UYÊN

tonnuthudung

Uyên của ngày thu muộn
Khúc lạc cầm u hoài
Chìm nổi dòng luân lạc
Chiều Nội Thành mây bay.

Uyên của ngày ly biệt
Chạnh lòng mưa cuối sông
Vỡ toang mùa trăng biếc
Rơi những lời ăn năn.

Uyên của ngày hoan lạc
Khắc khoải rèm mi cong
Uyên của ngày hạnh phúc
Đong đưa tình trăm năm.

Uyên của ngày địa ngục
Tan chảy thành tro than
Lửa hành hình bí ẩn
Đốt một đời tan hoang…

TÔN NỮ THU DUNG

MÓN QÙA CUỐI NĂM

zulu

Ngày cuối năm mưa lất phất, gió nhẹ, cái lạnh vừa đủ cho ta thân thiết hơn với thời gian, cho ta đủ nhớ tuổi thơ, cho ta hồi tưởng về kỹ niệm. Nhưng tất cả bỗng ngưng bặt khi tôi cầm trên tay một phong thư, chỉ thoáng qua tôi biết ngay món qùa nầy của Thu Dung và trong đó có cái gì. Tôi quên một lời cám ơn với anh chàng UPS đưa thư.
.
“TIỂU KHÚC”
Tôi đã thấy hình tập thơ nầy của Thu Dung trên trang FaceBook, nhưng cầm nó trên tay tôi vẫn ngạc nhiên, không những màu sắc hài hoà, trình bày mỹ thuật, khổ sách lý tưởng và mẫu chữ đẹp, tất cả làm nên cái duyên của một món qùa.
Với tôi hình thức cũng tác động vào tâm lý người đọc, nó làm cho tâm hồn chúng ta cảm nhận bằng sự bình an và tin ở nội dung hơn. Vậy là tôi nhắm mắt, như khi bói Kiều, tôi mở trang sách và đọc ngay bài “Khúc Chiều Rơi”.
.
Kiểu như người mù sờ voi, với tập thơ non trăm trang, chỉ đọc một bài để viết về tập thơ thì tôi thành ra thầy bói văn học. Nhưng tôi tin khả năng mình, không biết nhiều về “Tiểu Khúc” nhưng chỉ vài ba câu thơ, tôi biết tác giả là người thơ, là thi sĩ, ….. hay chỉ là “Nhà Thơ” trong cánh rừng bạt ngàn mà con người cày nát ngổn ngang như hôm nay.
.
Đầu tiên, trong Khúc Chiều Rơi chúng ta không nhận ra không gian, thời gian ở trong thơ. Chất nghệ sĩ trong Tôn Nữ Thu Dung không có biên giới, chất ấy làm cho tâm hồn mở rộng, có ai định vị được tâm hồn, thì ra thi sĩ chính là ở đó.
Ai gọi tôi về chốn cũ
Tiếng sóng hoang vu thở dài
Một con dế buồn trong cỏ
Ngậm sương chờ đợi dấu hài

Đem hiện hữu vào thơ, đưa thơ vào tâm hồn, xoá sạch mọi lằn ranh, mọi định kiến, mọi xu thế ….. là nghề của những thi nhân, làm được như vậy mới là thi sĩ.
Ngồi xuống cùng tôi -thơ dại –
Trái tim bong bóng vỡ rồi
Bàn tay nào che khuất mặt
Nụ cười một thuở mưa bay

Một cuộc đời, một mối tình gom lại trong bốn câu thơ, nó mang tính cách và chữ nghĩa rất Tôn Nữ, lại như rất mới, trong khi tất cả đều quá cũ, âu đó là cái dáng thơ của Thu Dung – Vừa phóng đạt, vừa e ấp làm cho người đọc cảm nhận ra rằng, trong vô vàn tha thiết, lại thoáng một chút bất cần – Đó chính là Tôn Nữ Thu Dung.
Không như những tập thơ chúng ta thường bắt gặp ở những trang đầu là lời giới thiệu, lời bạt … của bạn bè hay những người thơ có chút tiếng tăm. Ở đây Thu Dung cho in một lá thư vô đề, kiểu như cho có lệ, kiểu như tình thân, nhưng thực sự nó không ích gì cho giá trị một tập thơ mà tác giả cần đến …bởi người viết dù là một thi sĩ nổi tiếng, nhưng ông chỉ viết như viết cho một cô em gái … rất vô tư lãng tử.
.
Dù đọc chỉ mấy câu, thơ của Thu Dung, tuy không mới, không cũ, nhưng thơ của Thu Dung có một chút gì Tôn Nữ còn sót lại, một chút gì như men đời thấm vào tâm hồn nghệ sĩ làm cho thơ đẹp hơn.
Tóm lại đây một tập thơ cân đối, hài hoà từ hình thức đến nội dung. Mẫu chữ đẹp, trình bày trên giấy bóng rất nghệ thuật, một tập thơ cho người yêu thơ và một tập thơ cho người cần trưng bày trong tủ sách.

