LẶNG IM BIỂN. NGƯỜI VỀ

nguyenthikhanhminh

Khóc Nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, mất ngày 13.9.2014

Tin gió đưa về với mênh mông
Biển rất xanh và chân trời hư ảo
Sao ai trả lời kia sóng như bông*

Nở một đoá xôn xao chín suối
Tóc như mây trăm ngả sông về
Biển hò hẹn chắt lòng bông hoa muối

Động lòng câu hỏi ai xưa
Trời không im đất cũng vừa lên tiếng
Nghe thì thầm. Thì thầm… hãy lặng im như biển**

Biển mở ngàn tay tung nghìn bước sóng
Ai vừa đến hát mừng a cõi mộng
Hỏi một câu giờ trời đất mới hay…

Tan với cỏ cây một hồn sương sớm
Gió nghe không. Hạt lệ đó vừa khô
Mây nghe không. Bay vừa lên cánh mỏng

Tan với lòng xanh nhánh hồn như mộng
Hồn sóng dạt dào ôi biển nghe không
Biển thấy hết, nghe hết, hiểu hết, và biết hết…**

NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH
Sep. 14, 2014

* Chữ Nguyễn Lương Vỵ
** “Biển, nghe không” thơ Nguyễn Xuân Hoàng

MÈO TOM VÀ VUA CHUỘT CHÙ

khuatdau

Trong lịch sử phim hoạt hình của Hollywood, ngoài vịt Donald, chuột Mickey, còn có mèo Tom và chuột Jerry cũng nổi tiếng không kém.
Mèo Tom, to đầu mà dại, rất ngờ nghệch vụng về.
Chuột Jerry, bé loắt choắt nhưng lém lỉnh tinh khôn.
Hàng trăm tập phim, chưa có tập nào mèo Tom thắng được chuột Jerry.
Tom than thở với đám họa sĩ: “Ta, dẫu sao cũng là vua mèo, các anh cứ để ta thua hoài cái thằng oắt con Jerry, thì còn ra cái thể thống gì!”
Các họa sĩ bảo: “Chúng thần đùa chơi một tí cho đỡ buồn. Ngài muốn thắng đâu có khó gì. Tập mới, chúng thần sẽ để ngài thử sức với vua chuột chù”.
“Vua chuột chù là đứa nào?” Mèo Tom hỏi.
“Đó là giống chuột nổi tiếng khù khờ, đi đến đâu cũng kêu túc túc oang oang như loa phường. Nhưng cũng nhờ cái tiếng có nghĩa đủ đủ ấy mà thiên hạ cứ ảo tưởng là no đủ, nên đã tôn lên làm vua. Dù làm vua nhưng binh quyền nằm trong tay quan tướng quốc chuột đồng, nên ngài cứ việc thoải mái mà đùa cợt”.
Mèo Tom gật gù ô kê, vậy nên, Hollywood mới có tập phim hoạt hình này.
Không như những lần diện kiến với mèo trắng và mèo đen, vua chuột chù lóm thóm run rẩy đến tội nghiệp, lần này, các họa sĩ vẽ thêm áo mão tiến sĩ, mặt tươi tỉnh, mỏ lúc nào cũng điểm một nụ cười. Rất chi là đáng mặt quân vương cho dù là vua chuột xạ (rất hôi). Còn mèo Tom, các họa sĩ lại tô màu sô cô la, vừa để giảm bớt cái vẻ hung dữ cố hữu của loài mèo, vừa tỏ ra hiếu khách, nhũn nhặn. Nhưng chính cái phong thái đó mà người ta thấy được cái quyền lực mềm rất đáng sợ của vua mèo.
Các họa sĩ lại để hai vua ngồi trong phòng bầu dục, cứ như tổng thống Mỹ đang hội kiến với vua Ả rập.
Mèo Tom nói: “Ta và ngài tuy khác giống, nhưng cùng sống trên trái đất này, ngài ăn thóc lúa, ta ăn thịt, nhưng ăn thịt bò bíp tết chứ không ăn thịt chuột. Vậy, ngài đừng sợ. Ta hứa là sẽ tôn trọng ngài. Không chừng có thể làm bạn với ngài. Bỡi vì, kẻ muốn tiếm xưng ngôi bá chủ của ta chính là lũ mèo trắng và mèo đen kia, đó mới thực là bọn mà ta muốn ăn tươi nuốt sống. Lũ mèo đó đang nhe nanh giương vuốt định vồ ngài. Bọn đó, đến cứt nó cũng đớp huống hồ là chuột chù, ngài có biết vậy không?”.
“Thưa biết”.
“Vậy thì còn chần chờ gì nữa, hãy bám theo đuôi của ta, cầm chắc là vừa giữ được cái thân hèn mọn của mình vừa giữ được nước”.
“Thưa ngài, bấy lâu nghe báo đài nói xấu ngài, rất lấy làm e ngại. Nay, nghe chính miệng ngài nói ra, quả thực sướng cái bụng quá”.
“Tin ta đi, không có mèo nào yêu chuột như mèo Tom này đâu”.
Rồi đó, cùng sánh vai đi xem tòa bạch ốc, ăn bíp tết, uống sâm banh rất chi là trọng vọng.
Vua chuột chù trở về tiểu quốc, tức là cái sân nhà tôi, trống dong cờ mở đón rước tưng bừng. Suốt ngày đêm chít chít tung hô.
Vua chuột nói với đám cận thần: “Lâu nay bọn phản động cười chê ta già nua lú lẫn. Giờ thì chính vua mèo Tom bắt tay ta, đãi ta như thượng khách. Cho chúng sáng mắt ra. Ta dẫu có chết các ngươi cũng được thơm lây”.
Chúng thần đều rập đầu lạy tạ.
Cuộc hội kiến lịch sử ấy khiến mèo Tom đắc chí. Mèo Tom bảo các họa sĩ: “Các anh làm tập phim này được lắm. Mèo ra mèo, chuột ra chuột. Ta rất vui lòng để các anh chiếu cho cả thế giới cùng xem”.
Khuất Đẩu tui cũng hứa sẽ tường thuật thêm nhiều tập phim khác trong triều đình nhà chuột, rất mê ly nhưng không rùng rợn.

10/9/2012
Khuất Đẩu

Lệ Dung Sang Tề

kiettan

Hôm nay là Xuân mai còn Xuân
Pháo đỏ đầy thêm nhớ cố nhân
Cung nữ môi tô rầng rật điệu
Ai về Chiêm quốc hộ Huyền Trân

Nguyễn Bính
Lệ Dung em ơi! sao em nỡ đan tâm lòng quyết (yết) sang (ờ ờ) Tề…”
Tiếng ca rướn cao lên ở chữ quyết rồi dợn uốn ngân nga sang chữ Tề để xuống câu vọng cổ lâm ly mùi mẫn..
“…Em ra đi cho lỗi hẹn câu thề. Như ta đây đã từng là một dũng tướng dọc ngang ngang dọc mà giờ phút này con tim sắt đá thiên vạn đường dài cũng nhất phiến u hoài chỉ vị khanh (ơ ơ…).” Tiếng ca bứt rứt não nề buông lên lời trách móc, tự trách mình và trách người đẹp đã nhẫn tâm rứt tà áo lụa mà lên đường trắc trở xa xăm về xứ khác. “…Em ra đi đoạn đành giẫm nát tình anh, không một lời hỏi han giã từ dục bước lên kiệu hoa đem tấm thân ngọc ngà sang Tề quốc (ờ ơ ơ…).”
Giọng ca của anh Hai Te , người thợ mộc trẻ tuổi tài hoa của ba tôi, bữa nay nghe sao mà thống thiết não nuột hơn bao giờ hết. Trời vừa sụp tối. Tối nay, cũng như mọi tối, sau khi cơm nước xong, anh Hai Te ôm cây đờn lục huyền cầm ra ngồi ở đống cây trước trại mộc vừa khảy nhấn ngọt ngào vừa mùi mẫn hát theo vài khúc ca giải muộn. Bên lối xóm chắc cũng đã có cô gái lãng mạn nào đó si tình anh rồi không chừng. Mọi tối khi nghe anh hát bài Lệ Dung sang Tề tôi thưởng thức điệu nghệ tài hoa của anh và cảm thấy dễ chịu. Nhưng tối nay, cũng vẫn những câu hát đó mà lời ca bất chợt chuyên chở được mối tơ lòng ngổn ngang của mình, tôi cảm thấy ôi sao nó thoát trở nên vô cùng ngậm ngùi thấm thái! Trời hâm hấp nóng mà người tôi thấm lạnh nổi gai ốc ran ran. Tôi ngồi ở bực cửa sổ trên gác thả hồn mình dật dờ chóng mặt theo điệu ca nhấp nhô trầm bổng….
Lệ Dung em ơi! sao em nỡ đan tâm lòng quyết sang Tề?” Nhưng Lệ Dung nào đâu đã sang Tề. Vậy mà đối với dũng tướng…. học trò lớp đệ ngũ như tôi, dù nàng hãy còn sờ sờ đó mà tưởng chừng như đã muôn trùng cách biệt, đôi tay vụng về của tôi sẽ không bao giờ vói tới. Tôi si tình. Tôi lại si tình. Tháng rồi. Năm ngoái. Lần nọ. Lần khác. Rồi lần nữa. Thêm một lần nữa tôi lại si tình! Bắt đầu từ lúc nào tôi biết si tình? Từ hồi mới vô đệ thất? Kim Sơn, Bê. Hay hồi bước lên đệ lục? Cúc, Thủy. Hoặc còn sớm hơn như vậy nữa, hồi còn là nhóc con ngồi ở lớp ba lớp tư hay lớp bét trường làng? Nữ, Nguyệt. Hay ngay từ lúc tôi chưa cắp sách tới trường? Lạc, Quý. Chính tôi cũng chưa chắc đã rõ được. Nhưng chắc một điều là những lúc gần đây tôi càng ngày càng tiến bộ. , càng ngày càng hăng hái si tình hơn trước. Lan, Hươnng, Lài, Ánh, Nho, Hiền, những đóa hoa xinh xắn vừa hé nụ của trường Cao Tiểu Vĩnnh Long (sau này đổi tên Nguyễn Thông rồi Tống Phước Hiệp), những nàng kiều nữ con ông Bảy Hoàng, những cô gái mỹ miều của bà Vĩnh Phúc. Và còn biết bao nhiêu bông hồng khác nữa tôi đã từng theo đuổi… xa xa phía sau mà không hề biết tên biết tuổi. Tuy nhiên, cũng không phải nhờ vậy mà tôi khổ sở ít hơn. Khổ sở điêu đứng ngất ngư vì con tim quá sức nhạy cảm của mình. Nghĩ cho cùng, có lẽ tôi si tình kinh niên và người đẹp chỉ là một cái cớ. Vừa chợt ngó thấy kiều nữ nào xinh xinh mũm mĩm là con tim tôi đã cỡn lên đập loạn xạ, dù nàng có nhỏ tuổi, bằng tuổi hay lớn tuổi hơn tôi cũng không thành vấn đề. Đập loạn xạ để rồi đêm tối nằm một mình ôm con tim nhảy cỡn của mình mà hồi hộp nhớ thương mất ngủ. Những lúc đó nếu có bóng hồng nào chợt đoái tưởng tới tấm chân tình thiệt thà của tôi bèn nảy ra sáng kiến lấy mực tím đề cho tôi một bức thơ tình ngạt ngào trên giấy lụa chắc là tôi sẽ đứng tim mà ngã lăn ra chết tốt. Chết vì quá đỗi bồi hồi sung sướng. Đôi khi tôi oán trách trời già cay nghiệt mắc mớ gì khi không lại sinh ra một thằng con trai với trái tim rướm máu lạng quạng mút mùa như tôi làm chi vậy. Si tình lên. Si tình xuống. Lắc lư qua. Lắc lư lại. Ngất ngư.
Để rồi giờ đây, thêm một lần nữa, tôi lại si tình Lệ Dung. Anh với em má tựa vai kề, nay dù em có lạc Sở sang Tề, thì em cũng gởi thơ về cho anh hay. Mà nào tôi đâu đã được má tựa vai kề. Chỉ dám đứng xa xa mà ngó Lệ Dung và hồi hộp. Rồi tới lúc xáp lại gần mà chiêm ngưỡng, mái tóc xõa dài nhu mì thắt kẹp đồi mồi ngang lưng của nàng thầm kín tỏa ra hương thơm quấn quít của loại nước hoa kỳ bí, tôi càng thêm bấn loạn bủn rủn. Tôi lo sợ trong một phút hoang mang nào đó, cầm lòng không đặng, tôi sẽ buông ra một câu nói… lãng-nhách—để rồi tối đến nằm lẻ loi lăn trở, nhớ lại câu nói bốc đồng của mình mà ân hận thức trắng giờ con mắt. Còn Lệ Dung thì giận lẫy bỏ sang Tề.
Nhưng may mắn thay Lệ Dung chưa nỡ đang tâm bỏ sang Tề. Lệ Dung vẫn hãy còn đó. Không phải vì Lệ Dung quyến luyến dũng tướng học trò Lê Kiệt. Nàng đang dạo chơi và hứng mát ngoài cầu tàu Long Hồ ngó mặt qua cù lao An Thành xanh dờn cây lá nhô lên giữa dòng Cổ Chiên cuồn cuộn nước xuống ngừ đục phù sa khi chiều tới. Chút nữa nàng sẽ trở về đây. Nàng sẽ trở về căn nhà trống trải nương tựa vách lá và vách ván của nhà hàng xóm hai bên mà vươn lên. Nàng sẽ bỏ guốc mộc và nhón gót chân son nhẹ nhàng bước trên những bực thang gỗ rón rén leo lên căn gác nhỏ này đây rồi bất chợt xuất hiện trong vòm hương tỏa thơm quấn quít. Và bắt gặp quả tang tôi đang ngồi ở bực cửa sổ mà mong ngóng nàng. Cũng như hôm qua, cũng như hôm kia. Không! Không được. Không lẽ tôi cứ ngồi im ở bực cửa sổ này đây chịu trận cho anh Hai Te hát những câu vọng cổ bứt rứt và yên lặng mong chờ nàng trở về mà trong bụng mình cứ sốt ruột cầm canh?
Tôi vội vàng bỏ chạy xuống gác nắm lấy cổ chiếc xe đạp cà tàng dắt ra ngoài đường lộ đá xanh loang lở. Tôi thót lên yên đạp đánh một vòng lớn ra phía cầu tàu với hy vọng… đừng gặp Lệ Dung. Vái trời cho tôi đừng bắt gặp nàng đang âu yếm cặp kè người yêu và ngoẻo mái tóc nhu mì lên vai của chàng mà du dương dạo mát. Chỉ tưởng tượng trong trí mình hình ảnh đó thôi, tôi đã bắt đầu lên cơn sốt. Đem bao hy vọng lúc ra đi, chuốc lấy buồn thương lúc trở về. Lòng mỗi lần đi lần bão táp, mỗi lần là một cuộc phân ly!
Vái trời….
Em ơi em ở lại nhà
Vườn dâu em đốn mẹ già em thương
Mẹ già một nắng hai sương
Chị đi một bước trăm đường xót xa
Cậy em em ở lại nhà…

