CON CÓ MỘT TỔ QUỐC

 

trantrungdao

 

Hai tháng trước tôi được ban tổ chức đại hội sinh viên Bắc Mỹ đề nghị đến nói chuyện với các bạn trẻ đại diện của khoảng 50 tổ chức thanh niên sinh viên Hoa Kỳ và Canada về tham dự đại hội lần thứ nhất, được tổ chức đại học Emerson, thành phố Boston. Vì khẩu hiệu chính của đại hội là “Tôi là người Việt Nam” nên buổi tâm tình của tôi cũng tập trung chung quanh ý nghĩa của câu khẩu hiệu này. Một dương ảnh với kỹ thuật khá công phu được chiếu trong lễ khai mạc với tiếng hô “Tôi Là Người Việt Nam” của các bạn trẻ nối tiếp nhau, vang lên khắp năm châu, ngoại trừ trong nước, đã làm mọi người xúc động.
Trong buổi sáng tâm tình đó, tôi có dịp chia xẻ với các em niềm vui khi biết các em đã trưởng thành. Sự trưởng thành của các em, không chỉ chứng tỏ một cách đơn giản bằng tiếng hô “Tôi Là Người Việt Nam” đã được ít nhiều kỹ thuật hóa, nhưng bằng việc theo dõi công việc các em đã và đang làm trong thời gian qua. Mặc dù được mời làm cố vấn cho ban tổ chức đại hội, tôi chẳng những không cố vấn được một lời nào, trái lại trở thành người học trò chăm chỉ của các em. Tôi học ở các em cách tổ chức, cách suy nghĩ, cách làm việc và cả cách giải quyết những bất đồng. Tôi sung sướng tự nhủ, sau gần 30 năm, những nhánh sông, những con nước trôi lạc loài trên biển ngày nào đang trên đường trở về nguồn cội. Giấc mơ Việt Nam mà tôi đang tha thiết kêu gọi đang dần dần hiện rõ.
Nếu chúng ta xuống khu người Ý để hỏi một thanh niên Mỹ gốc Ý anh là ai, anh ta chắc chắn sẽ trả lời rất gọn “Tôi là người Mỹ.” Tương tự, nếu chúng ta qua khu người Đức để hỏi một phụ nữ Mỹ gốc Đức chị là ai, chị cũng sẽ trả lời “Tôi là người Mỹ.” Nhưng một cô bé Việt Nam đang định cư ở Atlanta đã trả lời với tôi em là người Việt Nam. Em nói một cách chân thành. Các em là người Việt Nam và hãnh diện là người Việt Nam, dù đa số các em có mặt trong ba ngày đại hội, đã sinh ra tại hải ngoại, và thậm chí có em chưa bao giờ đặt chân lên đất nước Việt Nam. Sau buổi nói chuyện tôi dành thời gian để trao đổi thêm với các em có những ưu tư bức xúc riêng nhưng không kịp hay không tiện trình bày trong buổi nói chuyện. Tôi xúc động khi biết nhiều em đã dành suốt mùa hè để học tiếng Việt, nhiều em lo lắng không biết bao giờ mới có đủ khả năng tiếng Việt để đọc được Kiều, nhiều em phân vân không biết các tác phẩm về chiến tranh Việt Nam do các tác giả ngoại quốc viết có phản ảnh trung thực và khách quan cuộc chiến Việt Nam hay không. Nghe các em nói, tôi cảm thấy trách nhiệm đè nặng trên vai mình.
Qua nhiều lần tiếp xúc với các bạn trẻ, tôi hiểu được rằng, trong các thế hệ Việt Nam tỵ nạn, thế hệ của chúng tôi có nhiều may mắn nhất. Trong thời kỳ chiến tranh đẫm máu, chúng tôi còn ngồi trong trường trung học hay một, hai năm đầu đại học. Trong thời kỳ đói khổ sau 1975, chúng tôi đã vào tuổi hai mươi và có khả năng bương chải qua ngày. Khi đặt chân sang nước ngoài, chúng tôi lại là thế hệ sở hữu những kinh nghiệm sống cần thiết để đương đầu với những khó khăn trong đời sống mới và có số vốn liếng Việt ngữ, tuy khiêm tốn nhưng cũng tạm đủ để tiếp tục học hỏi và duy trì văn hóa Việt. Các em thì không. Tuổi thơ của các em được ru, không phải bằng những câu ầu ơ dí dầu thân thương tha thiết nhưng là các chương trình truyền hình Mister Rogers’ Neighborhood, bằng Sesame Street, Mickey Mouse. Thế nhưng các em đã ngồi lại với nhau, học hỏi lẫn nhau, tìm cách giúp đỡ cho nhau và cho quê hương của cha mẹ em đang cần được giúp. Điều đó cho thấy, tình yêu nước Việt là một thôi thúc kỳ diệu, không đơn giản được xác định bằng tấm giấy khai sinh, bằng quốc tịch nhưng bằng máu huyết luân lưu suốt mấy nghìn năm, bằng đời sống và giáo dục gia đình, bằng truyền thống và tập tục văn hóa đã không ngừng được duy trì và phát triển tại hải ngoại. Đặc tính kế thừa và gắn bó với quê cha đất tổ đó rất khó tìm thấy trong cộng đồng của một sắc dân nào khác.
Một bằng chứng khác, rất hùng hồn và dễ thương tôi đã chứng kiến cũng trong ngày đại hội sinh viên Bắc Mỹ vừa qua, là cách trả lời câu hỏi của một thí sinh trong giải Hoa Hậu Nhân Ái, một tiết mục bên cạnh chương trình chính của ba ngày đại hội. Câu hỏi thế này: “Nếu em chỉ có 24 giờ để sống trên đời, em sẽ làm gì trong 24 giờ đó?” Và đây là nguyên văn câu trả lời của thí sinh trúng giải: “Nếu em chỉ có 24 giờ để sống, em sẽ dành 24 giờ đó cho ba mẹ em. Em sẽ thưa với ba mẹ em rằng em cám ơn ba mẹ đã sinh em ra, đã trải qua nhiều cực khổ từ những ngày mới đặt chân đến Mỹ để nuôi em nên người như ngày hôm nay. Em có một đứa em nhỏ, nếu còn thời gian em sẽ dành cho nó, dặn dò nó chăm lo học hành, có hiếu với ba mẹ và thay em chăm sóc ba mẹ trong tuổi già.” Cô bé đứng trên khán đài cao, nhìn xuống ba mẹ em ở dưới, vừa trả lời vừa rưng rưng nước mắt, tưởng chừng 24 giờ tới đây em sẽ ra đi thật. Em có thể đã có người yêu. Em có thể đã có hàng trăm nhu cầu, ham muốn khác của tuổi mười tám, hai mươi. Nhưng không, cuối cùng em chỉ muốn trở về với nơi em đã sinh ra. Ý thức về nguồn, qua câu trả lời tuy không được chuẩn bị trước nhưng rất tự nhiên, chân thành bằng tiếng Việt, đã cho thấy sức sống kỳ diệu của dân tộc Việt Nam. Sức mạnh của văn hóa dân tộc Việt Nam như một dòng sông dài, có lúc trôi êm ả và cũng có lúc phải vượt qua nhiều ghềnh đá cheo leo, nhưng chưa bao giờ gián đoạn.
Câu nói “Tôi là người Việt Nam” thoạt nghe qua rất đơn giản, ai cũng có thể nói được, người Việt Nam nào, dù trong nước hay đang sống ở ngoài nước, cũng có thể nói như thế. Nếu chúng ta hỏi một em du học sinh từ trong nước vừa ra đến hải ngoại, em sẽ trả lời một cách hãnh diện “Tôi là người Việt Nam” và tương tự nếu chúng ta hỏi một sinh viên Việt Nam lớn lên ở Mỹ, Canada, Đức, Pháp, Úc hay xứ nào khác, em cũng sẽ vui sướng trả lời “Em là người Việt Nam.” Tuy nhiên nếu chúng ta hỏi tiếp “Việt Nam của em là Việt Nam nào?” thái độ, phản ứng và cách trả lời của mỗi em sẽ khác.
Em sinh viên ở hải ngoại sẽ ngập ngừng, vì trước hết, em không thể tin được trên thế giới này có thể có hơn một nước Việt Nam.
Nước Việt Nam duy nhất mà em biết là một dân tộc tuy có lịch sử anh hùng, bất khuất, có tinh thần tự chủ cao độ, truyền thống giáo dục gia đình tốt đẹp nhưng hiện nay đã trở thành lạc hậu.
Việt Nam mà em biết là quốc gia có lợi tức đầu người vỏn vẹn 401 Mỹ Kim, thấp xa so với nhiều quốc gia kém phát triển khác ở Châu Phi, và với một nền kinh tế sống nhờ vào khu vực nông nghiệp và dịch vụ.
Việt Nam mà em biết là quốc gia có những người lãnh đạo đất nước già nua, độc tài, cực đoan, bảo thủ ngồi trên ghế quyền lực tròn nửa thế kỷ nhưng vẫn còn muốn duy trì quyền chuyên chế ngay cả trong lúc đang nằm trên giường bịnh chờ chết.
Việt Nam mà các em biết là một trong năm nước trên thế giới vẫn tiếp tục bám vào chủ nghĩa Cộng Sản, một ý thức hệ một thời bành trướng nhờ vào chiến tranh, đấu tố, ám sát, hiện nay đã lùi xa vào quá khứ.
Việt Nam mà các em biết là quốc gia có 100 ngàn phụ nữ chỉ vì chén cơm manh áo mà phải bán thân lưu lạc xứ người, bị đánh đập, xô đuổi, ném ra đường phố như những nô lệ tình dục thời Trung Cổ.
Việt Nam mà các em biết là quốc gia có 45 triệu thanh niên nhưng đa số không có sức sống, không có hoài bảo cho tương lai của đời mình và cho đất nước mình, sống trong chờ đợi một bình minh chưa đến và có thể sẽ không bao giờ đến trong đời họ.
Tóm lại, Việt Nam mà thế hệ trẻ ở hải ngoại biết là một dân tộc đáng yêu nhưng cũng là quốc gia đang cần một cuộc thay đổi toàn diện để hy vọng có thể hội nhập vào dòng tiến hóa của loài người.
Trái lại với một Việt Nam bi thảm đó, đối với đa số các em du học sinh từ trong nước mới sang hay đang ngồi trong trường đại học tại Việt Nam, Việt Nam mà các em được dạy là “xứ sở của anh hùng, độc lập, tự do, hạnh phúc, một đất nước, dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng Sản Việt Nam, đã liên tục đánh gục ba tên đế quốc đầu sỏ Pháp, Nhật và Mỹ. Cả thế giới nghiêng mình kính phục khi nghe nhắc đến hai chữ Việt Nam.” Nói chung, ý thức của các em là bản sao của một bài hát tuyên truyền được lặp đi lặp lại suốt gần ba chục năm qua, nhiều đến nỗi đã trở thành tự nhiên như một đặc tính bẩm sinh. Thật khó có thể tin được, giữa lúc cả nước chìm trong nạn đói của những năm sau 1975, trong đó hàng triệu người dân bị đày đi kinh tế mới, hàng triệu người không có ngay cả mỗi ngày chén cháo để ăn, nhưng trên các loa phóng thanh đầu làng cuối phố, người dân Việt Nam vẫn sáng chiều hai buổi nghe toàn là những thành quả vượt chỉ tiêu, những khẩu hiệu đầy hứa hẹn.
Trong phạm vi văn học, những ngày sau 1975, bài thơ được diễn ngâm nhiều lần trên các hệ thống truyền thanh và truyền hình Việt Nam là bài “Tổ Quốc Bao Giờ Đẹp Thế Này Chăng” của Chế Lan Viên. Mặc dù bài thơ viết năm 1965, nhưng Ban Tuyên Huấn Trung Ương Đảng chỉ thị phát thanh nhiều lần sau 1975 với ngụ ý thời đại họ gọi là “thời đại Hồ Chí Minh” mới thật sự là thời đại vàng son nhất trong lịch sử Việt Nam bốn ngàn năm văn hiến:
Hỡi sông Hồng tiếng hát bốn nghìn năm
Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?
Chưa đâu !
Và ngay cả trong những ngày đẹp nhất
Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc
Nguyễn Du viết Kiều đất nước hóa thành văn,
Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào cửa Bắc
Hưng Đạo diệt quân Nguyên trên sông Bạch Đằng…
Những ngày tôi sống đây là những ngày đẹp hơn tất cả…
Dù mai sau đời vạn lần hơn....
Khi so sánh những ngày đói khổ sau 1975, ở đó, mỗi ngày khi trời chưa sáng, trước bịnh viện Chơ Rẫy, Bình Dân, đã có hàng trăm người chờ bán máu, mỗi ngày trước cửa hàng thực phẩm hàng ngàn người sắp hàng chờ mua từng cân thịt, là đẹp hơn, là vinh quang, là hào hùng hơn cả thời “Hưng Đạo diệt quân Nguyên trên sông Bạch Đằng” hay “Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào cửa Bắc”, quả thật, giới lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam đã khinh mạn tổ tiên, xúc phạm một cách nghiêm trọng đến anh linh của những bậc anh hùng đã đem máu xương để viết lên như trang sử hào hùng của dân tộc Việt. Thật khó tin, Chế Lan Viên, tác giả của Điêu Tàn, một thời là thần tượng thi ca của thế hệ ông, đã viết những lời nịnh bợ Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản Việt Nam một cách trơ trẽn đến như thế. Khi nghe bài thơ này, tôi thắc mắc không biết tổ quốc của Chế Lan Viên là tổ quốc nào. Bài thơ của Chế Lan Viên cho chúng ta thấy ý thức hệ Cộng Sản có khả năng đầu độc và làm thay đổi toàn bộ ý thức của con người về lịch sử, nhân sinh và vũ trụ.
Nói đến sự độc hại của ý thức hệ Cộng Sản tôi nhớ một câu chuyện vui về hai học sinh Bắc Hàn, được nhà nước cử đi học chuyên môn tại một đại học Mỹ. Hai em phải viết một luận văn như một phần trong thủ tục nhập học. Tòa đại sứ Bắc Hàn dùng đó như cơ hội tuyên truyền nên chỉ thị hai em viết về đất nước Triều Tiên của các em dưới sự lãnh đạo của Kim Chủ Tịch anh minh và vĩ đại. Hai bài luận văn, dù viết rất hay nhưng sau đó đã bị nhà trường từ chối không cho phép nhập học. Lý do nhà trường nghi ngờ hai em đã chép nguyên văn bài của nhau. Thật ra, hai em không chép bài của nhau nhưng đó là tất cả những gì các em biết về xứ sở của các em, nơi chỉ có một tờ báo, một đài phát thanh nội địa, một đài truyền hình nội địa, một đường dây điện thoại nội địa, một khẩu phần ăn giống nhau cho mọi gia đình, một giáo trình duy nhất cho tất cả trường học và một quốc gia duy nhất trên thế giới còn xử dụng phòng hơi ngạt trang bị chất độc để tra tấn kẻ thù chế độ. Câu chuyện về hai cậu học sinh Bắc Hàn, có thể chỉ là chuyện vui nhưng nếu chúng ta đọc các bản tường trình về tình trạng nhân quyền tại Bắc Hàn của các tổ chức nhân quyền quốc tế như Amnesty International hay của Human Rights Watch, sẽ biết đời sống con người tại Bắc Hàn còn bi thảm hơn thế nữa.
Việt Nam là một trong số vài đồng chí thân thiết còn lại của Bắc Hàn, thân đến mức đảng Cộng Sản Việt Nam đã bắt cả nước phải để tang Kim Nhật Thành khi tên bạo chúa của 20 triệu dân Bắc Hàn vĩnh biệt cuộc đời năm 1994. Hành động trơ trẽn này đã bị Hòa Thượng Thích Quảng Độ vạch ra trong lá thư gởi Tổng Bí Thư Đỗ Mười như sau: “Riêng ông Kim Nhật Thành của Bắc Triều Tiên thì mới chết gần đây và đảng Cộng Sản Việt Nam đã dành trọn ngày 17-7-94 để “quốc tang” cho ông ấy. Tôi thiết nghĩ nếu ông Kim Nhật Thành đã giúp đỡ gì cho đảng Cộng Sản Việt Nam, hoặc vì tình “anh em như môi với răng” giữa những người Cộng Sản quốc tế với nhau, thì chỉ đảng và 1 triệu 800 nghìn đảng viên để tang cho ông ấy thôi, chứ ông Kim Nhật Thành đã làm gì cho đất nước Việt Nam và 70 triệu nhân dân Việt Nam có là đảng viên đảng Cộng Sản cả đâu mà đảng bắt toàn dân phải để tang ấy, dù chỉ một ngày? Thế sao đảng không làm một ngôi đền thật lớn ở ngay Hà Nội để thờ tổ Hùng Vương và tuyên bố lấy ngày 10 tháng 3 âm lịch – ngày giỗ tổ – làm ngày Quốc lễ, nghĩ trọn ngày để cho toàn dân có dịp tưởng nhớ đến công ơn của đức Quốc tổ và các bậc tiền bối đã có công mở nước và dựng nước, nhờ thế ngày nay mới có đảng Cộng Sản Việt Nam? Mồ cha sao mình không khóc! Ông Kim Nhật Thành là người ngoại chủng thì đảng Cộng Sản Việt Nam đối đãi như thế, còn đối với người đồng bào đồng chủng với nhau thì đảng Cộng Sản lại bắn giết.”
