BÀI HỌC CHO CÁC EM KHI DI TẢN

50 năm một bài thơ của Đặng Phú Phong. Anh sáng tác bài này vào tháng 3 năm 1975 khi còn ở Bình Định và đang trên đường di tản. Bài thơ được đăng trên tạp chí văn chương THỜI TẬP do nhà thơ Viên Linh chủ trương, số phát hành ngày 15-4-1975 tại Sài Gòn. Số báo này được xem như là số báo văn học cuối cùng của miền Nam.

Các em hãy đi chầm chậm cùng thầy
mình tình cờ gặp gỡ nhau đây
trong cơn khói lửa
tuy rằng phía sau đạn bom đang nổ
nhưng chắc gì phía trước là yên

Ô kìa! Sao có em còn mang theo sách vở
hãy quăng đi, mang theo gạo mà ăn
nếu có sức đèo thêm mền chiếu
sách vở kia đâu nuôi được kẻ đói lòng

Các em hãy đi chầm chậm cùng thầy
hãy nghe thầy nói
dù đây không phải là lớp học
dù hôm nay không có giờ học cuối tuần
và còn rất nhiều em vắng mặt

Thầy sẽ kể cho các em nghe
chuyện thầy tản cư trốn Pháp
nằm dưới gốc xoài kiến cán phồng cả thịt da
ăn cơm ghé lang mì quá nửa
đi mỏi chân đứng lại khóc òa
mẹ phải bỏ bớt hành trang
gánh thầy trong chiếc thúng
chuyện đã xa xưa
tưởng không còn nhớ nũa
nào hay giờ hiện rõ ra đây
thầy sẽ nói cho các em nghe
trong chuyến tản cư này
không giống như lần thầy trốn Pháp

Thầy sẽ giảng cho các em nghe
thế nào là yêu thương
thế nào là đùm bọc
và thế nào là vui buồn thù ghét
cho các em hiểu rõ
mà các em bấy lâu nay dùng nó không đúng chỗ, sai lầm

Các em hãy đi chầm chậm
để còn sức vì đường dài vô định
để nằm xuống ngồi dậy thật nhanh
khi đạn réo qua đầu
vì đêm bây giờ quá sâu
vì ngày bây giờ dài như một năm ánh sáng
và những cụ già run rẩy
và những em bé bò lê la
họ rất cần chúng ta tiếp sức.

Bây giờ đây chúng ta dùng trước hết
chữ yêu thương cho đúng nghĩa xem nào
chữ đùm bọc ngời sáng như vì sao
em hãy nhìn nó như nhìn sao bắc đẩu

Các em vui rồi đó
khi nghe tiếng thở phào của người mẹ
mà các em đã đỡ giúp hành trang
để đôi tay mỏi được rảnh rang bồng đứa bé
Và đây các em có buồn chưa:
khi tay các em xách
vai các em mang
và sức các em thi chỉ bao nhiêu đó
nhưng đàng sau còn vô số kẻ tật nguyền
bị rớt lại vi chẳng còn hơi sức

Và sau hết các em hãy thù ghét
hãy ném đá vào đầu chiến tranh
hãy nhổ nước bọt vào nó
rồi chặt cổ nó
và hãy hát vang ca tụng hòa bình
cho đoàn người chúng ta
yên lòng đi tìm chút bằng an cho cuộc sống.

ĐẶNG PHÚ PHONG

(Bình Khê, những ngày di tản 11-3-1975)

MÙA HẠ

Mùa hạ cuốn anh đi cuốn em đi
Mùa hạ cuốn bùng theo mùa hạ
Cuốn chúng ta vào những bụi mù
Cuốn chúng ta những lòng thù hận

Cuốn vào chổ ngồi hoang vu trơ khấc
Ướt đặc mồ hôi tháng 4 không gió
Không có một giọt mưa nào rơi
Không một bóng cây nào che chở

Mùa hạ của những ngày chối từ
Buồm căng lên những ngày căm giận
Mùa hạ của những cuộc nhổ neo
Mùa hạ của những cuộc phiêu tàn
Mùa của chìm sâu nhạt nhòa mỏi mệt


Ôi quê hương bạo tàn thảm thiết 
Ôi quê hương trừng khốc lưng tròng
Những đứa trẻ chưa kịp buồn đã mạt
Chưa kịp cười tươi hồn nhiên nước mắt
Chưa kịp  làm người đã tắt thở rưng rưng

Mùa hạ của những sợi dây thừng
Neo sâu vào trong giấc mơ điên dại
Cuốn chặt vào cổ tay những tên đồ tể
Chúng làm thịt đêm xanh bằng bóng tối
Chúng thắt cổ tương lai bằng hư ảo tham tàn

Mùa hạ thầm thì trên môi khô 
lời kinh mặn chát
Mùa hạ của bao lâu xa 
đau đớn  vẫn không lành
Mùa hạ quất xuống 
như điên 
Năm mươi năm 
rớm máu
Nắng táp sau lưng      
lửa cháy trong lòng…