Lần này, từ trường Nguyễn Đình Chiểu Mỹ Tho trở về Vĩnh Long tị nạn, Lộc anh tôi mang về một món quà quý báu bất ngờ: “Lỡ Bước Sang Ngang”, tập thơ ngậm ngùi của thi sĩ Nguyễn Bính. Tập thơ chép tay trên tập vở học trò dầy hai trăm trang có gạch hàng vuông và kẻ lể đỏ. Trang đầu có vẽ bằng mực tàu đen mun một gương mặt đàn ông rầu rầu đau khổ và xa xa phía sau là hình bóng một cô lái đang chèo đò dưới một tàng cây lãng mạn sà xuống mặt sông la đà. Tôi thức đêm đọc một lèo hết trọn tập thơ đó, vừa bùi ngùi vừa đê mê những vần thơ của Nguyễn Bính, có lẽ vì tôi khám phá ra ở chàng thi sĩ thất tình chuyên nghiệp này một tâm hồn đồng điệu. Đồng điệu ở chỗ anh chàng này cũng lẩm cẩm hết cỡ nói. Đã quyết không yêu được một ngày, rôì yêu mất cả buổi chiều nay. Chiều nay bướm trắng ra nhiều quá, không biết là mưa hay nắng đây? Chỉ có mưa với nắng thôi mà cha nội đã bắt đầu lẩm cẩm. Còn nói gì tới thương với nhớ. Lạ quá! Làm sao tôi cứ buồn, làm sao tôi cứ khổ luôn luôn, làm sao tôi cứ tương tư mãi, người đã cùng tôi phụ rất tròn? Còn phải hỏi “lạ quá” với “làm sao”! Tại cha nội chẳng những lẩm cẩm số một mà lại còn si tình số một nữa. Y hịch như tôi vậy. Đã trót mang lấy nghiệp vào thân thì hãy cắn răng gồng mình mà chịu chớ hơi sức đâu ở đó mà vò đầu bức tóc tự hỏi vớ va vớ vẩn “nàm thao mí nị nạ quá!”
Nếu tôi lẩm cẩm và si tình số một thì trái lại Lộc anh tôi phiêu lưu văn nghệ và phiêu lưu chính trị số một. Hồi còn đang học ở trường Cao Tiểu Vĩnh Long, một đêm mưa gió bão bùng nọ tự nhiên anh chàng nổi dậy cơn bão lòng yêu nước bèn biệt kinh kỳ ôm gói vô bưng theo kháng chiến chống Tây cứu nước. “Tôi chẳng cần gì vợ đẹp xinh, tôi không lưu luyến mảnh hương tình, tôi không cần của không cần sắc, tôi quyết vì dân quyết đoạn tình”. Chàng đề thơ để lại lâm ly như vậy đó trước khi lên đường giết giặc. Lên voi túc một tiếng còi, thương con nhớ vợ lịnh đòi phải đi. ngon lành chưa?
Nhưng rồi ở bưng bị sốt rét rừng chịu đời không thấu chàng bèn xách trái lựu đạn liệng xuống sông giả biệt bưng biền phản hồi cố quận…. và bị đuổi học. Chàng chiến sĩ trái mùa bèn dời đô sang Định Tường theo học lớp đệ tam trường Nguyễn Đình Chiểu. Rồi xa quê hương nhớ mẹ hiền, nơi xứ lạ quê người, chàng phải lòng yêu Xuân Huê, để rồi sau đó gặp gỡ Lệ Dung từ Bến Tre sang Mỹ Tho học trọ, và đắm đuối hăng say đeo đuổi sứ mạng phiêu lưu tình ái mới mẻ của mình. Lụy vì tình tưởng đã yên lòng dũng sĩ , đâu dè chàng lại nghe lời sách động biểu tình ủng hộ trò Ơn tử vì nước. Chàng hiên ngang trương biểu ngữ giữa hàng hùng binh có ta đi hàng đầu kêu gọi học sinh bãi khóa. Bị lính kín truy lùng chàng chạy lộn trở về Vĩnh Long để xin tỵ nạn chính trị, một tay xách theo tập thơ Lỡ Bước Sang Ngang chép tay của Nguyễn Bính. Còn tay kia thì không quên ẵm theo Lệ Dung rời bỏ nước Tề trên bước đường lưu vong mong giờ phục quốc—chàng đâu có dè làm như vậy là kẹt cứng thằng em thơ dại của mình. Lúc đó nhằm những ngày cuối năm, sắp bãi trường ăn Tết. Hôm nay là Xuân mai còn Xuân, phơi phới mưa sa nhớ cố nhân. Đã có yêu nhau là đến thế, đừng về Chiêm quốc nhé Huyền Trân!
Khi thấy chàng dũng sĩ hồi hương lại còn dắt theo một em bé vị thành niên, ba má tôi đều hoảng vía. Tôi mười ba tuổi, Lộc lớn hơn tôi năm tuổi, công nương Lệ Dung tuổi giữa lưng chừng. Hồi ở Bạc Liêu, anh Hai tôi sang Bến Tre học nghề thợ dệt cũng đã dắt về một em bé xứ dừa để trình diện cùng ba má. Nàng tên Lệ Hằng. Lúc đó tôi còn quá lỏi, chưa kịp si tình, chỉ nhớ mang máng Lệ Hằng cũng là một trang mỹ nữ. Sợ ba má cô gái đâm đơn kiện con gái mình bị thảo khấu bắt cóc, má tôi thất kinh vội vàng dắt nàng ra xe đò chạy bằng củi than để tiễn nàng về cố quốc. Hết Lệ Hằng bây giờ tới phiên Lệ Dung, cũng là mỹ nữ miệt Bến Tre. Mới biết ngoài dừa tươi, Bến Tre còn sản xuất những ông già Ba Tri và những cô gái đẹp mỹ miều thaa thướt. Khi Lộc nắm tay Lệ Dung dắt lên gác giới thiệu nàng với thằng em yêu dấu của mình một cách bất thần không có viết thơ báo trước, tôi chới với, trái tim nhảy cỡn lên đập loạn xị xà ngầu. Giết nhau chẳng dụng lưu cầu, giết nhau bằng cái ưu sầu độc hơn. Anh em một nhà mà sao anh nỡ hại em?
“Chào Kiệt”. Lệ Dung buông tiếng chào tôi nhỏ xíu rồi e lệ cúi đầu, tóc mây lòa xòa trên trán ngọc. Gương mặt nàng bầu bĩnh tươi tắn, mắt nhìn thùy mị nhung êm. Đôi vai nàng nhỏ nhắn buông xuôi trên thân mình mũm ma mũm mĩm ở cái tuổi vừa mới lớn. Suối tóc nàng suông dài thả kẹp thấp ngang lưng tỏa ra hương thơm kỳ bí làm tôi chóng mặt. Mỗi lần nàng niễng đầu , suối tóc đen tuyền uốn éo dựa theo quấn siết lấy con tim của dũng tướng học trò mà bóp thắt. Tôi lí nhí chào nàng rồi cũng không biết nói gì hơn. May thay Lộc đã nắm tay dắt nàng tháo lui xuống nhà dưới. Tôi ngó theo suối tóc huyền mút mắt, trong lòng đã thấy bận bịu bồi hồi không yên. Ngồi lại một mình tôi gọi nhỏ: “Lệ Dung!” Giọt lệ sương mong manh trên cánh hoa phù dung vừa hé nụ lúc trời hừng sáng, hay ngấn lệ nõn nà đậu trên một dung nhan kiều diễm? Lệ Dung…!
Tôi ngó vào tập vở học trò chữ nghĩa chi chít của mình mà không còn bụng dạ nào học bài nữa. Có học cũng không vô. Tôi vói tay nắm lấy cây đàn măng-đô-lin trên bàn ôm vào lòng mình run lẳng tẳng một khúc Ai Về Sông Tương giải muộn: Ai có về bên bến sông Tương, nhắn người duyên dáng tôi thương, sao đành nỡ dứt tơ vương? Tháng với ngày mơ nhuốm đau thương, mơ hoài hình bóng em luôn…
Ngày hôm sau Lộc mượn được ở đâu về cây lục huyền cầm và hai anh em nhà họ Lê hòa tấu mấy khúc đặt dìu cho mỹ nhơn Bến Tre thưởng thức. Cao hứng Lộc hát tặng nàng bản Thu Quyến Rũ. Lộc hát rất hay—còn tôi thì hát dở ẹt. Lộc đã từng lên sân khấu những dịp bãi trường cất giọng thiết tha hái rụng trái tim của mấy em bé nữ sinh xinh xắn và ham mê văn nghệ. Chẳng những đàn hay hát hay hơn tôi mà Lộc còn trắng trẻo đẹp trai hơn tôi. Ganh đua với Lộc trên mặt trận tình ái là kể như chắc chắn nuốt hận đêm dài và lãnh chiến thương tình ái khó thể phai mờ. bao nhiêu hoa khôi ở Vĩnh Long như Liệt, Nhan, Đẹp, Xuân, Đào, đều rúng động con tim vì kép độc hết ráo. Chưa đủ bây giờ tới hoa hậu Bến Tre. Đi tới đâu chàng cũng mão sòng mỹ nữ hết trọi.
Tôi lén đọc nhựt ký của Lộc thấy chỗ nào chàng cũng “xin quỳ xuống và đặt trái tim dưới chân Hoàng Hậu” thì thử hỏi người đẹp nào mà cự tuyệt chàng cho nổi. Tuy nhiên tôi chỉ âm thầm đau khổ thôi chớ ganh ghét Lộc thì không hề có. Lộc được cái tánh rất thảo ăn. Khi nào có người yêu mới là chàng xách về khoe với em mình liền. Đưa ảnh người yêu cho chị xem, cả thư người ấy gửi cho em, y như anh chàng Nguyễn Bính lẩm cẩm.
Sau màn Thu Quyến Rũ, kép độc yêu cầu cô Ba Bến Tre hát tặng hai anh em nhà họ Lê một bản. Tôi trê-ma-lô ròn rã, Lộc đệm tây ban cầm sầm sập, Lệ Dung cất giọng trong trẻo: Người hẹn cùng ta đến bên bờ suối, rừng chiều mờ sương ánh trăng mờ chiếu… Trăng Mờ Bên Suối, ôi tình tứ xiết bao! Thỉnh thoảng khi dứt câu hát Lệ Dung còn đưa mắt long lanh liếc trộm người yêu khiến tôi bủn rủn trê-ma-lô cứ vấp tới vấp lui từng chập. Nhưng cũng phải ráng lết tới cùng cho đẹp lòng Lệ Dung. Dứt bản, tới phiên chàng và nàng yêu cầu tôi ca mới chết một cửa tứ. Là giết đời nhau đấy biết không? Dũng tướng học trò bèn cự tuyệt. Ai ép ta hát thì trước hết phải bước qua xác chết của ta đã! Tuy nhiên trước lời ỉ ôi ngọt ngào của người đẹp mà tôi thầm mơ ước, tôi đành nhượng bộ và đề nghị hợp ca bản Con Đường Vui, tôi xung phong xin hát bè hai. Dạo nhạc rùm rụp xong khúc mở đầu, ban hợp ca Thăng Long tỉnh lẻ hòa giọng nam nữ cất lên: Đoàn người tưng bừng về trong cơn gió, hồn như đám mây trắng lững lờ, giang hồ không bờ không bến đẹp như kiếp bô-ê-miên…(Khúc đâu Hán Sở chiến trường, nghe ra tiếng sắt tiếng vàng chen nhau. Khúc đâu Tư Mã Phượng Cầu, nghe ra như oán như sầu phải chăng?) Tôi xáp vô bè hai: Đoàn ta! Vui bước lên đường mưa gió về, còn nghe vang dư âm bao lời ca sông núi!
Dứt bản ai nấy đều hả hê. Riêng tôi nhìn Lệ Dung đẹp dạ tôi cũng vui lây và thơ thới trong lòng. Lộc ban phát lời ngợi khen hết cả ban hợp ca, rồi lật tiếp tập nhạc lựa bài Dư Âm, Lộc tự đệm đàn và hát một mình. Lệ Dung nhoẻn miệng cười xinh xắn ngước mắt ngó lên nhìn anh tôi tình tứ. Tôi thở dài ôm lấy cây đờn măng-đô-lin siết chặt trong lòng mình đau điếng…. Đàn tôi đứt hết dây rồi, không ai nối hộ không người thay cho. Rì rào những buổi gieo mưa, lòng đơn ngỡ tiếng quay tơ đằm đằm. Ôi Lệ Dung ơi có thấu?
Tối đến má tôi đày anh tôi xuống ngủ ở nhà dưới, còn Lệ Dung thì được bà bắt cóc tấn ở ghế bố sát vách gỗ trên gác, bà bắc ghế bố khít rịt sát bên nàng để cản trở lưu thông. Chuột kêu chút chít trong rương, anh đi cho khéo đụng giường mẹ hay. Tôi thầm cám ơn má tôi đã có sáng kiến tân kỳ. Tôi cũng ngủ trên gác, nằm ở đi-văng phía trước, cạnh bàn học. Kế đó là vách ván ngăn hai bày biện bàn thờ Phật, bàn thờ Quan Công và bàn thờ ông bà. Rồi phía đàng sau vách mới tới hậu liêu của má tôi và Lệ Dung. Nằm chèo queo một mình, tôi lăn trở thao thức. Tiếng người ho trong đêm, tiếng thằn lằn chắc lưỡi, tiếng chân ai rón rén lên xuống ở cầu thang tôi đều nghe hết thảy. Rồi nghĩ quẩn, rồi tưởng tượng, rồi đau khổ. Âm thầm đau khổ trong đêm tối. Ước gì mặt trời mọc lên ngay trong lúc đó. Ngọn đèn hột vịt chong trên bàn thờ hắt hiu leo lét. Cũng như ngọn lửa lòng của tôi. Canh khuya thắp chút dầu dư, tim can chóng lụn anh sầu tư một mình…
Những ngày kế tiếp, Lộc lại lên đường cứu nước, tiếp tục sứ mạng phiêu lưu chính trị cao cả của mình như Lộc đã từng thốt lên. “Đời tôi là cả một bài thơ, cả một bài thơ rũ bụi mờ, cả một bài thơ không đầy ý, là đời nghệ sĩ sống vì mơ.” Lộc đi gặp gỡ các dũng sĩ đồng chí hướng khác để in truyền đơn kêu gọi học sinh bãi khóa. Bản truyền đơn được viết bằng loại mực tím đặc biệt trên nền giấy dầy có thể chuyền sang mặt bột ướt. Sau đó cứ lấy giấy trắng áp lên mặt bột mà vuốt là có được bản sao. Dễ ợt—mà nguy hiểm vì công an không ngớt rình rập.