Nhiều độc giả có thể không hoàn toàn đồng ý với tôi trong việc so sánh giữa xã hội Bắc Hàn và Việt Nam vì sinh hoạt xã hội tại Việt Nam dù sao cũng khá hơn nhiều so với xã hội Bắc Hàn. Vâng. Báo chí Việt Nam được phép thăm dò đời sống tình dục trong giới trẻ, được phép thống kê những cách ăn chơi trong giới trẻ nhưng có bao giờ những tờ Tuổi Trẻ hay Thanh Niên dám hỏi thanh niên Việt Nam nghĩ gì về chế độ chính trị mà các em đang sống và hướng đi đích thực nào dành cho dân tộc Việt Nam. Báo chí Việt Nam được phép khai thác những ham muốn vật chất, những thú vui sa đọa, trụy lạc trong xã hội nhưng không được phép cổ võ cho các giá trị cao đẹp của quyền sống, quyền tự do dân chủ của con người. Nếu hai em học sinh phổ thông Việt Nam ngồi viết hai bài luận văn về đất nước của em, nội dung có lẽ cũng không khác hai em học sinh Bắc Hàn kia bao nhiêu. Các em sẽ viết gì ngoài việc ca ngợi những thành tích của đảng Cộng Sản, về cuốc chiến thắng được gọi là “Chống Mỹ cứu nước”, về những thành quả kinh tế vượt chỉ tiêu nhưng không bao giờ được kiểm chứng một cách khách quan và độc lập. Và hẳn nhiên, các em sẽ không bao giờ dám viết về những bữa ăn chiều không đủ cháo thay cơm, những ngày đi lượm giấy, lượm bao, những đêm ngủ bờ ngủ bụi. Xét cho kỹ, về tư tưởng, người dân Việt Nam cũng không may mắn gì hơn một người dân Bắc Hàn, nghĩa là cũng hoàn toàn bị khống chế bởi một bộ máy tuyên truyền duy nhất mà thôi. Tự do, nếu định nghĩa như Các Mác, là sự thừa nhận các quy luật tất yếu của xã hội, thì quy luật tất yếu tại Việt Nam là sự lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện của đảng Cộng Sản.
Khi nói đến tình trạng vong thân trí thức trong giới trẻ Việt Nam, tôi không có ý cho rằng tất cả thế hệ trẻ Việt Nam đều đánh mất quê hương trên chính quê hương mình, đều ngoảnh mặt làm ngơ trước sự chịu đựng của cha mẹ và bà con thân thuộc mình. Không. Trên kẽ đá hẹp giữa lòng núi, dù cheo leo nguy hiểm bao nhiêu vẫn mọc lên những bông hoa rừng tuyệt mỹ. Đất nước chúng ta cũng thế. Lịch sử đã chứng minh, thời đại nào người yêu nước cũng đông hơn kẻ phản dân hại nước. Trong cơn lũ độc tài áp bức kéo dài mấy chục năm qua, những búp măng non vẫn cố vươn mình lên. Những Phạm Hồng Sơn, Lê Chí Quang, Nguyễn Vũ Bình và nhiều khuôn mặt trẻ can đảm khác vẫn còn sángsuốt, bằng nhiều cách khác nhau, đang cố đánh thức thế hệ họ, đồng bào họ đang chìm trong cơn mê dài.
Đối với các em du học sinh, những người sinh sau cuộc chiến Việt Nam, có được cơ hội ra nước ngoài học hỏi, không phải em nào cũng là Cộng Sản. Thành phố nơi tôi ở là thành phố đại học nên tôi có cơ hội gặp khá nhiều sinh viên từ trong nước sang. Trong những lần gặp gỡ đó, có khi tôi cũng nghe vài em thao thao bất tuyệt về một “Bác Hồ anh minh và vĩ đại”, nghe các em đọc dăm bài thơ của Tố Hữu, Chế Lan Viên đầy sắc máu hận thù, và cũng có khi nghe các em nói lên niềm hãnh diện về nước Việt Nam, nơi đó, cái gì cũng vượt trên tầm thời đại. Bạn bè tôi, nhiều người cảm thấy khó chịu, đứng dậy đi ra, một số khác e ngại và từ đó tìm cách tránh xa, nhưng tôi thì không. Tôi ngồi lại và kiên nhẫn chờ đợi một cơ hội để nói với em những điều em chưa hề được nghe, cơ hội để mang các em về với thực tế đầy đau xót của đất nước, về với cái chung của anh em chúng tôi đang bị chìm khuất phía sau đám mây đen vong bản.
Tôi ở lại với các em vì tôi thật sự không tin những điều các em nói phát xuất từ trái tim trong sáng Việt Nam hay những bài thơ các em đọc phát xuất từ tâm hồn đầy ắp thi ca và nhân bản Việt Nam. Ý thức của các em khi sinh ra giống như một tờ giấy trắng, đảng Cộng Sản vẽ lên đó hình gì, sẽ hiện lên hình đó, chế độ độc tài sơn lên màu gì, sẽ hiện ra màu đó. Trách nhiệm lương tâm và đạo đức của những ai còn nghĩ đến tương lai dân tộc, không phải xé bỏ tờ giấy đó đi nhưng chỉ nên xóa đi màu đỏ của hận thù, xóa bỏ bức hình độc ác trong tâm thức của các em. Nếu làm được vậy, tấm giấy kia vẫn sẽ là tấm giấy Việt Nam. Thay vì đẩy các em về phía bóng tối, hãy giúp các em đi về phía ánh sáng của tình đồng bào, tình đất nước.
Tôi muốn nói với các em về một nước Việt Nam mà có thể các em chưa biết, một Việt Nam đang bị bỏ rơi tận đàng sau đuôi cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật không ngừng của nhân loại. Thế giới mà các em đang đối diện không phải là thế giới mà các em đã học ở trong nước. Sau1975, những nhà lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam tự mãn với hào quang chiến thắng của họ đến nỗi trở nên cô lập với thế giới bên ngoài. Hậu quả của căn bịnh kiêu căng đầy hoang tưởng đó là một Việt Nam suy thoái về mọi phương diện. Về kinh tế, Việt Nam nghèo nàn còn hơn cả những nước châu Phi chưa ra khỏi tình trạng bán khai, bộ lạc như Congo, Yemen, Senegal. Về mặt quốc phòng, Việt Nam không có ngay cả một chiếc tàu chiến hiện đại để bảo vệ lãnh hải dài trên ba ngàn cây số, không có một chiếc chiến đấu cơ bay đủ cao, đủ xa để bảo vệ vùng trời tổ quốc. Về ngoại giao, Việt Nam, tuy đứng trước Trung Cộng lúc nào cũng lăm le xâm chiếm nhưng không có một đồng minh nào trên thế giới, dù chỉ để nói đôi lời an ủi.
Tôi muốn nói với các em về lòng yêu nước, một đức tính vô cùng cao quý và đáng ca ngợi của dân tộc Việt Nam. Chúng ta hãnh diện với truyền thống yêu nước và tinh thần tự chủ đã được may mắn kế thừa từ tổ tiên suốt bốn ngàn năm lịch sử. Nếu không nhờ tinh thần đó thì ngày nay Việt Nam không phải là nước Việt Nam mà là tỉnh Việt Nam, giống như tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây hay đã chịu chung số phận của Mãn Châu, Nội Mông, Tây Tạng. Nhưng yêu nước là một tình yêu cần được soi sáng và hướng dẫn bằng trí tuệ chứ không phải là một thứ tình yêu cực đoan và mù quáng. Hãy nhìn lại cuộc đấu tranh chống Thực Dân Pháp đầy gian khổ của dân tộc Việt Nam. Trong cuộc đấu tranh đó, không phải chỉ miền Bắc là chống Pháp và miền Nam thì theo Pháp, không phải chỉ những người Cộng Sản là hô hào đánh Pháp và người Quốc Gia thì chạy theo chân Pháp. Không. Từ sông lạch miền Nam đến núi rừng Việt Bắc, nhân dân Việt Nam đã tùy theo điều kiện địa lý, hoàn cảnh chính trị của mỗi miền, và cả của mỗi người để đánh đuổi Thực Dân. Có vị chủ trương cứng rắn, có vị chủ xướng ôn hòa, có vị chủ trương võ lực, có vị chủ xướng Duy Tân. Nhưng nếu họ cùng có một tấm lòng vì nước, một đức tính trung thành và chung thủy với quê hương, nhân dân Việt Nam vẫn biết ơn họ và lịch sử Việt Nam sẽ ghi công họ. Giới lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam thì khác, chưa đánh đuổi được ngoại xâm đã tàn sát không nương tay những người Việt Nam yêu nước mà họ nghĩ sẽ tranh quyền đoạt lợi với họ sau này. Và trong suốt nửa thế kỷ qua, giới lãnh đạo Cộng Sản lại một lần nữa lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam, đẩy hàng triệu thanh niên Việt Nam vào chỗ chết cho các mục tiêu bành trướng ý thức hệ Cộng Sản, cho quyền lợi của đàn anh Trung Cộng, Liên-Xô dưới hình thức cuôc chiến tranh gọi là “Chống Mỹ cứu nước” vô cùng ngu xuẩn. Hôm nay, cơn lũ chiến tranh tuy đã qua đi nhưng trên cánh đồng Việt Nam vẫn còn phơi đầy thân xác anh em, máu xương của đồng bào ruột thịt.
Tôi muốn nói với các em về những kẻ trước đây đã từng ca ngợi chế độ Cộng Sản Việt Nam như “ngọn hải đăng thời đại”, những kẻ “mơ sáng mai thức dậy biến thành người Việt Nam” và họ thật sự là ai.
Họ là đảng và nhà nước Liên Xô thời chế độ này còn thoi thóp, họ là đảng Cộng Sản Trung Hoa, họ là những nhà văn, nhà thơ chống chiến tranh và họ là lãnh tụ các phong trào phản chiến châu Âu.
Đảng và nhà nước Liên-Xô ca ngợi Cộng Sản Việt Nam bởi vì chiến tranh Việt Nam đã giúp làm chậm lại cuộc chạy đua vũ khí với Mỹ mà chính họ đang dần dần kiệt quệ. Trung Cộng ca ngợi Cộng Sản Việt Nam đơn giản vì nhân dân Việt Nam đã chết thay cho họ để bảo vệ biên giới phía Nam. Trong ly rượu sâm-banh của các tên lái buôn chiến tranh đế quốc chúc tụng nhau ở Nhân Dân Đại Sảnh Bắc Kinh, ở điện Kremlin có máu của đồng bào Việt Nam đổ xuống khắp ba miền. Trong tiếng cười rạng rỡ của các chủ tịch nhà nước, các tổng bí thư trong đêm liên hoan mừng chiến thắng, không phải chiến thắng của nhân dân Việt Nam nhưng vì các mục tiêu riêng của họ đã đạt được, có nước mắt của hàng triệu bà mẹ Việt Nam khóc cho những đứa con của mẹ đã gởi xác ở Trường Sơn, Khe Sanh, Bình Long, Trị Thiên, An Lộc.
Lãnh tụ các phong trào phản chiến Châu Âu ca ngợi Cộng Sản Việt Nam chỉ vì sự ganh tị trước một nước Mỹ giàu sang hơn là lòng trắc ẩn dành cho dân tộc Việt Nam. Bằng chứng, chính những phong trào được mệnh danh hòa bình này trong chiến tranh Iraq vừa qua, đã vận động người sang Iraq làm thành những vòng chắn người (Human shields) để bảo vệ cho chế độ Saddam Hussein khi liên quân Anh Mỹ chuẩn bị dội bom Baghdad. Các lãnh tụ hòa bình, phản chiến đó ở đâu khi tên đồ tể Saddam Hussein và tập đoàn tàn sát hàng triệu người dân Kurds, kể cả trẻ em vừa mới ra đời, bằng những phương tiện vô cùng phi nhân như hơi ngạt và vũ khí vi khuẩn. Hành động nhân đạo bao giờ cũng cần được khuyến khích nhưng hành động đó phải phát xuất từ tình người chân thật thay vì từ sự ganh tị cá nhân, quốc gia, tôn giáo.
Các nhà văn, nhà thơ phản chiến Mỹ ca ngợi Cộng Sản Việt Nam chỉ vì mặc cảm bị lãng quên sau cuộc chiến và ngây thơ về hoàn cảnh chính trị xã hội tại Việt Nam. Tôi đã hơn một lần ngồi chung với các nhà văn nhà thơ phản chiến này trong một số hội luận văn học dành cho các nhà văn, nhà thơ từ các quốc gia đã từng chịu đựng chiến tranh. Họ ngạc nhiên khi nghe những người cầm bút trong cộng đồng Việt Nam hải ngoại nói về đời sống của một người Việt Nam sau 1975 với những trại tập trung, với nhà tù, sân bắn, với những khu kinh tế mới, với thảm cảnh hàng triệu người đã phải bỏ nước ra đi. Họ đến Việt Nam để gọi là góp phần xoa dịu vết thương của nạn nhân chiến tranh nhưng không hề biết nạn nhân thật sự của cuộc chiến Việt Nam là ai. Họ mời các nhà thơ, nhà văn mang quân hàm đại tá, được nhà cầm quyền Cộng Sản chỉ định hay cho phép sang tham quan hàng năm, để gọi là hòa giải với những cựu thù nhưng không biết rằng, những ngưòi họ thật sự cần hòa giải, những thương phế binh đang vá xe nuôi một bầy con ở góc đường Hà Nội, những “cô gái Trường Sơn” ngồi khóc tuổi thanh xuân không bao giờ trở lại trong căn nhà tập thể chật hẹp ở Hải Phòng, lại không được quyền có mặt và sẽ không bao giờ biết được những gì xảy ra ở thế giới bên ngoài.
Tôi muốn nói với các em, dân tộc chúng ta đã được những gì sau cuộc chiến Việt Nam. Một thành quả của đảng Cộng Sản mà các em nghe hàng triệu lần là thống nhất dân tộc. Vâng, thống nhất dân tộc là một nhu cầu cần thiết. Không một người Việt yêu nước nào không muốn dân tộc Việt Nam thống nhất, nhưng liệu cần thiết đến nỗi phải đổi bằng thân xác của 5 triệu người dân vô tội, hủy diệt mầm sống của 80 triệu người còn lại trong suốt nửa thế kỷ qua và hậu quả xã hội sẽ kéo dài không biết đến bao giờ? Tại sao Đông Đức không chọn con đường võ lực? Tại sao Bắc Hàn, sau cuộc thử lửa với Mỹ vào năm 1953, đã không tiếp tục chọn con đường võ lực? Nếu Hồ Chí Minh và các nhà lãnh đạo Cộng Sản thật sự là những người yêu nước, họ ít nhất phải học ở Erich Honecker và Kim Nhật Thành, dù độc ác bao nhiêu cũng biết sợ hậu quả không thể đo lường được khi phải đương đầu với Mỹ, một cường quốc mạnh nhất thế giới về khoa học kỹ thuật, kinh tế và quốc phòng. Con số năm chục ngàn binh sĩ Mỹ đã chết trong cuộc chiến Việt Nam tuy không nhỏ nhưng chỉ bằng một phần trăm mức tổn thất của phe hãnh diện rằng mình đã thắng. Nếu Hồ Chí Minh và các nhà lãnh đạo Cộng Sản miền Bắc thật sự là những người yêu nước, họ phải biết dừng lại ở hiệp định Geneve và chờ một cơ hội hòa bình, một giải pháp không đổ máu để thống nhất đất nước, thay vì thống nhất bằng xe tăng T54, bằng đại pháo, bằng trại tập trung, bằng nhà tù và sân bắn, để rồi gần ba mươi năm sau, con sông Gianh vẫn chảy trong lòng người.
Và tôi cũng muốn nói với các em một điều hệ trọng hơn tất cả những điều đã nói, rằng, dù em sinh ra ở Huế, Hà Nội hay Sài Gòn, ở San Diego, Santa Ana, San Jose, Sydney, Victoria, Oslo, Berlin, Paris hay một nơi nào khác, em cũng nên hãnh diện để nói lớn rằng “Tôi là người Việt Nam.” Định mệnh lịch sử khắc nghiệt đã đẩy các em vào nhiều hoàn cảnh khác nhau, điều kiện trưởng thành khác nhau, nhưng tôi tin rằng, một ngày không xa, tất cả những người con yêu của mẹ Việt Nam sẽ gặp lại nhau tại một điểm hẹn huy hoàng của lịch sử, đó là ngày phục hưng dân tộc Việt Nam. Em đang ở đâu và đang làm gì, hãy nỗ lực cho ngày đẹp trời đó của dân tộc. Những buồn đau chia cắt sẽ qua đi và một nước Việt Nam mới, tự do, dân chủ, nhân bản, khai phóng sẽ ra đời. Đó cũng là ngày, những người con của Mẹ Việt Nam ở năm châu bốn biển, sẽ hẹn nhau về lại Phong Châu, quỳ trước điện Hùng Vương và cùng thưa với anh linh Quốc Tổ Việt Nam: “Con có một tổ quốc.”
Tổ quốc của các em cũng là tổ quốc của Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ. Trong đêm tối giữa nhà lao Phan Đăng Lưu hay trong buổi chiều mưa tầm tãm, tay dắt bà mẹ già 90 tuổi trên đường lưu đày ra huyện Vũ Đoài, Thái Bình, ngài vẫn một tấm lòng son sắt với quê hương:
Nghe lòng xa vắng những chiều đông
Nhìn nước mênh mông khắp mặt đồng
Bát ngát núi xa mờ bóng cọp
Thăm thẳm trời cao bặt cánh hồng
Bao độ cà tan cà nở nụ
Mấy mùa lúa rụng lúa đơm bông
Năm tháng mỏi mòn đầu đã bạc
Còn chút lòng son gởi núi sông
(–Thơ HT Thích Quảng Độ–)
Tổ quốc của các em cũng là tổ quốc của Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận. Trong giờ phút cùng cực của khổ đau hoạn nạn tại Cây Vông, Phú Khánh ngày 8-12-1975, ngài đã dặn dò lấy chính ngài và cũng nhắn nhủ các thế hệ mai trong bài thơ Con Có Một Tổ Quốc hùng hồn như trang sử:
Con có một Tổ Quốc: Việt Nam
Quê hương yêu quý ngàn đời
Con hãnh diện
Con vui sướng
Con yêu non sông gấm vóc
Con yêu lịch sử vẻ vang
Con yêu đồng bào cần mẫn
Con yêu chiến sĩ hào hùng
Sông cuồn cuộn máu chảy cuộn hơn
Núi cao cao, xương chất cao hơn
Đất tuy hẹp nhưng chí lớn
Nước tuy nhỏ nhưng danh vang
Con phục vụ hết tâm hồn
Con trung thành hết nhiệt huyết
Con bảo vệ bằng xương máu
Con xây dựng bằng tim óc
Vui niềm vui đồng bào
Buồn nỗi buồn của dân tộc
Một nước Việt Nam
Một dân tộc Việt Nam
Một tâm hồn Việt Nam
Một văn hoá Việt Nam
Một truyền thống Việt Nam.
(–Thơ Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận–)
Tôi tin một ngày không xa, các em học sinh Việt Nam sẽ có cơ hội đọc lớn những bài thơ của các ngài trong giờ Việt Văn ở trường học các em, và bên ngoài cửa lớp, những cánh chim họa mi đang cất cao tiếng hót, báo hiệu mùa Xuân đang về trên quê hương không còn hận thù, rẻ chia, ngăn cách. Cám ơn Đức Hồng Y, cám ơn Hòa Thượng Viện Trưởng đã trao cho chúng con và các thế hệ mai sau niềm hy vọng Việt Nam.

