CHÚT XUÂN EM NGÀY CŨ

hoangvancham

Mùa xuân bén gót hồng xưa
Xa từ độ ấy em chưa kịp buồn
Ngày đơm bông trái cội nguồn
Ta thương tiếng hát giữ hồn mong thương

Góc trời em níu mù sương
Nhớ hoài một bước cuối đường tìm nhau
Lặng thầm cắt xén nỗi đau
Tri âm vời vợi theo màu áo xưa

Mùa xuân nghiêng tay đẩy đưa
Cho em lời gió về thưa gửi tình
Hoa cười giọt nắng lung linh
Người về chợt nhớ cho mình gọi tên

Mùa xuân đếm giọt buồn rơi
Ngày giao mùa gọi tôi ơi! kiếp nào
Vườn xưa em hái chiêm bao
Chia đôi giấc ngủ có thao thức chờ

Chút xuân nặng với dòng thơ
Như cùng nghĩa tận đôi bờ gọi nhau.

Hoàng Chẩm (Quảng Trị)

NHẶT TÌM … CÁT BỤI HƯ NGÔN.

lesa

Bên ly rượu suông. Đình thổ lộ với tôi, rằng- Suốt bao năm trời bương bả. Những trì níu muộn phiền của cơm áo. Những hệ luỵ vừa đắng đau vừa ngọt ngào như từng nhát chém hư vô cứ cứa mãi qua phận đời. Tì vết thâm căn vẫn in hằn trên vai anh biết đến bao giờ hay sẽ là mãi mãi?!. Và biết đâu nhờ thế mà Đình được cái chân dung của chính mình. Niệm khúc bi tráng ấy có một ngày rồi cũng được thăng hoa. Đúng hơn là Đình đã tri nghiệm được tính chân giả của niềm yêu thương, sự bỉ tiện của đời người giữa khôn cùng hữu hạn.
Một tiếng chim hót lãnh trong chiều, môt chiếc lá vàng thu rơi hỏng hờ trên mặt nước đầu đông. những hình ảnh nhỏ vụn ấy cũng dể làm anh rơm rớm. Tính cách ấy dể làm bao kẻ ngộ nhận về Đình và họ cũng chỉ biết ngộ nhận trong đui mù quờ quạng. Đôi lần tôi nữa đùa nữa thật với anh:
– Anh Đình. Anh là nhà tiên tri thấu thị đấy.
. Vâng. Đã là nhà tiên tri thì không nên mềm lắm… ta dể bị lạc lỏng đến vô cùng. Thiền thượng trên tay anh có đó – tại sao, tại sao Đình lại không vung tay mà đập cho vụn vỡ mớ giăm sỏi đầy bỉ tiện, vô cùng sắt nhọn, luôn rình rập chực chờ cứa buốt chân anh.
Đình cười: – Vui là chính.
Trời ơi! Hoá ra cái đích của Đình chỉ vậy thôi sao! Ở thời này ta nên biết giã vờ một chút Đình ạ. Và nhất thiết cũng cần nịnh một chút Đình ơi – tại sao tại sao hở Đình, sao để thằng bé, con Đình ngày ngày dằm nắng dan mưa cõng nặng manh bằng cử nhân thạc sĩ hai vai đến vã mồ hôi mà kiếm sống!?… Nhìn thằng nhỏ tội nghiệp không. Đành rằng, không có nghề nào là Xấu cả nếu ta biết được cái chân đạo của một con người.
Sự cần mẩn, mẫu mực của Đình dể khiến bao kẻ thích danh xưng là sỉ này sỉ nọ… Tiến sỉ thi sỉ như trấu bay làm bẩn đục, nhiễu đục hồ trường… Hồ trường hồ trường đây hồ trưòng. Ôi! Bi tráng bi tráng quá.
Tôi rất coi thường và hải sợ những ai chỉ biết nhìn vào sách vở, kinh thư của thánh này thần nọ để nói về cái gọi là khuôn mẩu đạo người. Lịch sử vốn là một dòng chảy chu chuyễn – Quá khứ, tương lai, ta biết đâu mà niú giữ. Những gì có trong sách vở chỉ là hiện tượng. Thử hỏi rằng,họ có đủ khả năng tri nghiệm, dám trực tiếp đối mặt lề thói ấy mà tri giãi về bản chất – bản chất cấu thành của một viên sỏi một hạt cát hoang hoãi bên đường. Đâu là hiện tượng đâu là bản chất!.
Tôi tính từ chối Đình, rằng ngày mai tôi không thể theo anh, cùng anh đi rong một chuyến về phía núi. Đình gợi ý: Xung ơi! Tết kề cận, núi rừng sẽ thay mìmh trả lời Xung về những mắc mớ mà Xung luôn dằn vặt về mình về lủ con mình. Nếp tự tại của rừng của núi sẽ giúp ta nhiều điều. Chỉ cần nhìn một chiếc lá đang rơi, một viên sỏi lăn bên đường, ta cũng biết được chúng đang nghĩ gì nói gì. Đình chậm chậm khẻ khàng câu nói ngắn ngủn đầy dẩn dụ: – Nơi nào cũng là thiên đường nếu ta biết tồn tại với nó. Xoay xoay ly rượu trên tay. Tôi cười vui: – Ừ. Đi thì đi. Vui là chính. Tôi cười Đình cười.