Riêng tôi không bị thấm đòn sách động nên thừa lúc Lộc vắng nhà để chuyện vãn với Lệ Dung. Tôi phải căn dặn trước con tim mình đừng có nhảy cỡn loạn xị để tôi còn có đủ hơi sức mà ăn nói tỉnh táo với người đẹp. Dặn là dặn chơi vậy thôi chớ tôi dư biết con tim mình vẫn cứ đập theo nhịp điệu tự nhiên trời đất sanh ra của nó, chẳng ăn nhậu gì với ý chí của tôi hết. Ở nhà một mình để giải khuây Lệ Dung mua một cái áo gối bằng vải trắng và nhờ tôi vẽ hai chữ gô-tích mỹ thuật L và D quấn tít vào nhau để nàng thêu tấm lòng của nàng lên mặt gối bằng chỉ hồng. Tôi cắn răng cầm bút chì vẽ vời trên mặt gối vì Lộc đã trót khoe tôi vẽ vời rất có năng khiếu. Lệ Dung kiên nhẫn luồn kim thêu thùa để ngóng đợi chàng dũng sĩ trở về. Còn tôi, tôi kiên nhẫn ngồi cạnh bên ngó nàng âu yếm thêu áo gối tặng cho người yêu dấu. Con tim vốn đã rướm máu sẵn từ khuya giờ đây lại càng thêm bầm vập.
Chuyện vãn được biết nàng có một người chị và một đứa em cỡ tuổi tôi—thôi rồi dũng tướng đệ ngũ kể như tiêu tùng! Bắt qua văn nghệ, Lệ Dung nói nàng thích truyện Hồn Bướm Mơ Tiên, nàng ưa đọc Khái Hưng, Nhất Linh và yêu tùy bút của Thạch Lam. Trong lúc đó tôi vẫn hãy còn quanh quẩn với truyện Đồng Quê của Phi Vân và ba cái văn chương miệt vườn, Ngọn Cỏ Gió Đùa của Hồ Biểu Chánh. Tuy nhiên tôi đột nhiên nhớ ra câu văn xuôi không biết của văn sĩ nào đó mà tôi rất ưa thích. Tôi đọc cho nàng nghe” Lệ Quyên một sớm sang Hồ Hán, một chiều trở lại Hồ Tây, ngược xuôi xuôi ngược, tuy chung nước đổ một dòng mà bèo bọt vẫn đi về muôn ngã.” Văn chương như vậy thiệt là mùi tận mạng. Tôi hỏi nàng có thích không? Nàng yêu cầu tôi đọc lại và nàng gật đầu tán thưởng. Rồi nàng cúi đầu xuống đưa răng ngọc cắn lên sợi chỉ hồng, suối tóc huyền uốn éo tỏa ra hương thơm ẩn mật. Tim tôi lại cỡn lên chấn động. Tất cả mùa Đông đan áo len, cho người tất cả người quen. Còn tôi người lạ, có cũng nên mà không cũng nên! Tôi dợm đứng lên, nàng ngước mắt nhung hỏi tôi tính đi đâu vậy. Tôi nói tôi không tính đi đâu hết. Rồi thẫn thờ ngồi xuống trở lại bên cạnh nàng như trước. Chết bỏ!
Tối đêm đó tôi lại nằm chèo queo một mình và tưởng tượng. Tâm sự rối nùi. Tay chân lạnh ngắt, ruột tôi chơn quặn lên đau thắt dữ dội, mình vã mồ hôi, tưởng chừng bụng mình sắp nứt làm hai phơi hết tim gan mình ra cho mọi người ngó thấy. Tôi thường có những cơn đau đứt ruột khi lòng mình quá xúc động. Đau chết giấc. Hết thuốc chữa… Tôi chỉ còn nước ôm cứng lấy bụng mình mà cắn răng chịu trận, không dám rên rỉ sợ gây huyên náo làm mất giấc ngủ mọi người và đánh thức Lệ Dung.
Chị cho em chị chiếc khăn thêu, ý chị thương em khóc đã nhiều. Khóc chị ngày xưa, giờ lại khóc cho mình khi tắt một tình yêu… Ờ nhỉ! Sao tôi không nhân dịp Lệ Dung thêu thùa mà nhờ nàng thêu cho mình một chiếc khăn tay bỏ túi làm kỷ niệm? Trong đêm tối đen mấy câu thơ của sư phụ chợt lóe lên trong trí tôi và gợi ý. Sáng hôm sau, chờ lúc anh tôi lên đường cứu nước, tôi ngỏ ý khăn thêu với Lệ Dung và được nàng ưng thuận. Nàng lấy một chiếc khăn tay trắng còn mới nguyên có thêu viền chỉ xanh lục xung quanh và biểu tôi vẽ một chữ K lớn ở góc trên. Tôi làm gan đề nghị nàng thêu chữ ký tên Lệ Dung ở góc đối diện cho người ta được biết tác giả. Và nàng cũng ưng thuận.
Nàng lại bắt đầu chăm chỉ thêu thùa chữ cái của tên tôi với chỉ thêu màu xanh lục—một cây xanh dờn cho mát lòng dũng tướng. Tôi lại ngồi bên cạnh nàng và mở tập thơ Lỡ Bước Sang Ngang của sư phụ mình ra đọc trang từng trang một cho nàng nghe. Thỉnh thoảng nàng dừng thêu thở dài. Mắt quầng tóc rối tơ vương, em còn cho chị lược gương làm gì? Một lần này bước ra đi, là không hẹn một lần về nữa đâu! Có phải khi thở dài sườn sượt như vậy Lệ Dung đã linh cảm mơ hồ điềm ly biệt? Sau này khi Lệ Dung khăn gói từ giã nhà họ Lê trở về Tề quốc rồi thì tôi không còn bao giờ được gặp lại mặt nàng một lần nào nữa hết. Cũng là thôi, cũng đã đành! Sang ngang lỡ bước riêng mình chị sao? Nàng để lại cho anh tôi một tấm ảnh trắng đen chụp nàng đứng cạnh bên nhà thủy tạ cất bằng gỗ xoải mình ra giữa hồ sen trong thành phố Bến Tre. Sau lưng nàng, hàng hàng lê liễu xõa tóc sương mai buông rũ xuống mặt hồ lăn tăn dợn sóng. Lưng ảnh Lệ Dung có đề mấy dòng chữ tạ từ viết tay bằng mực tím: “Nàng liễu rũ vì cơn gió dập, hay vì hoa đã lỡ làng duyên?” Tuy không hiểu rõ nàng muốn nói gì, tôi cũng lén ăn cắp tấm ảnh đó của anh tôi và giấu kín kỷ niệm Lệ Dung còn phưởng phất dư hương quấn quít trong mái tóc nàng làm của riêng.
Bỗng Lệ Dung la “Ái!” lên một tiếng tiếp theo tiếng pháo lớn chợt nổ trước nhà. Nàng buông rơi chiếc khăn thêu luống cuống nắm lấy đầu ngón tay bị kim đâm vào rỉ tuôn máu đỏ lúc nàng giựt mình vì pháo nổ. Một cách máy móc tôi chụp đầu ngón tay nàng đút vào miệng mình như những lần tôi bị đứt tay chảy máu. Nàng cũng để yên không rút lại. Hương thơm bí mật của bàn tay nàng cận kề sát bên mũi tôi hơn bao giờ hết. Mắt nhung nàng ngó thẳng vào mắt tôi. Tôi chóng mặt, tim tôi đập mạnh bấn loạn không còn giữ được trật tự nhịp nhàng gì nữa. Hương thơm Lệ Dung mằn mặn ở đầu lưỡi… Trời ơi! Ngay lúc này giá mà tôi có thể ăn thịt được nàng! Cho dù sau đó có bị kết tù chung thân khổ sai và lưu đày biệt xứ tôi cũng cam chịu.
Tôi đứng dậy tìm băng keo rịt đầu ngón tay lại cho nàng. Cuộc thêu thùa đành ngưng lại lưng chừng, lỡ dở. Để dằn cơn xúc động, tôi bỏ xuống đường và đi lang thang trong thành phố buổi chiều chúa nhựt với dư vị da thịt nàng còn ám ảnh đuổi riết trên môi. Ôi! Lệ Dung….
Sau bữa cơm chiều, anh tôi lại đưa nàng đi dạo mát như thường lệ. Tôi thua buồn leo lên gác ra ngồi ở bực cửa sổ ôm cây đờn măng-đô-lin run khua lẳng tẳng. Dư hương Lệ Dung vẫn còn bồi hồi chưa dứt. Tôi bần thần chưa tỉnh, Trong bụng rưng rưng. Tôi đờn đi đờn lại những ca khúc lãng mạn. Rồi yên lặng ngó lên một vì sao đơn chiếc đang mọc cao trên nền trời thăm thẳm. Anh Hai Te đã về thăm nhà hồi sáng hôm nay. Tôi nhớ và thèm tiếng ca tài tử của anh. Anh cũng có dạy cho tôi hát và đờn thuộc lòng được câu đầu của bài vọng cổ . Tôi ướm thử giọng rồi cất tiếng ca lên một mình:
“Lệ Dung em ơi! Sao em nỡ đan tâm lòng quyết (yết) sang (ơ ơ) Tề…”
Chợt trong vùng ánh sáng bất định một hương thơm quen thuộc thoảng dậy lùa tới bên mũi tôi. Tôi giựt mình ngó lại. Trong vòm hương tỏa ngất ngây Lệ Dung đã xuất hiện đứng đó tự bao giờ. Nương theo một phép nhiệm màu, từ Suối Đào Nguyên nàng thình lình giáng thế. Tôi chới với thiếu chút nữa đã té ngửa qua mái ngói của nhà hàng xóm cạnh bên mà lăn lông lốc rơi tuốt luôn xuống đất. Tôi lặng thinh ngó nàng lung linh trong vùng ánh sáng mờ yếu của ngọn đèn dầu. Nàng bước tới gần cầm chiếc khăn tay đưa ra cho tôi nói hồi chiều nàng đã thêu xong. Tôi đưa tay cầm lấy rụng rời. Yên lặng nàng ngó tôi vài giây rồi chợt cất tiếng nhỏ nhẹ hỏi tôi sao ca bài đó làm chi cho thêm buồn bực? Tôi còn đang bối rối chưa biết trả lời cách nào thì nàng đã vội vàng quay gót son mềm chạy xuống cầu thang như vừa chợt hiểu. Một cơn gió Xuân mát lạnh từ bên ngoài cửa sổ thổi ùa tới làm tôi rùng mình.
Rồi một ngày qua hai ngày qua….
Và giờ phút biệt ly đã đến. Má tôi, Lộc và tôi đưa nàng ra tận bến xe đò để tiễn chân. Lệ Dung về Tề quốc. Tay nắm không buông. Mắt nhìn bịn rịn. Lời nói nghẹn ngào. Lệ tuôn lã chả. Ôi! cái cảnh biệt ly sao mà buồn vậy?
Tàu chạy hình như để chở buồn, chở người đi nhớ kẻ về thương, nâng bao nhiêu gót chân xinh đẹp. Tàu chạy đêm nay có lạc đường? Lệ Dung ngồi sát bên cửa xe thò mái tóc kẹp uốn éo buông lơi ra ngoài và nắm lấy tay má tôi mà khóc như mưa bấc. Lộc đứng khít bên má tôi. Còn tôi thì lùi ra xa trên bờ lề đứng dựa lưng vào một gốc cây me già mà ngó, sợ e đứng gần giai nhân cầm lòng không được tôi phát buông ra những lời nhảm nhí càng gây thêm bối rối cho tất cả mọi người. Hay lại phát thinh ré lên khóc càng thêm quê một cục. Nhìn Lệ Dung lã chã má tôi cũng rút khăn ăn trầu ra mà lau lệ không ngớt. Thế nào má tôi cũng chúc nàng thượng lộ bình an và hứa hẹn khi nào nàng học thành tài xong rồi thì má tôi sẽ cưới nàng về cho anh tôi để cho nàng trở thành một trang hiền phụ. “Em muốn vô làm con dâu thảo cho phụ mẫu mình. Trước coi gia cang bề thế sau nấu đôi bình nước khuya”. Má tôi vốn là người quê mùa nên vẫn hằng tin tưởng rằng yêu nhau là phải có thủy có chung.
Nhưng những giọt nước mắt cho dù có thổn thức ngậm ngùi cách mấy cũng không thể nào thay đổi được giờ giấc của những chuyến xe đò. Xe bắt đầu rồ máy xịt khói xanh um và dợm bánh lăn tới lăn lui. Rồi xe bắt đầu lăn bánh thiệt sự. Má tôi và Lộc đành phải buông tay nàng ra. Lệ Dung đưa tay lên cao vẫy chào biệt ly mọi người. Tôi cũng vội vàng đưa tay lên vẫy vẫy cho tới lúc nàng khuất bóng sau vòm khói xe tỏa xanh mù mịt. Lệ Dung! Lệ Dung! Thôi giã biệt! Cõi lòng của Lộc chưa chắc tan nát bằng cõi lòng của đứa em mình.
Lững thững tàu đi mất nữa rồi, sao không dừng lại ở ga tôi, lấy mươi lăm phút cho tôi gửi, chút ít xuân xanh trả lại trời? “Lệ Dung một sớm sang Hồ Hán, một chiều trở lại Hồ Tây, ngược xuôi xuôi ngược, tuy chung nước đổ một dòng mà bèo bọt vẫn đi về muôn ngã…”
Anh Hai Te đã trở lại trại mộc từ sáng hôm nay. Tối hôm nay, cũng như mọi tối, sau khi cơm nước xong, anh ôm cây đờn vọng cổ ra ngồi ở đống cây trước nhà ca vài khúc ca giải muộn.
Và tối hôm nay, cũng như mọi tối, tôi ra ngồi ở bực cửa sổ trên gác cao mong ngóng. Nhưng tối hôm nay, khác hơn mọi tối, tôi có thêm được chiếc khăn tay mà Lệ Dung đã nhỏ giọt máu đào thêu tặng cho tôi. Anh Hai Te bắt đầu dạo nhạc và nói lối. Áp chiếc khăn thêu nồng ấm lên mũi mình, dư hương kỳ bí của Lệ Dung vẫn còn ngạt ngào nguyên vẹn. Khi anh Hai Te dứt phần dạo nhạc và cất tiếng ca tài hoa xuống câu vọng cổ ngậm ngùi thì hai giọt nước mắt nóng hổi của tôi cũng bật trào theo lăn ròng ròng xuống má. Thôi rồi! Nương tử Lệ Dung đã đành bước lên kiệu hoa đem tấm thân ngọc ngà về xứ khác.
Lệ Dung em ơi! Sao em nỡ đan tâm lòng quyết (yết) sang (ơ ơ) Tề…

