NHỮNG THÁNG NGÀY CHẬT HẸP

chuthuynguyen

chiều giấu mặt vào tháng ngày vụt mất
một bờ thu ai hái nhặt mưa giăng ?
sóng hung hãn trong tấc lòng quạnh quẽ
biển ơ thờ không níu vội chân em

cánh cửa khép trời ngoài kia lá cỏ
đất ôm cây đẫm lệ những mù sương
xao xác nhớ dương cầm rung tơ liễu
gọi thầm ai hay bóng dáng thiên thu ?

dốc phố cũ nằm bên trời ửng tím
quen gót chân người lữ khách hôm xưa
manh áo lụa phất phơ hồn rách nát
bước lang thang níu vội mấy cành khô

đã lâu lắm hanh hao mùi nắng ấm
hái thinh không vun xới một vườn trăng
tay núm níu bóng vờn bay xứ khác
một mình ngồi an trụ với hư không

chiều giấu mặt vào tháng ngày vụt mất
nhớ lền khên trăng gió những ngày qua
núi quanh quẩn và dốc đèo mê mải
may còn em trong cổ tích chiêm bao …

Chu Thụy Nguyên

TIẾNG CHUÔNG NGÂN ( Phần 2)

nguyenthingoclan

Mùa Hè năm 1972.

Hải Đường nhìn mọi thứ màu sắc hơn. Có gì đó đang dần thay đổi trong tâm hồn thơ dại của cô. Nó đến bất ngờ như cậu bé mỗi đêm ngồi dưới giàn hoa giấy. Hải Đường viết trong Đặc san Thềm Văn năm bảy hai : “Em ước ao được nói với những kỷ niệm thương yêu của ngày xưa cũ rằng. Ánh mắt và ý nghĩ trầm mặc đã đưa em vào cõi thần tiên. Để em lạc lối trên những đường mây rộng thênh thang..”( Lời Cho Kỷ Niệm)

Mùa hè thay đổi cuộc đời cô sau này.

Khách đến quán thường xuyên xuất hiện người đàn ông khoảng hai lăm tuổi. Một trung úy đang làm việc tại TTHL Lam Sơn. Đều đặn và chăm chỉ mỗi đêm, tiếp đó là cả thời gian sau giờ làm việc. Người đàn ông này nói giọng Bình Định rất khó nghe, hay chăm chú nhìn khi Hải Đường xuất hiện trong quán hay lúc đi học về. Đâu phải cô chưa chạm với những ánh mắt như vậy nhưng sao con người này có một cái nhìn rất khác. Nó vừa mãnh liệt lại vừa đáng sợ. Cái nhìn như nuốt chửng lấy con người cô, buộc Hải Đường cảnh giác với cái nhìn đó vì linh tính như có điều gì không hay đang đến.
Một thời gian sau, người đàn ông này bắt đầu lân la vào nhà nói chuyện với Ba Mẹ và cả anh của cô nữa. Số lần đến ngày càng nhiều và thời gian cũng cứ kéo dài thêm ra. Hải Đường có ý đề phòng ông ấy dù chưa rõ được ý đồ của ông ta lắm.
Cậu bé si tình cũng chăm chỉ đến uống cà phê. Ngồi dưới giàn hoa giấy vào khoảng thời gian từ bảy đến tám giờ mỗi đêm sau đó mới chịu về học bài, cũng là lúc Hải Đường ngồi học bên cửa sổ. Cô bắt đầu chú ý đến cậu bạn học cùng lớp kỳ lạ này vì tò mò pha lẫn chút khó chịu. Không như những người khác, cậu bé hay ngồi quay lưng lại phía cô. Đó là điều ngạc nhiên Hải Đường muốn biết. Sau này anh nói vì quá lo sợ cho cô trước những người lính mặc đủ loại quân phục này. Anh ví Hải Đường là con mèo con và anh cũng vậy. Anh đã nhiều lần nhìn cô phải chống chọi đơn độc trước những lời lẽ khiếm nhã của một số người. Đã trông thấy nhiều lần cô phải vụt chạy lên lầu trước hành động suồng sã của một vài người lính có học nhưng thiếu nhân cách. Cậu bé vẫn ngồi đó nhưng chỉ biết im lặng bất lực nhìn.

Rồi mùa hè đến, phải chia tay bạn bè, lớp học . Ba tháng này là khoảng thời gian buồn chán nhất. Hải Đường ngồi quầy ban đêm, còn ban ngày trông giữ mấy đứa em, giúp mẹ pha chế cà phê. Với cô, mỗi tối bốn tiếng đồng hồ là thời gian như bị đày đọa. Trừ những lúc phải tính tiền cho khách, cô luôn cúi đầu đọc sách hay tờ báo nào đó để tránh những cặp mắt nhìn, những lời chọc ghẹo.

Một hôm, Mẹ nói chuyện với Hải Đường:
– Quán cà phê mình bây giờ ngày mỗi đông khách, việc làm ăn đang thuận lợi. Thôi, con nghỉ học để giúp Ba Mẹ, rồi vài năm nữa lấy chồng, Mẹ đã chọn người cho con rồi.
Hải Đường choáng váng. Mọi thứ đổ sập trước mặt. Không nói được lời nào nhưng nước mắt cô tuôn dài. Mẹ! Mẹ nỡ đối xử với con như vậy sao? Hải Đường thảng thốt, nghẹn ngào.

Đêm đó vào phòng nằm úp mặt trong gối cô chỉ biết thổn thức khóc thầm. Từ bên ngoài, Hải Đường nghe tiếng Ba mẹ cãi nhau. Ba nói:
– Con nó còn nhỏ. Bà hãy để cho nó yên thân mà học hành.
– Nó không còn nhỏ nữa. Mười sáu tuổi rồi. Gia đình người ta giàu sang, có địa vị xã hội – Rồi sau này bầy em nó cũng được nhờ.
Tiếng Ba hét lớn rồi sau đó là tiếng ly tách vỡ. Hải Đường sợ hãi đóng kín cửa phòng ngồi khóc. Ba ơi! chỉ có ba yêu thương con gái thôi.
Hải Đường khóc suốt đêm, không hề chợp mắt. Đầu óc quay cuồng với hình ảnh bạn bè, trường lớp. Cô mất hết rồi sao? Chẳng lẽ niềm vui tuổi hồng đã nhường bước cho nỗi buồn tuổi trẻ, như lời anh viết trong bài “ Ngỡ ngàng” cuối năm học lớp 10 Đặc San Thềm Văn Hè 1973. Nửa khuya, Hải Đường bật dậy lấy tập vở ra viết vội nỗi lòng mình.
Bài viết “Cho mùa Hạ Cuối” cũng được đăng trong cuốn Đặc San năm đó.

Ba mẹ giận nhau cả tuần, hai người không nói với nhau một lời nào. Thỉnh thoảng ba đến bên cô an ủi:
– Con gái đừng lo nghĩ nhiều, Ba không để cho con nghỉ học đâu…
Niềm hy vọng được đến trường nhen nhúm. Trái tim bắt đầu vui trở lại nhưng Hải Đường không còn những ý nghĩ ngây ngô như trước nữa. Sau sự cố đó cô trầm lặng hơn, chỉ nói chuyện với Mẹ khi cần thiết.
Nghỉ hè một tuần không thấy “ Nửa Miệng” xuất hiện nơi cái bàn gần gốc cây bông giấy. Đầu óc Hai Đường phải đối phó với chuyện bị mẹ ép nghỉ học lấy chồng nên cô ít quan tâm đến mọi chuyện chung quanh. Dù vậy Hải Đường cũng cảm thấy thiếu thiếu điều gì đó ở góc sân nhà. À! Vậy là “Nửa Miệng” về quê nghỉ hè rồi. Hải Đường không biết năm học đến cậu ấy có còn vào nữa hay không? Và hơi thắc mắc, tại sao về quê lại không từ giã cô một lời nào. Tệ vậy sao?

Mỗi đêm ra ngồi quầy, bao cặp mắt nhìn ngắm nhưng cô vẫn thấy thiếu vắng một cái gì đó, nó mơ hồ, trong suốt, Hải Đường không nhận ra là cái gì. Dưới gốc cây hoa giấy đỏ, chiếc ghế ấy luôn có người ngồi nhưng không phải là dáng ngồi quen thuộc cô hay nhìn thấy. Dáng ngồi quay lưng về phía cô.

Giữa tháng tám năm bảy hai. Trong một tối ngồi quầy, Hải Đường vẫn thường cúi đầu để đọc sách. Bất ngờ cậu bé xuất hiện trước mặt, khẽ nói: “Hải Đường này! Quà quê mình ..”. Thoáng giật mình, cô ngước nhìn. Cũng bất ngờ với chính mình, Hải Đường nhoẻn miệng cười với anh.
– Khỏe chứ!
– Ừ, khỏe. Về quê có chi vui không?
– Vui lắm, gặp lại bạn học cũ, bọn nó dẫn đi suốt ngày… mà nhớ quá nên vào.
Hải Đường nhận gói kẹo gương :
– Cám ơn… nhé!
Cậu bé cười nửa miệng:
– Cám ơn… rứa thôi à? Mà thôi. Được trả lời, vui rồi. Cám ơn lại nhé.
Từ đó hai người gần nhau hơn, bắt đầu trò chuyện qua lại dù chỉ vài câu ngắn ngủi trong mỗi đêm cậu bé đến ngồi bên gốc cây bông giấy.
Thỉnh thoảng Hải Đường có cảm giác như ai đang vân vê mấy sợi tóc của mình từ phía sau. Thỉnh thoảng cô lại hay nghiêng mình nhìn ra ngoài cửa sổ, nơi có nhánh sầu đông đơm hoa tím rung nhẹ trong gió.

Sự gần gũi thân mật của Hải Đường và anh không qua được cặp mắt của người mẹ. Cô không được ngồi quầy mỗi khi anh đến nữa. Bà nghiêm khắc không cho cô quan hệ với bất cứ người con trai nào, ngoại trừ một người. Người cha quyết liệt đấu tranh để cô được đi học trở lại, đó là niềm mơ ước và hy vọng nhất của cô. Bởi nơi đó cô còn có được bạn bè, còn được anh vô tình vuốt những sợi tóc cố tình để quên trên bàn học sau lưng. Bởi cô biết, chỉ cần quay lưng sẽ có nụ cười. Tuyệt tác của Leonardo Da Vinci.

Rồi năm học mới cũng đến, Hải Đường vui hót như chim sơn ca, líu lo với bạn bè. Điều này khác với tính dịu dàng, nhỏ nhẹ, trầm tư của cô học trò mười sáu tuổi khiến cho bạn bè ngạc nhiên. Nhưng tận trong sâu thẳm cô vẫn lo lắng về một ngày phải xa trường, may mắn điều đó bây giờ chưa xảy ra.
Hải Đường và cậu bé không còn học chung một lớp nữa. Dốt Toán nên cô chọn ban C. Còn anh học ban B. Học riêng hai lớp nhưng hằng ngày họ vẫn gặp nhau. Tình cảm chưa bộc lộ rõ ràng với nhau bằng lời nói nhưng mỗi lúc tan hoc mắt lại vội vã tìm mắt, gởi đi thông điệp dại khờ của tuổi học trò. Chàng trai luôn sôi nổi giữa đám đông, còn Hải Đường kín đáo, rụt rè giữa hai người bạn gái.

Sau này gặp lại nhau giữa tiệc cưới con trai Hải Đường, anh nói đùa với hai bạn của cô rằng ngày ấy anh ghét hai người lắm .

Người đàn ông vẫn xuất hiện thường xuyên bên trong quán cà phê. Có thể bất cứ giờ nào trong ngày. Hải Đường ghét con người này, nhất là cái nhìn đắc thắng, thách thức dành cho cô.
Một lần đang ngồi học bài, ông ấy đến sau lưng Hải Đường tự lúc nào, cúi đầu sát mái tóc cô. Nghe hơi thở nóng ran từ phía sau, Hải Đường giật mình quay lại và bắt gặp cái nhìn nóng bỏng trên khuôn mặt của ông ấy. Cô đứng phắt dậy, hét lên: “Anh làm cái trò gì vậy?”. Người mẹ xuất hiện đúng lúc giải cứu cho ông ta: “Giao! giúp cô cái này tí ”- Ông ta vội vã quay đi, còn tôi không còn tâm trí nào để học nữa.

Người đàn ông cứ luẩn quẩn trong nhà như bóng ma, khủng bố tinh thần khiến Hải Đường bắt đầu cảnh giác mỗi khi ông đến. Nhiều lần ông Giao lân la đến trò chuyện, nhưng cô tuyệt đối không nhìn, không trả lời. Cô ghét con người này và đôi lúc tỏ ra thái độ khó chịu, lẫn chút coi thường cho ông ta biết.
Không thuyết phục được Hải Đường, ông ấy càng ngày càng tìm cách thân mật với Ba Mẹ cô hơn. Mặc dù còn nhỏ nhưng cô cũng nhận ra được con người này đang tìm mọi cách để chiếm đoạt được mình. Ba cô càng ngày càng xuôi theo ý Mẹ. Vì ông là con người mềm mỏng, dù không muốn nhưng người mẹ quá cương quyết và cứng rắn nên cũng đành buông xuôi.

Anh vẫn thường đến uống cà phê mỗi đêm. Vẫn ngồi nơi cái bàn cũ dưới giàn hoa giấy và quay lưng lại phía Hải Đường ngồi học. Hiếm hoi lắm hai người mới nói được với nhau vài câu. Nhìn nhau, gửi cho nhau nụ cười.

