



Đôi hồi rầu rĩ phát điên
cặp môi sát thủ thánh hiền đã xa
đôi hồi buồn bực đàn bà
chơi năm điếu thuốc đen mà không hay
Đôi hồi cũng thấy cay cay
khi em ngọt nhạt với bầy lục lâm
đôi hồi cũng biết đã lầm
đi yêu một giọt lâm thâm cuối trời
Đôi hồi em cũng yêu tôi
đôi hồi khuya khoắt đôi hồi nhá nhem
đôi hồi tôi cũng yêu em
đôi hồi tôi cũng nín im không lời
Đôi hồi ném bút đi chơi
uống say cho nó tơi bời ruột gan
đôi hồi ngủ ngáy mê man
trong mơ lại thấy gã gàn được yêu
Đôi hồi cũng muốn nói liều
một câu đừng để qua chiều nhé em
đôi hồi nhớ đôi hồi quên
đôi hồi nhớ đôi hồi quên đôi hồi
Nguyễn Hàn Chung
1. Hai năm đầu bậc trung học, trường tôi ở ngay huyện lỵ, từ ngoài đường đi qua sân banh, nơi thường tổ chức các sự kiện lớn của huyện là vào đến cổng. Ngày ấy đi học thỉnh thoảng thấy người ta tụm lại ở sân banh coi xác người chết. Đêm trước VC về quấy rối, bị phục kích bắn chết và xác đem về huyện để dân coi. Nhìn những chú VC trẻ măng, chỉ từ 16 – 18 tuổi, mặc quần đùi, áo bà ba cũ, đi dép Bình Trị Thiên (bây giờ gọi là dép râu) tôi nghĩ, anh phá cuộc sống bình yên của xóm làng thì chết là đáng nhưng thấy thương hại.
Vài năm sau, lại thấy xác mấy chú đặc công gài mìn giật cầu, cầu chưa sập đã bị bắn chết, xác ngâm nước đem lên bờ da nhợt nhạt, tím tái. Phá sập cầu sẽ trở ngại trong việc đi lại nên bị bắn chết cũng đáng tội. Tuy vậy, vẫn thấy thương hại, không biết quê ở đâu, cha mẹ thế nào nhất là xác nào cũng lộ rõ nét ốm o do thiếu ăn triền miên.
Có lần coi trên một tuần báo của Mỹ thấy hình mấy cán binh VC chết cháy trên xe tăng T54, trên người còn sợi xích, việc mà trước đây nghe nói cứ tưởng là chuyện tuyên truyền. Thì ra, cấp chỉ huy buộc binh sĩ trên xe phải tử thủ!
Những ngày di tản về SG năm 1975, tôi và đứa em họ tá túc nhà người quen trên đường Phan Thanh Giản, nay là Điện Biên Phủ sát góc Cao Thắng. Trưa 30/4 ra ngã tư nhìn toán quân từ hướng Hóc Môn về tiếp quản Sài Gòn, đoàn hùng binh “tiến về SG ta quét sạch giặc thù” mà sao ai cũng trẻ măng, ngơ ngơ ngác ngác và cũng ốm đói như những người chết tôi đã từng thấy? Nhớ lại chuyện “3 thằng Việt Cộng cùng đứng trên nhánh đu đủ không gãy” thấy thiệt đúng, rồi liên tưởng tới tác phẩm “Vượt Trường Sơn” của nhà báo Phan Nghị, họ chiến thắng là phải rồi!
2. Chấp nhận một thực tại cay nghiệt mà không thể làm gì khác và âm thầm thích nghi với công việc của một giáo viên lưu dung là tâm trạng chung của nhiều đồng nghiệp tôi ngày đó. Ai được lưu dung cũng đều mừng nhưng dạy chương trình “cách mạng” khác hoàn toàn quan điểm ngày xưa từng dạy, lại phải tiếp xúc với những cán bộ “giáo viên chi viện ở A vào” là một cực hình. Mở miệng ra là nói toàn chuyện Bác và Đảng, chuyện lập trường quan điểm, chuyện phấn đấu vì một lý tưởng mới đã đành, chuyện dò xét/ soi mói mới là điều đáng nói. Ông hiệu trưởng và mấy ông chi viện là dân xứ Nghệ đều mặc quần bộ đội, áo sơ mi vải tám trắng đã xỉn màu, sandal nhựa nâu, đội mũ cối nhìn chúng tôi mặc lại những áo quần sang trọng ngày trước còn lại, hỏi một câu nhẹ nhàng: “Các thầy cô ăn mặc gì mà diêm dúa thế?” Áo sơ mi trắng hoặc màu rất nhã, quần tây sẫm màu sao gọi là diêm dúa?, đã qua trường đại học chẳng lẽ anh không biết dùng từ?
Cô giáo Anh văn không quen xum xoe nịnh bợ cũng đến trường với y phục ngày xưa bị đám “cách mạng ba mươi”, không rõ có do chỉ đạo của cấp trên hay không, hỏi rằng: “Trong lúc nhân dân ta thắt lưng buộc bụng xây dựng chế độ mới, cô sung sướng gì mà ăn diện?”. Tức máu, cô âm thầm chịu đựng, hôm sau đến trường cô mặc áo quần cũ và xấu hơn, đội chiếc nón cũng cũ mèm, cô lại được hỏi: “Chế độ ta đâu có để cho giáo viên thiếu thốn mà đồng chí ăn mặc như thế vào trường?”.
Một đồng nghiệp lớn tuổi mượn của học trò cái búa chẻ củi, tan trường anh đem về. Cùng đường về có mấy giáo viên chi viện, khi được họ hỏi thầy cầm búa theo làm gì, anh nói đùa: “Học trò dốt quá nên đem búa theo chẻ đầu chúng để nhét chữ vào!”. Vậy là việc này được đưa ra trong phiên họp sau đó để phê phán và đánh giá quan điểm của anh!
Ngày ấy, tuy phải xoay cuộc sống theo hướng hoàn toàn khác trước, kể cả về tư tưởng nhưng nhiều anh em chúng tôi cũng có lúc tin ở một chừng mực nào đó đất nước sẽ khá dần. Mọi việc đều đâu vào đấy, giáo dục cũng như những ngành khác, ai cũng sợ mất sổ gạo, bị cắt tem phiếu nên cắm đầu cắm cổ làm việc dù trong tình thế này, nhiều người nghĩ mình đang sống ở Goulag! Nhưng thực tế đã không như vậy!
