Bệnh viện

nguyendinhbon

Một ngày làm khách nơi bệnh viện
Thấy phận mình chưa phải héo tàn
Những mắt trẻ thơ buồn hiển hiện
Những đời thiếu nữ đã vương mang

Có cô con gái dìu ông lão
Có cậu trai ngồi đợi mẹ già
Cả hai ra góc chùi nước mắt
Chắc lòng tan nát sợ chia xa

Hành lang đông đúc người đi lại
Những mặt đăm chiêu trước cửa phòng
Những phận quê nghèo lên phố thị
Áo quần nhàu nát nỗi long đong

Bác sĩ cho rất nhiều xét nghiệm
Hỏi mình “Tim loạn nhịp lâu chưa?”
Thưa rằng: “Loạn nhịp từ khi hiểu
Đất nước trong tay kẻ bạo tàn”!

Nguyễn Đình Bổn
4.1.2016

RƠI…

vuhytrieu

chiều rơi
vài giọt nắng sầu
ngẩn ngơ con nhện
buồn rầu giăng tơ
dường như
rất đổi tình cờ
thơ tôi rụng xuống
đường tơ giăng buồn
tơ chùng
nặng nỗi niềm buông
tơ rơi…
mấy đoạn thơ buồn
rơi theo…

Vũ Hy Triệu

Tình cũ

dinhlevu

Lần đầu tiên anh gặp Liên là ở sinh nhật Văn.

Lúc đó, anh vừa học xong, mới tìm được việc làm.

Liên là sinh viên trường nhạc. Mắt đen láy, môi mọng, tóc dài vấn vít, cô không hổ danh là hoa khôi trường nhạc.

Trong buổi sinh nhật, bạn bè đùn đẩy, anh ôm guitar hát How can I tell her – ca khúc thịnh hành thời đó của Lobo. Lúc ôm đàn ngân nga, anh không nghĩ sẽ có lúc mình rơi vào tình cảnh như chàng trai trong bài hát. Làm sao anh có thể kể với nàng – về em?

Sinh nhật tan, Văn nhờ anh đưa Liên về. Đường về nhà cô ngang qua một con hẻm nhỏ, đêm cuối tháng, trời tối đen như mực. Thình lình, có con chó nhà ai bất ngờ lao ra, sủa váng lên. Anh nắm tay dắt cô chạy tránh con chó. Rồi bằng một cách nào đó, anh hôn cô, trong tiếng chó sủa khan, nhịp tim đập loạn xạ, run gần chết.

Lúc đó, anh đã có Thư ở quê.

Hậu sinh nhật, anh tình cờ gặp Liên nhiều hơn. Gặp ở cổng trường, gặp ở thư viện, ở căngtin, hay có khi ở dãy hành lang lớp học vắng tanh.

Liên chưa bao giờ nói yêu anh, cũng không hỏi anh có yêu cô không. Cô đến với anh tự nhiên, cuồng nhiệt, như con người cô là vậy, như mối quan hệ của hai người mặc nhiên là vậy, không cần gìn giữ. Cô cũng không hỏi anh về Thư, dù có lần ở nhà trọ của anh, cô có nhìn thấy tấm ảnh anh chụp chung với Thư. Trong tấm ảnh, Thư ngả đầu vào vai anh, âu yếm.

Liên biến mất sau chuyến anh về quê hỏi vợ. Anh đi tìm cô quanh thành phố, nhưng không tìm ra. Thật lòng, anh không nhớ cô lắm, chỉ nhớ mê đắm cảm giác ngọt ngào cô mang lại, mỗi lúc hai người bên nhau.

Rồi anh cưới vợ. Cưới Thư. Ở quê, ba mẹ, bạn bè hai bên đều biết anh quen Thư từ hồi lớp chín.

Đám cưới xong, Thư theo anh, bỏ quê ra thành phố. Anh sống với Thư êm đềm, đời sống không có gì phải phàn nàn, cũng không có gì để mơ tưởng thêm. Chỉ có điều, vợ chồng anh không có con. Những năm đầu hôn nhân, Thư vật vã, lôi anh hết bệnh viện này đến thầy lang khác, làm đủ mọi cách nhưng vẫn không có kết quả, dù không xác định được nguyên nhân là do ai. Dần dần, anh mặc kệ, có con cũng vui, không có con cũng vui.

Không có con, đời sống vợ chồng anh vẫn cứ êm đềm. Sẽ cứ êm đềm như thế đến hết đời, nếu không có cuộc điện thoại bất ngờ của Văn, thằng bạn cũ. Văn nói Liên ở Mỹ về chơi, muốn gặp anh. Thì ra lâu nay, Liên ở Mỹ. Nhưng sao hồi đó đi mà không nói với nhau được một tiếng?

Anh một mình đi gặp Liên. Anh không muốn Thư nghĩ ngợi.

Hai mấy năm qua, thời gian đã lấy đi của anh nhiều thứ, từ màu tóc, đôi mắt, khóe miệng cười đến vóc dáng cao gầy, cái bụng phẳng. Nhưng thời gian có vẻ không lấy đi chút gì của Liên hết. Liên vẫn trẻ đẹp, còn đẹp và quyến rũ hơn xưa. Ánh mắt của cô vẫn đăm đắm và hấp dẫn chết người.

Họ gặp nhau ở một nhà hàng kín đáo. Liên đặt sẵn một phòng riêng, chỉ có anh và cô. Nhạc văng vẳng những giai điệu quen của Lobo, dĩ nhiên là có How can I tell her. Liên giải thích:

– Em thích Lobo, hồi đó tới giờ, vẫn thích.

Họ ăn uống nhâm nhi, nói chuyện vu vơ và uống rượu. Không khí từ từ nóng lên. Ánh mắt cô nhìn, cái miệng cô cười như có lửa đốt.

Liên nói:

– Nghe anh sống hạnh phúc, em mừng.

Anh mỉm cười.

Cô lại nói:

– Em cũng ổn. Chồng em thương em.

Anh cụng ly:

– Anh mừng cho em.

– Anh có biết vì sao em về đây tìm gặp anh không? – Có vẻ cô đã ngà ngà say nhưng giọng nói vẫn khá tỉnh táo.

Một cơn rùng mình đột nhiên chạy dọc sống lưng anh. Những cơn rùng mình luôn báo hiệu một điềm gì đó, không bao giờ là vô cớ.

Cô hỏi:

– Hình như anh chị không có con?

Anh gật đầu.

– Nếu bây giờ em nói anh có một đứa con, anh nghĩ sao? – Cô nhìn thẳng vào mắt anh, chờ đợi.

Anh sửng sốt. Phản ứng đầu tiên là chối bỏ, phủ nhận:

– Không thể nào như vậy được.

Cô cười gượng:

– Ủa, vậy hả? Coi như em lỡ lời, chưa nói gì.

Câu nói của Liên làm anh mất ngủ, không yên. Anh nghĩ về đứa con. Nếu nó có thật trên đời này, nó là trai hay gái? Chắc nó cũng khoảng hai bảy, hai tám tuổi gì đó. Nó giống ai, có nét gì của anh không? Tại sao lâu nay anh không hề nghĩ là mình có thể có con, dù là một ý nghĩ thoáng qua? Nó có biết về anh không, có muốn gặp anh không? Gặp nhau, anh sẽ nói gì với nó? Ý nghĩ về đứa con làm anh đau đớn. Anh thấy mình thật đáng trách. Bây giờ, anh đang rơi vào tình cảnh trớ trêu của bài hát ngày xưa. Làm sao anh có thể nói với Thư về Liên, và đứa con?

Anh không lường được phản ứng của Thư, khi biết về đứa con. Nhưng đó không phải là mối quan tâm hàng đầu của anh lúc này. Quan trọng là anh có một đứa con.

Anh đi tìm Liên, nhưng cô lại như lần trước, biến mất không dấu vết. Anh đã ngoài năm mươi, không còn là gã trai ngây ngô và hời hợt ngày xưa. Dù có bới tung cả thành phố này lên, anh vẫn phải tìm cho ra Liên. Anh đã mất cô một lần, anh không thể sai lầm lần nữa. Gặp cô, anh sẽ xin phép, năn nỉ cô cho anh được gặp con, được nhìn thấy nó, xinh xắn, trưởng thành. Anh bắt đầu hình dung về bức tranh tuổi già đầm ấm, hạnh phúc của chính mình.

Sau gần cả tháng dò tìm, cuối cùng anh cũng gặp được Liên. Nhờ Văn giúp. Thông qua Văn, cô hẹn gặp anh ở nhà hàng bữa nọ. Lúc anh đến, cũng đang là giai điệu rất quen của How can I tell her. Liên ngồi uống rượu một mình, có vẻ đã ngà ngà say.

Cô chỉ hơi nhíu mày khi anh nói về đứa con. Giọng cô lè nhè:

– Anh nói cái gì? Đứa con nào? Em giỡn chơi mà. Làm gì có chuyện em có con với anh? Bữa đó em chỉ giỡn chơi thôi, em xin lỗi!

ĐINH LÊ VŨ

MÁ ƠI!

