đi qua những phố bụi lầm màu mưa xa lắc nắng bầm dập tôi ngã tư bóng mẹ quê ngồi đồng tiền bố thí mồ hôi phố phường phấn son tủi hổ đèn đường những người em bán tàn hương xứ người đi qua hào nhoáng đười ươi những vênh váo mặt những cười cợt đau
….
đi qua ký ức máu trào những hồn cộng nghiệp dưới màu biển xanh có đêm ngủ giữa thị thành giật mình tiếng gọi thất thanh năm nào ! NGUYỄN ĐÌNH BỔN
Ngự Bình, cô “công chúa” duy nhất trong nhà, sinh ở Huế sau trận lụt năm Ất Mùi (1955). Ngày đó, mẹ và bốn thằng con trai – anh Quang, tôi, Sang, và Triết – ở trong xóm Cửa Nhà Đồ cùng với thím Lam và chị ở. Thím là vợ mới cưới của chú Lam em họ cha; cha và chú phục vụ trong quân đội và đóng đồn xa.
Suốt hai tuần cuối tháng Chín, bầu trời xám xịt, mây thấp, và những cơn mưa như trút nước đổ ập xuống. Nước sông Hương đục ngầu chảy cuồn cuộn, và mực nước mỗi ngày một dâng cao. Buổi chiều hôm ấy, nước sông xăm xắp tới mặt đường; mẹ, thím Lam, và chị ở ra sức đưa đồ đạc trong nhà lên cao. Quá nửa đêm, tôi bị đánh thức và mơ màng nhìn quanh thấy nước dâng lên gần tới mặt tấm phản tôi nằm ngủ với anh Quang và Sang, guốc dép và đồ vật nổi lều bều trong nhà, và một chiếc nôốc (ghe nhỏ có mui) áp mũi vào sát phản. Mẹ ra lệnh cho chị ở,
“Mi đưa mấy đứa đi với hai bác Hoát tránh lụt, đợi nước rút mới về!” Bác Hoát hàng xóm cạnh nhà tôi là công chức sở lục lộ hồi hưu.
“Răng thím với chị Lam không đi?” chị ở hỏi lại.
“Tau với thím nớ còn nhà cửa đồ đạc phải coi, đi răng được?”
Đứng dưới sàn nhà, nước ngập ngang bụng, thím Lam bưng chiếc đèn dầu soi đường cho mẹ ẵm Triết trao cho mụ Hoát rồi giục giã,
“Đi mau lên kẻo Mệ nuốtchừ!” Mẹ nói “Mệ” để kiêng tên Hà bá là thần làm chủ sông.
“Mẹ không đi thì con ở nhà phụ mẹ,” anh Quang hiểu ra và phản đối.
“Con là chim đầu đàn phải đi mà lo cho em. Vài ngày thôi con à!” mẹ năn nỉ anh tôi.
Chiếc nôốc chèo đi trong bóng đêm, tôi ngủ thiếp đi. Khi tôi tỉnh dậy thì trời đã sáng và nôốc đã đậu lại. Nước lặng. Biển nước màu vàng đất che phủ mọi vật, chỉ chừa lại đọt (ngọn) cây và mái nhà. Tôi gọi với hỏi ông Hoát,
“Đây là chỗ mô? Mình làm chi ở đây ôông ơi?”
“Vườn nhà ông Bính; mình đậu nôốc chờ nước rút.” Nhà ông Bính là một dinh cơ rộng lớn gần cầu Bạch Hổ, cách nhà tôi không tới nửa cây số.
Suốt đêm trằn trọc, anh Quang bồn chồn lo lắng nhưng cố trấn tĩnh dạy tôi và Sang lấy que tre làm cần câu cá, nhưng chỉ được một lát là hai đứa tôi chán, bỏ cần câu qua một bên, và thò tay xuống nước vọc chơi. Nhưng làm gì thì làm, thằng Bé (tên ở nhà của tôi) bảy tuổi nhớ mẹ quá chừng! Nước dâng lên thêm một ngày nữa là tới đỉnh và sáng hôm sau từ từ rút xuống. Trời mưa xối xả khi chúng tôi về đến nhà; ông Hoát nói,
“Mưa xối bùn, hết lụt rồi. Mấy đứa bây phải cám ơn Trời Phật đã phù hộ cho mẹ và thím bây được bằng an.”
Quanh nhà bùn đất và cành cây nằm la liệt, và bên trong bàn ghế tủ giường lấm bùn nghiêng ngã chỏng chơ. Mẹ huy động chị ở, anh Quang, và cả thằng Bé quét dọn bùn và phơi phóng vật dụng. Ở phòng trong phía sau nhà, mẹ và thím Lam lấy các xấp giấy bạc 100 đồng in hình Quốc trưởng Bảo Đại bị thấm nước trong cái rương lớn ra, trải từng tờ trên nia để hong khô, và dùng bàn ủi than ủi phẳng trước khi bó thành xấp như trước. Thì ra, mẹ và thím Lam ở nhà để bảo vệ tiền bạc của cải trong nhà.
