũ niên, nộp cho tổ chức quốc tế kiểm soát mỗi 5 năm. Các nước cũng cam kết đóng góp vào một quỹ để giúp các nước nghèo cáng đáng chi phí cần thiết để thực hiện kế hoạch.

Còn đây là hai điểm – trong nhiều điểm – thấy có vẻ… không công bằng lắm cho nước Mỹ mà TT Trump nêu lên:

– Mỹ phải có biện pháp ngay từ 2017, trong khi Trung Cộng, với số lượng carbon thải ra hiện nay cao gấp hai lần Mỹ, chỉ “hứa” tới 2030 sẽ cắt giảm 60%. Có nghiã là 13 năm nữa mới thấp hơn Mỹ bây giờ một chút. Chỉ là hứa thôi. Ai muốn tin cộng sản, xin tùy tiện. Dù sao thì Mỹ phải bắt đầu đóng cửa các mỏ than đá ngay từ bây giờ trong khi Trung Cộng “từ từ” tiến tới trong hơn một thập niên tới. Hậu quả cụ thể: nhân công mỏ than Mỹ mất việc ngay, trong khi nhân công Trung Cộng vẫn còn job cả chục năm nữa.

– Quỹ tài trợ các chương trình giảm carbon cần 100 tỷ đô, một tỷ được TT Obama đóng vài ngày trước khi bàn giao cho tân TT Trump. TT Obama hứa 3 tỷ, còn thiếu 2 tỷ. Có 43 nước, phần lớn là Âu Châu, hứa sẽ đóng góp tổng cộng khoảng 7 tỷ, nhưng chưa có nước nào đóng một xu nào. Phần của các đại cường thủ phạm chính của việc tăng carbon, Nga, Trung Cộng, Ấn Độ? Zero! Quỹ còn thiếu 99 tỷ, hay 92 tỷ nếu các nước khác giữ lời hứa đóng 7 tỷ. Có nghiã là bác đại gia Sam sẽ phải “tình nguyện” thêm vài tỷ hay vài chục tỷ nữa. Lấy tiền đâu ra nếu không phải là lại tăng công nợ, tăng thuế, cắt Medicaid-Medicare, hay cắt ngân sách chống khủng bố?

Có người trách TT Trump thiển cận, chỉ nhìn thấy nhu cầu công ăn việc làm cho vài chục ngàn nhân công mỏ than mà không nhìn thấy cái chết của cả nhân loại, trong đó có cháu chắt của ông ta.

Các đại công ty dầu hỏa ExxonMobil, Shell,… sao lại ủng hộ HĐP? Các công ty này mang tiếng là công ty dầu hoả, thực sự đã chuyển qua sản xuất khí thiên nhiên (natural gas) từ cả chục năm nay. Như khối dự trữ nhiên liệu của Exxon hiện có 39% dầu thô, 55% khí thiên nhiên. Khai thác khí thiên nhiên là chuyện HĐP cổ võ, cũng là ưu tiên hiện nay của các hãng dầu. HĐP cũng giúp bóp chết các công ty nhỏ hơn đang khai thác than đá và dầu hỏa tại Mỹ, là đối thủ cạnh tranh của các đại công ty dầu. Các đại công ty này ủng hộ HĐP chỉ vì quyền lợi kinh tế, chẳng liên hệ gì đến thay đổi khí hậu hết.

Các đại công ty khác như Apple, Nike, Pepsi,… cũng ủng hộ HĐP và xác nhận HĐP sẽ giúp gia tăng việc làm. Có thể. Họ là những đại tập đoàn quốc tế, có cơ sở kinh doanh, hãng xưởng, và khách hàng khắp thế giới, dĩ nhiên sẽ có dịp phát triển, tạo thêm job thật. Nhưng mà là job trên thế giới trong những nơi với giá nhân công rẻ mạt và luật môi trường lỏng lẻo như Việt Nam, Bangladesh,… chứ không phải job cho dân Mỹ.

Trong khi đó thì New York Times loan tin việc Mỹ rút ra được giới kỹ nghệ cấp nhỏ và trung hoan nghênh triệt để. Tại sao?

Loại hiệp định như Paris đẻ ra vô số luật lệ bảo vệ môi trường, gây khó khăn lớn cho các công ty nhỏ. Các công ty Mỹ đóng cửa, đi mở lại tại các nước chậm tiến không phải chỉ vì giá nhân công rẻ không, mà còn vì mấy xứ này không có những luật lệ quá gắt gao về môi sinh, bó tay họ quá nhiều. Những công ty lớn có thể đi ra nước ngoài, nhưng công ty nhỏ thì không làm được, đành chịu chết tại Mỹ. Với việc bỏ bớt những luật lệ quá khắt khe, các công ty nhỏ và trung có thể giảm giá thành, phát triển, gia tăng sản xuất, tạo công ăn việc làm cho dân Mỹ. Việc giảm bớt luật lệ cũng sẽ giúp giảm giá xăng, giúp kích động kinh tế cả nước.