Cây mưa chiều qua. Núi rừng như được hồi sinh. Từng vạc nắng vàng cắt mỏng trôi thấp thểnh trên tàn cây xanh mướt. Gió êm đềm nhẹ tênh.
Quán nằm thoai thoãi trên đồi cỏ tranh, lấp ghép theo mẩu nhà rông bằng tre nứa. Tôi đưa mắt nhìn về phía thung lũng có dòng suối uốn qua. Hoa bươm bướm đơm trắng một màu sửa tươi chạy dài trên triền đá, khoã dâng một mùa hương linh khiết. Tôi thầm hỏi… Lạ thiệt. Hoa bươm bướm có bao giờ nở vào mùa này đâu. Chủng loại loài hoa mà tôi hằng mơ ước được nhìn thấy chỉ nở rộ giữa hè thu kia mà?… Mùa của dưa hồng trên gò đồi Mưcôi quê mẹ. Tôi rưng rức ngoáy tưởng ngọt ngào về dòng sông ký ức thuỡ lên bốn lên năm.
Chama Phước người bạn cố cựu của Đình. Phước luôn nhắc về Đình về những kỷ niệm xa cũ giữa Đình và ông.
Phước cầm tay tôi chỉ về phía thềm đá phẳng, thềm đá gối gờ theo mạn sườn con suối. Phước nói: – Anh Xung nhìn kìa… Mười bảy năm trước, chổ đó là “từ đường” của anh Đình và tôi đấy. Thường những hôm trèo đèo lội suối từ các bản xa về, tôi và Đình luôn nghỉ lưng tại đấy. Nói là bản là phum là sóc cho oai, thiệt ra chỉ lèo tèo dăm chiếc chòi lá khuất sâu dưới đại ngàn rừng dầu rừng tre, bắp không có mà ăn, khố không có mà ôm. Nghỉ lại, tôi thương ông Đình này quá chừng. Có túm muối nào, có con cá khô cá lẹp lên meo lên mốc nào ông Đình cũng tiện tặn chia cho bọn trẻ trần truồng kia.
Một thoáng im lặng. Chama Phước vừa nói vừa cười:
– Mà này. Đã lên rừng sao uống cà phê… Coi giống ai.
Đình cười ghé nhỏ vào tai tôi:
Thế đấy. Trên này thế đấy. Hơi thở của rừng, tiếng gọi đàn của chim muông, lời thì thầm của sương đêm và đá tảng, đã hun đúc tính cách của họ từ trong bụng mẹ, lúc hào phóng họ hào phóng đến tận cùng. Khi cần khép. Họ khép kín rịt như đinh đóng vào gổ mun gổ thị vậy. Cần khóc họ khóc hết cở, khi được cưòi họ cười hết cở, chã ngán thằng ma thằng “Quỷ” đại nào đâu. Họ mờ toang hết thảy chín phương trời mà hú gọi hồn non nước họ về, mà vui chơi mà nhảy nhót thâu đêm.
Phước đưa tay ôm choàng vai Đình, xoa nhẹ bụng Đình: – Ơ này!… Sao bụng Đình vẫn lép xẹp như mười bảy năm trước vậy?!. Không hiểu Phước giả vờ hay tò mò muốn biết. Chuyện tức cười: – Này anh Đình. Những người ở phố có vị thế như anh ông nào bụng cũng phình ra nun núc như bày cá Cháo có chửa, lội ì ục trong vũng hồ tù không một hạt nắng nào cáy vào được…
Thậm chí, có ông còn tập nín thở, hít một hơi thật sâu vào bụng rồi từ từ htở phì ra để cái bụng được trương sình lên òn ỉn như con cóc thúi ương thế mới khẳng định được vị trí quyền lực của họ hiện có. Sau tiếng thở dài đánh sượt, Phước tiếp:
– Các anh lên đây mùa này là đúng. Nhưng chỉ tiếc, rừng giờ thưa bóng quá. Làm sao ta tìm được cảm giác tê mê dưới bàn chân trần mỗi khi ta bước lên thãm lá ròn thơm lạ lẫm ấy của rừng. Bản làng mình được kêu là nông thôn mới gì đó nên rừng phải bị chém chết dần chăng.
Tôi gật gù. Chao ơi! – Quả đúng là thi sỉ đang đứng trước mặt tôi đây mà.
Rượu đã ngấm. Men lòng đã triũ. Đất trời kia đang chung cùng nhịp thở. Giọng hát Chama Phước nghe đến nao lòng “… Những khi chiều tối cần có một tiếng cười… để ngậm ngùi. Hảy nghiêng đời xuống theo lá bay… trong trái tim con chim còn đậu…” Mỗi lần chuyễn nhịp, giọng Phước rươm rướm. Tôi tưỏng lòng tôi cũng đang rã. Một vòm sáng cháy rực giữa hồn tôi lướt khướt. Tôi mụ mị trôi theo dòng nhạc cảm. Tôi lăn mãi, tôi mò mẫm, tôi khắc khoãi cố trèo qua vùng định mệnh. Tôi tìm thấy tôi rỡ ràng hơn, Đình bừng sáng như hạt mật rừng đến vô thuỷ vô chung.