ZULU

TÁC PHẨM MỚI

15822759_1172319162883228_834182753377200537_n

Đọc TIỂU KHÚC để tìm những DẤU LẶNG chỉ có thể muôn đời TỰ HỎI…
Đọc TIỂU KHÚC để biết PHƯƠNG ẤY chỉ còn là SƯƠNG KHÓI TRÊN ĐỒI…
Đọc TIỂU KHÚC để thấy dù có NÍU hay XÔ thì cũng chỉ là một lời XIN LỖI vì đã trót MẮC NỢ MỘT VÌ SAO…
Đọc TIỂU KHÚC để HOÀI NIỆM về MƯA trên GÓC PHỐ…
Đọc TIỂU KHÚC để nghe BÀI HÁT RU còn vọng mãi đến NGHÌN TRÙNG…
Đọc TIỂU KHÚC để từng CHIỀU, từng ĐÊM tiếc nuối CHẠM vào đâu cũng thấy mình LẠC DẠ…
Một món quà nhỏ bé trang nhã xứng đáng tặng nhau trong mùa lễ hội.

TƯƠNG TRI

THÁNG CHẠP THƠM

vuhytrieu

buổi sáng ra vườn
cái lạnh khẽ chạm vào môi
run rảy nụ hồng hé nở
tháng Chạp về ngang ngõ
thấp thoáng bóng Xuân qua

buổi trưa
ngồi trước hiên nhà
nắng mật ong rót vàng áo lụa
ngẩn ngơ con mắt đưa tình
tháng Chạp em cười xinh
chúm chím…

buổi tối
trong đêm thầm tỉnh lặng
nhấp chút rượu nồng cay
gió thoảng hương bay
ngan ngát hoa xoài thơm tháng Chạp.