3. Theo thời gian, nhất là sau 1986, mọi chuyện dần thay đổi, từ cỡi trói cho văn nghệ đến khoán 10, từ đa dạng hóa, đa phương hóa trong kinh tế đối ngoại với cụm từ “cải cách, đổi mới, mở cửa” đến “xây dựng kinh tế thị trường theo định hướng XHCN”. . . xã hội VN bắt đầu biến dạng, cán bộ đảng viên hiện nguyên hình, chế độ bắt đầu phơi bày tất cả bản chất xấu xa của nó. Nếu không có những dự án FDI từ sau 1992, không có nguồn vốn ODA và đặc biệt nếu không có nguồn ngoại hối lên đến cả ngàn tỉ đô la phần lớn là của “khúc ruột ngàn dặm” gửi về cho thân nhân, thì cùng với sự tranh ăn, tranh chức, tranh chấp Bắc – Nam, tranh chấp giữa đổi mới và thủ cựu, giữa phe thân Mỹ và thân Tàu, người dân đã nổi loạn và chế độ này khó tồn tại đến ngày nay dầu rằng điểm đặc biệt của người cộng sản từ bao đời nay là họ có thể giết nhau nhưng khi đảng có nguy cơ sụp đổ thì họ lại cùng nhau bảo vệ (dù biết rằng nó không đáng để bảo vệ).
Hơn 30 năm từ ngày “cải cách, mở cửa”, qua truyền thông mạng, người dân, kể cả con gia đình cán bộ đảng viên “gộc” đều đã nhận ra mặt thật của chế độ, qua bao nhiệm kỳ ĐH đảng, nhiệm kỳ Quốc Hội. Đã có nhiều tiếng nói từ trong lòng chế độ, từ những trí thức cộng sản và nhất là giới trẻ sinh ra và lớn lên từ sau 1975. Không chỉ lên tiếng, giới trẻ còn vượt qua sợ hãi, bất chấp sự đàn áp man rợ của chế độ công an trị, họ sẵn sàng nhập cuộc bằng nhiều hình thức khác nhau mà chống Trung cộng là mục tiêu và khẩu hiệu chính trong đấu tranh. Vì giới hạn của bài viết, không thể kể tên những nhân vật điển hình nhưng cũng xin nói lời khâm phục họ, ở đây.
4. Bất chấp dư luận trong nước và sự lên tiếng của các tổ chức nhân quyền thế giới về cải thiện dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, nhà cầm quyền CSVN ngày càng đàn áp những người phản kháng thảm khốc và chìm sâu vào tham nhũng. Điều tệ hại nhất là họ cùng nhau hút máu nhân dân, chia nhau phần bòn rút, ăn cắp từ các dự án mà câm miệng trước những vụ động trời như Vinashin, Vinalines và hàng ngàn vụ lớn nhỏ khác. Môi trường biển 4 tỉnh miền Trung ô nhiễm trầm trọng qua vụ Formosa, hơn một năm qua, chế độ tìm mọi cách lãng tránh một thực tại đau lòng, hàng trăm ngàn người thất nghiệp, hàng triệu người phải ăn hải sản nhiễm độc. Ngược lại, họ đàn áp thẳng tay những ai đòi công lý cho Formosa chỉ vì SỢ TRUNG CỘNG, chỉ vì tay đã nhúng chàm. Mặc khác, chính quyền sở tại còn làm khó các tổ chức thiện nguyện cứu giúp dân 4 tỉnh và khốn nạn hơn nữa là … ăn chặn tiền đền bù!
Xã hội băng hoại cùng cực, luật pháp không được thực thi vì điều 4 hiến pháp vốn đã không thể chấp nhận, người dân bị bắt vào đồn công an đều bị giết bằng hàng chục cách khác nhau đã lên đến số trăm nhưng không được làm sáng tỏ, công an sử dụng cả đám đầu trộm đuôi cướp để trấn áp các cuộc đấu tranh và ngước lại, giả dạng xã hội đen để phá các cuộc biểu tình chống Tàu, chống Formosa. Công an trở thành thù địch của dân chúng nhất là dân thành phố từ nhiều chục năm nay không khác một thứ Hồng Vệ Binh. Rất nhiều vụ việc bùng nổ hoặc báo chí phanh phui đều chìm vào im lặng kể cả những vấn đề liên quan đến cuộc sống người dân như vụ hành hung phụ nữ của tên công an Phan Sơn Hùng, vụ hiếp dâm nhiều trẻ con chung cư của tên cựu Giám đốc Ngân hàng Nguyễn Khắc Thủy ở Vũng Tàu. Bán đảo Sơn Trà, sân bay Tân Sơn Nhất cũng chưa thể trở thành nguyên nhân để chế độ này sụp đổ nhưng tất cả những vụ việc này nhất là vụ phản kèo Đồng Tâm gần đây đã làm cho những người có nhãn quan sáng suốt nhìn thấy trước ngày tàn của chế độ đang đến gần.
Không ân oán với chế độ nhưng những người có lương tri mỗi ngày đọc báo đều thấy ê chề trước vận mạng đất nước, thấy nguy cơ mất nước ngày một đến gần, nếu không thì “muôn đời con cháu mai sau” phải trả nợ do chế độ này gây ra không ít. Hiện nay, tuy chưa cùng đứng vào một tổ chức để đấu tranh trực diện lật đổ chế độ nhưng tuổi trẻ VN dấn thân ngày càng đông đảo, mạnh dạn và hiệu quả. Một bạn trẻ, nick FB là Thuan Van Bui, trong mục hàng ngày “Điểm tin và bình loạn” với 28 vấn đề điểm từ báo quốc doanh với 389 likes, 67 shares trong ngày 19/6/2017 là một chứng minh để những ai bi quan sẽ lạc quan, những người trẻ thờ ơ với vận mệnh đất nước và sợ sệt sẽ dấn thân với tất cả nhiệt tình và can đảm của mình cho một Việt Nam tươi sáng.
NGUYỄN NHẬT HUY
Mạ sinh em đêm Rằm, Ba đặt tên em Nguyệt. Mạ tròn xoe mắt biếc, nhìn con, trăng long lanh…
Rồi thời gian đi nhanh, nhanh như đường trăng chuyển, em lớn mang vòng xuyến, trăng vòng quanh cổ tay…
Em đẹp như buổi mai, trăng / mặt trời là một, bình minh vàng trên tóc nàng công chúa trong rừng…
Anh, chỉ một người dưng, đi qua rừng, đứng lại. Ô, em là cô gái đẹp như chữ Thái Hòa…
Rồi cuộc chiến đi qua, anh trở về ngơ ngác, trăng xưa đi đâu lạc? Trăng nào ở ngoài khơi?