Tại sao Âu Châu lại nhất loạt chống việc Mỹ rút? Vì Mỹ rút ra có thể kéo theo cả chục nước khác rút ra theo, tức là có thể giết HĐP. Đã vậy, còn cần tới 99 tỷ nữa, mất bác Sam, ai trám lỗ trống?

Hơn nữa, hàng Mỹ với giá thành thấp hơn cũng sẽ gây khó khăn cạnh tranh cho các nước khác trên thế giới, nhất là Âu Châu, là nơi sản xuất những loại hàng gần với hàng Mỹ hơn Á Châu, như xe hơi, máy móc nặng, công nghệ cao. Sau khi TT Trump tuyên bố rút, kỹ nghệ xe Đức đã yêu cầu chính phủ Đức xét lại luật môi sinh ngay để giúp xe Đức cạnh tranh với xe Mỹ.

Không nên quá ngây thơ nghĩ Âu Châu chống Mỹ rút ra vì mê cây xanh, quý mạng người hơn Trump. Cũng chỉ là quyền lợi kinh tế thôi.

Quyết định của TT Trump sẽ giúp tạo việc làm tại Mỹ, không phải chỉ trong ngành khai thác mỏ than, dầu hỏa hay năng lượng cổ điển –traditional energy, mà cho toàn thể kỹ nghệ nhỏ và trung của Mỹ. Quyết định của TT Trump là quyết định của một người lãnh đạo có trách nhiệm lo cho nhu cầu thực tế của dân Mỹ ngày hôm nay, không phải quyết định của một nhà khoa học ngồi phòng lạnh nghiên cứu khí hậu giả tưởng của 500 năm tới.

Cái lo lắng của dân Mỹ là có job hay không, có tiền trả tiền nhà đầu tháng tới không, hay gần hơn nữa, có tiền cho bà xã đi chợ cho bữa ăn tối nay không? Hâm nóng địa cầu là mối nguy có thật, nhưng là mối nguy của tương lai xa vời. Dù sao, cũng cần phải được cân nhắc so đo với nhu cầu bữa ăn tối nay. Không có bữa ăn tối nay thì chết đói ngay, làm sao sinh ra con cháu để mà lo.

TT Trump là tổng thống Mỹ, không phải tổng thống thế giới. Chẳng có ông công dân thế giới nào đã bỏ phiếu cho Trump, hay đóng thuế cho bác Sam để bác Sam mang tặng cho thế giới. Chẳng có ông công dân thế giới nào có quyền sỉ vả Trump.

Đối với những người ven vét tiền chợ tối nay, cũng như đối với các nước nghèo chậm tiến, chuyện hâm nóng địa cầu chỉ là chuyện các cụ ta gọi là “phú quý sinh lễ nghĩa”.

Tệ hơn nữa, có người cho rằng tất cả chỉ là âm mưu của các cường quốc muốn ngăn cản, không cho các nước chậm tiến kỹ nghệ hóa, để phải vĩnh viễn lệ thuộc các “đế quốc” trên phương diện kỹ thuật, vĩnh viễn bị trói chặt trong khu vực canh nông.

Ở đây, cũng phải nói là những tố cáo của TTDC có tính phóng đại và bóp méo. TT Trump không hề nói là ông không tin khí hậu đang thay đổi, nhưng ông cho rằng vấn đề đã bị thổi phồng quá mức, và carbon do con người thải ra chỉ là một yếu tố nhỏ trong việc thay đổi khí hậu khi địa cầu đã trải qua biết bao chu kỳ nóng lạnh từ hơn 4 tỷ năm nay. Hơn nữa, HĐP là một hiệp định không cân xứng, chèn ép Mỹ quá nhiều. TT Trump rút ra để có thể điều đình lại những tiêu chuẩn cho hợp lý và công bằng với Mỹ hơn, nhìn nhận nhu cầu ngày hôm nay của kinh tế và xã hội Mỹ.

TTDC bắt bẻ HĐP không có tính cưỡng bách bất di bất dịch, mỗi nước có thể thay đổi tiêu chuẩn bất cứ lúc nào, đâu cần rút ra rồi điều đình lại nếu TT Trump muốn thay đổi chỉ tiêu của Mỹ. Thật ra, TT Trump muốn thay đổi cả chỉ tiêu đã thỏa thuận cho các nước khác luôn, chẳng hạn như ông không muốn cho Trung Cộng tự do thải carbon trong 13 năm tới, hay ông muốn tăng tỷ lệ giảm carbon của các quốc gia kỹ nghệ Âu Châu, hay tăng số tiền đóng góp của các nước như Nga, TC, Ấn Độ. Các chính quyền thế giới hiểu ngay ý định của TT Trump nên mới nhẩy dựng lên bác bỏ mọi ý kiến điều đình lại. Họ cũng hiểu là điều đình với Trump khác xa điều đình với Obama.

Một điều mà những người chống đối không muốn nhìn nhận là ngay cả trong thời gian TT Bush con bác bỏ Thỏa Ước Kyoto, Mỹ vẫn tiếp tục tự chế, giảm mức phế thải carbon tới 18%, so với tiêu chuẩn Paris đòi hỏi là 26% trong một chục năm nữa.