KIỆT TẤN

Trượng phu (1)

tonnuthudung

Nụ hôn giờ trống không
Chiều mệt mõi rượu nồng
Đời như không còn nữa
Một ngày qua mỗi buồn

Tóc phù du thôi xanh
Sao mà mưa đoạn đành
Nâng ly chìm hồn vía
Rượu cuồng điên lời kinh

Quán trọ buồn không khách
Bơ vơ đời loanh quanh
Tôi một mình say mãi
Quên dáng buồn mong manh

Tôi là viên gạch vỡ
Nằm bên bờ tường em
Hoa cỏ vườn hoang nở
Cuộc tình ai ngọt mềm

Còn chi đời trượng phu
Cung kiếm nhện giăng mù
Khúc hát vùi quá khứ
Còn chi đời mày râu

Đã trót chê Phạm Thái
Nhập cuộc biết sương mù
Còn bao nhiêu chí lớn
Xin trao về Quỳnh Như…

Tôn Nữ Thu Dung

Thu say

dulehue

Trăng rụng xuống nhà ai kín cổng
Khuya vườn không ngây ngất dáng người
Rượu một mình ly đầy những nhớ
Uống tàn canh Bến Ngự sương mờ

Đèn nhà quê hao gầy sợi bấc
Vách chập chờn bóng ta cô đơn
Em nhẹ gối tóc dài theo mộng
Mưa có về trong giấc mơ không?

Trái sầu đông suốt đời vô vị
Đoá quỳnh hoa trinh tiết chờ ai
Tôi đạo đức ngu rồi kinh kệ
Trái tim người dội rung tiếng ngân

Em quá xa để cho tôi đợi
Em quá gần để đớn đau tôi
Tháng mười môi có như thiên hạ
Hồng chút tình tôi không phấn son

Tiếng chim hót trong bụi mận gai
Nửa đêm u giọng hát cô hoài
Ngồi nghe mưa rụng trong lòng lạnh
Rượu có tôi còn tôi có ai

Thà có ngày xưa để đưa em
Qua sông có đau nhưng mặn nồng
Bây giờ buồn cả rừng tê tái
Một mình say say trống không

Hương đêm man mác màu tịch liêu
Dáng em xưa thấp thoáng yêu kiều
Gió lay thoang thoảng đưa mùi tóc
Thơm ngát mùa thu tôi u mê.

dulehue

ĐÀN ÔNG…KHIẾP LẮM!

thaiquocmuu

Không ghen chẳng phải đàn bà,
Không dối vợ nhà đâu phải đàn ông.

Thái Quốc Mưu

Mọi người đều bảo vợ tôi đẹp, so với tuổi “năm” thì “cụ bà” còn rất trẻ. Đặc biệt, nụ cười mặc dù đã ngoài năm chục nhưng những cô gái còn mơn mởn xuân thì khó thể sánh được. Tạo hóa đã ban cho “bà cụ” nhà tôi đôi môi đỏ mọng, nụ cười rất duyên dáng, đôn hậu, hiền lành… Bạn bè tôi thường bảo “ông được người vợ có nụ cười rất đẹp.” Có thể nhận xét đó chẳng sai lầm và ví dầu có kẻ nào ganh ghét vợ tôi cách mấy cũng không thể phủ nhận nụ cười tươi thắm của vợ tôi.

Riêng tôi – một thằng đàn ông lang bạt từ thời niên thiếu đến bây giờ, đang trong tuổi “tri thiên mạnh” – cũng thừa nhận và say đắm nụ cười ấy. Thật thế! Vợ tôi rất đẹp. “Bà cụ” đẹp từ hình vóc tới bản chất. Nàng đúng là típ phụ nữ “mặt tiền sáng sủa, điện nước trong ngoài đầy đủ.”

Quý bà chòm xóm, láng giềng người bản xứ hay cùng màu da mái tóc, những khi rảnh rỗi thường tới lui thăm viếng chuyện trò với “bà cụ” nhà tôi.

Hơn ba mươi năm trước, vợ tôi từng là Á khôi của một trường trung học ở Sài Gòn. Nàng rất được nhiều chàng trai săn đón, tán tỉnh… nhưng tất cả đều là những tên võ sĩ hạng tồi, bị tôi đánh gục dễ dàng.

Tôi có gì đặc biệt? Chẳng có gì cả! Tôi vẫn bình thường như những chàng trai cùng trang lứa. Có điều, xin bật mí, lúc tôi mới sanh ra, Đại Lục Tiên, một lão tướng số thời danh người Trung Quốc, đi ngang qua cửa tự ghé vào nhà, tìm gặp thân phụ tôi rồi phán: “Chúc mừng ông, bà nhà vừa hạ sanh quý tử, sau nầy dựng nên danh phận, tiếng tăm để đời, có điều mệnh tại cung đào hoa cho nên bản chất lang bạt, tình cảm lăng nhăng, nhiều bà lắm cô săn đón…”

Việc “bí mật” nầy, thân phụ tôi giấu mãi cho đến khi người lâm chung. Gần hai mươi năm trước, tôi tình cờ biết được lời phán của lão thầy tướng số qua lời kể của người anh lớn, sau khi ông nhắp mấy xị đế đến quắt cần câu rồi mới tự khai.

Nghe được lời “vàng ngọc” của lão thầy tướng số, tôi tự bảo thầm: “Có lẽ, trời sinh ra mỗi người có một số mệnh nhưng nếu bảo mình dựng nên danh phận thì.. coi như trật lất, còn bảo có số đào hoa thì… thì phải xét lại.” Tôi lại nghĩ “nếu ông ta bảo mệnh mình tại cung đào hoa không thôi thì chưa đủ, phải bảo thêm tâm ngự tại “cung đểu” nữa mới chính xác! Vì nếu mệnh tại đào hoa cung mà tâm tại Phật thì đếch thế nào đào hoa được!”

Nghĩ vậy, tôi liền tự xem tướng mình rồi tự phán “mệnh tại đào hoa, tâm tại đểu”. Và tôi lập thành châm ngôn, “phi đểu bất thành đào hoa”.

Tôi cùng vợ tôi lập gia đình, xây dựng hạnh phúc đã gần ba chục năm nay. Sống bên nhau, lúc nào nàng cũng tận tình chăm sóc, lo lắng, nuông chiều tôi hết sức chu đáo. Ngoài sắc vóc đẹp đẽ, tính nết nhu mì, hiền thục và… ghen. Vợ tôi còn là hội viên năng nổ của “Hội sinh sản”. Để chứng minh cho mọi người thấy mình là một thành viên hoạt động tích cực nhất trong hội, mỗi năm vợ tôi đóng góp cho nạn nhân mãn thêm một nhóc tì, riêng lần sinh thứ tám nàng “chơi” liền hai đứa song sinh. Thấy thế, tôi hoảng quá, nên tìm cách đi làm ăn xa. Năm sau, tôi trở về, vợ tôi bù lỗ một năm tôi vắng nhà, nàng “xoạc” ra một lần hai nhóc nữa. Ngày kỷ niệm mười năm chung sống, chúng tôi trình làng thành tích “chín lần đẻ đái với sáu cu, năm cái”.

Với thành tích hào hùng đó, ở người phụ nữ khác chắc chắn sức khỏe bị hao mòn, sắc vóc dần phai nhạt nhưng với vợ tôi thì khác. Cứ mỗi lần xoạc ra một nhóc tì thì nàng càng đẹp thêm ra, da dẻ càng hồng hào, càng mịn màng hơn trước. Nhiều bà lắm cô cứ theo hỏi vợ tôi dùng thuốc thang gì, thầy nào, ở đâu… mà được như vậy? Vợ tôi chỉ biết cười… trừ rồi thật thà khai báo chẳng thuốc thang chi cả và bảo rằng có lẽ trời thương nên mới được như vậy mà thôi. Vợ tôi càng thành thật, mọi người càng không tin, họ cứ cho là vợ tôi ích kỷ muốn giấu giếm để được trội hơn mọi người.

Tối đến, vợ tôi thỏ thẻ với tôi những điều đó. Tôi bảo nàng, “có trời nào cho em đâu, em nhờ thuốc của anh thì có!” Chẳng biết nghĩ thế nào, nàng bấu tôi một cái đã đời. Đúng là nàng suy bụng ta ra bụng người!

Thắm thoát chúng tôi sống bên nhau gần trọn đời người, thời gian không đủ khả năng làm phai nhạt sắc đẹp của vợ tôi. Có lẽ trời cho sắc đẹp cùng tồn tại với cái ghen của “cụ bà” đến khi nào không còn hiện hữu trên thế gian nầy nữa.

Nói đến cái ghen của vợ tôi thì “thế gian vô nhị” nhưng vợ tôi ghen đầm, ghen ngầm, ghen chịu đựng, ghen… trí thức. Hoàn toàn khác xa với những con sư tử Hà Đông ghen ẩu, ghen tả, ghen hỗn hào, ghen vô giáo dục, ghen hạ đẳng, ghen bóng, ghen gió, ghen tùm lum tà la, ghen bất kể… trời đất.

Nhưng dù với hình thức ghen thế nào chăng nữa, dù có rình rập thế nào chăng nữa… vợ tôi chỉ có thể nghi mà không thể khẳng định bởi tôi vốn là “hào hoa chi đểu” cơ mà!

Đã đểu thì phải đểu từ trong ra ngoài, phải đểu y như thật, đểu từ cuộc sống trong gia đình đến ngoài xã hội, đểu từ đình chùa đến nhà thờ nhà thánh,… Tóm lại phải có nghệ thuật đểu, đểu phải cao cấp. Muốn đạt đến mức thượng thừa của đểu thì phải biết đóng kịch, phải là kịch sĩ thứ thiệt, có biệt tài và năng khiếu, nếu không thì chẳng ai tin. Chẳng ai tin thì làm sao đểu được?