Những chiếc thuyền nổi trôi…
Những cánh buồm ẩn hiện…
Những giọt lệ tê điếng…
Rớt xuống đời…long lanh!
*
Bốn mươi hai năm Hòa Bình, anh giật mình hoảng hốt! Nhớ tiếng chim “bắt cô trói cột”, nhớ một thời Lương Sơn…
Nước chảy đá không mòn nên suối còn róc rách. Đêm nghe mưa tí tách…em à ai khóc ai?
Trần Vấn Lệ
Chỉ cần anh, chỉ cần em,
Đủ thành một đất trời riêng đôi mình.
Cho nhau em nhé lòng tin,
Đong đưa khúc lục bát tình hoài mong.
Tựa nhau tìm thoáng phiêu bồng,
Kìa đôi mắt thức động lòng đêm sâu.
Nắng nghiêng bóng ngả ngang đầu,
Hiên hoa rụng đóa bể dâu phai tàn.
Nhìn nhau ngọt giữa môi tan,
Cỏ ngoan xanh biếc mịn màng tóc tơ.
Nắng nghiêng bóng ngả thẫn thờ,
Gối tay ru giấc tình thơ muộn mằn.
Ôm nhau hoa bưởi trắng ngần,
Má hồng nở nụ tầm xuân no đầy.
Hương nồng dậy nức men say,
Thịt da trầm lắng phút giây tự tình.
Yêu nhau ủ giấc phù sinh,
Đôi mình như bóng nhập hình nhập nhau.
Bồng bềnh cõi tạm bao lâu,
Ru tình ngon giấc gối đầu chiêm bao.
Trần Ngọc Hưởng
Tôi quen Long từ lúc còn trong quân trường. Hai thằng có nhiều thứ khác nhau. Cái tên Nguyễn Vĩnh Long của nó cũng đủ làm cho tôi cảm thấy cách xa nó đến cả… vài trăm cây số. Nó cao lêu ngêu, tôi thuộc loại chỉ đủ thước tấc đi lính. Mỗi lần xếp hàng diễn hành hát bài Đường Trường Xa, nó cầm cờ đi hàng đầu, còn tôi ách ê hàng áp chót. Tôi ăn nói vụng về nên thường thầm lặng còn nó thì giỏi lý sự nên nói hơi nhiều. Cái giọng nam bộ của nó thường mở đầu bằng mấy tiếng chửi thề, nên tôi ngại nói chuyện với nó. Dường như hai thằng chỉ có một điều giống nhau duy nhất : Con nhà nghèo, gia đình lại ở quá xa, cho nên những ngày cuối tuần, hai thằng đều mồ côi tại chỗ. Không ngờ chính cái điều giống nhau duy nhất ấy mà sau này hai thằng trở thành bạn chí thân
Quả thật là nó có nhiều thứ khác tôi, nói cho đúng là có nhiều cái hơn tôi. Ra trường nó đỗ cao, được chọn về quân trường Đồng Đế, ngay tại quê tôi, làm huấn luyện viên, còn tôi thuộc loại “lè phè” nên phải ra làm trung đội trưởng ở một sư đoàn tận trên cao nguyên xa tít mịt mùng. Sống xa nhau, nhưng cứ mỗi lần về phép, hoặc có dịp dẫn quân qua thành phố Nha Trang là tôi ghé lại thăm nó. Có khi ở chơi với nó cả tuần. Hoạn lộ của Long coi bộ thênh thang hơn tôi nhiều lắm. Phải nói thật là nó có tài, chứ không hề chạy chọt, hay nhờ vã một ai. Làm huấn luyện viên, cán bộ, chỉ một thời gian ngắn, nó được rút về làm Trưởng Phòng, rồi lên Trưởng Khối. Chức vụ cao, cứ theo bản cấp số, nó lên lon lên lá vù vù. Còn tôi quanh năm đánh đấm, nằm núi lội rừng, thương tích mấy lần cũng chỉ được mấy cái huy chương, mà chẳng có dịp nào đeo trên nắp túi áo làm oai với mấy cô em gái hậu phương. Chỉ sau mấy năm, nó đã lên đến quan ba. Tôi về phép đúng lúc ăn khao. Nó dặn dò tôi hai tháng nữa, cố gắng dọt về đây làm phụ rể cho nó. Nó lấy vợ. Nghe nói vợ nó là trưởng nữ của một nhà giàu nên đám cưới sẽ linh đình ghê lắm. Hai tháng sau tôi đang đóng quân ở Lâm Đồng, năn nỉ ông Tiểu đòan trưởng xin ba ngày phép, theo trực thăng của Phi Đoàn Thần Tượng 215 biệt phái, bay về NhaTrang mừng đám cưới thằng bạn chí thân. Vào nhà nó trong cư xá khi trời sắp tối. Cửa đóng im ỉm. Tôi vào cổng quân trường hỏi sĩ quan trực. Ông cho biết Long đang còn ở trong văn phòng. – Cái thằng này, lúc nào cũng gương mẫu. Ngày mai cưới vợ mà bây giờ còn cặm cụi làm việc. Hèn gì nó cứ lên lon lên chức là phải. Tôi nghĩ thầm trong bụng. Đẩy cửa vào văn phòng, thấy nó đang nằm dài trên bàn, mặt mày thiểu nảo. Tôi có linh tính là ngày mai tôi không có cái vinh dự được làm phụ rể. Nó không nói năng gì và cũng chẳng đưa tôi về cư xá mà lái xe chở tôi chạy một vòng xuống quán số 5 dưới bờ biển Nha Trang, uống mấy lon bia trút mọi điều ẩn ức: – Đ.m. bà già dịch của con bồ tao không chịu gả con gái cho tao. Lâu rồi, tôi mới nghe lại cái giọng chửi thề ngày xưa của nó. Tôi trố mắt nhìn nó chờ lời giải thích. – Mày biết không, ông già tao với mấy bà dì từ Vĩnh Long khăn gói ra đây. Sợ không môn đăng hộ đối, tao phải nhờ ông đại tá chỉ huy phó dẫn nhà trai đến nói chuyện với ông bà. Ông chồng thì vui vẻ tay bắt mặt mừng, tao thấy đời cũng còn lên hương. Tới lúc mọi người đứng vào vị trí “thao diễn nghỉ”, bà vợ mới nghiêm mặt phán cho một câu làm tao muốn xỉu luôn tại chỗ. – Câu gì mà ghê gớm như lời chúc tết của “bác ” trước tết Mậu Thân vậy ? Tôi đùa. – Bà hỏi ông già tao: Ông hỏi con