nguyentri

Tám tuổi và sau hai năm lớp một Thơ đã nghỉ học. Bà cô giáo không bằng cấp và lương lậu. Bà dạy chẳng qua giúp cho bầy trẻ không lê la quán chợ đầu đình. Cha mẹ chúng cho đồng bạc hay ký lúa thì tốt, không có cũng không sao. Nghèo phải chịu vậy. Vậy rồi sau hai năm rời lớp tình thương Thơ không đánh vần cũng như không viết được. Ngay khi ôm vở con bé còn không lần ra mặt chữ thì lấy cái gì để nhớ nhiếc mà viết với đọc? Đó là Thơ còn có cái để khoe là con học lớp hai rồi, còn em Nghĩa thì khỏi học luôn. Nếu má không bỏ đi có lẽ Thơ vẫn còn học và cu Nghĩa cũng được đến trường. Thơ nghe cô Tư – chị của ba – nói:
– Mày cũng cho thằng Nghĩa đi học chớ Hậu, cứ để nó dang nắng hoài sao?
Ba lè nhè. Lúc nào ba cùng nhè:
– Kệ đi chị Tư. Tui với chị mấy học? Cả nhà mình có ai đọc được tờ báo mà cũng sống chớ có chết đâu mà lo.
– Tao với mày khác Hậu ơi. Thời kiếm không ra cái ăn qua lâu rồi em à.
– Mệt bà quá. Kệ tui.
– Con Thi ở được với mày kể cũng lạ. Trước sau gì nó cũng bỏ mày cho coi.
– Tui đố đó.
Vậy rồi một sáng nào đó Thơ không nhớ nữa. Chị em Thơ thức dậy và không thấy má. Tưởng má theo cô Tư đi làm. Trưa về ba hỏi:
– Má đâu Thơ?
– Ủa… Má đi làm với cô Tư mà.
– Mày chạy qua cô Tư kêu má về. – Ba lầm bầm – thứ đàn bà chuyện nhiều, giờ nầy mà không cơm nước gì hết trơn.
Bên cô Tư không có. Thơ chạy đi khắp xóm nhưng:
– Tao nói mà mày đâu có nghe – cô Tư thở dài – Nó đi luôn cho mày coi.
– Thơ – cha biểu – mày chạy quá quán bà Tám mua tao chai rượu. Bà mẹ… nó đi đâu vậy kìa?
– Mày uống vừa thôi Hậu…
– Kệ tui … tui uống tiền tui chớ tiền của bà à?
Bình chân được hai ngày ba Hậu bắt đầu đôn đáo, nhưng biết kiếm má ở đâu? Bà con cô bác kẻ nói đông người nói tây. Phán khơi khơi rằng coi chừng vợ mày bị tụi chơi bùa yêu dẫn đi rồi Hậu ơi. Ba đi coi thầy. Thầy nói có con ma dấu má rồi. Muốn về phải đem cho thầy cái áo để thầy làm phép. Ba đem cả áo cả quần đến. Tiền cúng cho âm hồn cũng bồn bộn. Ba có bớt uống và ra sức nhờ hết thầy đến cô. Một tuần rồi một tháng trôi qua. Má không tăm dạng. Thầy cả cô đổ thừa thiếu cái món tóc rối nên bùa không linh. Hết tiền ba bần thần ngồi. Em Nghĩa cứ má ơi má hỡi ơ hời như nhà có đám ma vậy. Thơ nhìn cha rồi quay qua dỗ em. Má đâu rồi má ơi? Trời ơi Thơ buồn quá đi.
Cô Tư nói với Ba:
– Mày dẹp ba cái vụ thầy bà cô cậu dùm tao Hậu ơi. Có bao nhiêu đem quăng kiểu đó là con mày đi ăn mày à. Mày bỏ rụ là con Thi nó về cho mày coi.
Nhưng ba không còn cơ hội để thầy bà vì dượng Tư đưa công nhân đi Tây Ninh thi công theo yêu cầu của chủ thầu. Ba phải đi và tất nhiên chị em Thơ Nghĩa phải theo, cái cơ hội đến trường là biệt tăm nếu không có cuộc du hành từ Tây Ninh xuống Đồng Nai. Đời công nhân xây dựng như vậy đó. Nay tỉnh nầy mai tỉnh khác là chuyện hết sức thường. Đến đâu phòng trọ đến đó. Ở nơi mới cô Tư thuê nguyên một dãy trọ mới thi công xong. Toàn bộ thợ thầy của cô dượng ngụ lại một chỗ. Vui không thể tả vì gần chợ và quán tiệm kề bên. Buổi sáng cà phê cóc nổi nhạc ì ì. Buổi chiều thợ thầy cũng ì ì nhậu nhẹt. Hai chị em Thơ Nghĩa luôn có tiền mấy chú thợ cho khi họ nhờ đi mua rượu. Ông chủ tiệm hỏi cô Tư:
– Cháu bà hả?
– Dà… cháu kêu tui bằng cô đó anh.
– Vợ chồng bà ít gì cũng cai thầu. Nghĩ sao mà dẫn con cháu theo không cho học hành? Má nó đâu tui hổng thấy?
– Anh Hai à – Cô Tư kéo Nghĩa vào lòng rồi ca cẩm – cha nó hư hao lắm anh. Rượu suốt, có bao nhiêu là đổ hết vô ma men. Má nó chịu không xiết nên bỏ đi.
Chủ tiệm nói:
– Hai đứa con xinh xắn như vầy chắc không đến nỗi bỏ luôn đâu bà ơi. Cổ đi đâu đó thời gian rồi cũng về thôi mà. Cho nó đi học đi chớ…
– Tui còn có cả bầy cháu nội lóc nhóc anh ơi.
– Cháu nội thì mắc chi vợ chồng bà? Cha mẹ nó đâu? Bà phải biết bổn phận của ông bà là chỉ có thương cháu thôi, còn cha mẹ nó lo, bộ bà lo luôn phần của cha mẹ nó hả?
– Thấy tui thương cháu quá nên cha mẹ nó ỷ anh à…
– Nè – chủ tiệm nói với ba – Sao không cho thằng nhỏ đi học? Để nó lông bông vậy ngó được sao? Không cho đi học ba bữa lớn lên nó hư cho ông coi.
– Tui tuốt dưới ít-y-zét làm sao đi học được anh hai?
– Ở đây cũng có trường. Bên họ đạo người ta mở lớp dạy chữ cho con em công nhân các tỉnh. Từ sáu giờ sáng tới sáu giờ chiều. Miễn có tiền, mà ông thì ngày công ba trăm ngàn. Tiếc làm chi mà không cho con đi học?
– Không có khai sanh làm sao xin học anh Hai?
– Làm sao mà không khai sanh?
– Có nhưng ở dưới quê rồi.
– Để tui cho mượn cái khai sanh của thằng cháu nội.
– Được không? Lỡ nhà trường họ biết thì làm sao?
– Cháu tui lớp một bên trường chính rồi. Bên họ đạo tui quen hết nên có thể nói họ thông cảm.
– Học hành vậy một tháng bao nhiêu anh Hai?
– Đã cho đi học thì đừng tiếc tiền. Cái gì mua được bằng tiền đều rẻ hết ông biết không?
Vậy là Nghĩa được đi học. Còn Thơ? Mười tuổi đâu thể vô mầm chồi lá được. Muốn đến trường thì phải học bạ. Thôi thì được đứa nào hay đứa đó. Chủ tiệm bảo vậy. Rồi thêm rằng:
– Mày ở nhà lo nấu cơm cho cha, thằng Nghĩa đi học về là kèm thêm cho nó. Cái gì không biết tao chỉ cho. Nhân tiện mày cũng ôn lại để sau mà đọc báo với người ta.
Nhưng Thơ không nấu cơm nước chi ráo. Buổi sáng ba xách xe chạy ra chợ mua ba hộp cơm. Trưa cũng cơm hộp. Chiều không hộp nhưng mà tiệm. Sữa hộp cho cu Nghĩa đi học, ba cho Thơ mười ngàn muốn xài chi đó thì xài. Lại dặn ông chủ tiệm:
– Ở nhà con Thơ mua gì anh cứ bán rồi chiều tui tính cho nghe anh Hai.
Khi thợ thầy lên đường thì dãy trọ hiu hắt liền. Thơ lẩn quẩn bên tiệm của ông Hai. Con nhỏ cũng dễ thương, nó phụ bà Hai tráng lại ba cái ly, cái phin cà phê. Đúng là chưa mọc lông ống mà đã muốn ra ràng nên cũng biết lấy lòng người. Quán tiệm cũng vắng. Lâu lâu mới có người dừng xe mua gói thuốc hay ly cà phê mang đi. Cũng có người a lô biểu bưng đến đó kia cho họ ly chi đó là Thơ giúp bà Hai liền. Sau đó là rảnh. Rảnh lắm. Rảnh nên bà chủ tiệm mới hỏi sau khi cho Thơ cái kẹo mút loại hai ngàn đồng một que:
– Sao má bỏ đi vậy con?
– Tại ba đánh má. Say là ba đánh…
– Có khi nào má về thăm hai chị em con không?
– Dạ có. Hồi còn ở dưới quê má về thăm hoài và cho tiền hai chị em con nữa.
– Sao con không đi với má?
– Dạ… bữa ba đánh má. Má dắt con đi bị ba lấy rựa đòi chém. Ba nói…
– Nói sao hả con?
– Mày mà dẫn con Thơ đi là tao chém thằng Nghĩa cho mày hay. Tao nói là tao làm à.
– Ba nói vậy chớ làm gì dám.
– Nhưng mà ba có chém một người rồi đó bà Hai. Ở tù sáu tháng luôn đó.
Chủ tiệm gật gật ra chiều đã hiểu, sau đó cho con bé ly xi rô đá bào:
– Trưa ăn cơm với vợ chồng bà Hai nghe.
Nghĩa đi học từ thứ hai đến thứ sáu. Thứ bảy, chủ nhật cu cậu ở nhà. Sáu tuổi nên Nghĩa nghịch như giặc. Nó lọ mọ lôi đủ thứ từ vỏ xe đạp đến ba que củi, nó rủ con Thơ chơi lăn xe và đánh kiếm. Bực bội quá chủ tiệm ra lịnh:
– Thơ. Mày lấy tập vở ra cho nó ôn bài dùm tao cái.
Sáu tuổi mà mới bắt đầu a ă â bờ cờ thì tội quá đi thôi. Con Thơ dạy:
– Đây là chữ bê.
– Đâu phải. Đây đâu phải chữ bê. Cô tao dạy chữ bờ.
Thơ cốc lên đầu Nghĩa:
– Tao nói chữ bê. Chữ nầy tao học rồi.
Chủ tiệm cũng ngớ người, chả biết phải nói sao cho cả hai chị em hiểu rằng bê hay bờ là một. Thiệt là rắc rối. Lại lịnh:
– Mày dọn cái bàn cà phê dùm, còn chuyện dạy nó học để cho tao.
Chủ tiệm lấy một cuốn vở. Viết một trang chữ A bằng bút chì rồi kêu Nghĩa đồ lại. Thằng cu đánh vật với cây viết thấy mà tội. Chiều về Thơ đem ra khoe với cô Tư. Nó không khoe với ba Hậu vì ba đang bên bàn rượu với bạn. Thợ xây dựng thì chiều sương sương đôi xị là chuyện thường. Và khi đang đánh bạn với ma men mấy ai quan tâm đến chữ nghĩa. Thơ méc cô:
– Chữ nầy cô con dạy là chữ bê mà cô thằng Nghĩa và ông Hai đọc là bờ. Vậy là con sai hả cô Tư?
– Không sai đâu con bê với bờ cũng vậy. Dưới quê mình đọc là bê lên đây người ta đọc bờ.
Rồi Thơ nghe cô phân trần với ông Hai rằng do bà cô dưới quê dạy theo kiểu cũ nên nó vậy đó anh Hai. Sao mà rắc rối ba cái đánh vần này quá anh há? Ông chủ quán nói tui bó vụ nầy như bó tay với cha của hai đứa nhỏ vậy. Ông Hậu uống kiểu đó chắc trước sau gì cũng chết vì xơ gan cổ trướng. Nay mai hai đứa nầy biết ra sao hả bà? Mẹ nó phải về mà lo cho con, kiểu nầy hai đứa nhỏ hư mất. Chắc cha Hậu đứt bóng bả mới về quá?
Cô Tư nói:
– Nó không về đâu anh ơi.
– Nói vậy chớ con cái đứt ruột đẻ ra không ai bỏ được đâu chị.
Vậy rồi thôi. Nghĩa đi học, chiều về hai chị em mang tập ra đọc và viết theo chỉ huy của ông Hai. Nhờ vậy Thơ rành a bê xê tức a bờ cờ, dê đê e từ dờ đờ e. Thơ cũng tập tọng viết được. Đang ngon lành thì sáng ấy ba không đưa Nghĩa đến nhà trẻ nữa. Ông Hai hỏi:
– Sao không chở thằng Nghĩa đi học hả anh Hậu?
– Thôi nghỉ luôn ông ơi. Tháng bảy trăm ngàn bạc mà thấy không ra ôn gì tui cho ở nhà luôn.
– Trời ơi là trời – ông Hai kêu lên – chữ nghĩa chớ đâu phải cái bay cái máng mà sáng làm chiều thu hoạch ông nội ơi. Con ông dốt mà ông chịu được sao?
– Kệ tui đi ông Hai. Ông cho tui xị rụ súc miệng cái coi. Còn học hành thì đèn nhà ai nấy sáng trán của ai nấy xỉ ông Hai há?
Ở nhà hai chị em sướng lắm. Buổi sáng sau điểm tâm khi cơm khi cháo lúc bún riêu ba cho thêm hai chị em đứa mười ngàn. Thơ thấy ông Hai lắc đầu vì ba vẫn tiếp tục uống rượu khi bạn thợ ai về phòng nấy sau vài ly sương sương gọi là giải mỏi:
– Hậu à – ông Hai nói – ông uống mà không ăn kiểu đó thì chết nay mai chớ không lâu đâu. Ông cứ vầy rồi hai đứa con ông làm sao nên người hả ông?
– Khì khì… sống chết có số anh Hai ơi. Còn con tui hả? Ông không nghe câu đời cua cua máy, đời cáy cáy đào sao?
– Chả có cái số nào dính dấp vô cái bê tha và liều mạng của ông.
– Mà mắc chi đến anh? Tui uống kệ tui, con tui cũng ngày ba bữa, tắm rửa cũng ba lần thua chi con ao. Thằng Hậu nầy không dễ chết anh Hai?
Chủ quán lắc đầu. Vợ chủ quán cũng xen:
– Kệ người ta. Ông sao mà đa sự quá, lo cho cháu nội của ông kìa.
Và ông Hai thực là đa sự. Ông không cho chị em Thơ lê la nghịch bẩn và phá phách. Khi mọi chuyện của quán xá tạm gọi là yên ắng, ông bắt hai chị em lôi sách vở ra tập đọc và viết. Buổi chiều mới đặc biệt. Đúng hai giờ ông lôi thằng cháu nội đang học lớp một ngồi vô bàn và buộc phải viết một trang luyện chữ. Thơ và Nghĩa cũng phải đúng một trang:
– Có như vầy – ông nói với bà – cháu mình mới cố để hơn bạn.
Bà Hai nói:
– Cháu mình đã tủi nhìn hai đứa nầy còn tủi hơn
Nhưng rồi chuyện học ở nhà cũng không xong. Tất cả tốp lại vì ba Hậu bệnh. Thấy Ba ôm bụng rên siết hai chị em Thơ Nghĩa khóc như ri. Cô Tư mặt xám ngoét và đôi mắt đầy âu lo. Cô chạy ra hiệu thuốc tây và đem về cả chục túi nilon đựng đầy thuốc. Ông Hai lắc đầu:
– Chị đưa ổng đi bệnh viện, kiểu nầy là bị sưng gan chứ không thường đâu.
Cô Tư kêu Taxi rồi lôi cả hai chị em lên bệnh viện huyện chăm ba. Cô còn phải hợp sức với dượng cái khoản chỉ huy công nhân thi công công trình. Lơ một chút là chết với thợ thầy liền. Không có chủ họ cầm bay cầm búa đứng chơi thì lỗ sặc gạch. Cô phải chạy đi chạy về giữa công trình và bệnh viện. Em út mà không lý bỏ nó sao? Nhưng dượng Tư thì không vậy. Cả nửa tháng ròng chân viện chân công trình, bê trễ đủ thứ chuyện thánh còn cáu nói chi ông Tư vai u thịt bắp. Nghe cô nói bệnh viện đề nghị chuyển lên tuyến trên là ông bực mình:
– Lên tuyến trên cũng chết với bệnh ung thư gan. Mà ai nuôi nó trên tỉnh? Bà hả?
Trời ơi. Bệnh hiểm vầy thì chỉ có vợ mới lo được. Mà vợ thì đâu nữa mà lo. Cuối cùng cô Tư phải nghe theo kế sách của ông Hai là đem ba về rồi uống thuốc nam từ thiện của chùa:
– Anh Tư nói đúng đó chị Tư. Ung thư gan có đem qua Mỹ cũng chết. Chị cứ đem về đây rồi lấy thuốc chùa cho ổng uống. Chị không có tiền tỷ để lo cho em chị đâu.
Nghe tin sẽ đưa kẻ bệnh ngặt, nguy cơ chết mười mươi về phòng, ngay lập tức chủ trọ phản ứng:
– Tui là tui không đồng ý đưa ổng về đây đâu. Ổng mà chết trong phòng là cả dãy trọ nầy tui khỏi cho thuê luôn.
Mà thiệt vậy. Ai đâu muốn có người chết trong chỗ làm ăn của mình? Thà không biết hoặc ai đó bị bất đắc thì không nói, đằng nầy sờ sờ ra đó. Ai lại rước ma vô? Ừ, tui vậy đó – chủ trọ nói – Mấy người thuê được thì thuê không thì trả phòng lại cho tui. Đang rối như canh hẹ thì điện thoai của bà Tư có cuộc gọi tới. Mặt đang xám sơ sơ bổng ngoét lại và đôi lông mày nhíu gần sát luôn. Nghe dà dà liên tục chả ai hiểu chi. Xong cuộc gọi, người ta thấy nước mắt chạy dọc xuống má bà Tư:
– Sao? Cái gì mà khóc? – Ông Tư hỏi.
– Nó chết rồi.
– Nhanh dữ vậy?
– Mà sao chết?
– Trời ơi là trời – bà Tư kêu lớn – bịnh cỡ đó mà nó còn mò ra quán trước cổng bệnh viện mua rượu. Nghe đâu làm có mấy hớp mà ói máu chết ngay tại quán của người ta… Bây giờ tính sao hả anh Hai? Anh giúp với chớ tui rối quá rồi.
Hai chủ tiệm thở ra:
– Bây giờ cả tui cả chị không cần phải lo nữa. Dịch vụ tang ma lo hết chị ơi.
Xe của dịch vụ mai táng vô tận nhà chung sự của bệnh viện. Hai chị em Thơ Nghĩa lên xe cùng cái băng ca đựng xác cha. Hai đứa được đưa về tận trại hàng. Cô Tư và ông Hai đi hết dãy hàng nầy đến dãy hàng khác để chọn. Và rồi đạo tỳ bê một cỗ áo quan lên xe. Cỗ áo đẹp lắm, nó được sơn son có cả hình con rồng óng ánh như vàng thiệt vậy. Thằng Nghĩa nói:
– Đẹp ghê há chị Hai.
Chiếc xe đưa hai chị em và cha về lại phòng trọ. Thiệt là lẹ. Người ta đã dựng xong một mái hiên di động. Bàn ghế được xếp sẵn như ngày nào chưa xa lắm cô Tư làm đầy tháng cho cháu nội. Người ta bê ra hai chiếc ghế dài đặt dọc theo mái hiên. Cỗ áo quan được đặt trên hai chiếc ghế ấy. Thơ thấy một ông thầy áo nâu đang bấm bấm ngón tay, phán rằng:
– Tuổi nầy, giờ nầy liệm được rồi.
Cha được đưa vô quan tài. Và tiếng tụng kinh gõ mõ vang lên.
Đám ma ở xứ nầy công nhận thiệt là vui. Nửa đêm người ta xúm vô rượu chè la hét và ca hát. Có mấy ông eo éo như con gái còn múa nữa. Một ông cầm mi cờ rô ngâm thơ. Thơ thích bài nầy vì nó nhắc đến mẹ Quê hương là gì hở mẹ/ mà cô giáo dạy phải yêu/ quê hương là gì hở mẹ/ mà con phải nhớ suốt đời? Rồi ông đó hát quê hương là chùm khế ngọt cho con trèo hái mỗi ngày… Thơ sa nước mắt. Nó nhớ ở quê, nhà nó cũng có cây khế. Má nó vẫn thường hái khế giả muối ớt rồi ba má con cùng nhau hít hà. Má ơi – Thơ gọi thầm – Ba chết rồi về đi má ơi.
***
Một tuần sau cô chi đó đẹp thiệt đẹp, má phấn và môi son có mặt trong lễ cúng bảy ngày của cha. Cô Tư cùng ông Hai kéo Thơ và Nghĩa lại ngồi với cô đẹp. Cô đến không phải để chia vui sẻ buồn mà đến vì chuyện cổ áo quan:
– Cô Hồng Hà à – cô Tư nói – chi phí lễ lạt và hàng họ hết bao nhiêu vậy cô.
Cô đẹp đưa cái hoá đơn. Cô Tư nheo con mắt rồi đọc lớn:
– Cái hàng mười một triệu, tiền thầy tụng ba triệu. Mái hiên di động và bàn ghế ba triệu cho ba ngày… cô có thể bớt cho chút đỉnh được không cô?
– Dà… vậy là bớt hết ga xăng rồi đó chị. Em cũng biết chị tha phương theo công trình… Thôi thì em cho chị triệu nữa. Tính mười lăm cho nó gọn. Là em thương lắm hai đứa nhỏ nầy. Tội quá, mẹ bỏ đi, cha chết… rồi đây biết làm sao hả con?
Nhìn theo cô Hồng Hà ông Hai lắc đầu:
– Thiệt tình là thời mạt pháp. Mười lăm triệu bạc lạh họ nuốt của thân nhân người chết đúng phân nửa.
Cô Tư chép miệng:
– Ở xứ tui đâu có mà dữ dội vậy anh Hai ơi. Chuyến nầy chắc tui chết thiệt ở đây rồi. Tiền phúng chưa tới chục triệu. Giờ còn phải lo vụ đất mai táng. Thâm tiền nhà đậm như vầy tui cũng không yên với ông Tư.
– Vụ đất mai táng chị làm cái đơn kể hoàn cảnh may ra xã họ giảm cho chút ít. Xã nầy tui cũng có quen biết vài người. Tui năn nĩ giúp cho một tiếng.
– Thiệt cám ơn anh quá.
– Ơn nghĩa chi. Cũng coi như tui tích cái đức cho thằng cháu nội.
– Anh tốt quá. Nhìn hai đứa nhỏ tui đứt ruột quá anh.
Ông Hai chắt lưỡi:
– Tui cũng đứt chớ hơn chi chị. Nhưng mà chị nên hy sinh vài trăm mỗi tháng cho thằng Nghĩa tiếp tục học hành. Để nó lông bông ba bữa lớn lên là nó hư chắc. Lúc đó giả dụ bà có giàu chín xe mười vàng cũng không ngon lành gì.
– Dăm bảy trăm ngàn thì không lớn, nhưng hết công trình bọn tui lại ra đi. Lúc đó biết tính làm sao hả anh?
– Nó còn mẹ, bà lo làm chi.
– Nó đi theo tiếng gọi thì còn trông mong chi nữa anh?
– Sao chị biết má hai đứa nhỏ đi theo tiếng gọi?
– Thì tui nghe người ta nói vậy. Có người thấy nó đi với một ông có vẻ giàu lắm.
– Hơi sức đâu mà nghe chuyện thiên lôi. Mắt thấy tai nghe mà còn chưa chắc đúng nói chi lời đồn. Người ta có thể bỏ chồng nhưng con không ai bỏ đâu chị ơi. Chị tin tui đi.
– Nếu không sao mấy tháng nay nó không điện thoại về thăm hỏi?
– Biết đâu bị mất điện thoại. Thêm cái không nhớ số thì làm sao gọi? Tui nói vậy chị nghĩ đúng không? Má nó sẽ về. Tui nói là linh lắm.
– Lỡ nó không về thì làm sao anh
– Tới đâu tính tới đó. Cứ để hai chị em nó ở đây đi học. Chị đi theo công trình cứ tới tháng quay lại chung tiền ăn tiền học cho tụi nó… Tiền học thôi, còn tiền ăn tui cho cũng được mà.
Quay sang bà vợ ông Hai hỏi:
– Tui tính vậy được không bà nội cu Phong?
Bà già chép miệng:
– Ông tính sao đó thì tính. Kệ, mình làm phước tích cái đức cho con cháu về sau
Đúng lúc đó điện thoại trong túi cô Tư tít tè cuộc gọi đến:
– A lô… Ai vậy? Trời đất ơi… mày hả Thi? Cái bà nội mày… Bỏ chồng bỏ con đi đâu mấy tháng nay mậy? Mất điện thoại hả? Vợ chồng con Tám nói cho mày biết vụ thằng Hậu rồi hả? Ờ… nó chết rồi… Tao với anh Tư mày chôn trên này luôn. Mày theo con Tám lên đây đi…. Con Thơ nè mày nói chuyện với nó…
Thơ cầm điện thoại. Nó nói trong tiếng nấc:
– Má ơi…
Nguyễn Trí

