xương trắng

nguyenducbatngan

dạ thưa mẹ, cầm bằng con hư hỏng
nên không tròn theo sự nghiệp cha xưa
chưa khôn lớn đã mù thân lưu lạc
giữa hôm nay là sáng tối bao giờ

dạ thưa mẹ, đành như con đã chết
tự buổi đầu mẹ khóc tiễn con đi
trên đỉnh trán con đầy hơi hướng mẹ
quá khôn cùng như thánh mẫu từ bi

mẹ hãy quên con như lần nước mất
dù trên đầu đã bạc xóa tóc cha
phương xứ lạ vẫn mầu mây cố quận
thì  làm sao con níu được sơn hà

dạ thưa mẹ, cầm bằng như nước chảy
hay đành như cha mẹ chẳng sinh con
đêm luân lạc nối ngày con buồn tủi
sầu đưa theo trắng rợp cả u hồn

dạ thưa mẹ, chừ con thân biệt xứ
và rồi đây xương trắng gửi quê người
mẹ thưa với cha dùm con nghe mẹ
dù gian nan con vẫn giữ nụ cười

Nguyễn Đức Bạt Ngàn

HÁT VANG BÀI CA XÍCH LÔ

phuongxichlo

Người lên non ẩn dật
Chuyên đốn củi đốt than
Ta ẩn trong lòng phố
Đạp xích lô lang thang

Khi gặp khách ta chở
Lúc vắng khách ta nằm
Có tiền ta uống rượu
Không tiền ta hát ngâm

Mặc ai lùi xuống chó
Mặc ai tiến lên voi
Ta giữ lòng thanh bạch
Dưới hai vầng sáng soi

Đã lâu rồi quên hết
Những thị phi giang hồ
Từng đêm ngồi gõ nhịp
Hát vang bài xích lô.

PHƯƠNG XÍCH LÔ

Đời cứ thế trôi

nguyentri

Chín Hội người Bạc Liêu, con út trong một gia đình có ba anh trai một chị gái. Cha Chín Hội rất công bình, trai cũng như gái. Khi chia đất, ông cho mỗi đứa mười công. Hội là út được mười bốn công và căn nhà, bù lại ông bà ở cùng Chín.
Anh em Chín Hội nông dân từ khi mới lọt lòng, chăm chỉ lắm, nhờ thế họ ăn nên làm ra. Mỗi lần về thăm ba má, đề tài muôn thuở của họ là Chín Hội, nghệ sĩ nửa mùa.
Chưa xong tiểu học, Chín Hội chia tay bút mực. Miền Tây sông nước với đàn ca tài tử lại thêm cha mẹ cưng chiều, lôi kéo Chín Hội ra đi. Anh chị em Chín Hội ruộng nương là chính. Không như Chín, họ tự tay làm ăn. Chín Hội thì đem đất đai cho mướn, còn mình mang cái trắng trẻo đẹp trai đi đàn ca hát xướng.
Anh chị em lo cho cái lông bông của Chín. Ai cũng nói “Làm ăn kiểu này ba bữa nữa lấy vợ tiền đâu mà lo”. Đúng quá, họ nặng nhẹ là phải, cha mẹ ngày càng già mà Chín Hội ăn chơi kiểu công tử thì sạt nghiệp là cái chắc.
“Nay mai đừng có kêu tao à”, họ dằn dỗi. Chín Hội thì cười nhẹ tưng “Khỏi lo cho tui, mấy ông bà đừng có đa sự”. “Ừ nhớ đó, lúc lấy vợ đừng có qua tao mà mượn”. “Yên tâm đi”.

Quả thật, Chín Hội chẳng cần mượn ai.
Đẹp trai, tiếng đàn lả lướt giọng ca mùi mẫn, đôi mắt mơ màng, bấy nhiêu đó thừa xô ngã lăn quay những trái tim mê ca hát, lắm người đẹp hết nước mắt vì Chín. Chín Hội ôm đàn giữa một vườn hoa đủ mọi hương thơm. Hoa nào cũng như hoa nào, đóa nào Chín cũng nâng niu thưởng thức hương thơm rồi sau đó sang đóa khác.
Thế rồi đóa hoa Bạch Ngọc tầm cỡ đổ quán xiêu đình đã xô ngã trái tim Chín Hội. Nàng theo Chín Hội về nhà chẳng cần cưới hỏi gì ráo. Thứ nhất, nàng sợ lũ yêu nữ vây quanh chàng nghệ sĩ hớt tay trên mất chàng. Thứ hai, vì trong một đêm trên ghe đầy tràn tiếng ca lời hát ngọt ngào, nàng đã cùng chàng lắc lư tới bến.
Việc lấy vợ của Chín khiến anh em trong nhà vừa thở dài vừa thở phào nhẹ nhõm.