NGUYỄN TẤN CỨ

NHỮNG KHÚC HẬU CHIẾN XA VỜI

CÁI BÓNG ĐÊM QUA

Đêm qua tôi đã mời cái bóng một điếu thuốc
Cái bóng buồn thiu dừng lại chỗ tôi nằm
Cái bóng hỏi thăm đường về với mẹ
Cái bóng xa nhà đã hơn 45 năm

Cái bóng bảo không dám về đơn vị
Vì đã tiêu khi đụng trận lần đầu
Cái bóng sợ như rất nhiều bóng khác
Nát thần hồn giờ không biết xác nằm đâu

Tôi hỏi bóng ở bên nào chiến tuyến ?
Bóng lặng thinh và chỉ đứng tần ngần
Mưa ngoài ngõ cứ như ai đang khóc
Cái bóng buồn y hệt bóng nhân dân…

Tôi không thể chỉ đường cho anh về với mẹ
Thôi thì ngồi xuống đây vấn điếu thuốc rê
Về Hà Tĩnh, Thái Bình hay Đồng Tháp…
Nếu không nhớ được nhà thì đâu cũng là quê…

Sáng nay dậy thấy lòng buồn rười rượi
Ra ngã ba đốt mấy nén hương trầm
Khấn Trời Phật có linh thiêng xin tiếp dẫn
Đưa hồn các chiến sỹ về nhà với mẹ từ tâm

Trong hương khói chuyến xe đò dừng lại
Có ai đó trên xe mĩm miệng cười thầm…

(Trung Dũng Kqđ)

tháng tư, đọc NỬA HỒN XUÂN LỘC của Nguyễn Phúc Sông Hương.

 

  Hôm nay 
đọc “NỬA HỒN XUÂN LỘC”
 Nước mắt từ lâu tưởng cạn rồi
Ta khóc
Như chưa từng được khóc
Như nhìn chiến trận mới đây thôi

  Mây Xuân Lộc đỏ như màu lửa
 Đã dịu trong màn nước mắt rơi
 Người đi không nở câu chia biệt
 “Em giữ dùm ta nửa cuộc đời!”
 “Cổ lai chinh chiến!..Ừ! Ta biết…
Lính trận…thì ai cũng vậy thôi!”


Cắn răng bỏ lại hồn Xuân Lộc
 Ghìm súng
Trông theo bốn hướng trời
“Lỡ mai…ta có không về được
 Em hãy quên…từng mơ lứa đôi!”

                            *

  Hôm nay gặp lại trời Xuân Lộc
 Một nửa trăm năm
 vẫn có người
Nhớ màu áo chiến
mùi sương gió
 Ký ức vẹn nguyên của một thời
 SÀI GÒN chết điếng
nhìn Xuân Lộ
 Nghẹn ngào…
đành phải phụ em thôi!

                            *

 Bao năm gặp lại hồn Xuân Lộc
Nghe nhịp tim xưa lạc mấy lần
Nghe gió SÀI GÒN như tức tưởi
Thương đời kiêu bạc 
nhớ chinh nhân.
 Một nửa trăm năm 
đầu bạc trắng
 Nhắc thời binh lửa vẫn còn đau!
 Nhiều đêm
mơ thấy về Xuân Lộc.
 Pháo sáng chia đường…
 lạc mất nhau…

                            *

 Người ơi! 
có nhớ về Xuân Lộc
 Nhớ màu mây lửa đốt quê hương
Đốt tim người Lính đi ngày ấy
Gởi hẹn thề 
trong khúc đoạn trường…
Người ơi!
có nhớ về Xuân Lộc
Trận đánh đầu tiên
đến cuối cùng.
 Rút quân!
 chỉ muốn quay đầu súng
Máu nóng tuôn trào…
muốn vỡ tung…!

                           *

   Hôm nay đọc 
 “NỬA HỒN XUÂN LỘC.
Người Lính năm xưa biết có còn?
 Đã nghe Người hận 
vì buông súng
 “Lẽ ra phải chết giữa Sài Gòn!”
Người mang theo
 nửa hồn Xuân Lộc
Trên bước ly hương cuối dốc đời
 Còn ta
giữ nửa hồn Xuân Lộc
Trong trái tim
từng mơ lứa đôi…

LÝ THỤY Ý

                               

ĐI QUA MÙA XUÂN

Ta nắm tay nhau đi qua mùa xuân
bằng bước chân trần ngông nghênh nắng hạ
làm sao bước qua nỗi tương tư đầy gió?
và nỗi buồn trầm tích tự nghìn năm

ngày mênh mang trong ta mênh mang
nắng tháng tư xa nhau. em có nhớ?
em giấu ở đâu ánh mắt trăng rằm?
để Sài Gòn xốn xang mùa nắng lửa

nỗi đau vặn mình vắt ngang vai. từ đó…
anh đi qua. từng góc phố thở dài
như con sâu đo co duỗi miệt mài
đo từng đoạn đời. ánh sáng và bóng tối.

ta nắm tay nhau đi qua mùa xuân
góc phố bàng hoàng. ngẩn ngơ thềm gạch vỡ
em có nhận ra lòng đã xa xăm?
tình cũng thế lăn dài theo cuộc thế

tháng tư và. hàng me già lặng lẽ
Saigon. mùa phượng vắng tiếng ve
ta nắm tay nhau sao trùng trùng dâu bể
tình chấp chới bay
hun hút đường về.