Một lỗ hổng khổng lồ mà những người chỉ trích TT Trump hình như chưa ai nói đến: Mỹ rút ra hay không rút ra thì khác nhau như thế nào? Địa cầu sẽ bị hâm nóng chậm lại hay nhanh hơn bao nhiêu năm? 10 năm, 100 năm, 1.000 năm, hay 10.000 năm?

Việc TT Trump công bố ý định rút thật ra chỉ là tuyên cáo chính trị, xác nhận một quan điểm và lời hứa bảo vệ việc làm cho dân Mỹ của ông. Dân Mỹ bầu ông vì lý do này chứ không phải bầu ông để cứu thế giới khỏi một tai họa mà chẳng ai biết bao giờ sẽ xẩy ra. Dù vậy, TTDC đang tìm cách quậy tung như thể TT Trump đang châm lửa thiêu cả thế giới trong tháng tới. Chỉ là một lý cớ nữa để đánh TT Trump, không hơn không kém.

Địa cầu bị hâm nóng và môi sinh bị ô nhiễm là những tai họa có thật, không ai phủ nhận. Nhưng khi bàn về những chuyện này, cũng không thể quên công ăn việc làm ngày hôm nay của người dân, bất kể dân Mỹ hay Tầu hay Ấn, là những ưu tư sinh tử trước mắt. Những cảnh báo hù dọa quá đáng sẽ gặp phản ứng ngược, trở thành trò cười cho thiên hạ, không ai tin nữa. (02-07-17)

Vũ Linh

Quý độc giả có thể liên lạc với tác giả để góp ý qua email: Vulinh11@gmail.com. Bài của tác giả được đăng trên Việt Báo mỗi thứ Ba.

MƯA

Đêm về phố lạ dưới cơn mưa
Nhớ mắt em buồn buổi tiễn đưa
Che tay nghe lệ mình đang ướt
Bước chậm thương cây lá chuyển mùa

Lụt ở quê hương, mưa xứ người
Một dòng tủi nhục chảy không nguôi
Mưa qua biển Thái tanh mùi máu
Bao xác thây người lặng lẽ trôi

Sài Gòn mưa rót một màu đen
Khóc thầm từ độ đổi thay tên
Em có ngồi bên ao nước nhỏ
Anh, con thuyền giấy cuốn lênh đênh

Hà Nội mưa phùn buổi chớm thu
Đường về lịch sử tối âm u
Hãy khóc lên đi trời tổ quốc
Rửa sạch lầm than lẫn hận thù

Mưa xuống tình người rách tả tơi
Lọc lừa, phe phái vẫn chưa thôi
Mưa che khuất lối về Văn Miếu
Giảng Võ Trường đâu? Sập mất rồi!

Mưa phai mái tóc thời niên thiếu
Tuổi trẻ nhòa theo hạt lệ trời
Ngoảnh mặt về Nam, mây xám quá
Bao giờ nắng đẹp, núi sông ơi!

Trần Trung Ðạo

Ai Ở Xa Mà Không Nhớ Quê

Hôm qua chiều sương nay sáng sương
Con trăng hồi tối vẫn trăng tròn…
Đêm qua trăng ngủ, mền sương đắp?
Nên bóng trăng tròn thấy thiệt thương!

Có bao giờ bạn ngắm trăng mai?
Trăng trong mù sương trăng như bay
Sương bay sương tản rồi sương lợt
Nở đóa hoa quỳ trong mắt ai!

Tôi nhớ Đơn Dương đèo Ngoạn Mục
Đứng đây nhìn xuống K’rongpha
Nhìn qua con thác Danhim đổ
Vàng mướt hoa quỳ, một thảm hoa…

Tôi nhớ người ta tóc gió vờn
Nhớ hoài Eo Gió những chiều sương
Tưởng đâu khói tách trà thơm ngát
Ai ướp hoa lài thơm quá thơm!

Tôi muốn mình xa hẳn thị thành
Lên rừng nâng nhẹ trái thông xanh
Rồi Noel chín, dâng lên Chúa
Một chữ. Muôn năm. Một chữ Tình!

Tháng Bảy lòng tôi đã hướng về
Một ngày tháng Chạp lạnh tê tê
Tiếng chuông vang vọng từ chân núi
Ai ở xa mà không nhớ quê?

Trần Vấn Lệ

Tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ

Được viết tháng 6-tháng 7, 1776
Thông qua 4 tháng 7, 1776
Nơi lưu giữ Engrossed copy: National Archives
Rough draft: Thư viện Quốc hội Mỹ
Tác giả Thomas Jefferson

Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ là văn bản chính trị tuyên bố ly khai khỏi Anh của 13 thuộc địa Bắc Mỹ. Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ ghi dấu ảnh hưởng của triết học Khai sáng và cả kết quả của Cách mạng Anh năm 1688. Nội dung chính của bản tuyên ngôn được dựa trên tư tưởng của một triết gia người Anh ở thế kỷ 16, John Locke. Theo lý thuyết của John Locke, ba quyền cơ bản không thể bị tước đoạt của con người là quyền được sống, được tự do và được sở hữu. Quyền sở hữu được Jefferson đề cập tới trong bản tuyên ngôn là “quyền được mưu cầu hạnh phúc”. Những ý tưởng khác của John Locke cũng được Jefferson đưa vào bản tuyên ngôn như sự bình đẳng, Nhà nước hạn chế, quyền được lật đổ Chính quyền khi Chính quyền không còn phù hợp. Bản tuyên ngôn cũng vạch tội nhà cầm quyền Anh, đại diện là vua George III, bởi chính sách thuế khóa nặng nề và tàn bạo.