***

Lấy nhau, vợ chồng Chín Hội về thị xã thuê nhà ở. Bạch Ngọc vốn con nhà khá giả sướng từ trong trứng, nấu cơm Bạch Ngọc cũng không biết. Má Chín Hội bĩu môi kể khi đi thăm con về: “Đàn bà con gái gì mà không biết nấu cơm. Ai đời vợ mà để chồng vô bếp”. Ai nấy đều ngạc nhiên: “Trời đất! Giỡn chơi má?”.
Chín Hội xăng xái vô bếp hầu vợ trẻ được mấy tháng, tới khi cái bụng của vợ tròn hẳn lên thì anh ta lại xuống ghe đi đàn ca tài tử tiếp. Ngày cha mất, anh em phải nhắn nhe qua hàng chục cái ghe mới tìm ra Chín Hội. Tang ma xong, Chín Hội lại đi.
Riết rồi Bạch Ngọc cũng hết buồn, hết khóc. Không có chồng nấu cơm cho nên bây giờ cô đã tự nấu cơm được rồi. Và tự làm nhiều thứ khác nữa.
Tài sản của Chín Hội bị bán dần từng công đất một. Người bán chính là bà mẹ đã lậm vô đề đóm. Người mua cũng không ai ngoài anh em trong nhà. Khi Chín Hội tỉnh mộng đàn ca, đất còn lại có bốn công.
Bạch Ngọc cho ra đời ba gái một trai. Chín nói với mẹ bằng cái giọng của kẻ nhuốm mùi thất bại: “Tui cấm bà bán nữa à”. Rồi chửi thề: “Thằng nào dụ dỗ bà già mua rẻ đất đai, tao chém hết!”. Anh em cự lại: “Mày đòi chém ai? Bả bán tao mua. Đừng có nói chuyện kiểu cô hồn nghe mậy!”. “Mấy ông cứ lợi dụng vợ chồng tôi lơ là. Từ nay đừng hòng qua đây!”. “Ai thèm qua lại với vợ chồng mày. Đừng có mơ!”.
Vậy là nước tràn chén.
Còn Bạch Ngọc hết chán rồi hận. Cô hận đã không nghe lời cha mẹ, hận thằng chồng chỉ biết bản thân mình. Vậy mà còn sòn sòn cho ra tới bốn đứa con.
Bạch Ngọc bỗng trở thành Bạch Cốt Tinh.

***

Ba đứa con gái của vợ chồng Chín Hội đẹp như tiên sa, giống hệt mẹ cái thuở chưa là Bạch Cốt Tinh. Lê Kiều Thảo, Lê Kiều Nhi, Lê Kiều Hạnh.
Nối gót mẹ, Kiều Thảo lấy chồng cũng không cho ai uống được một giọt rượu vu quy. Đã vậy, khi vợ có bầu thằng chồng đem gửi cho mẹ vợ, nói lý do phải đi làm ăn, đến lúc vợ đau bụng đẻ không có lấy một đồng. Bà Chín trực chiến ở trạm xá trong khi con rể ở nhà uống rượu đờn ca với cha vợ. Thằng rể khen cha vợ: “Ngón đờn của ba nhuyễn thiệt”.
“Khỏi khen mày. Dzô đi. Mà giọng ca của mày cũng mùi thiệt”. Thằng rể cười hì hì: “Không mùi dễ gì đánh đổ con gái ba”.
Còn hai đứa Kiều Hạnh, Kiều Nhi bà Chín lo lắm. Lỡ nó đi theo tiếng gọi như con chị có nước bà tự tử cho xong đời. Hai đứa con gái, nhìn cha đã chán, nhìn anh rể còn chán hơn. Quanh đi quẩn lại toàn đờn ca tài tử rượu vào lời ra. Muốn con gái tránh xa cái đám này thì bà Chín phải cho tụi nó đi làm khu công nghiệp.

***

Khu công nghiệp là đất lành cho vô số những cánh chim muốn thoát cảnh nghèo. Đó là ý kiến của Tám Lập, chủ của hai mươi phòng trọ, mỗi phòng mười sáu mét vuông, thêm một gác lửng. Bầu đoàn thê tử của Chín Hội ngự trị trong một phòng như vậy.
Kiều Hạnh, Kiều Nhi làm ở công ty thuộc da Weitai. Vợ chồng Chín Hội luân chuyển theo cai thầu khắp các công trình xây dựng, chồng cầm bay chính, vợ phụ hồ. Thằng con trai út mười tuổi, trước khi đi làm Chín Hội khóa cửa nhốt trong phòng. Có người hỏi sao ác vậy, Chín trả lời: “Cho nó khỏi đi chơi”. Hỏi tiếp: “Lỡ cháy nhà sao cha nội?”. “Chủ phòng trọ lo chuyện đó trước mình”. Hỏi nữa: “Sao không cho thằng nhỏ đi học, ở đây cũng có lớp tình thương”. “Thương cái bao tử của mình trước đã”.
Chỉ năm tháng sau khi đến đất lành, sự khởi sắc nhìn thấy rõ ở sợi dây chuyền vàng lấp lánh trên cổ bà Chín. Thêm hai đứa con gái cực kỳ nhan sắc đã kéo lô lốc anh hùng hào kiệt đến nhà, mong lọt vào mắt hai Kiều.
Tính tình phóng khoáng nghệ sĩ, Chín Hội chào đón tất cả. Chủ nhật nào tiếng đàn cũng vang lên, rượu bày ra. Chín Hội mượn rượu tung hô bà Chín lên tận mây xanh. Nhưng Bạch Cốt Tinh vẫn nhìn thấu tim đen bọn này.
Cũng có những gã không rượu, ngọt nhạt gọi bà Chín bằng má. Bà Chín tỉ tê với hai Kiều: “Thằng Bảo quê Tiền Giang, bây mà xuống đó là trôi ra biển luôn à”, với Duy, bà phán: “Thằng đó cả một bầy em. Tao đây chỉ một mẹ chồng còn chịu không thấu”.
Cuộc đời đã dạy bà Chín quá nhiều những bài học, nay bà lôi ra áp dụng cho hai con gái: “Cái thằng đó, trên răng dưới một rổ củ từ, bây lấy nó để đi ăn mày à?”.
Theo đuổi hai Kiều từ phụ hồ cho tới cai thầu, từ Wave Tàu cho tới Dream Thái… Nhưng tất cả đều phải nhường đường cho xế hộp.
Họ rất đàng hoàng, đĩnh đạc và lịch sự. Hai Kiều giới thiệu: “Đây là anh A Huy, đây là A Pẩu”. Bà Chín mời: “Ngồi chơi”. Hai gã Đài Loan xí xa xí xồ. Chín Hội nói với vợ: “Tao bó tay với hai thằng nầy. Nó có chửi mình cũng không biết”. Bà Chín chợt nhớ ra: “Thì ông kêu ông Minh coi”. À lên mừng rỡ, Chín thò tay vào túi móc điện thoại di động.