Nguyễn Ngọc Nghĩa
(16.04.2025)

CÕI NHÂN GIAN

   Dân gian có câu” Đừng nghe cave kể chuyện, đừng tin con nghiện trình bày”.

  Ngọc là cave, lại mới cai nghiện, nó kể câu chuyện này. Thật, hư lẫn lộn.

    Cũng có thể Ngọc đã đọc ở đâu đó. Trong di chứng mộng du của ma tuý, nó hoang tưởng và hoá thân vào câu chuyện.

    ***

  Chiều tối hôm ấy có điện thoại của thằng cò gọi, nó bảo Ngọc ra trước đường, có xe đón.

    Không phải là xe ôm, mà một chiếc bốn bánh đang đợi.

    Ngọc mở cửa xe, lòng có chút nghi ngại, hỏi: dạ, mấy người? Đông thì em gọi thêm.

    Ngọc nhìn người đang lái xe. Trực giác cho thấy không phải là đám giang hồ, vũ phu.

    Người đàn ông không nhìn lại, giọng ông ta nhẹ nhàng, thân thiện: không sao đâu, đừng lo lắng nhiều.

    Ngọc lên xe từ cửa sau. Người đàn ông nói: xin lỗi, tôi cũng già rồi, cứ gọi tôi bằng chú. Cháu có thể từ chối nếu thấy bất tiện. Rồi tôi sẽ nói cho cháu nghe việc tôi cần cháu làm.

    Ngọc có cảm giác an tâm nhưng vẫn nghi ngại. Nhiều ông khách già hơn ông ngoại nó, vẫn thích được gọi bằng anh mà. Ông này lạ lùng quá, điều gì sẽ đến?

    Ngọc nói: dạ, đương nhiên là ông đã biết em làm gì. Nếu là việc ngoài “chuyên môn” của em, em không làm được đó.

    Ông khách điềm đạm: cháu yên tâm, nếu cháu không đồng ý tôi vẫn trả tiền cho cháu. Còn làm gì, tôi sẽ nói sau.

  Xe đi qua nhiều đoạn đường, ra khỏi thị trấn, đến trước cửa một biệt thự.

  Ngôi nhà nằm sâu trong vùng cây, thật thơ mộng nhưng tạo cho Ngọc cảm giác bất an. Nó e sợ những điều kinh dị sẽ xảy ra.

  Ông khách như đoán được ý nghĩ của nó. Ông nói: ngoài trời gió lạnh, cháu vào trong cho ấm.

*-

    Ông ta dẫn Ngọc vào một gian phòng bài trí trang nhã. Giọng ông thân ái, như trong gia đình:’cháu ngồi nghỉ một chút, tôi cũng đói rồi, để tôi làm ít món ăn.

    Giây lát sau, Ngọc đã nghe mùi thức ăn. Nó không còn lo lắng, chỉ thắc mắc không biết ông khách này sẽ biểu mình làm chuyện gì. Khó hiểu quá.

    Ngọc dạn dĩ nói: chú, chú có cần con giúp gì không?

  Ông khách bưng ra khay thức ăn. Đơn giản, nhưng sang trọng: hai đĩa mỳ Ý, một đĩa thịt nguội khai vị. Có cả một chai vang.

    Ông ta rót rượu, nói: tôi quá quen  với việc bếp núc. Rượu khai vị, nhẹ thôi, cháu uống cho ấm và ăn tự nhiên, cũng đã tối rồi.

  Món ăn làm kiểu Tây, ngon. Ông khách tiếp đãi lịch sự, thân thiện. Ngọc cảm thấy an tâm.

  Một lúc sau, khi thấy Ngọc đã xong bữa, ông khách nói: bây giờ, mời cháu đi gặp con trai chú. Nó ở phòng trong.

  Ông ta mở cửa. Căn phòng rất rộng, có cả giường ngủ, bàn làm việc, như một phòng lớn của khách sạn.

  Trên bàn ăn, Ngọc thấy một cái bánh sinh nhật. Nến đã thắp, sáng lung linh.

  Ông khách gọi: Đức ơi! Mở nhạc đi, bạn đến mừng sinh nhật con đây.

  Từ phòng trong, có chiếc xe lăn chậm rãi chạy ra.