Đêm nay con mặc áo của ba ngủ…

levuanhthu

Đêm nay con mặc áo của ba ngủ.
Người đàn ông đầu tiên con yêu.
Áo ba thơm mùi mồ hôi,
mùi tóc bạc hết đầu,
mùi làn da đen cháy,
mùi vết đồng hồ trắng tay.
Áo ba thơm mùi đưa đón con đi học mưa gió,
nắng trưa, sáng, chiều.
Áo ba thơm mùi những đồng tiền học phí,
mùi con lớn khôn.
Áo ba thơm mùi chiều chuộng,
mùi của những cái ôm,
những nụ hôn trên má.
Áo của ba đậm những ánh nhìn lúc con ngủ,
ánh mắt vui pha nụ cười nhẹ mỗi khi con kể chuyện.
Con mặc áo của ba,
giống những lúc nhỏ xíu leo lên bụng ba nằm,
lúc ba đánh con lần đầu tiên.

Đêm nay con mặc áo của ba ngủ,
ước sao giống như chiếc áo nhiệm màu,
cho con sự quyết đoán, sự mạnh mẽ, sự kiên cường.
Cho con những lúc yếu lòng nhưng vẫn tỉnh táo.
Cho con niềm thương yêu vô hạn vô điều kiện.

Đêm nay con mặc áo của ba ngủ…

LÊ VŨ ANH THƯ

NGẪU HỨNG ƠI À…

vudinhhuy

Theo em
bước xuống vườn cà
Tầm xuân biêng biếc
ơi à vào mơ

Ơn em
phút ấy tình cờ
Câu thơ ngẫu hứng
ởm ờ trầu cau

Bao giờ
thắm được môi nhau
Mở trang Lục Bát
rối nhàu
vần thơ

Ta về
thả chiếc thuyền mơ
Ôm Cầm
đợi bóng
bên bờ nhân duyên

Ngày xưa
em vén tay tiên
Qủa cầu lơ lững
nghiêng nghiêng
đêm này .

Vũ Đình Huy

TẠI SAO KHÔNG NÊN DÙNG HAI CHỮ TRUNG QUỐC?

tranducdung

Khởi đầu, những bộ tộc nhỏ sống trên vùng đồng bằng giữa hai dòng sông; Hoàng Hà phía bắc và Dương Tử phía nam, gọi nơi này là Trung Nguyên. Tức vùng bình nguyên giữa hai con sông. Trung là ở giữa. Nguyên là cánh đồng. Cho nên chữ Trung Nguyên chỉ có nghĩa là cánh đồng giữa hai dòng sông.

Hai chữ Trung Nguyên quá mơ hồ không rõ ràng, cho cả vùng rộng lớn. Trong vùng này có một địa phương, khá đông dân cư, gọi là Hoa Âm (thuộc địa phận tỉnh Hoa Nam hiện nay), nên còn được gọi là Trung Hoa. Từ đó hai chữ Trung Nguyên hay Trung Hoa thường được dùng lẫn lộn. Để phân biệt với Bắc Mạc, tức vùng sa mạc phía bắc sông Hoàng Hà, họ gọi là Trung Nguyên. Để phân biệt với Lĩnh Nam, tức vùng đồng bằng phía nam sông Dương Tử, họ gọi là Trung Hoa.

Thế rồi, qua nhiều thời kỳ, các kẻ nắm quyền cai trị tự vẽ vời ra đủ điều để sơn phết cho hai chữ Trung Hoa nhằm đánh bóng thân thế đối với các xứ lân cận.

Lúc này, bọn cầm quyền bắt tên bồi bút Khổng Khâu, mà người Việt thường gọi là Khổng Tử, vẽ vời cho rằng Trung là ở giữa, Hoa là có văn hóa. Ý muốn tôn xưng rằng chỉ có nơi đây mới là trung tâm văn hóa của con người. Một loại “đỉnh cao trí tuệ” của thế giới vào thời bấy giờ. Vì thế họ gọi những dân tộc sống vùng chung quanh là súc vật như: Nam Man (chó); Bắc Địch (sâu); Đông Di (rắn); Tây Nhung (khỉ). Cũng bởi ngu si và đầu óc bán khai, kém tiến hóa, nên họ không hề biết rằng gọi như thế tự chính họ còn thua cả súc vật. Kẻ ngu si thường mắc phải căn bệnh hoang tưởng này để giải tỏa ẩn ức tâm lý hèn kém, mà cho đến nay chúng ta vẫn còn nhận thấy.

Thật ra, tên họ Khổng xứ Lỗ (nay thuộc tỉnh Sơn Đông) nhận lệnh đi ăn cắp văn hóa của phương Nam, tức của dân Bách Việt, rồi đem về xào nấu, nên hắn ta chỉ dám gọi là đồ ăn cắp chứ không phải tự tay tạo ra (thuật nhi bất tác). Bán khai đến độ, hắn ta cũng không hề biết và cho rằng trà và lúa của dân Bách Việt phía nam sông Dương Tử đang dùng là kỳ lạ và chẳng phải là những món ăn uống mà kẻ có văn hóa nên dùng. Thế nhưng sau khi uống thử rồi thấy ngon thấy ghiền. Cái tài lưu manh của kẻ ăn cắp luôn là tẩy xóa hết dấu vết cũ rồi cho là của mình. Để bây giờ cả thế giới, ngay người Việt cũng tin chắc rằng trà phát xuất từ Tàu. Cũng theo lệnh trên, tên bồi bút họ Khổng này đưa ra những thuyết ma mỵ để đặt ách nô lệ lên đầu người dân như thuyết thìên mệnh, ngũ thường, và trung quân ái quốc, vân vân…

Con trời, gì mà bị kẻ khác soán ngôi tàn sát thẳng tay không chừa một mống. Ngũ thường gì mà trong cung đình, con giết cha để cướp ngôi, hai cha con cùng lấy một vợ, con cướp vợ của cha rồi loạn luân, chém giết, tàn sát lẫn nhau lẫn nhau đủ kiểu. Thế nhưng chúng bắt mọi người dân phải trung thành với kẻ cai trị mới gọi là yêu nước. Điều này chẳng khác gì hiện nay bọn giặc cộng cố tình nhét vào đầu người dân Việt câu “yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội.”