Mẹ kể đêm, sang đêm thứ ba của cơn lụt, Trời Phật đáp ứng lời cầu khẩn của mẹ và thím Lam: Nước dâng tới rầm thượng dưới mái nhà thì ngừng lại. Mẹ vui mừng nói với thím,
“Chị em mình có mang mà dầm nước lụt thì đẻ con gái.”
“Ông bà mình nói rứa! Thím có mang con so lại càng ứng nghiệm.”
Quả nhiên, đầu năm 1956 thím Lam sinh con gái đầu lòng đặt tên là Hương. Một tháng sau, Ngự Bình của mẹ ra đời. Hai cô em tôi mang tên sông Hương và núi Ngự Bình, hai thắng cảnh vẽ nên phong cảnh hữu tình của cố đô.
* * *
Ngày ở Huế, tôi thường bị giao cho công tác chự (giữ) em vì mẹ nói, “Thằng Bé cẩn thận, chịu khó, và chiều em hơn thằng anh hắn.” Năm Bình lên ba lên bốn, tôi vừa trông em vừa chơi với Hương, thằng bạn thân ở gần nhà. Nó học cùng trường và ngang lớp, nhưng không cùng lớp, với tôi và cũng mê đọc truyện như tôi.
Vì thói mê truyện, tôi tự học cách đóng lại sách cũ bằng cách cắt giấy cứng làm bìa, dùng đinh đục lỗ, và lấy kềm cắt dây kẽm làm kim đóng sách. Bà con họ hàng ai có sách cũ đều đem cho tôi, thay vì liệng bỏ. Những cuốn sách đó thường mất cả bìa trước, bìa sau, và trang tựa đề. Tôi ra công chế biến thành cuốn sách tươm tất và cất giữ trong cái thư viện tí hon gồm truyện Tàu, võ hiệp, trinh thám, phiêu lưu mạo hiểm, và tình cảm xã hội. Kho truyện của tôi thay đổi hằng ngày vì tôi đem truyện đi đổi với của mấy đứa khác, và nhờ đó đọc được nhiều truyện đã xuất bản mặc dù không có tiền mua.
Ngoài giờ học, tôi và Hương đi đổi truyện và mang theo Bình. Khi phải đi bộ xa, ban đầu Hương ôm sách, tôi cõng em trên lưng, và em thích chí cười nói bi bô. Một lát sau tôi mỏi vai thì đổi phiên: Tôi ôm sách, nó cõng Bình, và em cũng vui vẻ bằng lòng. Các bạn đổi truyện thường nghĩ chúng tôi là ba anh em, và nhờ em xinh xắn dễ thương mà đôi khi hai thằng được nhường cho phần hơn trong cuộc thương lượng đổi chác.
Mười mấy năm sau, cha mẹ gửi Bình từ Nha Trang vào Sài gòn học trường nữ trung học Gia Long và ở với tôi trong nhà cư xá Bắc Hải. Lúc đó tôi đã tốt nghiệp kỹ sư điện và đi dạy, và Hương đã tốt nghiệp kỹ sư canh nông trường Cao đẳng Nông Lâm Súc. Ngày học đại học, nó học giỏi và được một ông bạn ba nó đang làm lớn trong bộ Canh nông ngắm nghé gả con gái. Ra trường nó làm đám cưới, và tôi đóng bộ làm phù rể. Tiệc cưới linh đình tổ chức ở nhà hàng Bát Đạt trên đường Đồng Khánh trong Chợ Lớn, tôi và Bình – bấy giờ là một nữ sinh lớp 11– được mời lên sân khấu chụp hình với gia đình cô dâu chú rể, và chú rể thuật lại chuyện cõng em đi đổi truyện cho quan khách nghe.
* * *
Cha mẹ ở Nha Trang, Sang đi lính, Triết đi du học, và trong nhà cư xá Bắc Hải chỉ có tôi và Bình và chú Hạ tài xế kiêm đầu bếp nấu ăn. Ban ngày Bình đi học và tôi đi làm, buổi tối hai anh em thường đi chơi với nhau. Ngồi ở yên sau chiếc Honda, em theo tôi tới nhà bạn hay đi ăn nhậu và kiên nhẫn ngồi nghe bọn người lớn (hơn) tán gẫu chuyện trên trời dưới đất không mấy liên quan đến em. Tuy nhiên, ở nhà, cô nữ sinh Gia Long nói năng nhỏ nhẻ là chủ nhà thực sự. Em nắm giữ việc chi tiêu và sai sử chú Hạ lái xe hơi đưa đón em đi học, chở em đi mua sắm, hay đưa em đi giao dịch cho mẹ. Em lo hết công chuyện kinh doanh của mẹ ở Sài gòn. Càng ngày, tôi và em càng gần nhau và có lối suy nghĩ tương tự như nhau.