  Ngọc mím môi ngăn tiếng kêu hoảng sợ của mình.

  Trên chiếc xe lăn là một người không tay, không chân.

  Ông khách nhẹ nhàng đặt tay lên vai Ngọc, trấn an: nó là người. Người, rất người như mọi người.

    Ông kể: vợ tôi, sau khi sinh nó được tròn tháng đã bỏ đi. Chính xác là 25 năm rồi. Tôi ở vậy nuôi thằng bé.

    Đức- tên thằng bé- sinh ra đã không có tứ chi. Tay, chân nó teo lại chỉ còn một mẩu nhỏ. Nhờ tập luyện nhiều, Đức dùng mẩu thịt nhỏ đó đủ để điều khiển xe lăn, máy vi tính và các thiết bị trong phòng.

  Đức bị phế tật thân xác, nhưng trí óc nó bình thường. Nó hiểu được đời sống nhờ công nghệ thông tin. Tôi cũng thường chở cháu đi ra ngoài nhìn người, nhìn cảnh vật.

  Ông ngừng câu chuyện: mà thôi, chúng ta hãy mừng 25 năm làm người của Đức.

    Ngọc thầm nghĩ: mừng! Có thể mừng cho cái sự sống người không ra người không? Ngọc lại liên tưởng đến Stephen Hawking. Và nó mong phép lạ đến cho hai cha con tội nghiệp này.

  Ông khách nắm tay Ngọc, đẩy chiếc xe lăn đến trước bàn ăn.

  Đèn, nến huyền ảo trong tiếng nhạc mừng sinh nhật.

  Ông khách cất tiếng hát: Happy birthday to you.

  Ngọc hát theo. Đức, cái thân hình không tay, không chân cũng hát: Happy birthday to you. Happy birthday to you..

  Giọng Đức ngọng nghịu, như vọng về từ một cõi oan khiên nào đó.

    Những giọt nước mắt đã lăn trên mặt người cha. Ngọc cũng rưng rưng cay mắt.

*-

  Một lúc sau, như đợi một khoảng lặn trong giai điệu ma mị, người cha nói riêng với Ngọc: tôi thật lòng cảm ơn cháu. Tôi có đề nghị này muốn nói, mà… khiếm nhã. Cháu có thể từ chối.

  Ngọc thông cảm: dạ, chú cứ nói.

  Người cha khẽ khàng nói tiếp: dù thân xác không đầy đủ, không ra người. Nhưng Đức có lý trí, có tâm hồn như Người. Và, tất nhiên, nó cũng có ham muốn tình dục như mọi người.

    Trong tồn sinh của đời mình ai cũng có khổ đau, có hoan lạc. Đức đã gánh chịu sự bất hạnh quá nặng của kiếp người từ khi mới chào đời.

  Người cha nghẹn ngào tiếp tục ý tưởng:

  Cháu à, nhân ngày sinh của Đức, chú muốn cho con chú món quà tặng của tạo hoá… đó là khoái cảm lạc thú giữa nam và nữ.

    Chú muốn con giúp Đức được làm người, được như mọi người.

    Chắc con đã hiểu. Con có thể từ chối. Chú không trách con đâu.

    Ngọc sững sờ. Nó yên lặng, như không còn trong cõi nhân gian này.

  Rồi nó nghĩ: tôi, tôi chỉ là một con đĩ, xã hội không xem là người, lại được giúp một người sống cho trọn chữ con-người sao?

*-

  Có lẽ ai cũng sẽ tò mò muốn biết kết cuộc câu chuyện. Mà con Ngọc ngưng, không kể nữa. Cũng không có đứa nào biểu nó kể tiếp.

ÁI ĐIỂU

( viết theo lời kể của Ngọc )

LÀM SAO?

Làm sao em vá vầng trăng khuyết
Rọi xuống đêm tìm một giấc mơ
Trăng ngã bóng ai ngoài hiên lạnh
Khe khẽ theo em dỗ giấc chờ

Chút lạnh cho em và trăng ấm
Lóng lánh sương khuya hát ngọt ngào
Trăng nằm bên gối ru đêm chậm
Nước mắt mặn từng canh chiêm bao

Làm sao em rải sao lên tháp
Lung linh từng bậc cấp lung linh
Chén rượu xưa còn cay đáy mắt
Tiếng bước ai khua chiếc bóng mình

Một ngôi sao xuống bàn tay nhỏ
Ấp yêu năm ngón khép êm đềm
Có tiếng tim từ xa xôi đập
Phải chăng là… Em lại mình em!