Đã là một phụ nữ đẹp, một vẻ đẹp quý phái dịu dàng rất hiếm hoi trong giới nữ, bên cái đẹp vợ tôi còn có tính nhân từ, hiền hậu, biết nhịn nhục, cần mẫn, cả cuộc đời chỉ biết chăm sóc chồng con. Quả thật, “bà cụ” là người vợ, người mẹ lý tưởng, tuyệt vời! Nhiều người bảo “ông có phước nên mới được bà nhà như vậy…”

Nhưng với kẻ đã mang số “đào hoa chi đểu” như tôi thì khác. Trước mắt tôi, trong lòng tôi vợ tôi đúng là người vợ tuyệt vời, quá tuyệt vời nữa là đàng khác! Nhưng hãy ví von, mỗi ngày ta cứ dùng món cari hay vịt quay thơm ngon, béo ngậy, chắc chắn không thể nào nuốt trôi được và vẫn muốn đổi bữa bằng những món khác như cá kèo, cá rô, rồng rồng, lòng tong kho tộ ăn với canh khoai từ, khoai môn mộc mạc… Tôi cũng vậy, là đấng nam tử, bậc nam nhi chi chí mà! Nếu muốn mà không làm thì sao thành người “quân tử”?

Ra khỏi nhà một người bạn, tôi định lên xe thì một phụ nữ tuổi ngoài bốn mươi ngừng xe trên sân ngôi nhà kế bên vừa bước xuống. Nàng nhìn tôi khẽ cúi đầu chào rồi nở nụ cười thật tươi, giọng ngọt như đường phèn:

– Chào ông! Ông là bạn của bác Quân?

– Xin chào bà, Quân là bạn tôi, chúng tôi biết nhau gần hai mươi năm.

– Hân hạnh được biết ông. Xin lỗi có phải ông là…

Tôi tiếp lời người đẹp:

– Tôi là Kỳ Nhân, thưa bà! Xin lỗi, tôi có thể được biết quý danh của bà?

– Xin ông đừng khách sáo, cứ gọi tôi là Thu Quỳnh.

– Ồ! Hân hạnh được biết bà. Bà Thu Quỳnh, tên của bà đẹp như người!

Thu Quỳnh liếc nhẹ tôi rồi mỉm cười duyên dáng:

– Ông Nhân, ông lại khách sáo rồi!

Xong, Thu Quỳnh đổi giọng:

– Tôi đã được đọc nhiều bài viết của ông trên các báo, hôm nay được gặp mặt, thật là vinh hạnh.

– Cám ơn bà. Tôi chỉ viết để mua vui thôi!

Thu Quỳnh nhẹ nhàng phản đối:

– Tôi không đồng ý, trong mỗi chúng ta đều có một mảnh, à không, mà là cả một bầu trời riêng biệt. Viết không chỉ để vui hay giải tỏa tâm tư mà còn trang trải, trao tặng tâm tư, ước vọng của mình đến với mọi người. Tôi chẳng biết viết lách là gì nhưng tôi rất tôn trọng những người cầm bút. Ngoài việc trang trải, gởi gắm tâm tư, ước vọng… Họ còn dám thẳng thắn bày tỏ quan điểm của mình trước quần chúng. Họ trao cho người và để lại cho đời bằng tất cả tấm lòng của họ. Tôi nghĩ thế có phải không, thưa ông?

Tôi hơi giật mình, nhìn lại người đàn bà xinh đẹp, dáng vẻ quý phái đang đối diện. Tôi tự nghĩ, đây là một phụ nữ có học, giàu kiến thức mới có thể có những nhận xét và ngôn ngữ tao nhã như thế!

– Thưa bà Thu Quỳnh – Tôi nói, bà nói rất đúng, nhưng trong giới độc giả không phải mọi người đều có sự suy nghĩ thông minh như bà.

Thu Quỳnh nở nụ cười nhẹ nhàng trên vành môi xinh mọng:

– Cám ơn ông, không dám làm phiền ông. Đây là nhà của tôi. Ba mẹ con chúng tôi ở với nhau. Trường hợp không có gì trở ngại, mời ông hôm nào đến chơi.

Ngừng một chút, hơi do dự, Thu Quỳnh tiếp:

– Hai cháu nhà tôi đi học từ chín giờ sáng đến bốn giờ chiều mới về. Ông có thể đến chơi lúc nào cũng được.

Sự linh cảm bật dậy trong lòng tôi. Không chút chần chừ, tôi đáp ngay:

– Vâng, tôi sẽ đến thăm bà!

***

Qua giao tiếp lần đầu, tôi biết tỏng “con cá kèo” Thu Quỳnh có sẵn cảm tình với mình, tôi liền áp dụng chiến thuật cố hữu đánh nhanh, tiến mạnh làm cho đối phương bất ngờ không kịp trở tay và… thích thú.

Mười giờ sáng hôm sau, lên tầng trên nhà, nơi đặt phòng làm việc của tôi. Tôi lấy cái cell phone, bấm số phone office của mình, chờ chuông reo vài hồi, tôi tắt phone rồi cất giọng oang oang:

– “Hello! Thời Báo nghe!”.

Ngừng một chút, tôi tiếp:

– “Vấn đề đó, như tôi đã trình bày với ông ngày hôm qua. Dà, không thể được! À! Vâng tôi sẽ đến gặp ông. Vâng, chúng ta sẽ cùng thảo luận lại. OK! Vâng! Mười lăm phút sau chúng ta gặp nhau! Bye!”

Tôi vừa úp phone thì thấy vợ tôi hai tay khệ nệ bưng bình trà lên. Tôi nhìn vợ, se lòng nhưng “con cá kèo” Thu Quỳnh ngon ơ làm biến mất nhanh chóng giây phút chạnh lòng ấy. Tôi làu bàu:

– Anh phải đi ngay để gặp ông giám đốc công ty Z. Có thể anh mời ông ta đi ăn trưa, em ở nhà ăn trước, đừng chờ và đừng để phần anh.

Nói xong, tôi lấy cái cặp nghề nghiệp luôn đặt sẵn trên bàn, một tay xách cặp, tay còn lại vòng qua thân mình vợ tôi siết mạnh rồi đặt lên trán nàng nụ hôn nồng nàn.

Tôi lên xe, trực chỉ đến con đường quen thuộc của nhà bạn tôi. Mươi phút sau, tôi đậu xe trước sân nhà Thu Quỳnh. Đã gọi hẹn trước, chỉ sau hồi chuông ngắn ngủi, người phụ nữ xinh đẹp hiện ra trước cửa. Nàng nhìn tôi đon đả:

– Chào ông, hân hạnh được tiếp ông, mời ông vào…

Tôi ngăn lời người đẹp:

– Xin xem nhau như bạn. Xin bà đừng khách sáo!

Sau khi thấy sự yên ắng trong nhà tôi tiếp:

– Bà ở nhà một mình?

Dường như Thu Quỳnh chỉ chờ câu hỏi đó nên sau khi nghe tôi hỏi, nàng khẽ thở dài, trút tâm sự:

– Hôm qua, khi hầu chuyện với ông, tôi có thưa, chúng tôi sang đây có ba mẹ con và giờ nầy hai cháu đều đi học.

Tôi làm ra vẻ mình lãng quên:

– Ồ! Xin lỗi bà, tôi nhớ lại rồi. Thưa bà, còn ông nhà?

Thu Quỳnh thở hắt ra rõ to:

– Thưa ông, nhà tôi qua đời trước khi ba mẹ con chúng tôi sang đây.

Tôi lại làm ra vẻ cảm thông:

– Tôi thành thật san sẻ nỗi đau của bà.

Thu Quỳnh tiếp:

– Biết sang Mỹ mà cô đơn như thế nầy, thà rằng tôi ở lại quê hương. Thú thật với ông, ông nhà tôi trước kia làm ngành y, anh ấy là bác sĩ X quang, qua đời sau ca phẫu thuật tim.

Sau lần “gặp gỡ đầu tiên ấy”, bản chất ăn quen bén mùi, tôi thường đến thăm Thu Quỳnh, nghe nàng tâm sự. Thế rồi chuyện phải đến tất đến. Con đường dẫn đến nhà Quân – bạn tôi – bào nhẵn vỏ xe tôi lúc nào không hay…

Mỗi khi từ nhà Thu Quỳnh về, lên xe, trước khi thắt dây an toàn, tôi lấy chai dầu thơm xịt quanh xe. Cứ sau mỗi lần “đổi món ăn chơi”, tôi thường làm như vậy và kinh nghiệm nầy là một trong nhiều mạng lưới an toàn có khả năng đánh lạc hướng, tránh được sự theo dõi, nghi hoặc từ “món cari” thơm phức của tôi. Mũi “bà cụ” nhà tôi thính lắm!

***

Sáng hôm sau, tôi đang nổ máy xe cho nóng thì vợ tôi nói:

– Nhà hết rau xanh rồi, anh chở em đi chợ một chút rồi hãy đi công việc nha!

Tôi vui vẻ sốt sắng:

– Sao lại không? Vợ cưng của anh muốn gì mà chả được!

Vợ tôi cười thích thú:

– Còn anh cũng là ông xã cưng nhất đời em.

Sự hổ thẹn xâm chiếm lòng tôi. Tôi đã đáp lại lòng yêu thương chân thật của vợ tôi bằng hết sự gian dối nầy đến sự gian dối khác. Vài phút sau, đợi đúng lúc vợ tôi mở cửa xe, tôi lấy chai đầu thơm quen thuộc ra xịt trong xe rồi nói:

– Chở người đẹp thì xe phải thơm tho.

Vợ tôi trả lời bằng ánh mắt, nàng cười không đáp.

Chừng mươi phút sau, trên đường đến siêu thị, chiếc cell phone của tôi reo lên từng chặp. Tôi biết tỏng ai gọi mình nhưng tôi đâu dại bắt phone. Giữ bình thản, nhìn vợ tôi bảo:

– Em bắt phone đi!

Vợ tôi làm theo. Nàng vừa dứt hai tiếng Hello! Đầu dây bên kia cúp máy. Vợ tôi càu nhàu:

– Ai gọi mà mình mới vừa lên tiếng thì cúp máy.

Vẫn giọng bình thường, tôi nói đùa:

– Đó là “chuyện thường tình” mà em!

Vợ tôi cũng đùa:

– Hay là bà nào gọi anh, nghe em lên tiếng mới cúp phone?

Tôi nhìn vợ âu yếm:

– Em không biết em đẹp như thế nào sao! Trái tim anh đã nhét kín em mấy chục năm nay rồi, đâu còn chỗ cho “con mẹ” nào chen vào!

Nghe tôi nói với luận điệu cứng cỏi, vô giáo dục như thế, vợ tôi rất hài lòng, “bà cụ” cười rạng rỡ:

– Em chỉ nói đùa thôi! À anh, đối với người đàn ông, sắc đẹp của người vợ là yếu tố chính để giữ hạnh phúc phải hôn anh?

Tôi cười đáp:

– Phân nửa thôi. Phần còn lại bao gồm nhiều yếu tố khác.

– …?

– Chẳng hạn tánh tình, cách cư xử với nhau…

– Anh thấy em có khuyết điểm nào không?

– Trên ba mươi năm vợ chồng mình sống trong hạnh phúc, đó là câu anh trả lời em.

Nói xong, tôi cầm phone bấm số quen thuộc. Tiếng chuông đầu dây bên kia vừa vang lên, đã có người nhấc máy. Tôi nói ngay:

– Hello cháu Hoàng! Chú xin lỗi đến trễ tí nha! Chú đang chở thím đi chợ, khoảng tiếng sau chú cháu mình gặp nhau.

“Bắn tin” xong, cúp phone, quay nhìn vợ mình, tôi nói:

– Anh có hẹn với cháu nầy nhưng em muốn đi chợ anh phải đưa đi nên gọi hẹn lại.

Vợ tôi tỏ vẻ hối hận:

– Sao hồi nãy anh không nói cho em biết? Việc làm ăn quan trọng hơn, nếu anh bận thì mình em tự lái xe kia đi cũng được. A, hay là đến chợ rồi trong thời gian em mua sắm, anh đi gặp cháu ấy, sau đó trở lại đón em!

Trong đầu tôi thoáng nhanh sự tính toán, so với nhu cầu của cuộc hẹn hò tình tự, thời gian ngắn ngủi ấy có thấm thía vào đâu! Nghĩ vậy, tôi đáp:

– Em cứ an tâm mua sắm, anh đã hẹn lại rồi. Sau khi mình đi chợ về, anh sẽ đến gặp cháu ấy.

Vợ tôi khẽ chép miệng, làm thinh.

“Bà cụ” bước vào phòng làm việc của tôi, nàng đặt bên tôi ly café đá. Xong, từ sau ôm choàng lấy tôi hôn nhẹ vào má tôi rồi bước xuống bậc thang lầu. Ngay khi đó, tiếng chuộng điện thoại reo lên. Tôi nhấc phone. Từ đầu máy bên kia, một giọng nữ:

– Anh Kỳ Nhân phải hôn? Sao mấy tuần nay em không thấy anh đi nhà thờ?

Tôi thật sự ngạc nhiên:

– Xin lỗi, tôi không nhận ra tiếng của ai?

Vẫn giọng miền Bắc mát lạnh:

– Thảo Chi đây mà! Anh đâu thèm nhớ giọng nói của em.

Tôi phân trần:

– Chẳng phải thế đâu, có điều chưa được tiếp xúc với Thảo Chi nên chưa quen giọng đó thôi. Thảo Chi vẫn khỏe? A, sao giờ nầy Thảo Chi còn nằm nhà? Hôm nay off phải hôn?

Vẫn giọng ngọt mềm:

– Em làm ca đêm, ngày nào mà chả ở nhà.

Tôi ngần ngại:

– Như vậy thì Thảo Chi nên nghỉ ngơi để lấy sức, tối còn đi làm. Mà nầy, ngọn gió nào đưa Thảo Chi gọi tôi?

– Mấy tuần qua không thấy anh đi lễ, sợ anh có chuyện gì nên gọi hỏi thăm vậy mà. Biết anh vẫn khỏe em yên lòng rồi.

