BẠI TƯỚNG CA (2)

vudinhhuy

Dịch thủy hồng nhan ôm Cầm hát
Chiều lặng lờ sương khói ra khơi
Ta vẫn còn nhau dầu giây phút
Chia cho em giấc mộng nửa vời

Em tiễn ta hai tay nâng chén
Ta nhấp môi xót phận má hồng
Thôi em về ta xin ngoảnh mặt
Cho mai này khép mắt hư không .


VŨ ĐÌNH HUY

-Mong Manh Tơ Trời

huongthuy

Thụy nghểnh đầu nhìn Thông đang bước những bước dài trên cát về phía nàng. Anh mặc chiếc quần Jean xanh,quàng ngang vai chiếc khăn tắm, cặp mắt hấp háy vì ánh nắng .
Bãi biển buổi trưa vắng ngắt.Thiên hạ đã đổ về bên kia rừng dương.Thụy nhắm mắt nằm im cho đến khi một bàn tay đặt trên vai nàng: “Em ,đi ăn trưa chứ!”
Nàng quay người nắm lấy tay Thông . Bàn tay rắn và nhớp nháp mồ hôi. Dù sao nó cũng đã đem lại sự an ổn cho nàng bấy lâu .
Và hai người ngồi đối diện nhau trong một quán vắng.
Thụy nhìn người đàn ông 34 tuổi trước mặt mình. Đôi khi nàng tự hỏi tại sao mình lạị yêu anh ấy mãnh liệt đến thế. Một người mà mình đã bỏ cả lời khuyên của ba, tiếng khóc của mẹ, bỏ cả công việc ở Sài gòn để bay ra đây, vùng địa đầu giới tuyến gian khổ nhưng có một bãi biển tuyệt vời và một cái tên vô cùng dễ thương : Mỹ Thủy.
Một tuần qua, nàng đã quen thuộc với cuộc sống của anh. Căn hầm ngầm chất đầy bao cát trong căn cứ Camp Evans. Buổi sáng,tiếng de’part của những khẩu pháo 175 ly “ Vua chiến trường”, những chiếc GMC gầm rú, tiếng tạch tè của chiếc máy truyền tin PRC 25 và những giấc ngủ ngắn vội vã…
Sau những cuộc làm tình cuồng nhiệt, hai người đều có những phút yên lặng ngột ngạt.Thụy nghĩ đến vợ anh và những đứa con: Thúy Lam,Trúc Lam và đôi khi nàng muốn khuyến khích anh làm liều để có thêm một Thụy Lam nữa.
Tránh né ánh mắt van vỉ của Thụy ,Thông thường chồm qua người nàng uống nốt tách cà phê đã nguội và châm điếu Salem. Mùi thuốc thơm tỏa ra nồng nàn.
Hai người quen nhau thật tình cờ trên chuyến bay từ Huế lên Đà lạt, khi Thụy đi nghỉ hè và Thông về thăm trường Mẹ. Dáng dấp mạnh mẽ, đầy nam tính của anh đã cuốn hút Thụy khi xách giúp nàng chiếc valise đi băng băng trên phi trường Liên Khương. Và anh đã tự nguyện làm hướng dẫn viên cho nàng trong kỳ nghỉ phép ít ỏi của mình.
Hai người đã có một ngày lang thang bên hồ Than Thở. Thông chỉ cho Thụy cái cỗng màu trắng, hai cánh như xòe ra với dòng chữ “ Tự thắng để chỉ huy” bên dưới.Thông đưa Thụy đến nơi anh đã thực tập vượt sông và xém chết đuối ; chỉ cho Thụy thấy đỉnh Lâm Viên mù sương năm nào đại đội anh đánh dấu chinh phục bằng trái pháo khói màu tím trên bầu trời Đà Lạt.
Cũng là lần đầu tiên Thụy hít thở được mùi trinh nguyên của phố đêm cao nguyên. Sương xuống giăng mắc núi đồi. Từ rạp Ngọc Lan đi ra,Thụy còn ngơ ngẩn với mối tình của hai diễn viên tài hoa Alain Delon và Romy Schneider trong phim Christine thì Thông đã kéo nàng xuyên qua con đường nhỏ đến với những gánh hàng rong trước mặt khách sạn Thủy Tiên. Những lát lạp xưởng mỏng, màu hồng đặt trên đĩa xôi nhỏ nóng bỏng. Một ly sữa đậu nành bốc khói. Không thú vị nào hơn.
Cũng có khi chỉ là hai ổ mì baguette Vĩnh Chấn,hai người đi xuống mé hồ Xuân Hương để qua vườn hoa Bích Câu ngắm những cây Mimosa lá phơn phớt bạc với chùm hoa vàng nhỏ li ti…Và Thụy đã ngã vào tay anh như một Coup de foudre , mặc kệ anh chàng hôn phu có gương mặt bụ sữa, cặp kính trắng 7 diop mà gia đình đã chọn lựa cho nàng .
Thông nhìn Thụy đầy thương xót. Lẽ ra với sắc đẹp ấy,tuổi trẻ ấy nàng có thể có một tình yêu xuôi chèo mát mái , một cuộc sống an nhàn nơi thành phố. Nhưng không, nàng yêu mình, một người línhtrong tiểu đoàn có biệt danh “Trâu điên”, có vợ hai con với một tương lai bấp bênh không biết sống chết ra sao trong cuộc chiến này.
Tuần sau vợ anh sẽ ra đây. Một người vợ vì nghĩa hơn vì tình. Anh không thể quên ánh mắt đau đáu của cha trên giường bệnh : “Con lấy vợ cha mới yên lòng nhắm mắt”. Và người trưởng nam trong một gia đình danh gia vọng tộc miền Bắc di cư đành phải cúi đầu chấp nhận dù trong tiểu đoàn anh nổi tiếng là “Robert Húc”.
Câu chuyện giữa đêm khuya của hai vợ chồng cũng chỉ xoay quanh chuyện chọn trường cho đứa con thứ nhất, mua thêm chiếc xe cho đứa thứ hai tập đi. Nhưng anh cũng không thể vì tình mà bỏ nghĩa. Và anh cứ loanh quanh với những rối rắm của mình.
Với Thụy,Thông không hề giấu chuyện mình đã có gia đình. Anh tìm thấy nơi Thụy sự đồng điệu của tâm hồn. Thụy như đọc được những suy nghĩ của anh. Thậm chí có khi hai người cùng bật ra một từ, một cảm xúc giống nhau. Thông coi Thụy như một người tri âm tri kỷ. Anh đã kể cho Thụy nghe mối tình đầu của mình năm lớp đệ tam trường Chu Văn An; chuyện anh thất tình đi lang thang ở Thảo cầm viên một đêm khuya khoắt; chuyện anh phải chạy quanh thao trường 10 vòng vừa chạy vừa la “ Đời có gì vui đâu mà cười !”.Thậm chí cũng không ngần ngại chuyện anh trở thành đàn ông trong căn nhà số 130 trên một con dốc Đà lạt vào chiều thứ bảy cuối năm.
Thụy nhỗ một cọng tóc bạc trên đầu Thông. Chỉ mới ba tháng thôi mà anh già đi nhiều quá. Khuôn mặt chữ điền đã xuất hiện nếp nhăn, mái tóc có nhiều sợi sắp đổi màu. Anh đã quá vất vả vì những cuộc họp lúc nửa đêm,những cuộc hành quân đột xuất…Mình không thể làm anh khổ thêm.
Thụy nhớ lại ánh mắt thất vọng của cha Le Fas, cái ngoẹo đầu và hai cánh tay dang rộng “Giê Su ma.Lạy Chúa tôi” khi nàng tự thú : “Thưa cha. Con đã phạm điều răn thứ sáu”. Nàng đã có hàng giờ quỳ gối ở ngôi giáo đường nhỏ trong khu nội trú Jeanne D’Arc. Thậm chí , đã có lúc nàng muốn bỏ đi thật xa để quên,để khỏi áy náy mình là người có lỗi.
Nhưng chỉ cần một lời nhắn thông qua người lính về phép, một mẫu giấy nhỏ “ Anh vừa về hậu cứ” là nàng đã bươn bã vượt hằng trăm cây số để đến với anh, để gục đầu vào vai anh hít thở mùi mồ hôi quen thuộc, một “chất gây nghiện của lính” như anh thường đùa.
Ngày mai nàng trở về thành phố và sáng sáng lại chăm chú theo dõi bản tin chiến sự hàng ngày; chiều chiều từ khung cửa sổ đếm có bao nhiêu chuyến máy bay tải thương đỗ xuống Tổng y viện Duy Tân để lo lắng ,để nhớ thương. Và sẽ bịt hai tai để khỏi phải nghe những lời oán thán của mẹ. Thành phố nhỏ nên lòng người cũng hẹp hòi.Tình yêu không công khai chỉ làm những đợt sóng ngầm thêm thập phần nguy hiểm.
Ngày mai nàng trở về thành phố để một người đàn bà khác,một người vợ danh chính ngôn thuận sẽ ra đây bên anh. Có thể nàng sẽ để sót một cái gì đấy. Những sợi tóc dài, một chiếc mouchoir hay thậm chí một cái quần lót…
Ngày mai nàng trở về thành phố để ngậm ngùi cho cuộc tình mong manh như tơ trời của mình…
Thông nhìnThụy và nói bằng một giọng đắng chát: “ Anh muốn em ở lại đến tuần sau.”
Thụy òa khóc, lắc đầu và lắc đầu…