***

Trong những người yêu thích tiếng đàn của Chín Hội, bà Chín kính trọng Năm Minh. Ông không thuốc lá, không rượu, lại trí thức, nói tiếng Anh như gió. Nếu con trai ông Minh không sa đọa, chắc chắn bà đã gả Kiều Hạnh cho nó rồi. Bà Chín vẫn nói với chồng: “Tội nghiệp! Cha vậy mà con lại hư”.
Năm Minh tới, thông dịch: “A Huy là quản lý, A Pẩu là thu mua của công ty”. Hai gã Đài móc từ trong cái xách tay to đùng, nào rượu hộp, khô mực, nào thuốc lá ngoại, bánh kẹo, sôcôla… Nhìn cái đống tặng phẩm mà Năm Minh dịch là “chút quà nhỏ”, Chín Hội hết hồn.
Rồi hai gã bắt tay chào tạm biệt. Các người đẹp thân ái vẫy tay. Xế hộp lao đi, cán nát cả chục trái tim si tình.
Chín Hội hỏi:
– Ông nghĩ sao?
Năm Minh trả lời:
– Thời buổi này vàng thau lẫn lộn, vợ chồng ông cẩn thận là hơn. Với lại… – Năm Minh ngâm nga – Con gái mà lấy chồng gần, có tô canh cần nó cũng mang cho.
Chín Hội ngúc ngắc cổ:
– Đây chẳng cần canh cần canh khổ qua nhồi thịt gì ráo. Nó lấy chồng ngoại, lâu lâu gửi cho vài trăm đô xài được rồi.
Bà Chín nạt:
– Ông dẹp đi! Chỉ biết cái thân mình.
Nói vậy chớ lòng bà Chín cũng bâng khuâng. Bà khổ quá rồi, nào đàn ca tài tử, rượu, cái nghèo, cùng với sự vô tâm đã đày đọa cả đời bà. Bà nhất quyết chọn đúng mặt để gửi vàng. Dù gì thì đám này cũng hơn mấy thằng sáng say chiều xỉn tối chửi vợ khuya mắng con, tới khi nhà có công việc thì biến đâu mất.

***

Bà Chín chán ghét sự bê tha, thích sự mẫu mực. Thì đó, mẫu mực.
Người ta theo đuổi con gái bà và cố gắng học tiếng Việt. Chỉ ba tháng, hai gã Đài đã chào bà đúng kiểu Việt Nam. Đã thế chúng còn nói với Kiều Hạnh: “Phòng trọ hẹp quá, để anh mướn một căn nhà cho gia đình sinh hoạt thoải mái hơn”.
Dọn tới nhà mới, hai Đài đã thanh toán trước một năm tiền nhà. Rồi tủ lạnh, máy giặt, dàn karaoke. Hai Kiều thì đến trung tâm học tiếng Anh, tiếng Hoa để mưu cầu cho một tương lai xán lạn. Hai chiếc Wave Alpha được tậu về đủ nói lên chân tình của Huy và Pẩu.
Chín Hội khoe với Năm Minh: “Tụi nó mua cho hai đứa nhỏ hai cái di động đời mới. Hai cái thằng này được ghê!”. Năm Minh ngày nào cũng đọc báo An ninh, cảnh giác: “Ba cái quà biếu đó với tụi nó là đồ bỏ. Ông liệu hồn, dặn con ông cho kỹ, đừng dại dột có ngày ôm hận. Ông về kiểm tra kỹ hai cái di động, xem thử tụi nó có cài sẵn ba cái phim đồi trụy vô không”.
Chín Hội nghe lời kiểm tra liền. Thì y như rằng. Chín Hội chửi: “Tụi mầy coi ba thứ này, tao giết hết! Đồ gái hư!”. Bà Chín Hội nhìn mấy cái hình hiện ra trên điện thoại, cỡ Bạch Cốt Tinh mà cũng phải cấm khẩu.
Đến khi Bạch Cốt Tinh tỉnh trí, lồng lộn chửi, thì chuyện đã xong rồi.