Thời gian này Hải Đường nghe mọi người nói anh quen một cô nữ sinh tên Kim Anh học sau cô hai lớp. Cô hỏi điều này có đúng không nhưng chỉ nhận ở anh nụ cười.
Nụ cười đáng ghét! Nụ cười đểu, không còn thánh thiện nữa. Hải Đường giận anh.
Sau lần ấy, Hải Đường không nhìn anh, không nói câu nào dù mỗi đêm cô vẫn trông ngóng anh và anh vẫn đến ngồi bên gốc cây bông giấy.

Một buổi tối, vào khoảng tháng mười hai, sau giờ học bài Hải Đường đứng dậy nhìn ra không thấy anh ngồi đó nữa. Trên cửa sổ có bì thư nhỏ tự gấp, cô cầm lên và mở ra xem. Đó là bức thư đầu tiên anh gởi cho cô: “ Xin lỗi chuyện vừa qua. Không có điều gì xảy ra như Hải Đường nghĩ đâu. Chỉ mong rằng nếu Hải Đường là một loài hoa thì ta xin làm Xuân bốn mùa để hoa nở mãi”. Đọc thư, Hải Đường mỉm cười “ Bày đặt! Bốn mùa hoa nở mãi. Không tin!”

Có phải lá thư ngỏ lời của anh dành cho cô? Hải Đường cố suy nghĩ để tìm hiểu về ý nghĩa của lá thư anh viết. Phất phơ quá! Anh không đến quán trong mấy ngày sau đó. Hải Đường ghét, giận, hờn nhưng vẫn đợi chờ mỗi đêm bên cửa sổ nhìn ra. Hằng ngày đi học hai người vẫn gặp nhau nhưng cô cương quyết nén lòng không nhìn mặt anh lần nào, Hải Đường vẫn còn giận anh.

Một ngày, hai ngày, ba ngày rồi đến đêm thứ năm anh đến, vẫn ngồi quay lưng. Hải Đường xếp sách vở lại sớm hơn và đi ra quầy thu ngân, cố tình đi ngang qua chỗ anh ngồi nhưng giả vờ như không thấy. Anh gọi khẽ:
– Ơ!.. này!.
Cô vẫn không quay lại. Lát sau anh đứng dậy và ra quầy tính tiền để về. Hải Đường ngước mắt lên nhìn anh hỏi nhỏ:
– Đúng vậy không?
– Là sao?
– Chuyện hôm trước nói đó.
– Không đúng! Còn lá thư của họ thì sao? Giận dai rứa?
– Đọc rồi. Có gì đâu mà giận. Có giận ai đâu.
Hải Đường trả lời mà như không quan tâm đến câu hỏi.
– Vậy huề nhé. Mai lên trường gặp nghe. Mà nè! Suy nghĩ gì không?
Cô nhăn mặt khó chịu:
– Không thèm suy nghĩ. Có chi đâu bận tâm.
– Thiệt không?
– Sao lại không?
– Không mà sao lại giận? hơ..
Hải Đường nhìn sâu vào mắt anh:
.- Thôi, về đi. Mẹ gần ra rồi.
– A! Hết giận rồi. Nhớ vui nghe.
Anh nở nụ cười của Mona Lisa rồi quay lưng bước đi không thèm chúc cô ngủ ngon. Hải Đường tức lắm.

Trái tim cô gái mười sáu tuổi đang vui, hạnh phúc với tình yêu đầu đời vừa chớm nở. Hải Đường hay cười và nói chuyện nhiều hơn với bạn bè.
Năm học này cô tham gia văn nghệ của trường với nhiều tiết mục nên chuyện ảnh hưởng rất nhiều đến việc học. Có những buổi không đi học nhưng vẫn phải đến trường để tập dợt. Có lý do để thoát ra khỏi nhà, Hải Đường rất sung sướng vì thấy mình được thật sự tự do, được thoát khỏi đôi mắt theo dõi của Mẹ và nhất là tránh được con người mà cô ghét nhất, ông Giao.
Một hôm nghỉ học buổi chiều, đang quét dọn trong nhà thì ông Giao đến gần:
– Hải Đường cho phép anh ngồi nói chuyện chứ?
Cô nhìn thẳng vào mắt ông, mặt nghiêm nghị không cảm xúc:
– Được! Nhưng hình như anh đã nói hết với Ba Mẹ tôi rồi mà?
Ông Giao ngồi xuống ghế đối diện:
– Em ngồi đi. Em mới là người tôi cần nói.
Im lặng lúc lâu như để lấy can đảm, ông nhẹ nhàng từng tiếng:
– Tôi muốn lấy Hải Đường làm vợ. Em có cho tôi cơ hội không?
Cô trả lời ngay không do dự vì cũng đã đoán được câu hỏi của ông ta:
– Tôi chưa hề nghĩ đến chuyện lấy chồng.Tôi còn nhỏ và đang còn đi học. Anh nên suy nghĩ lại và để cho tôi yên lòng học hành.
Ông đứng lên nhìn cô rồi nói:
– Thôi được, anh sẽ chờ. Anh tin rằng một ngày nào đó em sẽ đồng ý.
Nói xong ông bước nhanh ra cửa, nổ máy xe và đi, không chào từ giã mẹ như thường lệ. Ông ấy đi rồi, ngực Hải Đường như khó thở, mặt cô tím tái vì giận con người lì lợm đó. Câu nói của ông ấy nhắc cho cô biết một điều là ông ta sẽ không bỏ cuộc. Ông ta sẽ dùng mọi thủ đoạn để chiếm cho bằng được Hải Đường.
Trời ơi! Cô chỉ là con bé mười sáu tuổi.

Đúng như suy nghĩ của Hải Đường. Hôm sau ông quay lại, không thèm chào hỏi gì cô. Mặc dù rất ghét nhưng điều đó cũng làm cho cô khó chịu. Hải Đường chuẩn bị đối đầu với con người đa mưu này. Đồng minh của ông là người mẹ và anh trai cô.
Người mẹ cũng dịu dàng với cô hơn, không cáu gắt như trước nữa. Tiếng “con” thay vì “mi” như thường dùng. Một tối, sau khi đóng quán, Mẹ vào phòng Hải Đường:
– Mấy hôm nay thấy con đi học cả ngày, Mẹ lo lắm.
Cô trả lời Mẹ:
– Dạ, con đi học rồi tập văn nghệ nữa, Ba biết mà Mẹ.
– Ba không nói cho Mẹ biết nên Mẹ nghĩ là con đi chơi. Thôi được, nhưng mà xong phải lo về nghe con.
– Dạ.
Mẹ cầm tay cô:
– Con nè! Mẹ thấy thằng Giao. nó cũng hiền, nhà nó giàu có, học thức.
Hải Đường im lặng:
– Nó xin mẹ rồi. Ba Mẹ đã đồng ý. Qua năm sau gia đình nó sẽ đến xin hỏi. Ráng nghe lời Mẹ, Mẹ chỉ muốn con được sung sướng. Hơn nữa, nó đã mua nhà riêng cho con ở Sài Gòn, sau này các em con cũng có chỗ để tá túc học hành.
Nước mắt Hải Đường lại chảy dài. Không! Cô không thể lấy ông ta. Cô ghét ông ta. Hải Đường sẽ đấu tranh đến cùng. Nhưng mà ai sẽ bảo vệ, giúp đỡ cô đây? Ba ư? Người đã bao lần bất lực nhìn cô khóc thầm thì làm sao có thể giúp được chứ?
Còn anh, anh chỉ là một cậu bé.
Người mẹ không nói gì nữa và đi ra cửa. Lời của bà như đóng đinh vào trái tim cô. Khóc suốt đêm, sáng hôm sau Hải Đường quyết định nghỉ buổi tập văn nghệ vì không thể nào nhấc người ra khỏi phòng được. Trưa cô ăn vội qua loa rồi ôm cặp đi học. Người cha nhìn theo. Cô nghe tiếng thở dài.
Chiều hôm đó đến trường Hải Đường trao vội vàng cho anh tập Tuổi Ngọc. Bên trong cuốn sách có mảnh giấy cô gởi anh: “Tối lên quán sớm nha. Đang có chuyện buồn.”
Anh đến sớm như cô dặn, bước thẳng vào quán, đến cửa sổ đặt lá thư xuống trên thành cửa sổ. Cô đang ngồi học bài, mỉm cười rồi len lén với lấy bức thư. Anh không quay lưng lại như thường lệ mà ngồi nhìn cô mở bức thư ra đọc: “Có chi buồn rứa? Họ chưa ăn chi hết, sốt ruột lắm” Hải Đường lấy phấn viết mấy chữ vào tấm bảng nhỏ đưa lên cho anh nhìn thấy: “ Mẹ bắt lấy chồng, buồn lắm”. Anh đến quầy xin vỏ gói thuốc, tháo tờ giấy bạc bên trong, hý hoáy viết rồi vo lại ném qua cửa sổ cho cô “Viết kể rõ mai gởi đọc nghe. Nhớ đừng buồn!”.
Anh xoay người, quay lưng lại, quán bây giờ đông khách nên cô không bút đàm với anh được nữa. Hải Đường ngạc nhiên khi thấy anh phả khói thuốc lá về phía trước mặt, điều mà cô chưa gặp bao giờ.

Ba mươi bốn năm, sau anh nói với Hải Đường đó là điếu thuốc đầu tiên trong đời anh hút.
.
Bốn ngày nữa là Tết. Năm nào cũng vậy, Tết ở đây rất buồn. Không như ngày còn bé gia đình ở Huế, những ngày sắp Tết đám trẻ như luôn cảm thấy niềm vui rạo rực, niềm hạnh phúc vô biên; không khí trong gia đình lúc nào cũng rộn ràng ấm cúng.

Tối hai bảy Tết anh đến quán, không ngại ngùng, sợ sệt bước thẳng vào nhà.. Hải Đường đang ngồi nói chuyện với Ba Mẹ, ánh mắt cô ngạc nhiên lẫn chút lo lắng. Anh gật đầu chào Ba Mẹ cô:
– Cháu chào hai bác.
Anh xoay về hướng cô chìa tấm thiệp chúc tết và nói:
– Gởi Hải Đường tấm thiệp chúc Tết.
Cô lí nhí:
– Cám ơn…
Hải Đường cũng có tấm thiệp chúc Tết định chờ anh lên để gởi tặng. Nhưng trong tình thế như vậy cô không thể vào lấy đem ra dưới con mắt giám sát của Mẹ, nên chỉ biết nhìn anh như một lời tạ tội mà thôi. Anh không nán lại để uống cà phê như mọi hôm mà đi về ngay.
Tối vào phòng ngủ Hải Đường mới mở tấm thiệp của anh ra. Cũng một tấm thiệp có đóa hồng nhung đỏ thắm rất đẹp, lớn hơn tấm thiệp năm ngoái. Bên trong kẹp hai mảnh giấy hồng và trắng. Bốn câu thơ ghi trên mẫu giấy trắng và lời chúc tết ghi ở giấy hồng:

Yêu em tôi hái trăng mơ
Lấy mây chắp nối làm thơ cho tình
Lấy sao làm chiếc độc bình
Cắm hoa hàm tiếu cho mình gần nhau.

Lá thư được đặt ở trong tấm thiệp, khi đó Hải Đường vẫn chưa nhìn thấy cho đến lúc đặt lại tấm thiệp vào lại bì. Anh viết: “Sớm mai họ về. Nhớ lắm, sẽ cố gắng vô sớm. Hãy đợi nhé!”

Ông Giao không về quê ăn Tết như Hải Đường mong đợi . Quanh quẩn suốt thời gian trước và những ngày Tết trong nhà cô. Trừ những lúc phải vào đơn vị ứng trực, còn không lúc nào vắng mặt khiến Hải Đường vô cùng khó chịu .Vì ngày Tết nên không thể tỏ thái độ khó chịu ra mặt được.
Hải Đường thường so sánh giữa anh và ông Giao, một trẻ con và một người lớn. Ông Giao có dáng người thấp đậm, dáng đi cứng cáp, cách nói mạnh mẽ, dứt khoát, môi luôn mím lại khi sắp diễn đạt một điều gì. Mẫu người như ông xứng đáng đại diện cho giới quân đội. Một sĩ quan nghiêm khắc, chững chạc. Anh, một thư sinh luôn có một nụ cười mỉm trên môi. Khi cười anh diễn đạt tình cảm bằng cả khuôn mặt. Từ mắt, môi cho đến hai gò má, hai cái lúm đồng tiền làm anh tươi hơn, trông như một đứa trẻ. Một cậu bé có tâm hồn của người lớn. Một tâm hồn lãng mạn mà anh đã biểu lộ qua cái nhìn, cách nói chuyện với bạn bè, cách đi đứng và cả những lúc đăm chiêu.
Người Hải Đường không yêu thương muốn cưỡng đoạt làm vợ bằng mọi cách. Người cô mong đợi lại không dám nói lời yêu thương.