trai của ông, là lương tháng của cậu có đủ cho con gái tôi mua xà phòng giặt quần lót nó hay không mà đòi cưới với hỏi. Có vài lần đi chơi chung với Long và cô vợ.. hụt này. Nàng trông cũng dễ thương, gốc Bắc Kỳ 54, nên giọng Hà Thành còn “ngàn năm văn vật” lắm. Cha mẹ cô là chủ một hảng thầu có máu mặt ở Nha Trang, nàng thì học xong tú tài thì theo nghiệp mẹ cha, kinh doanh, làm chủ mấy tiệm may, mấy cái sạp vải trong chợ Đầm, và còn làm thêm cái nghề tay trái là thầu cung cấp lễ phục cho khóa sinh trường Đồng Đế. Chính cái nghề phụ này mà cô nàng gặp và mết Long, một trưởng phòng trẻ tuổi cao ráo đẹp trai. Qua mấy năm tình yêu còn mặn nồng hơn nước biển Nha Trang, nhưng biết bà mẹ chê lính nghèo, nên nàng không dám mở lời. Cuối cùng thì nàng năn nỉ ông già. Cái đám hỏi là do chính ông đưa đường chỉ lối. Ông hiền lành tốt bụng, nhưng kẹt là mọi việc bà vợ đều nắm quyền. Mà đã là vợ nắm quyền thì cái nhà sẽ trở thành vô phúc. Tôi đã từng nghĩ, miền Nam sụp đổ cũng có sự góp phần không nhỏ của những bà vợ mấy ông lớn ưa nắm quyền chồng. Sau đám hỏi bất thành, ông già nó trở về Vĩnh Long, buồn và tủi thân nên bệnh cả mấy tháng trời. Nó bảo là vẫn nặng tình với cô con gái, nhưng rất hận bà già Bắc kỳ giết giặc. Tôi lên mặt dạy “chiến thuật” cho nó : – Mày là lính văn phòng mà còn bị chê, cỡ tao là lính tác chiến thì chắc chỉ phải đứng xa ngoài cửa. Tao như mày thì một là áp dụng chiến thuật “tiền pháo hậu xung”, còn nếu mày thấy con tim chưa đến nỗi lao đao, thì cứ tìm mục tiêu khác ngon lành hơn mà “đột kích”. Mày là lính, đừng để mất mặt KBC. Nó đập vai tôi cười méo mó. Không biết có phải nhờ nó áp dụng “triệt để” bài học chiến thuật tôi dạy lần trước, nên vừa “đột kích”được mục tiêu nào mới, mà chỉ gần ba tháng sau nó lại nhờ một anh bạn phi công Sao Mai L 19 từ Nhatrang lên bao vùng liên lạc nhắn tôi trên tần số không lục : Ninh Kiều hạ san gấp ăn đám cưới của Victor Lima ở tango hai lần Delta ( ám danh đàm thoại có nghĩa là Vĩnh Long ở trường Đồng Đế). Báo hại lần này tôi phải nói dối với ông Chiến đoàn trưởng một lần nữa, để bỏ rừng theo trực thăng vù về thành phố biển. Nó đón tôi ở phi trường. Vừa gặp nó tôi đã “biểu dương thành tích” : – Tao phục mày. Tao là dân đánh đấm mà cũng chưa chiếm được mục tiêu mới trong vòng ba tháng, nhất là sau một lần chiến bại còn thương tích đầy mình. Mày mà ra cầm quân chắc cũng đã là “đại bàng”của tao từ lâu rồi. Nó đấm vào bụng tôi một cái : – Mục tiêu mục tiết cái con khỉ. Tao áp dụng chiến thuật “tiền pháo hậu xung” của mày đó. Tôi tròn mắt : – Tao còn phục tài mày hơn nữa. Cái gì mày cũng đáng là “sư phụ “của tao. Đám cưới vội vã, nhưng cũng linh đình. Có lẽ vì thế giá của ông bà thầu khoán. Chỉ có điều đại diện bên nhà trai chỉ toàn là lính. Cha của Long thương thằng con, nhưng còn hận đời đen bạc nên đành “vắng mặt có lý do”. Sáu tháng sau tôi về phép ghé thăm. Vợ chồng nó vẫn ở trong khu cư xá, nhưng được cấp ưu tiên một căn rộng và khang trang hơn. Trong nhà bày biện sang trọng. Gặp tôi bất ngờ nó mừng ra mặt, vì đúng lúc nó tổ chức ăn khao lên lon và lên chức, nhưng lần này là chức… Cha, vì vợ nó vừa sinh đứa con trai đầu lòng. Niềm vui của nó còn lớn hơn khi cha nó lặn lội từ Vĩnh Long ra thăm để được bồng thằng cháu đích tôn. Nó nâng thằng con lên khoe với mọi người: – Như vậy là tao cũng báo hiếu được cho ông già, vì sau này cũng có người bưng hình cho ổng. Có người không hiểu hỏi bưng hình làm gì. Nó giải thích: ” là khi nào ông già tao qui tiên, nó bưng hình ổng đi trước quan tài đó “. Tôi thúc tay vào hông nó, bảo đừng nói điều gỡ. Chia tay, tôi nắm chặt tay hai vợ chồng nó : – Mừng cho ông bà, tài lộc gì có đủ rồi đó nghe. Trong đám bạn nghèo, mày là thằng số một đó nghe Long. Hai vợ chồng ôm lấy tôi cười rạng rỡ. Sau cái ngày ăn mừng “chiến thắng” của nó, thì trên chiến trường thực sự của tôi lại bắt đầu sôi động. Từ Sông Mao, đơn vị tôi di chuyển khẩn cấp lên An Khê vào đúng chiều ba mươi tết. Đánh một trận thần tốc, giải tỏa mấy cái chốt ở đèo An Khê xong là trực chỉ lên phi trường Pleiku để không vận lên Kontum, giữa “mùa hè đỏ lửa”. Đầu tháng 3/75,sau khi Ban Mê Thuột thất thủ, tôi được theo BTL Tiền Phương về Nha Trang trong kế hoạch tái chiếm thành phố đất đỏ “bụi mù trời” này. Tôi ghé thăm vợ chồng Long một lần vội vã, nhưng chỉ gặp nó, còn vợ con thì phải “di tản” về