BIỂN ĐÊM

 

Đêm nay lại về phố biển
Cát còn ẩn dấu chân xưa?
Ngập ngừng từng con sóng vỗ
Nghe như tiếng vỡ bao mùa

Bóng dừa nghiêng che kỷ niệm
Một mình khẻ gọi biển ơi
Bọt sóng trào dâng ảo ảnh
Nhớ thương tha thiết muôn đời

Vầng trăng như chừng đi lạc
Để buồn con nước xa khơi
Ánh vàng chìm trong mây phủ
Lấp che ánh mắt lạc loài

Dưới kia biển xanh vẫn hát
Trùng khơi gõ nhịp chơi vơi
Nghẹn ngào giấc mơ ngày cũ
Sương rơi phủ áo ngang đời

Biển xanh vẫn nồng vị mặn
Tóc xanh nay đã bạc rồi
Một mình nghe cay bờ mắt
Biển tình xa tít mây trôi …

NHÃ MY

Xiên Mỵ

 Nếu thơ là chốn ẩn náu của người lữ hành cô độc, thì truyện chính là nơi tiếp nối cuộc hành trình…những truyện ngắn của nhà thơ Phương Uy vẫn mang cái phong thái ma mị của thơ cô, từ Gặp Giữa Ngàn Trùng, Mớ Trăng Máu… đến Trong Góc Tối…
Nhưng Xiên Mỵ lại khác, Xiên Mỵ là lời cô muốn nói với môi trường xã hội cô đang sống, với nghề nghiệp cô đã chọn bằng một niềm thấu cảm sâu xa .
(Tương Tri)

Hải gọi cô là Xiên Mỵ, Xiên Mỵ là tên một nhân vật trong bộ phim hoạt hình mà Hải coi. . Một cô gái mong manh nhưng mạnh mẽ.Hải thích nhân vật ấy lắm. Lúc ấy Mỵ thấy buồn cười, thằng con trai to lộc ngộc như Hải mà còn mê hoạt hình như trẻ con.
Ngày cô chạy trốn khỏi cái vùng quê biển nắng gió ấy, chạy trốn hỏi người chú nuôi đáng sợ ấy. Cô lả đi trước nhà Hải vào một buổi trưa nắng. Hải đi học về, há hốc mồm khi nhìn thấy cô. Hải vội vã mang cô vào nhà, vục hết chai nước cô mới tỉnh lại đôi chút. Sau đó Hải nấu mì cô ăn, ba ngày cô chưa ăn gì ngoài những ngụm nước lã, nên cô ngấu nghiến hết tô mì nửa sống nửa chín mà Hải chế cho cô bằng chút nước gần nguội pha từ bình thủy. Mỵ nghe Hải nói lại, lúc ấy nhìn Mỵ thấy sợ lắm, khuôn mặt xanh lướt với cổ tay ẻo lả của Mỵ làm Hải nhớ đến mẹ, người mẹ đã bỏ Hải đi từ lâu lắm. Sau này Hải cho Mỵ coi hình của mẹ, Mỵ mới giật mình, đúng là Mỵ giống mẹ Hải kỳ lạ, cũng nhan sắc ấy, cũng thần thái ấy. Nước da ngăm đen và đôi mắt u uẩn hớp hồn người.
Mỵ sốt, nằm lại nhà Hải ba ngày, ngày thứ tư Hải bảo: Mỵ đừng đi nữa, ở nhà canh nhà cho Hải đi học, chừng nào tìm được việc gì làm rồi hãy đi.

Hải ở một mình trong ngôi nhà cũ kỹ của ba để lại, ngôi nhà nằm sát đường lộ, trơ trọi chỉ có một tán bằng lăng mảnh khảnh trước nhà, tới mùa ra bông tím đến nhức nhối. Ngày ba ra đi, mẹ cũng không về. Hải chỉ biết chụp điện thoại gọi cho bà nội ở Mỹ. Hai ngày sau, anh hai mới từ chùa về cùng Hải ôm di ảnh ba, chống gậy đưa ba tới nơi an nghỉ. Ba Hải bị xơ gan, hậu quả của những bữa rượu triền miên từ ngày mẹ bỏ đi.
“ Mà thật ra – Hải kể – anh hai cũng không phải là con ba”. Ba biết điều đó nhưng vẫn thương và chăm chút anh hai từng xíu một. Ngày anh hai lên chùa, hành trang không mang theo gì, chỉ mang chiếc xe tăng bằng gỗ mà ba đã tỉ mẫn gọt cho anh lúc anh Hai mới hai tuổi. Có lẽ anh Hai chỉ muốn lưu lại trong ký ức khoảng thời gian tươi đẹp của tuổi thơ đã qua.

Hải cưu mang Mỵ, cùng Mỵ chia sẻ cuộc sống bằng khoản tiền chu cấp ít ỏi từ bà nội.Vì Hải đi học hai buổi, cả ngày Mỵ ở nhà một mình, tối Hải về, cả hai lại ngồi đong đưa trên cái xích đu dưới gốc bằng lăng dưới sân. Mỵ kể cho Hải nghe về tuổi thơ cơ cực của Mỵ, về lí do Mỵ trốn chạy.
Mỵ vốn mồ côi, bà lượm Mỵ ở chợ vào một buổi sáng sớm. Bà vẫn bảo Mỵ là món quà trời ban cho bà khi về nhà. Mỵ ríu rít bên bà như con sẻ nhỏ. Có những lúc trời mưa, bà nằm ôm Mỵ trên chõng trông mưa, Mỵ hỏi bà ba mẹ Mỵ ở đâu, sao đứa nào cũng có ba mẹ mà Mỵ không có. Bà bảo Mỵ là con của mẹ đất, của cha trời, đất trời sinh ra Mỵ, rồi tặng Mỵ cho bà.Mỵ vốn vẫn tin như vậy. Mỵ không hề biết được, ngày bà nhặt Mỵ nằm o e ở chợ thì ở bến sông Hạ người ta vớt được xác của một cô gái, vốn trước làm công nhân ở mỏ đá. Sau này, hình như bị người yêu phụ tình, bụng mang dạ chửa, không chịu nỗi điều tiếng dư luận, đã mang con để chợ, ra bến sông trẫm mình.
Hải vẫn thường phải ôm siết Mỵ vào lòng vỗ về mỗi khi cô rúm ró cả người lúc kể lại buổi tối hôm đó.
Bà mất, Mỵ về ở với chú thím nuôi. Đêm đó, Mỵ đang ngủ thì thấy đổ ập trên người mình một khối đen ngập ngụa mùi rượu, Mỵ vùng vẫy, la hét để kêu cứu. Nhưng tiếng la tắc nghẽn ngang cổ khi cái đau xé rách thịt da đâm xuyên qua người.Khi Mỵ lết ra đến cửa sau, thì thấy thím ngồi gục đầu khóc rấm rứt ở đấy, không để cho Mỵ kịp nói gì, thím lận túi vét chút tiền lẻ mà thím tích cóp được mỗi ngày đi chợ đưa cho Mỵ rồi đẩy Mỵ chạy đi.
Có khi, Hải không cho Mỵ kể chuyện nữa mà bảo Mỵ ngồi yên Hải hát cho nghe. Điệu hát buồn buồn của bài hát mà mẹ Hải hồi xưa hay hát “ Thôi về đi,đường trần đâu có gì…”
Nhưng bây giờ Mỵ biết đi về đâu? Còn mẹ Hải biết ở đâu mà gọi về?
Giọng Hải trầm, khàn khàn do vỡ tiếng. Mười sáu tuổi, Hải đã cao lớn như một thanh niên ,tóc loăn xoăn ,mắt sâu hút.
Mỵ mười bảy tuổi mảnh dẻ như bé gái chưa dậy thì.

Hải ít bạn bè nhưng có một đận, Hải mang một đám bạn về nhà liên hoan, hát karaoke. Trong đám con trai, có một đứa cao ráo trắng trẻo cứ đi theo khen Mỵ xinh.
– Em mày hả Hải?
– Không, chị tao đó – Hải nặng giọng, đôi mắt đã tối lại càng tối hơn.
Tối lại, khi chỉ còn hai đứa, ngồi dưới gốc bằng lăng. Hải bảo:
– Hải không thích ai khen Mỵ xinh. Ngày xưa, chú ấy cũng thường đến chơi khen mẹ xinh, đẹp. Sau đó, mẹ bỏ cha con Hải theo chú ấy.
Ngày mẹ đi, không một lời từ giã. Sáng Hải ngủ dậy, đã không thấy mẹ. Ba không đi tìm, mà chỉ thấy mỗi tối, ba ngồi bên chai rượu khuya hơn.
– Thế Hải có giận mẹ không?
– Không, Hải chỉ thấy nhớ mẹ. Tới tận bây giờ, mỗi đêm Hải đều mơ thấy mẹ.
Mỵ sực nhớ có đêm, Mỵ đau bụng, ra phòng khách, chỗ tấm đệm Hải ngủ tìm chai dầu, bật đèn lên thấy má Hải nhòe nhoẹt nước, không lẽ lúc ấy Hải khóc vì một hình bóng mẹ đã xa?
Nhiều lúc Mỵ hỏi Hải sao cả gan đem Mỵ về nuôi thế. Hải chỉ cười
– Nuôi Xiên Mỵ có tốn gì đâu, Mỵ ăn ít như mèo, ngủ thì khoanh một cục rúm ró trong phòng. Nhìn Mỵ tội nghiệp lắm, thả cho Mỵ đi lang thang bên ngoài, Hải không đành.
– Có một điều, Hải không kể cho Mỵ nghe trong những giấc mơ của Hải dạo gần đây. Mẹ càng lúc càng trẻ , trẻ giống như Mỵ.
***
Hải bỏ học, chỉ vì bị vướng vào một vụ đánh nhau có vũ khí trong trường học do một mối quan hệ lằng nhằng. Thư đẹp, và thú vị, đó là nhận xét của Hải về cô bạn lớp bên. Và cũng như những đứa con trai khác cùng tuổi, Hải say nắng Thư, cũng đưa đón, cũng hẹn hò…và điều đó làm một nhóm nam sinh lớp Thư khó chịu.
Sáng đó đến lớp, Hải đến lớp, đã thấy đám thằng Khánh chận trước cửa, không cho Hải vào lớp, và cú đánh bằng sợi xích sắt vào lưng đã khiến Hải nổi điên. Sẳn con dao vẫn dùng để rọc giấy Hải cất trong balô, Hải lận túi lấy con dao và cuộc chiến nổ ra. Hải và cả nhóm kia bị đình chỉ.
Hải bảo với Mỵ:
– Thôi, Hải nghỉ một năm chờ Mỵ, sang năm, Hải đi học với Mỵ luôn.
Mỵ hỏi tiền đâu mà đi học thì Hải cười:
– Để Hải đi làm, lấy tiền nuôi Mỵ đi học
Nói rồi Hải đi làm thật, Hải xin phụ việc cho tiệm nhôm kiếng trước nhà. Có khi về nhà, tay Hải bị nhôm và kiếng cứa chảy máu tùm lum. Mỵ vừa bôi thuốc vừa xa xót. Hải chỉ cười “ Ráng chút là đủ tiền cho Mỵ sang năm đi học chung với Hải”