Thành Phố Nha Trang – Thiên Thần Và Ác Quỷ


(Viết cho Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh)

Thành phố Nha Trang, quê hương xinh đẹp của tôi đã bị bọn ác quỷ CS cướp đoạt kể từ ngày 01.4.1975. Cũng từ ngày ấy, Nha Trang chỉ còn trong tôi như là mảnh đất của kỷ niệm. một nơi chốn đẹp đẽ trong cổ tích. Với tôi, thành phố này đã biến thành một vùng đất chết, kể từ khi nhạc sĩ Minh Kỳ, người viết bản nhạc “Nha Trang” (mà cả một thời trước 75 Đài phát thanh Nha Trang dùng làm nhạc hiệu mở đầu như là một biểu trưng, vang vang mỗi ngày trên thành phố biển), đã bị giết một cách dã man, oan khuất trong trại tù “cải tạo” An Dưỡng Biên Hòa, nơi mà cá nhân tôi cũng từng bị nhốt hơn một năm trước ngày chuyển tù ra Bắc.
Sau hơn 40 năm, bọn ác quỷ và đám con cháu của chúng giờ đây đã trở thành những tên tư bản đỏ, sống phè phởn trên xương máu của người dân Nha Trang hiền lành, với bằng đủ thứ bạo lực xích xiềng, biến thành phố này trở thành địa điểm dành cho người Nga và đám Tàu Cộng vô liêm sĩ nhất hành tinh, huênh hoang xem Nha Trang như một thành phố trên nước Tàu bọn chúng.
Ngày 29.6.2017, bọn ác quỷ lại tạo thêm một chứng tích nhơ nhớp và hèn mạt, khi dùng thứ luật rừng rú kêu án 10 năm tù đối với một người đàn bà, mà gia tài chỉ có 2 đứa con thơ và một bà mẹ già, cùng với một tấm lòng yêu nước, hiên ngang, bất khuất: Nguyễn Ngọc Như Quỳnh.
Cả một bọn ác quỷ với đầy đủ guồng máy bạo lực, tà quyền, quân đội, công an và cả một bọn côn đồ trá hình mà lại khiếp sợ trước một người đàn bà cô thân, ốm yếu, nghèo nàn, trong tay không có một tấc sắt, chỉ duy nhất có một trái tim yêu nước. Chỉ có loài ác quỷ mới khiếp sợ trước ánh sáng. Bởi chỉ có ánh sáng chân lý mới làm cho bọn chúng hiện rõ nguyên hình là những con quái vật, những con thú hút máu người.
Bản án 10 năm dành cho Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, sinh sau ngày 30.4.75, con gái của một Thương Binh VNCH và một bà mẹ là cựu nữ sinh Trường THÁNH TÂM thuở trước, là biểu hiện một sự khiếp sợ của loài ác quỷ trước một Thiên Thần, tỏa ánh đuốc mầu nhiệm đốt cháy bức màn che đậy cuối cùng vốn đã mục rữa, để bọn ác quỷ hiện nguyên hình, trong viễn ảnh bị tiêu diệt bởi hơn 90 triệu người dân chân chính.
Trong nỗi khiếp sợ, chúng đã quên mất lời dạy từ ông tổ Karl Marx của chúng : “Ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh!” Và cuộc đấu tranh của những người dân lương thiện, dù bắt đầu trong muôn vàn khó khăn, nhưng ngày càng phát triển, âm ỉ trong lòng muôn dân, dần dà sẽ tạo thành ngọn sóng thần cuốn trôi cả thành trì của loài ác quỷ, sẽ là những nhát cuốc đào mồ chôn bọn chúng!
Khốn kiếp và thối tha hơn, trước một bản án ngu xuẩn và man rợ như vậy mà hơn mấy nghìn tờ báo lề phải câm họng, tất cả chỉ dành để tường thuật phiên tòa đại gia- chân dài, và đăng đầy những lời ca ngợi một cô hoa hậu gái bao như là một nữ anh hùng! Cô hoa hậu hãnh diện và tỏ ra đắc thắng với việc nhận hơn 16 tỷ đồng của một đại gia trong một hợp đồng tình dục! Những người còn lương tri, chắc phải lợm giọng với một loại địa ngục của loài ác quỷ bày ra như thế!
Là người sinh ra và lớn lên ở Nha Trang, chúng tôi rất hãnh diện có một đồng hương Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, có một đồng môn Nguyễn Thị Tuyết Lan, người mẹ can đảm, thương con và luôn hưởng ứng, cổ võ mọi việc làm của cô con gái yêu nước, can trường.
Với tôi, những tuyên dương của các Tổ Chức Nhân Quyền, cả giải thưởng“ Những Người Phụ Nữ Quốc Tế Can Đảm Năm 2017” của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ dành cho Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, không làm cho bọn ác quỷ khiếp sợ bằng lời nói cuối cùng của Như Quỳnh trước khi nhận bản án tù 10 năm quái gỡ và man rợ:
“Con xin lỗi mẹ và 2 con vì những gì con làm đã làm khiến tình mẫu tử mẹ con bị chia cắt lâu dài, nhưng con không ân hận về những gì mình đã làm. Và nếu như phải lựa chọn lại, con sẽ vẫn làm như vậy.”
Cho tôi xin cúi đầu cảm phục Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, một đồng hương Nha Trang sinh sau tôi cả một thế hệ. Xin cám ơn em đã cho tôi một niềm tin tuyệt đối. Nhất định loài ác quỷ trên thành phố Nha Trang và cả trên quê hương Việt Nam chúng ta, sẽ sớm bị cáo chung, bởi ánh sáng của ngọn đuốc em thắp lên mãi tỏa sáng, được tiếp nối và luôn bất diệt!
Chúc em bình an và có thừa nghị lực, kiên cường trong bất kỳ nghịch cảnh nào. Nhà tù chỉ có thể giam thân xác bé nhỏ của em, nhưng không thể giam được ý chí sắt đá và tấm lòng to lớn của em. Và xin được gởi đến bà Mẹ Tuyết Lan, cô nữ sinh trường THÁNH TÂM ngày xưa, lòng thán phục và ngưỡng mộ của những người Nha Trang xa xứ. Xin cầu nguyện hồn thiêng sông núi và anh linh của bao đời tổ tiên, của liệt vị anh hùng tử sĩ luôn phò trợ cho Như Quỳnh, Mẹ Tuyết Lan và hai cháu.