Cuối năm học lớp 12, Bình thi Tú tài, kỳ thi quan trọng đầu đời của em được cho theo lối trắc nghiệm. Lối thi này được thực hiện lần đầu tiên ở Việt nam và bị báo chí gọi mỉa là “Tú tài IBM” vì, ngoại trừ bài luận, các bài thi đều được chấm bằng máy điện toán của hãng IBM (International Business Machines Company). Kỳ đầu được tổ chức vào ngày 26 và 27, thứ Tư và thứ Năm cuối cùng của tháng Sáu năm 1974. Bình thi ở hội đồng Gia Long, trường của em. Hai tuần sau có kết quả, em đậu Bình.
Bình học ban C (Văn chương và Sinh ngữ) nên nghề nghiệp tương lai khá giới hạn: học xong đại học hầu như chỉ đi dạy học. Tháng Tám em nộp đơn xin thi vào ban Anh văn (ngoại ngữ chính của em) của Đại học Giáo dục thuộc viện Đại học Bách Khoa Thủ Đức mà tiền thân là ban Cao đẳng Sư phạm Kỹ thuật. Ban này được thành lập từ năm 1962, trực thuộc nha Kỹ thuật Học vụ, không chính thức là trường cao đẳng như trường Cao đẳng Điện học của tôi, và lúc đầu mỗi năm chỉ nhận mười sinh viên. Năm 1972, ban được phát triển thành Trung tâm Giáo dục Kỹ thuật Nguyễn Trường Tộ với trường sở ở Thủ Đức. Năm 1974, trung tâm trở thành Đại học Giáo dục của viện Đại học Bách khoa Thủ Đức, cùng với Đại học Kỹ thuật trong đó trường Điện là một “Ngành” (ban).
Bình đậu vào Đại học Giáo dục, thành giáo sinh ban Anh văn, và hãnh diện làm bạn đồng môn Bách khoa Thủ Đức với ông anh: Tôi nhập môn trước “tiểu sư muội” chín năm. Hằng ngày em dậy sớm nhờ Trọng em út lấy xe Honda PC đưa ra trước rạp hát Long Vân gần bùng binh Ngã Bảy Sài gòn đón xe lô đi học. Xe chạy dọc theo đường Phan Thanh Giản ra xa lộ Sài gòn – Biên Hòa khoảng mười cây số tới Thủ Đức và ngừng trước cổng trường đại học, em đi băng qua sân trường là tới lớp.
Mới hôm nào là một em bé kháu khỉnh tôi cõng đi chơi, Bình trở thành một thiếu nữ mười tám mỹ miều với mái tóc dài xõa ngang lưng, chiếc mũi dọc dừa, và nụ cười duyên dáng không biết từ lúc nào. Tôi chợt nhớ ra hơn một năm qua em không còn thủ thỉ tâm sự chuyện học hành hay bạn bè ở trường với tôi, và thỉnh thoảng tôi bắt gặp nụ cười ngượng ngập của vài chàng sinh viên đến nhà chơi và lễ phép đứng dậy chào khi tôi tình cờ đi qua phòng khách. Đặc biệt, bạn tôi là Hòa hình như cũng đang si tình em, nhưng không dám hé môi.
Hòa người Phú Yên là em một người bạn học đệ nhất (lớp 12) cùng với tôi ở Ban Mê Thuột. Thân hình cao lớn chắc chắn và mặt sạm nắng, Hòa đỗ bằng Cử nhân Vật lý ở Đại học Khoa học Sài gòn và sau khi tốt nghiệp, được nhận làm giảng nghiệm viên phòng Vật lý của Đại học Minh Đức cùng với tôi. Chàng kính trọng và nghe lời tôi, và tôi yêu mến tính tình chất phác của chàng được biểu hiện trong giọng “Nẫu” Phú Yên cao và trong cất lên ở cuối câu nghe thật thân thiết và gần gũi. Qua niên khóa thứ hai, Hòa mất việc, nhưng chúng tôi gặp nhau thường xuyên ở lớp cao học điện tử của Đại học Khoa học. Biết chàng nhà nghèo, vào Sài gòn trọ học mà dạy kèm tư gia không đủ sống, tôi nhường cho chàng giờ dạy ở trường trung học tư. Hằng tuần tôi ghé lại nhà trọ, mời chàng đi uống cà-phê hay đi ăn nhậu, và nếu về khuya, rủ ngủ lại nhà tôi.
Sau ngày mất nước năm 1975, tôi và Hòa biệt tin nhau gần 15 năm. Năm 1990, gia đình chàng được bảo lãnh sang định cư ở nam California. Chàng sống hòa thuận với vợ là Dung người cùng quê và thuộc gia đình giàu có. Chàng rất “nể” Dung, không bao giờ dám cãi lời vợ. Khi tôi đi du lịch hay công tác ở nam California, vợ chồng Hòa mời tôi ở lại nhà và tiếp đãi tử tế. Chàng hỏi tôi số điện thoại Bình và thỉnh thoảng gọi thăm em. Lúc này, với bằng Cao học Điều dưỡng, em làm giám đốc điều dưỡng cho một hệ thống bệnh viện ở Austin, Texas và có hơn 300 nhân viên dưới quyền, và gia đình sống hạnh phúc.