***
Tháng Tám , Mỵ với Hải đến trường nộp đơn xin học. Trong lúc chờ nhận giấy vào lớp. Hải với Mỵ đi loanh quanh trong sân trường, vô tình lại đứng sau cửa sổ phòng giáo viên. Từ trong đó vọng ra tiếng các thầy cô nói chuyện với nhau.
Hải đứng gần hơn nên nghe rõ, còn Mỵ đứng xa, nên không biết các thầy cô nói gì. Chỉ thấy mặt Hải tối đen, càng lúc càng u ám. Rồi Hải quay lưng bỏ đi một mạch, không gọi Mỵ theo cùng. Mỵ chạy theo, hỏi Hải cái gì Hải cũng không nói. Mãi đến tối, Hải mới kể Mỵ nghe. Hải bảo Hải không học nữa.Mỵ gặng một hồi, Hải mới kể. Câu chuyện trong phòng giáo viên, mà Hải nghe được, nhân vật chính là Hải.
– Rồi sao?
– Thì người này đá qua người kia, nguyên dàn giáo viên khối 11, không ai chịu nhận Hải vào lớp.
– Nhưng vì sao?
– Thầy Vinh bảo là Hải đánh lộn, khó dạy, thầy không nhận, lớp thầy yếu, sợ Hải vào ảnh hưởng thi đua. Thầy Hương thì bảo Hải là dạng lưu ban, học yếu, không theo kịp trình độ lớp chọn của thầy. Còn cô Loan thì bảo Hải…

Nói tới đây, Hải nghẹn lại, Mỵ chờ, đỗi lâu mới nghe Hải nói tiếp.
– … Hải là con không cha không mẹ, lại là thành phần quậy phá trong trường, xảy ra chuyện gì thì cô biết nói với ai? Chưa kể nhà Hải lại gần nhà cô, nhỡ Hải có vi phạm gì, nói Hải mất công Hải lại vác đá chọi vào nhà cô như mấy học sinh năm trước thì sao?
Hải bảo, lúc nghe xong câu ấy, Hải bỏ đi thẳng về nhà, và quyết định hình thành trong đầu Hải lúc ấy, là phải đi tìm mẹ. Nếu không tìm được mẹ về, Hải không bước chân vào ngôi trường ấy nữa.
Mỵ chưa kịp kể lại với Hải câu nói của một thầy giáo, già và hơi gầy mà Mỵ nghe được lúc Hải bỏ đi : “ Các thầy các cô cứ chọn cho được học sinh ngoan, chê học sinh hư. Nó không ai dạy thì mình càng phải dạy dỗ cho nó, chứ nó ngoan ngoãn thông minh rồi thì đâu cần mình nhiều như những đứa kia. Em này, nhà trường mình đẩy ra khỏi trường, thì không khéo lại thành du đãng” thì Hải đã xốc áo đứng dậy bỏ sang bên kia đường, không quên ngoái lại bảo Mỵ lát để cửa chờ Hải về , Hải đóng cho.
Mỵ không biết là trong giấc mơ Hải hằng đêm, hình ảnh hai đứa nhỏ đứa bảy tuổi cõng đứa hai tuổi leo lên con dốc đầu đường chờ mẹ về mỗi chiều đến khi nắng chiều chênh vênh qua núi rồi lại lủi thủi cõng nhau về ám ảnh Hải hằng đêm.
– Hải phải đi tìm mẹ, Mỵ ở nhà một mình, chờ Hải, được không?
Mỵ không biết nói gì, bởi Mỵ đã thấy những giọt nước mắt của Hải, trong giấc ngủ, nhiều đêm.

Ngày Hải đi, Hải vét túi đưa hết tiền cho Mỵ. Chỉ giữ lại đúng một trăm hai chục ngàn tiền xe vào thành phố, nơi Hải nghe nói là chỗ mẹ ở. Mỵ hỏi vào đấy, nếu không tìm được mẹ ngay thì Hải đói lấy gì ăn? Hải bảo Mỵ không phải lo, Hải tự kiếm được việc làm để khỏi đói. Hải sợ là sợ cho Mỵ. Số tiền nội gửi về hàng tháng đủ cho Mỵ sống, nhưng một thân một mình, Mỵ lại hay đau yếu, thì không biết làm sao.
Hải gọi xe khuya, mở cửa cho Hải đi rồi, Mỵ vào vùi mình trong tấm nệm còn ấm hơi Hải, tự dưng thấy má ướt đầm. Trong đầu Mỵ lại hiện lên con dốc mà anh em Hải thuở bé vẫn thường chờ mẹ về. Mai mốt, trên con dốc ấy lại sẽ là Mỵ?
***
Chiều và mưa – Hơi lạnh đan xen vào máu, vào não.
Nhiều đêm, đã nhiều đêm không ngủ yên.Nhiều đêm, mộng mị ngập đầy chăn gối.
Có những ngày mưa ngồi một mình trong nhà, ý nghĩ về Hải làm Mỵ sững người.Mỵ cứ mê mãi chờ đợi như thế này , không biết đến lúc nào dừng lại.Đến chừng nhận ra thì đã không còn dừng lại được nữa.
Mà Hải , đã lâu cũng đã không còn đi trên con đường đó nữa!
Hải đi mấy tháng, mấy ngày, Mỵ không còn nhớ .Cỏ dại mọc lấn vào cả hiên nhà, bám lên vách. Không có Hải, một mình Mỵ cũng không đủ sức để làm cỏ, cái bình nấu nước bằng điện bị hỏng, không có Hải, Mỵ cũng không sửa được. cả cái mô tơ bơm nước từ giếng bị hư, Mỵ phải kéo nước bằng gàu từ giếng lên.
Mỵ muốn gặp Hải lắm rồi. Hải hứa tìm được mẹ, Hải sẽ về với Mỵ. Nhưng tới giờ, vẫn chưa thấy Hải về. Hải chưa tìm được mẹ? hay Hải quên Mỵ rồi? Giả mà Hải không tìm đươc mẹ, thì Hải sống như thế nào? Nhiều lúc, Mỵ cũng muốn lên thành phố tìm Hải, nhưng Mỵ không biết phải đi bằng cách nào. Rồi làm sao mà tìm được Hải.
Mà Mỵ lo, nếu Mỵ đi, mà Hải về, không thấy Mỵ thì sao? Lúc ấy, không biết Hải có đi tìm Mỵ không?
Mỵ quyết định ở lại chờ Hải. Mà thật ra mà nói, Mỵ không muốn đi đâu cả. Ngôi nhà của bà, chú đã bán cho người khác. Tuổi thơ của Mỵ, quá khứ đầy yêu thương của bà với Mỵ, đã bị thay đổi. Khi Mỵ đến đây, Hải đã mở lòng với Mỵ. Mỵ từ lâu đã yêu quý nơi này. Bây giờ, dù vắng Hải, nhưng mọi thứ vẫn còn đậm hơi Hải. Vì vậy, Mỵ không muốn rời đi. Ngoài bà, thì Hải là người duy nhất còn thương Mỵ.
Ba hôm nay Mỵ lại sốt, nằm vùi trong nhà, trên tấm nệm Hải thường ngủ lúc còn ở nhà. Mỵ tưởng tượng ra cảnh Mỵ chết một mình mà Hải thì chưa về. Mối sẽ đùn lên phủ lấy Mỵ và tấm nệm của Hải, nghĩ tới đấy, Mỵ lại khóc. Sao Hải lâu về quá…

Chiều, Mỵ lần mò ra sân, ngồi ở cái xích đu dưới gốc bằng lăng, chỗ Hải hay ngồi hát cho Mỵ nghe mỗi tối. “ Thôi về đi, đường trần đâu có gì, tóc xanh mấy mùa…”
Ừ, Mỵ không biết khi nào Hải về, nhưng Mỵ tin Hải sẽ về.
Cho dù tóc có không còn xanh.
Mỵ ngửa mặt hít một hơi dài, rồi lau nước mắt. Mỵ còn trẻ mà, Mỵ mới mười tám tuổi. Mỵ sẽ cố gắng khỏe mạnh lại, rồi Mỵ sẽ xin việc ở chỗ bà Vân bán cơm đầu chợ. Làm một buổi, một buổi Mỵ đi học. Khi Hải về, Hải sẽ thấy được Mỵ sống vui vẻ như thế nào.
Dù sao thì Mỵ cũng mới mười tám tuổi. Và Mỵ còn rất nhiều thời gian để chờ Hải về. Và Hải sẽ về, Mỵ tin như vậy.