***

Nếu nói hai Kiều tự bước qua lễ giáo là buộc tội khe khắt quá. Thử hỏi tất cả người đẹp trên thế gian này ai có thể từ chối trước sự chân thành, hào hoa. Đã thế họ còn được sự biểu đồng tình của cả gia đình. Mỗi lần họ đến là niềm tin sáng lên trong mắt mọi thành viên trong nhà. Bà Chín kỹ tính lắm, không cho đi chơi đâu hết: “Tụi mầy có muốn thì cưới hỏi đàng hoàng rồi dẫn đi Phi châu cũng được”.
Vậy thì hai gã Đài xử tại nhà.
Kiều Hạnh vừa ụa mửa vừa khóc kể: “Bữa đó hai ổng tới chơi… Cái bữa mà ba mượn xe tay ga chở má đi Vũng Tàu đó…”.
Đưa rắn vào nhà mà bảo giữ là giữ làm sao?! Bà Chín Hội đấm ngực. Ông Chín đứng ngoài cửa buồng nghe đầu đuôi câu chuyện, đầu óc quay cuồng, ra phòng khách xách chai rượu lên tu cho quên sầu nhân thế.
Bà con dòng tộc ở Bạc Liêu nói “Đời cha ăn mặn, đời con khát nước”. Họ kể lại vô số những cuộc tình của Chín Hội thời trai trẻ.
Bà Chín than thở với Năm Minh: “Cái số em sao nó khổ quá anh Năm ơi. Cha mẹ đã không học hành, con cái cũng thất học thất hành…”. Chín Hội nổi cáu: “Năm Minh học hành, tiếng Anh nói như gió mà con của ổng cũng ma túy chớ hơn gì ai?”.

***

Rồi chuyện cũng qua.
Bà Chín mua một cái áo tràng, rằm mùng một nào bà cũng lên chùa lễ Phật, sám hối cái tội chủ mưu sát hại cái thai.
Chín Hội càng rượu nhiều hơn.
Duy hai Kiều thì vẫn còn đẹp lắm.

Nguyễn Trí

Thi sĩ

transa

(Gửi Phan Huyền Thư)

Ăn cắp một giọt sương
Ngắm cuộc đời ném đá
Nốc cạn một nỗi buồn
Rồi mỉm cười rất lạ.

Can đảm như đàn bà
Can đảm như đàn bà
Nói chín mươi triệu lần:
Thành thật rất xin lỗi !

Nói với người còn sống
Nói với người đã chết
Nói như một con người
Không phải một con vẹt

Trả lại một giọt sương
Một mình một con đường
Can đảm như đàn bà
Và đẹp – như thi sĩ.

Trân Sa

TA NỢ ƠN NGƯỜI

khatiemly

Biết mẹ theo chồng từ năm mười sáu,
Mà giận con bướm vàng đậu nhánh mù u.
Để ta nợ mồ hôi cha ướt áo,
Và nợ mẹ hiền trăm vạn lời ru.

Khi hạt lúa đồng nuôi ta khôn lớn,
Thì nợ nhánh bần gie nhánh ra sông,
Lại nợ cánh diều căng dây trong gió,
Mà mơ một ngày vút cánh lên không!

Ta nợ thầy một thời nghiên bút,
Nhưng sách đèn chẳng mua được áo cơm!
Giông bão lớn, càng nuôi thêm chí lớn,
Nên một ngày chữ bỗng hóa thanh gươm.

Nợ bạn bè một lời sĩ khí,
Nợ một lời cùng bốn biển anh em.
Nợ thanh kiếm một đời chưa thỏa chí,
Nên kín trong bình mà rượu nhạt hơi men!

Bởi thân ta vốn là hạt cát,
Ngàn đời mơ một giấc bình yên.
Khi Cửu Long không xuôi về phương bắc,
Thì đến bao giờ làm tốt lúa quê em!

Nợ mẹ. nợ cha, nợ thầy, nợ bạn,
Thì đời ta đã sống ra người!
Nợ sông núi, ta làm phân bón đất,
Nợ ân tình, không trả được em ơi!