ở với ông bà già ở đường Độc Lâp NhaTrang. Một tuần sau, những người đầu tiên sống sót từ dòng người di tản theo tỉnh lộ 7B về đến Nha Trang mang không khí hốt hoảng bao trùm lên thành phố biển. Long liên lạc tôi qua tần số vô tuyến, hẹn gặp gấp trước cổng Grand Hotel, đang được xử dụng làm BTL tiền phương QĐII. Trên xe vừa bước xuống, nó bảo tôi đi với nó tới Nam Việt Ngân Hàng ở góc đường Độc Lập – Nhà Thờ, dẫn theo một tiểu đội lính. Tôi vừa được Trung Tâm Hành Quân cho hay: một số tù trong quân lao vừa phá cổng thoát ra ngoài, nên nghĩ ngay đến chuyện có cướp ở ngân hàng. Tôi bảo nó : – Lính tráng trong tình trạng ứng chiến, muốn đi đâu phải xin lệnh. Để tao vào nói với ông Tham Mưu Phó Hành Quân. Nó ngăn tôi lại, ghé miệng vào tai tôi nói nhỏ : – Tao nhờ mày việc riêng. Mày có lính tráng dễ nói hơn tao. Tao mang cái phù hiệu quân trường, nói không mạnh lắm. Bao nhiêu tiền vợ chồng tao đều gởi trong ngân hàng. Bây giờ đến rút nó không cho, bảo phải vào ngân hàng chính trong Sài Gòn. Tay giám đốc chi nhánh bảo là cả tiền bạc và sổ sách đã gởi đi Sài gòn rồi. Nhưng tao không tin. Hơn nữa tao là lính tráng, đâu có muốn bỏ đi Sài gòn lúc nào cũng được. Tôi ngần ngừ, nhưng nghĩ nó là thằng bạn thân, sống chết có nhau, hơn nữa nó nói có lý: của mình mình lấy, có gì là phi pháp. Tôi vào nói nhỏ thằng bạn SQ trực trong TTHQ, rồi lái xe chở nó đi, gọi hai chú lính trinh sát đi theo hộ tống. Hai thằng nói nhỏ với mấy anh cảnh sát gác cửa xin vào gặp ông giám đốc. Bắt tay chào hỏi xong tôi “dùng tình cảm xuống nước nhỏ” : Nhờ ông giám đốc đặc biệt giúp cho anh bạn thân của tôi. Chắc ông cũng biết, đây là tiền buôn bán làm ăn của vợ ảnh chứ chẳng phài thụt két tham nhũng gì đâu. Hơn nữa tụi tôi là lính, phải đi theo đơn vị, đâu có biết lúc nào mới vào được Sài Gòn mà rút tiền. Tôi biết là khó khăn cho ông, nhưng mong ông giúp đỡ đám nhà binh tụi tôi trong cái cảnh dầu sôi lửa bỏng này. Ông giám đốc nghiêm mặt chau mày suy nghĩ, rồi hạ giọng. – Thực là khó cho tôi quá, vì tôi phải làm theo lệnh của trung ương. Nhưng thôi được, nễ tình mấy anh, tôi phải lấy quỹ dự trử an toàn ra mà phát cho anh. Nhưng xin các anh đừng nói cho ai biết nghe. Chúng tôi nói cám ơn đến mấy tiếng. Và như để đáp lễ tôi cũng báo cho ông biết ( mà có lẽ người Nha Trang nào cũng biết rồi) là tình hình nguy hiểm lắm, tù trong quân lao đã thoát được ra ngoài. Ông phải đề phòng. Trước đây tôi đã nghe nó khoe mấy lần là con vợ Bắc kỳ của nó làm ăn rất giỏi, nhưng tôi cũng không ngờ thằng bạn nghèo của tôi ngày xưa bây giờ lại có nhiều tiền đến như vậy. Tôi không rõ bao nhiêu, nhưng thấy nó phải dùng đến năm, sáu thùng đạn đại liên để chứa tiền. Xong còn nhờ đám tụi tôi hộ tống về trường Đồng Đế. Tôi bảo sao không cất ở nhà ông bà già vợ mà đem vô chỗ lính tráng làm gì. Nó lắc đầu : – Tao chẳng bao giờ muốn dính dáng tới cái bà già Bắc kỳ giết giặc đó. Hơn nữa ở cư xá tao còn có lính tráng canh gác. Hôm sau, Trung Tâm Hành Quân được báo cáo là địch quân đã chọc thủng phòng tuyến cuối cùng của Lữ Đoàn Dù ở Khánh Dương. Các Trung Tâm Huấn Luyện ở Dục Mỹ đã di tản về Cam Ranh. Toà Lãnh Sự Mỹ cũng đã rời khỏi Nha Trang, và ông Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Khánh Hòa cũng đã biến mất từ lúc nào, không có mặt trong buổi họp khẩn cấp sáng nay của Tiểu Khu. Tôi liên lạc với người bạn thân trong TTHL Hải Quân, được biết chiến hạm 401 HQ sẽ ủi bãi tối nay để di tản toàn bộ SVSQ /HQ vào Vũng Tàu hoặc Cát Lở. Anh ta cũng có trách nhiệm phải đi theo. Tôi xin anh can thiệp dành cho mười chỗ để gởi vợ con tôi và gia đình Long, còn tôi thì đi theo đơn vị vào Phan Rang. Anh trả lời OK ngay. Đồng hồ trên tay tôi chỉ 3 giờ 15 phút chiều. Tôi gọi vô tuyến cho Long, bảo nó cùng vợ con chuẩn bị sẳn sàng tại cư xá. Tôi về Ninh Hòa đón vợ con vào rồi ghé đón gia đình nó luôn. Chúng tôi hẹn gặp nhau lúc 6 giờ chiều. Khi xe vừa xuống đèo Rù Rì, tôi giật mình khi thấy xe cộ, dân, lính đủ loại nối đuôi hối hả chạy ngược chiều về hướng Cam Ranh. Chỉ cái xe của tôi là đơn độc hướng về phía Ninh Hoà. Tôi dành tay lái và bảo anh tài xế ôm súng ngồi bên cạnh. Anh cũng là dân Ninh Hòa nên xin về với gia đình luôn, không muốn đi theo tôi. Có một chi tiết nhỏ nhưng đã làm tôi cảm động và không bao giờ quên: Khi tới ngả ba cải lộ tuyến Ninh Hòa, tôi thấy một chiếc xe đám cưới, mà cô dâu