Tết rồi cũng qua, Hải Đường trở lại với trường lớp. Không được vui như trước nữa nhưng ngày đầu năm cô cố gắng hòa đồng với bạn bè, hỏi thăm mọi người ăn Tết có vui không? Điều cô mong đợi bây giờ là được trông thấy anh nhưng bóng dáng anh vẫn không thấy đâu? Hải Đường hay lo sợ vẩn vơ vì không biết anh trở về bằng phương tiện gì, có đi đến nơi về đến chốn hay có điều gì xảy ra với anh . Lòng cô như lửa đốt. Sân trường vắng vẻ hơn. Mọi cảnh vật chung quanh như bất động.
Rồi ngày vui cũng đến. Anh trở vào sau Tết một tuần, trông bơ phờ, hốc hác. Tối đó anh đến quán muộn hơn thường ngày. Lúng túng tìm chỗ ngồi vì cái bàn quen thuộc đã có người khác chiếm hữu mất rồi. Người đàn ông này không quay lưng lại như anh.

Hai cái ghế kéo lại chỗ góc sân gần lối ra vào, một cái làm bàn, anh ngồi dựa vào tường nhìn Hải Đường đang học bài. Cô đã nhìn thấy anh vào nhưng cố tình làm ngơ, vẫn cúi đầu nhưng trái tim đập liên hồi.
Anh đốt thuốc. Giả như không thấy nhưng Hải Đường biết anh đang chăm chú nhìn . Không chịu nổi cái nhìn của anh, lát sau cô quay lại mỉm cười. Anh cười đáp lại và nháy mắt chỉ người đàn ông đang ngồi nơi chiếc bàn dưới giàn bông giấy. Hải Đường lắc đầu. (sau này người mà anh muốn hỏi là ai. Đó chính là anh Thịnh, sẽ nói rõ hơn ở phần sau).

Hải Đường xếp sách vở, đứng dậy, tay cầm cuốn sách kẹp lá thư gởi anh lúc đi ra quầy, cô viết: “Họ chờ, đi lâu dữ rứa!” Lát sau anh bước đến quầy, nhẹ nhàng đẩy mảnh giấy viết vội : “Không còn giận nữa chứ?”. Hải Đường không trả lời mà chỉ lắc đầu khi anh quay về ngồi lại chỗ cũ. Suốt buổi tối đó cả hai chỉ biết mỉm cười với nhau. Ánh mắt họ đã nói với nhau những lời thương nhớ.

Sau Tết nửa tháng ông Giao về thăm nhà. Ngày trở lại ông tặng Hải Đường đủ thứ quà. Từ sách vở, bút viết đến chiếc kẹp tóc… Cô không thể không nhận nhưng chưa một lần đụng đến chúng. Thái độ bất cần của cô, Mẹ và ông Giao đều nhận ra nhưng không nói gì.. Hải Đường càng tỏ ra lạnh nhạt, ông Giao càng đeo đuổi quyết liệt hơn, càng cố lấy cảm tình với mẹ nhiều hơn. Điều đó làm cho cô khó chịu và cảm thấy áp lực vô cùng nặng nề.

Một buổi tối thứ bảy Hải Đường không phải học bài, cô xuống phụ mẹ pha cà phê cho khách. Anh đến quán sớm hơn cùng với hai người bạn. Nhìn ra cửa, cô mỉm cười, anh cũng vẫy tay, cười với cô và nói gì đó với hai người bạn. Cặm cụi làm việc nhưng trong lòng rất vui vì được nhìn thấy anh nên không để ý đến Mẹ đã bước ra quán. Sau đó anh theo Mẹ vào trong nhà, ngồi xuống hai chiếc ghế đối diện. Linh tính có điều gì không hay đang xảy ra, Hải Đường đứng gần cửa lên xuống lắng nghe mẹ nói gì với anh. Mẹ nói rất nhỏ, cố gắng lắm cũng chỉ nghe được vài từ.. Cô biết anh không cần nghe, không muốn nghe gì hết vì những điều bà nói anh biết trước rồi. Bà nói rất nhiều. Khoảng mười phút sau cô nghe anh xin phép để ra ngoài với bạn. Bước chân anh nặng nề đi qua khoảng sân trống, đầu anh cúi xuống và chắc là anh đang giận. Hải Đường nghĩ vậy.

Hai ngày sau đi học lại Hải Đường không nhìn thấy ánh mắt và nụ cười của anh. Nhìn dáng anh đi buồn bã, trong lòng cô xót xa lắm nhưng không thể nào đến hỏi chuyện gì đã xảy ra giữa mẹ và anh.

Đó là thời gian bước vào kỳ thi học kỳ 2 năm lớp 10. Hải Đường không còn tâm trí đâu ôn bài vở để thi. Không gặp nhau suốt tuần, cô nhớ và thương anh lắm nhưng không có cách nào liên lạc được với anh. Mười ngày sau anh đến quán, ngồi hút thuốc liên tục và không hề nhìn cô lần nào. Lúc học xong, Hải Đường bước ra quầy, anh đến tính tiền, trao vội cho cô mảnh giấy. Anh viết: ” Phải quay về nhà thôi. Mình gặp nhau một lần nhé Được không?”

Trời ơi! Tình yêu của Hải Đường chỉ có vậy thôi sao? Cô buồn, nước mắt chảy dài suốt đêm. Hải Đường thương cho tình yêu vừa chín, thương anh vô cùng. Anh đến với cô bằng con người khác không giống như cái bề ngoài của mình,sôi nổi và nghịch ngợm. Anh đến bên cô bằng trái tim nồng cháy, tâm hồn lãng mạn nhưng với nụ cười buồn.

Được không?! Một câu hỏi khiến tim cô tan nát. Một cuộc gặp chẳng để làm gì. Chẳng cứu vãn được gì nhưng là cần thiết. Thật ra điều này là không dễ đối với Hải Đường trong lúc này. Được không? Một câu hỏi xé nát tim cô.

Hải Đường biết anh đã vượt qua bao nhiêu khó khăn để được có tình yêu này. Anh đã từ chối lời gọi về của gia đình mà ở lại đây cho đến lúc này cũng vì cô.
Được không?
Một ý nghĩ táo bạo và bất ngờ trong cô. Trốn học và một ngày với riêng anh.
Hôm sau đến trường Hải Đường trao vội mảnh giấy cho anh lúc giờ ra chơi trên hành lang của lớp: “Hải Đường cần nói chuyện với anh. Mai mình gặp nhau buổi sáng nhé.”

Hôm sau cả hai vẫn đi học bình thường dù không có giờ học buổi sáng. Hải Đường nói dối với Mẹ trưa ở lại để chiều tiếp tục thi học kỳ.
Đây là lần đầu tiên Hải Đường liều lĩnh bước chân ra khỏi nhà mà Ba Mẹ không biết cô đi đâu. Con bé mười sáu tuổi như cô dám làm một chuyện động trời như vậy. Trốn học một ngày để đi theo tiếng gọi của tình yêu. Với người lớn ngày đó quả là một chuyện không thể chấp nhận được.
Hai người đi bên nhau như bạn bè. Bước chân đưa đẩy họ về phía biển lúc này vắng hoe, nắng lên chói chang. Anh cầm tay cô dẫn đến bên gốc dừa sát biển và ngồi xuống.
Hơn mười ngày rồi họ chưa được nói với nhau một lời nào, đến lúc đã ngồi bên nhau rất lâu rồi vẫn còn ngại ngùng. Cả hai quên hết những lo lắng, tim vẫn đập nhưng nhịp đập bây giờ có lẽ khác hơn, vội vã, rộn ràng, không thứ tự, nhịp sau như chồng lên nhịp trước. Anh nhẹ nhàng cầm tay Hải Đường. Bàn tay cô run run:
– Mình liều quá anh! Lỡ ai bắt gặp thì chỉ có chết.
Anh nắm chặt hơn:
– Ừ, liều thật nhưng anh không sợ. Chỉ lo cho em thôi. Chuyện mình buồn quá.
– Anh định quay về thật sao?
– Có lẽ vậy, anh xin lỗi đã làm cho em buồn. Đã hứa với Mẹ rồi, sẽ không đến tìm nữa. Nhưng đêm khuya không ngủ được, không học hành được chi hết.
– Vậy còn chuyện mình…?
Anh thở dài, im lặng khá lâu rồi thầm thì:
-Đây chỉ là nơi anh đến trọ, đến thì có ngày phải đi. Anh ghét vùng đất này nhưng chân lỡ vướng sợi tóc em rồi. Lẽ ra anh đã trở về từ năm học vừa qua nhưng em đã giữ anh lại..
– Anh gỡ sợi tóc ra rồi hay sao mà lại muốn về?
– Không! là mẹ em đã buộc anh gỡ nó ra.
– …
– Thi học kỳ xong anh sẽ quay về với gia đình, trường cũ. Đành phải vậy.
Hải Đường hỏi anh:
– Mẹ đã nói gì với anh hôm đó?
Anh hơi nhăn mặt, chậm rãi từng tiếng một:
– Mẹ nói nhiều lắm. Nói rằng nếu anh thương em thì hãy rời xa để cho em hạnh phúc, tương lai em tươi sáng hơn. Mẹ nói: “Cháu còn nhỏ lắm. Hải Đường thì đã đến tuổi lấy chồng được rồi. Cháu chỉ là cậu học trò mười sáu, mười bảy tuổi làm sao có thể…”
– …
– Mẹ em nói đúng. Anh chỉ là thằng trẻ con. Mẹ còn nói em đã đồng ý lấy ông Giao nhưng chưa tiện cho anh biết thôi. Đúng vậy không?

Hải Đường ngước mắt nhìn anh:
– Không đúng! Em không nói điều đó và cũng không bao giờ có ý định đó. Em ghét ông ấy. Em đang tìm cách trì hoãn để rồi trả lời không đồng ý. Nhất định em sẽ làm được.
– Không làm được đâu. Em không đủ sức. Mình còn nhỏ, không lường trước điều gì sẽ xảy ra. Anh chưa đủ lớn để bảo vệ được em. Hơn nữa anh ở xa lắm, đang sống nhờ Bà cô nơi đây thì làm sao cùng em chống chọi lại được. Ông ấy dù sao cũng là một sĩ quan, một người học thức. Ông ấy có mọi thứ, còn anh chỉ là thằng trẻ con..
– Em sẽ tìm cách trì hoãn đám hỏi cho đến khi thi xong tú tài rồi đi tìm việc làm đâu đó…
Anh ném nắm cát ra xa, quay lại nhìn xoáy vào mắt Hải Đường. Đôi mắt anh lộ vẻ giận dữ, tuyệt vọng:
– Em có biết Mẹ nói gì với anh không?
Hải Đường thoáng sững sờ trước cơn giận dữ bất ngờ của anh:
– Mẹ đã nói gì?
Anh lắc đầu không trả lời câu hỏi của tôi.

Mãi mãi cho đến tận bây giờ, khi hai người đã gặp lại nhau, hoặc khi gọi điện thoại thăm nhau, Hải Đường có hỏi lại anh điều bí mật ấy anh cũng chỉ lắc đầu, không nói ra. Điều bí mật của câu nói vẫn chìm sâu trong tâm hồn anh.

– Anh muốn mình xa nhau phải không?
– Không muốn! Không bao giờ anh muốn điều ấy. Anh có thể ở đây đợi em một hai năm nữa. Nhưng không thể được. Không bao giờ được. Em không hiểu.
– Vậy sao anh lại có ý định quay về?
Anh lay nhẹ vai cô:
– Anh không muốn về nhưng phải làm vậy.Anh chưa phải là người lớn như họ nhưng có lòng tự trọng và không muốn em đau khổ vì anh.
Hải Đường không gặng hỏi anh nữa. Cô kể cho anh nghe mọi chuyện xảy ra, cho anh biết cô phải chịu đựng và chống chọi lại như thế nào. Anh im lặng lắng nghe cho đến khi Hải Đường dừng lại.
Rồi bất ngờ anh đưa hai tay ôm đầu cô, xoay lại:
– Cách đây mấy hôm anh đến quán sớm và đã nhìn thấy em nhận gói quà của một ông sĩ quan, phải không? Ông ấy đã đến chiếm chiếc ghế của anh dưới cây bông giấy.
Anh hỏi thật đột ngột khiến Hải Đường bối rối. Cô đã cố tình giấu anh chuyện này nên trả lời:
– Ông Thịnh nhờ em giữ bức tranh, chỉ có vậy thôi. Em chưa mở nó ra.
Anh nhìn thẳng vào mắt cô:
– Tại sao em nhận? Bức tranh vẽ gì, em biết không?
Hải Đường hơi run vì câu hỏi tiếp theo của anh:
– Họ gởi thì mình nhận… có sao đâu anh?
Anh rút tay về ngồi bó gối, nét mặt nhìn xa xăm:
– Anh hỏi em lần nữa. Bức tranh ấy vẽ cái gì? Có phải một cô thiếu nữ xinh đẹp ngồi dưới ánh đèn màu không?
Hải Đường giật mình. Làm sao anh có thể biết rõ đến như vây. Cô nói:
-Nhưng sao anh lại nghĩ đó là chân dung của em?
Anh không trả lời câu hỏi này của cô. Lúc đó Hải Đường hơi hoảng vì sao anh có thể biết bức tranh ấy của ông trung uý Thịnh vẽ nàng thiếu nữ ngồi bên ánh đèn là cô. Đó là sự thật. Hải Đường đã nhận bức tranh ấy vì thấy nó đẹp và có hồn. Hơn nữa, nhân vật trong bức tranh là mình.