Trong lần ghé thăm Hòa cuối thập niên 1990, tôi rủ chàng đi dự họp mặt với vài người bạn cựu giảng viên Đại học Minh Đức, một trong những lần hiếm hoi không có Dung đi cùng. Bị bạn ép uống bia, Hòa hơi quá chén và đâm ra nhiều lời. Trên đường về, chàng trút tâm sự,
“Anh biết không, ngày đó tui thương cô Bình hết sức. Về nhà anh ngủ đêm và được trò chuyện với cổ là những lúc sung sướng nhất đời tui.”
“Vậy sao?” tôi hỏi vô thưởng vô phạt.
“Tui suy nghĩ cả năm trời rồi quyết định ôm mối tình câm chớ không cho anh biết,” giọng chàng buồn tênh.
“Tại sao?” tôi thầm cám ơn chàng đã tránh cho tôi một hoàn cảnh khó xử; tôi biết hồi đó Bình xem chàng thuần túy là bạn thân của ông anh.
“Tui biết mình thân thế quê mùa nghèo hèn và không xứng đáng với cổ. Cổ là công chúa; tui là thằng bán than, sao dám ngước mặt vói lên trời?”
Tôi giữ kín nỗi niềm tâm sự của Hòa. Khốn nỗi, tôi không phải là kẻ duy nhất mà chàng thố lộ tâm tư. Trong mấy lần tôi trở lại sau đó, Dung hay hỏi tôi những câu xóc óc buộc tôi vào thế phải xác nhận chị thông minh và tài giỏi hơn tôi. Như thể chị dùng tôi làm bung xung để đua tranh với bóng ma của quá khứ.
Nghe danh anh đã lâu, cũng đã từng gặp anh một lần ở New Orleans ngay sau khi cơn bão Katrina không thể bứng anh ra khỏi vùng đất cái nôi nhạc Jazz này, nhưng lúc ấy có lẽ vì đang là người nổi tiếng, bạn bè vây quanh, nên anh chẳng nhớ tôi là ai, một gã trời ơi nào từ tận Bắc Âu đến chào, bắt tay và xin chụp với anh một tấm hình.
Quan Dương – PTAN- TS Lê Xuân Nhị (New Orleans 2008)
Bị tù đày khốn khổ hơn tám năm. Ra tù lại càng đau lòng hơn khi thấy vợ con nheo nhóc, và cả miền Nam như trong địa ngục, tôi có cảm giác lạc loài ngay trên chính quê hương mình, nên cùng vợ con và một số bạn tù tổ chức vượt biên, nhờ một chiếc tàu chở dầu của Vương quốc Nauy cứu vớt trên biển Đông, trước khi cơn bão lớn ập xuống. Với ân tình này, chúng tôi chọn đất nước Bắc Âu xa xăm băng giá nhưng đầy ắp tình người này để gởi phần đời còn lại của mình và vun đắp tương lai cho mấy đứa con. Sau khi tạm ổn định đời sống và việc học hành cho các con, tôi da diết nhớ đồng đội, bạn bè xưa, hồi tưởng quá khứ, tìm đọc những tác phẩm, bài viết của những người đi trước, đặc biêt những tác giả gốc lính và tất nhiên viết về lính, đời lính, với những thăng trầm, vinh nhục cùng những hệ lụy đớn đau sau ngày tan đàn xẻ nghé.
Trong một vài tác giả yêu thích, tôi đặc biệt say mê những câu chuyện của một nhà văn có cái bút danh khá dài, luôn đi cùng tên họ trong khai sanh, Trường Sơn Lê Xuân Nhị, bởi phong cách viết rất “lính” của anh. Bộc trực, khí khái, máu lửa, lãng mạn, và phảng phất chất phong trần, ba gai của lính, nhưng lại đầy ắp nhân bản, nghĩa tình. Đọc một bài viết của anh, có khi đang cười khoái chí, nhưng ngay sau đó lại nhạt nhòa nước mắt! Đặc biệt hầu hết trong những câu chuyện đều có bóng dáng của những địa danh quen thuộc một thời mà đơn vị tôi từng có mặt trong nhiều cuộc hành quân, và tất nhiên có những đồng đội, huynh đệ của tôi đã nằm lại vĩnh viện tại các nơi này: Dak Song, Dak Pét, Pleime, Bu Prang, Quảng Đức, An Khê, Chư Pao,, Hàm Rồng, Kontum, Dakto, Tân Cảnh. Vì vậy càng đọc tôi lại càng thấy gần gũi với anh hơn.