LỜI CUỐI…

levinhtai

1.
Khi em bé mười lăm tuổi ra tòa
lời cuối của em là xin về đi học tiếp
bạn biết rằng công lý
không thơ mộng như bài thơ
công lý
nghĩa là bạn phải trả tiền
cho tội lỗi
trôi
sông…
2.
Công lý là một phụ nữ mù thích cầm thanh kiếm
như gã đàn ông thích cầm hoa trong ngày Valentine
nên sau đó bạn thấy quá nhiều hoa hồng trong bãi rác
đôi khi đó là cách duy nhất
để bạn có thể cười
và nói lời
tạm biệt với tự do…
3.
Sự thay đổi của công lý
là khi nhà nước không chiến đấu với những kẻ cầm súng
họ chỉ chiến đấu với những bông hoa
4.
Công lý là bài hát không quên
những người bị đất nước bỏ rơi
đã chết trên biển cả, hay trong trại cải tạo
bài hát cho đứa trẻ được tiếp tục sống sau khi tiêm vaccine
tiếp tục đi học sau khi mất nhà
công lý không phải những gì chúng ta có thể che giấu
vì công lý không do dự
và cái ác không có nơi nào để chạy
không còn nơi để trốn…
5.
Tôi nhìn tấm ảnh một đứa trẻ
nhìn thấy lửa sau đôi mắt nó
nhìn tờ giấy nó viết vội mấy chữ treo trước ngực
đong đưa như công lý
nó đứng im
nhưng tôi biết trái đất vẫn đang quay
nghiêng một góc điên cuồng
cho những kẻ đang nhảy múa
sẽ không biết sự tuyệt vọng của đứa trẻ
nó lặng lẽ giơ cao hai tay
nắm đấm nắm chặt lại
như thể sợ rằng nó sẽ
mất bình tĩnh nếu như thả lỏng hai nắm đấm
nụ cười của nó vẫn dịu dàng
và tôi thấy những nỗi buồn
của nó, chìm trong mỗi khớp xương
6.
Tôi hứa, tôi hứa
sẽ nhận tiền đền bù ba trăm ngàn một mét
Tôi hứa, tôi hứa
không mua axit loãng
Tôi hứa, tôi hứa
sẽ chịu nghỉ học và ra đường đứng cùng với mẹ
Tôi hứa, tôi hứa
nhưng rồi tôi không thể hứa
Tôi chỉ là một đứa
trẻ con…
7.
Đứa trẻ không phải chúng ta
chúng ta không bướm
chỉ biết dang cánh rộng như mẫu vật
chúng ta
không rung trong gió
như những quả chuông nhỏ
chúng ta là
niềm hy vọng
và đức tin ngang qua bầu trời
chúng ta đẹp, chúng ta rất mạnh
chúng ta yếu ớt
chúng ta nhìn những kẻ trát vữa
lên mộ của chúng ta
chúng ta đành giả vờ bay
dù chúng ta không bướm
8.
Lãng quên
công lý sẽ tan đi
thế giới như những hạt cát
mỗi hơi thở của bạn
phơi bày
sáng
trắng
bạn bắt đầu nghĩ:
– tôi biết gì không tôi có gì không tôi không là gì cả
tôi tơi bời hoa lá
9.
Có lúc
bạn thấy cả một gia đình thành một đống vỡ nát
trôi dạt vào bờ
không có mái chèo
không có hy vọng
và họ đưa ra một sợi dây thừng
không phải để kéo thuyền vào
mà để treo cổ tất cả lên…
bạn sẽ làm gì?
sẽ ngồi trong nỗi buồn
treo lên như một mặt nạ
thậm chí bạn còn muốn mang nó vào giấc ngủ