Vũ Hy Triệu

Nha trang – thời tôi mới lớn –

phamtinanninh

Nha Trang lúc nào cũng đẹp, nhưng với tôi Nha Trang đẹp nhất ở vào cái thời tôi mới lớn. Dường như lúc ấy biển xanh hơn, bầu trời trong và bao la hơn, đã cho tôi nhiều mộng mơ hơn. Lúc ấy tôi chưa biết yêu để hiểu được cái nghĩa thất tình nó ra sao, cái cảm giác “chết trong lòng một ít” nó đau đớn đến dường nào; cũng chưa bước chân lên bến đời để thấy cuộc đời này không phải chỉ toàn màu xanh của biển và bầu trời trên đầu lại có quá nhiều những đám mây đen.
Ngày ấy, cũng đã có chiến tranh (quê hương tôi thì lúc nào lại không có chiến tranh), nhưng dường như còn ở đâu đó, xa lắm. Tôi chỉ biết người lính qua mấy anh SVSQ Hải Quân, Không Quân oai phong tuấn tú trong những bộ quân phục đẹp, mới toanh, thẳng nếp, dạo phố với tình nhân vào những ngày cuối tuần. Đâu có biết người lính gian khổ, hiểm nguy và chết chóc ra sao. Khi ấy, Trịnh Công Sơn cũng chỉ mới viết được đôi ba bài tình ca, chưa có bản nhạc phản chiến nào, Những bản nhạc viết về lính lúc ấy cũng dễ thương, hiền lành và lãng mạn lắm, chưa hề nghe Kỹ Vật Cho Em. Ngày Mai Đi Nhận Xác Chồng, Anh Không Chết Đâu Anh, Người Ở Lại Charlie…, nên cũng chưa biết tiếng khóc não nùng của những người góa phụ.
Những chuyện xảy ra trong thành phố thời ấy hấp dẫn tôi và đám bạn bè hơn. Chuyện bà (vợ ông) bác sĩ, một mệnh phụ gốc Hà thành nhan sắc mà mỗi lần trông thấy bà ngoài phố, chúng tôi đứng lại tròn mắt trầm trồ như đang được chiêm ngưỡng một pho tượng đẹp trong viện bảo tàng. Chuyện của một bà dược sĩ, có tình nhân là một ông đại úy phi công rất bô trai. Mặc dù bà có chiếc xe hơi thể thao “trọc mui” duy nhất ở thành phố biển này, nhưng bọn tôi thường thấy ông phi công đèo bà sau chiếc Vespa chạy lòng vòng trên đường Duy Tân, Độc Lập. Cuộc tình lãng mạn ấy rồi cũng đi vào ngõ rẽ. Bà dược sĩ trở thành phu nhân của một ông tướng nổi danh, còn chàng phi công hào hoa thì rước về dinh một cô ca sĩ chuyên hát những bản nhạc buồn… vào hồn không tên… nào đó. Và “đình đám” nhất là chuyện tình của thầy tôi và một cô học trò. Ông thầy mà bọn tôi thường gọi là “thầy của những ông thầy khác” và rất mê nghe ông đọc những bài thơ tình lãng mạn của mấy ông Alphonse de Lamartine, Charles Beaudelaire, Jacques Préver trong giờ Văn học sử Pháp. Còn cô học trò cũng rất tài ba, từng có bài luận văn dài gần 20 trang giấy được giáo sư nổi danh Thạch Trung Giã cho điểm tối đa và đọc cho cả mấy lớp cùng nghe. Không biết có phải nhờ vòng tay ông thầy của tôi mà sau này cô trở thành nhà văn nổi tiếng với tác phẩm cũng bắt đầu bằng hai chữ Vòng Tay… Một ông thầy khác mê đến si tình cô học trò “hoa khôi” Võ Tánh, đóng vai Trưng Trắc trong buổi lễ Hai Bà Trưng. Những nữ sinh được chọn đóng vai Trưng Trắc, Trưng Nhị thời ấy đều là những mỹ nhân “vang bóng một thời”.
Thời ấy dường như chiến tranh còn ở đâu đó, chưa tới Nha Trang, nhưng Nha Trang lại là nơi có ba quân trường nổi tiếng. Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân đã đào tạo hầu hết những sĩ quan Hải quân ưu tú. Trong số ấy có rất nhiều đồng môn của bọn tôi ở Trường Võ Tánh, một số đàn anh trở thành những hạm trưởng: Trần Đức Cử, Phạm Đình San, Võ Quang Thủ, Phan Hữu Niệm, Võ Văn Bảy… Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân đào tạo hầu hết những phi công tài hoa của đất nước, trong số này cũng có rất nhiều cựu học sinh Võ Tánh. Sau này có người lên đến cấp tướng. Trường Đồng Đế, đào tạo hầu hết các hạ sĩ quan cho Quân Lực và những khóa sĩ quan hiện dịch, mà một người sĩ quan tốt nghiệp Khóa 2 đã trở thành một vị anh hùng trong lòng bao người dân Việt tha phương: Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn. (Xa hơn một chút là Huấn Khu Dục Mỹ, với các quân trường nổi danh không kém, được thành lập từ năm 1960. Trường Pháo Binh chuyên đào tạo cá sĩ quan có khả năng toán học, làm “đề lô” và sau này trở thành các cấp chỉ huy của binh chủng “nòng dài”, tạo sấm sét lam khiếp vía quân thù. Trung Tâm Huần Luyện Biệt Động Quân, được những người lính gọi là “Lò Luyện Thép”. Có người còn gọi đùa là “Trung Tâm Tàn Phá Sắc Đẹp.” Một nơi huấn luyện cho người lính chịu đựng gian khổ nhất, có khã năng vượt qua mọi chướng ngại, để có thể chiến đấu trong những điều kiện khó khăn nguy hiểm nhất.
Về văn chương, ngoài một số nhà văn kỳ cựu như Quách Tấn, Cung Giũ Nguyên, Thạch Trung Giã, Võ Hồng, lúc ấy có nhiều nhà văn nhà thơ nổi tiếng sớm từ những cô cậu học trò: Nguyễn Xuân Hoàng, Sao Trên Rừng (Nguyễn Đức Sơn), Thanh Nhung (Tôn Nữ Nha Trang), Duy Năng (Nguyễn Hữu Trí)…Nếu tính cả những người từ các tỉnh lân cận đến học ở Nha Trang thì còn có Nguyễn Mộng Giác, Nguyễn Thị Hoàng, Cao Hoành Nhân, Từ Thế Mộng, Trần Hoài Thư, Dương Nghiễm Mậu, Sương Biên Thùy (Lê Mai Lĩnh sau này)…
Thời đó, Nha Trang có cô ca sĩ Thúy Vân, tuổi khoảng 14, 15, có ông bố phục vụ trong Lực lượng Bảo An Đoàn, có tay trống Minh Châu số 1 của Ban Văn Nghệ Ty Thông Tin , sau này cũng gia nhập Bảo An, làm sĩ quan Tâm Lý Chiến. Bọn tôi thường được tham dự những đêm văn nghệ do Ty Thông Tin tổ chức, nghe ca sĩ Bích Sơn hát bài Cô Gái Xuân và đóng kịch “Ông Ninh Ông Nang” với anh hề Ngọc Trai. Được xem phim Chúng Tôi Muốn Sống , mê ông Lê Quỳnh đẹp trai và bà Mai Trâm với má lúm đồng tiền và hai lọn tóc thắt“con rít” thả xuống bờ vai.
Thời ấy cũng có rất nhiều cái tên “mỹ nhân” truyền tai nhau trong đám học trò: Cẩm Vân, Bạch Yến. Như Bá, Bích Tùng, Mỵ Cơ, Xuân Thùy, Hồng Nữ, Xuân Hoa, Bích Khuê, Như Ý, Hồng Huê, Lệ Son, Mỵ Hảo… Và ngay trong lớp tôi cũng có những giai nhân đã làm khuấy động trái tim của biết bao ông thầy và những đồng môn, mà đến hôm nay vẫn còn được bàn cãi rất sôi nổi mỗi lần bọn tôi có dịp gặp nhau kể lại chuyện xưa: Thúy Liệu, Minh Châu, Kim Anh, Kim Thoa, Túy Ngọc, Như Bá… Đám bọn tôi cũng biết danh ông Lê Bá Chẫn, không phải vì ông là phó tỉnh mà vì ông bà có mấy cô con gái đẹp, từng đóng vai Trưng Trắc, Trưng Nhị. Và có lẽ không ai mà không biết hiệu Đông Quang nằm bên tiệm chụp ảnh Mai Ngôn trên đường phố Phan Bội Châu, bởi mỗi lần đi qua nhìn thấy chị Thuần Hậu, sắc nước hương trời, ngồi bên một cái giá dựng đủ các thứ gươm đao thời Tam Quốc (?)
Thời đó Nha Trang có khá nhiều nhà sách, nhưng bọn tôi thường lui tới Nguyễn Lê và Vĩnh An Thành, nơi nào cũng có cô con gái đẹp. Riêng Nguyễn Lê thỉnh thoảng có mấy cô bán sách cũng làm điêu đứng đám học trò mới lớn.