Hải Đường mong được hạnh phúc bên anh hôm đó. Mong được anh vỗ về, an ủi. Nhưng không phải như vậy. Hai người tranh cãi nhau rất nhiều.
Anh giận dữ đứng dậy và cô cũng vậy. Sau này mỗi lần nghĩ lại Hải Đường thấy hối hận nhưng lại bật cười chua chát rằng sao hồi đó cả hai quá trẻ con đến dại khờ như vậy. Ngu ngơ đến mức đánh mất cả mối tình đầu của mình.
Cả hai không ai nhường nhịn ai. Không ai chịu lên tiếng xin lỗi. Đến gần trường anh buồn bã nhìn cô bước qua cánh cổng sắt, còn anh vào quán nước bên kia đường.
Tan học, Hải Đường vội vã bước ra khỏi cổng trường dáo dác tìm anh. Tần ngần ngay giữa đám bạn khiến mọi người ngạc nhiên về thái độ của cô. Nhìn khắp chung quanh vẫn không thấy bóng dáng anh đâu.
Bỗng từ phía dưới ngược lên, chiếc xe jeep quân đội chở một ông sĩ quan trờ tới bên cạnh. Hải Đường hốt hoảng tránh dạt vào lề đường. Người ngồi trên xe là một ông khách đeo đuổi cô bấy lâu, ông ta làm việc ở quân trường Pháo binh. Hải Đường đã nhiều lần tỏ thái độ lạnh nhạt, khó chịu nhưng ông ấy vẫn cố tình như không nhận biết.

.Bước xuống xe đứng cạnh Hải Đường ông ta lên tiếng:
– Hải Đường ! Mời em lên xe tôi đưa về.
Hải Đường không trả lời. Miệng cô mim chặt. Cơn giận dữ xen lẫn lo lắng khiến Hải Đường không thể bình tĩnh được nữa:
– Tôi không về. Ông đi đi.
Hải Đường vội vã băng qua đường dưới ánh mắt ngạc nhiên của mọi người. Đoạn đường về nhà sao mà dài lê thê. Tâm trạng cô thật nặng nề nhìn xuống lòng đường. Con đường nhựa cứ lướt qua, lướt qua đắng sau xe, mang theo nỗi buồn, nỗi bực dọc trải dài .
Tối đó anh lên quán rất muộn. Không ngồi ở cái bàn quen thuộc nữa mà chọn một bàn khác, sát bên đường luồng vào nhà. Hải Đường đã ra ngồi quầy, anh xoay mặt về hướng cô, hút thuốc liên tục. Khuôn mặt anh bất động, lạnh băng, vô hồn. Linh tính như có điều gì không hay đang xảy ra. Một linh cảm như sẽ mất anh mãi mãi bùng lên trong cô. Nước mắt Hải Đường chảy dài xuống má. Cô không còn sợ sệt gì nữa. Ném cái nhìn giận dữ vào ông Giao đang ngồi bên chiếc bàn giữa phòng khách, vội vào nhà tìm tấm hình vừa mới chụp cách đây hai tháng, gói cẩn thận và đi đến bên anh, nhẹ nhàng đặt trên bàn:
– Anh sao vậy? Không thể nhìn anh như thế được. Anh về nghỉ, sáng mai đi học mình gặp nhau nghe.
Anh vẫn không ngước nhìn. Đầu gục xuống, khuôn mặt vẫn lạnh băng.
– Anh nhớ cất cẩn thận tấm hình của em.
Khi không còn người khách nào nữa anh mới đứng dậy bước ra khỏi quán sau khi nhét tấm hình cô đặt trước mặt vào túi áo.
Đêm sau và đêm sau nữa cũng vậy, anh đến uống cà phê và hút thuốc liên tục. Không mỉm cười với cô. Khuôn mặt như tượng đá.
Lần cuối cùng Hải Đường nhìn thấy anh ở quán lúc đó đêm đã khuya lắm rồi. Ông Giao vẫn còn ngồi nơi chiếc ghế trong phòng khách. Anh nặng nề đứng dậy ra về, không nhìn cô. Dáng anh liêu xiêu bước ra khỏi cửa, đưa hai tay lên vuốt mặt. Hình như anh đang nén lại những giọt nước mắt. Bóng anh khuất hẳn về phía trái.
Anh vĩnh viễn không bước vào quán cà phê Hải Đường một lần nào nữa.

Ba đêm liền anh đến ngồi bên chiếc bàn xa lạ, hút thuốc liên tục và không đến quầy trả tiền như mọi lần.

Đã thi xong học kỳ 2, xem như đã xong một năm học, nhưng Hải Đường cũng phải đến trường bình thường như mọi ngày. Cô vào lớp nhưng tâm trí để nơi anh đang ngồi cách lớp học của cô hai phòng. Có lẽ anh cũng đang gục đầu trên bàn. cô nghĩ vậy. Hải Đường hình dung nụ cười của anh, đôi mắt hay nhìn nghiêng đáng ghét. Cô nhớ dáng anh ngồi trước ly cà phê, hút thuốc liên tục. Nhớ dáng anh bước ra khỏi quán đêm trước, nặng nề cúi đầu, hai tay ôm mặt.

Bỗng nhiên Hải Đường hoảng sợ rồi bật khóc, úp mặt xuống bàn học.
Có tiếng bước chân vội vã bên ngoài hành lang. Nhanh dần, nhanh dần về phía phòng học của Hải Đường. Như một linh tính bất an, cô ngước mặt lên nhìn ra ngoài, nơi tiếng bước chân đến gần.
Anh hiện ra, lướt đi bên ngoài khung cửa. Anh bước nhanh nhưng cũng cố quay đầu nhìn vào. Hải Đường chạm đôi mắt anh trong mắt mình. Nét mặt anh buồn lắm. Khi anh lướt qua khỏi phòng học, cô hốt hoảng đứng dậy, bước ra ngoài hành lang nhìn theo anh. Anh đến cuối hành lang, xuống cầu thang. Cô chồm người qua lan can nhìn xuống sân trường.
Bóng anh mờ mờ dưới tán cây phượng rủ lá. Màu hoa phượng choàng lên người anh một màu đỏ rực. Anh mất dần, mất dần dưới sân trường rồi tan biến sau hai cánh cổng sắt.
Lần cuối cùng Hải Đường nhìn thấy anh. Cô mất anh từ đó!

Anh ra đi sau ba đêm liên tục đến ngồi trên chiếc bàn xa lạ sát đường luồng vào nhà trong.
Uống ba ly cà phê và hút không biết bao nhiêu điếu thuốc.
Anh nợ Hải Đường ba ly cà phê. Còn cô nợ anh nửa cuộc đời mình.

Một ngày, hai ngày, rồi ba ngày không thấy anh đi học. Không còn thấy bóng anh ngồi dưới giàn hoa giấy đỏ. Không tìm thấy ánh mắt và nụ cười của anh khiến Hải Đường hoang mang. Về nhà, không nói với ai một câu nào. Mẹ có hỏi gì cô cũng im lặng.
Hải Đường nuốt nỗi buồn vào trong để đến trường, không để lộ ra cho bạn bè biết chuyện gì xảy ra. Lúc nào cũng như muốn khóc, có lẽ mọi người nghĩ cô buồn chuyện Ba Mẹ bắt lấy chồng nên cũng không hỏi điều gì, chỉ nhìn nhau ái ngại.
Một tuần sau đó Hải Đường mới tin chắc rằng anh đã bỏ đi. Không một lời từ biệt. Anh không hề nói đã hờn giận hay oán trách cô. Hải Đường không biết gì hết ngoài hình ảnh anh bước vội trên hành lang buổi chiều hôm trước. Tiếng bước chân và ánh mắt buồn rười rượi của anh cứ ám ảnh cô suốt nhiều năm sau này.
Anh đã dứt khoát ra đi. Có lẽ anh đau khổ nhiều lắm khi bỏ lại đây một mối tình thơ dại. Hải Đường nghĩ vậy.
Nhưng còn một lý do khác khiến cô suy nghĩ. Không hiểu vì sao ra đi mà anh không từ giã lời nào với cô. Đi đâu về đâu cô không thể biết được. Hải Đường lại có ý nghĩ giận anh, hay anh về thành phố của mình với một người con gái nào khác. Cô nhớ thương anh lẫn lộn với một chút giận hờn, ghen tương khiến tim cô như thắt lại. Phải chi trước lúc ra đi anh cho Hải Đường một lời giải thích, hoặc một câu từ giã có lẽ đời cô sau này cũng đỡ ray rứt hơn.
Đúng vậy! Hải Đường đã ray rứt suốt cuộc đời còn lại của mình. Sau này có gia đình rồi cũng vậy. Cô đã cố gắng quên đi, giấu đôi mắt u buồn của anh lúc ấy vào tận sâu trong trái tim mình để làm tròn bổn phận người vợ, người mẹ trong gia đình. Hải Đường đã làm được điều ấy một cách thật khó khăn.

Nhiều đêm, Hải Đường ôm hai tấm thiệp chúc tết và những lá thư anh gởi vào lòng để ngủ. Cuốn Đặc San hè 1973 có hai bài viết của họ. Nếu tinh tế, sâu sắc hơn, mọi người sẽ nhận ra nhiều điều giống nhau ở hai bài này. Cái buồn man mác, cái hụt hẫng của người con gái khi sắp chia xa người mình yêu thương để lấy chồng, cô đã gởi gắm vào trong bài viết ấy. Hải Đường và anh đã chia sẻ buồn vui trong tháng ngày qua, hòa tan trong những câu văn mình viết.
Thật ra hai bài văn ấy là đứa con tinh thần, cùng tác giả là của hai người. Anh học toán nhưng lại viết văn rất hay, lôi cuốn người đọc. Còn Hải Đường tuy học văn nhưng bài của mình luôn cần đến góp ý, chia sẻ của anh.
Cuốn đặc san này Hải Đường vẫn còn giữ cho đến hôm nay cùng với những lá thư và hai tấm thiệp chúc Tết như một kỷ vật quý giá đời mình.

NGUYỄN THỊ NGỌC LAN

CHIẾN HỮU

hochibuu

1.
“mai tôi chết ai người xây nắm mộ
cổ quan tài ai khóc tiễn đưa tôi”
câu thơ giang hồ cứ đeo bám lấy tôi
khi chiến tranh qua rồi-
bạn bè bao nhiêu thằng nằm xuống ?
tạ từ trong đêm-người về bằng tưởng tượng !
kẻ lưu vong nơi đất khách quê người
để những đêm buồn nước mắt mặn bờ môi
nhớ người thương-nhớ quê hương-nhớ tình đồng đội !

2.
tôi gặp lại hắn- tên lính gàn- nông nổi
tay đánh đàn rớt ở tam biên
với xấp vé số trên tay-
rưng rưng- rưng rưng..
hai thằng kéo nhau vào quán cóc
ngọn lửa cũ bùng lên
hạ lào – khe sanh – bình giả
chu lai – an lộc – chu pao
những đêm nằm rừng nghiệt ngã
những đêm mộng mị hư hao
hắn nghêu ngao coi như không phải chợ
vẫn hét hò như tên lính rừng sâu
vẫn nhạy lại mấy câu nhạc sến
“hát cho những người vừa nằm xuống chiều qua ..”
lấy đũa gõ ly ngậm ngùi hát tiếp
giọng trầm hùng sao nước mắt ướt râu ?
rồi bất chợt đứng lên gào thét
“ dù một tay nhưng đâu ai dễ xem thường”

3.
hắn bật khóc cũng như tôi đang khóc
có cái gì lặng lẽ ở đâu đây
ôi thương quá thằng bạn đời sương gió
đang khuấy lên ngọn lửa đã tàn rồi
bạn bè nhau trong thời chiến
yêu nhau như tình nhân
bạn bè thời @
thằng ngồi salon phì phèo thuốc lá
thằng lặn lội kiếm từng đồng bạc nuôi thân
đù má cuộc đời…
hồchíbửu

DẠ KHÚC SÀI GÒN

tranthoainguyen

1.

Sài Gòn về khuya
Trời đất se se
Lòng bỗng nhớ ai
Lang thang phố dài

Tôi đi tìm tôi
Đèn cao soi bóng
Hàng cây đứng mộng
So vai lá buồn.

Tôi ra bờ sông
Đèn sao lấp lánh
Nhớ Đêm Màu Hồng
Tình trai lai láng.

Tiếng hát Thái Thanh
Vang khuya Đô Thành
Dìu em cuối phố
Bồng bềnh tóc xanh…

Sài Gòn sáng trưng
Hòn Ngọc Viễn Đông
Trăng tròn mười sáu
Em chưa lấy chồng!

2.

Sài Gòn về khuya
Trời đất se se
Lòng bỗng nhớ ai
Lang thang phố dài.

Tôi không còn Em
Mùa thu xưa chết
Buồn ơi nhật nguyệt
Lăn hai vai gầy!

Công viên mồ côi
Mình tôi đứng khóc
Khối cao chọc trời
Hồn xưa bay mất!

Gió nói với ai
Vang khuya đêm dài
Lời yêu gió cuốn
Mùa màng trắng tay!

Sài Gòn trắng đêm
Còn một trái tim
Lăn hoài ngoài phố
Em xa mộng chìm!

3.

Sài Gòn về khuya
Trời đất se se
Lòng bỗng nhớ ai
Lang thang phố dài.

Em nay về đâu?
Trời mây Đông Á
Còn tôi khách lạ
Lơ ngơ phố người!

Tôi qua đường xưa
Hàng cây mất tích.
Chiến tranh trò đùa
Vòng kim cô xích!

Bóng tối hóa trang
Đêm đen hoang tàn!
Đèn pha sáng quét
Huyền hồ xóa tan!