HƯƠNG THỦY

ĐÓA QUỲNH

tranthoainguyen

Tặng Hàng Chức Nguyên

Hoa quỳnh nở khuya nay
Lặng lẽ
Đợi em về.
Tôi ngồi bên thềm rêu vách đá cũ
Sương lạnh ướt tóc dài
Đóa cô đơn buồn tím
Em có về đêm nay?

Lung linh cánh mỏng thời gian
Bướm khuya gáy dồn khoảnh khắc
Vũ trụ tôi miên man
Hương thầm mặc
Đóa hồn chấp chới dung nhan
Hiên trăng huyễn hoặc
Lạnh buốt sợi trăng vàng.

Hoa quỳnh nở khuya nay
Lặng lẽ
Đợi em về.
Tôi ngồi cúi đầu ẩn nhẫn
Ly rượu đời khờ trên tay
Đóa cô đơn nở trắng
Em ơi ! Về đêm nay!

TRẦN THOẠI NGUYÊN

HẠ KHÚC

nhatphong
1.
nơi ấy chỉ còn những bông hoa giấy đỏ trắng
nắng xao xác chảy tràn xuống ký ức lặng thinh
những con bù nhìn rơm
hân hoan nhảy múa trên cánh đồng khô hạn
ngân nga những giai điệu
của bài ca sinh tử

2.
vùng phản tỉnh loay hoay giấc mộng trầm luân
buổi chiều hồi sinh tiềm thức
những đưa rước đi về thấp thoáng mù sương
mùa lỡ hẹn thung sâu
lạc lõng đáy vàng
mưa sửng sốt

3.
những cánh tay vươn dài
cài bẫy ngôn từ
nhốt ý nghĩ tầng tầng lớp lớp
trong một bầu trời đa mang sắc màu thiện nguyện
chỉn chu
lớp vỏ bọc
nhân từ

4.
chểnh mảng hắt một giọt nắng vàng vào thiên thu
sự mất mát khởi đầu
chỉ một chiều đi
không có sự đổi trao
thuận mua vừa bán.