là người láng giềng của bà xã tôi, và chú rể là một sĩ quan pháo binh trẻ. Đôi tân hôn nhớn nhác hối hả chạy theo dòng xe định mệnh. Trong những ngày trong tù, đôi khi tôi nghĩ tới cô dâu chú rể giờ thứ 25 này và không biết tình duyên của họ giờ đã ra sao. Khi chở vợ con trở lại Nha Trang, từ quốc lộ rẽ vào trường Đồng Đế để đón gia đình Long như lời hẹn, tôi chứng kiến một cảnh tượng thật thê lương: quân phục, súng ống vất dọc đường, mấy ngôi nhà đang cháy, có vài ba xác chết. Khó khăn lắm tôi mới lái xe tới được khu cư xá của Long. Nhà mở toang cửa, trong nhà vật dụng ngổn ngang, không một bóng người. Tôi gọi Long trên máy vô tuyến, nhưng không nghe lên tiếng. Tôi lo lắng cho nó khi nghĩ tới số tiền lớn của nó mang về từ Ngân Hàng. Vào Sài Gòn, sau khi sắp xếp nơi ăn chốn ở cho vợ con xong, tôi ra Vũng Tàu trình diện lại đơn vị cũ. Tôi tìm Long khắp nơi, nhưng không ai biết. Rồi cái biến cố đau thương cũng đến hồi kết cuộc: miền Nam thất thủ. Ngày 28 tháng 4, cả gia đình tôi có mặt tại bến Bạch Đằng với mấy thằng bạn Hải Quân. Nhưng cuối cùng, tôi không bước xuống tàu mà quyết định ở lại. Tôi không đành lòng bỏ quê hương, và nhất là cha tôi, đang còn kẹt lại một mình ở quê nhà. Hơn nữa dù sao đất nước cũng sẽ thống nhất hòa bình. Rồi Nam Bắc một nhà sẽ cùng nhau xây dựng lại quê hương. Và cái suy nghĩ ngây thơ đó của tôi đã được “người anh em một nhà” đãi ngộ bằng tám năm đọa đày trong các trại tù “cải tạo” tận vùng Việt bắc. Vợ con ở nhà thì nheo nhóc, không được phép làm một thứ công dân, dù chỉ là hạng bét. Ra tù, không còn đất sống, tôi phải liều thân dẫn vợ con vượt biển ra đi. Sau sáu năm định cư ở Na Uy, cuộc sống gia đình tạm ổn định. Hai cô con gái may mắn được một trường đại học bên Mỹ nhận, vợ chồng tôi đưa hai cháu sang Cali tìm nơi ăn chốn ở, nhân tiện thăm đám bạn bè cùng đơn vị ngày xưa. Gặp thằng bạn này thì nghe thêm tin tức của vài thằng bạn khác, đứa còn đứa mất, mỗi thằng một cảnh long đong, và bất ngờ tôi biết được tin Long. Một thằng bạn cùng đơn vị, khi mới chân ươt chân ráo từ trại tị nạn Bidong sang Mỹ, được ông chủ gốc nhà binh ưu ái nhận vào làm trong một siêu thị trên Michigan. Người chủ ấy chính là Long. Thằng bạn cho biết Long sang đây từ năm 75, và có tài kinh doanh nên bây giờ đã là triệu phú. Anh ta rất tốt với đám nhà binh lưu lạc sang đây. Biết ai là lính ngày xưa, Long cũng đến thăm, giúp đỡ tận tình, nếu chưa có việc làm, anh sắp xếp vào làm tại các siêu thị, nhà hàng của anh, đảm trách những công việc nhẹ nhàng, lương bỗng cũng khá. Anh bạn lục lọi trong cuốn sổ tay tìm đuợc số phôn gọi lên tìm, nhưng siêu thị đã bán cho chủ mới. Lần mò đến ba hôm sau, chúng tôi gọi được Long. Vợ chồng nó làm chủ đến mấy cái siêu thị, cây xăng ở tiểu bang Washington và một xưởng gỗ ở vùng Portland, tiểu bang Oregon. Nó đúng là thằng bạn chí tình. Giàu nhưng không đổi bạn. Nhận ra giọng nói của tôi trong điện thoại, nó hét lên mừng rỡ : – Bây giờ mày đang ở đâu ? Mày đi một mình hay có vợ con không ? Nghe tin mày vượt biên, tao tìm mày khắp nước Mỹ mà không ra. – Tao đang ở nhà người quen ở Sacramento với bà xã và hai đứa con gái. Tao ở bên Âu châu qua, chứ có ở Mỹ đâu mà mày tìm. Tôi trả lời – Tao “búc” vé máy bay ngay bây giờ, tụi mày lên tao ngay chiều nay nghe. – Không được, chiều nay tao đã có hẹn ở San Jose, hơn nữa đâu có biết là gặp mày, nên tao đã mua vé đi một vòng qua nhiều tiểu bang lắm. Chiều mai tụi tao bay lên Houston rồi sang Florida, North Carolina và một vài nơi nữa, làm sao gặp mày bây giờ. Nó bảo tôi cho số phôn và nó sẽ gọi lại sau năm phút. Nó hẹn gặp tôi tại phi trường San Jose. Nó bảo vợ chồng nó có nhà nghỉ mát ở gần đó, rồi dặn tôi cứ ở nhà người quen đợi, nó sẽ thuê xe đến đón. Vợ chồng nó sẽ đến San Jose bằng chuyến bay 5 giờ chiều nay. Tôi đón nó ở phòng đợi phi trường cùng với vợ chồng thằng bạn khác ở San Jose mà tôi đã hẹn. Long nhận ra tôi trước, còn nó thì khác xưa nhiều lắm, mập ra nhiều và trông bệ vệ như một chính khách hơn là một thương gia. Nó ôm chặt lấy tôi quay mấy vòng. Sau khi ăn tối xong nó đưa bọn tôi về nhà nghỉ mát của nó. Ngôi nhà nằm trên một ngọn đồi nhìn xuống cây cầu nổi tiếng Golden Gate ở San Francisco. Ngôi nhà nhỏ, nhưng khá xinh và được trang bị toàn là những thứ sang trọng, có đứa cháu và hai người Mễ trông coi. Hôm ấy, chúng tôi thức suốt đêm, nhắc