Kha Tiệm Ly

Ở QUÁN CÀ PHÊ STARBUCKS

nguyenxuanhoang

Người đàn ông tôi gặp trưa nay ở quán cà phê Starbucks tên B.
Ông và tôi quen nhau tình cờ từ hơn sáu tháng nay cũng ở quán cà phê này. Hôm nay ông ăn mặc khá giản dị, cái áo choàng lạnh màu xanh đã cũ, quần màu vàng kaki hiệu Dockers hơi rộng, bàn tay ông to bè, những ngón tay ngắn và thô, móng tay dài cáu bẩn, như một người vừa làm vườn. Ông đứng xếp hàng trước tôi chờ mua cà phê.
-“Chào ông.”
Tôi lên tiếng trước.
-“Chào!”
Ông trả lời, giọng mệt mỏi.
Buổi trưa, nhiều nhân viên các cơ sở quanh vùng sau khi ăn lunch xong thường lấy cà phê trước khi trở lại sở làm. Hàng người chờ lấy cà phê khá dài. Ông B. quay mặt lại hỏi tôi hôm nay uống gì. Tôi cám ơn. Tôi nói để tôi vì tôi còn tiền trong thẻ Starbucks.
Nhớ lần đầu gặp ông, cũng đúng vào lúc xếp hàng mua cà phê vào buổi trưa. Ông đứng sau lưng tôi và hôm đó bất ngờ ông hỏi tôi một câu bằng tiếng Anh “Xin lỗi, ông có phải là người Việt Nam không?”
-“Phải”,
tôi trả lời bằng tiếng Việt.
-“Tại sao?”
Tôi hỏi lại.
Ông nói mấy lần trước đi cà phê ở đây thấy tôi ngồi một mình nhưng ngại không dám hỏi sợ tôi không phải người Việt Nam. Người Việt mình ít ai uống Starbucks lắm. Cà phê Việt Nam dù gì cũng hợp gout hơn là cà phê Mỹ. Thấy tôi đeo sợi giây mang thẻ sở làm một toà báo, ông hỏi, tôi làm việc gì ở sở này. Tôi nói dối, tôi làm janitor, nghiã là lau chùi bàn ghế, quét dọn rác rến trong một toà soạn. Ông nhìn tôi thương hại.
-“Qua Mỹ hồi nào? Làm janitor sống đủ không? Vợ con ra sao?”
Tôi trả lời cho qua chuyện, tôi biết mình đã lỡ nói dối không thể tiếp tục thêm. Tôi nói tôi qua Mỹ năm 1985, vợ tôi thất nghiệp cả năm nay, tôi có bốn đứa con, đứa út mới vào đại học, ba đứa kia đã có việc làm.
-“Vẫn ở với con cái à?”
-“Không”,
tôi nói,
-“vợ chồng tôi sống riêng, giống như hai con khỉ già chờ ngày ra đi.”
-“Đi đâu?”
Ông hỏi.
Tôi cười,
-“thì ra đi đó mà. Ai sống mà chẳng có lúc sau cùng phải ra đi.”
Ông cũng cười,
– “nói bậy. Lương bổng sao? Đủ sống không?”
Ông ta nhắc lại câu hỏi.
Tôi nói
-“à thì cũng sống vậy vậy.”
-“Qua Mỹ năm nào?”
Đây là lần thứ hai ông hỏi tôi.
Tôi nhắc lại:
-“Năm 1985”.
-“Mà ở thành phố này lâu chưa?”
-“Ồ chỉ mới sáu năm thôi.”
-“Trước ở đâu?”
Tôi nói ở Quận Cam.
-“Hồi đó làm gì?”
Tôi nhắc lại:
-“À, thì cũng lau chùi bàn ghế, nhà cửa, phòng ốc, hốt rác rưới cho một toà soạn báo.”
-“Vậy sao?”
Ông hỏi mà như nói.
Tôi hỏi lại ông, vậy chứ ông đến Mỹ từ bao giờ? Ông cho biết ông đã qua Mỹ từ trước 1975, đi du học rồi do biến cố tháng Tư 75, ông ở lại luôn. Ông hiện làm kỹ sư cho một hãng nhu liệu điện tử ở đây. Gần 10 năm sau ngày 30 tháng Tư, ông mới lo được giấy tờ cho vợ con qua, và bây giờ… ông bỏ lửng câu…
-“Tôi và vợ tôi không hợp nhau. Mấy đứa con đã lớn, đứa nào cũng có công ăn việc làm. Tôi hiện sống một đời sống khác.”
Tôi muốn hỏi ông thế nào là một đời sống khác, nhưng tôi nghĩ lại, hỏi để làm gì?
-“Ông dùng loại nào?” Tôi nghe cô thu ngân hỏi ông. Ông gọi món frappucino và quay sang nói với tôi -“hôm nay không mang tiền lẻ, ông trả hộ ly nước của tôi nhé!”
-“Không sao.” Tôi gọi một double expresso, và như thường lệ, tôi đưa cái thẻ Starbucks cho cô thu ngân .…
Lấy cà phê xong, chúng tôi ra ngồi ở chiếc bàn trống ngoài sân…