Sài Gòn nhớ mong
Hòn Ngọc Viễn Đông
Em về Ngày Mới
Giấc mơ hóa rồng.

TRẦN THOẠI NGUYÊN

HÁT GIỮA ĐỜI THÊNH THANG

HÀ NGÂN

Năm 1970, trường La San Bình Lợi Qui nhơn mừng kỷ niệm 50 năm thành lập và trong đêm văn nghệ diễn ra tại sân trường khán thính giả bất ngờ thưởng thức một giọng hát tuyệt vời của một nữ sinh trường Nữ Trung học. Bài “Giết Người Trong Mộng” được trình bày tại sân trường La San đêm hôm đó đã để lại nhiều âm vang trong lòng mọi người, nhất là bọn nam sinh chúng tôi, đứng chết sững trên sân trường sau khi nghe câu đầu tiên, “làm sao… giết được người trong mộng, để trả thù duyên… kiếp bẽ bàng…”
Đầu thập niên 70, những ca khúc của Phạm Duy rất ăn khách, được các ca sĩ thành danh trình bày trên truyền hình, băng nhạc, thu thanh… nghe hầu như khắp hang cùng ngõ hẻm cả miền Nam. Chúng tôi nghe đi nghe lại nhiều lần những bản tình ca, kể cả bài Giết Người Trong Mộng, nhưng phải là một nam sinh, tuổi chập chững vào đời, đêm hôm đó đứng chen chúc nhìn lên sân khấu được trang hoàng thô sơ và nghe giọng một nữ sinh (mãi sau này chúng tôi mới biết tên) cùng lứa tuổi trình bày xuất thần bản nhạc, rồi mới thấm hết nỗi cảm xúc của cậu con trai đang lớn, thầm ươm một ước mơ nào đó vào tiếng hát và chợt thở dài vì nhận ra ngay niềm mơ ước đó sẽ trở nên vô vọng. Mấy mươi năm sau, khi tóc đã bạc màu hơn nửa, bạn tôi vẫn còn giữ nguyên một cảm xúc trắng tinh như thế.
Cũng mấy mươi năm sau, nỗi cảm xúc của tôi lại là bài “Giấc Mơ Trưa”.
Tôi không kén nghe nhạc. Tùy lúc, tôi mở một loại nhạc nào đó cho phù hợp. Nhớ lúc học thi, tôi thường mở nhạc nhẹ và đặc biệt không lời. Lúc tập thể dục, tôi nghe nhạc kích động cho đúng nhịp bước chân. Khi nằm đọc một đoạn sách, tôi thường nghe nhạc hòa tấu. Nếu cắt cỏ làm vườn, tôi lại nghe bất cứ loại nhạc nào, gọi là để nghe mà làm việc. Xong việc, tôi nhớ lõm bõm những điệu nhạc tôi vừa nghe rồi quên bẵng. Vậy mà tôi nhớ như in giọng hát của Đỗ Quyên, vì “Giấc Mơ Trưa” đã để lại trong tôi thật nhiều thinh lặng của hồn và đầy trầm lắng của tâm tư.
Tĩnh. Tâm tư tôi trầm hẳn xuống khi tiếng chuông chùa buông. Người con gái mơ màng trong giấc ngủ trưa, hồn trôi về dĩ vãng, gặp lại cảnh cũ người xưa và chợt tỉnh giấc khi nghe tiếng chuông chùa vọng lại từ xa. Bài hát bắt đầu bằng tiếng chuông chùa và giọng của Đỗ Quyên nhỏ dần khi tiếng chuông chùa buông. Và tôi cũng buông tất cả tị hiềm, ghen ghét, đố kỵ, hờn giận, cùng nỗi ưu tư và lo lắng của đời sống. Buông hẳn. Hồn tôi bỗng trong suốt như giọng hát của Đỗ Quyên để tôi nhìn thấy tâm tư tôi tràn ngập dòng suối tinh khiết của tình yêu, của tình người, và của lòng vị tha. Từng ấy mối tình khuấy động hồn tôi tạo nên một nỗi cảm xúc u hoài. Tiếng dương cầm còn váng vất trong trí, lời kể tha thiết của người con gái có sức mạnh đẩy tôi ngã ngồi trên ghế, nhắm đôi mắt để tiếng chuông chùa tràn ngập hồn tôi và chợt thấy lòng mình thanh thản hơn bao giờ. Tâm hồn tôi bồi hồi khi tiếng chuông ngân xa rồi mất hẳn và để lại trong tôi một chút tiếc nuối, một chút buồn vô cớ. Không phải buồn của nỗi đau, nhưng là buồn của niềm hạnh phúc lãng đãng nào đó khiến hồn tôi lâng lâng. Tôi thấy lòng mình nhẹ tênh, tưởng có thể chắp cánh bay về một thế giới khác lạ không còn bụi bặm trần gian. Tôi ngồi đó, đắm mình trong từng lời của điệu nhạc dịu và êm. Tác giả viết lời nhạc đơn giản, không một chút cầu kỳ trau chuốt, và từng nốt nhạc đặt vào từng con chữ là một chọn lựa kỹ càng để âm thanh thánh thót đủ mạnh đánh tan hết mọi vẩn đục của cuộc sống. Tôi “nghiện” giọng hát của Đỗ Quyên, nhưng chỉ mỗi bài Giấc Mơ Trưa.
Mỗi khi ưu tư, bực dọc, tôi lại nghe Giấc Mơ Trưa và chỉ mỗi Đỗ Quyên hát để thoát bụi trần. Như tôi đã thưa, tôi không kén nghe nhạc nhưng một khi đã yêu bản nhạc nào tôi chỉ thích mỗi ca sĩ duy nhất, người đã cho tôi cái cảm giác ban đầu khó quên ấy. Sau này tôi có nghe một vài ca sĩ khác trình bày cùng bản nhạc, cũng tha thiết như thế nhưng những giọng hát đó vẫn không thể nào đem đến cho tôi cái cảm giác kỳ diệu như giọng hát của Đỗ Quyên.
Ngoài Giấc Mơ Trưa, giọng Đỗ Quyên cũng bình thường như những ca sĩ thời thượng khác. Có thể tôi khó tính, nhưng đấy là cảm nhận của tôi về Đỗ Quyên. Tháng trước tôi nghe ca sĩ Lệ Quyên đến San Jose trình diễn. Lại một Quyên nữa. Giọng Lệ Quyên hao hao Đỗ Quyên nhưng tôi chưa nghe Lệ Quyên hát Giấc Mơ Trưa bao giờ. Tôi đã định đến nghe Lệ Quyên hát nhưng lại tự hỏi chẳng biết trong suốt mấy tiếng đồng hồ trình diễn, cô có hát Giấc Mơ Trưa không. Suy đi tính lại, tôi quyết định không đi. Mà cho dù Lệ Quyên có hát Giấc Mơ Trưa đi nữa, đứng giữa sân khấu tràn ngập ánh sáng, với áo quần là lượt bắt buộc cần khi trình diễn, ý nghĩa của Giấc Mơ Trưa sẽ mất hẳn. Ở sân khấu, ca sĩ cần tiếng vỗ tay vang rền khắp rạp, và nếu tiếng vỗ tay ồn ào đến thế, làm sao tôi có thể nghe tiếng chuông ngân. Giấc Mơ Trưa phải được thưởng thức trong thinh lặng, trong trạng thái tĩnh, và nếu cần, phải trong ánh sáng mờ ảo của mông lung chứ không thể là ánh đèn màu. Tôi không đi nghe Lệ Quyên là vì thế.
Tôi cũng không đi nghe bạn tôi hát nhân dịp hội ngộ ở Qui nhơn vừa qua. Bình, người bạn có giọng hát thật nồng nàn, sôi nổi. Không đi nghe Lệ Quyên hát tôi không tiếc, nhưng tôi lại tiếc vì không được ngồi một bên nghe Bình hát “Vũng Lầy Của Chúng Ta”; nghe như thế vẫn thật hơn, vẫn thú hơn một vài clip Bình hát gửi ra cho cả nhóm. Tên của bạn tôi thoáng nghe như con trai, Bình. Nhưng nếu gọi Thanh Bình thì lại khác. Thanh Bình là một trong 14 cô sang học lớp 12 ở La San niên khóa 71-72. Thời của tôi, con gái cao cỡ một mét rưỡi là đủ “Hãy Ngước Mặt Nhìn Đời” rồi; đằng này Bình cao trên 1m6 nên thường “…nhìn tôi xuống thấp”. Mặc dù nghe tên tưởng lầm con trai nhưng người Bình lại thấm đẫm nữ tính với dáng mảnh như lá, mái tóc mượt mà đen nhánh dài phủ gần nửa lưng, chân bước nhẹ như mây, thấp thoáng gót chân hồng ẩn hiện dưới ống quần rộng phất phơ. Tà áo trắng của Bình nổi bật trên sân trường với chiều cao hiếm có. Trong số bạn bè, may ra có một vài đứa có chiều cao ăn ý với Bình. Nguyễn Huế, người bạn đã khuất, dáng cao to, một võ sĩ có hạng ở đất Bình định. Có lần trời mưa, Huế cầm dù che cho Bình bước từ cổng trường vào lớp. Đứng ở hành lang, dưới làn mưa nhẹ lất phất của buổi sớm mai, hình ảnh Huế che dù cho Bình hôm đó đối với tôi đẹp nhất. Buổi sáng đó, Huế và Bình trông như hai diễn viên màn bạc, đang đóng một xen trong cuốn phim tình cảm. Tôi biết cả trường đang nín thở trố mắt nhìn Huế và Bình, trong đó có tôi đang thở dài thầm mơ giá tôi cao thêm chừng một tấc nữa. Sân trường những năm trước khô khan nhưng buổi sáng hôm đấy tôi cảm thấy sân trường đầy ướt át của hồn nhiên trong Trống Mái, và ngập lụt lãng mạn của Hồn Bướm Mơ Tiên.
Hồn Bướm Mơ Tiên của bạn tôi không thành như hai nhân vật trong truyện. Nàng trở thành Góa Phụ Ngây Thơ sau khi chồng nằm xuống. Tôi nói Bình không ngây thơ nữa, nhưng nên đổi lại là góa phụ nửa chừng xuân. Tuổi đời đã cao nhưng Bình vẫn còn giữ được đường nét như mới đi được nửa đường. Nửa chừng xuân là thế. Quả thật tôi nói không ngoa, nếu Bình “về điểm phấn tô son lại,” chắc chắn rất dễ “ngạo với nhân gian một nụ cười,” như 2 câu thơ của Thái Can, một nhà thơ tiền chiến.
Thơ và văn là tài mọn của Bình. Một cô bạn khác – Thu – bảo tôi những năm ở trung học, cả đám học văn với thầy Nguyễn Mộng Giác. Sau mỗi bài thi, bài luận văn của Bình đều được giữ lại sau cùng, và thầy đọc cho cả lớp nghe. Bình còn biết ngâm thơ và tôi nghe âm hưởng của nữ nghệ sĩ Hồ Điệp trong giọng ngâm của nàng. Nhớ những năm xa nhà vào Sàigòn học, đêm khuya vô tình vặn lạc đài nghe giọng ngâm của bà trên chương trình Tao Đàn khiến lòng tôi nao nao và chợt thấy nhớ nhà kinh khủng. Nghe Bình ngâm, lòng tôi cũng nao nao nhớ đến những đêm chong đèn ở cư xá học thi, và hồn trùng hẳn xuống.
Hát hò, văn chương, thơ phú, ngâm thơ là những tài mọn của Bình. Bạn tôi đang ở Lộc Châu, Phan Khối viết một đoạn trên vi-thư, “…cũng là chuyện vặt thôi, mà là chuyện vặt khác thường, hạng tầm thường sao làm nổi” Tôi cho rằng những tài mọn này cũng chỉ là chuyện vặt đối với Bình, nhưng là chuyện vặt khác thường, hiếm người làm nổi. Người ta bảo, hát hay không bằng hay hát. Nghĩ cũng phải, gọi là hát cho vơi buồn, hát để yêu thêm cuộc đời. Nhưng nếu Bình hay hát và hát hay thì mới là chuyện vặt khác thường. Thuở lớp 3, 4 ở bậc tiểu học, Bình đã hát trong ban hợp ca thiếu nhi trên đài phát thanh Qui nhơn nên cô bạn tôi hát hay là điều dễ hiểu.
Cũng là tiếng hát nhưng khán thính giả lại nhíu mày khó hiểu khi thấy một thí sinh trình diễn trên sân khấu vào tháng 3/2014 vừa qua. Thí sinh đó là một nữ tu thuộc dòng Các Nữ tu Ursuline Thánh gia (Ursuline Sisters of the Holy Family) trong một cuộc thử giọng của chương trình “The Voice” và cả nước Ý lên cơn sốt.
Khoảng hơn 10 năm trở lại đây, các đài truyền hình đẻ ra một chương trình thi tài năng về ca hát, nhảy múa, ảo thuật, diễn hài, và những màn biểu diễn nghệ thuật khác để câu khách. Ban đầu là American Idols vào năm 2002, The X-Factor (2004), rồi đến America’s Got Talent (2006), và sau cùng là The Voice (2010) tạo nên bởi John de Mol Jr., một tỷ phú về truyền thông người Hà-lan. Chương trình The Voice cạnh tranh mạnh mẽ với The X-factor và nhanh chóng lan ra các nước ở Châu Âu & Á. Nước Ý bắt đầu tuyển lựa tài năng về ca hát vào năm 2013, đến nay đã được 2 mùa thi. Và năm 2014 với sự xuất hiện của Sơ Cristina Scuccia trên sân khấu đã làm khán thính giả thật sự kinh ngạc.
The Voice khác với những chương trình tuyển lựa khác ở chỗ các vị giám khảo không nhìn thấy mặt của thí sinh dự thi. Những chương trình kia, khi bước ra sân khấu rộng mênh mông trước cử tọa lên đến hàng nghìn, thí sinh phải trả lời một số câu hỏi của các vị giám khảo đã. Còn The Voice lại khác, thí sinh bước ra sân khấu lúc các vị giám khảo đã ngồi xoay lưng lại. Lưng ghế to bản, đủ che hết thân hình bất cứ vị giám khảo nào, cho dù nặng cân nhất. Chỉ một mình thí sinh với hàng nghìn khán thính giả mà thôi. Bước ra thì nhạc trổi lên ngay, và hát; không cần phải giới thiệu danh tính.
Các vị giám khảo chỉ nghe giọng hát chứ không hề thấy mặt cũng như cung cách trình diễn của thí sinh, và nếu thích, vị giám khảo đó đập mạnh xuống một nút đỏ ngay trước mặt. Lập tức chiếc ghế to bản xoay lại, đưa vị giám khảo đối diện với thí sinh. Điều kiện để tiến qua vòng trong và mãi cho đến bán kết, rồi chung kết… là thí sinh phải được sự đồng ý của tất cả các vị giám khảo. The Voice thể hiện sự tán thành qua hành động bấm nút đỏ để quay lại đối diện với thí sinh. Bởi vậy, khi cả 4 vị giám khảo quay lại, điều này có nghĩa là thí sinh đã được chấp thuận tiến vào vòng hai.
The Voice lại có thêm một điểm đặc biệt nữa. Đó là thí sinh có quyền chọn một trong 3 vị giám khảo làm người cố vấn (mentor) trong những vòng sau. Nhưng đến vòng chung kết, cũng giống như các chương trình tuyển lựa tài năng khác, sự lựa chọn hoàn toàn tùy thuộc vào khán thính giả. Nếu đoạt giải vô địch, từ thí sinh đến vị cố vấn thật hãnh diện, vì cả năm chỉ có một giải duy nhất. Giải thưởng gồm tiền mặt lên đến cả triệu và một hợp đồng từ các nhà sản xuất đĩa nhạc. Nhưng phần thưởng lớn nhất là thí sinh trở thành một người nổi tiếng của riêng quốc gia đó đã đành, và đôi khi trở thành một nhân vật quốc tế, trong vòng một thời gian chỉ vài tháng. Trường hợp của Susan Boyle trong Britain’s Got Talent năm 2012 là một ví dụ điển hình. Một người đàn bà 47 tuổi, ngoại hình không lấy gì hấp dẫn, đã làm toàn thể khán thính giả ngạc nhiên tột độ khi cô vừa cất giọng hát (https://www.youtube.com/watch?v=K38tWC8POyE). Chỉ qua một lần thử giọng, Susan nổi tiếng cả nước Anh và trong các quốc gia nói tiếng Anh. Phóng viên báo chí, ký giả tạp chí, đài truyền hình, truyền thanh…v..v.. đứng tấp nập trước căn nhà nhỏ của cô để xin một phút phỏng vấn. Nếu giấc mộng Nam Kha thời xưa “bừng con mắt dậy thấy mình tay không” thì với The Voice, thí sinh bừng mắt dậy bỗng thấy mình có tất cả. Từ tiền đến danh.