nhở bao nhiêu kỷ niệm vui buồn, điểm danh lại đám bạn bè, tính xem đứa mất đứa còn, đang trôi dạt nơi đâu. Hai đứa sụt sùi, Tôi kể cho nó nghe hơn tám năm tù đày khốn khổ, vợ con nheo nhóc, và nhớ lại trước ngày mất Nha Trang, như lời hẹn, khó khăn và nguy hiểm lắm tôi mới đến được cư xá của trường Đồng Đế, nhưng không tìm thấy vơ chồng nó. Nó rơm rớm nước mắt : – Tao thường nhắc với vợ con tao về mày, bảo tất cả phải nhớ ơn mày. Vì nhờ mày tao mới rút được tiền ở ngân hàng Nam Việt hồi ấy. Và chính nhờ số tiền đó, khi đưa cả gia đình tao và gia đình bà xã tao đến Cam Ranh, xe cộ chật cứng, cả đêm không nhúc nhích được, tao trả giá cao mới mua được một chiếc tàu máy rồi cả nhà chạy ra đệ thất hạm đội. Nếu không có tiền, chẳng hiểu bây giờ tụi tao ra sao nữa. Nghe nó nhắc gia đình vợ, tôi hỏi bố mẹ vợ nó bây giờ ở đâu và sức khỏe ra sao. Nó bảo ông cụ thì mất hơn năm năm rồi, bà già “bắc kỳ giết giặc” thì vẫn còn sống và ở San Jose cũng gần đây thôi. Có lẽ nó vừa nhớ tới cái chuyện ngày xưa nên câu chuyện trở nên sôi nổi : – Lúc chạy bà cũng gần trắng tay. Của chìm của nổi bỏ lại hết. Tao hận cái nghèo, hận chuyện ngày xưa, nên qua đây tao đi làm đầu tắt mặt tối, kiếm một số vốn rồi ra kinh doanh. Tao nghĩ ở cái xứ này chỉ có làm business thì mới sớm đổi đời. Không ngờ tao có lộc trời, chỉ mấy năm sau tao có mấy cái nhà hàng, và một siêu thị. Tao mua cho ông bà cái nhà cả triệu đô, nuôi đám con của bã, em của bà xã tao, thằng nào cũng xong đại học, hai thằng ra bác sĩ, còn con út học luật. Tao làm cho bà ấy thấy tiền bạc có nghĩa gì đâu, mà ngày xưa bà khinh rẽ gia đình tao, làm cho ba tao buồn mà phát bệnh luôn. Cả đời này tao cũng còn hận bà. Lo đầy đủ cho gia đình bà xong, vợ chồng tao “move” lên Texas, rồi Washington DC, Michigan, Oregon và cuối cùng thì tới đóng đô ở Washington State. Từ đó tao không muốn gặp bà ấy nữa, vì mỗi lần gặp bà tao lại nghĩ đến nỗi hận của Ba tao. Chỉ có vợ tao lâu lâu về thăm bà mà thôi. Còn mấy đứa con của mầy ra sao, không nghe mầy nhắc tụi nó. – Lúc tụi tao ra đi, chỉ có thằng Đăng sáu tuổi và con Tâm mới lên bốn. Sang đây đổi tên thành Danny và Tammy, Qua Mỹ, tuị tao chỉ có thêm thằng Kevin. Thằng Danny thì tốt nghiệp luật ở Yale, đang làm cố vấn pháp luật cho hãng Boeing, con Tâm thì ra trường Stanford ngay San Franciso này. Bây giờ làm SFO cho Bank of America. Mắt tôi sáng lên, mừng cho sự thành công của vợ chồng nó : – Tao phục mày. Con cái mày giỏi quá. Tụi mày vừa được vinh dự lại vừa tha hồ hưởng phước. Nó trợn mắt : – Dự với phước cái con khỉ. Tụi nó lấy vợ Mỹ, chồng Mỹ hết. Bây giờ tụi nó thành Mỹ hết rồi, mà lại là thứ Mỹ thượng lưu trí thức. Vợ chồng tao cũng có chút hãnh diện, và các cháu cũng rất lễ phép và biết nghe lời, nhưng vợ chồng tao cũng buồn khi nghĩ là càng lúc tụi nó càng xa cái nguồn cội của mình. Tôi đùa để an ủi nó : – Que sera sera ! mày cứ khéo lo. Ở ngoài này đa số là vậy. Rồi đến khi lá rụng cũng sẽ về cội thôi. Nó thở dài : – Có còn cội đâu mà về. Chính tao cũng không còn có cội, chứ nói chi tới con cháu. Cội của tao là ở cái xứ nghèo Chợ Lách, Vĩnh Long bên Việt Nam kìa. Tao cũng đã tính mai mốt về già, vợ chồng tao mang tiền về Việt nam sống. Nhưng khốn nỗi chẳng còn chỗ để mà về nữa. Bà già tao, như mày biết, qua đời hồi tao còn trung học. Ông già tao thì mất từ năm 78. Ở cái làng nghèo mà có một thằng làm đến quan tư như tao là được xếp loại ác ôn ghê lắm. Tao đi rồi, ở nhà ông già tao lãnh nợ cho tao. Bị bắt lên bắt xuống, hành hạ đủ kiểu, nên phải chết sớm. Tao còn thằng em trai, lúc nó theo ông già tao vào thăm tao trong Thủ Đức chắc mày còn nhớ. Hồi xưa nó chịu khó học hành, hiền lành hiếu để lắm. Tao có mỗi nó là em, nên thương nó hết mình, tiền bạc tao gởi về như nước. Không ngờ có nhiều tiền nó trở chứng, bỏ vợ bỏ con xuống Sài gòn rượu chè bài bạc, sống hết với con này tới con khác. Cuối cùng thì nó hút xì ke. Vợ nó bán cả nhà từ đường, thu tóm tiền bạc dẫn đứa con trai đi biệt tích. Tao chưa về Việt nam, nhưng ở đây có nhiều người đã về thăm, họ bảo là dường như bây giờ cái xã hội ” kinh tế thị trường” ở bên nhà đã làm cho con người ta đổi thay nhiều lắm. Đồng tiền nó đã xói mòn tất cả mọi thứ đạo đức ở quê nhà. Cái xứ Chợ Lách khỉ ho cò gáy của tao bây giờ cũng đầy dẫy quán bia ôm. Cha mẹ còn đem con gái bán cho đám Đài Loan, hay mấy mụ tú bà. Bọn cán