Thật ra, tên Khổng Khâu này chỉ là một kẻ bồi bút cho bọn cầm quyền vào thời bấy giờ. Chẳng khác nào Tố Hữu, Cù Huy Cận, Chế Lan Viên, Xuân Diệu sau này của Việt cộng. Và hiện nay, để áp đặt ách nô lệ này, giặc Bắc ra lệnh cho bọn tay sai Việt cộng thành lập viện Khổng Tử tại Hà Nội để bắt dân Việt thờ lạy như ngày trước trong thời đại phong kiến gọi là Văn Miếu.

Những người Việt mang nặng tinh thần nô lệ nên cứ mãi bị giặc Bắc lừa gạt mà tôn thờ tên bồi bút này là bậc thầy muôn đời (vạn thế sư biểu). Hãy để cho những người này thỏa mãn kiếp nô lệ và thờ Tàu của họ. Nhưng chúng ta, những người Việt biết tự trọng và có tinh thần dân tộc, không nên làm điều này. Không những thế, mỗi người nên có trách nhiệm đối với dân tộc và tổ quốc. Nghĩa là khi nghe người khác hiểu sai nói sai, chúng ta nên trình bày, giải thích cho họ hiểu rõ sự việc. Cùng giúp nhau hiểu rõ vấn đề, thì không có gì phải ngần ngại, hay lo sợ cả. Mà đây lại là vấn đề sống còn của cả một dân tộc. Đây là trách nhiệm của mọi người Việt, không riêng gì ai cả. Mọi người dân đều hiểu rõ tức là dân trí được nâng cao. Sự hiểu biết của người dân càng nhiều, bọn Việt cộng càng lo sợ. Điều này ai cũng hiểu cả.

Để áp đặt tinh thần nô lệ và phong kiến trở lại, kẻ cầm quyền Việt cộng đang âm thầm đem các từ ngữ mang nặng tính thần quan liêu phong kiến, vào đầu người Việt như: quan chức, ngài. Người Việt sống tại Miền Nam trước năm 1975 sẽ dễ dàng nhận ra điều này. Danh từ quan chức hoàn toàn không có trong ngôn ngữ Miền Nam. Thay vào đó, là nhân viên, hay viên chức chính quyền. Hoàn toàn không có chữ quan trong đầu người dân sống dưới chế độ tự do dân chủ Việt Nam Cộng Hòa. Danh từ ngài, chỉ dùng cho các đấng tối cao, giáo chủ trong tôn giáo. Trường hợp ngôi thứ hai trong văn bản, thì chỉ là: “Thưa tổng thống.” Không bao giờ có hình ảnh của kẻ nô lệ cúi đầu khuất phục như trong câu: “Kính thưa ngài thủ tướng,” như hiện nay trong xã hội cộng sản. Nêu ra điều này để mọi người cùng nhận ra rằng, qua ngôn ngữ, Việt cộng đã cố tình đưa người dân Việt trở về thời kỳ quan liêu phong kiến và nô lệ cũ.

Từ xưa, Trung Nguyên này là nơi tranh giành quyền lực tự do và được xem là vườn hưu hoang không có chủ. Kẻ nào giành được thì mặc sức mà cai trị. Và họ cũng chẳng có khái niệm gì về quốc gia dân tộc. Kẻ nắm quyền cai trị luôn có tham vọng bành trướng và xâm chiếm các nước chung quanh. Thời kỳ Chiến Quốc là một thí dụ điển hình lịch sử về sự tranh giành quyền lực nơi vườn hưu hoang này. Với tinh thần đó, và nhằm trấn áp người dân để cai trị nên kẻ nào lên nắm quyền cũng tự xưng mình là con trời, là lớn, là đại. Như Đại Chu, Đại Tần, Đại Hán, Đại Đường, Đại Tống, Đại Nguyên, Đại Minh, Đại Thanh. Đại sau thẳng tay tàn sát tiêu diệt đại trước. Và đại cuối cùng thì bị tám cường quốc Tây phương cùng nhau xẻ thịt. Nên thực tế chẳng có ma nào là đại cả.

Cho nên người Tàu chỉ có khái niệm về triều đại chứ không biết thế nào là dân tộc và tổ quốc. Điều này còn hiện rõ trong nếp sinh hoạt của người Tàu hiện nay nơi hải ngoại. Thí dụ; Tàu Hồng Kông, Tàu Singapore, Tàu Đài Loan, Tàu Phúc Kiến, Tàu Quảng Đông, Tàu Mã Lai, vân vân… Không Tàu nào chịu chơi chung với Tàu khác cả. Bởi điều dễ hiểu, trong đầu người dân đến cả kẻ nắm quyền cai trị, không có dân tộc Tàu, không có dân tộc Trung Hoa, hay Trung Quốc. Bởi thế, để thực hiện Bước Tiến Nhảy Vọt, dùng lương thực của Tàu đổi lấy kỹ thuật của các nước cộng sản Đông Âu, Mao Trạch Đông sẵn sàng cho 17 triệu người Tàu chết đói mà chẳng hề bận tâm.

Chữ triều có nghĩa là nhiều lượn sóng có ngọn gập đầu xuống cùng nhau chạy về một hướng, là tấp vào bờ, như thủy triều, hải triều. Từ đó, bọn cai trị dùng chữ triều mang ý nghĩa cùng khoanh tay cúi đầu chầu và hướng về. Bởi vậy trên trang phục chúng luôn cho thêu nhiều lượn sóng cuốn gục đầu trên áo quần các quan lại, hoặc các nơi như sảnh đường xử án. Và khi gặp nhau, kẻ dưới phải khoanh tay và cúi đầu theo đúng hình ảnh của chữ triều đã thêu trên quần áo, và hiện hữu khắp nơi qua tranh ảnh, chạm khắc. Nói theo ngôn ngữ trong khoa Tâm Lý Học, đó là những kỹ thuật khống chế tư tưởng (mind control) vô cùng tinh vi và ma quỷ.

Triều cống nghĩa là cúi đầu dâng nộp phẩm vật quý giá lên cho ông chủ. Triều đình là cái sân để cả đám quan lại đứng khoanh tay cúi đầu chầu về ông vua ngồi trên cao. Triều đại có ý nghĩa nguyên thủy là khoanh tay cúi đầu hướng về ông chủ lớn. Những chữ này, thể hiện tinh thần ngạo mạn, tham vọng quyền lực, luôn bắt các nước nhỏ xung quanh phải quy phục kẻ cai trị ngồi ở giữa. Các chữ Trung Hoa hay Trung Quốc cũng mang tinh thần ngu xuẩn nhưng ngạo mạn này. Ngày nay với kiến thức về địa dư thế giới, mọi người Việt đều biết rõ xứ này chẳng có gì để tự xưng là Nước Ở Giữa cả. Thế nhưng nhiều người Việt vẫn đang chấp nhận điều này qua ngôn ngữ. Đây là biểu hiện của một kiến thức kém cõi và nặng tinh thần nô lệ.

Người Việt, sống trên vùng đất phía nam sông Dương Tử, từ vùng núi Ngũ Lĩnh và hồ Động Đình trở về nam, nên gọi là xứ Lĩnh Nam. Họ vẫn luôn biết mình là dân tộc Bách Việt. Để chống lại ý tưởng bá chủ, hống hách của những kẻ phương Bắc, và quyết tâm giữ vững tinh thần tự chủ và độc lập, người Việt luôn nêu cao tinh thần Đại Việt, Đại Nam qua mọi thời kỳ lịch sử.

Lưu Bang, một tên thôn trưởng lưu manh sống bên dòng sông Hán Thủy, cướp công Hạng Võ, diệt Tần lên nắm quyền cai trị (256 trước TL). Để thành lập triều đại, Lưu Bang lấy chữ Hán từ tên con sông rồi gọi là Triều Hán, và tự xưng là Đại Hán. Sự cai trị của dòng họ lưu manh này kéo dài suốt 400 năm, nên hai chữ đại hán đã ăn sâu vào đầu của nhiều thế hệ dân cư trong vùng. Để sống còn, tránh cảnh bị tàn sát và tiêu diệt, dân tộc hay bộ tộc nào trong vùng bị cai trị cũng tự gọi mình là người Hán. Ngay cả chữ viết đã có trước đó từ lâu chúng cũng bắt mọi người gọi là chữ Hán. Người Việt sau này, dưới sự áp đặt của Tàu mấy trăm năm trước cũng mặc nhiên chấp nhận điều này. Cho đến nay, hầu hết người Việt cũng vẫn còn gọi là chữ Hán. Không mấy ai dám gọi là chữ Tàu cả. Vì họ sợ. Sợ điều gì họ cũng không rõ. Nhưng vẫn cứ sợ và gọi như thế là đủ an tâm. Nêu điều này ra để chúng ta cùng nhận rõ cái tinh thần nô lệ này đã truyền đời đến cả ngàn năm nay vẫn còn nhiều người Việt không chịu nhận ra và quyết tâm tiêu trừ.

Sau khi Mông Cổ diệt Đại Tống lập Đại Nguyên cai trị xứ này cả trăm năm. Đến khi Trần Hữu Lượng (Lượng là con trai Chiêu Quốc Vương Trần Ích Tắc – qua việc thông đồng với giặc, vương bị anh là vua Trần Thánh Tông không giết nhưng đuổi ra khỏi Việt Nam và qua Tàu sống ở vùng Trường Sa, Quảng Đông ngày ngay) đánh đuổi Mông Cổ chuẩn bị lên ngôi thì bị Chu Nguyên Chương cướp công và lập nên Đại Minh. Dòng họ Ái Tân Giác La của bộ tộc Mãn Châu (Nữ Chân, Kim sau đổi là Thanh) diệt Minh, rồi cũng gọi là Đại Thanh. Thời kỳ nầy không còn ai dám nhận mình là Đại Hán hoặc Đại Minh nữa cả. Và bọn đại hán (trong đầu người Việt) phải cạo đầu thắt bính như người Mãn Châu. Nếu không sẽ bị chặt đầu ngay. Lúc bấy giờ, trong dân gian, vì quen miệng họ vẫn gọi xứ này là Trung Nguyên hay Trung Hoa. Tuy rằng biên giới đã vượt qua sông Dương Tử và tiến xa xuống phương nam.

Sau này một vài người Tây phương, vốn không biết nhiều về xứ này, nên cho rằng người sống ở đây là dân Hán, nhưng họ lại gọi là nước Tần. Người Việt vốn nặng tinh thần nô lệ lại tôn thờ khoa học tây phương, nghe người da trắng Âu Châu gọi thế nên vội vã cho là có tộc Hán. Đây là sự di căn của căn bệnh nô lệ. Ngày trước họ thờ Tàu. Khi Tàu đi, Tây đến thì họ đành phải thờ Tây. Đối với họ hễ người Tây phương nói là phải đúng, và họ không hiểu rõ nghĩa chữ tộc trong tiếng Việt. Điều này cũng ngây ngô chẳng khác nào hiện nay bảo những người sống tại Mỹ là dân tộc Hoa Kỳ. Ai cũng biết chỉ có người Mỹ chứ không có dân tộc Hoa Kỳ. Xứ Tàu cũng chỉ là một loại hợp chủng quốc ở Châu Á mà thôi. Hiện nay, ngoài hàng trăm ngôn ngữ của những dân tộc thiểu số, Tàu vẫn còn xử dụng sáu ngôn ngữ chính. Ngay cả Mao Trạch Đông vẫn nói tiếng Hồ Nam, khiến nhiều người Tàu nghe không hiểu. Không có ngôn ngữ Tàu chính thống, tuy rằng phần lớn là tiếng Việt do dân Bách Việt sống khá nhiều ở vùng phía Nam sông Dương Tử, mà còn giữ rõ âm Việt nhất là tiếng Quảng Đông, Quảng Tây. Vì sự kiện này nhiều người Việt Nam, không chịu tìm hiểu lịch sử của tộc Bách Việt, lại nặng tinh thần nô lệ, nên cứ cho rằng tiếng Việt hiện nay là mượn từ tiếng Quảng Đông của Tàu. Dù vẫn còn sáu ngôn ngữ chính, nhưng chữ viết chỉ một, do Doanh Chính, tức Tần Thủy Hoàng, thống nhất chữ viết để dễ bề cai trị, và gọi là quan thoại, tức ngôn ngữ của quan lại. Đến thời bạo chúa Mao Trạch Đông, vốn xem Tần Thủy Hoàng là thần tượng, cũng bắt chước Doanh Chinh bắt sửa lại chữ Tàu và gọi là chữ Tàu đơn giản. Ở đây chúng ta gọi là chữ Tàu, nhưng sẽ còn vô số người Việt quyết tâm giữ chữ Hán trong đầu cho đến chết, và truyền lại cho con cháu.

Dưới áp lực xâm lăng của giặc Bắc, người Việt từ vùng Động Đình Hồ, dần dần bị đẩy xa về phương nam. Qua thời gian, người Việt còn ở lại vùng phía Nam sông Dương Tử đã quên mất nguồn gốc Bách Việt của mình. Nhưng họ không hề bị đồng hóa, vì dân số Việt tộc ở những vùng này vẫn luôn nhiều hơn những bộ tộc hỗn tạp nhỏ khác. Họ chỉ mất gốc. Một điển hình trong lịch sử cận đại là Tôn Dật Tiên (Sun Yat Sen), sinh ở Quảng Đông, người mà dân Tàu đang thờ phượng và suy tôn là cha đẻ của cuộc Cách Mạng Tam Dân, vốn là người Việt. Ông ta biết rõ điều này. Tuy vậy, vì quá lâu đời và vì sự nghiệp chính trị ông không dám nói rõ thân thế. Trong khi đó dòng họ Lý của Việt Nam sống tại Đại Hàn gần ngàn năm nay vẫn luôn tự hào mình là người gốc Việt. Nên khi vừa lên cầm quyền, tổng thống Lý Thừa Vãng của Nam Hàn đã nhờ tổng thống Ngô Đình Diệm truy tìm gia phả của dòng họ Lý tại Việt Nam.