Trăng lãng mạn ươm vàng trên vai chúng tôi, kéo lê từng vệt nhờ nhợ dưới lòng thung. Tôi muốn hú lên một tiếng thật to thật rỡ ràng để tin rằng – Hạnh phúc nào cũng được sắp định, từ muôn vàng kiếp trước.
(Chiều Ma Nương cùng Tư Rết.)

LÊ SA

CÕI HƯ SINH

phudu

phút giây tôi chảy
giữa ngàn âm thanh
muôn trùng hiện thể
chấp chới bủa quanh

phút giây tôi ngủ
năm tháng chập chờn
bốn bờ sương khói
tiếng gọi chiêu hồn

phút giây tôi thức
hồi ức mịt mùng
hố đời du mục
tia lửa mông lung

phút giây tôi bỗng
té giữa hoàng hôn
nắng chiều vừa nhuộm
một bến sông buồn.

PHÙ DU

Anh ở trên này, mây đùn mây

tranhoaithu

Anh ở trên này, mây đùn mây
Mây anh hốt, hốt hoài không hết
Chim thì ít làm sao nghe tiếng hót
Mà em thì xa, tiếng hát cũng xa

Anh hẹn lòng, trở về tháng ba
Mà tháng giêng bị thương nằm bệnh viện
Đêm nổi khùng nhìn hoài nước biển
Tí tách rót vào thân thể thanh niên

Anh rời nhà thương, vết sẹo chiến trường
Tháng hai qua đèo đầy trời chim én
Chim đem mùa xuân trên vùng chinh chiến
Anh thấy lòng ấm lại, bâng khuâng

Kìa mùa xuân, em thấy gì không
Dưới đèo mênh mông một vùng hoa cúc
Cúc trắng cúc vàng để anh nhớ Tết
Tháng giêng mình, là tháng hai Tây

Tháng giêng mình ở đây mù sương
Đèo lên càng cao càng nghe tai ách
Chỉ có đàn chim, một đàn chim én
Ngực thon mềm, khiêu vũ đón mùa xuân

Để anh thì thầm, chúng ta tuy xa
Nhưng hồn vẫn gần nhau trong nỗi nhớ

TRẦN HOÀI THƯ

ĐỜI LÀ BỂ KHỔ

Người sống lâu bị nhục nhiều. Ông cha tôi – các ông Việt ngày xưa – hay dùng thành ngữ “Ða thọ đa nhục.”
Tôi không cho là người già bị nhục. Tôi thấy người ta càng nhiều tuổi càng khổ. Khổ vì không còn hưởng thụ gì được sự đời mà phải chịu những bệnh tật do già yêú sinh ra: Người già không tự lo được cho thân mình, mắt mờ, tai điếc, trí nhớ mất, sống nhờ người khác. Người già vua chúa hay cùng đinh, tỷ phú hay anh nghèo rớt một xu dính túi không có, kẻ quyền uy chấn động thế giới một thời hiển hách hay anh phó thường dân cả đời cơm nhà, quà vợ, khi tuổi già đến đều có những nỗi khổ như nhau.
Người ta qua 60 tuổi được kể là già. Ở Việt Nam những năm 1940-1950 người 50 tuổi được gọi là cụ. Khổng Tử chỉ nói về Người đến tuổi 70: “Thất thập nhi tùy tâm sở dục.” Tôi nghĩ ông muốn nói : “Người bẩy mươi tuổi muốn làm gì thì làm.” Nhưng người bẩy mươi tuổi còn làm gì được nữa. Người bẩy mươi cả Bốn Tứ Khoái đều không hưởng được, không làm được.
Năm nay – 2013 – tôi tám mươi tuổi. Một ngày đầu Xuân Kỳ Hoa Ðất Trích 2013, tôi viết bài này.
Năm 2000, khi chia tay nhau lúc nửa đêm ở trước một Nhà Dành cho Người Già Thu Nhập Thấp – Housing for Old Seniors Low Income – ở San Jose, ông bạn già của tôi nói:
“Ðọc những bài viết của toa để nhớ, để thương Sài Gòn của chúng ta.”
Ông cầm tay tôi:
“Viết. Viết nữa. Viết đến năm toa tám mươi. Viết cho bọn moa đọc.”
Ðêm mùa đông San Jose lạnh giá bao quanh chúng tôi khi chúng tôi từ biệt nhau, chúng tôi bắt tay nhau lần cuối.