– Cám ơn Thảo Chi. Đã trưa lắm rồi, cô nên nghỉ để giữ gìn sức khỏe.

– Cám ơn anh! Nhưng chẳng hiểu vì sao nằm nhắm mắt hoài mà không tài nào em ngủ được.

Tôi đùa:

– Không ngủ được thì cố mà ngủ.

– Biết thế! Nhưng không sao ngủ được cơ!

Sau câu nói ấy, tôi nghe rất rõ trong phone có tiếng thở dài thườn thượt.

Lòng không khỏi băn khoăn, tôi hỏi

– Thảo Chi, cô làm sao vậy?

Tôi lại cảm nhận được sự đè nén trong lồng ngực từ người bên kia đầu dây, tiếp theo là giọng nghẹn ngào, tâm sự:

– Đêm đêm em đi làm, sáng về đến nhà thì con cái đi học hết. Ăn xong, vào phòng nằm một mình, em không ngờ mình sang đây bị đời bỏ quên. Em cảm thấy cô quạnh quá!

Giả như có kẻ nào “dốt đặc cán mai” chẳng biết chuyện tình cảm yêu đương nam nữ là gì, nghe qua lời tâm sự ấy cũng hiểu, biết trong lòng đối tượng muốn gì, huống hồ tôi là kẻ “đào hoa chi đểu”?

Không bỏ lỡ cơ hội, tôi đổi ngay cách xưng hô:

– Trường hợp Thảo Chi thấy cần người để san sẻ nỗi cô đơn. Em cho phép anh đến thăm em nha!

Giọng Thảo Chi mừng rỡ, nàng thách đố:

– Anh dám xuống không?

Tôi thầm nghĩ, “con cá rô mề kho tộ” nầy đã thách thức mời gọi. Nàng muốn trao vàng cho tướng cướp. Trên đời nầy có kẻ cướp nào lại chê vàng?

Tôi xách cặp xuống lầu, thấy vợ tôi đang bày bữa cơm trưa. Nàng nhìn tôi nói:

– Anh định ra ngoài? Cơm nước đã dọn xong rồi, anh ăn uống rồi hãy đi nha!

Nơi bàn ăn, tôi ngồi cạnh vợ tôi, trên bàn bày la liệt các món ăn còn bốc hơi, mùi thơm thức ăn tỏa lên ngan ngát. Trong bữa ăn, như thường lệ, tôi gắp những món ngon cho nàng. Vợ tôi giẫy nẫy:

– Bộ anh muốn em làm bồ tượng hay sao mà cứ ép em ăn hoài, Em nấu nướng là vì anh thôi!

Suốt bữa ăn chúng tôi nói năng cợt đùa vui vẻ nhưng lòng tôi vẫn nhen nhúm hình ảnh “con cá rô kho tộ”.

Thảo Chi là một phụ nữ đẹp, nàng xuất thân từ dòng tu nữ Saint Paul. Nàng rời nhà dòng khi vừa hăm sáu, lập gia đình và chịu cảnh góa bụa khi chưa tròn ba mươi. Trong thời gian góa bụa, nhiều chàng võ sĩ trổ tài thi thố tài năng hầu mong được cặp mắt mùa Thu của nàng chiếu cố. Song tất cả đều thất bại. Nàng quyết định ở vậy, chẳng phải để thờ chồng mà là để chờ “ngày ra đi có trật tự”, không phải vướng bận rắc rối lôi thôi.

Tôi đến nhà Thảo Chi, nàng tươi cười đón tiếp. “Con cá rô mề” trước mặt tôi là một bông hoa rực lửa, nàng khoác lên người chiếc đầm ngủ màu xanh lơ để lộ hai gò bồng đảo no đầy không nịt ngực, khiến màu da thịt hiển hiện mơ huyền dưới làn lụa mỏng… Vốn kẻ tôn thờ chủ nghĩa thực tế, tôi nhủ thầm, “cơ hội đến mà không nắm bắt thì chẳng thể thành công”.

Nghĩ sao làm vậy. Tôi mở cuộc tấn công. Mười lăm phút sau, trong gian phòng của nàng, Thảo Chi nằm gối đầu trên tay tôi, nàng thỏ thẻ thì thầm:

– Chuyện tình cảm giữa anh với chị Thu Quỳnh tới đâu rồi?

Tôi chối ngay lập tức:

– Chỉ quen biết qua loa thôi, không có gì đáng kể.

Thảo Chi ngờ vực:

– Nhưng Thu Quỳnh bảo em, chị ấy với anh thâm tình lắm cơ!

– Có lẽ bà ấy nói đùa cho vui…

– Em hy vọng những gì anh nói với em đều bằng lòng thành thật!

Tôi khẳng định:

– Tất nhiên rồi!

***

Bữa cơm chiều hôm ấy, vợ tôi làm thêm món cà-ri Ấn Độ thơm ngon! Đó là một đặc sản mà tôi rất thích khẩu nhưng hôm nay, chẳng hiểu sao mới ăn vào vài miếng tôi ngán đến tận cổ. Trong bữa ăn, tôi chỉ nói cười chiếu lệ. Vợ tôi lo lắng:

– Anh làm sao vậy? Không được khỏe à?

Tôi lắc đầu:

– Không! Tự dưng anh thấy ngán món cà-ri nầy quá! Hay là hôm nào đi chợ, em mua cá kèo, cá rô về kho tộ, đổi món xem sao!

Vợ tôi ra chiều hối hận:

– Anh hổng nói, em đâu biết! Lúc trước anh nói, em có biệt tài nấu cà-ri và anh rất hợp khẫu vị, thỉnh thoảng em nấu để anh dùng. Nếu anh muốn ăn cá kho tộ thì ngày mai mình đi chợ nữa…

Tôi nhìn vợ tôi, nỗi thương cảm dâng trào, ngay lúc ấy, mùi cà-ri ngầy ngậy lại bốc lên, tôi khẽ thở dài bảo nàng:

– Ngon thật đấy nhưng ăn hoài cũng ngán lắm đó em!

Nghe tôi nói, “bà cụ nhà tôi” khẽ giật mình, do dự giây lát rồi nói:

– Món ăn thì như vậy, còn tình nghĩa vợ chồng thì như thế nào hở anh?

Tôi nhìn nàng như rất thành thật:

– Không thể đem thức ăn mà so sánh với tình nghĩa vợ chồng. Hơn nữa bên anh, em là người vợ tuyệt vời. Rất tuyệt vời đó em yêu!

Vợ tôi cười, nửa đùa nửa thật:

– Nhưng em chỉ sợ đến ngày nào đó, anh chán em như ngán ăn cà-ri vậy.

Tôi cười thật to, đáp:

– Nhưng em không phải là món cà-ri. Em là một con búp bê xinh đẹp.

Vợ tôi trề vành môi đỏ mọng rồi nàng xì một cái thật dài:

– Cho em xin đi ông. Nịnh nhau vừa thôi!

Tôi hú hồn và cảm ơn cách nghĩ đơn giản của vợ tôi. Giả như nàng hiểu, con búp bê dù đẹp đẽ thế nào, nhìn mãi, nhìn hoài cũng mất dần thích thú. Chính vì thế, người ta mới nghĩ đến những con thú nhồi bông khác.

Trong tôi, cứ sau mỗi lần lang thang với “bà hàng xóm” tôi cảm thấy thương vợ tôi nhiều hơn bởi vì nàng luôn luôn tin tưởng một cách chủ quan rằng sắc đẹp, đức hạnh của mình là bức tường kiên cố giữ được lòng chung thủy của đức lang quân… đồng thời cũng tuyệt đối tin tưởng vào cử chỉ săn sóc, âu yếm, lời lẽ ngọt ngào và sự nuông chiều… của tôi – người chồng mà nàng hết lòng yêu thương, tôn trọng.

Nhưng, “bà cụ nhà tôi” biết sao được, trong chuyện tình cảm nam nữ, đàn ông nói chung và riêng tôi, như là một thứ sinh vật ma mãnh, xảo trá, quỷ quái nhất trên đời! Và chẳng người đàn ông nào không ham thích “ăn” món lạ!

Còn quý bà? Quý bà sẽ làm thế nào nếu gặp phải ông chồng “đào hoa chi đểu” như… tui?

Thái Quốc Mưu

Mùa thu Paris

cungtramtuong

Mùa thu Paris
Trời buốt ra đi
Hẹn em quán nhỏ
Rưng rưng rượu đỏ tràn ly

Mùa thu đêm mưa
Phố cũ hè xưa
Công trường lá đổ
Ngóng em kiên khổ phút, giờ

Mùa thu âm thầm
Bên vườn Lục-Xâm
Ngồi quen ghế đá
Không em buốt giá từ tâm

Mùa thu nơi đâu?
Người em mắt nâu
Tóc vàng sợi nhỏ
Mong em chín đỏ trái sầu

Mùa thu Paris
Tràn dâng đôi mi
Người em gác trọ
Sang anh, gót nhỏ thầm thì

Mùa thu không lời
Son nhạt đôi môi
Em buồn trở lại
Hờn quên, hối cải cuộc đời

Mùa thu! mùa thu
Mây trời âm u
Yêu người độ lượng
Trông em tâm tưởng giam tù

Mùa thu!… Trời ơi! Tình thu!

CUNG TRẦM TƯỞNG

UỐNG RƯỢU VỚI BỤI ĐỜI

khatiemly

Mới xỉn hôm qua nay còn lạng quạng,
Bằng hữu công viên mở mắt đã gầy sòng.
Bàn tay vẫy, uống cùng em, hảo hán,
Đệ huynh mà, từ chối cũng không xong.

Thằng kiếp trước chắc là con nhà võ,
Nên rành chiêu khoét vách leo tường,
Thằng “chà đồ nhôm”, thằng chuyên gia … móc bọc,
Thằng con đại gia mà chẳng chịu đến trường!
Ta trước chắc mua bằng tiến sĩ,
Nên bây giờ ba trợn thứ văn chương.

Dù huynh đệ áo quần lem luốt,
Mà hết mồi miếng cóc bẻ làm đôi.
Hơn bao kẻ dùng ma mưu quỷ chước,
Vì lợi danh mà chường mặt bôi vôi!

Kẻ bụng đói nên mới đi ăn cắp,
Kẻ không nhà nên đành ngủ công viên.
Nếu chẳng may gặp nhằm khi tổ trát,
Thì là ngày uống nước lã thay cơm.

Mặc huynh là ai, mặc đệ là ai,
Gặp giữa dòng đời ít trong nhiều đục.
Lại giữa chợ đời ít vinh nhiều nhục,
Rượu giang hồ mình cứ uống cho say.

Nhìn thằng đời mặt tròn mặt méo,
Mình uống đi, rồi cứ xổ nho tràn.
Huynh làm thơ, chửi thề cho rộng đường chữ nghĩa
Đệ bụi đời, cho thêm mạnh câu văn.