Chiến thắng mùa xuân năm Kỷ Dậu (1789) mọi người Việt đều đã biết. Sau khi đánh quân Thanh một trận nhớ đời và đuổi ra khỏi bờ cõi, Quang Trung Hoàng Đế liền có kế hoạch lấy lại đất bị giặc Bắc cướp trước đó. Theo chương trình, vua Quang Trung sẽ đuổi Mãn Thanh trở ngược về phía Bắc sông Dương Tử, quyết lấy lại vùng Lĩnh Nam của dân Bách Việt ngày xưa. Bước đầu, nhà vua bắt Càn Long phải gả con gái và trả lại hai vùng đất Quảng Đông và Quảng Tây. Sau đó sẽ làm bàn đạp để bắc tiến và tây tiến. Càn Long liền gởi chiếu mời vua Quang Trung sang Bắc Kinh để đàm phán. Nhắm để phòng sự tráo trở của giặc Bắc cùng sẵn dịp hạ nhục Càn Long của Đại Thanh, vị Hoàng Đế Đại Việt cho người giả trang dẫn phái đoàn sang Tàu. Trên đường đi phái đoàn Việt cố tình hành hạ bọn quan lại Tàu đủ điều, nhưng chúng cũng phải cúi đầu chịu nhục. Càn Long vẫn biết rõ trưởng phái đoàn chỉ là vị vua giả. Nhưng mở miệng ra lại sợ nhục nhã, nên hắn đành phải câm miệng và dùng đủ lễ nghi để tiếp đãi phái đoàn. Đây cũng là một sự nhục nhã nặng nề mà Càn Long của Đại Thanh đành phải nuốt sâu vào lòng.

Vua Quang Trung cho Càn Long biết, nếu không chịu trả đất, vua Việt sẽ giúp bọn phục Minh nổi dậy diệt Thanh.

Vừa mới bị đánh một trận kinh hoàng, lại muốn giữ ngôi để tiếp tục cai trị xứ Tàu, Càn Long đành phải nuốt nhục cúi đầu chấp nhận. Nhưng mọi việc chưa xong thì vua Quang Trung băng hà. Thế là việc đòi lại đất của người Việt xem như bất thành.

Nếu vua Quang Trung không mất sớm và bắt Càn Long của Đại Thanh trả lại Quảng Đông, Quảng Tây cho Đại Việt thì hôm nay đã không có Tôn Dật Tiên cho dân Tàu thờ làm Quốc Phụ. Nêu ra điều này để người dân Việt thấy được sự ngu ngốc của người Tàu. Đúng ra, mọi người Việt đều có bổn phận phải nói rõ điều này cho người Tàu, và nhất là cho Tập Cận biết mỗi khi hắn cúi đầu lạy Tôn Dật Tiên.

Chữ Qin được Tàu phát âm là Ch’in, người Việt phát âm là Tần. Từ âm Ch’in này người da trắng gọi xứ này là China hay Sino. Khi nắm quyền Doanh Chính dùng chữ Đại Tần vì lấy tên địa phương của xứ Tần (hiện nay thuộc tỉnh Giang Tô). Cho nên người Tây phương dùng chữ China, Sino, Chinois là do sự diễn âm chữ Tần (Ch’in), để gọi xứ này. Hoàn toàn không có ý nghĩa gì là Nước Ở Giữa cả. Xin người Việt không nên đem hình ảnh của hai chữ Trung Quốc trong đầu của mình mà áp đặt lên chữ China, Sino của người da trắng.

Người da trắng gọi họ là Tần. Tại sao chúng ta không dám gọi họ là Chệt hay Tàu? Hỏi tức đã trả lời rồi vậy.

Mãi đến thời kỳ Mãn Thanh vẫn chưa có hai chữ Trung Quốc. Năm 1927, Nhật tiến chiếm vùng Mãn Châu, lập ra Mãn Châu Quốc, sau đó cai trị toàn xứ Tàu. Tiếp theo xứ Tàu bị Hoa Kỳ chẻ ra làm hai thế lực chính trị vào năm 1949. Ngay sau khi đánh bại Nhật, năm 1945, lúc đầu Mỹ tính giao cả nước Tàu cho Tưởng Giới Thạch, để loại trừ Trương Học Lương, vốn gốc Mãn Châu, lên năm quyền. Nhưng sau đó, năm 1948, Mỹ đổi ý, đem giao cả đại lục cho Mao Trạch Đông, được gọi là People’s Republic of China. Đảo Đài Loan thì Mỹ giao cho Tưởng Giới Thạch được gọi là Republic of China. Để làm vui lòng kẻ bị bạc đãi vì chia đất cho quá ít, Mỹ cho Tưởng Giới Thạch vào Liên Hiệp Quốc để xoa dịu tự ái. Đến năm 1972, sau thời gian đủ lâu, Mỹ đuổi Tưởng ra khỏi Liên Hiệp Quốc, đem Mao Trạch Đông vào thay thế. Và bắt Tưởng phải dẹp bỏ danh xưng Republic of China, mà từ đó về sau chỉ được gọi là Taiwan, không có vị thế quốc gia trên chính trường quốc tế.

Hai xứ này, lúc bấy giờ, nếu dịch sang tiếng Việt cho đúng nghĩa quốc tế, ở đây chúng ta sẽ dựa trên tiếng Mỹ, phải là Cộng Hòa Nhân Dân Tàu (Tần), và Cộng Hòa Tàu (Tần). Cũng như Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là Socialist Republic of Vietnam, hay Việt Nam Cộng Hòa là Republic of Vietnam.

Ở đây, chúng ta nhận ra thêm một điều vô cùng quan trọng là, do bản chất nô lệ giặc Bắc, Việt cộng đã âm thầm dùng tiếng Việt theo kiểu Tàu. Các chữ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa đi trước hai chữ Việt Nam. Có nghĩa là tính từ đi trước danh từ. Trong khi đó danh xưng Việt Nam Cộng Hòa, tính từ phải đi sau danh từ. Người Việt chúng ta chỉ nói trái ổi xanh, hoặc biển xanh. Chỉ có dân Tàu mới nói xanh trái ổi, và thanh hải.

Có người sẽ cho rằng chỉ là thứ tự trước sau, ý nghĩa vẫn có đủ, việc gì mà phải chẻ sợi tóc làm tư.

Xin thưa. Một người đảng viên cộng sản, dù nói hay viết, mà dùng chữ nhân dân, hay nhà nước trước chữ đảng, chắc chắn sẽ bị giết ngay. Thực tế, không có người nào dám làm điều này. Bởi họ biết rõ nguyên tắc sinh tử của băng đảng sắt máu côn đồ này là: Nói Bậy Là Chết.

Trở lại hai chữ Trung Quốc. Người Tàu, bởi ngu si lại nặng tinh thần hống hách luôn tự cho mình là lớn, là trung tâm của thế giới, nên họ tự gọi là Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, và Cộng Hòa Trung Hoa, viết và hiểu theo cách Tàu dùng tiếng Việt. Sau khi được Mỹ giao cho cai trị toàn miền đại lục, Mao Trạch Đông vẫn tiếp tục truyền thống ngu si và bạo chúa nên tự gọi là Trung Quốc. Thứ nhất; nhắm kích thích tinh thần ngông cuồng của dân trong xứ. Thứ hai; bắt cộng sản Việt Nam phải tuân dùng theo, để tròng ách nô lệ lên đầu người Việt, mà trước nhất là những kẻ tay sai Việt cộng. Hiểu một cách rõ ràng, chữ Trung Quốc vẫn hoàn toàn không có ý nghĩa gì là Nước Ở Giữa cả. Bởi chữ Trung vốn có gốc từ chữ Trung Nguyên từ thời xa xưa. Tuy vậy, Tàu cộng vẫn mập mờ để bắt Việt cộng phải áp đặt vào đầu những người Việt, kém hiểu biết lại nặng tinh thần nô lệ phương Bắc, nên tự suy diễn ra là Nước Ở Giữa để nuôi trong đầu.

Xin mở một dấu ngoặc. Trong hồi ký của mình, ông bác sĩ riêng của Mao Trạch Đông cho biết; kể từ khi nắm quyền đến lúc chết (1949-1976), suốt 28 năm Mao không hề tắm, và nhất định không chịu đánh răng súc miệng. Tên bạo chúa này tuyên bố hắn chỉ cần “tắm” trong âm hộ của người đàn bà là đủ, và hắn không tin có loại bệnh có thể truyền nhiễm qua đường tình dục. Để tránh tình trạng này, ông bác sĩ riêng phải gạt hắn ta bảo là uống thuốc bổ tăng cường sinh dục, nhằm tránh tình trạng Mao truyền bệnh giang mai cho cả ngàn người đàn bà mà hắn xem là cung tần phi nữ. Một loại bạo chúa ngu si của thời đại. Nêu điều này nơi đây để mọi người Việt biết sự ngu si và bệnh hoạn của Mao, và cũng là của dân Tàu. Thế mà tên cáo họ Hồ bắt dân Việt Nam phải học tập tư tưởng của Mao.

Vốn là kẻ tôi tớ luôn cúi đầu phục tùng mệnh lệnh của ông chủ, lại sống kiếp sống của kẻ vô tổ quốc, phi dân tộc, nên người cộng sản Việt Nam không dám gọi là Tàu. Và họ bắt người dân phải gọi là Trung Quốc để áp đặt và nhồi nhét tinh thần nô lệ vào đầu người Việt qua ngôn ngữ.

Trước năm 1975, người Việt tại Miền Nam thường gọi hai quốc gia này là Trung Hoa Cộng Sản và Trung Hoa Quốc Gia để chỉ cho hai thể chế chính trị, nhưng vẫn gọi chung là người Tàu. Như; Tàu Đài Loan, Tàu Chợ Lớn, Tàu Hồng Kông, Tàu Đại Lục. Chính những người Tàu sống ở Việt Nam cũng tự gọi họ là người Tàu. Từ thời tổng thống Ngô Đình Diệm, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cấm không cho người Tàu làm 11 nghề chính để bảo vệ kinh tế cho người dân Việt Nam. Nguồn gốc phát xuất âm Tàu trong tiếng Việt, cho đến nay vẫn chưa rõ ràng. Có thể là do nghe và nói lại một cách sai lạc âm của chữ Tần mà người Tây Phương tại Việt Nam thường dùng vào thế kỷ 18, 19. Cả Philippines, Thailand, Kampuchia, trong ngôn ngữ của các quốc gia này, họ cũng không gọi xứ này là Nước Ở Giữa. Riêng người Nhật dùng chữ China với ý nghĩa khinh miệt là lũ người bệnh hoạn, ngu si, nhu nhược, yếu hèn. Đến nay chỉ có người Tàu và dân Việt dùng chữ Trung Quốc. Nêu đưa điều này ra nơi đây, để mọi người cùng nhận thấy rõ sự nô lệ trong tư tưởng, thể hiện qua ngôn ngữ của người Việt, do sự tiếp tay của Việt cộng, đã bị Tàu cộng áp đặt sâu nặng đến thế nào.

Một thí dụ điển hình cho căn bệnh nô lệ giặc Bắc, là cho đến hôm nay, trong đầu khá nhiều người Việt vẫn tin chắc rằng võ thuật của Việt Nam thì phải “bắt nguồn từ Trung Quốc.” Hỏi tiếp nữa thì họ chống chế rằng bởi từ Thiếu Lâm Tự, và do Đạt Ma Sư Tổ truyền ra. Quả là khôi hài. Nếu vậy thì phải bảo rằng võ thuật của Tàu vốn do Ấn Độ truyền sang. Khổ thật. Kiến thức của họ đã kém, khả năng suy luận cũng không có, lại mang nặng căn bệnh thờ Tàu. Từ thời Khổng Khâu xa xưa mãi cho đến hôm nay, bọn người này chỉ có truyền thống chuyên nghiệp là đi ăn cắp và ăn cướp, xong đem về bôi xóa dấu vết rồi cho là của mình.

Vì thế, để thể hiện tinh thần tự chủ và độc lập của dân tộc, người Việt nên ý thức rõ điều này. Và không nên dùng hai chữ Trung Quốc. Bởi đây là thâm ý của cộng sản Việt, theo lệnh ông chủ Bắc Kinh, cố tình nhồi nhét tinh thần nô lệ vào đầu người dân Việt Nam.

Do đó, để chống Tàu, trước hết mọi người Việt nên chống lại âm mưu áp đặt tinh thần nô lệ này, qua ngôn ngữ, của giặc Bắc.

Nếu vẫn có người chưa chịu tin điều này, xin hãy nhớ lại chữ triều và hình ảnh những lượn sóng cuộn đầu trên áo quần quan lại thời phong kiến của Tàu ngày xưa. Xin nhắc lại, đây là kỹ thuật khống chế tư tưởng (mind control) nhắm đánh sâu vào vô thức (subconcious, 88%), không nằm trên bình diện ý thức (concious, 12%) nên khó lòng nhận biết.

Việc chống Tàu qua ngôn ngữ nô lệ và mất nước này sẽ không dễ dàng vì bọn tay sai Việt cộng, theo lệnh chủ, đang tận sức phá nát ngôn ngữ Việt chính thống nhắm thay thế và áp đặt ách nô lệ qua ngôn ngữ trong mọi hoàn cảnh. Người dân Việt vô tình, nhưng bọn Việt cộng lại quyết tâm. Tránh sao khỏi cảnh này. Bao năm qua vì vô tình, không đế ý, nhiều người đã dùng đến quen miệng. Bây giờ mở miệng ra nói khác đi chắc chắn sẽ khó làm được ngay. Nếu không tin, mọi người hãy thử và sẽ thấy rõ tác dụng này.

Bảo rằng do thói quen, thì nên tự hỏi mình có dám bỏ cái thói quen này hay không? Dĩ nhiên, không mấy ai dám chấp nhận rằng vì sợ nên phải dùng hai chữ Trung Quốc. Vẫn có nhiều người sẽ tìm đủ lý do để biện minh cho hai chữ Trung Quốc nơi cửa miệng.