NHẬT PHONG

CHUYẾN TAXI CUỐI CÙNG

dinhtankhuong

Không lâu sau cái ngày giã từ công việc dọn dẹp vệ sinh để bắt đầu theo đuổi chặng đường “tìm lại những gì đã mất” thì có nhiều khó khăn phát sinh. Người ta thường nói “có thực mới vực được đạo” quả không sai một mảy may chút nào
Bước chân vào trường, ngoài những khó khăn chung như bất kỳ một sinh viên y khoa nào khác thì riêng tôi lại còn có thêm những khó khăn như tuổi tác, ngôn ngữ, tài chính… Phải thú nhận rằng, khó khăn về mặt tài chính là điều quan tâm lớn nhất và đã gây ảnh hưởng đến việc học (của tôi) nhiều nhất. Sách học và dụng cụ thực tập là những gì quá đắt đỏ trong hoàn cảnh như tôi. Tiền trợ cấp đi học và tiền an sinh xã hội cộng với tiền “ngồi nhịp chân” của vợ không đủ trang trải (thêm) cho những thứ ấy trong suốt một quãng đường dài, bởi vợ không thể xin việc toàn thời vì cần dành nhiều thời giờ chăm sóc đứa con trai (và thêm một đứa nữa sẽ chào đời).
Vừa rời khỏi giảng đường sau những buổi học là phải nhanh chân chạy ngay đến tiệm sách cũ, có khi một ngày phải tranh thủ ghé lại chỗ đó đến hai hay là ba lần, săn lùng những quyển sách (cũ) do các sinh viên đem bán lại với giá bằng một nửa của sách mới, cũng may tiệm sách này nằm ngay bên trong khuôn viên trường đại học, không xa khoa y cho lắm. Nhưng có khi, sách mới tái bản đã có những thay đổi cập nhật mà mình không biết vì thế (đôi lúc) sách cũ cũng là những trở ngại không nhỏ trong việc học tập!
Cái khó bắt mình phải tìm cho ra lối thoát bằng mọi cách, hạ quyết tâm thoát khỏi cảnh túng quẩn. Tìm việc làm bán thời thì không dễ mà lại không phù hợp với khóa học toàn thời, tìm việc làm vào hai ngày cuối tuần thì càng khó hơn. Thế là quyết định chọn nghề lái taxi, do việc làm nầy mang tính co giãn không bị ràng buộc bởi công việc hay bởi chủ nhân, ngày nào muốn lái thì chỉ việc tới công ty thuê một chiếc taxi là được, trong thời gian thi cử hay những lúc bài vở chất chồng thì được quyền “gát tay lái” mà quay sang lo chuyện sách đèn!

Thủ tục hồ sơ thi lấy bằng lái taxi, phải nhờ đến một đồng nghiệp (đã ra trường và đang hành nghề) cấp cho một tờ chứng xác nhận (đã biết) mình là người có tâm (không cần có tầm và có tài). Ông bạn cầm lá đơn lật qua lật lại, dòm tới dòm lui mấy lần rồi (nhỏ nhẹ) ngỏ lời khuyên:
-May mắn lắm mới thi đậu vào trường y, nên dành toàn bộ thời gian tập trung vào việc học, bạn có biết là rất nhiều người bị rớt mỗi năm hay không, hơn 25/170 (tổng số) sinh viên bị rớt mỗi năm đấy nhé, chỉ cần rớt một môn là coi như rớt luôn năm học ấy, năm sau phải học và thi lại tất cả mặc dù những môn đó đã đạt được điểm đậu.Nhưng điều đáng sợ nhất đó là, trong 3 năm học đầu tiên mà rớt tới hai lần (dù không liên tiếp) thì coi như phải rời khỏi trường, liệu đó mà lo học bạn à!
Lời khuyên của người bạn khiến cho tôi suy nghĩ lung lắm nhưng không đủ sức thuyết phục, cố phân trần:
– Lời khuyên của ông chắc chắn là rất đúng nhưng có lẽ tôi cần một việc làm để tránh không bị khủng hoảng tinh thần do bởi khủng hoảng tài chánh, ông làm ơn làm phước ký dùm cho tôi đi, rồi sẽ liệu mà tính sau!
Ông bạn do dự một hồi rồi cầm bút (lưỡng lự) ký tên vào tờ đơn theo sau một tiếng thở dài.