Đọc tiểu sử tác giả, biết anh sinh ra và lớn lên ở thành phố Ban Mê Thuột, nơi đại đơn vị của tôi đặt bản doanh, nên khi ấy dù có phải hành quân xa ở đâu, thi thoảng bọn tôi cũng ghé về đây nhìn “Bụi Mù Trời” để thấy đời “Buồn Muôn Thuở”. Anh là phi cộng của Phi đoàn Quan Sát 114, thuộc Sư Đoàn 2 KQ, đồn trú tại phi trường Nha Trang, thành phố an bình thơ mộng nằm ngay bên bờ thùy dương êm đềm gió reo song vỗ, nhưng hằng ngày vẫn bay yểm trợ cho đơn vị tôi trong các cuộc hành quân trên khắp Vùng 2, đặc biệt tại chiến trường khốc liệt Kontum trong những năm 1972-1973 ngập tràn khói lửa. Lúc ấy có lẽ anh cũng vừa mới ra trường Không Quân để bắt đầu cuộc đời bay bổng. Và trong giai đoạn này, chắc chắn mỗi ngày anh đều phải bay trên đầu giặc với cả một rừng hỏa tiễn phòng không tối tân, ác liệt của kẻ thù.
Ngày 24.4.1972, ngay sau khi Bộ Tư Lệnh Hành Quân của Sư Đoàn 22.BB tại Tân Cảnh bị Công quân tràn ngập, Đại Tá Lê Đức Đạt, vị tư lệnh hào hùng đã từ chối lời mời lên trực thăng để vượt thoát cùng với cố vấn Mỹ, ở lại cùng chiến đấu và hy sinh với quân sĩ dưới quyến, Sư Đoàn 23.BB (-) của chúng tôi từ Ban Mê Thuột nhận lệnh di chuyển khẩn cấp lên Kontum để kịp ngăn chặn hơn ba sư đoàn của Mặt Trận B3 do Tướng CS Hoàng Minh Thảo chỉ huy, tràn xuống chiếm Kontum nhằm làm bàn đạp uy hiếp Pleiku, nơi đặt bản doanh của Quân Đoàn II. Riêng đơn vị tôi, Trung Đoàn 44BB, đã có mặt tại An Khê từ đầu năm 1972, đặt dưới quyền điều động trực tiếp của BTL Quân Đoàn, để thay thế một lữ đoàn thuộc SĐ101 Không Kỵ Hoa Kỳ vừa rút quân về nước, đảm trách một vùng hành quân thay cho Sư Đoàn 22BB đã di chuyển lên mặt trận Tân Cảnh, và làm lực lượng trừ bị cho Quân Đoàn. Ngày 14.5,1972 chúng tôi nhận lệnh rời An Khê di chuyển đến phi trường Cù Hanh, Pleiku để được được không vận lên Kontum, tái hợp với Sư Đoàn. Khi các phi cơ C-130 chuyển quân đáp xuống phi trường Kontum lúc nửa đệm, thành phố tối đen và đang bị pháo kích dữ dội, vài phi cơ tại phi trường bị trúng đạn còn đang nghi ngút khói, chúng tôi nhận lệnh tức tốc lên đảm trách tuyến Tây Bắc, cách trung tâm thành phố khoảng 7 cây số, thay cho một Liên Đoàn BĐQ cùng một đơn vị của Tiểu khu Kontum.
Đào hầm hố, củng cố hệ thống thủ chưa xong thì khoảng 5 giờ sáng, Sư Đoàn 320 CS tung hai trung đoàn bộ chiến 48 và 64 được dẫn đầu bởi một tiểu đoàn xe tăng T-54, tấn công vào phòng tuyến. Chúng không ngờ có một đơn vị thiện chiến mới toanh từ vùng Duyên Hải vừa mới đến, đã đánh tan bọn chúng bằng một trận hào hùng. Bắn cháy 7 xe tăng T-54, bắt sống một chiếc, khoảng 100 xác bỏ lại, số còn lại bỏ chạy tháo lui, bị các chiến đấu cơ của Sư Đoàn 6 KQ truy kích, tiêu diệt. Sau đó chỉ 10 ngày. chúng tăng cường thêm Sư Đoàn 2 và một sư đoàn tân lập (sau này có tên là F-10) xâm nhập từ Lào mở cuộc tấn công vào thành phố. Và lần này, chúng cũng lại đụng độ với lực lương Trung Đoàn 44 chúng tôi mới vừa rời tuyến Tây Bắc về phòng thủ vòng đai thành phố, theo kế hoạch hoán đổi dưỡng quân. Cuộc chiến lần này cũng ác liệt không kém, khi đich lợi dụng sự phòng thủ sơ hở của lực lượng Địa Phương Quân Tiểu Khu, đã đưa cả một lực lượng đặc công và xe tăng đánh vào Bênh Viện 2 Dã Chiến, chỉ cách TTHQ của BCH Trung Đoàn 44 một hàng rào phòng thủ. May mắn lá lúc này BV2 DC đã di tản về BV Tỉnh. Quân Đoàn đã điều động tối đa các phi đoàn Quan Sát yểm trợ cho trận chiến này. Chúng tôi lại tao nên chiến thắng vẻ vang, thêm 8 tăng T-54 và T-59 bị bắn cháy kể cả tên chỉ huy, và một số địch buông súng đầu hàng, xin được hồi chánh. Mọi ý đồ của địch đã bị bẻ gãy.