PHƯƠNG UY

THƯ HOÀNG HÔN

Thoáng một sợi mùa vương mắt lá
Lóe trong hồn đằm thắm nụ yêu xưa
Em vời vợi phía chân mây nghiêng ngửa
Có về xem thương nhớ nhuộm xanh lòng

Ta chạy trốn ta lúc bình minh nhóm lửa
Hoàng hôn về lại thắp lửa trong tim
Đâu đã tan trận bão cuồng nghiệt ngã
Sao chợt thèm hôn khe khẽ nét phai tàn

Sẽ lấp kín lối hẹn hò dưới cỏ
Đợi một người khai quật ánh trăng non
Và quét dọn màn sương mờ hư ảo
Dắt con đường đi đến tận hồn nhau

Ta bỏ ta cho thời gian gặm nhấm
Em bỏ lại em chiếc bóng trắng hiên nhà
Bên cánh cửa vô tình không ngừng chuyển động
Gió đưa tình ngơ ngẩn vào ra

Ta chạy trốn ta tìm người biệt xứ
Thất thểu về buồn phơ phất râu xanh
Ôm khuôn mặt lấm lem mùa thương cũ
Lời yêu xưa cất cánh giữa tro tàn!

Lưu Xông Pha

 

Dương Như Nguyện

Tên thật Dương Như Nguyện, bút hiệu Uyên Nicole Dương, Nhung-Uyen, sinh tại Hội An Quảng Nam. Lớn lên ở Huế và Saigon.
Tháng ba năm 1975 được giải danh dự Văn chương Phụ Nữ Hai Bà Trưng của Việt Nam Cộng Hòa.
Hiện định cư tại Hoa Kỳ. tốt nghiệp cử nhân báo chí tại đại học Southern Illinois, tiến sĩ Luật tại đại học Houston, và thạc sĩ Luật tại đại học Harvard ( Harvard Law Shool, Cambridge, MA). Năm 1992, được Luật Sư Ðoàn Nước Mỹ (ABA) tuyên dương như Là nữ thẩm phán đầu tiên thuộc người thiểu số tại Hoa Kỳ, cùng với những người nữ thiểu số tiên phong khác trong ngành Luật (Từng làm việc tai Houston, Texas). Ðọc, nói và viết hai ngoại ngữ: Anh và Pháp. Viết văn và làm thơ sử dụng hai ngôn ngữ: Việt và Anh , bài đăng trên các báo Sóng Văn, Văn, Văn Học,Wordbridge, điện báo The Writers Post, Pacific Rim Law & Policy Journal, University of Pennsylvania Journal of International Economic Law, Currents, Texas Transnational Quarterly. Truyện ngắn Anh ngữ “The young woman who praticed singing” đăng trên Sóng Văn (1988, bút hiệu Nhu Nguyen Nicole) được 2 giải thưởng, một trong hai giải này là giải Stuart Miller Writing của Luật sư đoàn Hoa Thịnh Ðốn (District of Columbia Bar Association) (1988). Truyện ngắn Anh ngữ “The Ghost of HaTay,” được đề cử cho Giải Columbine, tại Moondance Fim Festival 2001.

 

Tác phẩm đã xuất bản:

Mùi Hương Quế (truyện ngắn, Văn Nghệ, 1999)
Chín Chữ Của Nàng (Văn Mới, 2005)
Daughters of the River Huong, (tieu thuyet, viết bằng Anh ngữ, RavensYard Publishing, Ltd., 2005).
Con Gái Sông Hương (2005)

Các bạn có thể mua tại amazon.com và bản Tiếng Việt ở nhà hàng Nam Giao Houston hay liên lac  với tác giả

Màn Đêm Của Mẹ Tôi… Và Cánh Hoa Hướng Dương

 

 

Thành phố này đông người Việt cư ngụ, vì thế có đền Thánh Mẫu thờ Bà Chúa Liễu Hạnh làm tại tư gia của người “giữ đền,” để phục vụ nhu cầu tâm linh của người Việt thế hệ thứ nhất. 