Vòng loại, được gọi là thử giọng (audition) sơ Cristina trình bày bản No One của Alicia Keys. Ngay từ câu đầu tiên, giọng hát của sơ đã được ít nhất là 1 vị giám khảo, J-Ax – tên thật là Alessandro, nhíu mày lắng nghe. Chỉ cần nghe hát thêm vài câu sau đó, J-Ax không còn chần chờ gì nữa, đập mạnh vào nút đỏ ngay trước mặt để ghế xoay lại. Miệng anh tròn vo khi thấy thí sinh trong trang phục của một nữ tu. J-Ax thật sự kinh ngạc. Anh há hốc miệng không tin ở đôi mắt của anh, nhưng rõ ràng là một nữ tu đang say sưa trình bày bản nhạc, không hề chú ý gì đến anh và những vị giám khảo khác. Sơ Cristina hát đến đoạn “no one… no one… no one”, J-Ax quẫy người trên ghế như con cá mắc cạn trong một trạng thái hứng khởi chưa từng có. Câu kết mới ngoạn mục, “no one can get in the way of what I feel for… you.”, ở chữ you cuối bài, tiếng hát bật ra ở một cung bậc cao vút, dũng mãnh như sóng cuồn cuộn dâng, nhưng âm giọng vẫn tròn trịa, trong suốt như pha lê không chút vẩn đục. J-Ax đưa hay tay ôm lấy đầu biểu lộ sự kinh ngạc. Anh và toàn thể khán giả hầu như không tin ở tai mình vừa thưởng thức một giọng hát tưởng như từ một ca sĩ đã thành danh. Alicia Keys chăng? Không, không phải. Rõ ràng giọng hát của người con gái đang đứng trên sân khấu trong trang phục nữ tu.
Tiếng vỗ tay vang rền, J-Ax vẫn còn bàng hoàng. Anh chưa thoát khỏi vùng trời âm thanh đầy mê hoặc của sơ Cristina. Mà có thật là nữ tu không hay là một người con gái muốn chơi nổi, gây sự chú ý của các vị giám khảo. Vị giám khảo Carrà hỏi cô có phải nữ tu thật không. Sơ Cristina khẳng định cô là một nữ tu thật sự. Bà hỏi động lực nào thúc đẩy sơ lên sân khấu, sơ Cristine bảo tôi đến đây vì tôi có món quà muốn chia sẻ cùng quý vị. Sơ nói thêm, Đức giáo hoàng Phanxicô khuyến khích chúng ta nên bung ra ngoài, dùng tài năng của mình để phục vụ tha nhân và rao giảng Tin Mừng, tôi đến đây với mục đích như thế. Mấy ngày sau, Hồng Y Gianfranco Ravasi, chủ tịch Bộ Văn hóa Tòa thánh trích một câu trong Kinh thánh trên trang Twitter của ngài, “Ơn riêng Thiên Chúa đã ban, mỗi người trong anh em phải dùng mà phục vụ kẻ khác (1 Peter 4:10)” bày tỏ sự hổ trợ việc thi hát của sơ Cristine. Cuối buổi thử giọng, sơ Cristina chọn ca sĩ nhạc rap J-Ax làm cố vấn. Những vòng thi tiếp theo, sơ Cristine lần lượt loại dần các địch thủ. Sau hơn tháng thi đấu, cuối cùng sơ Cristina đoạt giải “The Voice” năm 2014. Ngày nhận giải, trước hàng nghìn cử tọa, sơ Cristina xin mọi người cùng đọc với sơ một kinh Lạy cha để cảm tạ Thiên Chúa, (https://www.youtube.com/watch?v=TpaQYSd75Ak).
Hiện tượng sơ Cristina làm tôi nhớ đến một giọng hát của một sơ khác, Sœur Sourire (Sister Smile), một nữ tu thuộc dòng Đôminicô cũng là một hiện tượng xảy ra vào năm 1963. Sơ nổi danh qua bài hát “Dominique” do chính sơ sáng tác và trình bày.
Cơ duyên tôi biết bản nhạc này khá đặc biệt. Năm đệ Ngũ, chúng tôi gồm có Bích, Lạc, Sơn, Tín, và tôi từ La San Bình lợi Qui nhơn lên học ở La San Ban-mê-thuột. Đây là lần đầu tiên tôi học nhạc, làm quen với các nốt đồ rê mi, dấu đơn, dấu kép… và cũng lần đầu tiên tôi đứng hát trong một đoàn hợp ca, bài Ngựa Phi Đường Xa, bốn bè và dĩ nhiên tôi thuộc nhóm bè chính (tôi luôn hát lạc sang bè chính, nên frère xếp tôi vào bè chính luôn). Thầy dạy nhạc là frère Bertrand Nguyễn dục Đức, một sư huynh mà theo nhận xét của riêng tôi, là người thầy uyên bác nhất trong suốt cuộc đời học sinh của tôi ở La San. Mỗi lần đến giờ nhạc là tôi run, vì tôi biết tôi không có một năng khiếu nào về âm nhạc. Tôi còn nhớ, giữa năm đệ Ngũ, frère dạy chúng tôi đánh nhịp ¾, chát chát chình, chát chát chình. Frère bảo phải lắng nghe tiếng nhạc để phân biệt khi nào chát, khi nào chình; cứ chình là đập tay xuống, cọng với hai chát kia thì vẽ thành một hình tam giác, tay đưa lên để chuẩn bị tiếng chình lại đập tay xuống, bắt đầu một nhịp mới. Tai tôi nghe tất cả đều chình chình, chả nghe một tiếng chát nào cả.
Ngoài âm nhạc, frère còn dạy chúng tôi môn Việt văn và Anh văn. Giờ Việt văn, tôi còn nhớ frère giảng một đoạn văn trong cuốn Con Trâu của Trần Tiêu, em ruột của Khái Hưng và có chân trong nhóm Tự Lực Văn đoàn. Đoạn văn tả người mẹ ở quê lên thăm đứa con gái đang ở đợ cho một gia đình giàu có. Ông chủ tử tế hỏi thăm bà tình cảnh gia đình. Bà thản nhiên kể đứa con trai 8, 9 tuổi của bà bị sừng trâu đâm lòi ruột. Frère hỏi thế tại sao bà lại kể với một giọng ráo hoảnh như thế, giống như bà đang kể về một cái chết của một con vật chứ không phải con của bà. Frère giải thích là đau khổ triền miên đã làm cho con người mất hết cảm xúc. Đối diện với khổ đau từ nhiều năm tháng, bà xem chuyện một đứa bé bị lòi ruột là chuyện thường tình. Lòng người mẹ hết đau, tim người mẹ hết nhói. Gia đình bà đứa thì ở đợ, đứa bị trâu đâm lòi ruột, tuy khổ thế nhưng vì quá quen nên bà không nhỏ một giọt nước mắt. Hoặc không chừng, dòng nước mắt của người mẹ đã cạn khô nên bà chẳng còn một giọt nước mắt nào để rơi. Mãi về sau, khi học môn Tâm lý với frère Raymond Hinh, tôi hiểu rõ thêm đau khổ là một tình trạng tâm lý và chợt nhớ đến những lời frère Bertrand giải thích ở lớp đệ Ngũ.
Riêng giờ Anh văn thì chúng tôi, những học sinh La San Bình lợi Qui nhơn, mở tròn mắt chịu thua. Frère một tay cầm cuốn sách Anh văn (hình như L’Anglais Sans Peine thì phải), tay kia vòng sau lưng, bước thong dong, đọc dõng dạc. Đọc một câu tiếng Anh, frère bắt từng đứa đứng lên dịch ra tiếng Pháp, ngay tại chỗ. Vốn tiếng Pháp của tôi cũng không đến nỗi tệ, nhưng đọc và dịch tức khắc thì thú thật vốn liếng Pháp văn của tôi không đủ, chưa kể đến văn phạm câu cú cần phải chính xác nữa. Tôi còn nhớ buổi học đầu tiên frère bảo tôi dịch mấy câu đầu bài, my name is George; tôi dịch ra, je m’appelle George… rồi đứng đực mặt vì những câu tiếp theo tôi hiểu không hết, chưa kể không đủ ngữ vựng Pháp để dịch. Frère đọc tiếng Anh và Pháp nhuần nhuyễn, nói trơn tru không hề vấp váp. Sau này tôi biết thêm lối học song ngữ Anh-Pháp như thế đã bắt đầu từ năm đệ Thất. Học sinh phải học 2 sinh ngữ từ khi bước lên trung học, chứ không phải chờ đến đệ Tam như chúng tôi. Học sinh La San Bình lợi đành phải chào thua những học sinh La San từ Sàigòn lên học. Khi viết những giòng chữ này, Frère đã về với Chúa được gần năm (tạ thế 31/12/2013 tại Napa, Cali) và tôi xin dài dòng một chút về thầy dạy của tôi cũng là một cách để cảm tạ người đã dẫn tôi vào thế giới âm nhạc tuyệt diệu và bầu trời văn chương bao la. Xin cầu cho thầy sớm về nước Thiên đàng.
Xin trở lại Sœur Sourire. Bài hát của sơ nổi tiếng từ năm 1963 nhưng phải đợi đến năm 1967, lúc tôi học ở La San Ban-mê-thuột, frère Bertrand cho tôi nghe bài “Dominique” do chính sơ Sourire trình bày. Frère chụp headphone lên đầu, bảo tôi nghe hết bản nhạc rồi nói cho frère biết cảm tưởng. Nghe xong, tôi chẳng hiểu hết lời Pháp, lấy đâu mà bàn đến cảm tưởng và cảm nghĩ. Tôi chỉ gật gù cho có lệ, đầu óc trống rỗng tuy cũng đủ trí khôn để nhận ra âm hưởng của bản nhạc nghe líu lo như chim hót. Đôi lúc, frère còn cho tôi nghe những bản giao hưởng mà lúc đó tai tôi nghe như vịt nghe sấm. Khi giải thích về dòng nhạc, frère đắm hồn vào từng chữ mà lúc đó lời frère diễn tả quá sức với trí hiểu biết về âm nhạc của tôi. Về sau khi lớn lên tôi biết thêm sơ đi tu, sáng tác nhạc, ôm đàn guitar hát, mẹ bề trên thấy hay nên khuyến khích sơ hát cho cả dòng nghe. Dần dà giọng hát của sơ được mọi người biết tiếng và hãng dĩa Philips ký hợp đồng với nhà dòng phát hành bản Dominique do chính sơ hát với nghệ danh Sœur Sourire. Và sơ nổi tiếng.
Thời đó, năm 1963, ban nhạc The Beatles nổi tiếng, làm mưa làm gió trên vùng trời âm nhạc. Ngay trong khối Sô-viết, thanh niên thanh nữ Nga chuyền tay nhau những đĩa nhạc của Beatles nhập lậu từ Âu-châu và nghe mê mẩn. Suốt cả năm, người ta bàn tán về hiện tượng Beatles, giới trẻ thuộc nằm lòng những bài John Lennon và Paul McCartney hát, thế mà bản Dominique của Sœur Sourire lại giữ đầu bảng (billboard) âm nhạc tại Âu-châu và ngay cả nước Mỹ trong suốt 2 tuần. Đó là một kỷ lục, (https://www.youtube.com/watch?v=n295hjktHD0).
Hai hiện tượng, hai nữ tu, hai giọng hát gây chấn vang trong giới âm nhạc cách nhau hơn nửa thế kỷ. Tuy thế, cuộc đời của sơ Sourire lại kết cục bi thảm. Vài năm sau khi nổi tiếng với bản nhạc Dominique, sơ bỏ tu viện ra sống ngoài đời. Rồi chính phủ Bỉ níu áo sơ về số tiền thuế qua dĩa nhạc Dominique. Sơ ra đi tay trắng nên không có tiền đóng thuế. Sở thuế đeo dai dẳng đến nỗi sơ suy sụp tinh thần sinh ra trầm cảm. Cuối cùng sơ tự tử với người bạn gái Annie Pécher. Hiện hai ngôi mộ của họ tại nghĩa trang Cheremont, nước Bỉ thỉnh thoảng vẫn có những bó hoa của những người hâm mộ đặt nằm chơ vơ trên nền đá trông hiu hắt như cuộc đời cô đơn của sơ. Tôi vẫn cầu mong sơ Cristina luôn giữ tinh thần tu trì, dùng giọng hát của sơ để đem niềm vui đến cho tha nhân. Giọng hát và chiếc áo chùng thâm của sơ mãi mãi là một hiện tượng độc đáo trong bầu trời âm nhạc.
Người ta bảo âm nhạc là ngôn ngữ phổ quát (universal language), nghĩa là một loại ngôn ngữ mà hầu hết 7.5 tỉ người trên trái đất này đều hiểu được. Nghe một bản nhạc ngoại quốc, tuy không hiểu lời nhưng qua tiết tấu của bản nhạc, thêm vào âm thanh trầm bổng, giọng hát và cách trình bày của ca sĩ, ai ai cũng thấm được ý nghĩa của bài hát. Những thí sinh đứng một mình giữa sân khấu rộng bao la chợt thấy mình nhỏ bé hẳn, tim đập rộn rã trước những con mắt xoi mói của các vị giám khảo và họ nén hơi đặt hết cả tâm, cả hồn lẫn tim óc và bật ra tiếng hát.
Ngôn ngữ của âm nhạc chỉ có 7 chữ (nốt) nhưng sao nhạc sĩ lại sắp xếp một cách tài tình và chờ đến lúc một ca sĩ trình bày thì bản nhạc thoát thai trở thành một biểu tượng lộng lẫy của nghệ thuật. Cứ xem những chương trình tuyển lựa tài năng của American Idols, X-Factor, hoặc America’s Got Talent mỗi tiếng hát là một giọt nước mắt của niềm vui choáng ngợp khi hàng nghìn cử tọa đứng dậy vỗ tay vang rền khắp rạp. Đó cũng là giọt nước mắt của một mảnh đời gắn liền với sự cố gắng cùng cực để vươn lên từ đổ nát. Không hiếm vị giám khảo cũng rơi lệ vì họ đã lịm hồn trong tiếng hát của thí sinh, và khẳng khái cám ơn thí sinh đã đem giọng ca đến với chương trình.
Giọng ca và tiếng hát ngọt ngào của Thu Dung, của Đỗ Quyên, của Thanh Bình, của sơ Cristina, và sơ Sourire đã cống hiến cho đời những giây phút tuyệt vời nhất. Đời ca hát ngày tháng… cho người mua vui. Khi những tiếng hát này cất lên, tôi biết cảm tạ Thượng đế đã cho đôi tai để nghe, còn thính giác để biết rung động trước vẻ đẹp trau chuốt của âm thanh. Họ, có cả Thanh Bình bạn tôi, đứng hát giữa đời thênh thang để rồi ngồi xuống giữa muôn muôn người, không phân biệt sắc tộc màu da, cùng nắm tay nhau lấy âm nhạc làm ngôn ngữ để cảm thông, để xóa hết hận thù và thương yêu nhau.
Tôi ước mơ như thế, Thanh Bình, cô bạn học thân mến của tôi ơi!