Tôi vẫn còn nhớ, trong một trận chiến khá ác liệt, Cộng quân tung cả một trung đoàn nhằm tiêu diệt một đơn vị của chúng tôi. Trong thời khắc nguy khốn nhất, tôi nghe tiếng gọi trên tần số Không Lục:
– Ninh Kiều, Sao Mai 09 gọi!
– Ninh Kiều nghe bạn 5/5!
– Bạn lệnh cho đứa con của bạn cho tôi xin một nàng Thúy Kiều, màu áo gì cũng được (1)
– Nhận 5! Màu tím!
-Tôi đang ở trên đầu đứa con của bạn. Bọn vịt con rất đông, một số đang bao vây, một số khác đang tiến gần đến vị trí con của bạn. Tôi đã gọi 2 phi tuần yểm trợ cho bạn, đang trên đường đến mục tiêu!(2)
-Đã nhận ra bạn. Một đứa con khác của tôi đang ở hướng 10 giờ của bạn. Phòng không chung quanh rất nhiều, bạn cẩn thận. Tôi sẽ bảo các đứa con liên lạc trực tiếp với bạn để tránh ngộ nhận,
-Yên chí! tôi đ… sợ bọn vịt con này! Tôi sẽ ở chơi với các đứa con của bạn cho tới khi nào hết nước, và sẽ gọi Sao Mai kế tiếp lên vùng ngay. (3)
Hai phi tuần AD-6 đánh theo hướng dẫn của Sao Mai 09, khi người phi công tài hoa này đã bắn hai quả đạn khói chính xác ở hai địa điểm khác nhau, làm địch không kịp trở tay, nên bị thương vong nặng nề, phải bỏ chạy. Anh gọi tiếp 2 phi tuần khác, túc trực tại phi trường Pleiku, bay lên truy kích tiêu diệt cả hai tiểu đoàn địch.
Từ Trung Tâm Không Trợ Sư Đoàn, ông tư lệnh theo dõi và lên tiếng ca ngợi:
-Tuyệt vời lắm Sao Mai 09. Sẽ có thuởng cho bạn!
Tiếng la hét, chửi thề trong nỗi vui mừng của chàng phi công trẻ lại vang lên trên tần số Không Lục, chẳng cần biết người đang đối thoại với mình là ông tướng một sao, tư lệnh chiến trướng! Trong không khí căng thẳng, ngột ngạt chúng tôi cũng phải phì cười!
Phi đoàn trưởng Phi Đoàn 114 khi ấy là Thiếu Tá Nguyễn Xuân Tám, bạn cùng khóa 17 Võ Bị với anh Trung Đoàn Phó nổi tiếng với danh hiệu Bá Hòa (sau đó là Trung Đoàn Trưởng) của tôi. Hỏi ra mới biết Sao Mai 09 hôm ấy là một ông Thiếu úy trẻ măng, gốc Ban Mê Thuộc, nơi đặt bản doanh của đại đơn vị chúng tôi. Chúng tôi còn được biết thêm là ông “quan một” Không Quân này vốn con nhà “quí tộc”, bởi ông cụ từng là dân biều thời Đệ 1 Công Hòa, nhưng vì đã trót sinh ra bất phùng thời, và lớn lên ngay giữa một thành phố lính, ngày nghe tiếng súng, đêm thì cả bầu trời thắp sáng hỏa châu và nhà nào cũng vang vang những khúc ca tình lính, nên chàng trai vừa có tâm hồn nghệ sĩ lại vừa có máu giang hồ tráng sĩ, mới tròn 18 tuổi đã tình nguyện “ vào quân đội mà lòng chưa hề yêu ai”(?)
Chàng là một phi công có tài, ra trường chưa nhuốm mùi sương gió, mà bay bổng thì không hề thua ai. Nhưng có lẽ vì quên mất mấy câu trong truyện Kiều của cụ Nguyễn Du “chữ tài liền với chữ tai một vần”, nên mỗi lần hứng chí là lén xách máy bay ra nhào lộn biều diễn đủ kiểu ngoạn mục, nhưng ngoài sách vở và phi lệnh, khi ngứa mắt bọn VC dưới đất thì nhào xuống trêu chọc rồi bắn quả rocket rất chính xác chỉ điểm cho khu trục oanh kích, mà chẳng cần biết SA-7 hay phòng không bọn nó giấu ở đâu. Vì vậy các đơn vị bộ binh thì “mê” anh ta, nhưng ông Phi Đoàn Trưởng 114 thì rất nhức đầu, nên mấy lần đã phải lái xe gởi anh ta vào đồn Quân Cảnh nghỉ mát, nhưng rồi lại đích thân đón chàng ta ra sớm và xé mấy tờ lệnh phạt đã ký sẵn để trên bàn.