Làm sao em cưỡi mây đầu dốc
Bay đến nơi rất xa, rất cao
Để em tin thiên đàng có thật
Ta vẫn hẹn nhau một kiếp nào


Mây bỏ em bay không dừng lại
Bóng ngày xưa nhuộm ráng chiều nay
Vương vướng chân em vài sợi khói
Thì cứ mơ hồ mây, mây bay

Làm sao em kéo đôi bờ lại
Dã tràng thôi xe cát ngàn năm
Nghe sóng hẹn nhau về bến mộng
Em thôi ra biển khóc âm thầm

Em lại về bờ em hiu hắt
Biển mượn hồn lạc sóng lang thang
Con ốc lạc vỏ mình ngơ ngác
Em lạc trái tim , máu lạc đường

Làm sao em níu bình minh lại
Giọt nắng long lanh những ngọt ngào
Nắng điệu đã dìu sương nhún nhảy
Bên vườn hồng hoa bướm xôn xao

Chỉ là sớm mai nào xa lắc
Em níu về chạng vạng chiều rơi
Chén rượu hoàng hôn mình em cạn
Say buốt trăm năm giọt lệ cười.

ĐẶNG KIM CÔN

BUỒN THÁNG TƯ

đi qua những phố bụi lầm
màu mưa xa lắc nắng bầm dập tôi
ngã tư bóng mẹ quê ngồi
đồng tiền bố thí
mồ hôi phố phường
phấn son tủi hổ đèn đường
những người em bán tàn hương xứ người
đi qua hào nhoáng đười ươi
những vênh váo mặt
những cười cợt đau

….

đi qua ký ức máu trào
những hồn cộng nghiệp dưới màu biển xanh
có đêm ngủ giữa thị thành
giật mình tiếng gọi thất thanh năm nào !

NGUYỄN ĐÌNH BỔN

CHIẾC GIÀY SAULT TRÊN ĐỒI PLEI-DJARENG (LỆ MINH)

Chiếc giày sault người lính trận năm nào
Còn bỏ lại trên tiền đồn hoang vắng
Bốn chín năm từ khi thôi lửa đạn
Dưới mặt trời nằm dãi nắng dầm mưa!

Anh ở miền nào, có vợ con chưa
Hay mới lớn đã vội vàng nhập ngũ?
Đóng quân đây đã mấy mùa trấn thủ
Chiếc giày này , sao để lại không mang?

Phải năm xưa khi trận đánh vừa tan’
Một chân trúng mãnh mìn cưa bỏ lại
Hay anh chết khi cuối giờ di tản
Cái chân kia thú dữ đã tha rồi?

Lúc tàn hơi anh từ giã cuộc chơi
Ai đó thấy báo tin cho đồng đội
Mẹ cha anh vượt rừng sâu tìm tới
Nhặt xương anh bỏ lại chiếc giày này?

Bao nhiêu người đã nằm lại nơi đây
Sao chỉ một chiếc giày anh trơ trọi?
Không di ảnh, không kệ thờ nhang khói
Bên chiến hào rêu phủ đã lên xanh.

Biết còn ai nhớ đến tuổi tên anh
Người nằm xuống đáp đền ơn sông núi?
Gió biên cương bốn mùa hiu hắt thổi
Điệu nhạc buồn trên đỉnh Plei Djereng

NGUYỄN ĐÌNH CHIẾN

Công Chúa và Kẻ Bán Than

Ngự Bình, cô “công chúa” duy nhất trong nhà, sinh ở Huế sau trận lụt năm Ất Mùi (1955).  Ngày đó, mẹ và bốn thằng con trai – anh Quang, tôi, Sang, và Triết – ở trong xóm Cửa Nhà Đồ cùng với thím Lam và chị ở.  Thím là vợ mới cưới của chú Lam em họ cha; cha và chú phục vụ trong quân đội và đóng đồn xa.

Suốt hai tuần cuối tháng Chín, bầu trời xám xịt, mây thấp, và những cơn mưa như trút nước đổ ập xuống.  Nước sông Hương đục ngầu chảy cuồn cuộn, và mực nước mỗi ngày một dâng cao.  Buổi chiều hôm ấy, nước sông xăm xắp tới mặt đường; mẹ, thím Lam, và chị ở ra sức đưa đồ đạc trong nhà lên cao.  Quá nửa đêm, tôi bị đánh thức và mơ màng nhìn quanh thấy nước dâng lên gần tới mặt tấm phản tôi nằm ngủ với anh Quang và Sang, guốc dép và đồ vật nổi lều bều trong nhà, và một chiếc nôốc (ghe nhỏ có mui) áp mũi vào sát phản.  Mẹ ra lệnh cho chị ở,

            “Mi đưa mấy đứa đi với hai bác Hoát tránh lụt, đợi nước rút mới về!”  Bác Hoát hàng xóm cạnh nhà tôi là công chức sở lục lộ hồi hưu.

            “Răng thím với chị Lam không đi?” chị ở hỏi lại.

            “Tau với thím nớ còn nhà cửa đồ đạc phải coi, đi răng được?”

Đứng dưới sàn nhà, nước ngập ngang bụng, thím Lam bưng chiếc đèn dầu soi đường cho mẹ ẵm Triết trao cho mụ Hoát rồi giục giã,

“Đi mau lên kẻo Mệ nuốt chừ!”  Mẹ nói “Mệ” để kiêng tên Hà bá là thần làm chủ sông.