Trời mùa hè vùng Thung Lũng năm nay không nóng như mọi năm. Tôi ấp hai tay vào ly cà phê. Tôi hỏi ông sao lúc này ít ra quán cà phê vậy? Ông nói hồi này ông uống cà phê Việt Nam nhiều hơn ở cái quán quen, chỗ đó thiếu chịu được. Tôi hỏi công việc của ông, ông nói ông tính về hưu. Ông là người thích du lịch. Nhưng chuyện chưa tính xong, còn nhiều chuyện phải giải quyết trước khi nghỉ hưu sao cho có lợi. Ông hỏi tôi hôm nay có phải về sở lau chùi bàn ghế ngay không? Tôi nói còn sớm, tôi có thể ngồi nán thêm ít phút nữa.
Ông B. than hôm nay ông buồn quá.
-“Tại sao?”
-“Tay kỹ sư làm cùng sở tôi vốn là một tay hiền lành, bỗng nhiên hôm nay nó chửi tôi là đồ khốn nạn.”
-“Tại sao?”
-“Đời sống tinh thần tôi mấy lúc sau này không ổn. Tôi nhìn đâu cũng thấy người ta nói xấu tôi, âm mưu hãm hại tôi. Tôi không tin ai, cái khổ của tôi là tôi thấy chung quanh mình ai cũng ngu dốt, đứa nào cũng có ý xấu với tôi. Một câu nói bình thường của bọn nó cũng làm tôi điên đầu suy diễn ra trăm nghìn ý nghĩa thâm độc.
Tôi có cảm tưởng cả thế giới này đều nhắm vào tôi. Cái tay kỹ sư ấy mới qua Mỹ chưa đầy 20 năm mà giữ cái chỗ tốt trong khi tôi sống ở đây đã hơn 30 năm, ăn học đàng hoàng mà vẫn cứ còn lẹt đẹt. Nếu không phải nó bắt tay với thằng phụ tá chủ tịch công ty thì làm sao có đươc chỗ đó.”
Tôi hỏi ông B., hay là tay này nó có bà con họ hàng gì với ông chủ tịch công ty?
-“Làm gì có chuyện đó. Chủ tịch công ty là người Mỹ, còn nó là người như mình, mũi tẹt da vàng mà!”
-“Không”,
ông B. tiếp,
-“không có bà con cô bác gì đâu. Tôi nghĩ là nó nịnh thằng manager Việt Nam, thằng này cất nhắc nó lên. Tôi biết thằng đó dốt bỏ mẹ, tài năng gì! Tôi sẽ nói cho bàng dân thiên hạ biết tay đó là một thằng dốt. Anh làm nghề hốt rác lau chùi nhà cửa thì không biết gì chuyện của những người trí thức như tôi đâu.”
Và đột nhiên, ông B. đổi đề tài:
-“Ở Việt Nam ông ở thành phố nào?”
Tôi nói Sài Gòn.
-“Hồi đó ông làm ngành nghề gì?”
Tôi ấp úng,
-“tôi làm thợ mộc. Nhà tôi có hai anh em, anh tôi là lính Biệt Động Quân, còn tôi…làm thợ mộc.”
Tôi đã lỡ nói dối nên tới luôn.
-“Còn tôi, tôi rời nước sớm quá, tôi không biết gì về tình hình đất nước những ngày 30 tháng Tư.
Anh có bị tù không?”
-“Không, thợ mộc không bị tù, nhưng tôi cũng ở tù vì tội vượt biên.”
-“Tù ở đâu? Có cùng chỗ với ông Đại Học Máu không?”
-“Ông Đại Học Máu là ông nào?”
-“Ồ, xin lỗi.”
Ông nói,-“tôi quên ông là người hốt rác lau chùi nhà cửa. Đại Học Máu là tên một cuốn sách viết về người tù cải tạo. Ông không biết đâu! À ông nói ông bị tù vì tội vượt biên, nhưng tù ở đâu?””
-“Tôi ở tù dưới Rạch Giá, U Minh.”
-“Vậy là ở chỗ của ông Hương Rừng Cà Mâu chứ gì?”
Tôi nói tôi không hiểu ông muốn nói gì.
Ông cười,
-“xin lỗi, anh không bao giờ đọc sách báo à?”
-“Sách thì không, nhưng báo thì cuối tuần nào mà tôi không đọc, báo Việt ngữ bỏ đầy ở các tiệm ăn Việt Nam.”
Ông B. nhìn tôi:
-“Mặt mũi anh trông không đến nổi nào mà sao không chịu học hành gì cả. Tìm một nghề nào khá hơn không?”
Tôi ậm ừ không trả lời. Tôi đang chán vở kịch tôi đang đóng.
-Ông B. lại hỏi-“Lương bổng anh sao? Đủ sống không?”
Tôi nói
-“12 đồng giờ. Cũng sống được.”
Ông B. bỗng nghiêng qua bàn, kê sát miệng vào tai tôi thì thầm:
-“Anh có cần tiền không?”
Cái miệng kinh khủng với đôi môi thâm xì, hai hàm răng vàng khè và hơi thở ông khét mùi thuốc lá làm tôi khó chịu.
-“Tiền hả? Tiền thì ai mà không ham. Nhưng tiền ở đâu ra?”
Ông B. rút trong túi áo ra một tấm ảnh cắt từ một tờ báo.
-“Đây là thằng X. cái thằng kỹ sư ngu dốt mà tôi đã nói chuyện với anh, nó là thằng dám nói tôi là đồ khốn nạn. Tôi sẽ đưa anh một ngàn nếu anh làm nhục nó trước mặt đám đông.”
-“Làm nhục bằng cách nào?”
-“Anh chỉ cần chửi nó là đồ ngu, đồ dốt nát, đồ khốn nạn trước mặt đám đông ở một tiệm phở mà nó hay đến. Tôi chịu trả anh một ngàn đồng.”
Tôi không trả lời. Tôi nhìn ông B., ngạc nhiên hơn là khinh bỉ, khinh bỉ hơn là giận dữ.
Tôi đứng dậy, cầm xâu chìa khoá xe. Ông B. kéo giật tay tôi,
-“anh ngồi xuống đây với tôi chút nữa thôi. Tôi sẽ trả anh hai ngàn. Chịu không? Tôi đang có những ngày tháng không vui. Những ngày tháng mà bỗng dưng giữa đám bạn bè ai cũng nhìn tôi như một con quái vật mang hình dáng người. Một con quái vật trở mặt, thoắt một cái từ mặt người thành mặt thú, thoắt một cái từ cái dáng vẻ lương hảo thành tay lưu manh xảo quyệt, thoắt một cái từ sự thanh tao trở nên thô lỗ cục cằn… Con quái vật có đủ mọi thứ bề ngoài của một con người bình thường, nhưng khi nó há miệng ra cho người ta thấy những chiếc răng nanh nhọn hoắc đầy máu me của mình. Con quái vật có những ngón tay cầm bút nhưng khi nhìn kỹ đó chỉ là móng vuốt của một thứ Dracula đang bấu vào cổ người. Tôi vốn không tin có Dracula trong đời sống này. Chẳng qua đó chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng. Thật ra bây giờ tôi mới biết tôi đã có một ý nghĩ sai. Thế giới chúng ta quả thật có ma quỷ, có hồ ly, có Dracula. Dracula sống trà trộn giữa chúng ta. Chúng nói cười đi đứng sinh hoạt như chúng ta. Chúng luôn luôn than van thiếu thốn nghèo túng mặc dù chúng không hề túng thiếu. Chúng thích vơ vét, bốc hốt, thích dí mũi vào đời sống người khác may ra moi móc chút đời tư để kể lại bằng giọng hả hê. Chúng giống như con dòi ngúc ngoắc từ một đống phân. Chúng đóng vai một tên có chút kiến thức nhưng là một thứ kiến thức ăn đong cóp nhặt từ những trang báo, những cuốn sách chưa kịp tiêu. Những con quỷ Dracula không thể sống nếu không hút máu của người khác. Nhưng nó sẽ không hút được máu ai nếu trước hết nó không làm cho người khác tin nó là một con người tử tế. Người ta cứ tưởng nó mềm như một miếng bông gòn, nhưng thực ra nó là một cục chì, đất sét. Nó là một con vật thông minh chứa đầy nọc độc. Tôi đang có những ngày không vui, khi bỗng dưng một hôm phát hiện ra con quỷ Dracula mà lâu nay tôi cứ tưởng là người nào khác lại chính là tôi. Anh đừng bỏ đi, tôi sẽ cho anh mười nghìn đồng, mười nghìn chứ không phải hai nghìn, anh làm nhục tên kia dùm tôi. Tôi xin anh, chỉ khi nào anh làm được như thế con quái vật Dracula kia mới ra khỏi đầu óc tôi, ra khỏi trái tim đầy lòng hoài nghi của tôi.”
Ông B. nói một hơi không nghỉ. Ông làm tôi ngạc nhiên, quá sức ngạc nhiên…..
Hôm nay là thứ Sáu, buổi chiều cuối tuần, công việc ở sở tương đối nhẹ nhàng, tôi có hai ngày nghỉ ngơi trước mắt.
Tôi nói với ông B. là ông cứ moi hết những rác rưới trong đầu ông ra đi tôi sẽ đổ dùm ông. Ông cứ móc hết sư nhơ bẩn của cống rảnh ra khỏi trái tim xấu xa của ông đi tôi sẽ dội nước sôi dùm ông. May ra…..
Tôi cầm xâu chìa khoá dứt khoát bước ra khỏi tiệm Starbucks.
Cà phê Starbucks nhạt và dở trừ phi uống một cái double expresso. Nhưng hôm nay cả ly double expresso cũng nhạt phèo hơn nước lả!
Chiều thứ Sáu tuần này là một buổi chiều không vui của tôi.