Coi bộ chẳng biết sợ trời đất là gì, nhưng chàng ta có trái tim nhân hậu, hết lòng với Tổ Quốc và chí tình, yêu thương đồng đội chiến đấu dưới cánh máy bay của mình. Một lần bay thám sát, yểm trơ cho một đơn vị Địa phương quân bị Cộng quân tràn ngập tại một tiền đồn trên Cao nguyên, vị đồn trưởng yêu cầu cho đánh bom ngay trên đầu mình để tiêu diệt địch, anh đã bật khóc khi gọi oanh tạc cơ và cúi đầu, nghiêng cánh chào vĩnh biệt những người đồng đội kiêu hùng trong hai hàng nước mắt!
Một lần tăng phái cho Quảng Đức, trong một ngày nghỉ, không tới phiên mình, nhưng anh đã gật đầu nhận lời bay cùng với một sĩ quan Biệt Kích để đi tìm, hướng dẫn, yểm trợ cho một toán Lôi Hổ bị Cộng quân truy đuổi trong rừng. Biết mình có thể bị phạt, nhưng anh lại mãn nguyện khi đã hoàn thành một sứ mạng cần thiết để cứu nguy đồng đội. Và đúng là anh bị ông Phi Đoàn Trưởng gọi về trình diện. Ông bảo “tôi bắt buộc phải phạt anh, nhưng tôi rất phục anh, bởi vì nếu trường hợp là tôi, tôi cũng sẽ làm như thế!”
Một hôm, nghe tin bào đệ của anh tử trận tại phía Bắc Võ Định Kontum. Chúng tôi rất đỗi bất ngờ và đau đớn, vì người em trai của anh lại là một HSQ rất gan dạ thuộc đơn vị chúng tôi: TS1 Lê Xuân Bích. Anh thuộc toán thám báo, đã ngã xuống trong một cuộc đột kích rất hào hùng vào vị trí đóng quân của một đơn vị địch. Sau này tôi trách anh ta, sao không nói trước với chúng tôi một tiếng. Vả lại ông sếp của anh lại là bạn cùng khóa với ông Trung Đoàn Trưởng của tôi. Chuyện dễ thôi mà! Anh buồn lắm, khi bị ông già giận bảo “mày bay bổng cả ngày, chỉ có mỗi thằng em mà không lo cho nó.” Nhưng rồi anh lại hạ giọng “Tính của tớ khó nói lời nhờ vả lắm, hơn nữa trót sinh ra thời chinh chiến thì chuyện sống chết cũng là lẽ thường tinh thôi mà!”
Nói thế, chứ chúng tôi biết là trong lòng anh đang có một vết thương không bao giờ lành được, nhất là đứa em trai có đầy ắp những kỷ niệm tuổi thơ với anh, tuy đã nằm lại đâu đó trong núi rừng xa tít mịt mờ nhưng trong trái tim anh luôn có một nấm mồ đẹp đẽ nhất cho thằng em thương quý của mình.
Mùa Hè 2021, tôi đến tham dự một buổi ra mắt sách của người bạn, Nhà văn/Nhạc sĩ Huỳnh Công Ánh, cũng từng là Đại Đội Trưởng Trinh Sát nổi tiếng của của Sư Đoàn 22 BB, được tổ chức tại Nam California. Khi nghe người MC giới thiệu tên tôi, một vị khách mời từ hàng ghế đầu bước xuống phía dưới bắt tay tôi và giới thiệu mình là Trường Sơn Lê Xuân Nhị. Tôi bất ngờ nhưng nhận ra anh ngay, và ngạc nhiên vì thấy anh khá tiều tụy với cái đầu cạo trọc. Tôi cảm động khi anh tỏ ra rất thân tình và hẹn phải sớm gặp nhau để cùng nhậu một chầu mừng cuộc trùng phùng cho kịp trước khi anh phải bỏ lại bạn bè. Thấy tôi tròn mắt, anh cười, bảo “đang ung thư tới thời kỳ cuối!”
Cũng như ngày xưa, khi bay trên đầu địch, trước họng súng phóng không dày đặc, anh vẫn đùa cợt tỉnh bơ. Chưa kịp hẹn nhau, thì hai ngày sau, bất ngờ có anh Huỳnh Văn Phú, nhà văn rất dễ thương của TQLC ghé Bolsa thăm tôi cùng một số bạn bè. Tôi hú một số anh em thân tình cùng anh Phú và báo cho Trường Sơn Lê Xuân Nhị, hẹn gặp tại một quán ăn ở Fountain Valley. Chưa lái xe được, nên bà xã đưa chàng ta đến, xách theo hai chai Red Wine và một chai XO. Đứng nghiêm.đưa tay lên chào mọi người, tự xưng mình là thằng út. Trong số các ông anh hôm ấy có Trung tá Võ Ý, nhà thơ Bắc Đẩu của Không quân, cựu Phi Đoàn Trưởng Phi Đoàn Quan Sát 118, Pleiku, là là bạn cùng Khóa, thân thiết với anh Phi Đoàn Trưởng 114 Sao Mai của Trường Sơn Lê Xuân Nhị.