Thủ tục hồ sơ đã hoàn tất, bước kế tiếp thì không dễ chút nào, để lấy được cái bằng lái taxi cần phải vượt qua hai kỳ thi: lý thuyết & thực hành. Kỳ thi lý thuyết thì có bốn phần, phần khó nhất là “tìm đoạn đường ngắn nhất để đi từ nơi nầy đến nơi khác” (nhằm tránh tình trạng chạy lòng vòng rồi bắt hành khách phải trả một số tiền cao hơn, lúc đó chưa có GPS). Muốn có bài “tủ” của phần thi nầy thì phải ghi danh theo học ở một trung tâm luyện thi, lệ phí cao cho nên đành phải tự học. Cũng may, giờ chót có quới nhơn giúp đỡ, được một người bạn trẻ cho mượn tập tài liệu nầy, nhờ thế mà đậu ngay phần lý thuyết (đúng là chó ngáp phải ruồi!?).
Kế tiếp là phần thi thực hành, thường thì ít có ai đậu ngay trong lần thi đầu tiên mặc dù ai cũng đã rành việc lái xe (có lẽ cái bằng gì mà kiếm được tiền là bị làm khó làm dễ đấy chăng?) Nhủ lòng, một lần không đậu thì hai lần, hai lần không đậu thì ba lần… chắc rổi cũng sẽ được đậu thôi mà, hà cớ gì mà phải lo cho mệt trí!
Hôm đi thi thời tiết trở lạnh bất thường, ngồi ôm tay lái (ngay địa điểm chỉ định) chờ vị giám khảo tới, một người đàn ông tuổi độ lục tuần bước dần tới xe với một điệu bộ chậm chạp, có vẻ như đau ở một bên chân. Mở cửa bước vào, giới thiệu là giám khảo và xin lỗi đã để tôi phải chờ lâu (trễ chừng 10 phút). Tôi cười (tỏ vẻ không phiền hà) và bắt đầu làm những động tác (giả) như sửa lại kính chiếu hậu, kiểm soát các cửa đã đóng, quan sát dây an toàn đã cài, rà soát chức năng thắng tay (lúc xe đậu) và thắng chân (lúc xe chạy)…trong lúc đó thì vị giám khảo đang lấy mấy viên thuốc từ trong lọ ra uống. Liếc nhanh, tôi biết chắc là ông đang uống những viên thuốc trị bệnh thấp khớp, như một phản ứng tự nhiên, tôi hỏi:
– Thời tiết thay đổi nhanh chóng như thế nầy dễ khiến cho bệnh thấp khớp trở nên tồi tệ hơn. Dường như ông đang chịu đựng cơn đau nơi đầu gối bên trái, và ông đang uống những viên thuốc có khà năng gây chảy máu bao tử cũng như dễ dẫn đến bệnh tiểu đường, loãng xương do phản ừng phụ của chúng?
Giật mình nhớ ra rằng ông là vị giám khảo, người góp phần quyết định tương lai của mình đây, tôi vội ngỏ lời xin lỗi vì đã nói những điều không thích hợp. Ông nhìn tôi với vẻ ngạc nhiên, hỏi:
– Sao cậu biết về căn bệnh và thuốc men rõ ràng như vậy, còn trẻ mà cũng mắc phải chứng bệnh này sao?”
– Không, tôi đang theo học y khoa thưa ông!
– Năm thứ mấy?
– Năm thứ ba!
– Năm thứ ba mà đã hiểu rõ về bệnh lý và dược lý vậy sao?
– Dạ, tôi đã tốt nghiệp tại quê nhà rồi, thưa ông!
– Tại sao lại muốn lấy bằng lái taxi, không tính học tiếp nữa à?
– Đối với những người mới đến Úc như chúng tôi, khó khăn về mặt tài chánh là điều không tránh khỏi và đó chính là trở ngại lớn nhất trong suốt học trình, thưa ông. Tôi cần tiền mua sách và dụng cụ thực tập trong khi đó vợ tôi thì đang mang thai, tiền trợ cấp an sinh xã hội và tiền phụ cấp đi học không đủ trang trải cho tất cả mọi thứ, thiết nghĩ lái taxi (vào cuối tuần) sẽ giúp cho tôi được an tâm (về mặt tài chánh) để có thể tập trung vào việc học!
Suốt đoạn đường dài, ông chỉ hỏi tôi về chuyện gia cảnh, chuyện học hành, những thắc mắc về căn bệnh của ông…mà không nghe thấy gì liên quan đến việc thi (thực hành) lấy bằng lái taxi. Một chặp sau, ông chỉ định cho tôi quay trở về nơi xuất phát, trước khi rời khỏi xe ông quay sang nhìn tôi rồi hỏi:
– Cậu nghĩ sao, cậu có nghĩ là được chấm đậu (hôm nay) hay không?
– Làm sao dám đoán, nhưng có một điều chắc chắn mà tôi biết đó là, tương lai của tôi đang nằm trong tay của ông đấy, thưa ông!
– Vào phòng đợi, chờ đến khi được gọi tên nhé!
Hồi hộp ngồi chờ ở phòng đợi, nghe gọi tên mình, vội bước tới gần thì vị giám khảo đưa cho tôi một phong bì và nói lời chúc mừng cũng như chúc thành đạt trong việc học. Cõi lòng tràn ngập niềm vui suốt đoạn đường dài, chạy ngay về nhà báo tin vui cho vợ, vợ quyết định tạm dừng “ngồi nhịp chân” để chuẩn bị cho một bữa (tiệc) ăn mừng. Đứa con trai 7 tuổi chẳng hiểu gì nhưng chắc là thấy ba mẹ nó vui lại thêm một bữa ăn ngon cho nên cũng vui theo!
****
Taxi có 2 shifts chạy, mỗi shift 12 giờ: một là từ 3 giờ sáng đến 3 giờ chiều, hai là từ 3 giờ chiều cho tới 3 giờ sáng. Tôi quyết định chọn shift từ 3 giờ sáng đến 3 giờ chiều. Hỏi thăm, theo kinh nghiệm của nhiều tài xế thì một shift chạy có thể bỏ túi ít nhất là 100 đô, may mắn thì có thể trên dưới 200 đô (kể luôn tiền típ)
Hôm ấy là sáng thứ bảy, ngày đầu tiên (trong đời) hành nghề lái taxi, chuông đồng hồ báo thức vào lúc 2 giờ sáng, uống xong ly cà phê nóng, (do dự) hỏi xin vợ 50 đô (phòng hờ phải bù lỗ) rồi “xuất quân” trong niềm hy vọng xen lẫn chút bở ngỡ và lo âu!
Thuê xe xong, lái đến trạm taxi gần nhà thì đã có hành khách chờ sẵn, nơi đến là một vùng xa lạ đối với tôi (lúc ấy) mặc dù đoạn đường không phải xa lắm. Hành khách đầu tiên vừa bước xuống thì đã có một cụ bà bước lại yêu cầu chở tới một nursing home trong vùng. Vì là vùng lạ cho nên lo lắng lắm, bèn nói bịa:
– Thưa cụ, tôi thường chạy ở vùng phố chính (city) nhưng vừa có người khách yêu cầu chở tới đây, lần đầu tiên đến nơi này cho nên không rành đường cho lắm, xin bà làm ơn chỉ hộ.
– Không hề gì, chạy theo hướng dẫn của tôi nhé!
Thế là lái chạy theo sự hướng đạo của bà: tới kia quẹo trái, chạy thẳng đi, rồi quẹo phải, quẹo trái, chạy thẳng, quẹo trái, quẹo phải…cứ thế hết quẹo trái rồi lại quẹo phải, hết quẹo phải rồi quẹo trái, chẳng thấy gì ngoài chùm ánh sáng yếu ớt phát ra từ chiếc taxi, len lỏi vào bóng tối dày đặc của một buổi sáng còn vắng bóng mặt trời. Bà cụ bước xuống xe, không quên hỏi:
– Cậu có nhớ được đường quay ra không nào?
– Chắc là nhớ, cụ tử tế quá cám ơn cụ rất nhiều!
Cố moi trí nhớ để quẹo trái, quẹo phải, chạy thẳng, trái trái phải phải …một hồi thì lạc đường, mất hơn nửa tiếng đồng hồ mới quay lại được bến đậu (lúc nầy là giờ cao điểm, mất hơn nửa tiếng là mất mấy chục đô rồi). Nghĩ rằng, ngày đầu xuất quân mà lại không được may mắn lắm cho nên gặp phải bà cụ nầy!?
Thế nhưng, kết quả cuối ngày đầu tiên không tệ lắm, mang về được 60 đô (không lỗ tiền thuê xe và tiền đổ gas là lên tinh thần lắm rồi).
Bẵng đi vài tháng, cũng tại bến taxi nầy, một người khách yêu cầu chở đến cái nursing home mà trong ngày đầu xuất quân đã tới, cũng lập lại cái câu nói bịa:
– Tôi lái ở vùng city, đây là lần đầu tiên tôi đến đây cho nên không quen đường…
– Vậy à, nhớ mấy tháng trước đã gặp cậu rồi, cũng nghe cậu nói giống y chang như vậy, nhưng mà không sao cứ chạy theo sự hướng dẫn nhé.
Lúc ấy, tôi muốn độn thổ cho khỏi “quê”, là bà cụ hôm nọ nhưng tôi lại không nhận ra trong khi đó thì bà còn nhớ rõ cái bộ mặt ngớ ngẩn và đã phát hiện ra câu nói bịa của tôi nữa. Tuy nhiên, thái độ của cụ rất bình thản vẫn đối xử tử tế mà lại còn cho thêm tiền típ hậu hĩ, cộng thêm lời nhắn nhủ:
– Ráng nhớ đường nhé, nhưng cũng đừng có lo lắm, nếu lần sau mà còn quên thì sẽ chỉ tiếp cho, không hề gì!
Bổng dưng trong lòng tôi như đang nẩy mầm một thứ tình cảm thật trân quý đối với vị khách lớn tuổi và tử tế nầy. Và phải chăng là cơ duyên, những tháng năm sau vẫn thường gặp lại, những con đường dẫn tới nursing home quen thuộc cùng với những mẫu chuyện ngắn ngủi được trao đổi đã in sâu vào tiềm thức của tôi, mấy chục năm rồi mà vẫn chưa phai nhạt!
Thời gian trôi nhanh, vào giữa tháng 11 năm 1989 hoàn tất học trình sau kỳ thi tốt nghiệp, nhận được quyết định bổ nhiệm làm việc tại hai bệnh viện cách nhà không xa lắm, sẽ bắt đầu vào ngày đầu của năm dương lịch. Tranh thủ thời gian còn lại để kiếm thêm chút tiền chuẩn bị cho những ngày Tết sắp tới (lúc nầy đã có thêm một cháu gái, vợ không còn làm thêm) cho nên tôi quyết định tìm việc toàn thời, ở một cơ sở cung cấp rau tươi cho các nhà hàng và tiếp tục chạy taxi vào hai ngày cuối tuần (những ngày cuối năm là thời gian đắt khách cho nên không thể thuê xe taxi chạy trọn tuần được, chủ nhân luôn dành ưu tiên cho những tài xế toàn thời).
Chủ Nhật ngày 31 tháng 12 năm 1989 ngày cuối của năm và cũng là ngày cuối cùng (kết thúc) nghề lái taxi của tôi. Cũng tại bến đậu đó và cũng lại gặp bà cụ như trong ngày khởi đầu, tôi lẩm nhẩm một mình:
– Lạ thật, là cơ duyên hay sao, buổi lái đầu tiên và buổi lái cuối cùng (của mình) cũng đều gặp bà cụ nầy!
Hôm ấy trông bà có vẻ gầy yếu nhiều hơn, khác hẳn với lần gặp trước cách đó mấy tháng. Chờ cho cụ ngồi yên vào ghế, tôi bắt đầu chạy theo lộ trình như mọi khi, nhưng bà vội nói:
– Không phải về lại nursing home như mọi khi nữa đâu, chạy theo hướng chỉ dẫn của tôi nhé.
Giọng nói của cụ cũng thay đổi khá nhiều, vẻ bên ngoài và giọng nói đó đã báo cho tôi biết rằng, dường như cụ đang lâm trọng bệnh. Ra hiệu cho tôi dừng lại trước cổng một ngôi thánh đường và căn dặn:
– Chờ chừng 30 phút nhé!
Bước đi không vững nhưng cụ từ chối sự giúp đỡ. Quay lại xe ngồi chờ, nghĩ mông lung về cuộc đời, đời người và đời mình…một chút gì đó tựa như làn khói mỏng vướng lẫn vào tâm hồn. Tiếng đồng hồ tính tiền đều đặn phát ra mỗi lần nhảy số, không lớn lắm nhưng dường như đang đánh thức, như khơi dậy cõi lòng trĩu nặng nghĩ về cuộc sống vô thường trước mắt!
Bước ra từ ngôi thánh đường, dường như tinh thần cụ có vẻ phấn chấn và tự tin hơn. Cụ chỉ đường cho tôi chạy tiếp, dẫn về một ngôi nhà ở ngoại ô thành phố, không gian thật yên tĩnh, môi trường trong lành, căn nhà dường như vắng người cũng đã khá lâu, lá vàng rơi rụng và những ngọn cỏ mọc cao chung quanh khu vườn đã nói lên điều đó. Nhờ mang hộ chiếc va ly xách tay (hơi nặng) vào nhà, tay cụ run run tra chiếc chìa khóa mở cửa, đẩy cánh cửa và ra hiệu cho tôi vào nhà. Bước theo vào hẳn bên trong nơi phòng khách, thấy trên tường có treo một phóng ảnh của một thanh niên mặc bộ quân phục trong độ tuổi đoán chừng trên dưới 30. Trên mặt bàn đối diện có hai lá cờ được cắm chung trong một chiếc bình làm bằng vỏ đạn: một lá cờ Úc và một lá cờ vàng ba sọc đỏ, hình ảnh nầy làm cho tôi không khỏi ngạc nhiên!