Năm 2000 tôi 68 tuổi. Ông bạn HO già hơn tôi năm, sáu tuổi, tôi không biết hôm nay ông còn ở cõi đời này hay không. Thời gian và không gian làm chúng tôi không biết nhau sống chết ra sao. Tám mươi tuổi tôi vẫn viết. Tôi không còn viết phóng tác truyện dài. Tôi viết những bài như bài này.
Thời gian Sống, Yêu và Viết của tôi không còn bao lâu nữa, nên với nỗi Buồn vì phải xa mãi những người tôi yêu thương, hôm nay tôi viết những dòng chữ này.
o O o
Tôi bị ám ảnh bởi cái Chết, tôi ghét Chết, tôi sợ Chết, tôi không muốn Chết. Không phải bây giờ trong tuổi già, tuổi gần đất, xa trời, tôi mới sợ Chết, tôi sợ Chết từ những năm tôi năm, sáu tuổi, khi tôi bắt đầu biết suy nghĩ.

Nhà tôi ở cuối thị xã Hà Ðông, nhà có lầu, tiếng Bắc là nhà gác, nhà hai tầng. Trên gác nhìn ra tôi thấy cánh đồng với những nấm mồ rải rác trong những ô ruộng, ở gác sau nhìn ra tôi thấy Nhà Thương Hà Ðông và bãi tha ma ở cuối Nhà Thương. Những đêm mưa tôi thấy những chấm lửa lập lòe trong bãi tha ma. Về sau tôi biết đó là những ánh đèn của những người đi soi bắt ếch. Những năm xưa ấy tôi tưởng đó là những đốm lửa ma trơi.
Năm tôi năm, sáu tuổi, mẹ tôi 27, 28 tuổi. Tôi sợ mẹ tôi chết, người ta đem mẹ tôi ra chôn ở ngoài đồng. Mẹ tôi phải nằm một mình giữa cánh đồng vắng, lạnh, cô đơn, nơi mẹ tôi nằm ngập nước, đêm đông, mưa phùn, gió bấc, mẹ tôi khổ biết chừng nào. Ðó là nguyên nhân thứ nhất làm tôi ghét Chết, tôi sợ Chết.
Mời bạn đọc một chuyện Sống, Yêu và Chết tôi thấy trên Internet.

Trong phiên xử ở Tòa Án Phoenix, Arizona, bị cáo là Ông George Sanders, 86 tuổi, bị xử vì tội giết vợ. Tất cả mọi người có mặt tại toà, từ công tố viên đến chánh án, kể cả con cháu của kẻ bị cáo, đều thấy bị cáo phạm tội giết người, nhưng tất cả đều cho rằng đây là trường hợp pháp luật nên thông cảm, thương hại, tha thứ hơn là trừng phạt kẻ có tội.
Anh cháu của bị cáo George Sanderss nói trước tòa:
“Ông tôi sống để thương yêu bà tôi. Suối đời ông tôi làm mọi việc để bà tôi có hạnh phúc. Mối tình của ông bà tôi là mối tình lớn. Tôi tin ông tôi bị bắt buộc phải làm việc ấy vì yêu thương bà tôi, bà tôi chịu đau quá nhiều rồi, ông tôi không thể để bà tôi chịu đau nhiều hơn nữa.”
Ông Sanders bị bắt Tháng Bẩy năm 2012 sau khi ông nói với cảnh sát bà Virginia, vợ ông, 81 tuổi, xin ông làm bà chết. Vì ông Sanders nhận tội nên toà án không dùng đến bồi thẩm đoàn, nhưng ông vẫn có thể bị kết án đến 12 năm tù.
Bà Virginia bị bệnh nan y năm 1969, bà liệt bại, bà phải ngồi xe lăn. Năm 1970, ông bà sang sống ở Arizona vì khí hậu ở đây ấm nóng. Ông Sanders là Cựu Chiến Binh Thế Chiến II. Ông là người nuôi và săn sóc bà vợ. Ông nấu ăn cho bà, làm mọi việc trong nhà. Mỗi sáng ông giúp bà trang điểm, mỗi tháng ông đưa bà tới Nhà Thẩm Mỹ để bà làm tóc, làm móng tay.