Vậy rồi, đột nhiên bạn ta khỏe ra. Lại hú bạn bè đến uống rượu tiêu sầu và bù khú chuyện ngày xưa. Gặp anh, tôi cười bảo, ngày xưa SA-7, 12 ly 7 phòng không dày đặc mà bạn chẳng coi ra chi, huống hồ bây giờ mấy cái con vi khuẩn tí ti, thì có sá gì với bạn phải không? Cứ uống và vui lên đi, chiều hôm tối rồi! Anh ta cười tít cả mắt. Cứ vài hôm là anh hú bạn bè, tụ tập ở nhà anh, một phòng rộng lớn phía sau, trong khu Anaheim. Bà xã anh chiêu đãi nhiều món ăn ngon, còn rượu thì đủ thứ. Anh ôm vai người này, bắt tay người khác, như sợ thời gian với bạn bè chẳng còn lại bao nhiêu. Ai cũng yêu quí, xem anh như anh em, một người bạn dễ thương, khí khái, nghĩa tình.
(Bạn bè khắp nơi đến thăm anh. Trong này có KQ Võ Ý, KQ Phạm Tương Như, ND Út Bạch Lan – BCD Phạm Châu Tài, LLĐB Mai Bá Trác.
Điều làm tôi cảm động nhất, là ngay giữa tư gia, anh trịnh trọng trưng lá hiệu kỳ lớn của Sư Đoàn 23 BB. Đơn vị mà tôi đã hơn 10 năm phục vụ, và có biết bao đồng đội hy sinh, còn anh thì suốt cả một thời làm phi công, đã luôn ở trên vùng trời để yểm trợ chúng tôi. Đặc biệt nhất là bào đệ của anh, TS1 Lê Xuân Bích, người em yêu quý mà anh cùng có nhiều kỷ niệm tuổi thơ, đã hào hùng nằm xuống vào mùa Hè 1972 tại chiến trường Kontum, máu đào tô thắm cho lá hiệu kỳ này.
PTAN- TS LXN bên hiệu kỳ SĐ23BB (2022)
Mới đây, bệnh lại tái phát, anh buồn lắm khi không thể đến chung vui buổi họp mặt “Đời Ghét… Đời Thương” của người bạn làm thơ thân thiết Trạch Gầm. Thiếu anh, rượu XO không còn hương vị nồng nàn, và dư âm của những bản nhạc lính dù hôm nay được hát bởi chính các nàng ca sĩ của lính một thời, Phương Hồng Quế, Trang Thanh Lan cũng chưa đủ để làm ấm lòng bè bạn.
Xin được cám ơn và ca ngợi anh, một người lính, một phi công trẻ hào hùng, một nhà văn, một người cầm bút khí khái, nghĩa tình, bạn bè ai cũng mến mộ. Cầu chúc sức khỏe anh ngày một tốt hơn để chia sẻ kỷ niệm, yêu thương cùng bạn bè và ý nghĩa cuộc đời bay bổng, thăng trầm cùng với tha nhân.
Ngày cô đơn tấu đàn gầy Đêm cô độc chiếc bóng dài khẳng khiu Bất ngờ ngã sấp vào rêu Mùa xuân rớt hột hắt hiu đá mòn Đường làng mất dấu chân son Nhà quê cò vạc héo hon từng giờ Bồng bồng bế bế ngây thơ Muối dưa bỏ chợ vu vơ lở bồi Chiều mù bóng lại đưa nôi Lửa rơm nướng tiếng à ơi chín dòn Một ngày bỗng thấy tôi còn Lá hoàng hôn rụng chưa mòn mắt xanh!
đã qua biết mấy suối sông mà đi chưa hết mênh mông quê nhà chưa tường ngọn núi mờ xa chưa nghe trọn một tiếng gà gáy trưa qua bao cơn nắng, cơn mưa nào hay khúc hát đò đưa đẫm buồn ai chờ con vạc kêu sương? ai đi mòn gót trên đường cái quan? chao ôi, bao độ đông tàn mà chưa thấu nỗi cơ hàn mẹ cha gió hoang thổi tạt hiên nhà chợt cay đôi mắt: chiều tà bến sông
… chia nhau chút bể dâu này bờ xa nước cạn buổi mây hải tần tàn ngày gác xế phân vân nghe từ vô thức căn phần ngàn xưa cầu vồng trả nắng cho mưa riêng tôi trả mãi những mùa bão giông đêm tàn bóng gởi hư không an nhiên cuộc lữ bụi hồng nhẹ thênh…
2.
con thuyền trôi theo dòng sông chỉ tìm một chiếc lá hồng vừa rơi mai kia từ chốn xa vời còn nghe tiếng hạc lưng trời tiễn đưa tôi là ai – từ ngàn xưa em là ai – giữa lọc lừa trần gian là ai – ngọn gió lang thang đã nghe lạnh thuở vầng trăng bội thề…