Thời điểm này, khỏang Tết Ta, là lúc mẹ tôi hay bảo tôi đưa bà đi đền Thánh Mẫu, để bà “cắt sao” cho gia đình. Thời điểm tháng 3, đầu mùa xuân, là lúc đại học có “Spring Break,” và tôi được nghỉ dạy, vì thế tôi nghiễm nhiên trở thành người con đưa mẹ đi “cắt sao.”  (Từ nhỏ đến lớn tôi vẫn giữ nhiệm vụ ch mẹ đi công việc hay thăm viếng. Ở Saigon trước 75 tôi chở mẹ bằng xe Honda PC, qua Mỹ thay thế bằng xe hơi.)
Mẹ tôi là phụ nữ có học, đã từng làm cô giáo. Nhưng trải qua bao thảm cảnh ở đời, bà đâm ra mê tín như bao mẹ già Việt Nam khác. Nếu “tuổi” các con bà có hạn sao xấu, thì bà thành khẩn vào đền cầu an và gieo quẻ, nhằm cắt bỏ ảnh hưởng những ngôi sao xấu để bảo vệ người thân.  Niềm tin ấy dựa trên một vũ trụ thiêng liêng, có sự liên đới giữa các ngôi sao với tính mạng và số kiếp con người, chỉ giải thoát được bằng sự cầu khẩn với tất cả lòng thành và tình thương bao la, nhằm thay đổi được tiền định huyền bí ấy.
Tin hay không tin, khoa học vẫn chưa cắt nghĩa được thế giới huyền bí, vì thế tôi kiên nhẫn ngồi trước bàn thờ bà chúa lên đồng để cắt sao cho gia đình như mẹ muốn.  Có lúc ngồi cả buổi tối gieo quẻ vẫn chưa cắt được hết các sao xấu. Mẹ tôi buồn rầu, thở vắn than dài. Nhưng nếu tiếp tục gieo quẻ và cầu xin thì trước sau gì quẻ cũng hiện ra (theo xác suất) để trừ khử đi những ngôi sao xấu.
Mẹ tôi không những cắt sao cho gia đình, mà bà còn nhận lời gửi gắm cắt sao luôn cho bạn bè và người quen. Bà cắt luôn cho người dưng nước lả. Đã có lần tôi phải gắt lên, vì làm sao tôi có đủ thời giờ ngồi lây lất ở đền cho bà cắt sao, hay tự tôi phải ngồi cắt sao để phụ giúp bà.
Khi tất cả các sao xấu đã bị trục xuất, mẹ tôi hỷ hả ra về thì trời đã tối đen.
Chưa hết, tôi còn phải nhận “lộc” ở đền Thánh, thường thường là xôi, chuối và các thứ hoa quả khác. Tôi lãnh nhiệm vụ đậu xe, rồi dắt mẹ đi bộ trong đêm (không khôn ngoan chút nào về an ninh ở Mỹ, nhưng mẹ tôi muốn như thế). Hai mẹ con đem thả trôi sông các “lộc Thánh” cho các cô hồn khắp thập phương ăn nhờ chút “lộc”.
Ở trung tâm thị tứ nước Mỹ làm gì có sông, cho nên mẹ tôi hướng dẫn tôi lái xe đến con rạch hệ thống thải nước của thành phố. Tôi nghe lời mẹ len lén trốn cảnh sát, đậu xe ở đầu đường, rồi trong bóng đêm, hai mẹ con tôi đứng trên cầu con rạch, thảy “lộc” xuống nước để chia xẻ cho các cô hồn không nhà không cửa, không người thờ cúng.
Đó là thủ tục cắt sao đầu năm. Sao La Hầu, Sao Kế Đô, vân vân và vân vân, những sao xấu sẽ bị cắt, cho con cháu và người quen của bà được an tòan hạnh phúc.
Quá nửa đêm trời tối mịt hai mẹ con mới về đến nhà. Sau đó tôi lại phải về nhà riêng. Công cuộc cắt sao là cả một vấn đề tốn thì giờ và lao lực.
Việc cắt sao đem đến cho mẹ tôi sự an tòan về tâm lý trước những nghịch cảnh trớ trêu.  Cho nên tôi lấy sức khỏe tinh thần của mẹ làm điều an ủi khi phải ngồi trong hương khói lên đồng, mà gieo quẻ cắt sao phụ mẹ. Rồi lại phải cúng tiền cho đền Thánh nữa chứ.
Để khỏi tức bực phải trốn cảnh sát đi đổ “lộc” xuống rạch nước cho mẹ tôi vui lòng, tôi ngước mắt nhìn bầu trời tối đen để ví von độc thoại với những vì sao lấp lánh.  Tâm hồn nghệ sĩ giàu tưởng tượng của tôi cho tôi mường tượng thấy hình ảnh mẹ tôi – một bà già yếu đuối nhỏ bé nhiều bệnh tật, xanh xao, với đôi mắt hiền từ và nụ cười thân thiện, mò mẫm trong bóng đêm giữa một vũ trụ hằng hà sa số, rón rén đến gõ cửa những ngôi sao xấu, đem lòng thương yêu mà cầu xin cho các ngôi sao đó bỏ đi không còn chiếu mạng con cháu hay người quen cmình.  Mẹ tôi là người đi tìm, đi đuổi, đi tr sao xấu trong vũ trụ của màn đêm, cùng với Bà Chúa Liễu Hạnh đã  “vượt biên” qua Mỹ trụ trì ở đền Thánh “dã chiến,” và người lên đồng là tác nhân – cái gạch nối —  giữa vụ trụ siêu hình đó với trái tim người mẹ nhân ái của tôi.  Bà Chúa Liễu Hạnh sẽ là Thánh mang những lời cầu khẩn của mẹ tôi chỉ đường chỉ lối cho mẹ tôi đến tìm sao trong cái vũ trụ huyền bí kia …
May mắn hay kém may mắn, tôi là đứa con gái đầu lòng, được đi cắt sao với mẹ lần cuối cùng. Đó là năm ngóai, khi mẹ tôi chưa gặp nạn, vẫn còn khỏe đủ để đi đứng bình thường.  Không có năm nào mẹ tôi quên đi cắt sao cho con cháu và người quen…
 Khoảng bốn tháng sau lần cắt sao cuối cùng thì mẹ tôi bị xuất huyết trong não…
 Bây gi, tôi e rằng mẹ tôi sẽ chẳng bao giờ khỏe đủ để đi cắt sao ở đền Thánh với tôi nữa.
Nước mắt tôi lưng tròng mà nghĩ về những kỷ niệm với mẹ của quá khứ. Cách đây trên 40 năm, cũng vào dịp lễ Tết,  Sài Gòn, tôi chở mẹ tôi đi xem ciné “The Sound of Music” ở rạp Rex
và sau đó là “Toute La Vie Danse” … Tiếng hát của Julie Andrew và đại sảnh của giới quý tộc thành phố Vienna nhảy luân vũ (điệu valse) lúc ấy trở thành thần tượng và mơ ướcủa tôi.  (Mãi đến năm 28 tuổi, tôi mới có đủ cơ hội học hỏi để biết rằng nếu theo nghề ca hát, thì tôi cũng leo lên được nấc thang cao nhất cuả âm thanh, độ cao âm nhạc cuối cùng cho giọng nnhư Andrew; và năm 40 tuổi, thì tôi mới có dịp đi dự cuộc nhảy valse của giới quý tộc thành phố Vienna, nhưng lại từ chối không đi.)
Tôi chưa được nói với mẹ tôi điều này: Thật ra, Andrew hát nhạc thời trang bằng giọng n trung (mezzo-soprano), thành ra nốt cao nhất cuả bà mà quần chúng biết đến thường thường là note DO, C-6 (high C), trong khi các sopranos cuả sân khấu opera có người đạt đến mc tuyệt đỉnh cuả giọng n note Fa bên phải cuả phím trắng dương cầm, mà các nhà kỹ thuật gọi là F6).  Không phải là ca sĩ chuyên nghiệp, tôi cũng đã đẩy mình đi lên đến độ cao cuả C6, nhưng ngay cả giấc mộng Hoa Kỳ (The American Dream) cũng không cho tôi cơ hội mơ tưởng đến F6.  Riêng về khung cảnh sàn nhảy luân vũ của Vienna (chỉ tổ chức một năm một lần), thì tôi cũng chẳng còn hứng thú, vì trong tầm tay hạn hẹp, tôi không tìm đâu ra đối tác.
Bốn mươi năm trôi qua ở Mỹ, tôi đã quên không nói chuyện với mẹ tôi về nhng gì đã xy ra cho mơ mộng đầu đời – điệu luân vũ của Vienna va giọng hát của Julie Andrew, mà chính mẹ tôi là người đã vun xới trong đầu óc của tôi những ngày tấm bé… Bà đã trồng cho tôi cái mầm để tôi leo dốc thang âm, đến một nơi chốn không còn thực thể — ở đó, tôi hiu ra rng giá trị tuyệt đối của cái đẹp và sự trường tồn của âm nhạc không nằm trong khung cảnh thời thượng của một buổi khiêu vũ, cho dù đó là buổi khiêu vũ bên bờ sông Danube của thành phố Vienna, trong thế giới sáng tạo của Johann Strauss…
Tôi mất đi dịp nói chuyện với bà về khám phá này.  Tôi không còn được nghe câu trả lời qua giọng nói trong trẻo của mẹ…
Và bây gi, thì hình như tt c đđã mun.
Ở thời điểm này, tôi đã bỏ nghề nghiệp, bỏ những ước mộng cao vời, để trở về với mẹ.  Chưa kịp cười nói, san xẻ với mẹ niềm vui, từ mua sắm thường tình cho đến bài hát, câu văn, thì định mệnh oái ăm và các ngôi sao xấu nào đó trong vũ trụ đã quyết định không dung tha tấm thân nhỏ bé và tâm hồn nhạy cảm của mẹ tôi.
Than ôi, số phận …
Hồi tưởng lại năm ngóai khi mẹ tôi còn khỏe, tôi giật mình nhận ra: Hình như trong những buổi cắt sao, mẹ tôi quá bận rộn nghĩ đến người mà không cắt sao cho chính mình thì phải???  Hình ảnh của mẹ tôi làm kẻ độc hành đi mò mẫm giữa màn đêm huyễn hoặc của vũ trụ bao la đầy rẫy những vì sao kia — người phụ nữ đi tìm sao để ngăn chận ảnh huởng các ngôi sao xấu chiếu mạng con cháu mình, mà chẳng thiết gì đến ngôi sao chiếu mạng chính mình, là hình ảnh tuyệt vời của kẻ cho đi mà không nhận lại, với trái tim hy sinh tuyệt đối.
Chao ơi, công việc “cắt sao”!  đêm và vũ trụ các vì sao, của mẹ tôi!
Những ngày tháng này mẹ tôi là người liệt giường liệt chiếu.  Bà không ăn được bình thường, và không đi đứng được. Tôi trở thành kẻ hầu hạ mẹ giỏi hơn người trợ tá được cấp bằng ở các viện dưỡng lão. Những giấc mộng cao vời và cuộc đời bay nhảy ngày xưa, bây giờ tôi thu hẹp lại vào đôi mắt xót xa nhìn bờ môi run run của mẹ khi bà gắng nuốt, và nỗi mừng rỡ khi bà thải được chất cặn bã ra ngòai với hệ thống tiêu hóa đã gần như kiệt quệ …