Cali. đầu tháng 7/ 2017

Phạm Tín An Ninh

“ĐĂNG VĂN” TIẾNG TRỐNG KÊU OAN !

Bà Bùi Hữu Nghĩa đánh trống kêu oan
( Hình khắc trên gốm của trường Cao đẳng Mỹ thuật Trang trí Đồng Nai.)

Dưới thời vua Minh Mạng (1820-1840) nhà vua đã lập ra một cơ quan xử án tối cao của triều đình, đó là Tam Pháp ty. Đây là trụ sở phối hợp ba cơ quan tư pháp là Bộ Hình (Tư pháp), Đô Sát viện (viện Giám sát) và Đại Lý tự (toà Phá án) để giải quyết thỏa đáng những điều khiếu nại của nhân dân. Người dân có thể tới đây để đánh trống kêu oan, nộp đơn và xin được cứu xét theo thủ tục khẩn cấp.
Trước đó, năm 1804, trong bản Dụ của vua Gia Long để thành lập “Triều đình hội nghị” có đoạn viết:
“Các án kiện tụng ở các địa phương xử chưa rõ lẽ, cùng quân dân có oan khuất kêu lên thì hội đồng xử đoán, rồi sau tâu lên để xin quyết định”.
Khi kế vị, vua Minh Mạng e sợ nỗi oan của người dân triều đình khó mà biết được, vì thế vua cho thiết kế một chiếc trống lớn đem treo lên ở Tam Pháp ty và xuống chiếu ai có điều oan khuất thì đến đánh lên, vua sẽ cho Tam Pháp ty nghị xử, nếu xét ra đúng thì được minh oan, nếu không thì trị tội để tránh chuyện kêu oan bừa bãi làm mất thì giờ. Chiếc trống ấy gọi là trống Đăng Văn (đánh lên để mọi người nghe thấy) được treo ở Công Chính đường. Vua ra quyết định hàng tháng, cứ đến ngày 6, 16, 26 thì Tam Pháp ty phải mở hội đồng để nhận đơn thưa kiện của bá tánh trong cả nước.
Sách Đại Nam Thực Lục (ĐNTL) chép:
“Phàm thần dân ở trong kinh và ngoài các tỉnh ai có oan khuất thì đưa đơn (đơn kêu oan phải có một bản chính và một bản phụ, duy khi tố cáo bí mật về việc phản nghịch quan trọng và những việc có quan hệ đến lợi hại thì mới cho làm một bản tâu phong kín lại). Hội đồng nhận đơn cứ chiếu lý bàn xử, rồi hội hàm làm thành tập tấu dâng lên. Sau khi được chỉ, việc nào quan hệ đến nha nào, thì chép đưa cho nha ấy làm theo. Khi tiếp được tờ tâu phong kín, thì lập tức dâng trình, không được tự tiện phát đi. Còn những ngày khác, mỗi nơi cắt một thuộc viên đều thay phiên thường trực, nếu có người thần dân nào có tờ tâu phong kín tố cáo việc bí mật hoặc sự việc thật cần kíp khẩn thiết không thể đợi đến nhật kỳ nhận đơn thì cho bất kỳ lúc nào cũng được đáng trống Đăng Văn, đưa đơn kêu. Người thường trực nhận lấy đơn ấy, một mặt đem người kêu ấy giao cho lính thủ hộ coi giữ, một mặt trình lên Công chính đường. Còn tờ trạng phong kín ấy cũng lập tức được dâng trình. Các đơn khác thì trước hết tóm tắt lại chép thành phiến để tâu biết, rồi phải theo lý bàn kỹ đợi chỉ sẽ xử sự nghiêm ngặt…
“Lại nữa từ nay phàm việc án nào nên do triều đình xét hỏi, thì đình thần đến nhà Công chính đường ấy hội lại xét hỏi…” (ĐNTL, T3, sđd, tr 334)
Trong tập Souvenirs de Hué (Hồi ký Huế) xuất bản năm 1867, một người Pháp có mẹ là người Việt tên là Michel Đức Chaigneau có thuật lại sự kiện một người dân đến đánh trống kêu oan dưới thời Minh Mạng, bài này được ôngLê Trọng Sâm dịch như sau:
“Sau khi đi qua cửa Đông Nam ta thấy trước mặt có tòa Tam Pháp. Chính trong tòa án này được xét xử các vụ án chung thẩm còn tranh cãi hoặc những vụ án mà bản án có những xét xử khác không công nhận thẩm quyền của tòa án kia. Trong một bản án có tội tử hình, các bản án ở đây đều được xem xét nghiêm túc, các nhân chứng đều được nghe lại và mỗi quan tòa cho ý kiến riêng biệt trong một văn bản có đóng dấu gửi lên nhà vua. Vua tự mình xem xét và nếu có những ý kiến khác nhau, vua ban ra một lời chỉ dẫn cho đến lúc tìm ra được sự thật. Khi người bị buộc tội được cho là vô tội, người vu cáo bị trừng phạt nghiêm khắc.