Nguyễn-Xuân Hoàng

EM ĐỪNG HỎI

trantrungdao

Em đừng hỏi sao ta già trước tuổi
Khi thời gian đâu có nghĩa lý gì
Tuổi của ta được tính bằng khắc khoải
Bằng tủi buồn trên mỗi bước ta đi

Em đừng hỏi quê hương ta có đẹp
Khi hận thù còn nhuộm đỏ giang san
Ai mới đạp trái mìn chưa nổ kịp
Bao nhiêu năm cuộc chiến vẫn chưa tàn

Em đừng hỏi cha mẹ già bao tuổi
Chưa bao giờ ta kể chuyện đời ta
Xin hãy để cho niềm đau yên ngủ
Vết thương lòng năm tháng sẽ phôi pha

Em đừng hỏi ta mong về quê cũ
Chiếc lá khô còn nhớ cội thương cành
Ta chẳng lẽ bước chân đời lê mãi
Nơi quê người làm một kẻ lưu dân

Em chúc cho ta được tròn ước nguyện
Vâng, ta còn mơ ước nhỏ mai sau
Ta sẽ sống để chờ ngày trở lại
Hôn một lần lên đất mẹ thương đau.

Trần Trung Ðạo

Cuộn sóng

tranngochuong

Thân trần mắt ngả mày nghiêng,
Phút nào anh cuộn vào em bềnh bồng.
Ngất ngây chạm đáy cuồng phong,
Gối đầu lên ngực em hồng, phục sinh.

Vòng tay xiết khoả thân xanh,
Phút nào em cuộn vào anh nồng nàn.
Lướt môi về phía đa đoan,
Dốc ly rượu cạn tình tràn tận đâu?

Tình thơ e giấc mơ nhàu,
Phút nào ta cuộn vào nhau giao hòa.
Tình nồng ơi! Thoáng thăng hoa,
Gửi vào vô tận thực thà mắt môi.