Năm tháng qua, sức khoẻ của ông Sanders suy mòn. Ông phải đặt máy trợ tim, ông không còn săn sóc chu đáo được bà. Rồi bà Virginia bị ung thư phá ra ở chân, bà phải vào một Nursing home để người ta lo cho bà sống qua những ngày tàn cuối đời.
Ông Sanders nói với những viên chức điều tra:
“Ðây là giọt nước làm tràn ly nước. Virginia nhất quyết không chịu vào Nursing home. Vợ tôi tự cắt những ngón chân bị ung thối.”
Ông nói: – “Vợ tôi xin tôi cho bà ấy chết. Tôi nói tôi không thể.”
Vợ tôi nói: “Anh làm được mà. Em biết anh làm được.”
Sanders cầm khẩu súng lục, ông lấy khăn bông quấn ngoài khẩu súng, nhưng ông không sao bóp cò súng được.
Ông kể: – “Vợ tôi nói: “Bắn đi anh. Cho em đươc chết.”
Tôi nói lời cuối với vợ tôi:
“Em sẽ không cảm thấy đau.”
Và:
“Anh yêu em. Vĩnh biệt em”
Tôi nổ súng.”
Trước toà, người con trai của ông Sandsers nói: – “Tôi muốn quí toà biết rằng tôi yêu thương mẹ tôi, tôi cũng yêu thương bố tôi như thế.”
Steve Sandes, anh con, nghẹn ngào kể: – “Bố tôi yêu thương mẹ tôi trong 62 năm. Những đau đớn thể xác và việc chịu đau vô ích đã làm bố mẹ tôi đi đến quyết định ấy… Tôi không kết tội bố tôi. Với tôi, bố tôi là người tôi cảm phục nhất.”
Ông già George Sanders chỉ nói trong khoảng một phút, giọng ông run run:
“Tôi gặp Viginia năm nàng 15 tuổi, tôi yêu nàng từ năm nàng 15 tuổi. Tôi yêu nàng khi nàng 81 tuổi. Có nàng làm vợ là một ân phúc Thiên Chuá ban cho tôi. Tôi sung sướng được chăm sóc nàng. Tôi làm theo ý muốn của nàng. Tôi xin lỗi các vị vì vợ chồng tôi mà các vị phải bận lòng.”
Ông Công tố đề nghị ông Chánh án không phạt tù giam George Sanders, ông nói toà nên xử án treo.
Ông Chánh án John Disworth nói ông đặt nặng tình nhân đạo trong vụ án này. Ông nói: – “Bị cáo phạm tội giết người, nhưng được toà giảm nhẹ mức án.”
Ông tuyên phạt ông già George Sanders 2 năm tù treo. Tù treo không bị cảnh sát kiểm soát.
o O o
Chuyện ông bà Sanders làm tôi suy nghĩ lan man. Tôi nhớ chuyện Cái Bát Gỗ tôi đọc những năm tôi 10 tuổi. Anh con thấy ông bố già run tay, khi ăn hay đánh rơi bát cơm, bát vỡ. Anh làm cái bát bằng gỗ cho ông già ăn cơm. Ông có làm rơi bát, bát gỗ không bị vỡ.
Một hôm anh thấy thằng con nhỏ của anh hí hoáy đục đẽo một cục gỗ, anh hỏi nó đục gỗ làm gì, con anh nói: – “Con làm cái bát gỗ, để khi bố già, con cho bố ăn cơm.