Tôi bắt đầu nằm mơ thấy bà ngọai, quay trở về đứng bên cạnh cửa để giúp đỡ tôi, cho mẹ tôi chóng lành. Bà ngọai sẽ đem đến sự nhiệm mầu của các vì sao tốt và mẹ tôi sẽ bình phục đi đứng trở lại như xưa.  (Bà ngọai tôi qua đời ở Việt Nam, trong cảnh nghèo đói thiếu ăn, trước khi Việt Nam mở cửa “đổi mới”, 37 năm trước đây.)
Khi tôi tỉnh dậy thì hình ảnh bà ngọai biến mất đi, chỉ còn mẹ tôi nằm cô độc thiêm thiếp trên chiếc giường nhỏ bé.
 Mẹ tôi vẫn hiểu, vẫn cố gắng nói, vẫn cố gắng ăn, thỉnh thỏang bà vẫn cười.  Có lần tôi viết xuống trên trang giấy: Me ráng ăn đi đ sng vi con.  (Theo phong cách của người Huế ở tỉnh thành, tôi gọi mẹ bằng “Me,” như chữ “mère”.)
 Bà viết xuống câu trả lời:!
Tóc bà bạc trắng (tôi đem cắt ngắn), nét mặt đã đổi vì sự thụt lùi của sức khỏe, nhưng nước da mịn màng và đôi mắt vẫn long lanh buổi sáng.  Bà đẹp như chưa bao giờ đẹp như thế.  Và tôi bám víu hy vọng vào các  nhân viên vật lý trị liệu cho bà cử động thân thể, dần dần biết đâu y khoa sẽ cho mẹ tôi hồi lại sức sống bình thường … Nếu không được 10 phần thì tôi xin Trời Phật cho 4, 5…
Mẹ tôi hay tát vào mặt tôi khi tôi phải bồng bế bà. Vì bà quá yếu, cái tát của bà chẳng khác chi lời mắng yêu. Tôi không đủ sức lực hay tầm vóc để bồng bế mẹ tôi lên như bế em bé cho bà khỏi phải đau đớn. Tôi chỉ có thể vòng tay kéo lê hay nhắc bà lên, theo lời y tá chỉ dẫn, cách ấy làm cho bà ê ẩm bắp thịt và xương cốt. Nhưng đành chịu vậy.
Ngôi sao xấu nào đó đã chiếu xuống bà? Tôi tự hỏi.
Bà cau mặt lại, không bằng lòng khi thấy tôi nhỏ nước mắt … Để khỏi buồn thảm, tôi giả vờ đóng vai Marilyn Monroe cho bà xem, bà lắc đầu tỏ ý không bằng lòng.
A kiss on the hand is far too sentimental
But diamonds are a girl’s best friend…
Bỏ tất cả, trở về thành phố để được gần mẹ, tôi cứ tưởng mình sẽ được đem mẹ đi mua kim cương, cho mẹ chút niềm vui vật chất ở tuổi 80, sau một đời khổ cực, làm vợ một giáo sư thanh bạch, và làm mẹ một người con gái mang hòai bão ngoài đời sống bình thường như tôi…
Diamonds are a girl’s best friend…
Các vì sao trong màn đêm huyễn hoặc, không phải cái nào cũng là viên kim cương hiền lành sáng long lanh trên bàn tay những phụ nữ nhiều may mắn hơn mẹ tôi … Có những vì sao trông thì đẹp nhưng đy  ác tính, như mảnh lụa bị đốt cháy tr thành ngn l cuồng nộ của một vũ trụ không công bằng…
Tôi lại miên man tự hỏi: Tại sao vũ trụ đã thiếu công bằng với người mẹ mang hết lòng thành đi cắt sao cho các con cháu, và cắt luôn cho tha nhân đã nhờ vả bà – Vâng, rất nhiều ngườkhông có thì gi hay…làm biếng nên đã đến nhờ vả lòng thành của bà – bà sẵn sàng cầu nguyện và cắt sao cho bất cứ ai cần tấm lòng thành của bà để họa may hóan chuyển định mệnh của tạo hóa.
Ban ngày mẹ tôi hay thiếp đi. Tôi phải cố lay bà dậy để nhân viên vật lý trị liệu tập thể dục, làm bà đau đớn. Bà lại tát vào má tôi bằng những ngón tay gầy yếu.
Tối đến, sau khi làm vệ sinh, đo áp huyết, tôi hay nằm bên cạnh bà để cho mẹ tôi khép mắt ngủ yên. Đây là những dịp hiếm hoi tôi được ôm thân thể gầy ốm của mẹ.  Tôi hay hỏi bà:
 — Me ơi, hai tay của me đâu???
 Mẹ tôi trả lời bằng sự giao động của những ngón tay …
 Mẹ tôi nhắm mắt, nhưng hai bàn tay gầy yếu của bà mò mẫm nắm giữ lấy tấm chăn.  Bà nắm giữ lấy sự yên bình êm ấm của đời sống, do tấm chăn mang đến. Thỉnh thỏang bà nắm lấy những ngón tay của tôi. Tôi tìm tay mẹ dưới tấm chăn.
 Khỏang 3 giờ sáng, mỗi đêm, tôi đều thức dậy để chăm sóc vệ sinh cho bà. (Đây là tiêu chuẩn của các viện dưỡng lão.)
 Đi về phía giường của bà, có một hôm, đột nhiên tôi rùng mình lạnh buốt …
 Tôi thảng thốt nhận ra, trong ánh đèn lờ mờ, tôi đã bắt gặp ánh mắt nhìn chăm chú của mẹ tôi.  Ánh mắt buồn rầu như muốn nói lên trăm nghìn chữ mà không nói được. Ánh mắt sâu như màđêm bên ngòai.
 Tôi run lên, đau đn suthân mình. Me tôi không ngủ được suốt đêm?  Hay bà chỉ mới vừa thức giấc?  Bà nghĩ gì?  Muốn gì?  Trong màn đêm, tâm hồn và trí nhớ của bà đã du hành những đâu?
 Đây không phải là màn đêm của những buổi tối đầu năm trong thủ tục cắt sao khi mẹ con tôi lái xe đi tìm rạch để đổ lộc Thánh cho cô hồn.
 Đây là một màđêm khác.
Tôi muốn mắt tôi xuyên thủng màn đêm ấy. Tôi muốn đi vào bóng đêm ấy để đuổi cho hết những ngôi sao xấu đã tạo nên nỗi đau thuơng của mẹ. Trời hỡi, làm sao tôi lay chuyển được, quay ngược được bánh xe của số phận? Chữ hiếu của Mục Kiền Liên ư? Nhưng mẹ tôi nào phải là người mẹ hung ác của Mục Kiền Liên?
 Ở đây, khép đời sống còn lại vào chiếc giường sắt chung quanh có “hàng rào” giống như giường bệnh viện, mẹ tôi có còn đi tìm những vì sao xấu, để tấm lòng thành đẫy rẫy thương yêu của bà tìm cách ngăn chận ảnh hưởng của những vì sao ấy, cho người chung quanh?
 Nhìn vào mắt bà, tôi thấy hết màđêm của bà, trong những ngày tháng này.
 Tôi có thấy màn đêm, mà không hiểu được màn đêm ấy chứa đựng những gì.
 Trong màn đêm của những ngày tháng này, tôi cố gắng mà không thể nào biết thật rõ, hay hiểu hết được tất cả những ước nguyện, những kỷ niệm hồi tưởng ngày xưa, hay những ý niệm của tương lai trước mắt, của mẹ tôi…
Màn đêm ấy là một vũ trụ bí mật, ngòai tầm tay vi hay tri thức của tôi.
 Mẹ tôi ở trong thế giới của riêng mình?
 Ôi, màn đêm của mẹ tôi …
 Tôi không có câu trả lời tại sao — ngôi sao nào đã quá độc ác với người mẹ hiền lành của tôi, nhưng sáu tháng vừa qua, tôi ở bên mẹ và nhìn thấy một hình ảnh màđêm khác, trong thế giới của riêng mẹ tôi, vsự thóai hóa sức khỏe và tuổi già của bà.
 Thế giới mới của mẹ tôi, thế giới chật hẹp quay chung quanh giường bệnh.
 Mới hay cũ, tôi cố nhìn màn đêm ấy trong tuyệt vọng. Tôi không còn muốn tưởng tượng, như đã tưởng tượng ra vũ trụ bao la trong đó mẹ tôi bước những bước nhẹ nhàng rón rén đi tìm sao, những lúc tôi đi đổ lộc Thánh xuống con rạch thành phố để làm vui lòng người mẹ hiền lành, học thức, sâu sắc nhưng mê tín vì bà đã chịu khổ quá nhiều trong đời, cho nên cảm thấy bất lực trước số mệnh và phải đi tìm một thế giới tâm linh ngoài phạm vi minh chứng của khoa học.
Nhưng rút cục thì tôi vẫn phải đối diện với màn đêm ấy, như chuyến tàu chuyên chở những hồi tưởng của mẹ tôi.
Bà là giáo sư Việt Văn và là người rất yêu thơ, mớm cho tôi không biết bao kiến thức văn hóa và văn học nguồn cội. Bà yêu thuơng cái đẹp của “li xưa xe nga hn thu tho” của “c cây xanh ngt mt màu xinh sao“.  Trong thế giới văn chương của bà, có hình ảnh của màn đêm. Của ánh trăng. Của thơ văn Hàn Mặc Tử một ngày “v thăm thôn V“.
 Bà xa xót cái không may của Thúy Kiều và bà chỉ nổi giận khi có ai khen tặng tôi “tài sắc.”
 Bà thích tôi ca hát như Jennette McDonald, như Thanh Nga, hơn là cãi vã lý luận trước tòa án, trong chính trường, chắc nịch, đanh đá như bà Ngô Đình Nhu.
 Mẹ tôi là người con gái mảnh mai của xứ Thần Kinh, mang theo tâm hồn giàu cảm lụy của xứ Huế và nỗi buồn ảo não của bà ngọai tôi.
 Mẹ tôi tốt với bạn hơn chính bản thân mình, cho nên ai bà cũng quen biết như “bà chủ nhật trình” hay “bà chủ nhà giây thép” (ngôn t mô tả nhng phụ n  giao tế rộng cuả x Huế, khác hẳn với tôi, rất hài lòng với bản mệnh là sao Vũ Khúc (ngôi sao chiếu  mệnh mang tính cách độc lập của những kẻ thích sống một mình).
Me tôi lấy chồng người Bắc di cư, cho nên bà đã mang luôn nỗi buồn xa xứ của bà nội tôi, khi người phụ nữ gánh gạo trên bờ đê phải rời bỏ ruộng lúa của đồng bằng sông Hồng vì bản án oan ức của thảm kịch “đấu tố” năm 1954.
Năm 1975, mẹ tôi đã phải bỏ cha mẹ ở bên kia bờ đại dương để theo chồng và các con vượt đường trường khi chiến tranh chấm dứt. Những ngày giờ của cuộc sống sau đó là những ngày giờ của nước mắt … Vậy mà mẹ tôi vẫn cố cười vui với bạn bè bà con. Trong những ngày tha huơng, bà lấy lòng thuơng yêu người mẹ chồng đức độ để tự an ủi cho sự trơ trọi của bản thân bà. Và lấy cái học của các con làm sự thôi thúc của con đường đi tới trước mặt trong xã hội Mỹ.