HÀ NGÂN

BẦU TRỜI RỖNG

thuyvi

Lần nào cũng vậy, cứ hễ xem lại hình ảnh khủng bố ngày 9 tháng 11 năm 2001 là lòng tôi sôi lên mang đầy phẫn hận. Vì mang tâm cảm như thế nên mới đây, hôm tuần rồi có dịp được ghé sang New York tôi cố tình chọn chiếc váy đỏ thẫm màu máu mặc đi cùng áo đen tuyền tang tóc để viếng nơi thảm sát.

Đúng là New York lúc nào cũng nhộn nhịp với từng đoàn du khách đông nghịt và cư dân thì hối hả trong những sinh hoạt mọi ngày nên xe cộ như bị mắc nghẽn không lối thoát trong những con đường chật chội dọc ngang như mạng lưới vì thế những người ở xa như chúng tôi không làm sao kiếm được chỗ đậu xe để tôi có thể bước chen trong dòng người về phía tòa nhà chọc trời cao 80 tầng bằng kính và thép đang được xây cất trên nền đổ nát hình dáng vươn cao lên như con phượng hoàng cất cánh từ tro tàn như lòng hằng mơ ước.

Tòa nhà mới này đáng lẽ mang tên the Freedom Tower, sau được đổi một tên khác nhưng tôi lại đặc biệt thích tên này.

Tòa nhà Freedom Tower đã ngạo nghễ vươn cao trên nền trời ở phía nam quận Manhatttan trước tầm mắt nhìn vòi vọi tiếc nuối của người viết sau khung cửa xe từ từ chạy qua con đường đầy nhốn nháo.

Theo báo chí đây là một tòa nhà hình tháp bút, cao 541 mét, xây ở tây bắc khu đất này. Để đề phòng trường hợp bị tấn công bằng xe bom, 20 tầng phía dưới cùng sẽ không có cửa sổ, xây bằng bê tông cốt sắt và bao quanh bằng kính. Những tầng phía dưới cùng của tòa nhà sẽ chỉ để chứa những hệ thống như máy phát điện hoặc điều hòa không khí.

Cũng bao gồm trong dự án là một đài tưởng niệm, ghi tên hàng ngàn nạn nhân của hai vụ khủng bố vào Twin Towers đã được khánh thành vào ngày 12 tháng 9 năm ngoái. Bên cạnh đó đài tưởng niệm ghi khắc tên hàng ngàn nạn nhân trong vụ khủng bố thảm sát được che phủ bằng bóng mát của hàng trăm cây sồi với một thác nước mang một ý nghĩa nào đó.

Không đến được nơi tôi muốn đến nhưng may mắn thay khi ghé viếng tượng Nữ Thần Tự Do, tôi tình cờ được đến khu dành để tưởng niệm 746 dân cư tiểu bang New Jersey bị giết được mang tên “Bầu trời rỗng” tại công viên Liberty State.

Tôi bước từng bước ngắn chiêm ngưỡng khu tưởng niệm mô phỏng hai khối Twin Towers làm bằng loại thép không gỉ cao 9 mét, mang ý tưởng thật độc đáo nằm bên này Hudson River lồng lộng gió nước, với tâm trạng bùi ngùi chăm chú đọc tên những người bị giết và thấy khuôn mặt tôi buồn bã hiện lờ mờ trên trên vách thép trắng loang loáng thật lạnh lẽo hai bên như đi giữa khung cửa hẹp. Tôi thẩn thờ nhìn quanh như thấy đâu đây những khuôn mặt chưa nguôi ngoai lòng xót thương về cảnh chết bất ngờ đầy kinh hoàng của các nạn nhân vô tội trong biến cố thảm sát ngày 11 tháng 9 năm 2001 hôm đó.

Tự dưng tôi cảm thấy khó thở, một cảm giác mệt mỏi đen tối mãnh liệt và tuyệt vọng trùm lên người tôi như một lớp sóng. Tôi thấy ngột ngạt và có ý muốn khuây khỏa nỗi lòng bằng cách bước ra ngoài đi dạo trong không khí ấm áp và mát mẻ trên con đường giống như lối đi trong một hoa viên dưới bầu trời huy hoàng mùa hạ. Đang đi, tôi sựng lại. Hai mảnh sắt màu nâu nhám sù sì được đặt trang trọng trước mắt mà ai cũng biết đó là những mảnh vụn được giữ lại từ toà tháp đôi đổ nát. Hai mảnh sắt vụn đó ai cũng biết là chứng tích của gần 3000 thân thể người dân vô tội bị giết nát bấy, là chứng tích của dòng máu đỏ thắm của 84 quốc gia, là chứng tích của hàng vạn đứa trẻ mồ côi, là chứng tích của hàng vạn cảnh đau thương không có ống kính hay ngòi bút nào có thể ghi lại đầy đủ mọi góc cạnh tác hại của thảm nạn khủng bố của ngày hôm đó….

Bỗng nhiên nước mắt chao động lấp lánh sau cặp kính mát khiến tôi chập chờn thấy khung cảnh trước mắt trở nên dật dờ như một thế giới mông lung. Khoảnh khắc trôi nổi giữa mịt mù như hòn đảo giữa đại dương làm tôi ngầy ngật như bị xô đẩy cuốn trôi quay tròn như trong con xoáy.

thụyvi
(Hầm Nắng, ngày 7 tháng 9 năm 2012)

EM TRẢ LẠI ANH !

hochibuu

trả lại anh mái tóc dài hoang dại
nụ hôn tình ẩn giấu giữa bờ môi
trả lại hết- những gì anh đã mất !
bởi từ em – vuột mất dấu chân đời!?

trả lại tôi – một người con xứ biển
Nha Trang ơi. Sao để mất em rồi ?
nếu anh được một phút nào linh hiển
đem em về – vì em của anh thôi !

trả lại anh – tóc em dài hoang dại
nụ hôn nào mật ngọt ở bờ môi
hãy trả lại những gì anh đã mất
em yêu ơi – anh lạc mất em rồi !?

cát vẫn trắng – gió vẫn hiền – ru ngủ
em thì xa hun hút cuối chân mây
nỗi thương nhớ đong làm sao cho đủ;
em yêu ơi – lệ nhỏ xuống đêm nầy ?

không phải đâu- có thể là sóng biển
làm mặn môi – đàn ông khóc bao giờ ?
ừ thì đi – có ai mà đưa tiễn ?
chỉ một người – lặng lẽ đứng làm thơ…

HỒ CHÍ BỬU

ẨN SĨ

tamnhien

Hoang sơ giữa tịch mịch này
Thiên nhiên nhập định cùng cây lá ngồi
Sớm trưa hồng ngắm mây trôi
Là bay đi hết muôn đời nghiệp duyên
Thực ra đâu có ưu phiền
Nên rừng xanh ngát quanh hiên hoa vàng
Núi cười biển cũng reo vang
Ngàn hương trầm lắng trăng ngàn thong dong
Trăng sương cũng đủ no lòng
Uống nguồn thanh khí từ trong lẫn ngoài
Mưa chiều rồi nắng ban mai
Ra vào tĩnh lặng chẳng hoài vọng chi