Chắc chắn có người sẽ cho rằng Trung Hoa hay Trung Quốc cũng chỉ là danh xưng, đâu có gì quan trọng. Những người này đang tự lừa dối chính mình và cố tình dùng xảo ngôn để lấp liếm và che giấu căn bệnh nô lệ truyền đời. Nếu chỉ là danh từ, và không có ý gì, thì tại sao không dám gọi là Tàu cộng?

Nhưng xin hãy tự hỏi mình rằng; cô nữ sinh viên Nguyễn Phương Uyên dù đang sống dưới sự cai trị của Việt cộng, vẫn dám gọi là Tàu khựa. Và chính họ cũng gọi họ là Tàu. Vậy tại sao mình phải tìm đủ lý do để dùng hai chữ Trung Quốc? Hãy cố gắng tự nhớ lại xem mình bắt đầu dùng từ lúc nào, để bây giờ gọi là quen miệng? Và tại sao mình không dám gọi là Tàu cộng?

Nếu không dám tức đã có nỗi lo sợ ẩn sâu trong đầu. Bởi sợ mới không dám. Sợ điều gì? Sợ ai? Hoàn toàn tìm không ra dấu vết. Đây chính là cái tác dụng của sự nô lệ và hèn nhược qua ảnh hưởng của ngôn ngữ. Đây cũng là hậu quả của sự khống chế tư tưởng (mind control) đã nêu ra ở trên. Có vài người, vì mặc cảm tự ti kém khuyết, để tự gạt mình nhằm che dấu căn bệnh nô lệ ẩn sâu trong tư tưởng, họ bảo rằng gọi như thế sẽ làm giảm giá trị trình độ trí thức và lịch sự của họ. Vì thế họ chỉ dám dùng chữ Trung Quốc, Trung Hoa để chứng tỏ họ là kẻ có học thức, là người lịch sự.

Khi vua Quang Trung tuyên bố trước ba quân: “Phải đuổi hết lũ giặc phương Bắc ra khỏi bờ cõi. Đánh cho chúng nó không còn manh giáp.” Ai dám bảo vua Quang Trung là phường vô học?

Trong cuộc hải chiến Hoàng Sa, tháng 1/1974, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh cho Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa: “Các anh cứ đánh tụi nó thẳng tay cho tôi.” Ai dám bảo tổng thống Nguyễn Văn Thiệu là người thiếu lịch sự?

Để giữ gìn nền độc lập và tinh thần tự chủ của dân tộc, mong rằng những người Việt này cũng nên từ bỏ cái ảo giác có học thức và lịch sự của mình.

Nên hiểu rằng khi người Tây phương gọi những xứ này là China, Sino, Chinois, qua ngôn ngữ của họ, trong đầu họ vẫn xem đó là xứ Tần. Qua ngôn ngữ xử dụng, họ hoàn toàn không có khái niệm hay ý nghĩ gì về một Nước Ở Giữa cả. Trong khi đó, người Việt nói đến hai chữ Trung Quốc, chắc chắn cái hình ảnh Nước Ở Giữa đã thấp thoáng trong đầu. Xin mọi người để ý đến điều này.

Nếu người đọc vẫn tìm mọi cách để chống chế, vẫn chưa đồng ý, và chưa hiểu rõ tác dụng của ngôn ngữ, xin nêu ra một thí dụ để chúng ta cùng nhận xét.

Khi nghe nói đến các chữ; cô ấy, bà ấy hay mụ ấy, trong đầu người nói và người nghe đều có ba hình ảnh khác nhau. Một cô gái trẻ đẹp (cô ấy), một người phụ nữ lớn tuổi (bà ấy) và một người phụ nữ xấu xí, lôì thôi lếch thếch (mụ ấy). Khi nói và nghe chữ Trung Quốc hay Tàu cộng cũng có tác dụng tương tự. Xin mọi người hãy tự suy nghiệm.

Ngôn ngữ thể hiện tâm lý là điều ai cũng hiểu và đồng ý. Nếu không thế, cô sinh viên Nguyễn Phương Uyên đã không nói: “Tàu khựa hãy chết đi.” Và nếu không hiểu ý này, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đã không bắt cô ta. Thật ra, vì hiểu nên họ quá lo sợ bị ông chủ phương Bắc trừng trị, nên họ phải bắt cô ta. Hãy thử tượng tượng cái tác dụng tâm lý khi cô sinh viên này nói: “Trung Quốc khựa hãy chết đi.” Rõ ràng, câu này hoàn toàn không có tác dụng. Bởi tự nó đã thể hiện cái tâm lý nhu nhược hèn yếu và nô lệ qua hai chữ Trung Quốc trong câu. Hy vọng nhiều người Việt sẽ nhận rõ điềư này.

Khi đăng những bản tin ghe thuyền của Tàu cộng tấn công ngư dân Việt, báo chí Việt cộng chỉ dám dùng hai chữ tàu lạ. Mọi người đều hiểu tại sao. Ở đây chúng ta không cần diễn giải thêm. Rõ ràng là ngôn ngữ thể hiện tâm lý của người xử dụng. Và ai cũng hiểu đó lá cái tâm lý hèn hạ nhu nhược nô lệ của người cộng sản Việt Nam đối với bọn giặc phương Bắc.

Tương tự như thế, bất kỳ ai, mở miệng dùng hai chữ Trung Quốc cũng không thoát khỏi tâm lý này, dù họ có lớn tiếng hô to: “Đả đảo Trung Quốc xâm lược.” Hãy tự hỏi chính mình, tại sao mình không mở miệng nói được câu: “Đả đảo Tàu cộng xâm lược.” Chẳng lẽ mình vẫn còn muốn chứng tỏ cho người khác biết mình là con người có học thức và lịch sự?

Đã không xóa nổi hai chữ Trung Quốc ra khỏi đầu thì khoan nói đến chuyện chống Việt cộng hay Tàu cộng. Nếu chỉ là danh từ, tại sao không dám gọi là Tàu cộng? Không nên tiếp tục lừa dối chính mình nữa. Xin suy nghĩ kỹ điều này.

Việt Nam cộng sản gọi là Việt cộng. Trung Hoa cộng sản gọi là Trung cộng. Đâu có gì là không học thức, không lịch sự ở đây. Mà đối với bọn giặc Bắc, trong khi họ luôn tìm cách tiêu diệt mình, mà mình cứ mãi lịch sự với họ thì quả là một tâm lý bệnh hoạn. Ở đây chúng ta không thể dùng chữ nhu nhược, mà phải gọi là bệnh hoạn. Chúng ta thấy vẫn còn nhiều người Việt mang nặng cái tâm lý bệnh hoạn này trong đầu.

Những người đảng viên cộng sản Việt Nam chắc chắn sẽ không bao giờ dám mở miệng nói đến chữ Tàu, dù là; ông Tàu vĩ đại, bác Tàu kính yêu. Chỉ nghe đến cái âm Tàu họ cũng đã hoảng sợ đến kinh người. Vì quá kinh sợ họ trở nên tức giận điên cuồng. Đối với họ, đó là loại ngôn ngữ phạm thượng. Quen sống kiếp nô lệ, họ không thể nào chấp nhận loại ngôn ngữ phạm thượng này đối với ông chủ phương Bắc được. Và cho đó là ngôn ngữ phản động. Bởi thế họ phải bắt ngay cô sinh viên Nguyễn Phương Uyên.

Đến hôm nay, chúng ta đều thấy rõ rằng; nhóm cầm quyền cộng sản Việt Nam chỉ giỏi hèn với giặc, nhưng luôn ác với dân. Để chứng tỏ mình không hèn với giặc, như bọn người đang sống kiếp nô lệ này, điều đầu tiên và dễ dàng nhất là mọi người nên vất bỏ hai chữ Trung Quốc ra khỏi ngôn ngữ của mình. Bảo là dễ dàng nhưng sẽ có rất nhiều người không làm nổi điều này.

Tùy theo thái độ tâm lý, mỗi người sẽ tự chọn cho mình một loại ngôn ngữ thích hợp. Người nặng tinh thần nô lệ và bệnh hoạn sẽ có lý do để bảo vệ và tiếp tục xử dụng hai chữ Trung Quốc. Người nặng tinh thần tự trọng, hiểu rõ trách nhiệm trong việc giữ gìn nền độc lập và tinh thần tự chủ của dân tộc sẽ có lý do để loại bỏ chữ Trung Quốc và thay vào đó là Tàu.

Tâm lý tức giận sẽ dùng ngôn ngữ phẫn nộ. Tâm lý tự chủ sẽ dùng ngôn ngữ độc lập. Tâm lý hèn nhược sẽ dùng ngôn ngữ nô lệ. Điều này không ai chối cãi được. Và vì thế, xin mọi người Việt chúng ta nên loại bỏ hai chữ Trung Quốc để thể hiện tinh thần độc lập, tự chủ và bất khuất ngay trong ngôn ngữ xử dụng hằng ngày. Hy vọng nhiều người sẽ đồng ý với đề nghị này. Nhưng đối với người đảng viên cộng sản Việt Nam thì vô phương. Họ đã chọn kiếp sống tay sai, nô lệ, vô tổ quốc, phi dân tộc từ thuở chào đời. Chúng ta không mong gì họ thay đổi được.

Đã giúp mình và cũng giúp người. Mọi người Việt cùng nhau giữ nước qua ngôn ngữ. Vô cùng quan trọng nhưng lại không hề tốn một giọt máu. Tại sao chúng ta không chịu làm?

Đây là điều đầu tiên và căn bản, vô cùng quan trọng, trong tinh thần chống lại bọn giặc phương Bắc.

Xin nêu ra nơi đây một bài học lịch sử để mọi người cùng suy nghiệm.

Chọn ngôn ngữ để làm quốc ngữ cho một quốc gia vừa mới khai sinh là điều vô cùng quan trọng trong việc giữ gìn nền độc lập. Ngay sau khi Hoa Kỳ giành độc lập từ tay đế quốc Anh, người Mỹ đã nghiên cứu cẩn thận trong việc chọn tiếng Anh hay tiếng Đức dùng làm quốc ngữ. Họ không chọn tiếng Tây Ban Nha vì lúc bấy giờ, ảnh hưởng của Tây Ban Nha đã tràn khắp Nam Mỹ và phần đất phía tây Bắc Mỹ. Cuối cùng, do kết quả cuộc bầu phiếu, tiếng Anh được chọn vì hơn tiếng Đức một lá phiếu.

Nhưng ngay sau đó, ông Noah Webster đã bỏ ra 20 năm liên tục để thành lập tiếng Mỹ, như trường hợp tiếng Nam dưới thời nhà Trần. Ngoài việc sửa đổi cấu trúc văn phạm và ngữ pháp, ông còn thay đổi cả ngữ vựng, và thành lập cuốn Tự Điển Di Sản Hoa Kỳ (American Heritage Dictionnary) cho dân chúng Mỹ xử dụng. Điều đáng lưu ý, đáng khâm phục, và đáng để mọi người Việt chúng ta học hỏi, là từ đó và mãi về sau, từ tổng thống đến thường dân, mọi người Mỹ đồng lòng quyết không dùng tiếng Anh mà chỉ dùng tiếng Mỹ. Đến hôm nay chúng ta đều nhận biết sự phổ thông của tiếng Mỹ trên khắp thế giới mà hầu hết người Việt biết tiếng Mỹ đều quen thuộc.

Xin ghi ra nơi đây vài thí dụ để mọi người cùng nhận thấy tinh thần quyết tâm giữ gìn độc lập và tự chủ của người dân Hoa Kỳ qua ngôn ngữ:

—-Anh—— —-Mỹ———————-
colour color —-bỏ bớt giữa
programme program —bỏ bớt cuối
theatre theater —đảo chữ
randomise randomize — đổi chữ
water closet restroom — đặt danh từ mới

Hiểu rõ sự quan trọng của ngôn ngữ đối với nền độc lập của một dân tộc, giặc phương Bắc đã tìm mọi cách hủy diệt chữ Nam của người Việt ngay từ thời nhà Trần. Chúng gọi một cách nhục mạ khinh bỉ là tiếng nôm na, hèn mạt để gạt ngưởi Việt biết chữ không thèm dùng đến. Thế mà đến nay vẫn có nhiều người trí thức học giả miệt mài gọi là chữ nôm. Điều này chẳng khác nào có kẻ côn đồ bảo trẻ con nên về nhà gọi cha mẹ chúng bằng thằng và nó. Vì ngu khờ kém suy nghĩ, đứa trẻ liền nghe theo và cứ thế mà gọi.

Hiện nay, Tàu cộng bắt Việt cộng phải du nhập tiếng Tàu, và bằng mọi cách phải nhét vào đầu để nô lệ hóa người Việt qua ngôn ngữ. Xin nêu ra vài chữ như: động thái, quan ngại, bức xúc, tham quan, hộ khẩu, cải tạo, sự cố, hoành tráng, hiện trường, quan chức, đăng ký, hỗ trợ, đột xuất, và còn nhiều nữa. Vì cùng hệ thống đơn âm, họ chỉ cần dùng mẫu tự Việt diễn âm Tàu, và bắt mọi người Việt phải dùng, tức nghe và đọc trước rồi nói sau. Lúc đầu quen tai, quen mắt. Sau quen miệng. Thế là xong.

Xin mọi người, còn nghĩ đến dân tộc và chống cộng, hãy nhớ lại xem mình đã bắt đầu dùng những từ ngữ này từ lúc nào. Và từ bây giờ trở đi mình có dám loại bỏ ngôn ngữ này và quyết tâm không dùng nữa hay không.

Tại sao phải loại bỏ những ngôn ngữ này? Nếu hỏi người Mỹ, họ sẽ giải thích cho chúng ta hiểu lý do tại sao.