            “Mẹ không đi thì con ở nhà phụ mẹ,” anh Quang hiểu ra và phản đối.

            “Con là chim đầu đàn phải đi mà lo cho em.  Vài ngày thôi con à!” mẹ năn nỉ anh tôi.

Chiếc nôốc chèo đi trong bóng đêm, tôi ngủ thiếp đi.  Khi tôi tỉnh dậy thì trời đã sáng và nôốc đã đậu lại.  Nước lặng.  Biển nước màu vàng đất che phủ mọi vật, chỉ chừa lại đọt (ngọn) cây và mái nhà.  Tôi gọi với hỏi ông Hoát,

“Đây là chỗ ?  Mình làm chi ở đây ôông ơi?”

“Vườn nhà ông Bính; mình đậu nôốc chờ nước rút.”  Nhà ông Bính là một dinh cơ rộng lớn gần cầu Bạch Hổ, cách nhà tôi không tới nửa cây số.

Suốt đêm trằn trọc, anh Quang bồn chồn lo lắng nhưng cố trấn tĩnh dạy tôi và Sang lấy que tre làm cần câu cá, nhưng chỉ được một lát là hai đứa tôi chán, bỏ cần câu qua một bên, và thò tay xuống nước vọc chơi.  Nhưng làm gì thì làm, thằng Bé (tên ở nhà của tôi) bảy tuổi nhớ mẹ quá chừng!  Nước dâng lên thêm một ngày nữa là tới đỉnh và sáng hôm sau từ từ rút xuống.  Trời mưa xối xả khi chúng tôi về đến nhà; ông Hoát nói,

“Mưa xối bùn, hết lụt rồi.  Mấy đứa bây phải cám ơn Trời Phật đã phù hộ cho mẹ và thím bây được bằng an.”

Quanh nhà bùn đất và cành cây nằm la liệt, và bên trong bàn ghế tủ giường lấm bùn nghiêng ngã chỏng chơ.  Mẹ huy động chị ở, anh Quang, và cả thằng Bé quét dọn bùn và phơi phóng vật dụng.  Ở phòng trong phía sau nhà, mẹ và thím Lam lấy các xấp giấy bạc 100 đồng in hình Quốc trưởng Bảo Đại bị thấm nước trong cái rương lớn ra, trải từng tờ trên nia để hong khô, và dùng bàn ủi than ủi phẳng trước khi bó thành xấp như trước.  Thì ra, mẹ và thím Lam ở nhà để bảo vệ tiền bạc của cải trong nhà.

Mẹ kể đêm, sang đêm thứ ba của cơn lụt, Trời Phật đáp ứng lời cầu khẩn của mẹ và thím Lam: Nước dâng tới rầm thượng dưới mái nhà thì ngừng lại.  Mẹ vui mừng nói với thím,

            “Chị em mình có mang mà dầm nước lụt thì đẻ con gái.”

            “Thiệt không?  Răng chị biết?” thím bẽn lẽn hỏi lại.

            “Ông bà mình nói rứa!  Thím có mang con so lại càng ứng nghiệm.”

Quả nhiên, đầu năm 1956 thím Lam sinh con gái đầu lòng đặt tên là Hương.  Một tháng sau, Ngự Bình của mẹ ra đời.  Hai cô em tôi mang tên sông Hương và núi Ngự Bình, hai thắng cảnh vẽ nên phong cảnh hữu tình của cố đô.

* * *

Ngày ở Huế, tôi thường bị giao cho công tác chự (giữ) em vì mẹ nói, “Thằng Bé cẩn thận, chịu khó, và chiều em hơn thằng anh hắn.”  Năm Bình lên ba lên bốn, tôi vừa trông em vừa chơi với Hương, thằng bạn thân ở gần nhà.  Nó học cùng trường và ngang lớp, nhưng không cùng lớp, với tôi và cũng mê đọc truyện như tôi.

Vì thói mê truyện, tôi tự học cách đóng lại sách cũ bằng cách cắt giấy cứng làm bìa, dùng đinh đục lỗ, và lấy kềm cắt dây kẽm làm kim đóng sách.  Bà con họ hàng ai có sách cũ đều đem cho tôi, thay vì liệng bỏ.  Những cuốn sách đó thường mất cả bìa trước, bìa sau, và trang tựa đề.  Tôi ra công chế biến thành cuốn sách tươm tất và cất giữ trong cái thư viện tí hon gồm truyện Tàu, võ hiệp, trinh thám, phiêu lưu mạo hiểm, và tình cảm xã hội.  Kho truyện của tôi thay đổi hằng ngày vì tôi đem truyện đi đổi với của mấy đứa khác, và nhờ đó đọc được nhiều truyện đã xuất bản mặc dù không có tiền mua.