Trong những trường hợp thông thường, có thể xãy ra một người kêu oan buộc phải nhờ vào lẽ công bằng của tòa Tam Pháp sau khi đã trình lên bốn cấp xét xử khác nhau mà không có khả năng tạo thành bản án. Như vậy, khi một người nào đó đi kiện một người khác, ví như là người hàng xóm về một sự xâm chiếm của cải của mình, về một vụ gây tổn hại cho mình hoặc một vài đối xử tệ hại, người này kêu lên ông Xã trưởng, ông này có thể tập hợp hội đồng gồm có các chức sắc của nơi xét xử vụ việc lần đầu tiên. Nhưng nếu xã trưởng chối từ không xét xử với lý do là không thật giỏi, không biết thật hay giả, người này kêu lên nơi thứ hai đến ông Chánh tổng. Nếu ông này cũng chối từ không có ý kiến, họ lại kêu lên cấp thứ ba trước vị Tri phủ. Nếu cũng như vừa rồi, quan tòa này cũng không chịu nghe, người này lại kêu lên vị Án sát. Nhưng ngay cả nơi đó cũng không làm vừa lòng, họ cần phải từ bỏ đơn khiếu nại của mình và trình lên tòa đại hình xem như nguồn trông cậy cuối cùng mà đến đây người này chắc chắn sẽ được nghe đầy đủ.
Không có gì ngăn cản bước đi và cách tiến hành, người khiếu nại không mệt mỏi của chúng ta mang theo đơn cương quyết đến tòa Tam pháp, gặp ngay ở cửa một chiếc trống to với cái dùi, ông nắm lấy và đánh mạnh ba tiếng theo sau là những tiếng thúc nhanh hơn và chờ đợi một lát. Một viên chức xuất hiện với giọng hỏi nghiêm trang: “Ông kêu gì?”. Người kia trả lời: “Công lý!” với hai tay đưa bản đơn cao ngang trán cho người này. “Ông sẽ nhận được”, người viên chức trả lời, nắm lấy bản cáo trạng đi ra và không nói gì hơn.
Điều cần chú ý ở đây là tuyệt đối nghiêm cấm viên chức các tòa án này nhận khoản tiền thưởng cho sự mệt nhọc của họ…” ( Hồi ký Huế, sđd, tr 174)
Đến đời vua Tự Đức (1847-1883), để biểu hiện sự nghiêm minh, vua ra lệnh trong Thành Nội không ai được đánh trống để khỏi lầm với tiếng trống Đăng Văn. Nghe thấy tiếng trống, dù lúc ấy nhà vua đang làm gì cũng chuẩn bị sẵn sàng nhận đơn kêu oan kịp thời được đưa lên. Nhà vua đọc xong, sẽ tự phê ngay trên đơn và đưa xuống Tam Pháp ty xét xử ngay. Nếu kiện đúng, nhà vua sẽ phán quyết. Để đề phòng bọn gây rối đánh trống náo loạn kinh thành, người đánh trống sẽ phải tự trói tay chân mình lại để khẳng định tiếng trống Đăng Văn ấy đúng là của mình đánh. Chính mình là nhân chứng của mình, mình phải chịu trách nhiệm về sự đúng đắn của tiếng trống ấy. Việc thực hiện tiếng trống được quy định như sau: Người bị xử oan ức thì đến lầu đặt trống, đánh 3 tiếng dõng dạc và 1 hồi vang vọng, Tam Pháp ty cử người trực ở chòi trống, hễ thấy ai đánh trống kêu oan thì nhận đơn rồi đưa vào.
Bấy giờ, nổi tiếng hơn cả là vụ bà Bùi Hữu Nghĩa đánh trống kêu oan. Ông Bùi Hữu Nghĩa, người tỉnh An Giang, đậu Thủ khoa thi Huơng năm 1835, đời Minh Mạng, làm Tri huyện, bị vu oan, mất chức, bị đày làm lính. Bà Bùi Hữu Nghĩa đã từ Vĩnh Long đi ghe ra Huế, đến Tam Pháp ty đánh trống Đăng văn để nộp đơn kêu oan cho chồng, cứu được chồng thoát nạn.
Ngoài vụ án của Bùi Hữu Nghĩa, ở Huế xãy ra câu chuyện nhờ đánh trống kêu oan mà triều đình đã phá một vụ án hết sức nghiêm trọng:
Theo lệ truyền của người Hoa ở phố Gia Hội Huế, những Hoa Kiều ở đây và Quảng Nam rủ nhau xin phép về quê tham nhà bên Trung Quốc, kết hợp chở hàng buôn bán. Không ngờ quan quân tuần biển chẳng hỏi han gì, chặn lại giết người cướp của, lại còn tâu lên triều đình để xin thưởng công trừ giặc. Một tên trong số họ nhà gần phố Gia Hội, khi về nghỉ, nhân ăn nhậu cùng bạn bè, không tiền trả, cầm chiếc nhẫn cho chủ quán. Chẳng may cho y, vợ một người mất tích nhận ra (vì mặt nhẫn có khắc tên chồng bà), bèn viết đơn vào thành đánh trống kêu oan. Vua Tự Đức sai tra xét, tên ấy phải nhận tội và khai ra hết sự tình. Vụ án này sách Đại Nam Thực Lục có chép rõ ràng chi tiết:

Nguyên mùa hè năm Tự Đức 4 (1851), Chưởng vệ Phạm Xích, Lang trung Tôn Thất Thiều quản suất thuyền Bằng Đoàn đi tuần biển, tâu trình gặp ba chiếc thuyền giặc ở hải phận Quảng Nam- Quảng Ngãi, họ bèn bắn chìm một chiếc, một chiếc chạy trốn về đông, còn lại một chiếc hư hại nặng; quan quân áp sát giết hết đồ đảng khoảng 70-80 tên, đưa thuyền về đảo Chiêm Dữ neo lại, xin triều đình ban thưởng!
Sau khi nhận đơn kêu oan; vua Tự Đức xem lại tờ tờ tâu trước, bấy giờ mới phát hiện rằng giặc nhiều thế sao lại kháng cự yếu ớt, dễ dàng bị tiêu diệt đến thế; sinh nghi, vua sai quan bộ binh đi khám xét điều tra lại. Viên đội trưởng trong vệ Tuyển Phong là Trần Hựu thú nhận rằng: ngày 18 tháng 5 năm Tân Hợi (17-6-1851), thuyền quan đậu ở cửa biển Thị Nại, được tin có 3 chiếc thuyền lạ ngoài hải phận đảo Thanh Dữ. Phạm Xích chẳng hỏi ất giáp gì, đuổi theo bắn, không gặp sự kháng cự nào; chúng chỉ một mực bỏ chạy về hướng đông. Khi Xích áp gần một chiếc, bắn một phát, thì thuyền ấy cuốn buồm, 33 người tới thuyền nan trình thẻ, nói là nhà buôn ở phố Thừa Thiên xin về thăm quê (Trung Quốc) và đã được cấp phép, lại có quen biết với Tôn Thất Thiều. Nhưng Thiều lại sai bắt chém hết; Xích cũng sai bọn suất đội Dương Cù đem 76 người còn lại trên thuyền giết luôn, ném xác xuống biển. Quan bộ binh cho rằng bọn Xích giết càn để cướp của, lại mạo xưng công lao, tâu vua giao cho Tam Pháp Ty tra xét. Án thành, Thiều là chủ mưu, bị đổi họ và cùng với Phạm Xích bị xử tội lăng trì, vợ con phải phát phối; Dương Cù xử tội trảm quyết, Trần Hựu biết thú nhận, được tha. Vua Tự Đức tức giận, phê chuẩn ngay bản án. (ĐNTL T7, sđd, tr 205).
***
Thực ra theo các sử liệu đã ghi chép thì tiếng trống kêu oan không phải do vua Minh Mạng đặt ra mà đã có từ trước dưới thời vua Lê Thái Tổ. Trong Đại Việt Sử ký Toàn thư (ĐVSKTT) có nhắc đến vụ tri huyện Dặc Khiêm bào chữa cho Phạm Luận, cả hai đều bị oan sai, bị giải về Yên Kinh. Nhờ có người anh của Khiêm đánh trống Đăng Văn khiếu oan nên mới được miễn tội:
“ Tân Sửu 1421 mùa Xuân tháng Giêng:
“Tổng binh Lý Bân và nội quan Lý Lượng của nhà Minh bắt Phạm Luận là sinh viên huyện Giáp Sơn, buộc Luận mạo nhận là Dương Cung để cho qua chiếu lệnh lùng bắt , bắt đến cả gia thuộc Luận là bọn Phạm Xã giải về Yên Kinh.
Tri huyện Dặc Khiêm nhận thực không phải là tên Cung. Bân không nghe. Khiêm lấy bao vàng dâng đại cáo, tâu thẳng về Yên Kinh. Bân sai người chặn đường bắt về. Hoàng Phúc khuyên Khiêm rằng:
“Mọi người đều cho là đúng, chỉ riêng ngươi bảo không phải là làm sao?”. Khiêm nói:
“Ai ra ngoài mà chẳng phải ra cửa ngõ?”.
Bân cho giải cả Khiêm và Luận về Yên Kinh, giao xuống cho pháp ty xét hỏi. Khiêm suýt nữa bị tội, vì có người anh đánh trống đăng văn khiếu oan nên được miễn tội. Sau thăng dần đến chức Hữu bố chính sứ nước ta. Gia thuộc của Luận cuối cùng bị chết trong ngục”(ĐVSKTT T2, sđd, tr 17)