Chưa kịp hỏi thì bà cụ đã chỉ tay vào bức hình và nói lẫn cùng hai dòng lệ:
– Thằng con trai duy nhất của tôi đấy, nó chết lâu rồi!
– Anh ấy đã tham chiến ở Việt Nam và hy sinh bên đó?
– Không, có lần đụng độ với Việt Cọng nhưng nó không chết, chỉ bị thương xoàng thôi!
– Thế, anh ấy chết vì một căn bệnh hiểm nghèo?
– Vâng, cứ coi là như vậy! Trở về từ chiến trường Việt Nam thì hôn nhân bị đổ vỡ, có lẽ chiến tranh đã khiến tính tình của nó thay đổi khá nhiều, dẫn đến những thay đổi (tệ hại) cho cuộc đời về sau của nó và kết thúc bởi chứng trầm cảm rất nặng do không phát hiện kịp thời!
– Xin lỗi cụ, (miền Nam) Việt Nam đã nợ mẹ con cụ một món nợ lớn!
– Không đâu, bọn phản chiến trong nước (Úc) là kẻ mắc nợ chúng tôi. Những đứa sinh viên rảnh việc bị xúi giục cộng thêm vài chính trị gia cánh tả đã phản bội lại những người như con tôi, những người đã hy sinh tương lai để góp phần chận đứng sự lan tràn của làn sóng đỏ.
Tôi chợt nhớ tới hình ảnh mấy năm trước đó, lần ghé vào tham quan trường đại học, thấy một cậu sinh viên Úc mặt còn non choẹt (chừng 18 tuổi đời) tay cầm cái tấm bảng nhỏ với mấy chữ viết bằng tay ngoằn nghèo, ngắn ngủi: “PEACE, NO WAR, USA: DIS-ARM!”, cậu mang nó đi tới đi lui nhưng chẳng gây được một sự chú ý nào từ đám đông sinh viên, cho đến lúc tôi tiến tới gần và hỏi hắn:
– Why don’t you ask Russia and China to be dis-armed, but America?
Cậu thanh niên đứng lớ ngớ không biết trả lời làm sao trong khi đó thì có nhiều tiếng vỗ tay và tiếng cười vang cả một góc sân trường, rồi cậu ta vội bước nhanh ra khỏi đám đông đang vây quanh. Sau nầy tôi mới biết cậu ta là sinh viên mới chập chững bước vào ngưỡng cửa đại học, bị ru ngủ và lôi kéo vào những hoạt động phản chiến của đoàn thanh niên sinh viên cọng sản (Úc), một tổ chức hợp pháp và đã tự nó tan rã, cùng chung số phận với đảng cọng sản Úc cũng như tại nhiều quốc gia khác trên khắp thế giới, kể từ những năm sau1988.
Bàn tay yếu ớt của bà lay nhẹ cánh tay tôi, đánh thức tôi trở về với thực tại. Bà cầm tờ giấy bạc nhét vào tay tôi, nhìn tờ giấy bạc có mệnh giá lớn, bèn tìm lời từ chối:
– Tờ bạc lớn quá, không có đủ tiền thối lại, thưa cụ. Thôi, cụ cứ giữ dùm khi nào gặp lại tôi sẽ nhận.
– Hãy cầm lấy đi, có lẽ đây là chuyến taxi cuối cùng của đời tôi, cầu xin Chúa ban phước lành cho cậu!
Nhiều ngày sau đó (và cho đến hôm nay) tôi mãi còn thắc mắc:
– Chuyến taxi cuối cùng, sao lại có sự trùng hợp như thế!?
*****
Phiên trực đêm 26 tháng Giêng năm 1990 nhằm ngày Quốc Khánh (của nước Úc), rơi đúng vào ngày cuối năm âm lịch. Không còn bao lâu nữa phiên trực sẽ chấm dứt (đúng ngay giờ giao thừa, khoảnh khắc bước qua năm mới canh Ngọ) thì nghe báo có một trường hợp cấp cứu ở khu điều trị ung thư do chứng thiếu máu cấp tính, vội chạy tới ngay. Cũng lại là bà cụ hành khách thường xuyên của tôi trước đây, ánh mắt mệt mỏi nhưng không dấu được vẻ ngạc nhiên, cụ nhìn tôi chăm chăm rồi thì thào trong hơi thở yếu ớt:
– Có phải là cậu, là tài xế taxi? Ồ không, tôi lầm rồi, xin lỗi bác sĩ!
– Đúng là tôi đây, chúng ta vẫn còn (cơ hội) gặp lại đây mà, thưa cụ!
– Nhưng hôm ấy, là chuyến taxi cuối cùng của đời tôi cậu ạ!
– Vâng, cũng là chuyến taxi cuối cùng của tôi nữa, thưa cụ!
Nhìn qua hồ sơ bệnh lý biết được cụ đã nhập viện khẩn cấp vì chứng thiếu máu do căn bệnh ung thư bao tử ở giai đoạn cuối, nhập viện ngay cái hôm mà tôi đã đưa cụ về thăm nhà, cái ngày được ghi nhớ như “chuyến taxi cuối cùng” trong đời cụ và nghề nghiệp của tôi!
Tôi bắt đầu mọi thủ tục cấp cứu trước khi khám lâm sàng, lấy mẫu máu gởi xét nghiệm và báo cáo cho bác sĩ chuyên khoa trực. Xong xuôi công việc thì đã qua khỏi giờ giao thừa, năm cũ đã qua và năm mới đã tới, bàn giao ca bệnh lại cho một bác sĩ ngoại trú (resident). Sức khỏe cụ lúc nầy khá yếu cho nên không tiện nói gì thêm, hẹn với cụ là sẽ đến thăm vào ngày hôm sau, ánh mắt như đã nói cho tôi hiểu rằng cụ cũng mong chờ như thế!
Vào chiều hôm sau, đến bệnh viện sớm hơn để có cơ hội gặp lại vị hành khách tử tế, một người mẹ đáng thương và cũng là bệnh nhân qua đêm của tôi. Choáng váng khi được cho biết, bệnh ung thư bao tử ở giai đoạn cuối không cho phép bác sĩ thực hiện thủ thuật nhằm ngăn chận chứng chảy máu cấp tính, nguyên nhân đã cướp đi sinh mệnh của người bệnh.
Lửng thửng bước về phòng cất giữ tử thi, xin phép được nhìn mặt cụ lần cuối, khuôn mặt quen thuộc với đôi mắt chưa khép kín. Đưa tay vuốt nhẹ và thầm cầu nguyện cho linh hồn người quá cố sớm về nước Chúa!