Xin thưa thêm. Vì đây là loại ngôn ngữ mà ông Nguyễn Văn Luận, một người dân Hà Nội bị kẹt lại Miền Bắc từ năm 1954 đã nhận ra ngay là “ngoại ngữ Việt cộng” do Tàu cộng đem sang. Suốt 28 năm, mãi cho đến khi vượt biển tìm tự do và cuối cùng định cư tại Hoa Kỳ, ông Luận vẫn nhất định không dùng đến loại ngoại ngữ nô lệ và mất nước này. Thế mà hiện nay vẫn có nhiều người Việt, dù đang sống tại hải ngoại, hăng hái chống Tàu, chống cộng, nhưng sẵn sàng xử dụng loại ngôn ngữ nô lệ này. Lại có nhiều người dù không hiểu ý nghĩa nhưng vẫn dùng một cách hàm hồ và sai hoàn toàn ý nghĩa gốc trong tiếng Tàu. Thí dụ; chữ đột xuất có nghĩa là sự nổi bật (outstanding) hoàn toàn không có nghĩa của trạng từ chỉ thời gian như các chữ bất thình lình hay bất ngờ, trong tiếng Việt. Thật ra, bọn giặc Bắc đâu cần thắc mắc chuyện người Việt dùng đúng nghĩa hay sai nghĩa. Cứ nhét được những loại ngôn ngữ này vào đầu dân Việt là chúng thành công. Một vài kẻ đã không biết mình ngu và dại, lại còn lớn tiếng biện minh cho hành động bệnh hoạn này. Vua Quang Trung mà còn sống, chắc chắn ngài sẽ phân thây bọn người mất gốc này để diệt trừ mầm nô lệ cho dân tộc.

Báo chí và truyền thông tại Việt Nam cộng sản hiện nay bắt buộc phải dùng loại ngoại ngữ Việt cộng này. Với kiếp sống của kẻ tay sai và nô lệ, họ không thể làm khác hơn được. Bởi đây là sách lược nô lệ của Tàu cộng đưa ra và bắt Việt cộng phải thi hành.

Tuy nhiên, trên nhiều diễn đàn ineternet của người Việt hải ngoại hiện nay chúng ta vẫn thấy đầy dẫy loại ngoại ngữ nô lệ và mất nước này. Về quy định ngôn từ, nơi nào cũng đưa ra những điều lệ căn bản là; không chấp nhận ngôn ngữ thô tục, và ngôn ngữ ca tụng Việt cộng; để chứng tỏ đây là nơi của những người có học thức, lịch sự, và quyết tâm chống cộng.

Nhưng than ôi. Họ chấp nhận loại ngôn ngữ nô lệ ẩn chứa mầm hủy diệt tinh thần dân tộc của giặc phương Bắc mà họ không hề bận tâm. Không những thế loại ngôn ngữ này được truyền bá và phát huy khá mạnh mẽ.

Đây là sự thể hiện một trình độ dân trí quá thấp kém của người Việt chúng ta.

Bởi chúng ta chưa nhận thức rõ được sự quan trọng của ngôn ngữ đối với sự tồn vong của dân tộc. Hãy nhìn lại gương của dân chúng Hoa Kỳ trong việc xử dụng tiếng Mỹ để giữ gìn độc lập, may ra mọi người sẽ hiểu rõ vấn đề vô cùng quan trọng này cho dân tộc và đất nước.

Là người Việt, hầu hết chúng ta ai cũng đã từng nghe và nói câu: “Tiếng Việt còn, Người Việt còn.” Nhưng chúng ta quên một điều vô cùng quan trọng là; tiếng Việt nô lệ, thì người Việt nô lệ. Và sự nô lệ này sẽ dẫn đến mất gốc và dân tộc bị hủy dìệt là điều không tránh khỏi.

Mất đất, mất đảo còn có cơ hội lấy lại được. Nhưng mất người thì lấy ai mà đòi lại đất, giành lại biển?

Chống cộng mà không chống nổi ngôn ngữ Việt cộng trong đầu thì vẫn là tự lừa dối chính mình. Người cộng sản Việt Nam biết chắc chắn họ luôn luôn thành công trong việc khống chế tư tưởng người dân Việt. Rõ ràng nhất là qua ngôn ngữ. Xin mọi người hãy nhìn lại ngôn ngữ mình xử dụng để chứng minh điều này.

Có nhiều người chống cộng cảm thấy hài lòng qua việc xử dụng những danh từ miệt thị, khinh bỉ đối với những người cầm đầu cộng đảng Việt Nam hiện tai như: Trọng Lú, Sang Ngu, Dũng Dốt. Những người này vẫn mãi say sưa, tự thỏa mãn với câu: “Người khôn phải gọi thằng ngu bằng thầy!”

Xin thưa! Nếu chúng ta khôn hơn họ, thì đã không bị họ khống chế từ cái đầu đến cái miệng suốt bao năm qua.

Năm 1954, sau khi Việt cộng chiếm Miền Bắc, thi sĩ Trần Dần đã bàng hoàng thốt rằng:

“Tôi bước đi không thấy phố thấy nhà,
Chỉ thấy mưa sa trên nền cờ đỏ.”

Hai câu thơ đã cho thấy hình ảnh thê lương tang tóc của đất nước dưới ách cai trị của người cộng sản. Thế nhưng, từ năm 1954, người dân Miền Bắc đã không chịu nhìn thấy điều này. Và người dân Miền Nam, năm 1975, cũng không muốn nhìn thấy điều này. Như thế, dù âm thầm không ai hay biết, nhưng số phận của đất nước Việt Nam đã được quyết định từ lâu.

Tiền bạc là vật mà mọi người dân, dù không biết chữ, vẫn phải dùng đến hằng ngày. Thế là từ thời kỳ tem phiếu, mãi cho đến hiện nay, không một tờ giấy bạc nào không có hình của tên bán nước Hồ Chí Minh. Sau khi chết, chúng vẫn đem cái xác cáo mục rữa trấn ngay thủ đô Miền Bắc và bắt mọi người phải chiêm ngưỡng. Đến khi cướp Miền Nam, chúng liền xóa ngay địa danh Sài Gòn, tên gọi thủ đô của Việt Nam Cộng Hòa. Thay vào đó là tên cáo Hồ đã chết. Rồi chúng xây con đường trên cao nguyên dọc Trường Sơn, xương sống của bản đồ Việt Nam với tên đại lộ Hồ Chí Minh. Tất cả mọi việc trên đều nhằm mục đích thực hiện kế hoạch to lớn và lâu dài. Đó là khống chế tư tưởng toàn thể dân Việt qua những hình ảnh này. Hãy thử tính xem trong một ngày, hình ảnh của tên cáo Hồ bán nước đánh vào đầu người dân Việt bao nhiêu lần qua tờ giấy bạc. Đây là một kỹ thuật trấn áp tư tưởng vô cùng hiệu quả trên bình diện vô thức mà khoa Tâm Lý Học gọi là khống chế tư tưởng (mind control) vô cùng tinh xảo và thâm độc.

Xin được nêu ra ở đây để những người vẫn còn ngây thơ cho rằng Việt cộng là những kẻ ngu ngốc nên suy nghĩ lại.

Là một người Việt cộng nằm vùng tại Miền Nam trong thời kỳ chiến tranh, nên lúc bấy giờ ông y tá Nguyễn Tấn Dũng bắt buộc phải dùng ngôn ngữ của Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng ngay sau khi cộng sản cướp được Miền Nam, chắc chắn ông Dũng và bao nhiêu người cộng sản nằm vùng khác đã không thèm dùng tiếng Việt của Miền Nam ngày trước. Năm 2010, trong buổi trả lời trước quốc hội cộng sản, vì lúng túng, thủ tướng cộng sản họ Nguyễn đã lỡ miệng phát ra hai chữ “bảo đảm” của Việt Nam Cộng Hòa. Biết bị hớ, liền ngay sau đó ông ta vội vàng tìm mọi cách để chữa lại bằng hai chữ “đảm bảo” của Việt cộng cho mọi người ngồi dưới kia cùng nghe thật rõ. Chỉ bấy nhiêu cũng đủ để dạy cho nhiều người Việt trí thức chống cộng cần học bài học về sự quan trọng của ngôn ngữ, cùng thái độ quyết tâm của ông ta khi xử dụng ngôn ngữ. Có thể lỡ lời nói ra hai chữ bảo đảm. Nhưng chắc chắn ông Dũng không bao giờ dám lỡ miệng đảo thứ tự để nói nhà nước (trước) và đảng (sau) cả. Đến đây hy vọng nhiều người sẽ nhận ra sự quan trọng cùng sự quyết liệt của những người cộng sản trong việc xử dụng ngôn ngữ. Nói một cách khác, nhưng vô cùng thực tế, họ hiểu rõ quy luật sinh tử là, đối với họ: Dùng Chữ Sai Là Chết.

Khi dùng ngôn ngữ Việt cộng để chống cộng, chống Tàu, chúng ta có thể nghe họ lớn tiếng cười mỉa mai khinh bỉ và bảo nhau rằng: “Cứ để cho bọn người đang sống ở hải ngoại đó chống cộng. Ngôn ngữ, tức cái đầu của chúng, mà đảng ta đổi tới thay lui chúng chẳng hề hay biết. Thế thì chúng chống cái chi. Ta vo tròn bóp méo cái đầu của chúng như thế mà chúng chẳng hay biết. Thì chúng chống được điều gì. Chúng đang sống nơi hải ngoại cách xa ngàn dặm, nhưng đảng ta nhét vào đầu chúng điều gì cũng được, thì có chi mà lo ngại. Ha ha ha. Chỉ cần mười năm nữa thì bọn người này sẽ nằm trong các nghĩa địa. Chẳng có chi để chúng ta phải bận tâm cả.”

Chống Tàu cộng xâm lược, mà không chống nổi ngôn ngữ nô lệ của chúng đang bám chặt trong đầu, thì chỉ làm trò cười cho bọn tay sai Việt cộng là thế đấy. Nên hiểu rằng, Việt cộng không bao giờ lo ngại chuyện mìn bom súng đạn, chúng chỉ sợ cái đầu của người dân. Mà thể hiện của cái đầu là qua ngôn ngữ đang xử dụng. Mong mọi người nên suy nghĩ kỹ điều này.

Hãy nhìn cô sinh viên trẻ tuổi Nguyễn Phương Uyên sẽ biết mình thế nào. Hãy nhìn bài học quốc ngữ của người Mỹ, hy vọng, và may ra, có người sẽ hiểu rõ sự quan trọng của ngôn ngữ trong việc giữ gìn nền độc lập và tinh thần tự chủ của dân tộc.

Xin chuyển đến mọi người để cùng suy nghiệm và chọn loại ngôn ngữ thích hợp cho chính mình.

Trần Đức Dũng

NHỚ TỪ CÁNH PHƯỢNG CUỐI THU

nguyenvi

Bên chùm phượng muộn cuối thu
Dòng ký ức réo u u cuộn về
Thời gian trầm tích si mê
Bấy lâu quên chững câu thề dỡ dang
Phượng lôi áo trắng xếp hàng
Trình ta điểm mặt này ngoan này hiền
Húi cua bên suối tóc mềm
Một lũ bạn thuở êm đềm…ngày xưa…
Tháng ngày chóng mặt đẩy đưa
Bạn ta tóc nhuộm sương khuya ráng chiều
Vài tên chối bỏ mọi điều
Sao biết được đã phiêu diêu cõi nào
May còn đó tiếng gọi nhau
Í a í ới mày tao…tìm về…

NGUYÊN VI

ĐƯA EM ĐI ĐẾN GIÁO ĐƯỜNG

maiviet

Đưa em đi đến giáo đường
Sáng nay trời bỗng bất thường trong ta
Đường tình qua mấy ngõ hoa
Xin trời đừng để đêm xa ngày gần

Đưa em lòng cứ phân vân
Biết ngày mai có chung thân một đời
Ngón tay đeo nhẫn đâu rồi
Cầm lên để thấy mình kề bên nhau

Đưa em dưới nắng dãi dầu
Lỡ khi nào gặp sầu đau cũng đành
Đưa em bước chậm bước nhanh
Bước dài bước ngắn bước quanh co này

Bây giờ tay ở trong tay
Dẫn em đi hết đắng cay ngọt bùi
Xin em giữ thắm môi cười
Tìm hương xuân để dành nuôi mảnh tình

Lao xao góc chợ phù vinh
Đưa em về đó để nhìn trắng đen
Dẫu sau này có bon chen
Sóng đời vây bủa cũng quen thăng trầm

Qua nhiều ngả bảy , ngả năm
Đâu bằng một ngả trăm năm vô thường
Sáng nay quì giữa thánh đường
Đời anh từ đó xin nhường lại em
MAI VIỆT

ĐỪNG RÓT TRÀ CHO EM NỮA…

nguyendinhbon

-Đừng rót trà cho em nữa! Cô gái trẻ khẽ khàng nhắc.
Người đàn ông như tỉnh lại từ cơn trôi nổi phù du, ông mỉm cười: “Xin lỗi! Anh lại quên.”

Họ cùng nhìn ra ngoài trùng khơi nơi có từng đợt sóng phũ phàng đang lao vào đập ầm ầm trên những thân thuyền bé nhỏ nằm cặp sát những hàng dừa. Người đàn ông:
-Em tắm biển không?
-Tắm biển vào thời tiết này hả anh? Với lại anh biết em đang…
-Ừ, có sao đâu. Biết đâu ngày mai, ngày kia chúng ta không còn biển để mà tắm.
– – ….
-Lúc đó chúng ta chỉ còn biển để nhớ, như những ngày điên rồ này của em.
– ???

Như trong vô thức, bàn tay ông lại cầm bình trà đã nguội rót vào tách của mình và ly của cô gái.
-Em không uống nữa đâu. Đêm qua em mất ngủ vì uống trà với anh!
-Anh xin lỗi! Nhưng mà đi với anh, em phải tập uống trà!
… Và cả những cơn mộng mơ hư huyễn…

Ngoài xa, trên mặt biển màu thép lạnh, mây giông đang kéo tới. Những đám mây thấp ngang trên đầu sóng. Những con thuyền bập bềnh, đôi lúc như chìm mất giữa những đợt sóng hung hản.
-Ở đây là Mũi Né đúng không anh?
-Ừ! Em đến đây lần đầu?
-Dạ, cũng là lần đầu tiên em thấy biển.

Người đàn ông mỉm cười một mình. Nụ cười nhỏ bé đến nỗi khó nắm bắt. Nhưng cô gái vẫn cảm nhận được nó. Cô nắm bàn tay ông. Bàn tay ẩm và lạnh:
-Anh cười em?
-Ừ, anh nghĩ lần đầu tiên mà nhìn thấy biển như thế này hẳn em sẽ chán ngán lắm!