Ngoài giờ học, tôi và Hương đi đổi truyện và mang theo Bình.  Khi phải đi bộ xa, ban đầu Hương ôm sách, tôi cõng em trên lưng, và em thích chí cười nói bi bô.  Một lát sau tôi mỏi vai thì đổi phiên:  Tôi ôm sách, nó cõng Bình, và em cũng vui vẻ bằng lòng.  Các bạn đổi truyện thường nghĩ chúng tôi là ba anh em, và nhờ em xinh xắn dễ thương mà đôi khi hai thằng được nhường cho phần hơn trong cuộc thương lượng đổi chác.

Mười mấy năm sau, cha mẹ gửi Bình từ Nha Trang vào Sài gòn học trường nữ trung học Gia Long và ở với tôi trong nhà cư xá Bắc Hải.  Lúc đó tôi đã tốt nghiệp kỹ sư điện và đi dạy, và Hương đã tốt nghiệp kỹ sư canh nông trường Cao đẳng Nông Lâm Súc.  Ngày học đại học, nó học giỏi và được một ông bạn ba nó đang làm lớn trong bộ Canh nông ngắm nghé gả con gái.  Ra trường nó làm đám cưới, và tôi đóng bộ làm phù rể.  Tiệc cưới linh đình tổ chức ở nhà hàng Bát Đạt trên đường Đồng Khánh trong Chợ Lớn, tôi và Bình – bấy giờ là một nữ sinh lớp 11– được mời lên sân khấu chụp hình với gia đình cô dâu chú rể, và chú rể thuật lại chuyện cõng em đi đổi truyện cho quan khách nghe.

* * *

Cha mẹ ở Nha Trang, Sang đi lính, Triết đi du học, và trong nhà cư xá Bắc Hải chỉ có tôi và Bình và chú Hạ tài xế kiêm đầu bếp nấu ăn.  Ban ngày Bình đi học và tôi đi làm, buổi tối hai anh em thường đi chơi với nhau.  Ngồi ở yên sau chiếc Honda, em theo tôi tới nhà bạn hay đi ăn nhậu và kiên nhẫn ngồi nghe bọn người lớn (hơn) tán gẫu chuyện trên trời dưới đất không mấy liên quan đến em.  Tuy nhiên, ở nhà, cô nữ sinh Gia Long nói năng nhỏ nhẻ là chủ nhà thực sự.  Em nắm giữ việc chi tiêu và sai sử chú Hạ lái xe hơi đưa đón em đi học, chở em đi mua sắm, hay đưa em đi giao dịch cho mẹ.  Em lo hết công chuyện kinh doanh của mẹ ở Sài gòn.  Càng ngày, tôi và em càng gần nhau và có lối suy nghĩ tương tự như nhau.

Cuối năm học lớp 12, Bình thi Tú tài, kỳ thi quan trọng đầu đời của em được cho theo lối trắc nghiệm.  Lối thi này được thực hiện lần đầu tiên ở Việt nam và bị báo chí gọi mỉa là “Tú tài IBM” vì, ngoại trừ bài luận, các bài thi đều được chấm bằng máy điện toán của hãng IBM (International Business Machines Company).  Kỳ đầu được tổ chức vào ngày 26 và 27, thứ Tư và thứ Năm cuối cùng của tháng Sáu năm 1974.  Bình thi ở hội đồng Gia Long, trường của em.  Hai tuần sau có kết quả, em đậu Bình.

Bình học ban C (Văn chương và Sinh ngữ) nên nghề nghiệp tương lai khá giới hạn:  học xong đại học hầu như chỉ đi dạy học.  Tháng Tám em nộp đơn xin thi vào ban Anh văn (ngoại ngữ chính của em) của Đại học Giáo dục thuộc viện Đại học Bách Khoa Thủ Đức mà tiền thân là ban Cao đẳng Sư phạm Kỹ thuật.  Ban này được thành lập từ năm 1962, trực thuộc nha Kỹ thuật Học vụ, không chính thức là trường cao đẳng như trường Cao đẳng Điện học của tôi, và lúc đầu  mỗi năm chỉ nhận mười sinh viên.  Năm 1972, ban được phát triển thành Trung tâm Giáo dục Kỹ thuật Nguyễn Trường Tộ với trường sở ở Thủ Đức.  Năm 1974, trung tâm trở thành Đại học Giáo dục của viện Đại học Bách khoa Thủ Đức, cùng với Đại học Kỹ thuật trong đó trường Điện là một “Ngành” (ban).

Bình đậu vào Đại học Giáo dục, thành giáo sinh ban Anh văn, và hãnh diện làm bạn đồng môn Bách khoa Thủ Đức với ông anh:  Tôi nhập môn trước “tiểu sư muội” chín năm.  Hằng ngày em dậy sớm nhờ Trọng em út lấy xe Honda PC đưa ra trước rạp hát Long Vân gần bùng binh Ngã Bảy Sài gòn đón xe lô đi học.  Xe chạy dọc theo đường Phan Thanh Giản ra xa lộ Sài gòn – Biên Hòa khoảng mười cây số tới Thủ Đức và ngừng trước cổng trường đại học, em đi băng qua sân trường là tới lớp.