KHA TIỆM LY

Chân Không

trusa
Chúng đang tiêu đi.
Nhà của tôi. Cái cơ ngoai sáu tầng, với vườn tược, bể bơi, những gian kiến trúc Tây Âu, phòng để sách, rượu, đồ cổ…biến mất dần như bị nung chảy. Cái bể cá ở phòng khách đã không thấy nữa. Cũng trong phòng khách, tôi không còn thấy cặp sừng voi Tây Tạng, bộ lông Bạch Hổ trải lót sàn. Những chai rượu rắn hổ, bò cạp rỗng ruột. Một ít chai thì còn lưu lại một mẩu da rắn, hoặc một, hai cái chân rết. Nửa giây khi con mắt tôi nhìn vào, số tàn vật biến mất. Một ngày sau, tôi không vào được phòng khách vì cái cầu thang uốn hình xoắn ốc đã bị tiêu mất. Chỉ còn lại một khoảng trống lớn và xa giữa nơi tôi đứng và phòng khách. Tôi đoán rằng cũng chẳng còn gì thừa lại trong phòng khách. Mấy ngày trước tôi không còn nghe thấy tiếng xòe đuôi của con công trắng mua từ Pardubice. Con công vẫn ngoài vườn. Vẫn đi lại, vẫn ăn được thóc ngô, uống được nước. Nó không xòe đuôi nữa vì bộ lông vũ đã trụi sạch. Con công đi lại, ngúc ngoắc cái đuôi cụt ngủn trong bất lực. Đám giúp việc nhà tôi chẳng còn ai. Bọn chúng hoặc xin nghỉ, hoặc đã lén lút trốn mà không cần nhận tiền công. Một vài đứa hỏi tôi về bạn của mình. Tôi nói không biết. Lúc này đây, vách tường phòng đồ cổ bị khoét một lỗ lớn. Dưới đất không thấy vỏ tường, bụi dính lại. Nó đang bị tiêu đi.
Đứng bên ngoài nhìn, nhà của tôi vẫn vậy. Còn khang trang, rộng lớn, toát vẻ khí phái. Tầng bốn đã bị tiêu hết. Chẳng còn tường, nóc hay mặt sàn. Lúc mở cửa phòng, chỉ thấy một khoảng không rỗng hoác. Từng có lần tôi vấp ngã và lộn cổ xuống tầng dưới. May sao tôi ngã đúng vào cái đệm. Tôi không biết nhà mình bị thế từ bao giờ. Thoạt tiên, tôi chỉ thấy mất đi mấy món đồ cổ, chậu hoa cảnh. Rồi những vật dụng mất đi. Phòng tranh ở tầng bốn chỉ còn trơ khung. Sơn dầu, Phố Phái, Dã Thú rồi Salvador biến mất một cách quái lạ. Tôi không nghĩ là có trộm vì camera vẫn hoạt động. Mở các đoạn phim, tôi được thấy tường tận. Một trong các đoạn phim ghi lại việc cái bình gốm thời Gia Long biến mất. Cái bình trong tủ kính chống đạn, có khóa mật mã. Không thấy một bóng đen khả nghi. Rồi thì, chiếc bình tan đi một nửa. Một chốc sau, nửa còn lại cũng tan biến theo. Thước phim được chiếu đi chiếu lại cả chục lần. Và vẫn thế. Từng món đồ cổ đều tan rữa vào hư không theo cách như vậy. Sau này, tôi không xem lại phim trên camera. Những món đồ đã bị cái gì đó hút mất ư? Không có một tên đạo trích nào. Tôi nghĩ về một loại mối phàm ăn có bộ hàm thép đang trú ẩn nơi nào đó trong nhà. Đoạn phim trên camera đã xóa bỏ giả thiết đấy. Không có con vật nào. Chỉ có sự tiêu biến vào cát bụi.
Vách của từng phòng bị mòn đi và tiêu biến mất. Cái bể bơi bị rút cạn nước, khu vườn sau nhà cũng trơ trụi như mả đất hoang.
Tôi phải đi rất cẩn thận vì bất cứ lúc nào cũng có thể mắc chân vào một lỗ thủng dưới sàn. Vết hổng đấy nhỏ thì chân tôi bị tụt xuống, lớn hơn thì nửa người kẹt lại như sa xuống đầm lầy. Những vụ tiêu biến vô tăm tích vẫn như vậy. Kéo dài, và thường xuyên như một thời gian biểu. Tôi gọi một số người đến chơi. Bọn họ được tôi kể về cái nhà mình. Chẳng ai tin. Lúc nói về những hốc thủng quanh nhà, họ cười và bảo tôi có sở thích quái gở. Ngày hôm sau, đám người đã đi đâu mất. Gian phòng nơi đám người ngủ qua đêm, đã bị tiêu đi mất. Bên ngoài nhà vẫn thế. Thật quái lạ khi nhiều tầng nhà đã bị tiêu đến mức trở thành một cái khung. Vậy mà nhà tôi chưa nghiêng, chưa sập chỗ nào. Nhìn vẫn rất vững trãi.
“Từ lúc nào?” – Tôi tự hỏi, tự nói, rồi trả lời bằng chính câu đấy. Tôi nằm ở tầng một, và nhìn thẳng được lên tầng ba. Sàn đá hoa bị thủng lỗ chỗ. Không một viên gạch nào rơi xuống, cát cũng thế. Nhìn những góc tủ bị gặm thủng, còn chẳng thấy mạt gỗ hay mùn cưa. Đường ống nước, điện đóm vẫn ổn định. Lúc mở vòi, nước vẫn chảy. Thoạt tiên nước chảy bé, rồi chỉ vài giọt rỉ ra. Mở vòi cả ngày, số nước rỉ còn chưa làm đầy một bát cơm. Đường ống không trục trặc gì, chỉ là vặn không ra nước. Tôi đoán mạch nước ngầm nhà tôi bị ứ đọng, hoặc thoát đi đâu đấy. Có thể lắm, nếu nghĩ số nước ngầm đã tiêu biến, như nhà của tôi giờ đây. Ánh sáng có thể đi qua một lỗ nhỏ trên tường và dùi đến tận móng nhà. Nếu tôi nằm, ánh sáng sẽ đâm thẳng và lột con mắt đang khép lại của tôi bằng luồng nhiệt nóng bỏng. Mười hai giờ trưa, nhà tôi như một cái lò lửa. Vô vàn tia nắng đâm xen kẽ nhau, kéo vào nhà. Vì chẳng còn vật dụng nào nên tia nắng chiếu thành đường thẳng, từ nóc tầng sáu xuống nền tầng một. Tôi bị bủa vây bởi các đường sáng. Nắm lấy một viên gạch lót nền để đội lên đầu thay mũ. Một tíc tắc, viên gạch tan mất như bọt xà phòng.
Tổng thể nhà vẫn vững như bàn thạch. Tường nhà lõm sâu như dính phải Acid đậm đặc. Lần này tôi thấy rõ, sự bào thực rất nhanh và theo từng khắc. Cái két của tôi đã bị tiêu hết sắt thép, nắm kéo cửa. Ngay đến một cái đinh ốc cũng chẳng rớt lại. Riêng số đô la, vàng, tiền mặt và cổ phiếu là còn. Thế cũng là may vì tôi có thể mua nước, đồ ăn hay cái ra giường để nằm tạm dù biết chắc chúng sẽ tiêu biến đi.
Tường nhà mỏng tang như làm bằng giấy. Một mũi kim nhỏ cũng có thể đâm xuyên thấu tường nhà. Chạm tay vào, toàn thể nhà ngả nghiêng. Một cơn gió nhỏ cũng có thể cuốn nhà tôi sang phương Bắc. Ấy thế mà nhà tôi vẫn chưa bị kéo sập, chưa bị thổi mất dù lúc này nó chỉ còn là một cái khung rỗng. Mái nhà chưa tiêu mất. Nó còn lồ lộ trên đầu tôi, nhưng nếu có nắng, có mưa thì tôi chẳng tránh đâu được. Lúc sấm sét, tôi cảm thấy như bị đánh ngay bên tai. Tôi còn nhìn thấy ánh sét ngoằn ngoèo in trên mái nhà. Hệt như vốn trên mái đã có hình vẽ ánh sét, và vô tình luồng sét đánh đấy ướm đúng vào hình vẽ. “Mái nhà làm bằng thứ nguyên liệu trong, bằng phalê, thủy tinh siêu bền hoặc băng hàn ngàn năm…” – Tôi tự lẩm bẩm nhiều lần để sáo ngôn ăn thẳng vào trí não, trở thành tượng hình. Dù thế, nửa não bộ của tôi vẫn biết mái nhà được làm bằng ngói, bê tông loại một.
Nhân viên đưa cơm đến nhà tôi. Hắn chưa kịp lấy tiền hàng thì nửa bên người của hắn bị ăn cụt vào khoảng không. Chẳng có máu, thậm chí nửa còn lại chẳng còn lộ ra xương, thịt đỏ hay ngũ tạng. Phẳng lì, nhẵn hín như mảnh giấy. Tôi nhét tiền vào tay bên kia. Tập tiền rơi xuống. Nửa còn lại bị mòn dần đi. Và trước mắt tôi là cái đầu với một mẩu cổ lơ lửng. “Này!” – Tiếng gọi quá muộn. Cái đầu cùng mẩu cổ tan phụt đi. Thùng đồ ăn đóng hộp, nước khoáng lăn lóc dưới nền đất đã tróc hết gạch. Tôi cúi nhặt. Vì quá đói nên tôi chẳng buồn tìm bát hay đũa. Tôi bốc ăn. Mỗi chai nước, tôi nốc cạn bằng một hơi.
Tôi gọi cho siêu thị để mua thêm hàng vì số thức ăn còn dư không thấy đâu nữa. Tôi ăn chưa hết. Chúng bị tiêu đi rồi.
Vào đúng giờ đấy, cả một đoàn người nối thành hàng đi vào nhà tôi. Cũng như tên nhân viên nọ, bọn người này không lấy được một đồng nào của tôi. Từng kẻ bị tiêu biến cùng lúc. Ngay cả khi bọn họ chen chúc nhau và làm cửa ra vào như muốn vỡ tung ra, thì cũng chỉ mất vài giây để tiêu biến mất. Họ như những nét mờ vẽ từ bút chì, bị một cái tẩy loại tốt chà vào là trắng xóa. Mười thùng đồ hộp, mười thùng mỳ gói, hai mươi thùng nước. Lúc đếm lại, tôi thấy mất đâu ba thùng. Đếm một lần nữa, chỉ còn đúng mười thùng, cả nước lẫn đồ ăn.
Tiêu biến.
“Chó thật!” – Tôi ăn nhồm nhoàm, phồng cả hai má, thậm chí chẳng thèm bóc vỏ. Nhiều khi, tôi gặm một mẩu mỳ sống và phải nhổ ra bằng hết. Trong miệng tôi, chỉ là vỏ gói mỳ. Đến gói phụ gia cũng chẳng có. Mở chai, thì nước cũng bị tiêu cạn đi. Gạch nhà đã chẳng còn một viên. Chỉ còn cát vữa, và hàng chục chồng ngoại tệ, vàng thỏi và thẻ tín dụng. Số của cải dày đặc, lớp này chồng lớp kia và ngổn ngang quanh tôi. Tôi không nhai được thứ nào.
Tôi ở tầng một và nhìn lên tầng trệt. Mọi kiến trúc nhà đã bị chảy thành bọt khí. Đến mấy bậc thang để bước lên, nhằm bám nhảy lên tầng trên cũng không còn. Nhìn ra ngoài. Không thấy vườn, bể bơi hay hàng rào. Mọi vật trơ trụi, tan tác như vừa trải qua địa chấn bom và bị sa mạc hóa.
Tranh ảnh, giấy báo, sách vở hoặc một bộ áo quần để đắp lên người thay chăn cũng không còn nữa. Người tôi lem luốc và hoàn toàn trần truồng. Đói, khát, và vẫn sống khỏe re. Đi lại trong nhà, lúc nào tôi cũng vấp chân phải một miếng vàng, bó đô la và ngã sõng soài.
Miếng đất ngoài vườn chẳng gieo nổi mầm cây nào. Đến một nhánh cỏ dại cũng chẳng thấy mọc. Không còn mạch nước dưới đất. Dưỡng chất từ đất có khi cũng bị tiêu cạn. Long mạch nhà tôi đã vỡ, hay bị cái gì đấy ăn nhẵn. Cái gì đấy, đó là gì, cái thứ chó đẻ nào, thứ ngoại lai với cái miệng tổ bố…Điều gì đã ăn tiêu đất tổ nhà tôi. Người vợ của tôi đã bị tiêu đi từ lâu. Đứa cháu tôi cũng thế. Bọn người làm, rồi đám bạn hữu của tôi…Cũng tuần tự bị ăn tiêu như vậy. Bọn họ hoặc bị tiêu liền theo phần nào đó trong nhà, hoặc bị bã ra ngay trước mặt tôi. Tôi thò tay, và không cứu được. Những người đấy, như một cốc nước bị nung dưới ngọn lửa trăm độ. Hóa hơi dần dần. Và hóa hơi hoàn toàn. Chẳng còn gì ở họ, ngoài những ký ức đang dần chết đi vì sự suy yếu trí nhớ lúc tuổi già. Tôi không bị tiêu. Tôi sống sót. Chỉ mình tôi còn lại và tạm bợ trong cái lõi nhà bị tiêu rỗng đến tận đáy.
Miếng nước hãn hữu còn sót lại trong mảnh sành sau cơn mưa. Tôi văng mạng, chửi thề, chửi lớn, chửi to và nguyền rủa, cũng thật to. Điện đóm chẳng còn nữa. Bấm máy điện thoại, còn không nghe thấy tiếng tút tút. Nhà tôi. Ngày cũng như đêm. Chẳng sáng, chẳng tối. Trông loạng nhoạng, lòe nhòe. Chả ra âm mà cũng không ra dương. Nhìn lên, vẫn thấy mái nhà. Nhìn từ ngoài, vẫn thấy sừng sững cái cơ ngơi hoàng kim của nhà tài phú hào hoa – Tôi.
Không còn gì để tiêu.
Tôi chỉ tay. Chỉ thẳng ngón tay. Chỉ phía này, phía nọ, bên này, bên kia. Tôi lại nguyền rủa, rồi tôi cười. Tôi đi lại, đạp vào tường, chẳng đổ. Dẫm xuống đất, cũng chả lún thêm. Vàng, đô la, ngoại tệ vẫn lúc nhúc dưới chân tôi. Chúng nhiều lên phải không? Bới chỉ thấy tiền vàng. Những khối vàng, hàng tầng lớp đô la, khế ước luôn bền bỉ theo thời gian và chẳng tiêu biến dù tôi có xé nát, đập vỡ hay nuốt vào bụng. Không có ai ở đây cả. Bửa đầu mình, tôi mơ hồ nhìn thấy họ. Rồi từng dư ảnh bị nhai cụt. Nghĩ, thấy, rồi bị tiêu đi. Lại nghĩ, lại thấy, rồi lại bị tiêu. Tiếp tục nghĩ, tiếp tục thấy, rồi tiếp tục bị tiêu…
Tôi múa máy, chân vấp vào khối tài sản kếch xù không cách nào xóa sổ. Vấp ngã, tôi lăn lộn và rơi tõm xuống tầng tầng lớp lớp tài sản. Chẳng còn nhà cửa, đất đai gì sất. Tôi ngoi lên, rồi vấp khi nhoài người. Giờ đây, tôi sẽ múa máy đến lúc kiệt quệ. Biết đâu chừng đó thân thể tôi sẽ tiêu biến. Tôi sẽ gặp lại những gì mình từng có và đã đánh mất trong cuộc đổi trác quỷ không biết thần chẳng hay. Tôi sẽ quì gối cùng ước mong được trừng trị, dù từ một xà gỗ đủ chắc chắn để tôi cheo leo cùng sợi thừng.

Tru Sa

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, LỜI CẢM TẠ CỦA TÁC GIẢ

nuocmattruocconmua
larryengelmann

LỜI CẢM TẠ CỦA TÁC GIẢ
LARRY ENGELMANN

Sau Lễ Tạ ơn năm 1984 không lâu, tôi bắt đầu viết một bài về sự sụp đổ của Saigon. Bài này thoạt đầu chỉ giản dị để mô tả chuyện một người Mỹ đã đi trên chuyến hàng không mẫu hạm Midway trong mùa Xuân năm 1975, và chuyện một người tỵ nạn Việt Nam từ phi trường Tân Sơn Nhất đáp xuống chiếc Hàng không mẫu hạm này. Hai đối tượng của bài viết: Một người là Nhiếp ảnh gia John Degler, một người nữa là cô Nguyễn Nhật.