bạn không biết
vì sao cả một gia đình dễ dàng bị phá vỡ
như thủy tinh
bạn không kịp buồn
vì niềm vui của đồng tiền đã dẫm lên thủy tinh vỡ
làm bạn tứa máu…
10.
Tôi có nhiều bạn bè
họ ở ngay trong sự sợ hãi của tôi
và hờn dỗi còn hơn con nít
nhưng sự thật
tôi chỉ là một đứa trẻ
tôi chỉ ngạc nhiên là tại sao họ
lại bắt tôi tham gia vào một giải đấu
của người lớn
11.
Chỉ cần tôi không biết
những người đàn ông lực lưỡng đang ngồi trước cửa nhà tôi
mặc đồng phục
họ sẽ phá bỏ bức tường nhà tôi
họ nói: trong bức tường hay có những con quỷ ẩn nấp
hay hù dọa trẻ con
chỉ cần tôi tin lời họ nói
và mẹ không hờn dỗi
là tôi vô tội…
12.
Bạn nói:
– tôi không sao
tôi nhớ các bạn cùng lớp
tôi hối hận
tôi đáng bị cô giáo trừng phạt
tôi muốn đi học lại
bạn nói
nói
nói
bạn không biết nước mắt của mọi người
chảy trện gương mặt bạn

Lê Vĩnh Tài

Ru Tình

dinhlevu

Đừng nói những lời tình muộn
Đừng kể những ngày tình xa
Trái tim giờ đang rối nhịp
Dẫu gì… thì ngày cũng qua

Đã như bướm vàng ướt cánh
Tả tơi một mảnh trăng tà
Đã qua bao ngày đông lạnh
Há thèm bày chuyện can qua

Dẫu gì… thì mùa cũng tàn
Chim đã sang bờ thương mến
Ngựa phi ngàn dặm quan san
Thuyền xưa đâu còn nhớ bến

Thôi đành tìm trong mộng mị
Vờ như không có ngày xưa
Thôi về nghe mùi hương thị
Mà mơ quả ngọt trái mùa…

ĐINH LÊ VŨ

CƠN GIÓ MANG HỒN TUỔI THƠ( TT)

ledachoanghuu

Mươi ngày sau thì lúa chín. Bà con tiếp tục đi gặt lúa chở lúa bó về nhà ông Sáu Hoàng để đạp. Ngày đầu tiên có vài đứa nhỏ mót lúa. Đi mót có một buổi mà được cả giạ lúa hột, ai nấy trợn tròn mắt, vậy là nhà nào có con nít đều xua ra mà mót. Nó cũng xách thúng mà đi. Mót lúa xót thì ít nhưng đi gần để người gặt len lén huơ một lưỡi liềm bỏ vào thúng là nhiều. Chú Tư râu phát hiện nhưng một mình đâu có quản xuể, chạy đầu này thì đầu kia không ai coi. Lúa chất lên xe bò chất ngất, trên đường về gặp đường gập ghềnh rớt xuống lộp độp cũng mặt kệ, mấy anh chẳng thèm lượm, giả lơ để ai lượm được thì lượm. Dì Tư Thệ nói:
“Để bà con cứu đói chớ để chở đi hết cũng vậy”.
Hôm sau xuất hiện ông Hoạt là trưởng và hai người cùng làm ban kiểm soát của hợp tác xã lên coi cùng với chú Tư râu. Ông Hoạt người miền ngoài nói đi làm là đi nàm, ông lại lùn tịt nên bà con kêu ông Hoạt nùn và hay chọc ghẹo, kể cả con nít, hay chạy theo nhảy lưng tưng đọ chiều cao với ông. Thằng Hào ngổ ngáo lếu láo, lót nhót trước mặt ông Hoạt ngêu ngao rồi chạy biến như sóc chỉ thấy dáng ông Hoạt lúp xúp đuổi theo:
“Ông Hoạt nà ông Hoạt họa, ông Chét nà Chét na mo* ( nhân vật lùn Chét-la-mo trong phim Rút Lan và Rút Mi La)”.
Hoạt họa là phim hoạt hình thường chiếu trước khi vô chiếu phim chính thức của đội chiếu bóng lưu động, một vài tháng về chiếu một lần cho bà con coi. Anh Hải tặc thấy ông Hoạt liền hỏi:
“Ông thầy khỏe hả ông thầy?”.
Ông Hoạt xốc xốc cái sợi dây đai có đeo cây súng ngắn bên hông ra oai trả lời:
“Tôi khỏe chán mới ra đây kiểm soát các anh chứ”.
Có một câu mà ông Hoạt hay nói nên dì Tư Thệ cà khịa:
“Cán bộ Hoạt oai phong ghê, nàm cán bộ phải như thế chứ nỵ, mà cán bộ ơi tui no nắm…”
Ông Hoạt cắt ngang lời dì Tư:
“No cái gì mà no, bà con đừng có no, cứ để nhà nước no”.
Vậy là bà con hô theo một giọng:
“Bà con đừng có no, cứ để nhà nước no”.
Đám con nít cười hô hố trong sự ngạc nhiên của ông Hoạt.
Có thêm ông Hoạt kiểm soát, bà con ém lúa kín đáo hơn. Chỗ có lúa tốt gốc rạ cao, cắt lúa rồi để xuống đạp gốc rạ che đậy, con nít đi sau thấy chỗ nào nổi u lên moi mà lấy. Lúa chất để đạp ra hột cũng vậy, mấy nhã về đêm mệt mỏi hết kiểm soát, còn hột đầy vẫn lấy mỏ gãy xốc bỏ rạ, có anh có chú còn xốc qua loa sơ sài lúa hột rớt còn dính đầy trong rạ. Đám con nít lại được phen vò tay mà lấy lúa. Xong vụ mót nó hỏi thằng Hào:
“Ê, mày mót lúa được khá hông mậy?”.
Thằng Hào cười cười:
“Tao kiếm gần chục giạ, thằng Cọt mới nhiều”.
Thằng Cọt lên tiếng:
“Tao cũng cỡ mày chớ bi nhiêu, mày lanh thấy mồ tổ”.
Nó không lanh bằng mấy thằng này nhưng nhờ bứt thêm lúa sót, đó mới đúng là mót lúa nên cũng xem xem như tụi nó. Một giạ lúa cân bảy ký lô, xay ra được bốn ký gạo. Nhà nó mười giạ ăn độn thêm khoai bắp cũng được gần cả tháng. Đem lúa mót về má nó vẫn biết là đâu chỉ có mót không thôi, mót không với chừng đó thời gian làm gì được vậy với lại bà con cũng râm ran mà. Nhưng cả làng cả xóm, cả đội ai nấy gần như nhau nên tản lờ coi như là lúa mót.
Lúa phơi khô xong bà con nghĩ chắc cũng như bắp, được chia chút ít nhưng không, có thông báo vụ này chở về hết hợp tác xã, vụ kế tiếp bà con mới hưởng trọn. Bà con ngớ ra, Chú Ba Mạnh buồn thiu:
“Cũng tại bà Bảy hết đó”.
Dì Bảy Thệ sửng cồ:
“Tại tui cái gì cha nội?”.
“Tại chị ăn mắm ăn muối, khi không hổm nói để chở đi hết cũng vậy”.
“Tui hông nói cũng chở hà cha nội, có để lại cho hông?”.
Dì Bảy Thệ tánh tình như đàn ông, rổn rảng mà nói, có sao dì nói vậy chẳng sợ làm mích lòng ai, ngó vậy chớ bên trong dì là con người đầy tình cảm. Nghe cái giọng buồn thiu của chú Ba mạnh là dì biết liền, nói thì cứ nói nhưng tối hôm đó dì sai thằng con bưng qua nhà chú Ba thúng giê gạo, dì biết tỏng nhà chú Ba đang đói ran.

***

Bà con uể oải với vụ hai. Làm còn tà lơn hơn vụ đầu, bất mãn hiện rõ ra mặt, cày đường có đường không cho mau xong càng tốt, bỏ lõi đầy khắp ruộng. Xạ lúa chưa thấy lên đã thấy cỏ xanh rì. Dì Bảy Thệ lại rổn rảng:
“Ê, ông Ba Mạnh, nghe cái miệng ăn mắm ăn muối của tui nữa nè, tui nói thiệt vụ tới chưa chắc gì đâu nghe”.
Anh Hải tặc tiếp luôn:
“Chị Bảy nói chí lý, dễ có sai à”.
Chú Ba Mạnh gãi đầu nói nhỏ:
“Thôi chị ơi, chị la lớn mấy ổng nghe thì chết”.
Dì Bảy chề môi:
“Trời! sợ gì nữa chú, còn gì nữa mà sợ, hủi rồi mà còn sợ lở sao”.
Bo bo trổ bông. Cây bo bo hình dạnh rất giống cây bắp nhưng thay vì trổ cờ nó trổ bông rồi kết hột thành chùm ngay chỗ bông. Bo bo chín hột màu đen đen cứng ngắt. Thu hoạch về bà con được chia mỗi hộ cỡ bao năm mươi ký. Số còn lại cũng chở về hợp tác xã. Bà con thấy hột lạ, chưa ăn bao giờ, háo hức nấu ăn thử. Nấu hầm thiệt lâu như kiểu phải ninh nhừ mới ăn được. Hôm ra đồng, anh Hải tặc hỏi dì Bày Thệ:
“Chị Bảy ăn bo bo ngon hông?”.
Dì Bảy thè lưỡi:
“Tao nhai nó cà nhệnh cà nhệnh muốn trẹo quai hàm mày còn hỏi”.
Anh Hòa chen vô:
“Tưởng sao nó lạt thếch cha nội, chẳng tí mùi vị gì, dai như dẻ rách”.
Anh Hải cười khách khách:
“Thì hổm trước có người nói người ta trồng cho gia súc ăn hổng đúng à, thôi ráng nhai bà con ơi”.
Dì Bảy tiếp:
“Thì cực chẳng đã phải nhai phải nuốt như heo chớ giờ sao mậy”.
Ba nó và chú Ba Mạnh lắc đầu. Vài người thở dài. Chú Ba mạnh nói:
“Ờ mà chị Bảy, theo anh Hai nói nè, nấu chín rồi giã thành bột, làm bánh hấp ăn dễ nuốt nghen chị”.
Dì Bảy cười khì:
“Ờ, có lý hén, anh làm rồi hả anh Hai?”.
Ba nó gật đầu:
“Tụi nhỏ ở nhà làm thử, tui thấy cũng tàm tạm”.
Dì Bảy tiếp:
“Nghe lời anh hai, chịu khó làm cho dễ nuốt bà con”.
Bà con nghe vậy gục gật đầu: “Ừ hen”.