Chuyện – dường như – ở trong sách Quốc Văn Ðộc Bản – đã 70 năm tôi không quên nó – nó đây là chuyện cái Bát Gỗ – nhưng chẳng có dịp nào tôi nhớ nó. Hôm nay tôi nhớ nó.
Từ sau năm 1975 ở Hoa Kỳ, Nhà Xuất Bản Xuân Thu in lại tất cả những sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư, Luân Lý Giáo Khoa Thư. Nhưng sách Quốc Văn Ðộc Bản – sách có nhiều bài thật hay – thì không thấy in lại. Tôi không biết tại sao Quốc Văn Ðộc Bản không được in lại ở Hoa Kỳ. Tôi đã đọc lại tất cả những sách Giáo Khoa Thư được in lại ở Hoa Kỳ, tôi muốn đọc lại những bài trong Quốc Văn Ðộc Bản.
Tôi nhớ lâu rồi, từ những năm 1950 khi tôi chưa gặp Tình Yêu Vợ Chồng, tôi đọc trên trang sách nào đó lời một ông Tầu viết: – “Vợ chồng như hai con chim tình cờ cùng đậu trên một cành cây. Ðến lúc phải bay đi, mỗi con bay đi một phiá.”
Năm xưa còn trẻ, tôi muốn phản đối lời diễn tả trên. Ông Tầu muốn nói vợ chồng là chuyện ngẫu nhiên, chẳng có tình nghĩa gì giữa vợ và chồng. Hôm nay tôi mới dịp viết ra lời phản đối.

Ông bác sĩ điều trị cho vợ chồng tôi mỗi tuần một ngày vào chẩn bệnh cho những ông bà già trong một Housing for Old Seniors – Housing này có nhiều ông bà già Mỹ trắng – ông nói: – “Có những cặp vợ chồng về già không nhìn được mặt nhau.”
Lời kể của ông làm tôi buồn. Vợ chồng sống với nhau đến già, ở chung một nhà già – mỗi người một phòng – sắp ra nghĩa địa, sắp vào hũ sành mà thù hận nhau đến không nhìn mặt nhau?? Thù hận gì dữ dội đến thế? Những người ấy thật khổ.
Bát đại khổ não ghi “8 Nỗi Khổ Lớn” của con người:
Sinh, Lão, Bệnh, Tử: 4 Khổ ai cũng phải chịu.
Muốn có mà không có: Khổ 5
Có mà không giữ được: Khổ 6.
Yêu nhau mà không được cùng sống: Khổ 7.
Ghét nhau mà phải sống gần nhau: Khổ 8.
Có người chỉ phải chịu có 7 Khổ. Ðó là những người không yêu ai cả.

Nhiều người Việt phải chịu cả 8 Khổ; đó những người thù ghét bọn Việt Cộng mà cứ phải sống với bọn Việt Cộng.

HOÀNG HẢI THỦY

CHO JOSÉPHINE SAMY

hochibuu

Thấy rồi – một chút heo may
Thổi lên tóc rối cho dài bóng tôi
Thấy rồi- một nửa hồn côi
Bay theo ngọn gió cuối đời đợi mong

Thấy rồi- có một mùa đông
Đến trong nỗi nhớ chờ mong một người
Em bên đó với cuộc chơi
Nửa vui, nửa khóc, nửa vời vợi xa

Vui trong tiếng hát người ta
Khóc trong tiếng vỡ nhạt nhoà bóng đêm
Nỗi buồn cứ thế nhân lên
Cuối đời vào mộng buồn tênh kiếp người

Em còn – nhưng tôi đã rơi
Rơi theo nỗi nhớ của thời lãng du
Rơi trong xa tít sương mù
Rơi rơi sót lại thiên thu tình nồng..

Sắp rồi- qua một mùa đông
Mùa Xuân sẽ đến – thuyền trông, bến chờ
Hình như- có gã làm thơ
Tương tư cho lắm- rồi ngơ ngẩn…buồn..

HỒ CHÍ BỬU

EM VIỆT NAM BÍ ẨN

trinhthanhthuy

Khi cuộc hành trình đi về miền nhiệt đới nóng ẩm của tôi đổi hướng từ Thái qua Việt Nam thì khí hậu cũng theo ngày tháng mà nóng dần lên. Tiếng gọi giục giã của Sài Gòn không còn là những rạo rực, háo hức nóng bỏng thương nhớ của những năm đầu người trở về, không còn câu chào mời hết sức niềm nở cho các Việt Kiều từ ngàn dặm xa của người ở lại. Trong mắt tôi, bây giờ VK được đối xử nhã nhặn, vui vẻ, chừng mực, một cách rất bình đẳng như tất cả các khách du khác.

Tôi đón xe Taxi từ phi trường về khách sạn nơi tôi đặt trước ở trung tâm Sài Gòn. Phố xá giờ khang trang, xe cộ ồn ã kín đặc, người người ai cũng vội vàng tất bật chạy theo dòng luân lưu như một cộ đèn kéo quân. Tôi bỗng giật mình, dường như mình lầm vì không còn nhận ra bóng dáng thân yêu của các cô gái Việt Nam ngày cũ nữa.