TÂM NHIÊN

BÚP ƠI…

vudinhhuy
Tháng 6 năm 1976 gia đình tôi có danh sách đi Kinh tế mới.Ở nhà chẵng còn ai,bố tôi cải tạo không thời hạn,đứa em trai đi làm Công nhân đường sắt ở xa .Tôi vừa trở về.Mẹ tôi mắc bệnh tim bẩm sinh và cô em út bốn tuổi.Tôi lên Ủy ban Phường trình bày.Yêu cầu của tôi được chấp thuận. Thế là tháng sau tôi đi Thanh niên Xung phong.
Buổi chiều trước khi đi tôi vẫn chưa chuẫn bị,tiền bạc trong nhà đã cạn kiệt.Mẹ tôi thẩn thờ đi ra đi vào như một cái bóng.Biến cố 1975 , như một cú nốc ao đối với một người phụ nữ vốn hiền lành và yếu đuối như bà…Tôi đến bên cạnh…Mẹ ơi..ngày mai con đi Thanh niên xung phong một thời gian.Thế à….Bà buột miệng như một phản xạ,đôi mắt vẫn bơ phờ nhìn vào khoảng không.Tôi ôm cô em út nhìn quanh ngôi nhà.Ngày mai tôi lại đi.Ba năm rồi,từ ngày rời mái trường Trung học,những khúc quanh cuộc đời đã cuốn tôi đi.Có mấy khi tôi được tận hưởng những giây phút ấm áp của gia đình.
Đang lo nghĩ thì cu Hà bạn tôi đến.Hai đứa chở nhau xe đạp ra Khu bán quần áo cũ.Nó lựa mua cho tôi hai bộ đồ lao động,hai đôi giày vải bộ đội.Xong xuôi hai đứa vào quán Café.Hà giúi vào tay tôi….Tao chỉ có chừng này mày cầm lấy…Tôi mừng và xúc động.Thằng này vẫn còn bám gia đình.Nghĩ đi nghĩ lại tôi hỏi gặng…Mày nói thật nghen,tiền này ở đâu…Tao vừa chôm bà già,thấy mày tao xót ruột quá.Tôi nhìn nó rưng rưng.Kỷ niệm này tôi ghim chặt trong lòng và hơn hai mươi năm sau tôi đã trả lại Hà với cái giá quá đắt.Đó là chuyện về sau.
Nơi chúng tôi đến là Gia châm,một Huyện miền núi sát biên giới Kampuchia , cách Thị xã Pleiku khoảng sáu mươi cây số đường rừng.Trước năm 1975, nơi đây là chiến khu cũng là cứ địa FULRO.Địa bàn núi rừng mênh mông chỉ có những buôn làng người Thượng ở rải rác .Khi chúng tôi đến đã có một số dân định cư,họ là những hộ đi Kinh tế mới đợt đầu, còn có một số dân các nơi kéo về tìm hướng mưu sinh. Số Cán bộ địa phương là những người tham gia kháng chiến nghĩ hưu .Có lẽ đã quen thung thổ họ cũng chọn nơi này để lập nghiệp. Công việc của chúng tôi là xây dựng những cụm dân cư,làm đường,dựng nhà,trạm xá,trường học… v v …Nguyên vật liệu lấy từ rừng,những ngôi nhà được dựng đơn sơ bằng cột gỗ,tre và tranh.Năm giờ sáng chúng tôi thức dậy,vệ sinh cá nhân, ăn sáng.Cơm ăn no ,đồ ăn chẵng có gì,thông thường là bầu,bí nấu loãng với mắm ruốc,thỉnh thoảng có ít cá khô. Ăn xong cả bọn rựa lên vai đi vào rừng đốn các loại .Trưa ăn uống nghĩ ngơi tí chút, rồi vác cây về nhà,ăn cơm xong trời đã chập choạng.Ban đêm thỉnh thoảng có họp hành,còn không cứ ngồi trong lán nhìn ra .Ở đây buổi tối thường hay mưa, mưa lâm thâm hạt nhỏ bay bay loáng thoáng trong sương mù. Lạnh , buồn và nhớ. Mới lên chưa được một tháng ,nhiều cô đã khóc đòi về nhà. Biết đi đâu…. mươi ngày mới có một chuyến xe được kiểm soát chặt chẽ từ Thị xã Pleiku chở hàng hóa,thư từ và người có lý do chính đáng. Bấy giờ tôi là..xếp,Trung đội trưởng một Trung đội Thanh niên xung phong gần bốn chục người, trong đó khoảng một phần ba là nữ. Thỉnh thoảng tôi cũng bầy trò cho khuây khỏa .Những đêm trời thanh tôi kéo cả Trung đội ra bờ suối..luộc khoai mì, nhóm lửa và hát hò tưng bừng .Chỉ hát nhạc đỏ thôi, hót một bài ngoài danh mục là phiền phức ngay.
Trừ các khoản sinh hoạt , hàng tháng mỗi người chúng tôi còn dư vài đồng lương ,Số tiền còm cõi này chỉ đủ mua một ống kem đánh răng,một cục xà phòng nhỏ và uống được hai ,ba lần Café, hút thuốc Lào.Không có hàng quán tư nhân,chỉ có một cửa hàng Hợp tác xã bán hàng phân phối theo tiêu chuẩn.Muốn uống Café chúng tôi tìm đến nhà dân.Có một vài hộ bán chui . Dưới bóng đèn dầu,giọt café tí tách,ấm trà,thuốc lào và bộ bàn ghế bằng tre.Cũng có phở,phở là mì gói hạng bét nấu nước sôi,rắc ít rau hành lên trên là xong.Như thế cũng là mơ rồi,mỗi tháng tôi chỉ được đôi ba lần .Hầu hết ai cũng có đồ tiếp tế , thư từ của thân nhân gửi lên.Mỗi Chuyến xe đi về mang theo những ngóng đợi và niềm vui.Chỉ có tôi là người duy nhất ở đại đội không có đồ tiếp tế,không có thư từ và không biết…yêu.Không hiểu sao,ở đây người ta yêu nhau nhanh và kinh khủng lắm.Chẵng kể dân địa phương hay thanh niên xung phong . Từng đôi lao vào nhau như chưa bao giờ.Có thể là vì buồn,cuộc sống đơn điệu và trống rỗng,đời sống tinh thần là một con số không tròn trĩnh. Người ta tìm đến tình yêu để quên , để lấp đầy khoảng trống như một cứu cánh tạm thời .Tâm trạng của tôi có khác.Biến động lịch sử đã găm vào trái tim hai mươi của tôi vết thương rỉ máu.Khi người ta đau đớn,họ có nghĩ khác gì ngoài vết thương.Tôi âm thầm chịu đựng để mơ về một điều gì đó.Con đường nào đây đang chờ tôi phía trước.
Thời gian này tôi ti toe làm thơ tình . Về một người tình không chân dung, thấp thoáng xa xôi.Những bài thơ đầu tiên chập chững theo tôi vào đời,ngôn ngữ nghèo nàn và thô vụng.Ấy thế mà có người khen. Rồi có người tâm sự,nhờ tôi góp ý về lá thư thả nỗi nhớ núi rừng về mắt môi phố xá. Dần dà tôi viết dùm luôn . Rồi thành lệ. Thế là thỉnh thoảng tôi được nghe kể chuyện tình,nghe xong lại hỏi..hỏi đi hỏi lại để nắm ý mà viết . Cũng có thù lao ,khi là nải chuối,trái mít, ít lương thực khô. Có lúc tôi được mời uống café thuốc lào và ăn phở mì gói.Tôi thấy vui vui,vừa khuây khỏa vừa lại có quà.Âu cũng là cái lộc nhỏ trời thương trong lúc khốn khó.Một ngày, cu Quỳnh đại đội phó kéo tôi uống Café,rồi bỏ nhỏ…Tui có việc nhờ ông,bí mật nghen.À …cu cậu nhờ viết thư tán tỉnh cô gái vừa quen.Theo thông lệ cu Quỳnh phải kể sạch sành sanh cho tôi nghe…Hóa ra là Búp,cô bé xinh nhất vùng này,là nhân viên Trạm Ytế xã.Công việc nhàn hạ,không mưa chẵng nắng nên Búp trắng trẻo và tiểu thư như gái thành phố.Cha của Búp là Trưởng công an xã .Có vài lần tôi đi ngang nhà Búp,đó là ngôi nhà dựng bằng gỗ quý,mái lợp ngói,rộng rãi,bề thế, RadioCasette chạy pin mở choang choang cả ngày..Thế là tôi viết.Tổng cọng tôi viết cho cu Quỳnh bốn lá thư và… chưa có hồi âm.
Còn hơn tháng nữa đến ngày về.Tôi lại bị sốt rét.Đang ăn cơm chiều tôi thấy người rún lạnh,chỉ kịp run rẫy uống mấy viên thuốc bước vào giường trùm mền rồi mê man bất tỉnh.Sốt rét ở vùng này rất nguy hiểm,trong vòng mươi,mươi lăm ngày có thể cướp đi mạng sống con người.Vào thời điểm đó thuốc men chưa có gì.Chúng tôi được cấp phát thuốc ngừa uống định kỳ nhưng không ăn thua.Thỉnh thoảng lại có người vĩnh viễn ra đi .Tôi tỉnh lại,thấy mình đang nằm ở Trạm xá.Chị Loan Trưởng trạm y tế xã bước lại nắm tay tôi ân cần….
…Khỏe rồi hả Huy,may quá em chuyễn lên Trạm xá kịp thời….Tôi yếu không nói nổi một lời, chỉ nhìn chị bằng đôi mắt biết ơn.Chị Loan dí dí tay vào trán tôi nói…
Nè….phúc lớn nghe,có ân nhân cứu mạng . Lo mà trả ơn cho con Búp đi .
Chị nói gì tôi không hiểu…..

Ông Quỳnh Đại đội phó để ý em .Ổng viết cho em tổng cọng bốn lá thư.Em đọc thích lắm nhưng mắc cở nên em chưa hồi âm.Bữa đó có chị Thanh ,Thanh niên xung phong ở Trung đội anh lên đây xin thuốc.Mấy chị em nói chuyện chơi.Chị Thanh hỏi em…Búp nhận bao nhiêu lá thư của cha Quỳnh rồi…Em ngạc nhiên hỏi…Sao chị biết…Chị Thanh nói…Tao ghét cha Quỳnh lắm,tao nói cho mày biết…Chả nhờ ông Huy ,Trung đội trưởng Trung đội tao viết dùm.Đêm nào cha Huy cũng thắp đèn dầu viết thư,ai mà không thấy. Bữa đó em nữa tin nữa ngờ,nhưng trong lòng khó chịu.
Em giả bộ không biết, mời ông Quỳnh lên Trạm xá chơi. Em với chị Loan vặn vẹo một hồi… Cái..ổng khai thiệt.Trời ơi,em tức không chịu nỗi.Em có cảm giác như anh với Ông Quỳnh đem em ra làm trò đùa.Em định bữa nào kiếm chuyện với anh,chưa tính ra thì người ta chuyễn anh lên đây.
Anh mê man không biết gì hết,tự nhiên nhìn anh, em không thấy ghét nữa.Anh bị nặng lắm.Em khóc quá chừng,em phải nhờ người ra Thị xã tìm thuốc.Bốn lá thư em đọc đi đọc lại hoài . Rồi em cứ nghĩ , thư của anh viết cho em.Tự nhiên thương anh hồi nào không biết.
Tôi bình phục rất nhanh.Búp giữ tôi ở lại Trạm xá an dưỡng cho đến ngày về.Đây là quảng thời gian suốt đời tôi không bao giờ quên.Lần đầu tiên trong đời,tôi được một người con gái chăm sóc , gần gũi và yêu thương. Một buổi tối hai đứa ngồi chơi bên dòng suối.Búp choàng tay và ngã đầu vào vai tôi.Không gian vắng vẻ,mùi hương con gái nồng nàn.Tôi bần thần.Liệu đây có phải là người con gái của mình . Trong một thoáng hình ảnh của mẹ tôi chợt về,đôi mắt thất thần của bà nhìn vào khoảng trống. Tôi thở dài ngửa mặt . Bầu trời đêm yên bình kỳ lạ với những vì sao nhấp nháy.Tôi nhẹ nhàng gỡ tay Búp…Khuya rồi mình về đi em….Nhiều lúc em thấy anh khó hiểu quá,hay là anh không thương em.Búp giận dỗi. Tôi nắm tay Búp…Em đừng nghĩ vậy,một lúc nào đó em sẽ hiểu anh.
Rồi ngày về cũng đến.Chúng tôi được nghĩ một ngày để sắp xếp và chào từ biệt bà con địa phương ..Đến lúc chia tay tôi mới kịp nhận ra mảnh đất Tây nguyên này đầy kỷ niệm . Tôi đưa anh em vào chào từng nhà,những bàn tay ân cần nắm níu,những giọt nước mắt giữa kẻ đi và người ở lại.Tạm biệt núi rừng,tạm biệt những con mưa chiều ray rứt,tê tái.Tạm biệt những tháng ngày vất vả,tơi tả rách mướp như tàn quân, vẫn còn đó tiếng cười ha hả vô lo ,vẫn hát ca bên ngọn lửa bập bùng . Ngày mai chúng tôi sẽ như những cánh chim tan rồi lại hợp,hợp rồi lại tan,bay về trăm phương nghìn hướng.
-Nhìn về đường cô lý,cô lý xa xôi.Đời nhịp sầu lỡ bước,bước hoang mang rồi.Quay lại hướng làng. Đà giang lệ ướt nồng .Mẹ già ngồi im bóng.Mái tuyết sương mong con bạc lòng….Chiều nay gửi tới quê xưa.Biết là bao thương nhớ cho vừa…….
-Buồn quá,bài hát nào vậy anh.
-Thuyền viễn xứ của Phạm duy,anh thích bài này lắm.
-Hát tặng em lần cuối hở . Nói em nghe đi….khi nào anh trở lại thăm em …..

Chiếc xe chuyển bánh đưa chúng tôi rời xa thôn xóm . Những khuôn mặt thân quen đưa tay vẫy tiễn biệt..Tôi rướn người lên thu vào mình những hình ảnh sau cùng.Bóng em mờ dần…mờ dần.Trời tháng Tám Tây nguyên nắng và oi bức.Chiếc xe nặng nề trườn lên con dốc. Buị đường quyện vào khói xe mờ mịt, những cuộn khói bụi quyện vào nhau bốc cao và tan loãng ra như những dấu hỏi thả vào mây trời………BÚP……ơi .

VŨ ĐÌNH HUY