***

Lúa và cỏ cùng thi nhau mọc trên ruộng, cho dù có làm cỏ đàng hoàng vẫn thấy cỏ nhiều hơn, lá lúa vàng hơn cỏ. Một bữa ba nó không đi làm, chú Ba Mạnh chạy ào lại nhà:
“Anh Hai ơi anh hai, anh Hai có nhà hông vậy?”.
Ba nó chạy ra:
“Có chuyện gì mà gấp gáp vậy chú?”.
Chú Ba Mạnh vừa thở vừa nói:
“Anh ra coi thử chớ tui thấy lá lúa có đốm đen xì nhiều lắm, mới hồi sáng thấy còn ít tới chiều đã lan ra cả mảng, không biết sâu bọ gì”.
Ba nó nói lại:
“Sao chú hông báo với chú Tư”.
“Anh Tư đi học hành gì mấy bữa rồi”.
Ba nó và chú Ba Mạnh chạy ra đồng, coi đi coi lại một hồi ba nó lắc đầu:
“Vụ này tui cũng bó tay, chưa thấy bao giờ, hổng biết là gì, phải chờ chú Tư về thôi”.
Ba bữa sau chú Tư râu về, chú Ba Mạnh báo ngay tình hình ngoài ruộng lúa. Chú ra ruộng coi tới coi lui một hồi cũng lắc đầu:
“Tui cũng chẳng biết bị gì, để báo hợp tác xã, mấy đội bên nghe nói cũng bị như vầy”.
Anh Hải tặc lắc đầu khi chú Tư đi khỏi:
“Cha nội này biết gì mà coi mà nói”.
Anh Hòa quay qua anh Hải:
“Mày làm gì ác cảm với ông Tư dữ vậy?”.
Anh Hải thản nhiên:
“Ác cảm gì, tui nói thiệt cha này có chút trình độ nào, mà nói tui ghét cũng phải bởi cái mặt làm được chút quan làm phách, kè kè cạp táp vểnh mặt làm tàng với bà con, nếu đội mà có được những người có trình độ, tui phục theo liền, bà con chắc cũng vậy chớ gì, bây giờ ra nông nổi này rồi đó, sáng kiến sáng tạo của bà con có còn gì hông, xếp vô xó hết rồi”.
Ba nó quay qua anh Hải:
“Thôi thôi Hải ơi, chắc rồi chú Tư tính được mà”.
Gần tuần sau mới có người ở phòng nông nghiệp huyện xuống. Đi đoàn cán bộ bốn người, tới xem một hồi không bao lâu rồi về hợp tác xã. Ở hợp tác xã mần gà đãi cơm trưa, chú Tư cũng đi dự, hơn xế chiều khệnh khạng đi về, gặp chú ba nó hỏi:
“Lúa bị gì vậy chú Tư?”.
Chú Tư đang ngà ngà:
“Cũng không có gì lớn, bị rày nâu rày đỏ gì đó”.
“Chú biết lý do tại sao hông, từ nào tới giờ ở đây mình đâu có thấy?”.
Chú Tư lắc đầu người muốn xiêu quẹo:
“Tui có hỏi mà mấy ổng trả lời qua loa, nói cũng hông chắc từ đâu, từ giống từ phân hay thời tiết, hay ở đâu lan tới”.
Ba nó lo lắng:
“Có cách gì trị hết hông chú?”.
Chú Tư cười xuề:
“Anh yên tâm, mấy ổng nói bịnh này có thuốc trị, dễ ẹt, bữa nào mấy ổng xuống đem thuốc và tập huấn cho bà con”.
Gần tuần nữa đoàn người trên huyện mới trở lại. Lúc này rày đã lan rộng khắp. Mỗi miếng ruộng bị ăn hơn phân nửa, những chỗ cỏ nhiều thì lúa tàn úa hết, còn lại những chỗ lúa tốt mới đơ đỡ. Đoàn cán bộ đem theo một cái bình xịt và mấy chai thuốc, chỉ cho bà con pha bao nhiêu thuốc với đầy nước trong bình, bơm hơi như bơm bánh xe đạp rồi máng lên vai bóp van xả mà xịt lên lúa, tập huấn chừng mười phút là xong, rồi mấy ông cán bộ lại về xã để chứng nhận đã xuống làm việc và xã tiếp tục được đãi cơm trưa.
Trên đồng ruộng mấy anh thanh niên trai tráng thay phiên nhau xịt rày lúa, hai ba bữa sau rày không lan rộng ra nữa nhưng cũng đi tong gần hai phần ba rồi.

***

Một bữa hợp đội thường lệ để chú Tư râu thông báo tình hình chung, trên chú Tư nói rồi người hợp tác xã nói dưới bà con người dựa tường, người ngáp vặt, người chuyện trò. Chỉ cuối cùng dì Bày Thệ đứng dậy xin hỏi bà con mới chú ý:
“Cho tui xin hỏi câu này được hông mấy ông cán bộ?”.
Chú Tư trả lời:
“Chị Bảy hỏi gì cứ hỏi?”.
Dì Bảy hỏi:
“Cho tui hỏi là mùa lúa này tính sao?”.
Chú Tư hỏi lại:
“Chị hỏi tính sao là tính sao?”.
Dì Bảy tiếp:
“Thì hổm trước nói mùa này bà con hưởng trọn chia nhau có đúng vậy hông, hợp tác xã có giữ lời hứa này hông?”.
Chú Tư cười khà:
“À, tưởng chị nói tính sao là cách tính sao chớ, còn lời hứa này như đinh đóng cột, có giấy có tờ, mùa này của bà con hết, bà con chia nhau theo công điểm”.
Dì bảy ngồi xuống:
“Ờ, vậy tui biết rồi”.
Bà con lại râm ran: “Sâu rày ăn hết mẹ nó rồi còn bao nhiêu”. “Cắt cỏ chia nhau bà con ơi”. “Chia lúa lép về nấu trấu mà ăn”.
Ngày gặt lúa, đội quân mót lúa bị thất nghiệp, qua oánh bò vòng vòng đạp lúa phụ rồi chia phe bày trò chơi đêm sáng trăng, chơi bắn súng cõng chán tới chơi u mọi, u mọi chán tới chơi năm mười, trốn tìm trong những ụ rơm, bụi chuối.
Ngày chia lúa cũng đầy lời ra tiếng vào nào là: “Cái nhà đó làm biếng làm nhát cũng tính công điểm bằng như nhau, người công đầu làm thấy ông thấy cha cũng vậy”, rồi: “Cái thằng đó tới điểm danh xong huơ huơ chút là trốn biệt cũng tính đủ công đủ cán, à thằng này bà con cô bác mấy cha cán bộ”…

***
Mùa mưa đi qua.
Hớp tác xã cho người đốn tre đầy hai xe bò về dựng cái rạp lớn làm đại hội tổng kết một mùa qua. Tre xếp như sạp làm ghế ngồi cho bà con. Hơn ba trăm người đại diện cho hộ gia đình tề tựu về dự. Có đủ các cán bộ huyện, xã và hợp tác xã. Sau khi giới thiệu kính thưa, kính thưa hết tất cả các cán bộ rồi phát biểu khai mạc của ông chủ nhiệm hợp tác xã là tới phần báo cáo của từng đội trưởng. Sáu đội trưởng lần lượt báo cáo, trước khi báo cáo cũng kính thưa và kính thưa đủ. Sáu bản báo cáo na ná nhau, chung quy là thành tích tốt, vướt khó mà nên. Chú Tư râu hãnh diện báo cáo đã hoàn thành chỉ tiêu đóng góp lương thực cho nhà nước theo yêu cầu đề ra, đã góp được bao nhiêu tấn lúa và bà con chia nhau cũng khá, cũng tấn tấn, nêu nhiều sáng kiến đóng góp cho đội và hứa mùa tới sẽ cố gắng làm tốt hơn nữa. Sau đó ban kiểm soát là ông Hoạt phát biểu, ông chủ nhiệm hợp tác xã phát biểu rồi ông chủ tịch xã và cuối cùng ông cán bộ huyện khen ngợi thành tích của bà con, và khuyến khích bà con tiếp tục phát huy tinh thần tập thể này.
Dì Tư Thể lắc đầu:
“Mấy cha này sao mà xạo thấy gớm, bà con sắp sửa đói nhăn răng tới nơi”.
Anh Hải tặc ngao ngán:
“Sáng kiến dẹp mẹ nó hết chớ có xài gì đâu, mấy cái cuốc ba lỗ, cày rãnh hai lưỡi của bác Hai làm bỏ xó mà kêu có thêm sáng kiến”.
Hiền khô như anh Hải đất cũng lắc đầu:
“Sao mấy ổng nói được vậy hay ghê”.
Đại hội tổng kết mất đứt hai ngày.
Hợp tác xã phát cho mỗi đội một cặp heo mỗi con cỡ sáu bảy chục ký để làm liên hoan buổi tối đại hội xong. Đội nó tụ tập ở nhà ông Sáu Hoàng nấu nướng cùng ăn chung. Lòng heo nấu cháo, mỗi nhà góp vài lon gạo, người người lớn nhỏ tự đem tô chén tới tranh nhau xì xụp húp. Đổi bớt gạo lấy bánh tráng cuốn thịt heo luột, xương hầm chấm nước mắm mà gặm.
Lúc đi đại hội tổng kết về ngang nhà ông Sáu Hoàng chú Ba Mạnh hỏi ba nó:
“Anh có ghé liên hoan hông anh Hai?”.
Ba nó lắc đầu:
“Tui hổng ghé đâu chú Ba, lu bu ngại lắm”.
Anh Hải tặc chặc lưỡi:
“Mấy cái vụ ăn tập thể này thấy ớn, thiếu điều nói là dành giựt, bát nháo kinh khủng”.
Ba nó cười buồn:
“Thông cảm cho bà con, tại đói quá, mấy khi có cục thịt lại như của trời cho”.
Chú Ba Mạnh nói tiếp:
“Tui cũng về luôn”.
Ba nó chặn lại:
“Hay chú với thằng Hải lại nhà tui lai rai chút, coi như mình cũng liên hoan”.
Chú Ba Mạnh và anh Hải gật đầu theo chưn ba nó về nhà.
Mồi mỡ nhà nó cũng chẳng còn gì. Còn được mớ khô cá trích đem nướng, và may quá còn mớ sò vặn* (sò đá biển) phơi khô đem xào với lá quế. Trong lúc người lớn nhâm nhi nó hái trái bầu luộc để ăn với cơm.
Cụng ly rượu với ba nó, chú Ba hỏi:
“Hổm anh được chia bao nhiêu lúa”.
Ba nó thở hắc ra:
“Được ba chục giạ chú ơi”.
Anh Hải uống cái ực:
“Bác Hai hơn nhà con rồi, con được hai mươi lăm giạ”.
Chú Ba Mạnh rầu rầu:
“Tui cũng chừng đó chớ nhiêu, làm cả mùa được chừng đó ai ăn ai nhịn đây hông biết”.
Anh hải nhẩm nhẩm:
“Chừng đó nhà con ăn chưa được hai tháng chớ mấy, dự trữ bây giờ sắp cạn, sang năm chắc đói vài tháng rồi”.
Ba nó lắc đầu:
“Tui cũng chắc gì đủ tới giáp hột”.
Chú Ba thở mạnh:
“Nhà anh và thằng Hải còn đỡ, tui mới khổ, mượn nợ quá trời, giờ hông biết lấy đâu trả, còn ăn thì chắc được hết tháng giêng”.
Trời có gió mát mẻ, trăng lên tròn quay sáng vàng chóe, không khí bàn nhậu lại trầm lắng đến rợn người, chìm sâu trong tiếng thở dài thở ra. Có tiếng the thé từ cái ô bặc lưa hướng hợp tác xã vọng tới, chú Ba Mạnh càng không vui:
“Văn nghệ với văn gừng, đói tới nơi lo chưa nổi…”.
Chị nó đi coi văn nghệ ở hợp tác xã về, ba nó hỏi:
“Ủa, sao về sớm vậy con?”.
Chị trả lời:
“Dạ có coi được gì, người ta chen lấn rần rần, xô đẩy làm ghế tre đổ ào ào, có người còn tranh thủ cắt dây vác tre về nhà, loạn xạ lắm coi gì được ba ơi”.
Anh Hải ngạc nhiên:
“Mấy ông cán bộ, mấy ông du kích đâu?”.
“Dạ, có thấy mặt mũi ông nào đâu anh, nghe nói mấy ông nhậu xỉn xà càng, mấy ổng có mấy người cũng được hai con heo, mần chia cả chục ký về nhà, còn lại ở đó nhậu té ngửa hết có biết trời trăng mây gió gì”.
Ba nó, chú Ba Mạnh và anh Hải chỉ còn biết lắc đầu, cụng ly uống cho bỏ nghẹn. Ba nó trầm ngâm:
“Thiếu thốn đủ điều, đôi khi cũng chẳng trách được bà con, đoàn chiếu bóng* (Chiếu phim) đoàn ca kịch, cải lương mấy tháng mới về diễn một lần, bà con cũng đói mấy chuyện này luôn, mỗi lần có đoàn là như có hội, xô đẩy chen lấn kiếm chỗ coi cho rõ, con nít khoét rào chui cửa …”.