Cái ký ức những cô nữ sinh áo dài trắng đạp xe, vạt sau cài yên, giỏ trước chất đầy tập vở đã đi vào giấc mơ của hoa bướm ngày xưa. Những lời thơ có cánh, xôn xao lòng như “Những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng, em chở mùa hè của tôi đi đâu?” cũng bay vào ngăn kéo lãng mạn của viện bảo tàng văn học nào đó trước thập niên 75. Phái nữ giờ thay đổi từng ngày, từng tháng, từng năm, nhanh đến nỗi bất ngờ. Em hiện đại, “phơi phới” giữa đường, chân ga, tay găng, mắt kiếng râm, mặt khẩu trang, mũ vải rộng vành nằm (trên)dưới mũ bảo hiểm, áo nắng siêu đắt, tất cả kín mít từ đầu đến chân…..như phụ nữ Hồi.

em-vn-hinh-1-resized
Em Việt Nam.

Em Huế, Sài Gòn Hà nội ngày nay ra đường được “ngụy trang đến tận răng”. Anh nào mà ngớ ngẩn, lạng quạng “theo ngọ về”, đến nhà lột hết mũ áo ra mới hay mình lầm, lỡ “theo cọp về” chỉ có nước tẽn tò.

Đất mẹ nứt nẻ, toàn cầu bị hâm nóng, tia tử ngoại gia tăng, nhà cửa, cao ốc thành phố thi nhau mọc lên như nấm, bụi bặm, khí độc ô nhiễm khắp nơi, ai mà không sợ? Các em giờ chống nắng triệt để, vì sợ đen, sợ ung thư da. Không những phụ nữ mà tất cả già trẻ lớn bé ai phải “xông pha” ngoài đường cũng phải dùng khẩu trang. Chỉ cách đây vài năm, các cô chỉ đeo khẩu trang sơ sơ và găng tay. Giờ tân thời hơn, “phát minh mới” cái áo che nắng đặc chế ra đời, phủ trùm từ đầu đến chân(cho các cô mặc đầm) khiến các cô trông như các phi hành gia hay nhân viên phòng thí nghiệm.

Tuy nhiên, sự cẩn thận nào cũng có cái lý của nó. Không thể chối cãi được, bạn sẽ nhận ra rằng em VN tóc dài, tay lụa, đã thay da, đổi thịt, đẹp, trắng, xinh hơn khi về đến nhà, khi cởi “vỏ bọc”. Nhất là các cô làm những nghề cần đến nhan sắc đã biết dùng kem lột da để tự tạo làn da trắng nõn, khiến các bậc tu mi điên đảo khoé nhìn.

Tự ngàn xưa, theo quan niệm thẩm mỹ của người VN, khi nhắc đến một phụ nữ đẹp, các cụ nhà ta thường có câu “trắng da, dài tóc”. Ngày nay, phụ nữ VN trắng da, dài tóc nhờ được che chắn kỹ càng. Những phụ nữ Hồi cũng vậy, họ rất đẹp và trắng dù ở những nơi mịt mù gió cát sa mạc, khí hậu khắc nghiệt, nhờ trùm kín mít chỉ hở có đôi mắt.

em-vn-hinh-2-resized

Em Việt Nam.

Mới đây, bản tin Swiss Canton, một tỉnh bang của Thụy Điển vừa bầu xong đạo luật “cấm mặc quần áo che hết khuôn mặt”, làm tôi chú ý. Lại một nơi nữa, ngoài Pháp và Bỉ, đã ra đạo luật ngăn cấm những chiếc áo có mạng che mặt như Burqas hay Niqabs không được mặc để đi lại. Việt Nam ta có câu “Nhập gia tùy tục”. Những phụ nữ Hồi Giáo vẫn không chịu tuân thủ luật cấm, đã bị chặn ở Pháp và bị phạt khoảng 200 đô khi trang phục kín mít chỉ để hở đôi mắt. Hầu hết trong các trường hợp họ đều cởi mạng che mặt không kháng cự nếu cảnh sát yêu cầu, nhưng tháng 7 vừa qua đã có một cuộc nổi loạn gần Versailles khi cảnh sát bắt một phụ nữ Hồi Giáo tháo khăn che mặt.