bộ thì đua nhau tham nhũng, sống phè phở trên đầu trên cổ dân đen. Có thằng tiền bạc thừa mứa không biết làm gì, mang đi mua tiết trinh cả những đứa con nít. Khốn nạn thật. Chính quyền trong nước cứ bảo những người ở ngoài này là “khúc ruột ngàn dặm”, là ” một bộ phận không thể tách rời” nhưng trong lòng thì vẫn còn mang nặng ghen tị thù hằn. Mày có đọc luật nhà đất mơí nhất của chính quyền Cộng sản rồi chứ. “Người Việt ở nước ngoài không được hưởng quyền thừa kế bất động sản, mà chỉ được hưởng “giá trị” trên phần thừa kế đó mà thôi”. Tao rất sợ cái loại chữ nghĩa này. Người chết nằm trong nghĩa trang Biên Hòa còn bị đập bia, phá mộ, san bằng, huống hồ những thằng còn sống như tao với mày. Chỉ có những thằng khùng mới tin được. Ngưng vài phút, nốc cạn cốc Hennesy, nó ngẩng đầu lên nhìn tôi : – Mày thấy không. Ngày xưa nghèo thì bị người ta khinh rẻ. Bây giờ giàu có, tiền bạc không biết để làm gì. Cuộc đời này khốn nạn thật. Sắc sắc không không ! Có lẽ tụi tao sẽ đi tu. Tôi ôm chặt vai nó : – Thì mày còn bạn bè, mày còn tụi tao đây. Có khi bạn già sống với nhau lại hay, vì mình dễ cảm thông, dễ chia sẻ mọi nỗi niềm Không ngờ lời nói chỉ cốt an ủi của tôi đã làm cho đôi mắt nó sáng lên : – Hay là mày cho hai đứa con mày ở lại đây với vợ chồng tao. Tụi tao hứa là sẽ coi nó như con tao. Mấy cháu còn nói tiếng Việt giỏi quá, mà cũng lễ phép dễ thương. Nói chuyện với tụi nó tao thấy sao mà gần gũi quá, nhất là bà xã tao cứ ôm tụi nó mà nói đủ thứ chuyện dưới đất trên trời. Tao sẽ lo cho tụi nó vô trường Stanford hay ít nhất là Birkely, chứ học mấy cái trường State đó làm gì. Còn vợ chồng mày cứ sang đây, tao nhường lại cây xăng, hay một cái nhà hàng. Mọi thứ đều free. Khi nào tụi mày giàu rồi thì từ từ trả vốn cho tao cũng được. Để tụi mày còn sớm được cấp thẻ xanh nữa. Tôi cảm động vỗ vai nó, – Cám ơn mày. Mày là thằng bạn lính chí tình. Nhưng các con tao sang đây đã lớn, bên Việt nam thì cũng chẳng được nhà nước bọn Cộng sản cho phép học hành gì. Tụi nó học không giỏi lắm, vào được State là tao mừng rồi. Tao chỉ mong ra trường tụi nó kiếm việc gì đó làm, đủ để tự lo cho mình. Còn tụi tao có biết buôn bán kinh doanh gì đâu. Tao ở lại sau tháng 4/75 nên thấy mọi thứ sao mà phù du quá. Nhiều kẻ vong ơn, phản trắc quá. Con người đối xử với nhau sao mà ác độc quá. May mà đám nhà binh tụi mình còn giữ được cái tình. Cái này quý lắm, nên tụi mình cố mà giữ lấy, dừng để giàu nghèo nó làm mai một. Thôi, để tụi tao về Na Uy làm tà tà cũng đủ sống. Hơn nữa tao cũng thích ở cái xứ Bắc Âu hiền hòa yên tĩnh, hợp với những thằng chậm chạp như tao. Và tao cũng còn tịnh dưỡng để chữa những vết thương khó mà lành được trong lòng tao nữa. Sáng hôm sau, khi mặt trời lên cao trên đỉnh đồi, hai thằng mới chui vào phòng ngủ. Trước khi chợp mắt, hồi tưởng lại ngày xưa, tôi thấy lòng lâng lâng tiếc nuối. Dù sống trong nghèo khó, hiểm nguy, nhưng lòng lúc nào cũng vui, cũng thấy yêu đời. Hình như lúc ấy cả đất trời và ai nấy cũng dễ thương, ở đâu con người cũng nặng tình nặng nghĩa với nhau. Còn bây giờ quê hương tôi chỉ còn là một “dòng sông tật nguyền” hay ” cánh đồng bất tận ” như hai nhà văn nào đó trong nước đã viết về quê hương nguồn cội của mình .
PHẠM TÍN AN NINH
Chợt thấy đôi khi lòng là quán
Trống tênh dăm ghế bụi mốc cời
Chờ nhau
Bếp đã thành tro nguội
Tay cũng đành
Mười ngón pha phôi
Chợt thấy đôi khi lòng là sóng
Cuốn tim bay theo bước chân người
Ngã bảy ngã ba
Tình mất bóng
Ngậm riêng mình nửa mảnh
Trăng phai
Chợt thấy đôi khi đời quá mệt
Ta rủ ta lên núi rong chơi
Cám ơn em
Đóa quỳ độ lượng
Đã hồn nhiên
Mở cửa đất trời…
phải chi hôm ấy phải chi
cội không sót đóa từ bi hiên nhà
gió không dằn dỗi quét qua
nào rơi cánh khóc lìa xa ngỡ ngàng
phải chi hôm ấy lá vàng
đừng lên đò buổi sang ngang để buồn
mắt thu dòng lệ mưa tuôn
nào mùa lũ thác cuộn nguồn đầu non
phải chi chậm chút gót son
hoài rằm mười sáu trăng tròn rưới đêm
ủ ngoan mộng gối nguyệt mềm
nào nhân gian nỡ bắt đền bể dâu
phải chi bông trổ sầu đâu
cứ hồn nhiên đổ con rầu trắng sân
cho không gian nhuốm bâng khuâng
nào cay nghiệt tháng ngày trần ai đau
phải chi chẳng có xưa sau
và ta chẳng phải lòng nhau cớ gì
ôm vào mơ giấc cố tri
sợ lo trời khép chân mi chối từ
phải chi hôm ấy đừng ừ
mình yêu nhau nhé bây chừ mây bay
bồng bềnh bữa ấy đến nay
nào sương khói ướp hồn say hư phù… .
Phạm Hiền Mây