Khi mẹ chồng nằm xuống, mẹ tôi khóc mẹ chồng bằng bài điếu văn của đứa con dâu có nghĩa và có tài văn học.  Ai có lòng và biết gia đình tôi đều phải sa nước mắt khi đọc bài điếu văn này.  Nhng ngày m tôi lit giường lit chiếu, tôi thu dn phòng bà, và góp nht nhng t giy ri, trong đó có bài điếu văn này: mẹ tôi viết cho bà nội của tôi.  Mẹ tôi, người con dâu làm nghề dạy học, đã ghi lại thành văn nhng li bà ni tôi hay nói khi bà còn sống.  Tôi giật mình tìm thấy căn bản đạo đức cho cả một văn hóa tha hương, nằm ngay trong lời nói giản dị của người mẹ già đã từng gánh gạo trên bờ đê Việt Bắc ngày xưa, rồi mất tất cả và bà gánh nướtrên hè phố Sài Gòn để nuôi đàn con đi học, nhng ngàđu mi di cư vào Nam:
 “M ơi, lưu lc x người có bát cơđy nuôi thân là nh đc m.
Đàn cháu thành người hu dng nơi x người, là nh lc bà
 Li m dy:  “Giúp người ta, cho người ta, ko phi ti!” Vâng, nếu không giúp người,, tc là có ti vi tri.
 Li m nói v vic trông nom đàn cháu:  Có hoa mng hoa, có n mng n.”  Vâng, nuôi dy và lo cho con cháu bt k thân mình, đó là nhim v ca m già như k làm vườn: mng hoa, mng n ca trđt ban cho…”
 Khi mường tượng rng tôi gặp việc bất như ý trên đường công danh, không vui hay nản chí, mẹ tôi luôn nói:
 –Con ơi, “my k biết anh hùng khi v ng?
 Câu thơ Nguyễn Công Trứ mà bà đã giảng trong lớp học ở Việt Nam trở thành phương châm cho con gái bà. Tôi mang câu thơ ấy và lời nói dịu dàng của mẹ để tiếp tục bắt đầu trở lại sau những lần bỏ dở con đường công danh. Và tôi chua chát hiểu ra rằng, hình như anh hùng chỉ có thật  cõi đnày khi họ còn… vị ngộ!
Để tránh cho bà sự lo nghĩ và để…tiết kiệm thì giờ giải thích, tôi bắt buộc không cho phép mình tâm sự nhiều với mẹ.
Trong kiếp di dân ở Mỹ, sự xa cách giữa tôi và mẹ tôi là kết quả của con đường công danh và những thử thách mà tôi chọn lựa. Đến một lúc nào đó, mẹ tôi không hiểu và không biết tôi làm cái gì, động cơ từ đâu, như thế nào. Khi gặp tôi về thăm nhà, bà hay nói:
 –Con ơi, làm người, có số!
 Trong thế giới rất “Việt Nam hải ngọai” của bà, bà theo dõi chính trường, chọn những thế đứng rất rõ ràng về những vấn đề đạo lý.  Bà rất hay đi quyên tiền để giúp người nghèo ở Việt Nam, một công việc làm nhiều người kính phục mà cũng làm rất nhiều người khó chịu  —  đi này, ai là k thích m hu bao cho những người không quen biết chỉ vì một bà cụ già (thay vì một đoàn thể có tiếng tăm) đứng ra xin???  Dần dần thì thiên hạ hình như ai cũng biết mẹ tôi là người… dễ sai và hay đi làm việc…chùa.  Ai cũng có thể đem việc đến nhờ bà, và hình như chẳng bao giờ bà từ chối. Không nhng thế, người ta nh mphần thì m tôi vui v mà làm…mười phần. Bà lấy việc giúp người làm căn bản cuộc đời và làm niềm vui cho mỗi ngày trôi qua, dù rằng có rất nhiều ngày bà vẫn khóc vì những tâm sự riêng tư không lối thóat.
 Mẹ tôi hay khóc những ngày giỗ ông bà trước bàn thờ tổ tiên.
Khi quay trở về thăm lại quê cuối năm 1994 (năm tổng thống Clinton bỏ lệnh cấm vận của Mỹ ở Việt Nam), sau gần 20 năm, bà mới được khóc trước mồ cha mẹ.  Đó là lần đầu tiên và sẽ là lần cuối cùng.  Đó cũng là kỷ niệm hiếm có giữa mẹ con tôi.
 Y hệt như ngày mới ra trường làm cô giáo ở Hội An, mẹ tôi đã cởi áo len cho học trò nghèo, năm 1994, mẹ tôi, ở tuổi 60, trong chuyến về thăm quê, đã cởi áo ngòai, cởi đồng hồ, vòng đeo tay để cho người nghèo ở Việt Nam trên bước đường du hành.
 Bà cởi luôn đôi giày Reebox cho người bà con x Huế trước khi lên máy bay.
Về lại Mỹ, bà nhận việc đi trông coi cô giáo cũ ở Đồng Khánh  Huế bị bệnh Alzeimer’s, công việc làm khong phải vì tiền mà là vì tình nghiã. (Tôi chua xót tự hỏi:  Ngày nay, khi bà khắc khỏai trên giường bệnh, ai là kẻ ghé thăm hay trông coi bà, như bà đã chăm sóc cô giáo ca bà ngày xưa?)
Trong màn đêm, như cuốn phim, như chuyến tàu đi ngược dòng thi gian, tôi quay trở li 1975.
Đ nuôi con nuôi chồng những ngày đầu đến Mỹ, mẹ tôi đã đứng sắp hàng làm việc trong xí nghiệp, nai lưng bên cạnh với những con người xốc vác, sức khỏe như lực sĩ vượt hẳn bà trong môi trường làm việc chân tay. (Tôi vẫn nhớ hình ảnh mẹ tôi xanh xao đi bộ trên vỉa hè trong mưa tuyết của tiểu bang Bắc Mỹ, sáng sớm mỗi khi tôi đậu xe lề đường để bà vào xí nghiệp làm việc.)
Khi tôi tốt nghiệp cử nhân, thì bà không còn phải làm việc chân tay  xí nghinữa.  Tôi đi làm để bắt đầu dành dụm tiền giúp bố mẹ mua căn nhà đầu tiên, và bắt đầu theo đuổi công danh cho riêng mình, không còn sự che chở của mẹ.
Khoảng cách bắt đầu t đó, và mẹ tôi không còn nắm vai trò hướng dẫn công danh cho tôi được nữa.
Không quay trở lại nghề dạy học, mẹ tôi trở thành nhân viên Bộ Xã Hội, một nghề nghiệp rất thích hợp với bà, cho đến khi bà mang bệnh hiểm nghèo … Bà đi một mình vào nhà thuơng để làm giảo nghiệm (biopsy), rồi từ đó bác sĩ giải phẫu mang bà vào thẳng phòng mổ, một mình, không ai biết. Khi tôi biết thì mẹ tôi vẫn còn hôn mê trong phòng hồi sinh.  Tôi là người đầu tiên đứng bên giường hồi sinh khi mẹ tôi mở mắt. Hai dòng nước mắt chảy dài trên gương mặt hốc hác của bà khi bà nhận ra tôi. Đó là những ngày tôi bắt đầu học luật (và đi làm full-time, bước đầu theo đuổi công danh). Ngày đầu tiên vào giảng đường lớp Luật đầu tiên là ngày mẹ tôi rời phòng hồi sinh, và tối hôm đó, tôi gối đầu lên cuốn sách luật ngủ dưới chân giường bệnh viện của mẹ.
Sau đó là những tháng ngày đau khổ của mẹ tôi.  Bà rụng hết tóc, không còn đi đứng vững, nhưng mẹ tôi can đảm tự chăm sóc lấy mình chống trả bệnh nan y, để con gái rảnh tay đi học. Tôi là người dẫn mẹ đi mua tóc giả và các dụng cụ cần thiết cho người bệnh. Ngày hạnh phúc đầu tiên là ngày tôi dẫn mẹ đi ăn nem nướng  mtrong những tiăn Việt Nam đầu tiên của thành phố, sau một thời gian dài bà nôn mửa không ăn được …
 Suốt đời, mẹ tôi can đảm chiến đấu với bệnh tật, với những tai nạn hiểm nghèo, và mang trong tim nỗi đau đớn tinh thần, sự chịu đựng của phụ nữ Việt Nam: đi vi tôi, cuôc chiến đấu của bà còn dũng cảm hơn võ sĩ của đấu trường La Mã …
Sức khỏe èo uột, nhưng mẹ tôi rất dai sức và có óc khôi hài.  Bà nói chuyện rất văn chương, thành thật, tinh ý, và nhạy cảm.  Bà thông minh và biết xoay xở tình thế, nhưng luôn luôn nhận chịu sự thua thiệt vì bà không thể ăn thua với người chung quanh.
 Khi nói về bố tôi, có lần bà ngậm ngùi:
 –Suđi, ch còn ly cái hđ leo bước thang xã hi
Tôi n lnh toàn thân:  bà nói v chng, hay nói v đa con gáđu lòng chính là tôi, hay v nguyên c mt văn hóa nhược ticủa nguồn cội, nguyên cả một quá trình lập nghiệp và những mộng ước của s kiếp di dân?
Về những nỗi buồn tinh thần của bà, thì tôi chỉ có thể nói một câu: Mẹ tôi rất ủy mị, rất yếu ớt, nhưng cả đời, bà đã đưa tấm thân mảnh dẻ cua mình ra nhận lãnh tất cả những ngôi sao xấu cho chồng con, đến từ chồng con.
Tôi, đứa con gái hiểu cuộc đời của bà nhiều nhất, biết tất cả những niềm đau của mẹ, cũng không tránh được việc làm cho mẹ phải lo âu phiên não vì những sự chọn lựa khác thuờng của tôi. Khỏang cách giữa tôi và mẹ chính là nỗi buồn tôi đã mang vào đời mẹ, tạo thành một phần trong màđêm của mẹ.  Và mẹ tiếp tục lo lắng cho tôi: từ miếng ăn, sc khe, cho đến ngôi nhà bỏ hoang khi tôi đi vắng, cho đến tiếng bấc tiếng chì trong cộng đồng di dân.
Nỗi lo lắng tiếp tục cho đến ngày bà liệt giường liệt chiếu…
Tôi biết rằng, trước cơn hon nn cui cùng, kể từ 1975, hình như mẹ tôi mang bệnh mất ngủ và gần như uống thuốc triền miên, dù bà vẫn nói cười và hết lòng trong việc từ thiện …
 Màn đêm của mẹ tôi: hình ảnh người phụ nữ Việt Nam mang trái tim tha thiết vì tha nhân, cặm cụi đi tìm tia chiếu của những ngôi sao xấu, để mang tấm thân mình ra làm bình phong ngăn chận những tia chiếu vô cùng hung hãn ấy. Lúc nào bà cũng chịu thiệt thòi cho tha nhân được huởng phần hơn. Và bà gọi đó là tình bạn, tình người ….
Những ngày tháng mẹ tôi liệt giường liệt chiếu vẫn tiếp tục trôi qua. Những người đã chịu ơn sự giúp đỡ của bà, người Mỹ có, người Việt có, lần lượt đến thăm… Có người ghé thăm rồi thảng thốt và mủi lòng đứng khóc.  Nhưng ri, càng ngày càng thưa thớt đi, những thắm thiết và bịn rịn của  mọi ngườchung quanh.
Còn lại là màn đêm của bà, và đứa con gái đầu lòng là nhân chứng bất đắc dĩ của màn đêm ấy.