Cũng trong ĐVSKTT ta thấy từ thời Lý, vua Lý Thái Tông (1028-1054) đã giao các việc xét xử, kiện tụng của dân cho chính thái tử Khai Hoàng Nhật Tôn dùng điện Quảng Vũ làm nơi xử kiện:
“Mùa hạ, tháng 4, ngày mồng 1, xuống chiếu từ nay trở đi phàm nhân dân trong nước ai có việc kiện tụng gì, đều giao cho Khai Hoàng Vương xử đoán rồi tâu lên, lại cho lấy điện Quảng Vũ làm nơi vương xử kiện” (ĐVSKTT T1, tr 299).
Năm 1042, vua cho xây dựng Bộ luật Hình thư đầu tiên của nước ta, quy định phân minh các việc xử phạt, tránh việc làm tuỳ tiện, những lạm dụng của các quan lại gây ra oan trái cho dân.
Năm 1052, nhà vua cho đặt Đăng văn chung (Chuông kêu oan) ở điện Long Trì:
“Nhâm Thìn, năm thứ 4 (1052) Tháng 3, đúc chuông lớn để ở Long Trì cho dân oan ức gì không bày tỏ được thì đánh chuông ấy để tâu lên.” ( ĐVSKTT, sđd, tr 313)
Về sau, năm 1158 vua Lý Anh Tông (1138-1175) cũng “cho đặt cái hòm đồng ở giữa sân chầu để ai có việc gì thì bỏ thư vào hòm ấy”.(ĐVSKTT T1, tr 401)
Qua đó ta thấy việc vua Minh Mạng cho treo trống Đăng Văn ở Huế cũng chỉ kế thừa những công việc mà các triều trước đã thực hiện. Trong một mức độ nào đó, phải nói rằng tiếng trống Đăng Văn dưới thời nhà Nguyễn đã thể hiện được tinh thần dân chủ, ngăn cản việc lạm quyền, tham ô trù dập của các quan địa phương trong các vụ án thuộc thẩm quyền xét xử; đồng thời thể hiện được sự nghiêm minh của pháp luật thời bấy giờ.
Năm 1885, kinh thành Huế thất thủ vào tay thực dân Pháp, triều đình Huế không còn thực quyền, tiếng trống Đăng Văn đã không còn và cả Tam Pháp ty cũng bị giải thể. Về sau, khi Đồng Khánh lên ngôi vua (tháng 9 năm 1885), muốn phục hồi một truyền thống tốt đẹp của các tiên đế, nên đã vận động để Tam Pháp ty và tiếng trống Đăng văn tái hoạt động. Sách Đồng Khánh Khải Định chính yếu chép:
“ Năm Đồng Khánh Ất Dậu 1885. Tháng 10, mở lại Đại Lý tự, lấy Binh bộ Tả Thị lang Hoàng Vĩ kiêm nhiếp. Viện Cơ Mật tâu rằng Đại Lý tự là nơi công chính, phàm các vụ kiện tụng hình án trong dân gian mà có điều gì oan khuất thì đều đến đó mà kêu. Gần đây sau sự biến, tạm thời bị đình chỉ, đến nay cho mở trở lại. Vua chuẩn y theo”. ( ĐKKĐCY, sđd, tr 134). Nhưng mãi đến năm 1901 dưới triều Thành Thái (1889-1907), tiếng trống kêu oan mới thực hiện trở lại, nhưng chỉ kéo dài đến năm 1906 thì hết hiệu lực…

THỌ TÔN
(Nguồn: Tạp chí Văn hóa Phật Giáo số 232 tháng 9/2015)

Tài liệu tham khảo:
– Đại Việt Sử ký toàn thư T1&2, Nxb VHTT, 2004.
– Đại Nam Thực Lục, T3&7, Nxb Giáo Dục, 2007.
– Hồi ký Huế, Michel Đức Chaigneau, Nxb Thuận Hóa, 2011.