Nha Trang lúc ấy có khá nhiều rạp ciné. Rạp Moderne của ông Bác Ái không hiểu vì sao đóng cửa sớm. Rạp Tân Tiến thường chiếu phim Ấn Độ. Rạp Minh Châu thì thường có những đoàn hát cải lương – Dạ Lý Hương, Kim Chung, Thanh Minh Thanh Nga. Rạp Thạnh Xương thì chuyên hát bội. Chỉ có rạp Tân Tân và Tân Quang thường chiếu những phim hay: Cuốn Theo Chiều Gió, Gió Đồng Nội, Vũ Điệu Trong Bóng Mờ, Mặt Trời Vẫn Mọc, Lưới Tình Khó Thoát, Ben- Hur, The Vikings…Thời nổi danh của các cô đào Vivien Leigh, Marylin Monroe, Brigitte Bardot, Sophia Loren, Audrey Hepburn, Elizabeth Taylor, Gina Lolobrigida…
Thỉnh thoảng có các đoàn mô tô bay trình diễn trong Sân Vận Động. Tôi không còn nhớ là trong số người đẹp biểu diễn ấy có cô Bạch Yến, sau này trở thành ca sĩ, nổi tiếng với nhạc phẩm Đêm Đông, theo chồng là ông nhạc sĩ Trần Quang Hải sang Pháp, để cho ông nhạc sĩ Lam Phương sáng tác bài Phút Cuối.
Chỉ còn gần em một giây phút thôi.
Một giây nữa thôi là xa nhau rồi.
Nguời theo cánh chim về vui với đời
Để lại thương nhớ cho kiếp đơn côi
Những giờ nghỉ học, bọn tôi đạp xe thơ thần trên con đường Duy Tân, con đường đẹp nhất của Nha Trang, ngồi dưới mấy lùm dương, ngắm biển xanh mà nói chuyện trên trời. Có một đồng bạc đủ để mua một trái cóc khía ngâm đường của mấy người đẩy xe bán dạo. Có khi trèo rào vào Viện Pasteur để hái trộm mấy trái tra. Nha Trang diễm phúc có ông bác sĩ Yersin từ Pháp đến lập các viện nghiên cứu y học, lập Viện Pasteur. Ông đã nằm lại với Nha Trang. Mộ ông ở Suối Dầu và tên ông được đặt cho một trong những con đường “thế giá” nhất Nha Trang.
Hồi ấy bọn con trai chúng tôi cũng thường nghe nói đến các “băng”: Băng thằng Liên Xóm Mới, Băng Thằng Điền, Băng thằng Quách Thanh, Băng Lò Heo…, nhưng không biết các “băng” này chọc trời khuấy nước ra sao, và những vị yên hùng này có giống Điền Khắc Kim, Dũng Đa Kao được nhà văn Duyên Anh đem vào truyện hay không? Nha trang cũng có những lò luyện võ của võ sư Trọng Đãi hay Huỳnh Tiền gì đó, và dưới bờ biển có Judo Club của anh Hàn Phong Cao, con ông chủ khách sạn Phụng Hoàng nằm trước ga xe lửa. Sau này anh là thiếu tá Kỵ Binh Thiết Giáp và làm quận trưởng ở Phan Thiết.
Bọn tôi thường ghé lại các tiệm chè bên cạnh Rạp Ciné Tân Tiến, một đồng một ly mà thấy mình sang lắm. Thỉnh thoảng được cha mẹ thưởng cho ít tiền mới dám đến “kéo ghế” ở phở Hợp Lợi, nem Mỹ Hạnh trên đường Trần Quý Cáp, mì Lợi Ký, sữa đậu nành và Pate Chaud trên đường Độc Lập.
Ngày ấy đám con trai bọn tôi rất mê đá banh. Nha Trang có đội Công Chánh với ông bầu Năm. Có vài lần thi đấu ngang ngửa với các đội Thương Cảng, AJS Sài gòn, gồm nhiều tuyển thủ quốc gia, có thủ môn Phạm Văn Rạng vang tiếng một thời. Trường Võ Tánh bọn tôi cũng có những cầu thủ nổi danh; các anh Lư Văn Thành, Nguyễn Văn Sự, Ngô Lam…tham gia trong đội bóng.
Những ngày cuối tháng chạp, bọn tôi rủ nhau dạo qua chợ Tết. Các gian hàng được bày ra ngay giữa lòng đường Phan Bội Châu, từ trước nhà sách Nguyễn Lê cho đến ngã tư cuối chợ Đầm. Bọn tôi thường đứng tán gẫu với cô bạn cùng lớp trông hàng cho mẹ. Ở tuổi ấy, chúng tôi không còn nô nức chờ đón Tết như thời tuổi thơ, lúc còn sống ở quê.
Nha Trang có chùa Hội Phật Học, nằm trên Mã Vòng đường lên Thành. Cách đó không xa, bên sườn đồi có chùa Hải Đức. Sau này trên đỉnh núi có xây tượng Phật khá lớn. Trước ngày khánh thành, mấy ông VC nằm vùng treo sau lưng tượng Phật lá cờ đỏ sao vàng thật to. Khi cảnh sát đến lấy xuống, bị nổ lựu đạn gài sẵn, hình như có người chết hay bị thương. Tôi nghiệp, chỉ có bọn người man rợ mới lợi dụng cả tượng Phật để giết người. Trước đó, tại rạp Tân Tiến, có lần VC ném lựu đạn làm chết và bị thương khá nhiều người, Đó là hai lần bọn tôi biết được, người CS đã đem chiến tranh và chết chóc đến trong lòng thành phố đẹp đẽ hiền hòa, khuấy động cuộc sống hồn nhiên yên ả của bọn tôi.