Mưa ập đến ào ạt. Một thanh niên phục vụ từ bên trong chạy ra. Anh ta vội hạ những tấm màn sáo bằng tre xuống để mưa không tạt vào nơi hai người đang ngồi.Người đàn ông nói:
-Không sao đâu em. Không ướt đâu!

Trong tâm thức người đàn ông bỗng hiện hình những ngày cuối tháng ba xưa. Con đường xuống bến cảng ngập xác người. Đạn pháo kích từ trên mấy cụm núi đá vôi ào ạt rơi xuống trung tâm thành phố và những con đường dẫn ra biển. Mặc kệ đạn và pháo, mặc kệ súng, từng đoàn, từng đoàn người bồng bế nhau, la hét, kêu gào chạy về hướng biển. Cầu cảng được nối dài để đoàn người tan tát chạy loạn xô đẩy nhau xuống một chiếc xà lan lớn. Trời nắng như hắt lửa từ trên cao nhưng đoàn người quá đông đến nổi chiếc xà lan mau chóng đông nghẹt. Những loạt đạn pháo càng lúc càng dày. Thịt và máu vung vải khắp nơi trên cầu cảng…
-Đừng rót trà cho em nữa!

Người đàn ông giật mình, ông lại cười khi nhìn thấy nước trà tràn ra khỏi ly nước của cô gái.
-Đó là một ngày rất lạ lùng!
-Anh nói sao?

Mắt cô gái mở lớn. Cô ái ngại nhìn ông và lại tìm nắm bàn tay ẩm lạnh. Một bàn tay mềm mại. Cô nhớ bàn tay thô ráp của cha mình. Cô chưa bao giờ nắm tay cha nhưng cô vẫn biết nó sần sùi cứng cáp với những ngón ngắn và thô. Bàn tay ấy đã từng tát vào má cô, làm hằn lên năm ngón tay trong suốt nhiều ngày. Nhưng nó không làm cô đau đớn như khi nhìn ông khóc trong cơn say chiều hôm đó. Ông rền rỉ: “Con ơi là con ơi, ai đã đưa đẩy con đến con đường này? Trời ơi,là ai? Là ai? Tui phải giết nó. Là ai? Là ai?”

Phải chi ông biết cái người đưa con gái mình vào con đường mà ông cho là xấu xa ấy chính là em gái của mình, không biết ông sẽ xử sự ra sao?
“Đó là một ngày rất lạ lùng!” Không, cái ngày hôm ấy tràn ngập sợ hãi và cay đắng. Cái ngày hôm ấy cô chỉ muốn chết đi cho nhẹ bớt nỗi buồn lo. Người đàn ông đó, người đàn ông đầu tiên trong cuộc đời cô cũng trạc tuổi người đàn ông đang ngồi bên cô. Nhưng giữa họ là một sự tương phản cùng cực. Thế nhưng với “bà chủ” , ông ta là một “người đáng kính”. Trong căn phòng khách sạn không mấy sạch sẽ, hắn đã lao vào cô như một kẻ chết đói nhìn thấy mâm cơm… Trong sự sợ hãi, toàn bộ thân mình, các cơ, hai đùi của cô đã khép lại, căng cứng bởi những đề kháng vô thức. Hắn hầm hừ, làm đủ mọi cách để chiếm đoạt và gần như xé rách thân thể chưa kịp nầy nở của một cô gái nghèo khó vừa mới lớn. Đêm, hắn bỏ về. Một mình cô trong căn phòng khách sạn chật hẹp, âm u…
-Em uống thêm một ly nước cam nữa nha? Người đàn ông dịu dàng nâng mặt cô lên.Ông thảng thốt khi thấy những giọt nước mắt trên mi cô gái:
-Sao em khóc? Đi chơi với anh buồn quá đúng không?
Cô khẽ khàng lắc đầu. Ông quàng nhẹ tay qua đôi vai bé nhỏ của cô, mắt mông lung nhìn ra ngoài trời mưa, nói thật nhỏ:
-Ngày anh còn nhỏ, biển vui lắm…Rồi có một ngày…
-Sao hả anh?
-À, có một ngày nó thấm máu… Máu… những người thân yêu nhất của anh!
-Em xin lỗi!

Người đàn ông cười buồn, Ông châm một điếu thuốc và ra dấu cho người phục vụ đang đứng thật xa trong một quầy nhỏ bên trong, người phục vụ lại gần:
– Cho chú thêm một bình trà, một ly nước cam!

Biển đã đen thẩm, không nhìn thấy gì ngoài bóng đêm đen. Tiếng mưa rơi rào rạt trong tiếng sóng…

Đèn trong quầy giải khát vàng vọt. Đang mùa mưa và là ngày đầu tuần nên khách sạn vắng ngắt. Hình như chỉ có hai người…
– Năm đó anh mười lăm tuổi.. Người đàn ông thì thầm.
– Dạ! Cô gái trẻ nắm chặt bàn tay rịn mồ hôi của ông. Bỗng cô rùng mình. Ừ, năm đó, không phái cái “năm đó” xa xôi của người đàn ông đau khổ ngồi bên cô, mà mới vài năm đây thôi, đứa em trai cô cũng tròn mười lăm tuổi. Chính cái ngày nó vô lớp mười, cũng là ngày cô cắn răng chấp nhận lời đề nghị bán thân mình, chỉ vì cô biết nêu không làm như vậy thì em trai mình không có quần áo, sách vở, tiền trường… và tệ hại hơn, mẹ cô sẽ chết vì thiếu thuốc.
-Chị anh đã che đạn cho anh! Mắt người đàn ông dại đi, có cảm giác ông đang khóc dù không thấy lệ rơi .

Cô gái bật khóc, đầu dựa vào vai ông. Bỗng dưng cô thấy mình thương ông lạ lùng. Thấy ông không khác gì đứa em trai ốm yếu của cô. Cô nhớ đêm đầu tiên gặp ông, khi ấy cô đã rời khỏi “động quỷ” của “má Châu” một thời gian, đêm cô xin đi làm ở một quán bar nhỏ bán thức ăn Nhật còn ngày thì học uốn tóc, trang điểm… Quán cô làm phục vụ nằm trên một con đường nhỏ. Ông đến, rất lịch sự bảo với cô mình muốn một chén sakê đứng gốc Nhật Bản. Sakê là một loại rượu ngũ cốc nhẹ. Ở cái quán của cô nó có màu vàng nhạt, thơm thơm như rượu gạo Việt. Ông ngồi uống một mình, đờ đẫn… Vài hôm sau ông lại đến. Bà chủ quán của cô, là em gái của chủ tiệm cô học trang điểm không phải là người khó tính với nhân viên nên khi ông bắt chuyện cô có thể thoải mái chuyện trò nếu quán vắng khách. Dần dần ông có cảm tình với cô. Nhiều khi ông tế nhị để lại tiền “boa” sau khi ra về. Cô cũng thích ông dù ông nhiều hơn cô ba mươi tuổi và họ nói chuyện rất ít. Cô không hiểu vì sao mình lại có cảm tình với con người đó. Phải chăng đó là một mối đồng cảm sâu xa? Qua cách sinh hoạt của ông, cô đoán ông đang sống độc thân và ở đâu đó không xa lắm nơi cô đang làm đêm vì vài lần cô biết ông đi bộ đến. Nhiều tháng trôi qua từ khi cô may mắn rời bỏ nơi cô dấn thân vào dù rằng vẫn bị ám ảnh đến sợ hãi. Một vài ông khách Nhật, khách Đại Hàn nhờ người hướng dẫn hỏi thẳng cô có muốn đến khách sạn với họ sau giờ làm việc với giá khá cao nhưng cô từ chối. Mẹ cô đã mất. Chuyện phải có tiền không còn là chuyện bắt buộc nghiệt ngã. Và cô tự hứa với mình dù giá bao nhiêu cũng không chấp nhận bán thân thêm lần nữa.

Một đêm người đàn ông ấy đã ngập ngừng đề nghị:
-Em … có thể đi chơi với anh?
-Đi chơi? Không, em không làm… Cô nói, giọng buồn bã.
-Không, anh không nói ý đó, anh muốn rủ em đi chơi ở biển…
-Biển? Mắt cô tròn xoe. Cô sinh ra ở đồng bằng và chưa bao giờ nhìn thấy biển.Chừng nào đi hả anh?
– Em đồng ý?
-Dạ… không!
Người đàn ông im lặng. Ông yêu cầu một ấm trà. Khi trở ra, cô rụt rè:
– Chừng nào anh đi?
– Ngày mai!
– Em sẽ xin nghỉ, đi với anh, nhưng…
– Nhưng sao?
– Em đang… em đang… Và sẽ khộng có chuyện đó.
Người đàn ông bật cười, ông nắm tay cô:
-Cô bé ngốc… Em xin phép đi nha. Sáng mai anh đến đón.
Ông thuê một chiếc taxi đến chỗ cô hẹn là đầu hẻm phòng cô trọ. Trên xe cô nói thật với ông là mình đang “kẹt”. Ông cười như rất hạnh phúc, nắm chặt tay cô và thì thầm: “Em điên! Em điên”

Biển đã đón họ với những ngày áp thấp mịt mù. Chủ khách sạn hình như có quen biết với ông. Khi ông trao chìa khóa phòng cho cô, cô ngạc nhiên:
– Em …. Suýt nữa cô đã hỏi: – Em ngủ một mình sao? Nhưng cô đã kìm lại được. Hai ngày nữa cô mới “hết” và chuyện ở một mình làm cô cảm thấy vừa thoải mái, vừa buồn buồn vì khi đồng ý đi chơi với ông, cô đã dự liệu và chấp nhận mọi điều có thể xảy ra.

Gần hai ngày đã trôi qua. Trời vẫn mưa và họ chưa một lần thật sự hòa vào biển dù ông đã kêu taxi ghé vào một tiệm quần áo thể thao để cô chọn một bộ áo tắm. Cả ngày người đàn ông chỉ ngồi nhìn ra biển và uống trà. Đêm đầu tiên họ cũng ngồi như đêm nay và khi đưa cô đến trước cửa phòng ông nói thật nhỏ: “Em ngủ ngon nha! Anh chỉ sợ sóng biển làm em khó ngủ” . Và đúng là tiếng sóng cùng với những cảm xúc lạ lùng đã làm cô chập chờn suốt đêm. Phòng ông sát cạnh với phòng cô. Cô nằm lắng nghe tiếng sóng, đôi khi cô mơ hồ nghe tiếng gõ nhẹ vào cửa phòng mình và vội vã bật dậy, nhưng không hề có ai…

Hôm nay biển vẫn động…
Trời tối mù mịt. Người thanh niên trẻ hạ hết những màn sáo xuống. Cặp vợ chồng già người nước ngoài mới thuê cùng khách sạn đã đứng lên từ hơn nửa giờ trước. Bàn tay người đàn ông bứt rứt trong tay cô. Chợt ông rút tay ra, thì thầm:
-Tại sao số phận chúng ta lại như thế này? Tại ai?
-Đừng rót trà cho em nữa anh!
-Ừ, em có muốn xuống biển không?
-Trời mưa mà anh, với lại tối hù à, em sợ…
Ông nắm tay cô, họ đứng lên. Cô thoáng thấy ánh mắt người thanh niên phục vụ trạc tuổi cô nhìn mình vừa tò mò vừa ái ngại.
Ông dừng lại thật lâu trên hành lang, thì thầm:
-Ngủ ngon nha. Mai anh sẽ không rót trà cho em nữa!
-Dạ, không sao mà anh…

Tiếng sóng vẫn ầm ào khi cô đã nằm trong chiếc mền dày vì phòng khá lạnh. Mơ hồ cô lại nghe tiếng gõ cửa nhè nhẹ. Cô nhẹ nhàng rời khỏi giường, đi chân trần về phía cửa. Xoay nắm cửa. Và cô suýt kêu lên vì kinh ngạc. Không có ai nhưng trời đã trong sáng tự lúc nào. Ánh trăng trải rộng khắp khu vườn nhỏ dẫn về phía biển. Cô bước về phía phòng ông. Đèn bên trong vẫn sáng. Cô nhè nhẹ gõ vào cánh cửa…
10.2009
NGUYỄN ĐÌNH BỔN

NỢ

dotandat

Tôi còn nợ một câu thơ
Viết xong xé đốt khói mờ mờ bay
Tôi còn nợ một cuộc say
Tâm giao lọt xuống kẽ tay mất rồi
Nợ em lời đăng đắng môi
Nợ sông cũ một bèo trôi qua dòng
Tôi còn nợ một long đong
Sớm mai mẹ
gánh hàng rong chợ nghèo
Tôi còn nợ một mốc meo
Lư hương bụi bàn thờ neo hương tàn
Nợ lùm tre tiếng xốn xang
Một con cu gáy dội ngang nỗi buồn

ĐÕ TẤN ĐẠT

Tình khúc thu…

tranhuy

Em trả cho anh những ngày thu trống trải
Chiều vàng màu nỗi nhớ
Anh vẫn đi về qua hành lan ngày trước
Chỗ em ngồi thành khoảng trống mênh mông
Khẽ gọi tên em rồi cười rất gượng
Em đi rồi mùa thu trước em đi
Anh vớt lại kỉ niệm
Buổi quen đầu bỡ ngỡ
Làm sao quên cô gái kề bên cứ miệt mài vẽ
Vụng lắm lời nói đầu
Em cười rất Huế
“Không nói chuyện ngoài lề, chuyện chúng mình là kết cấu…không gian”
Rồi dạo ấy hành lan nhà C6
Có hai đứa ngồi vẽ những giấc mơ
Nhưng không tiếng tự tình
…không lời hẹn ước
Em… cơn gió nghịch mùa
Thổi lại những hoang tàn của lòng anh
Để chiều nay mình anh bước vội
Qua chỗ em ngồi
…thì thầm một nỗi nhớ không tên!!!!!

TRẦN HUY

THĂM ĐÓA HOA CUỐI NGÀY

nguyenngocnghia

Bước ra chạm mặt chiều tà
vô minh nhỏ giọt
nhạt nhòa tử sinh
Thưa em.
sương khói vô hình
ủ trăm năm một chút tình gió bay
Thưa em.
một cánh lan gầy
nở mê đắm giữa cuộc bày buồn hiu
đôi bờ nhật nguyệt liêu xiêu
vô thường em đợi trong chiều
… với ta

NGUYỄN NGỌC NGHĨA