***

Thêm một cái Tết nữa lại đến.
Một cái Tết đến trong không khí trầm lắng đến buồn hiu hắc. Không có tiếng pháo đì đùng mà chỉ lẹt tẹt chẳng đủ để giựt mình. Bà con cô bác cố chặt mai rừng về chưng trong nhà ngoài ngõ, những cánh hoa vàng chóe, những nụ, những lá non mơn mởn khoe sắc vẫn không đủ che lấp những gương mặt đầy lo lắng, những đôi mắt nghi ngại, ngày mai ra sao?. Ngoài đường mọi năm rộn rã, năm nay vắng lặng dăm ba đứa nhỏ tụ tập chơi trò chơi, bầu cua cá cọp hay bài bạc ba ngày Tết bị cấm cửa.
Chú Ba Mạnh ghé nhà chúc Tết không nở nổi nụ cười, chú Ba thì thào:
“Điệu này khó quá anh Hai, tui có ý này hông biết có nên nói hông?”.
Ba nó đáp:
“Chú Ba kỳ nghe, tui với chú còn giữ kẻ hả, có gì chú nói tui nghe”.
Chú Ba chậm rãi, nhấm ngụm rượu:
“Tui định nói hay tui với anh ra giêng này lén vào rừng phát hoang làm rẫy làm ruộng riêng, chớ bám vô hợp tác xã hết chỉ có nước lấy cám mà ăn”.
Ba nó trầm ngâm suy tính:
“Ý chú cũng được, nhưng mà dễ bị bắt chớ chơi?”.
Chú Ba thấy ba nó có vẻ đồng tình, chú vui lên đôi chút:
“Mình đi xa xa chút anh Hai, ở trỏng họ hông có tới đâu”.
“Phải qua rẫy bắp nhiều mới được”.
Chú Ba gật đầu:
“Đúng rồi, phải xa nữa, hổm đi chặt mai tui lang lang coi thử rồi”.
“Vậy chú có tìm được chỗ nào chưa?”.
“Có, tui tìm được chỗ rồi, chỗ ngon lắm, có mấy lao tre nhìn là biết đất tốt, chỗ này phát làm rẫy, cạnh sát bên có dãy đất trũng giờ còn nước lấp sấp làm ruộng khỏi chê. Chỗ này gần Bàu Đôi, nước quanh năm, đây là chỗ nghỉ chân uống nước cho bò kéo xe đi rừng sâu đó anh”.
Ba nó gục gật:
“Vậy hả chú, nhưng đủ xa hông?”.
Chú Ba cười:
“Xa lắm, đây vô đó chừng sáu bảy cây số lận, gần cả chỗ đường ray xe lửa chạy qua, chưa ai đặt chân tới làm rẫy làm ruộng gì hết”.
Ba nó chặc lưỡi:
“Vậy cũng được, nhưng nói làm sao đây, người ta hỏi thì nói đi đâu?”.
Chú Ba nho nhỏ tiếp:
“Mình đi làm nói là đi củi, tui định để bà xã ở nhà tham gia làm suốt ở hợp tác xã, còn tui lâu lâu cũng về làm vài ba bữa thôi, anh có mấy đứa nhỏ”.
“Ý chú hay đó, mà cùng lắm mình nói mấy bả thông báo hổng biết hai cha này trốn biệt đi đâu chớ gì”.
Chú Ba cười kha kha:
“Dạ đúng đó, cùng lắm kêu mấy bả lên báo rồi chửi um sùm là chồng con gì tệ bạc, làm biếng làm nhác, bỏ nhà bỏ cửa, bỏ con cái nheo nhóc biệt tăm chốn nào, chỉ lo cho cái thân cái xác của mình”.
Ba nó cũng cười ha ha theo:
“Hay, hay, bữa giờ tui cũng tìm cách gì mà chưa có, chú tính vậy tui chịu, sau mùng năm mình đi luôn hén”.
Chú Ba gật đầu liên hồi:
“Tui sợ anh hông chịu chớ vậy là hay quá, thôi sẵn đây, Tết nhứt anh em mình đốt nén nhang cầu Trời Phật, tổ tiên”.
Ba nó và chú Ba cùng đốt nhang lầm rầm khấn vái.