Nha Trang có nhà thờ đá, có người gọi là nhà thờ núi, vì nằm trên đỉnh đồi hướng ra Ngã Sáu, giữa góc đường Gia Long – Phước Hải. Những đêm Giáng Sinh, dù không phải người Công Giáo, bọn tôi cũng rủ nhau đến đây xem người ta đi lễ, mừng Chúa ra đời. Sau đó kéo nhau về nhà một thằng nào đó ăn réveillon. Về sau, trong đám bọn tôi có thằng mê một cô bé có đạo dòng, xinh như mộng, bọn tôi thường nghe nó hát “lạy Chúa, con là người ngoại đạo, nhưng con tin có Chúa ngự trên cao…” Cuối cùng nó cũng cưới được cô bé và hai vợ chồng sống rất hạnh phúc cho đến bây giờ.
Đi về hướng Đồng Đế, qua khỏi cầu Xóm Bóng, Tháp Bà Ponagar đứng trên đồi cao nhìn xuống dòng sông Cái chảy lững lờ. Di tích của đế chế Chiêm Thành còn lại. Giờ là nơi để nhiều người đến xin xăm, cầu nguyện một ân sũng từ bà Thiên Y Thánh Mẫu Ana hiển linh nào đó. Cũng là nơi hẹn hò, thề non hẹn biển của những cặp tình nhân vào những ngày vắng khách nhàn du.
Về hướng biển có Hòn Chồng, với dấu bàn tay in trên tảng đá đã được thêu dệt thành nhiều huyền thoại, chứng kiến lời hẹn thề của bao cặp tình nhân, và chắc chắn cũng từng thấm đẫm nhiều nước mắt của những cuộc tình không trọn.
Nhưng trong tất cả các cái tên để nhớ, bọn tôi nhớ nhất là tên của những ngôi trường; Lê Quí Đôn, Kim Yến, Tương Lai, Văn Hóa, Đăng Khoa, Bồ Đề, Bá Ninh, Võ Tánh, Nữ Trung Học, … Ở mỗi ngôi trường, tôi đều có bạn bè những năm đệ nhất cấp. Sau này hầu hết đều chuyển sang Võ Tánh. Ngôi trường công lập lớn nhất và nổi tiếng ở vùng duyên hải miền Trung. Nơi ước mơ của đám học trò, đặc biệt từ những vùng quê như bọn tôi thuở ấy.
Sau bậc trung học, đám bọn tôi tản mát khắp nơi. Một số vào Sài Gòn, ra Huế hay lên Đà Lạt tiếp tực hoc đại học, đa số nhập ngủ, vào các quân trường, rồi ra đi khắp bốn Vùng Chiến thuật. Chiến tranh ngày càng khốc liệt cuốn chúng tôi theo như cơn lốc xoáy. Kẻ chết, người bị thương. Những người may mắn còn sống thì miệt mài ở các chiến trường khói lửa. Năm tháng chỉ còn có súng đạn và mục tiêu trước mặt. Nha Trang, thành phố đẹp đẽ với những hang động tuổi thơ một thời cũng đành bỏ lại phía sau lưng. Có còn, chỉ trong vài phút giây hồi tưởng. Rồi ước mơ trở về sống với Nha Trang sau chiến chinh, khi giã từ vũ khí, lại đến trong đớn đau tức tưởi. Cuối tháng 3/75, Cộng sản chiếm Nha Trang, phủ lên thành phố này cả một trời tóc tang buồn thảm. Nha Trang không còn đẹp, thơ mộng. Và không còn là của chúng tôi. Bọn tôi phải ra đi, đành lòng bỏ lại NhaTrang. Thành phố đẹp đẽ suốt một thời tôi mới lớn, mãi mãi chỉ còn trong ký ức.
Những người đặc biệt tôi đã nhắc tên. Một số đã mất, người còn lại thì hầu hết đang sống tha phương, nhưng có lẽ bây giờ tóc ai cũng bạc. Tôi may mắn được gặp lại vài người. Ai cũng tiếc nuối một thời đẹp đẽ, dễ thương của chính mình, của bạn bè và của cả Nha Trang, xót xa cho một quê hương bỏ lại, giờ vẫn còn khốn khổ dưới bàn tay của những người Cộng sản đang học đòi làm những tên trùm tư bản, trên máu và nước mắt của dân tôi, của những người Nha trang hiền hòa dễ thương ngày trước.