Viết xong ngày 24/01/2014
ĐINH TẤN KHƯƠNG

Vô ngã

chuvuongmien

hiện tượng là vô ngã
sự vật là vô thường
buổi sáng hoa bụp nở
buổi chiều hoa bụp tàn
ngàn xưa đã như vậy
khời thủy là chữ duyên
nơi Hà Nhai vãn độ
neo đó một con thuyền
nhổ neo là bến giác
nước chấy chẩy ưu phiền
bao si mê sân hận
theo gió lộng từng cơn
vũ trụ là vô ngã
thân ta là vô thường

CHU VƯƠNG MIỆN

TẠP NHAM

nguyentancu

Cái bi thảm nhất của con người là hằn học
Cái bi kịch nhất của con người là ganh ghét
Cái bi thương nhất của con người là đau giận
Cái bi đát nhất của con người là ngu ngốc đẹp
Cái bi lụy nhất của con người là buồn tức ..chết

Vậy nên mới nỗi điên khi một ai đó khích tướng
Vậy nên mới nỗi khùng một khi bị ai đó lãng quên
Vậy nên rất dễ nỗi quạu một khi bị ai đó thọc ngầm
Và cũng dễ thành bất an khi tình không còn như cũ
Không còn đi chung đường khi không còn yêu thích

Cảm giác như hư không khi ngày sập xuống đêm dài
Khi bóng tối dần lan trong cuộc đời không còn rậm rạp
Không còn biết đi đâu khi cô đơn đã rúm với chăn trùm
Những kẻ không bao giờ cô đơn thì cô đơn khủng khiếp
Những kẻ khủng khiếp cô đơn thì không chắc đã một mình
Những kẻ sống một mình chưa chắc gì trở thành cô quạnh
Những kẻ đang sống bình an chưa chắc hẳn sống yên bình

Sống yên bình chưa chắc hẳn là không thèm muốn chiến tranh
Những kẻ ưa thich chiến chinh chưa chắc đã người chinh chiến
Những kẻ buồn quá cũng muốn gào lên cho đời thôi nhàm chán
Những kẻ chán quá cũng tìm mọi cách rống lên cho đời ta có mặt
Người nhàm chán không biết làm gì cũng gào lên như chính khách
Những chính khách cũng điên tiết lên khi buộc cũng phải …thét gào.
NGUYỄN TẤN CỨ

CHUYỆN NHẢM NHÍ

phamhoainhan

[Nhắc nhở: Tựa bài đã ghi rõ đây là chuyện nhảm nhí, vì vậy đề nghị bạn đừng đọc. Nếu lỡ đọc, thì khi đọc xong xin chớ có trách viết gì mà nhảm nhí quá!]

Tèo là một tay viết tin lỗi lạc trong làng báo điện tử ở thành phố. Dượng Tám là một biên tập viên của đài truyền thanh xã ở nhà quê. Hôm nay Tèo về quê thăm dượng, dượng Tám không nề hà gì chuyện mình lớn rồi mà còn đi học ở con nít, quyết nhân cơ hội này nhờ Tèo chỉ bảo cho một số kinh nghiệm làm báo.

Trưa nắng, hai dượng cháu đi trên đường làng. Bên đường có đám trẻ đang cuốc cỏ, làm rẫy. Tèo nhìn, xuýt xoa rồi nói với dượng Tám:

Đây là đề tài viết tin nè dượng Tám. Dượng viết ngay cái tin có tít là: Đắng lòng trẻ thơ dãi nắng dầm mưa.

Dượng Tám chưng hửng. Tụi nhỏ làm cỏ là chuyện thường ngày, một buổi đi học, một buổi giúp việc nhà, có quái gì phải viết tin. Lại còn đắng lòng nữa. Nhưng thằng cháu giỏi giang của mình đã nói đắng thì cứ tin là đắng vậy.

Ôi, đắng lòng quá!