***

Mùng sáu ba nó và chú Ba Mạnh chuẩn bị đồ đạt, cuốc rựa, quần áo, gạo muối… quẩy đồ đi từ sáng sớm, trước cả tinh mơ.
Tới nơi, ngay chỗ chú Ba Mạnh tìm được, ba nó gật gù:
“Chà, chú tìm ra chỗ này ngon đó chú, đất đẹp, có nước nôi, xung quanh cây cối còn xanh um, mát mẻ lắm”.
Nghe ba nó khen chú ba vui ra mặt:
“Được hen anh Hai”.
Việc đầu tiên của ba nó và chú Ba Mạnh là đốn cây, cắt tranh làm cái chòi, thêm cái sạp bằng vạt tre để ngả lưng trưa tối rồi đào cái giếng nhỏ lấy nước cạnh chòi, giếng phía dưới đất trũng định khai hoang làm ruộng nên đào chỉ hơn một thước là có mạch nước ra trong vắt, mát lạnh. Xong mấy việc đầu tiên này là bắt đầu phát lao tre làm rẫy, phát bên trong lao chừa những bụi bên ngoài vừa làm hàng rào vừa để che mắt, có ai đi ngang cũng không thấy gì bên trong. Một tháng rưỡi ròng rã phát miệt mài được chừng sáu sào đất thì dừng lại, tre phát ngã nằm rạp xuống chờ khô mà đốt sạch còn đất và lấy tro làm phân cho ruộng.
Bên trong lao tre còn nhiều cây to, cưa từng khúc cỡ một thước rưỡi vác ra ngoài, để đốt than. Đốt than phải đào hầm. Hầm đào cỡ một thước chất cây củi xuống rồi đất đất lại, đấp đất kín mít thiệt kỹ chớ không cây cháy trụi ra tro, chừa vài cái lỗ thông hơi cho khói bay ra, đầu miệng hầm khi mồi lửa xong là lấp lại luôn, hầm than cháy hết tới đâu là đất sụp xuống dập tắt lửa còn than tới đó, vài ngày sau hầm nguội thì dở lò lấy than. Mỗi hầm than mất gần tuần lễ, ba nó và chú Ba Mạnh làm được ba hầm từ cây trong lao tre, con số như vậy là khá. Chú Ba Mạnh mừng lắm nhưng vẫn còn lo:
“Than mình hầm được nhiều bán mà suôn sẻ khỏi lo đói anh Hai”.
Ba nó vừa cho than vô bao vừa gật đầu:
“Cầu mong ông bà độ cho, bán được suông sẻ, không bị bắt bớ”.
Chú Ba lúc lắc đầu:
“Mong là vậy chớ cực khổ quá, không biết bao nhiêu mồ hôi nước mắt”.
Ba nó cười:
“Có cả máu nữa chớ, có lẽ làm rẫy đốt than là cực nhứt nên bà con có câu là than thở, thở than”.
Chú Ba vấn điếu thuốc:
“Lầm than nữa đó anh”.
Than đưa về canh chừng gánh về ban đêm, không đám đi ban ngày. Má nó và vợ chú Ba Mạnh mỗi lần chở hai bao sau chiếc xe đạp về thị xã bán cũng đi từ tờ mờ sáng, tránh trạm kiểm soát, đâu dám kêu xe lam lại chở, mất nguyên xe có nước đi ăn mày, má nó nói như vậy.
Làm củi, đốt than để đem bán bây giờ là trái phép, bị cấm ngặt nghèo. Đốt rẫy vậy luôn. Mà đâu chỉ rẫy và than củi bấy giờ đi buôn cũng cấm, chỉ được bán bằng cái thúng cái mẹt ở chợ, xách theo bên người trên bốn ký gần như bất kỳ thứ gì chỉ trừ như rau củ là bị gọi buôn lậu, bị tịch thu. Ngày trước chỉ có cái trạm kiểm soát Căn Cứ Bốn nổi tiếng gắt gao, dân buôn khều nhau đi chuyến nào lọt qua trạm này coi như chuyến đó thắng. Bây giờ mọc thêm rất nhiều trạm, cách vài chục cây số là có trạm. Trạm kiểm soát dân buôn lậu và kiểm soát luôn người đi đường, có đầy đủ giấy tờ, giấy thông hành hay không.
Dân buôn lậu lúc này chuyên buôn mực khô với cồi sò, cồi của con sò điệp phơi khô. Chuyển vô Sài Gòn bán một vốn bốn lời, có khi còn hơn. Mực thì chỉ dành ăn chơi, cồi sò có tính ngọt nghe nói để làm bột ngọt nên mắc mỏ, bột ngọt bấy giờ quý cũng như gạo. Đủ mánh khóe cho dân buôn che mắt trạm kiểm soát, từ nhét đủ chỗ trên xe, trong bánh xe, làm ngăn làm hộc, rồi bó đầy người, đi đứng khệ nệ như bức tượng gỗ cho tới xử dụng xe hồng thập tự, xe cấp cứu, và cả xe mai táng… để buôn.
Có những đêm đang ngon giấc chợt giựt mình nghe tiếng súng nổ liên hồi. Mở mắt ra coi thử chuyện gì mới biết xe ở trạm kiểm soát rượt theo xe buôn lậu, đạn bay chéo chéo cứ bay xe cứ nhấn hết ga mà chạy, mà vượt. Có khi thoát được có khi bị bắt. Rồi có lúc không phải là xe buôn lậu mà là của những gia đình dỡ nhà trốn xứ mà đi.
Trạm kiểm soát ở xã nó ban đầu còn để cái barie chắn ngang đường, sau xe cố vượt trạm tông gãy ngày một nên đổi thành những cái thùng phuy đổ đầy cát chắn ngang đường. Xe dừng lại kiểm soát xong, tắt xuống con đường đất nhỏ mà qua, con đường vừa nhỏ vừa xuống dốc sâu đố xe nào vượt được.
Có lần gặp đoàn xe tải lớn mang bảng số Campuchia, họ xuống xuất trình giấy tờ xong kêu dọn đường để xe đi chớ nhứt quyết không xuống đường đất nhỏ. Ông ngồi trong trạm hất hàm:
“Không đi thì nằm đó mà chơi”.
Vậy là đoàn người trên xe quay lại hùng hổ rút súng bắn xối xả, lấy lựu đạn hăm he rút chốt quăng vào trạm, mấy người ở trạm mặt cắt không còn giọt máu, dù có súng cũng không dám chống trả, giơ tay cầu hòa, ra hì hục lăn thùng phuy dọn đường. Về sau gặp đoàn xe ngang tàng như vậy không dám đả động lấy một câu.
Bán than bà con còn cắm cái cây ven đường lộ cột cục than làm ám hiệu. Xe thấy muốn mua dừng lại, người ngoài đường canh gác, trong nhà vác chạy ào ra. Xăng khan hiếm xe chở khách bắt đầu chuyển qua chạy bằng than nên hiển nhiên phải chở theo than, chỉ bị bắt khi chở nhiều quá, xe chạy bằng than gọi tắt là xe than, có cái thùng sắt hình trụ tròn dài thòn phía sau đốt lửa chạy bằng hơi nước. Xe chở theo than cho mình còn thêm vài bao chuyển vào Sài gòn bán kiếm lời.
Xăng khan hiếm đến nỗi có tiền cũng mua không đủ cho chiếc xe Mobylette, chiếc xe này lại chạy kèm nhớt mới khổ. Ba nó tháo hết máy cho nhẹ thành ra chiếc xe đạp, đạp tàn tàn thồ củi tới hồi bánh xe bị lủng bởi đường rừng, chẳng thể mua đâu ra ruột để thay vậy là đành treo dàn khói.
Một bữa nhà nó nhận được thơ từ Sài Gòn gởi ra tin dì bị bịnh phải mổ. Má nó phải tức tốc đi. Nó cũng được xin nghỉ học vài bữa vô coi nhà. Ba giờ sáng má con đón chuyến xe lam đầu tiên chuyên chở rau củ về thị xã, bốn giờ thì tới bến xe xếp hàng mua vé, hai chuyến xe sáu và bảy giờ sáng khởi hành mà người xếp hàng mua vé dài như rồng rắn và khi gần tới lượt thì được thông báo… hết vé, phải chờ chuyến ngày mai. Má con phải lang thang hết chỗ này tới chỗ khác khắp thị xã, lúc tới vườn bông mà chẳng thấy bao nhiêu bông hoa, những cành lá xơ xác trơ trọi trên những bãi cát khô ran, những cái xíc đu, cầu tuột gỉ sét chỏng gọng… lúc đi ngang rạp hát chưa kịp dừng lại coi xuất chiếu bộ phim gì phải bỏ chạy như ma đuổi hòng thoát khỏi những người chặn lại cầm tay nhét ngay tấm vé chợ đen không cầm hỏi nói gì, trước phòng vé dòng người chen lấn có những người mặt mày bặm trợn leo lên hàng rào đạp thẳng trên vai trên đầu người khác bất chấp những cái kéo những cái quất của người giữ trật tự để lọt vào bên trong… lúc ra bờ sông hóng gió cho qua ngày, bờ sông vắng vẻ yên tỉnh nhứt, vài chiếc thuyền neo đậu vài chiếc xình xịch vô ra… Đêm về lại bến xe mướn chiếc chiếu ngã lưng, nhờ chiếc chiếu người cho mướn xí cho một chỗ để mua được vé. Năm tiếng đồng hồ xếp hàng cuối cùng cũng được lên xe, hàng chất trên mui đầy nhóc, xếp trong thùng xe và dưới chỗ ngồi cũng kín mít. Có hai xe cút kít chở lại bốn giỏ cá thiệt to, chú đẩy xe cút kít kêu lớn:
“Cho hàng lên dùm đàn anh ơi”.
Chú lơ xe cằn nhằn:
“Hàng gì giờ mới đem lại, trên mui hết chỗ rồi”
“Thì cho dùm vô thùng”.
“Thùng cũng đấy nhóc, chờ tui sắp xếp lại đã”.
Vừa sắp xếp hàng chú lơ vừa hỏi:
“Ủa, mà hàng gì đó, đừng nói hàng lậu nhe, nhốt xe tui là chết à”.
Bà mập đi theo lên tiếng:
“Lậu gì mà lậu, hổng thấy giấy tờ người ta dán chình ình đó hả?”.
Chú lơ xe nhìn bà mập cười hè hè:
“Trời tưởng ai, bà quen quá trời, tui nghe nói bà là trùm đi hàng lậu, nhưng bà làm sao có được giấy đàng hoàng hay thiệt, tui phải nể”.
Bà mập giãy nãy:
“Thôi nhe mậy, đừng có ăn mắm muối nói bậy, tao buôn bán dùm cho hợp tác xã”.
Chú lơ nhe răng:
“Tui nói bậy bạ trúng tùm lum tùm la, bà mà đi cho hợp tác xã chắc trời sập, à, bà cho thêm tiền bốc vác đó, nặng thấy mồ tổ, một giỏ một tạ hả?’.
Bà mập gật đầu:
“Một tạ, vô tới trỏng tui bồi dưỡng tiền cà phê cà pháo”.
Mấy giỏ cá ướp muối có dán giấy đóng mộc của hợp tác xã đánh bắt thủy sản, bảo bối để lọt qua trạm của nhiều người đi buôn, không biết làm cách nào có được, có người nói vậy.
Từ lúc lên xe, má con nó ngồi chờ thêm một tiếng nữa xe chầm chậm lăn bánh. Xe lăn bánh cà rịch càng tang như vừa đi vừa tham quan. Bà mập mạp ngồi nhấp nha nhấp nhổm:
“Chạy nhanh chút bác tài ơi, chạy vầy vô tới trỏng chắc cá sình lên hết quá chớ đừng nói là ương”.
Một người nữa lắc đầu:
“Chạy gì như rùa bò hông biết”.
Vài người nhăn nhó:
“Chắc tới mai mới tới”.
Một bà bác lớn tuổi lên tiếng:
“Thôi đừng có nói xui xẻo, chạy tàn tàn chiều tối tới là được, tui đi hoài tui biết, chẳng xe nào chạy nhanh hơn đâu, xe nằm đường đầy nhóc, mai tới là chuyện thường tình, cứ từ từ mà tới là được chớ đừng có bị ngủ bờ ngủ bụi”.
Nghe vậy mọi người trên xe không ai nói nữa. Lâu lâu dọc đường có chiếc xe ngừng để sửa, đón những chiếc khác lại hỏi xin phụ tùng thay thế, hay quá giang đi mua, lăn bánh xe đi vá ruột đắp vỏ. Những chiếc xe bị hư mà bà bác nói là nằm đường. Xe đón một chú lơ nhảy lên, chú lơ xe nó hỏi:
“Ủa, thấy nằm đây hôm kia lận, chưa sửa được sao?”.
Chú lơ xe kia lắc đầu:
“Xui thiệt mới ra tới đây mà bị, bị nặng quá, sửa cái này lòi ra cái khác”.
“Xe chạy Quảng Nam Đà Nẵng hả”.
“Dạ, chạy Đà Nẵng, chuyến này lỗ sặc gạch, sang xe gần hết rồi, còn vài người bữa giờ chưa bắt được xe nào chở hết, lo luôn cái ăn cho khách khổ thiệt, bà con nghèo rớt mồng tơi”.
Có chú trên xe thở dài:
“Thời buổi khó khăn quá!”.
Nó nghe nói tới Quảng Nam – Đà Nẵng chợt nhớ tới khoảng thời gian nhà nó về ở, muốn ở ngay quê mình mà không xong, phải ra đi. Đang miên man nhớ lại dòng sông Thu Bồn tắm mát ngày nào chợt đột nhiên xe xình xịch ngừng lại, đâu có ai kêu xuống xe, cũng chẳng ai đón lên đi hay trạm kiểm soát gì đâu, bà con nhốn nháo. Bà mập mặt méo xẹo:
“Hổng lẽ pan* (hư) hả, điệu này chết”.
Chú lơ xe trấn an:
“Xe hổng có pan bà con ơi, bà con yên tâm”
Chú nhảy xuống lấy cây sắt thọt dưới đáy khươi than cho sỉ than rơi xuống, rồi nhảy phóc lên mui cho thêm than vào thùng, chú lơ xe kia cùng phụ một tay, lấy cái máy quạt than bấm chạy xè xè thổi lửa. Xe tiếp tục hành trình, bà con thở phào nhẹ nhõm. Xe lên cái dốc cao chạy cà khực cà khực muốn dừng, muốn tuột ngược trở lại. Chú lơ xe lại nhảy xuống cầm cục canh bằng gỗ lăm le canh vào bánh xe cản xe lại nếu lỡ nó tắt máy, chú kêu lớn:
“Dạ, mấy chú mấy anh thanh niên làm ơn nhảy xuống phụ một tay đẩy xe lên”.
Đàn ông trai tráng lục tục nhảy xuống, nó cũng nhanh chưn nhảy xuống phụ đẩy. Xe lên hết dốc cao bắt đầu tuôn tuôn chạy xuống, cái thắng cà két cà két nghe dễ sợ, người kịp nhảy lên xe, vài người chạy theo không kịp, lững thững vừa chạy theo vừa thở. Chú lơ xe thì băng băng chạy như chạy thi, cầm cục canh lao về phía trước phòng hờ lỡ xe phóng quá nhanh thì thảy cục canh vào cho nó cản bớt, thiệt là nguy hiểm. Xe xuống hết dốc cuối cùng cũng ngừng được chờ bà con lên hết. Bà con lắc đầu nhưng im lặng, không ai nói gì.
Xe hai lần dừng nữa để tiếp than, xả sỉ và châm nước. Lần cuối cùng máy quạt đang xè xè thì đứng bặt, chú lơ xe vỗ vỗ mấy cái máy cũng “làm thinh”, chú mở ra coi trong sự hồi hộp của bà con, chú lắc đầu:
“Đâu có bị gì đâu, sao kỳ vậy ta?”.
Chú lơ kia nói:
“Hết pin rồi chớ gì”.
“Chắc vậy, mà quên đem cha nó đồ xạc”.
Bà mập lo lắng:
“Giờ sao, hổng lẽ ngừng đây luôn hả, chết tui quá?”.
Chú lơ cười:
“Chưa chết đâu, cho tui mượn cái nón lá”.
Bà mập thấy lạ:
“Ủa, lấy nón lá làm gì, đội đi mua pin hà, sợ nắng dữ ông tướng?”.
Chú lơ cười khì khì:
“Nắng với nôi, bà thấy tui chưa đủ cháy hà” – Chú với lấy cái nón lá và tới chỗ thùng than quạt lấy quạt để, quạt vù vù một hồi sau than cũng đỏ rực, xe xình xịch nổ máy.
Vài người bán hàng rong nhảy lên xe chen lấn rao bán, nhiều nhứt là bán chôm chôm. Bà bán chôm chôm rao miệng dẻo quẹo, ngọt sớt:
“Chôm chôm tróc đây bà con, ngon khỏi chê rẻ khỏi nói luôn bà con, chôm chôm Long Khánh chính hiệu con nai vàng đây bà con”.
Bà bán chôm chôm thảy một chùm vô người một chị, chị này hỏi:
“Bao nhiêu một ký”.
“Mười đồng thôi cưng, bán rẻ cho cưng xinh gái”.
Chị gái nghe khen bẽn lẽn hỏi lại:
“Gì mắc dữ vậy?”.
“Mắc gì cưng, đúng giá nhà vườn đó, thôi cưng trả bao nhiêu thì trả, bán hết để còn về lo nhà cửa”.
“Năm đồng nghen”.
Bà bán trợn mắt:
“Trả gì rẻ quá vậy”
Bà mập khều khều chị gái và nháy nháy mắt, chị gái biết bị hớ nên nói:
“Thôi hông mua đâu”.
Vừa nghe xong bà bán chôm chôm quay ngoắt trừng trừng nhìn chị gái như muốn ăn tươi nuốt sống, rồi xổ ra một tràng:
“Mẹ, con đĩ chó, người đẹp mà cái miệng ăn cứt hả, hông mua sao trả giá, muốn hại mở hàng người ta hả cái đồ quỷ cái”.
Chị gái run run ngồi nín re. Bà bán hùng hổ tiếp:
“Mẹ, tao hỏi lần nữa nghe mậy, có mua hông, tao bớt cho còn bảy đồng, mở hàng nghe mậy, hông mua đừng trách sao tao ác”.
Chị gái buột lòng phải mua ký chôm chôm. Trên xe ai nấy lắc đầu nhưng đành nín lặng. Xe ngừng, mấy người bán hàng rong bước xuống. Bà mập mới lên tiếng:
“Mấy con này là con quỷ chớ hông phải người, kiểu gì nó bán cũng được, chôm chôm đúng giá bốn đồng, trả một đồng hai đồng nó cũng bán luôn, nó cân theo một hai đồng, chưa tới nửa ký, vài trăm gram, trả giá hông mua là khổ với nó, có cầm theo lưỡi lam rạch mặt người ta”.
Một người buột miệng:
“Ác dữ vậy hả”.
Bà mập gật đầu:
“Chuyện này tui hổng có nói dóc đâu, tui thề độc à”.
Một người hỏi:
“Biết vậy sao cho nó lên xe?”.
Chú lơ lắc đầu:
“Ai muốn cho mấy con quỷ đó lên, hổng cho nó lên nó tìm cách phá chỉ có chết”.
Bà bác lớn tuồi thở hắc:
“Sao bây giờ sanh ra nhiều chuyện gì đâu hông hà, lừa lọc xảo trá đầy đường, hổng biết đâu mà lần”.
Gần tới Sài Gòn, chú lơ xe thông báo:
“Gần tới rồi nghe bà con, tới đây coi như tới, xe coi như ngon lành”.
Bà mập xé một giỏ cá ra coi, bà cười tươi rói:
“Hên quá, cá còn tươi” – Bà xếp hai chục cá gói trong cái lá loan nói tiếp: “Ê, chú lơ, chú cầm cái này chú với ông tài xế chia đôi hen, tui cho, nói với bà con luôn nè, ai mua một chục tui bán nửa giá vốn lấy một đồng thôi coi như tui biếu một nửa, kỷ niệm chuyến đi buôn cùng tui, nói thiệt chuyến này tui lời chán”. – Bà cười hề hề. Bà con lục tục đưa tiền và lấy cá, giá cả ở Sài Gòn phải năm đồng một chục lận. Người cả xe vui vẻ ra mặt đâu ai nghĩ cái bà mập nhìn khó ưa lại tình cảm dữ vậy.