Phạm Tín An Ninh

ĐÃ ĐÀNH…

phudu

đã đành nghiệp chướng dây dưa
mà sao tôi vẫn hàm hồ là tôi?
đã đành viễn mộng xa xôi
mà sao giả cảnh chưa rời huyễn sinh?
đã đành chân ngụy bồng bềnh
trong hư vẫn thực bóng hình đa mang
đã đành vân cẩu chóng tan
biển dâu một độ vẫn còn biển dâu?
đã đành quán trọ, vó câu
nước còn róc rách bên cầu nhân gian
đã đành tôi vẫn lên đàng
mà đi xa mãi chưa sang được bờ?
đã đành ý mộng tình thơ
vẫn còn lưu chút dại khờ trăm năm
thì thôi, tôi cứ lần khân
phiêu sinh với cõi phong trần trả vay.

PHÙ DU

Một mai

nguyenhanchung

em không còn nữa với tôi
một mình tôi một mình tôi một mình
xa em tôi vẫn có tình
yêu em tôi cất để dành không tiêu

những khi túng thiếu đâm liều
đem thơ ra chợ tình yêu đếm hoài
đếm mà không bán cho ai
cất trong sợi tóc đời trai ngậm ngùi

bao giờ tình ái lôi thôi
lại lôi ngọn mía cũ lùi tàn tro
bao nhiêu là những hẹn hò
ở trong mật mía sẽ cho ngọt bùi

em không còn vẫn còn tôi
còn tôi còn có một người có em
ví dầu tăm cá bóng chim
tôi còn của nổi của chìm trong kho

NGUYỄN HÀN CHUNG
17/12/16

HÃY MƠ, SẼ CHẠM ĐƯỢC

nguyenthiminhngoc

img_1794%20f1

“Đố ai nằm ngủ không mơ..” Trong giấc mộng của mình, người thi sĩ của dân gian mơ thấy: “Nửa đêm trăng xuống, đứng đợi ngoài hiên, Nửa đêm anh đến, bến bờ yêu thương.. Đố ai tìm được tim ai..”
Mỗi lần nghe bản nhạc mang hơi hướng dân ca “Đố Ai” của Phạm Duy tôi cứ liên tưởng tới nhà thơ Tagore. Trong một bài thơ, ông đã xin người thiếu nữ hậu sinh của trăm năm sau, hãy tha thứ cho ông nếu ông hình dung ra dưới ánh trăng im lìm lai láng, nàng đang đọc thơ ông và tưởng tượng “nếu thi nhân còn sống đến ngày hôm nay, ắt hẳn chàng yêu ta” . Ông còn mơ mòng rằng đêm đó, nàng đã chong đèn suốt đêm ngoài ban công chờ thi sĩ đến mặc dù nàng biết chắc rằng người tình sống trước nàng trăm năm ấy chẳng bao giờ vượt được khoảng cách thời gian ấy để đến với nàng.
Đố người sáng tạo nào làm nên những tác phẩm lớn mà thiếu đi yếu tố mơ màng?. Một trong những người mơ mộng đi trước thời đại là June Verne, “cha đẻ” của thể loại “khoa-học viễn tưởng”. Trước khi máy bay, tàu ngầm và phi thuyền vũ trụ ra đời, ông đã cho độc giả được thưởng thức những cuộc hành trình kỳ thú bằng các phương tiện nầy trong các tác phẩm: “Tám mươi ngày vòng quanh thế giới” , “Hai mươi vạn dặm dưới đáy biển”, “Hành trình vào tâm quả địa cầu”…
Chúng ta thường nói đùa với nhau, ước mơ có bao giờ bị đóng thuế, lao vào nó ta chỉ có cửa ăn, cửa huề chớ có cửa thua đâu mà phải ngại ngần giới hạn nó.
Nói như vậy không có nghĩa mơ mộng chỉ có mặt tích cực của nó. Lady Macbeth vì tham vọng quyền lực cho phu quân, đã giải điềm gặp ba phù thủy của chồng thành hành động thúc ép chồng giết vua để đưa đến bi kịch đời họ cùng nhiều người liên lụy. Ta ủng hộ những con người giàu ý chí, có khả năng biến “ước mơ thành hiện thực” cũng như những người “biến đau thương thành sức mạnh” , có thể đứng dậy, vươn cao sau khi té ngã, nhưng cũng mong đi kèm theo đó là một chữ tâm tỏa sáng cho cơn mộng đẹp và lành của cả nhân thế chứ không chỉ thỏa hạnh phúc bình an cho mỗi cá nhân mình.
Năm Quý Tỵ tới đây, thoáng chốc mà tôi đã có mặt trên cõi đời nầy đúng tròn 5 con giáp. Nhìn lại những ước mơ mình đã vun bồi trong đời, tôi thấy mình khá may mắn khi những giấc mơ được biến thành sự thật của mình có thể số lượng ít hơn nhưng mang giá trị sống với tôi và những người chung quanh nhiều hơn những cơn mộng vỡ.
Thử hình dung sau một cuộc chiến quá dài, vào những ngày sau 30 tháng 4 năm 1975, thời gian vừa hòa bình nhưng thất tán người thân yêu, thất tán cả những mộng mơ thời mới lớn, tuyệt vọng trong việc tái ngộ khát vọng nối bước theo con đường nghệ thuật gian nan gần như độc hành của những người thầy, ở tuổi đôi mươi, bưng thùng thuốc lá bán lẻ, trôi từ vĩa hè góc Đinh Tiên Hoàng Hồng Thập Tự sang sân thềm Viện Đại Học ngó sang Hồ con Rùa, rồi góc Pasteur- Nguyễn Đình Chiểu, có những chiều mưa ế, tự làm khách hàng cho chính mình, tôi vẫn không dập tắt chút lửa mơ màng rằng sẽ có lúc mình trở lại cái công việc sáng tạo nầy. Rồi biết đâu, một trong những tác phẩm của mình được chu du .. thế giới và đó sẽ là lý do để thầy trò tái ngộ.
Cuốc sống như sóng sau xô sóng trước, những được mất, thành bại, khóc cười đan xen mà những tiêu cực hậu trường cho đến giờ vẫn chưa thể kể, sau khi trở thành người viết, người diễn, người dựng, người dạy với những hoàn cảnh đôi khi ngoài ý muốn, có cơ hội đi gần hết nhũng tỉnh thành trên đất nước mình và khoảng trên mười mấy thành phố của xứ người, cho đến đúng 32 năm sau, một ngày tháng tư, năm 2007, đang sống tại Bismarck, North Dakota là một thành phố chỉ có mấy chục ngàn dân trên đất Mỹ, tôi nhận một giấy mời báo tin mình được chọn làm nhân vật mà Đại Hội điện ảnh thế giới về Việt Nam(VIFF) ở California, US chọn để chiếu vào -“spot-light” (Được biết năm 2003, mới thành lập, VIFF “chiếu” Victor Vũ, năm 2005, VIFF “ chiếu” chị Kiều Chinh, 2009 là Dustin Nguyễn và 2011 là Khoa Đỗ ở Úc).
Trong giây phút được tuyên dương, nhìn ra và mời được người thầy dạy điện ảnh cho tôi là đao diễn Đặng Trần Thức, nay tóc đã muối tiêu lên đứng cạnh mình, tôi bỗng rùng mình khi cảm giác như mình đã chạm được cơn viễn mơ cách đó mấy mươi năm mà khi khởi mộng, tôi không bao giờ dám nghĩ ước mơ ấy sẽ có ngày thành sự thật.
Bạn tôi, những người trẻ tuổi đã và đang nhen những giấc mơ tương tợ như tôi. Hãy đi, sẽ đến, hãy tìm, sẽ gặp, hãy gỏ, sẽ mở. Hình như kinh thánh đã nói như thế. Và bạn có thể cho thêm vài chữ nữa, HÃY MƠ, SẼ CHẠM ĐƯỢC, trong kinh thánh của tôi, Nguyễn Thị Minh Ngọc, vào những năm tháng trở lại năm sinh Quý Tỵ của mình.