Như có hẹn, Tèo vừa nói dầm mưa thì trời chuyển mưa. Hai dượng cháu núp vô một cái chòi gần đó. Đám trẻ thì không trú mưa mà khoái chí nhào ra tắm mưa. Trong đám có một vài bé gái vừa bước qua tuổi dậy thì, nước mưa ướt áo quần làm lộ ra những đường cong khá khêu gợi. Tèo ngắm nghía rồi trầm trồ:

Lại có bài mới đây dượng Tám. Bài có tít là Bỏng mắt thiếu nữ trẻ đẹp lộ hàng trong mưa.

Dượng Tám nghĩ thầm: Trời mưa lạnh thấy mẹ chớ có nóng gì đâu mà nó nói là bỏng mắt. Nhưng thằng cháu giỏi giang của mình đã nói bỏng thì cứ tin là bỏng vậy.

Mưa tạnh, hai dượng cháu ra về. Cùng lúc đó không biết có chuyện gì đám con nít xúm chùm nhum lại gây gổ với nhau. Tèo lại vỗ vai dượng Tám:

Nếu dượng muốn viết thêm tin nữa thì tới coi tụi nó gây gổ chuyện gì, rồi về viết bài có tít là: Cộng đồng mạng ném đá chuyện xyz.

Dượng Tám nghĩ mà phục Tèo sát đất. Chuyện hổng có gì hết mà nó nghĩ ra được tới 3 bài viết với cái tít thiệt kêu. Đúng là nhà báo thành phố có khác!

Chiều tối, để cảm ơn, dượng Tám rủ Tèo nhậu dưới gốc sung sau nhà.

Buổi nhậu ấy có món mắm ruột là đặc sản quê hương làm bằng ruột cá ngừ. Món này rất ngon nhưng khách phương xa ăn chưa quen sẽ cảm thấy đắng. Tèo cũng vậy, đắng tới nhăn mặt. Dượng Tám cười, gật gù ra vẻ hiểu được điều gì đó.

Món kế tiếp là bò né. Ta đã biết đây là món thịt bò chiên trong chảo gang, dầu mỡ văng xèo xèo khiến người ăn phải né sang một bên, do đó gọi là bò né. Tèo né không kịp nên bị văng dầu mỡ vô mặt, đưa tay lên dụi mắt. Dượng Tám lại cười cười.

Đang nhậu thì mấy trái sung rớt bồm bộp xuống mâm. Dượng Tám cười hì hì, nói: ở nhà quê có dzậy mới dzui con à!

Buổi sáng, Tèo đang nằm lơ mơ ngủ thì nghe cái loa truyền thanh xã ra rả đọc các tin như sau:

Đắng lòng chàng trai trẻ ăn mắm ruột quê hương
Bỏng mắt với món bò né tuyệt hảo
Cộng đồng sung ném trái vào chuyên gia truyền thông cao cấp.

Tèo rên lên: Hừ, đúng là nhảm nhí!

Ừ, đúng là nhảm nhí thiệt. Đã biết vậy sao bạn còn đọc làm gì?

PHẠM HOÀI NHÂN

CẮN CỎ GỌI EM

 

tranvanle

Cầm như là Chuyện Giữa Đường,
mình chia tay nhé, không-buồn-không-vui,
thơ anh không có ngậm ngùi
và môi em vẫn nụ cười rất xinh…

Chúng ta chưa phải chúng mình,
chúng ta chung lối ngang Đình, đi ngang,
người về Bắc, người về Nam,
thản nhiên như bóng mây tan cuối trời…

Mây tan, mây đã tan rồi!
Đợi mây tụ lại…anh ngồi quạnh hiu.
Anh ngang Đình một buổi chiều,
nghe chân bỗng mỏi, nghe xiêu tấm lòng…

Hiểu câu Phật: Sắc là Không,
hiểu em là một người-dưng-giữa-đường,
cái duyên tiền kiếp không còn…
thì anh thai nghén cái buồn kiếp sau!

Thơ anh, vậy, vẫn ngọt ngào…
tưởng đâu lá trúc rớt vào ao sen,
rớt vào hoa không vào em.
Cảm ơn cơn gió vừa lên bất ngờ!

Cảm ơn đời vẫn còn thơ,
nếu anh buồn nói bây giờ…là vui!
Chúng ta đi chẳng khứ hồi…
như Quê Hương nhỉ, muôn đời ta xa…

Quê người cỏ lợt sương pha,
áo em mảnh lụa trăng tà Huế mô?
Quạnh hiu đồng nghĩa bơ vơ,
anh nhai cọng cỏ anh chờ trăng tan!

Trần Vấn Lệ

NHỎ BẠN NGÀY XƯA

khatiemly

Ngày lớn ròng hai lần con nước,
Mi nhỏ chưa cong, tóc nhò chưa dài.
Vú cau thẹn nằm sau áo ướt,
Ta nợ cái nhìn ở tuổi mười hai!

Giã biệt nhỏ ta lên thành đi học,
Để nợ bãi bồi, để nợ dòng sông.
Không ai chọc, mà sao nhỏ khóc?
Làm bông bần rơi trắng mênh mông.!

Một hạ ta về thăm sông cũ,
Tóc búp bê, giờ óng ả mượt mà.
Đinh áo chẻ cao, khoe chút da trắng muốt,
Thêm một lần ta nợ áo bà ba!

Hàng rào thưa ngăn nhà ta, nhà nhỏ.
Mà xem như cách mấy dòng sông.
Ai giả bộ đem áo ra phơi gió,
Để nhìn nhau, má nhỏ ửng hồng hồng.

Theo lốc xoáy, ta thành thân viễn xứ,
Cây bần xưa buồn bã đón ta về.
Vắng ai đó bên dòng sông năm cũ,
Mấy bông bần theo gió rụng lê thê.

Mười tám tuổi, nhỏ tay bồng tay bế.
Bởi con bướm vàng đậu nhánh mù u.
Ta chết lặng, nhỏ nhìn ta ứa lệ,
Ta nợ nhỏ rồi, ánh mắt thiên thu!

Kha Tiệm Ly