Mẹ tôi chỉ còn có 74 pounds, bà không thế gượng ngồi dậy một mình. Bà không thể xoay đổi thế nằm. Phải có người bế, có người đẩy. Nhưng khi được mang ra ngồi ở bàn ăn, mẹ tôi nắm lấy cạnh bàn để ngồi cho thẳng. Rồi bà đan hai tay vào với nhau, để ngay ngắn trên bàn —  phong cách ngồi của một cô giáo, không phải của người đầu hang trước sức khỏe èo uột, hay gục ngã trước căn bệnh trầm kha.
Tôi vẫn làm người đầy tớ trung thành cho mẹ. Vẫn chăm chú nhìn đôi môi run rẩy của mẹ hé mở đón từng muỗng cháo, từng miếng trái cây đã cắt nhỏ hoặc xay mềm. Vẫn mừng rỡ cho mẹ thải ra được chất nhơ qua hệ thống tiêu hóa.
Tôi chống đỡ với số mệnh. Tôi làm người “cắt sao” cho mẹ tuy không bước chân vào đền thánh, không còn đeo mang lộc thánh” để chia xẻ với những linh hồn côi cút trong thế giới siêu hình.
Và tôi vẫn bắt gặp, vẫn nhìn thấy ánh mắt chăm chú hết gan hết ruột của mẹ trong màn đêm, dưới ánh đèn mờ … ánh mắt thăm thẳm như cả một vũ trụ đối diện người phụ nữ vì thuơng chồng con và hết lòng với mọi người  mà lần mò trong bóng đêm để đi tìm những vì sao…
Ngày lại ngày, mẹ tôi vẫn thường mở mắt lúc nửa đêm, hay lúc trời tờ mờ sáng, những khi tôi phải thức dậy làm vệ sinh cho bà trong ánh đèn leo lét.  Đôi mắt bà nói lên cả ngàn lời mà tôi không nghe được
Bà đã thao thức từ bao giờ?  Màn đêm ấy bao phủ bà như thế nào?  Đâu là giải ngân hà bằng tâm thức?
Càng suy nghĩ về mẹ tôi, tôi càng tin tưởng rằng: Trong kiếp này, mẹ tôi đã tạo được cho chính bà một giải ngân hà kết toàn bằng những vì sao thánh thiện, sẽ che chở cho tấm thân nhỏ bé và trái tim vô cùng vị tha của bà.  Suốt cuộc đời, mẹ tôi chưa hề làm ác hay hại ai bao giờ.  Bà cho đi rất nhiều mà nhận chẳng bao nhiêu. Nếu có trách móc ai, đó chỉ là lời mẹ tôi than thở về định mệnh: số kiếp của những kẻ giàu tri thức, giàu tình cảm, nghèo vật chất, có tất cả, mất tất cả, hay cho đi tất cả, chung quy cũng chỉ là sự chịu đựng tia chiếu của các sao Địa Không, Địa Kiếp!!!
Có chăng, chỉ là câu than thân trách phận của người phụ nữ Việt Nam, khi phải một mình đi tìm cắt những vì sao…
 Rồi từ đó, từ khái niệm của màđêm thời điểm này, tự nhiên tôi bắt đầu đi tìm mua cho mẹ những món đồ dùng hàng ngày có mang theo hình ảnh hoa hướng dương: tôi chỉ có thể tìm thấy ít chén bát, khăn ăn, khăn lau mặt…
Tôi loay hoay muốn có hình ảnh của hoa hướng dương chung quanh thế giới cô đọng vào chiếc giường bệnh của bà. …Tôi không muốn đi hái hướng dương ở ngoài đồng hay mua ở tiệm, vì e rằng phấn hoa có thể làm mẹ tôi bị khó khăn hay gây ô nhiễm đường hô hấp. Tôi sẽ phải quay về với nhũng cánh hướng dương tưởng tượng trong thế giới sáng tạo của hội họa.
Tại sao lại là hoa hướng dương?
Tôi suy nghĩ mãi về màn đêm của mẹ tôi và cho rằng con đường của mẹ tôi đi tìm những vì sao ác tính để cắt bỏ chúng, bắt buộc phải có sự hướng dẫn của một nguồn ánh sáng rực rỡ, trong lành. Tôi kết luận rằng nguồn ánh sáng ấy đến từ trái tim vượt bực của mẹ tôi. Với nguồn sáng ấy, màn đêm, sự lẫn lộn giữa sao ác và sao hiền trong vũ trụ bao la dầy đặc một màu đen kia sẽ trở thành vô nghĩa lý.  Sự khác biệt hay ngăn chận giữa sao tốt, sao xấu bằng một giải ngân hà tốt đẹp sẽ không còn cần thiết nữa nếu mẹ tôi nương theo nguồn ánh sáng trong lành của mặt trời để cắt bỏ tất cả những vì sao hung hãn.
Cánh hướng dương ca m tôi nm ngay trong tâm khm ca bà: ý nicủa lòng thành tuyệt đối, đã thôi thúc bà không quản ngại đi vào vũ tr ti tăđ cầu xin sự buông tha của các vì sao xấu,  để ngăn chận những tai ương của định mệnh, tất cả cho người chứ không phải cho mình.
Ấy thế mà trong những chuỗi ngày mẹ tôi liệt giường liệt chiếu, như một định mệnh oan nghiệt tạo ra bởi những vì sao xấu – những oái oăm tôi không thể ngờ tới, những khúc quanh tôi không muốn giải nghĩa cho tha nhân —  tôi đã phải để mẹ tôi nằm một mình với màđêm của bà. Nhng vì sao đc vn còn ng tr nhưng mẹ tôi sẽ không còn hay biết nữaTôi trở thành người chống đỡ tia chiếu của những ngôi sao ác độc hướng vào bà và vào tôi – tôi biến tôi thành tấm bình phong che chở, để bà được yên bình không biết gì về những thầm kịch của cuộc đời chung quanh vẫn còn tiếp tục.  Thay vì khóc lóc, tôi chỉ còn biết đem đến để chung quanh mẹ một vài món đồ mang hình ảnh đẹp của hoa hướng dương.
Để tiếp tục bước đi, tôi phải tự cho rằng mình là kẻ độc hành, kẻ mồ côi,  không còn mẹ để chia xẻ những đau đớn trong đời, dù rằng mẹ tôi vẫn mở mắt nhìn đêm tối.
Những óai oăm, oan nghiệt của cuộc đời ấy đang tiếp tục xảy ra chung quanh cái giường sắt kiểu bệnh viện tại gia của bà.  Nếu tôi ghi tất cả vào một cuốn nhật ký, thì đó sẽ là cuốn nhật ký cần đem đi đốt, để tro bụi của những trang giấy bi thảm ấy sẽ không làm vướng bận đến giấc ngủ và trái tim mang bông hoa hướng dương của mẹ tôi.
Tôi nghĩ rằng những khắc nghiệt bất công của cuộc đời, những độc dược đến từ con người, chính là mớ tro bụi ấy. Tôi sẽ không bao gi để cho mớ tro bụi ấy vướng lụy đến chỗ nằm thánh thiện của mẹ tôi.
Và tôi vẫn tiếp tục cầu mong cho mẹ tôi lành bệnh, được chừng nào hay chừng ấy. Tôi tin vào sức sống bền bỉ của mẹ tôi (life force), tin chất mầu nhiệm của sự nhiệm mầu (the miraculous nature of miracles). Và tôi vẫn tin tưởng y khoa. Nhưng tôi cũng chấp nhận rằng,  kiếp này, chắc tôi không bao giờ còn được dịp đưa mẹ đi cắt sao buổi tối ở đền Thánh.  Tôi không còn được giúp mẹ đem thảy lộc Thánh vào con rạch giữa thành phố, trong màn đêm.
Tôi chỉ còn có thể nhớ mãi ánh mắt của mẹ tôi chăm chú nhìn tôi khi tôi thức giấc làm vệ sinh cho bà và đó sẽ là hành trang còn lại độc nhất trên con đường thiên lý tôi đi. Trên con đường ấy, tôi chỉ có thể giữ lại cho bà, và cho mình, cánh hướng dương độc nhất. Cánh hướng dương không bao giờ tàn phai, vì ánh sáng của nó là muôn thuở. Nụ hướng dương ấy nở tung trên những ngón tay gầy guộc của mẹ tôi đi tìm những ngón tay của tôi dưới nếp chăn hay níu vào thành giường những ngày mẹ tôi liệt giường liệt chiếu. Đóa hoa nở tung trên khóe mắt xúc tích của bà. Nó tạo nên nụ cười trên đôi môi của bà, những buổi sáng trên giường bệnh, bà thức dậy và nhìn thấy tôi. Nụ hoa hướng dương ấy sẽ là giải ngân hà cho chặng cuối đời bà, sáng óng ánh giữa màn đêm dày đặc.
Tôi nh mãi giây phúsau đây, trong nhng ngày tháng săn sóc m:
M quay qua bên này vi con,” tôi nói với bà một buổi sáng đứng bên cạnh giường.
I don’t know how to “qua,” bà trả lời bằng tiếng Anh, nhưng lại dùng ch “qua” tiếng Việt.  (Câu nói rất ngộ nghĩnh.  Điều này nói lên tình trạng bệnh lý của bà:  Khi một số tế bào não phia dưới, bên trái, đã mai một hay bị hư hại, trí nhớ gần (recent memory) và s điều động khả năng ngôn ngữ bị xáo trộn hay rối loạn.)
Đôi tay gầy guộc của bà di động dưới tấm chăn như những lúc tôi nằm ôm mẹ, và tay tôi đi tìm tay bà.  Rồi bà ngơ ngác nhìn tôi, đưa đôi tay gầy guộc ra trước mặt để phân bày.  Như một trẻ thơ…Và rồi đôi tay gầy guộc ấy níu lấy thành giường để giúp tôi đẩy bà, vì bà biết bà không tự xoay người được na.
 Tấm chăn và thành giường trở thành giải ngân hà cho mẹ tôi bám víu???
 Giải ngân hà ở đâu, mẹ yêu thuơng của con?
 Ở đây, ở nụ hướng dương quý báu của mẹ.
 Tôi đã có câu trả lời, cho dù tôi rơi lệ.
Nụ hướng dương bất tử, ươm mầm, đến từ trái tim sáng ngời của mẹ tôi, nở trên những ngón chân yếu đuối, những ngón tay gầy guộc, mi mắt và khóe môi nhăn nheo, trên lồng ngực mỏng manh như tờ giấy của bà.
Nụ hướng dương sẽ chẳng bao gi tàn … cánh nở tung, rồi sẽ khép, quay về, lại bắt đầu ươm nụ, và bất tử, ở khởi điếm bắt đầu hay cu cánh cui cùng, tất cả tr thành mt vòng tròn như luân hồi của đạo Phật, như giải ngân hà vòng quanh mặt đất bao bọc con đường đi của bà.
Nụ hướng dương làm rực rỡ màn đêm, vượt tất cả các vì sao. Xấu hay tốt, các vì sao sẽ nghiêng mình, lu mờ trước cành hướng dương rực rỡ.  Mẹ tôi sẽ không còn phải mò mẫm trong màn đêm của vũ trụ đảo điên để ngăn chận ánh sáng mục rửa của cái ác.
Ở đó, trên cành hướng dương, mẹ tôi tìm thấy hạnh phúc, yên bình, và sự che chở.
Nụ hướng dương bất tử ấy……
 … chính là trái tim, TÂM THIỆN,* của mẹ tôi.