LÊ ĐẮC HOÀNG HỰU

dấu chân phiêu lãng

npphan

hững hờ một chút buồn vui
câu thơ chuếnh choáng ngủ vùi tóc mây
cơn mơ chưa thoát trùng vây
cỏ hoa thương nhớ hao gầy tháng năm

ơi em bối rối nguyệt cầm
đất trời giận dỗi gọi thầm nắng mưa
con đường khởi sự ban sơ
dấu chân phiêu lãng bất ngờ hoang liêu

NP phan

PHỐ TÔI

tranhoaithu

Cả hồn tôi xin được lót vỉa hè
Để bao bước giày dẫm hồn tôi với phố
Bởi phố đó, xa rồi, thì mới nhớ
Tôi nói thầm, xin từ biệt phố tôi.

Phố của tôi, có một khoảng trời xanh
Luồn giữa phố, gió từ sông lộng thổi
Khi người ta chỉ nhớ trái xoài trái ổi
Tôi nhớ môi nàng, thắm đỏ màu son.

Phố của tôi, buổi sáng nghe hồi chuông
Em gái ngoan hiền cúi đầu làm dấu
Tôi theo nắng trên áo dài như bướm
Về cửa giáo đường đứng gác ngoài hiên.

Phố của tôi, buổi chiều nghe hồi chuông
Tôi mãi mê tìm mái tình ẩn trú
Em thương tôi, thương một thằng lính thú
Nên cũng quên cúi đầu,
làm dấu Thánh
Amen…

Trần Hoài Thư

Khi ngồi một mình bên bãi biển…

tranthitrucha

Trời còn mờ mờ một màu lam đen, chàng đã đưa nàng đến biển, để nàng ngồi lại một mình với áo phao, kính bơi và mũ trùm tóc, rồi vội vã đi thật nhanh về hướng núi Sơn Trà. Nàng nhắm mắt lại và bắt đầu thiền… hít vào thật sâu và thở ra thật chậm, xua tan mọi tị hiềm oán trách… Vậy mà sao mắt nàng vẫn mở ra nhìn đăm đăm về phía chàng. Đôi chân dài miên man và bộ bikino màu đỏ thấp thoáng như trêu chọc nàng… Không thể nào thiền trong trạng thái hờn ghen, nàng nhảy ào xuống biển và bơi thật nhanh ra khơi.
– Á!… Đau quá!…
Nàng hét lên đau đớn, nước mắt ứa ra, nàng bị vọp bẻ, căn bệnh thường xuyên đến với nàng trong giấc ngủ giữa khuya. Những lúc đó chàng thường cầm bàn chân nàng xoa nhẹ và dỗ dành cho cơn đau tan đi và nàng trôi vào giấc ngủ trở lại. Còn bây giờ chàng đang đi về hướng núi. Có tiếng của người đàn ông bơi bên cạnh nàng :
Cô bình tỉnh thả nổi người, rồi đẩy thẳng hai chân mạnh ra, uốn mười ngón chân ngược lên phía mặt, đập mạnh hai gót xuống nước.
Bổng dưng nàng thấy yên lòng và làm theo cách chỉ dẫn, thật diệu kì, cơn đau tan nhanh trong làn nước mát. Nàng nổi bồng bềnh trên mặt nước và ngước mắt nhìn trời. Mây trắng vẫn còn gối đầu bên nhau ngủ im lìm, vầng trăng chỉ còn một nửa mong manh cô quạnh. Không biết chàng đã quay lại và đang bơi ở hướng nào, Chàng có biết là nàng vừa trải qua một cơn đau thật nguy hiểm trên biển. Nếu không có người đàn ông xa lạ này nàng sẽ ra sao ? Mà người đàn ông này cũng lạ, hình như ông ta lúc này loanh quanh bên nàng. Khi nàng ngồi trên biển một mình ông ngồi xa nàng một khoảng cách vừa phải im lặng nhìn nàng với đôi mắt thật lạ. Khi nàng một mình bơi ra khơi ông lặng lẽ bơi theo và vẫn giữ một khoảng cách. Nàng rất ngại, chàng rất nóng tính. Vậy mà bây giờ ông ta trở thành ân nhân của nàng. Ông ta cười thật hiền :
Bây giờ thì cô bơi vào bờ chầm chậm thôi, tôi sẽ bơi theo sau cô.

Biển sau cơn mưa đêm bổng nổi sóng dữ dội, chàng vẫn đi nhanh về hướng núi. Đôi chân chàng vẫn dẻo dai nhanh nhẹn, đôi chân nàng đã rệu rã, nàng không thể bước kịp theo chàng. Nàng đành phải ngồi lại và thiền… Hít vào thật sâu vị mặn của biển mà sao như vị mặn của nước mắt , thở ra những ưu phiền và tiếc nhớ về một vùng kí ức. Nàng đi bên chàng, bộ bikini màu vàng như nắng, chàng chẳng bao giờ rời xa nàng, bạn thân của chàng có lần đã bộc lộ sỗ sàng:
Tao muốn đuổi hết mọi người lên bờ, để dành riêng biển cho nàng .
Chàng giận bạn và tránh né bạn từ đó. Chàng không muốn nàng trò chuyện với bất kì người đàn ông nào trên biển.
Nhưng bây giờ chàng thích nhìn phụ nữ đẹp. Phụ nữ đẹp ai mà không thích nhìn?!…
Nàng đã qua thời xuân sắc, chàng không bỏ rơi nàng nhưng chàng thích đi theo và nhìn những người phụ nữ đẹp, chàng có lỗi gì đâu, Chiếc áo mặc lâu ngày cũng cũ kĩ lỗi thời mà .
Sao cô không bơi ?
Người đàn ông đã ngồi bên cạnh nàng từ lúc nào.
Sóng lớn quá!
Nếu vượt qua những đợt sóng ven bờ thì ngoài xa biển sẽ yên hơn.
Sao ông hiểu về biển rõ vậy?
Với tôi biển là nhà. Tôi là Thuỷ thủ tàu viễn dương từ năm hai mươi tuổi và lênh đênh trên đại dương hơn hai mươi năm .
Và bây giờ ngày nào ông cũng đến với biển cho đỡ nhớ?
Đúng rồi, một năm tôi đi biển 365 ngày trừ những ngày bão dông dữ dội.
Cô khởi động thật nóng người rồi hãy bơi, như thế cô sẽ không bị vọp bẻ. Cô thiền không đủ để nóng người đâu, mà cô thiền nhưng tâm cô bất an thì không hiệu quả.
Nàng đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên từ người đàn ông xa lạ này
Sao ông biết tâm tôi bất an?
Đôi mắt cô nói tất cả, cô có đôi mắt biết nói và nói rất thật thà.
Nàng lúng túng:
Thôi ông bơi đi, hôm nay tôi không bơi. Tôi sợ bơi ra sóng lớn không bơi vào nổi.
Cô bơi bên cạnh một Thuỷ thủ như tôi mà vẫn không yên lòng sao?
Khi gặp sóng lớn ông lo cho tính mạng ông trước chứ làm sao cứu tôi
Không sao đâu mà, cô không nhìn thấy ca nô cứu hộ sao, có gì tôi hét lên cho nhân viên cứu hộ vớt cô lên kéo vào bờ. Cũng phải tạo công ăn việc làm cho họ chứ.
Thôi được rồi, tôi sẽ bơi theo sau ông, sống chết do số trời định.
Giỏi! Hãy tin tôi!

Nàng lại ngồi trên bãi cát, vầng trăng mong manh như vành móng tay, chàng vẫn đi về phía núi. Bên cạnh nàng có đôi vợ chồng mặc áo cặp hạnh phúc, màu áo và hình vẽ trên áo giống nhau, mỗi ngày mỗi màu và luôn luôn là áo cặp, lúc nào họ cũng dính như sam, khi bơi dưới biển , khi ngồi trên bãi cát và cả khi tắm họ cũng dội nước ngọt cho nhau gội đầu… Chẳng biết họ có thật sự hạnh phúc hay không ? Cuộc sống thật khó tin những điều mình nhìn thấy và những sự thật bên trong. Người bạn gái thân nhất của nàng cũng vừa ly hôn, tình yêu của bạn đẹp, họ phải vượt qua những rào cản của gia đình thật khó khăn để đến với nhau. Bây giờ họ có tất cả con cái , nhà cửa, tiền tài… Vậy mà họ không thể cùng nhau đi cho hết đoạn cuối con đường. Cuộc sống trên đất liền cũng mênh mang và bí ẩn như đại dương, làm sao biết được dưới làn nước trong như ngọc bích kia ẩn chứa những điều gì ?!…
Cô lại bất an rồi phải không ?
Người đàn ông ngồi bên cạnh từ lúc nào nàng không hề hay biết.
Sao ông biết tôi đang bất an ?
Cô đang ngồi trên bãi cát nhưng lại nghĩ về đại dương.
Sao ông cứ như một nhà ngoại cảm vậy, thật đáng sợ!
Người đàn ông bật cười, tiếng cười vang vang như sóng.
Bởi vì cô biết không… Khi tôi lênh đênh trên đại dương lúc nào tôi cũng mơ về một bãi cát và bây giờ trở về ngồi trên bãi cát tôi lại nhớ đại dương. Cô đã nhìn ra khơi xa và ánh mắt cô như chới với…

Biển thật êm, vầng trăng mong manh đã tan chỉ còn những vì sao đổi ngôi nhấp nháy, ánh dương e ấp trong mây tỏa những ánh hồng dịu nhẹ. Chàng không đi về phía núi. Chàng trở về vị trí của chàng và nhăn nhó:
Thằng cha nào mà lúc nào cũng kè kè bên cạnh em vậy?
Một người bình thường như mọi người thấy em ngồi một minh thì đến nói chuyện thôi mà.
Chuyện gì mà nói, nhiều chuyện! Em đi đến đâu lộn xộn đến đó.
Trời đất!…
Từ bây giờ anh đi đâu phải đi theo anh, không ngồi một minh nữa.
Nhưng làm sao em đi theo kịp anh với đôi chân đau.
Thì anh không đi nữa, anh bơi cùng em.
Vậy thì được!
Nàng mỉm cười và nhìn thấy nụ cười của người đàn ông thấp thoáng xa xa…

Cô cười đẹp lắm. Từ bây giờ chàng sẽ không dám bỏ rơi cô ngồi một mình trên biển nữa đâu. Cô hãy nói lại với chàng: Bất cứ lúc nào tôi còn ngồi nhìn thấy cô ngồi khóc thì tôi sẽ ngồi xuống bên cạnh cô đó.
Nàng nhớ ngày xưa khi chấm tử vi cho nàng, mẹ nàng nói rằng số nàng có quí nhân phò trợ.
Phải chăng người đàn ông đó là quí nhân?!

Trần Thị Trúc Hạ