Cái đẹp huyền bí của những tấm che mặt Burqas hay Niqabs như một khiêu khích vô chừng trí tưởng tượng và tò mò của con người và nó cũng mở ra những huyền thoại. Người phụ nữ Hồi phải che mặt vì bị bắt buộc theo luật định của tôn giáo, của gia đình, của quan niệm gia trưởng độc đoán, của sự an toàn bản thân và cũng để nhận diện tộc phái chính mình. Nếu sai phạm, một người phụ nữ có thể bị đánh đập tàn nhẫn, hiếp dâm và giết chết. Họ được dạy dỗ về sự thiêng liêng của việc gìn giữ thân xác, khuôn mặt chỉ cho riêng một người. Đó chính là người phối ngẫu, mới xứng đáng được hưởng tất cả những cái đẹp thể xác và linh hồn của người phụ nữ do thượng đế đã tặng dữ. Chỉ có người chồng mới yêu mến, có ý định gắn bó trăm năm, không lợi dụng họ, xem họ như một món đồ chơi hay hình tượng gợi dục cho phái nam giữa công chúng như thế giới ngày nay thường làm trên mạng, truyền hình và sách báo. Người phụ nữ Hồi hài lòng và chấp nhận cái hay, đẹp, cần được chăm sóc và đem giấu kỹ trái hẳn với quan niệm “đẹp phô ra, xấu xa đậy lại”.

em-vn-hinh3-resized

Em Việt Nam.

Nếu bạn có ghé qua khu vực chợ Bến Thành, Sài Gòn ngay góc đường Nguyễn An Ninh, bạn sẽ thấy chung quanh khu này có rất nhiều tiệm quần áo trưng bày và bán những sản phẩm thủ công thêu tay hay thêu máy rất đẹp và tinh xảo. Những tấm khăn Burqas, Niqabs, các trang phục phụ nữ Hồi thêu hoa màu sắc rực rỡ hay trang nhã được treo và trưng bày khắp nơi dọc theo khu phố này ban ngày cũng như trong khu chợ đêm Bến Thành. Người ngoại quốc ra vào nườm nượp, nhất là những khách buôn người Malaysia. Du khách từ Mã Lai đến để mua những mặt hàng thêu này về bán lại vì nó đẹp, nét thêu tỉ mỉ, mỹ thuật, lại rẻ. Người bán cũng trang phục phụ nữ Hồi và nói tiếng Anh và Mã Lai. Nhìn những bộ quần áo trông giông giống bộ áo dài thêu VN này được các phụ nữ Mã nâng niu đi tới đi lui trả giá bạn sẽ thấy hoa lòng rộ vui vì nền công nghiệp may mặc VN phát triển song song với kỹ nghệ du lịch.

Như chúng ta đã thấy sự khác nhau trong ý nguyện che mặt và thân thể của phụ nữ Vn và phụ nữ Hồi, một bên là tự nguyện vì làm đẹp, một bên là vì lý do tôn giáo và truyền thống. Nhưng kết quả cuối cùng vẫn mang lại cho chúng ta những người đẹp trắng da dài tóc được gói ghém cẩn trọng trong lụa là gấm vóc. Địa cầu thay đổi, con người thay đổi, thế hệ thay đổi, dĩ vãng đen trắng qua đi như những cơn mơ. Hình ảnh những nàng nữ sinh áo trắng tan trường đạp xe đạp đi hàng đàn với nón lá che nghiêng, giờ tan học từng làm xốn xang lòng người, giờ chỉ còn là kỷ niệm.

Thương ơi!!! Thương quá ngày xưa.

Trịnh Thanh Thủy

EM, NÀY EM THÁNG CHẠP

tranthienthi

ơi em mùa áo trắng
lạc vào phố tôi xưa
đang đông trời hững nắng
ấm dần ngón tay thưa

tôi nay chiều gối tím
rượu còn mấy giọt thừa
chờ nhau mà chưa uống
môi đầm mấy cơn mưa

ngày ơi ngày chầm chậm
nặng lòng giấc trể trưa
ngựa còn bôn tháng chạp
lòng con đi chưa về

nhắn giùm ta tháng chạp
nắng mật ngoài chân đê
phơi giùm ta chiếc áo
ủ rất đầy cơn mê

ơi em mùa áo trắng
xin một lần lắng nghe
tay ta mùa phiêu bạt
thêm một lần chở che

môi ta còn sót lại
dăm ba lời rủ rê
em
này em tháng chạp
nay mai xuân lại về

01 tháng chap
trần thiên thị

 

MÙA XUÂN NGHE GIÓ THỔI QUANH ĐỜI

 

vuhytrieu

ngửa mặt lạnh giữa trời xanh
nghe xuân thổi ngọn gió lành qua mi
nghe mùa xuân hát thầm thì
và tình xuân mãi nhu mì trong em

ngửa mặt lạnh giữa trời đêm
nghe xuân thổi ngọn gió mềm qua môi
nghe mùa xuân ấm quanh tôi
và tình xuân mãi hát lời hoan ca

mùa xuân-nghe gió thoảng qua
tình xuân cứ thế la đà toả hương.

VŨ HY TRIỆU