Dương Như Nguyện

 * Ngày xưa ở chùa Từ Đàm, Huế, mẹ tôi cho tôi, đứa bé lên bốn, quy y nhà Phật, lấy pháp danh là TÂM THIỆN.

 

 

M – O – T – H – E – R
“M” is for the million things she gave me,
“O” means only that she’s growing old,
“T” is for the tears she shed to save me,
“H” is for her heart of purest gold;
“E” is for her eyes, with love-light shining,
“R” means right, and right she’ll always be,

Put them all together, they spell
“MOTHER,”
A word that means the world to me.

GIỚI THIỆU SÁCH MỚI

TƯƠNG TRI hân hạnh được giới thiệu cùng các độc giả một tập thơ mới của một tác giả quen thuộc -TRẦN VẤN LỆ- Ở CHI XA XA MÚT CHỈ CHÂN TRỜI.

30 Tháng 4 Một Chín Bảy Lăm: Hồi “xưa” tôi dạy học: Cô giáo mặc áo dài, nữ sinh mặc áo dài. Áo học sinh áo trắng, quần trắng hoặc quần đen. Áo cô giáo áo màu hay có hoa thanh nhã. Quần cô giáo quần đen. Cô giáo và các em, thấy không hề lẫn lộn. Tất cả đều khiêm tốn dù có em nhà giàu, nhiều cô giáo cũng giàu có chồng giữ chức lớn. Chỉ có cô Hiệu Trưởng đến trường bằng xe hơi, còn tất cả “mọi người” đi bộ hay xe đạp. Hồi xưa ở Đà Lạt, trường Nữ – trường dễ thương.

Tôi, nằm trong số ít, trường ít nam Giáo Sư, (chỉ vì trường thiếu Cô nên Thầy được điều tới, không có ai kêu gọi Thầy phải dạy Nữ Sinh… nên Thầy phải “công minh” đóng cái vai Cô Giáo). Đà Lạt hai trường Đạo cũng dạy toàn nữ sinh, một là trường Couvent và hai là trường Thiên Hương; trường Franciscain cũng Đạo, dạy nữ sinh học nghề.

Năm 1975 đổi thay, tôi không biết gì nữa vì tôi đi biệt xứ, sáu năm sau đồi đời rồi học lại làm người, sống xa rời nghề giáo…
Hăm tám năm nay tôi đi dạo / trên thế giới lang thang. Tôi giống Vũ Hoàng Chương: “Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa bị Quê Hương ruồng bỏ, giống nòi khinh”. Tôi rất nhớ học sinh nhất là các em trường Nữ, nhớ áo quần hồi đó… mộc mạc mà đẹp sao. Em nào cũng má đào ửng trên nền áo trắng, hồng hơn khi trời nắng thấy như từng trang thơ… Nhiều đêm tôi nằm mơ thấy mình còn thật trẻ. Nhưng khi mắt ứa lệ biết mình là lưu dân! Tôi sống bằng bâng khuâng nhìn trăng bên khung cửa. Tôi sống đời ở đợ ít nhiều cũng đớn đau!

Chừ, các em áo màu, chừ các em jupe màu, chừ các em robe màu. Các cô giáo hao hao các em trong quần áo. Tôi thấy mình lảo đảo nhìn ảnh chụp nhà trường giống như ở Tây Phương, giống như là nước Mỹ, Tôi tưởng tôi đang thấy… các em thi hoa khôi. Các cô giáo chao ôi môi kề môi cốc rượu, các quan chức líu quíu: “Rót thêm đây đi cưng!”. Ông Bộ Trưởng họ Phùng cũng nâng ly “vui vẻ”! Việt Nam mình mới mẻ bốn mươi hai năm tư duy! Tôi thật đáng khinh khi như Vũ Hoàng Chương đã nói… Ba mươi tháng Bốn ngày chi / lại lù lù xuất hiện? Nhiều người nuốt nước miếng khi nhớ cái ngày này?

(Trích tập thơ “Ở chi xa xa mút chỉ chân trời” của nhà thơ Trần Vấn Lệ, Lotus Media xuất bản tại Hoa Kỳ, tháng Tư, 2017)

Sách phát hành trên mạng AMAZON.COM

BAO NHIÊU NĂM RỒI

 

Bao nhiêu năm rồi má có bao giờ vui ?
Kể từ khi Bắc Nam hai miền thống nhất
Tháng tư này ở phương trời xa lắc
Có một người ngồi vọng nhớ cố hương

Bao nhiêu năm rồi con sóng đại dương
Vẫn chưa trả thằng con mất nước
Để má với tuổi già đơn độc
Quặn từng ngày mang nặng đẻ đau

Có một ngày vào cuối tháng tư
Má yên giấc nghe giữa miền đất lạnh
Tiếng thở nhẹ của một loài cây cỏ muộn
Đưa bình yên theo gió thoảng đưa xa

Biết bao giờ con trở lại quê xưa
Bên mộ má cô đơn quá thể
Kẻ chiến thắng với tiếng cười ngạo nghễ
Vọng mãi trong con một nhát dao buồn

Lũ cai thầu mị ngữ nhân danh
một chủ nghĩa làm đau lòng giấy trắng
Làn roi thù cướp luôn giọt nắng
Trùm bóng đêm vô tận lên non

Biết bao giờ tìm lại được vầng trang
của thuở thơ ấu còn vòng tay má
Đã lâu rồi một dòng sông chảy nhẹ
đợi con thuyền lắng tiếng hò đưa

Tháng tư này con lại viết bài thơ
Sau bao nhiêu năm nước mình đã mất
Con biết má chưa bao giờ nhắm mắt
Bởi con không về từ buổi má đi xa

Quan Duong

CÀNH HOA TRẮNG


Những ngày tôi còn bé
Đi lễ mùa Vu Lan
Ai cài hoa đỏ thắm
Hoa tôi màu khăn tang

Tôi cúi đầu lạy Phật
Mà nước mắt đầy tay
Mục Kiền Liên gặp mẹ
Tôi chẳng còn gặp ai

Ngày Mẹ tôi mới mất
Tôi còn nằm trong nôi
Vô tình buông tiếng khóc
Cho đời mình cút côi

Cha chít vành khăn trắng
Lên đầu nhỏ tí teo
Ôm tôi chầm chậm bước
Vịn quan tài đi theo

Trời tháng năm nắm ấy
Mưa bỗng rơi nhiều hơn
Bên mộ vàng mới đắp
Hai bóng người cô đơn

Mẹ tôi ra đi sớm
Tôi lớn thiếu lời ru
Đời như cây thiếu nước
Khô cằn và hoang vu

Quê hương tôi nghèo lắm
Nhà ở cạnh bờ sông
Chiều chiều tôi hay đứng
Ngắm mây trời mênh mông

Từ khi tôi thiếu mẹ
Cơm chẳng bữa nào ngon
Bài học hoài không thuộc
Đêm giấc ngủ chưa tròn

Những ngày tôi nhỉ học
Ra mộ mẹ trồng hoa
Bên kia sông vọng lại
Tiếng chuông chùa ngân xa

Tôi đi rồi đi mãi
Mỗi ngày một xa thêm
Bao màu trăng tháng bảy
Soi xuống vùng lãng quên

Đêm nay trời viễn xứ
Chợt nhớ mùa Vu Lan
Thấy tim mình in dấu
Cành hoa màu khăn tang
 Trần Trung Đạo

HỒI ỨC VỀ QUÁN CÀ PHÊ LÀNG VĂN

Xưa đi thắp mộng tình đầu
Hai hàng cây cũng đứng chào đôi ta
Mỗi ngày em mặc áo hoa
Về nơi quán ấy thật thà anh đưa

Đưa tình từ thuở ban sơ
Nụ hôn đắm đuối cứ ngờ trăm năm
Bây giờ đã thành vợ chồng
Những ngày quán xá hư không mất rồi

Áo cơm chật chội trong đời
Anh lăn bóng nhớ, em bồi hồi thương
Nghĩa là xa lắc thiên đường
Anh trăn trở ngóng, em mường tượng mong…
Trần Dzạ Lữ