Mới hôm nào là một em bé kháu khỉnh tôi cõng đi chơi, Bình trở thành một thiếu nữ mười tám mỹ miều với mái tóc dài xõa ngang lưng, chiếc mũi dọc dừa, và nụ cười duyên dáng không biết từ lúc nào.  Tôi chợt nhớ ra hơn một năm qua em không còn thủ thỉ tâm sự chuyện học hành hay bạn bè ở trường với tôi, và thỉnh thoảng tôi bắt gặp nụ cười ngượng ngập của vài chàng sinh viên đến nhà chơi và lễ phép đứng dậy chào khi tôi tình cờ đi qua phòng khách.  Đặc biệt, bạn tôi là Hòa hình như cũng đang si tình em, nhưng không dám hé môi.

Hòa người Phú Yên là em một người bạn học đệ nhất (lớp 12) cùng với tôi ở Ban Mê Thuột.  Thân hình cao lớn chắc chắn và mặt sạm nắng, Hòa đỗ bằng Cử nhân Vật lý ở Đại học Khoa học Sài gòn và sau khi tốt nghiệp, được nhận làm giảng nghiệm viên phòng Vật lý của Đại học Minh Đức cùng với tôi.  Chàng kính trọng và nghe lời tôi, và tôi yêu mến tính tình chất phác của chàng được biểu hiện trong giọng “Nẫu” Phú Yên cao và trong cất lên ở cuối câu nghe thật thân thiết và gần gũi.  Qua niên khóa thứ hai, Hòa mất việc, nhưng chúng tôi gặp nhau thường xuyên ở lớp cao học điện tử của Đại học Khoa học.  Biết chàng nhà nghèo, vào Sài gòn trọ học mà dạy kèm tư gia không đủ sống, tôi nhường cho chàng giờ dạy ở trường trung học tư.  Hằng tuần tôi ghé lại nhà trọ, mời chàng đi uống cà-phê hay đi ăn nhậu, và nếu về khuya, rủ ngủ lại nhà tôi.

Sau ngày mất nước năm 1975, tôi và Hòa biệt tin nhau gần 15 năm.  Năm 1990, gia đình chàng được bảo lãnh sang định cư ở nam California.  Chàng sống hòa thuận với vợ là Dung người cùng quê và thuộc gia đình giàu có.  Chàng rất “nể” Dung, không bao giờ dám cãi lời vợ.  Khi tôi đi du lịch hay công tác ở nam California, vợ chồng Hòa mời tôi ở lại nhà và tiếp đãi tử tế.  Chàng hỏi tôi số điện thoại Bình và thỉnh thoảng gọi thăm em.  Lúc này, với bằng Cao học Điều dưỡng, em làm giám đốc điều dưỡng cho một hệ thống bệnh viện ở Austin, Texas và có hơn 300 nhân viên dưới quyền, và gia đình sống hạnh phúc.

Trong lần ghé thăm Hòa cuối thập niên 1990, tôi rủ chàng đi dự họp mặt với vài người bạn cựu giảng viên Đại học Minh Đức, một trong những lần hiếm hoi không có Dung đi cùng.  Bị bạn ép uống bia, Hòa hơi quá chén và đâm ra nhiều lời.  Trên đường về, chàng trút tâm sự,

            “Anh biết không, ngày đó tui thương cô Bình hết sức.  Về nhà anh ngủ đêm và được trò chuyện với cổ là những lúc sung sướng nhất đời tui.”

            “Vậy sao?” tôi hỏi vô thưởng vô phạt.

            “Tui suy nghĩ cả năm trời rồi quyết định ôm mối tình câm chớ không cho anh biết,” giọng chàng buồn tênh.

            “Tại sao?” tôi thầm cám ơn chàng đã tránh cho tôi một hoàn cảnh khó xử; tôi biết hồi đó Bình xem chàng thuần túy là bạn thân của ông anh.

            “Tui biết mình thân thế quê mùa nghèo hèn và không xứng đáng với cổ.  Cổ là công chúa; tui là thằng bán than, sao dám ngước mặt vói lên trời?”

Tôi giữ kín nỗi niềm tâm sự của Hòa.  Khốn nỗi, tôi không phải là kẻ duy nhất mà chàng thố lộ tâm tư.  Trong mấy lần tôi trở lại sau đó, Dung hay hỏi tôi những câu xóc óc buộc tôi vào thế phải xác nhận chị thông minh và tài giỏi hơn tôi.  Như thể chị dùng tôi làm bung xung để đua tranh với bóng ma của quá khứ.

Nguyễn Ngọc Hoa

                                                                                          

Download all attachments as a zip file