Nhưng sau khi kể cho tôi nghe câu chuyện di tản của anh, Degler lại đề nghị tôi nên tìm gặp thêm những người Mỹ tham dự chiến dịch, cô Nhật cũng giới thiệu cho tôi một số bạn hữu với nhiều câu chuyện đáng kể khác. Tôi nghe theo. Tôi bắt đầu tìm kiếm thêm những người với những câu chuyện mà tôi nghĩ là nên được kể ra.

– Helen Hicks giới thiệu tôi với thân phụ của cô, ông Henry Hicks là người đã liên lạc với một số bạn hữu phục vụ tại văn phòng Tùy viên Quân sự ở Saigon, và sắp đặt cho tôi phỏng vấn họ. Tướng John Murray và tướng Homer Smith, hai tùy viên Quân sự Hoa Kỳ đã cho phép tôi phỏng vấn, rồi lại thu xếp cho tôi được phỏng vấn thêm một số bạn hữu của các ông. Chính nhờ thế, bài viết của tôi đã trở thành quyển sách.

– Tại California, tôi gặp Trần Thị Mỹ Ngọc là người trở thành phụ tá nghiên cứu, cũng là thông dịch viên của tôi. Mỹ Ngọc đã tháp tùng tôi đi Bangkok để thực hiện công tác phỏng vấn, cũng đã kể cho tôi nghe câu chuyện bi thảm của chính đời cô dưới chế độ Cộng sản Việt Nam và câu chuyện cô vượt biên sang Mã Lai bằng tàu. Mỹ Ngọc làm việc không biết mệt, là một người phụ nữ thông minh, nhạy cảm, đầy sinh lực, cô đã tin tưởng vào quyển sách này ngay từ lúc mới nghe nói về nó, chính cô đã giúp hình thành nội dung cuốn sách này.

– Nguyễn Thị Lạc, Nguyễn Thị Kim Anh, Nguyễn Thị Hoa và Bùi Lệ Hà đều làm việc với tôi với tư cách thông dịch và phỏng vấn viên, họ đã tỏ ra tuyệt vời trong việc xác định các đề tài của cuốn sách.

– Peggy Adams đã giới thiệu tôi với anh rể của bà, Đại úy Alien Broussard là người đã cho tôi một số hình ảnh mà ông chụp trong chiến dịch “Frequent Wind”. Allen cũng giới thiệu tôi với Đại tá George Slade là người đã mời tôi đến tư gia tại Virginia để gặp và phỏng vấn hơn một chục Thủy quân Lục chiến tham dự chiến dịch di tản tại toà Đại sứ Hoa Kỳ và tại phi trường Tân Sơn Nhất.

– Fox Butterfield không những đã cho tôi một dịp phỏng vấn dài, lại còn sắp xếp việc phỏng vấn một số thông tín viên Việt Nam khác.

– Peter Kama cũng giúp tôi phần phiên dịch, cũng đã giới thiệu tôi với rất nhiều người Việt ở California. Ông đã thuyết phục được họ rằng: bằng cách kể cho tôi nghe những câu chuyện của họ, ấy là đóng góp vào việc cấu tạo sự hiểu biết về những sự thực xảy ra tại Đông Dương trong mùa Xuân năm 1975.

Cuối cùng tôi đã phỏng vấn hơn 300 cá nhân đã liên hệ bằng cách này hay cách khác với sự sụp đổ của Saigon năm 1975. Song le, sau rốt vì giới hạn của kích thước cuốn sách mà rất nhiều câu chuyện do tôi và Mỹ Ngọc lượm lặt đã không thể sử dụng hết trong cuốn sách này. Tôi muốn được cảm tạ tất cả những người mà tôi đã phỏng vấn về sự rộng lượng, sự tin cậy và sự giúp đỡ của họ.

– Những lời cảm ơn sau đây dành cho những người mà tôi đã phỏng vấn tại Hoa Kỳ: Tướng William Westmoreland, Đại tá William E. Le Gro, Tướng Richard Baughn, Trung tá Dennis Traynor, Tướng Cao Văn Viên, Tiến sĩ Nguyễn Văn Canh, Linda Nguyễn, Tướng Bùi Đình Đạm, Nghị sĩ Trần Ngọc Nhuận, Ngô Đình Chương, Y Klong Adrong, Đại tá Vũ Văn Lộc, Đại tá Trần Tiến, Đại tá Ngô Thế Linh, Lê văn Hải, Trần Minh Lợi, Calvin Mehlert, Edward G. Lansdale, Kenneth Moorefield, Anthony Hicks, James Baker, Trung tá Jim Bolton, Nguyễn Ngọc Nhạ, Lê Mạnh Dương, Trần Thạch Thủy, Lina Lim, Thiro Lim, Rathnary Eng, Vilay Lim, Bùi Diễm, Trần Thị Liên Hương, Trần Thị Kiệt, Hà Ngọc Kim Loan, Huệ Vũ, Nguyễn Minh, Nguyễn Quan Bình, Josiah Bennett, Marvin Gaưet, Bạch Diệu Hoa, Moncrieff Spear, cha Joseph Nguyễn Văn Tịnh, cha Joe Devlin, tướng Nguyễn Văn Toàn, Thai Tan Tran, Melisa Phạm, Nguyễn Thảo, Alphonse Trần Đức Phương, Nguyễn Văn Mạnh, Charles Patterson, Trung tá Ngô Lê Tịnh, Trung tá Nguyễn Vinh, Đại úy Quân Đào, Phạm Vinh, Sam Chu Linh, Charles Stewart, Ken Healy, Don Bemey, Đại úy Edwin Herring, Charlotte Daly, Mai Văn Đức, Bruce Dunning, tướng Nguyễn Cao Kỳ, Daniel Gamelin, Bill Plante, Tom Sailer, Jennifer Bissett, Oliver Stone, Phil Caputo, Nguyễn Xuân Phác, Morley Safer, Rose Trần, Mimi Trần, Daniel Ellsberg, Tom Hayden, Alexander Haig, Tướng Charles Timmes, Tommy Rowe, Gene Hasenfus, Bruce Bums, Uk Siphan, Kamchong Luangpaseut, Malcolm Browne, Jim Markham, Anne Mariano, Jim Bennett, Trần Văn Ân, Sengthong Ta Keophanh, Phạm Quang Trình, Bác sĩ Bruce Branson, Liên Mai, Đạt Trần, Nguyễn Thị Tuyết Mai, Huệ Dương, Hạ Thảo, Trịnh Trần Huyền, Debbie Huỳnh, Tiffany Chiao, Nguyễn Trung Hiếu, Phạm Hồng, Trần Kim Loan, Phạm Anh, Phan Hạnh Bích, Đại tá John Madison, Bill Johnson, Frank Snepp, Hạ Lý, Shep Lowman, Phil McCombs, Lucien Conien, George McArthur, Jean Sauvageot, Julia Taft, Bill Laurie, Doug Dearth, George Jacobson, Lucy Parsons, A1 Santoli, Norman Lloyd, Tướng Vĩnh Lộc, David c. Simmons, Đại úy Edward Flink, Phạm Hạnh, Richard Armitage, Denny Ellerman, Arnold Issacs, Nguyễn Đạt Thịnh, Paul Horton, Steve Stewart, Đại tá Harry Summers, Đại úy William R. Melton, Thiếu tá Thomas Ochala, Thiếu tá Mike Clough, Trung úy Thomas Linn, Trung úy Bruce Duderstadt, Trung úy Thomas O’hara, Hà Cẩm Tâm, Nguyễn Thụy Nhu, Sichan Siv, Lacy Wright, Tướng Richard Carey, Đại úy Nguyễn Phú Lâm, Đại úy Gerry Berry, Philip Habib, Millicent Fenwick, Donald Fraser, Phạm Thị Kim Hoàng, Trần Kim Phượng, Brent Scowcroft, Nguyễn Gia Hiến, Joe Welsch, Tướng Ngô Quang Trưởng, Thiếu tá Trương Quang Sĩ, Huệ Thu, Vũ Công Dương, Phạm Huệ, Eugene McCarthy, Phạm Duy, Douglas Pike, Yvette Đỗ, Anh Đỗ, Mary Nelle Gage, Đại úy Ray lacobacci, Tướng Ralph Maglione, và Neal O’Leary.

– Tại Hồng Kông: Helen Trần, Nữ tu sĩ Christine Trương Mỹ Hạnh, Nguyễn Diệu Hương, Yukari Sawada và Arthur Kobler.

– Tại Thái Lan: Bill Bell và Suphan Sathorn

– Tại Việt Nam: Tướng Lý Tòng Bá, Tướng Trần Công Mẫn, Đại tá Nguyễn Phương Nam, Nguyễn Thanh Long, Bùi Hữu Nhân, Đại tá Bùi Tín, Vũ Tuất Việt, Nguyễn Xuân Oánh, Đặng thị Ngọc Hiệp, Lê Thùy Dương, Akira Suwa, và “Raymond” cùng những em bé “bụi đời”, bạn của anh.

– Tại Anh Quốc: Robert Elegant

– Tại Úc Đại Lợi: Ted Serong.

– Cũng xin cảm tạ các bạn hữu và sinh viên tại Nam Kinh, Trung Quốc đã lắng nghe một số phần bản thảo trong niên học 1988-1989, đã đề nghị thêm nhiều câu hỏi và đề mục cho cuộc nghiên cứu này. Những người ấy là: Charlotte Ku, Richard Pomfret, Rosemary Pomfret, Sam Crane, Hall Gardner, Isabel Gardner, Denise Carolan, Ruth Kling, Dick Gaulton, Doug Reed, Jeffrey Reed, Eddie Ou, Eric Tippett, Guo Haini, Xiao Ling, Thao Xiaoying, Li Yuanchao, Ha Fayu, Fang Wa Feng Weinian, và Liu Liyan.

– Cũng xin cảm tạ: Kathy Briggs, Barbara Briggs, John Snetsinger, Paul Campbell, Jim Darby, Jean Hamm, Diana Killian, Qi-Wei Li, Jia Li, Kasie Cheung, June Yee, Vincent Leung, Daisy Ng., Emillie Chim, Sonia Chim, Peter Lau, Micheál Malone, Bill Bellows, Kathy Rebello, Robert Bemell, và Ge Bemell.

– Khoa trưởng Khoa học Xã Hội tại Đại học San Jose, James Walsh đã khích lệ và hỗ trợ tôi trong khi viết cuốn sách này. Nhân viên của tôi, Emillie Jacobson cũng vậy. Joan Block đã ghi chép hầu hết những phần phỏng vấn bằng tiếng Anh của cuốn sách, và đã một lần nữa chứng tỏ là một người bạn và một đồng sự có khiếu khôi hài tinh tế và là một người rất đáng tin cậy.

– Các con gái của tôi, Marya và Erika, trong suốt năm năm vừa qua, đã phải sống với những câu chuyện đau lòng của cuốn sách, và đã đi theo tôi trong một vài cuộc phỏng vấn. Việc tháp tùng của các con tôi với những lời bình luận của các con tôi đã là một nguồn vui không dứt và là một niềm khích lệ đối với tôi.

– Cuốn sách này chắc chấn không thể ra đời nếu không có sự cộng tác của các sinh viên Việt Nam, Cam Bốt và Lào tại Đại học San Jose của tôi. Tôi đã được mời đến nhà, được gặp gỡ, phỏng vấn cha mẹ, thân quyến của họ, và trên hết, họ đã tín nhiệm tôi mà kể ra những sự thực. Tôi hy vọng cuốn sách này sẽ đáp ứng được lòng mong đợi của họ.

– Sau cùng, cám ơn Xu Meihong, người đã giúp tôi xếp đặt, ghi chép rất nhiều tài liệu của cuốn sách trong thời gian tôi ở tại Trung Quốc. Những cuộc trò chuyện dài giữa chúng tôi liên hệ đến các câu chuyện trong cuốn sách này, đến bản chất chế độ Cộng sản ở Á Châu, đến chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ, đến vai trò Trung Quốc ở Đông Nam Á, đến tương lai của vùng này… đã cho tôi những giờ khắc đầy tò mò thú vị.

Sau cùng Meihong đã phải trả một giá đắt cho tình bạn của chúng tôi. Những ước mơ, những nỗi sợ hãi và số phận của cô đã giúp cho tôi hiểu một phần nào cái cay đắng và thái độ của những người đã thắng, bại tại Việt Nam, và vì sao mà họ chiến đấu.

——————–

Ghi chú của người dịch: Xu Meihong, phiên âm sang tiếng Hán Việt “Từ Mỹ Hồng”, là một nữ Thiếu úy tình báo thuộc quân đội Trung Quốc đã gặp tác giả Larry Engelmann trong lúc Larry dạy học tại Nam Kinh năm 1988-1989. Sự liên hệ giữa hai người đưa đến kết quả là chính quyền Cộng sản Trung Quốc đã bắt Xu Meihong ngày 3 tháng 12 năm 1988, và trục xuất Larry sang Hồng Kông vào tháng Ba, 1988.

Tuy nhiên câu chuyện có một kết quả tốt đẹp. Xu Meihong được phóng thích và Larry đã đáp máy bay sang Trung Quốc thành hôn vói Meihong tại một ngôi làng nhỏ ở miền Trung bộ nước Tàu vào tháng Giêng 1990. Tác giả Larry Engelmann hiện vẫn đang dạy học tại Đại học San Jose. Xu Meihong dạy Anh ngữ cho một số người Việt tỵ nạn tại trường Đại học Cộng đồng De Anza, San Jose – Câu chuyện này đã được viết trên một số tạp chí Anh ngữ xuất bản tại Hoa Kỳ. (Nguyễn Bá Trạc 30 tháng 8/1993).