Nguyễn Thị Minh Ngọc

NGỒI DƯỚI TRĂNG TAN

hacthanhhoa

Khi trở lại thành phố sầu quá khứ
Mây bỗng tan thành lệ xót thương đời
Em bỗng chốc thành vầng trăng xa lạ
Nhỏ mật vàng cho đắng khắp hồn tôi…
*
Như con thú nhận mũi tên tẩm độc
Một phút thương em biết mấy thu sầu
Ta muốn lánh mọi người nghe tình khóc
Một mình nằm chết lặng giữa hang sâu
*
Rất sợ phải nhìn trăng mới mọc
Một vùng ánh sáng lạnh buốt thân
Trăng càng cao hồn càng điên điên mãi
Nguyệt bạch tan thành một cõi băng
*
Trăng thành nước lạnh xối trên da
Vàng phai từ độ bóng nguyệt tà
Những đêm măt đất mênh mông quá
Một bóng ta dài xa rất xa
*
Từ nay xin trăng đừng mọc nữa
Mỗi giọt trăng mang một biển sầu
Trăng nhìn đắm duối làm ta sợ
Những sợi tơ mềm đủ giết nhau…
*
Khi trở lại thành phố sầu quá khứ
Mây đã tan và trăng đã tan rồi
Chỉ còn lại nỗi sầu như con thác
Cứ đêm ngày tuôn mãi xuống lòng tôi

Hạc- thành Hoa
1971