Ngực hồng vùi nụ hôn tươi,
Buồm yêu vút cánh giạt trôi mịt mờ.
Mênh mang đâu bến đâu bờ,
Gập ghềnh trong khói, dật dờ trong sương.

Kể chi địa ngục thiên đường,
Bế bồng nhau giữa suối nguồn đam mê,
Thênh thang ngõ nhỏ đi về,
Sóng tình cuộn sóng tràn trề cuộn nhau.

Trần Ngọc Hưởng

CHỦ NHẬT BUỒN

nguyenmonggiac

Sáng chủ nhật, Kim thức dậy thấy mẹ không còn trong phòng ngủ nữa. Có lẽ mẹ vội đi đâu đấy, vì thường ngày, dù phải đi làm rất sớm, mẹ vẫn có thì giờ xếp gọn gối chăn ngay ngắn ở đầu giường. Kim xếp giùm chăn cho mẹ, lúc giũ cái chăn mỏng cho thẳng nếp gấp, cô bé thấy có vài sợi tóc dài mầu ngả xám rơi xuống đệm. Kim chợt buồn. Cái bệnh rụng tóc từng khiến mẹ hoảng hốt gần một năm nay vẫn chưa dứt. Lúc nhặt nhúm tóc rụng quay lại định bỏ vào bao giấy đặt dưới cái bàn gỗ thấp, cô bé mới tìm ra thêm mảnh giấy nhỏ mẹ viết: “Mẹ có việc phải đến nhà bà bạn dưới Irvine. Con ở nhà đừng đi chơi đâu. Nhớ khóa cửa cẩn thận, ai gọi cũng đừng mở. Thức ăn mẹ đã làm sẵn để ở tủ lạnh. Cưng!”
Vậy là thêm một chủ nhật buồn! Mẹ dặn không được mở cửa cho bất cứ ai vào nhà thì không thể điện thoại rủ lũ bạn gái hàng xóm sang chơi búp bê được. Kim ngồi nụ mặt bên cái điện thoại, nửa muốn nhấc điện thoại lên tán gẫu với con bạn Lucy, nửa e ngại lười biếng vì biết trước thế nào con Lucy cũng giành nói một mình, kể sa đà về chuyện mấy chú mèo nhà nó.
Đang lơ mơ bất định thì chuông điện thoại reo.
– A lô!
– Có phải Kim đấy không?
Cô bé đâm ngại vì bên kia đầu dây, giọng đàn ông là lạ. Sau một lúc suy nghĩ, Kim đáp nhát gừng:
– Dạ, nhưng… “mom” không có nhà. Mom dặn Kim…
Tiếng nói trong điện thoại có vẻ mừng rỡ :
– Thế hả ? Mẹ đi đâu lâu không?
Kim ngờ ngợ, nhận ra giọng nói quen quen, nhưng câu hỏi và cái giọng mừng rỡ khiến cô bé đâm ngại. Cô bé ậm ừ không dám nói tiếp điều gì. Bên kia đầu dây, giọng nói có vẻ hấp tấp mừng rỡ hơn, gần như lưỡi người nói chuyện líu lại vì niềm vui bất chợt, không che giấu được xúc động:
– Mẹ xuống tận Irvine à? Ba đến thăm con ngay bây giờ. Chờ ba độ 15 phút thôi nhá!
Kim mừng quá, định nói với ba rằng Kim đang buồn, đang lo phải thấp thỏm giam mình suốt ngày chủ nhật không được ra khỏi cửa, đang sắp sửa bật tivi để lơ đãng xem hết chương trình này đến chương trình khác, thì ba hẹn đến. Đúng ba là cứu tinh của Kim. Nhưng tiếng tích tích đều dặn trong điện thoại cho cô bé biết bên kia đầu dây, ba đã gác máy.
Suốt 15 phút chờ đợi, Kim đã vội vã làm đủ thứ việc: rửa mặt súc miệng để khoe với ba hàm răng mới chà dưới phòng nha khoa tuần trước, chải tóc thật kỹ cho ba thấy cái tài uốn tóc của mẹ, xếp dọn tất cả quần áo lót, giấy vụn, đồ trang điểm mẹ vất bừa bãi ở phòng khách trong lúc vội vã ra đi, giả vờ lơ đễnh đặt cuốn vở học có nhiều lời phê tốt của cô giáo lên bàn khách để khoe với ba mình học giỏi… Còn nhiều thứ linh tinh nữa cô bé phải làm để đón ba. Nhiều, quá nhiều việc phải xếp đặt, nên khi có tiếng gõ cửa, Kim chưa kịp thay bộ quần áo mới mẹ mua cho tuần trước đế đón ba. Bộ quần áo ngủ Kim đang mặc trông nhàu nhò đến thảm hại, nhìn vào gương, Kim thấy mình chẳng khác gì con bé đầu đường xó chợ. Lại có tiếng gõ cửa. Không thể trùng trình được nữa, cô bé vội chạy ra, run run tháo cái dây xích trên ổ khóa, và mở tung cánh cửa gỗ nâu.
Ba đã đứng sẵn ở đó! Và đang cười âu yếm nhìn Kim! Hai cha con ôm chầm lấy nhau. Kim mau nước mắt vừa tớt vừa bảo giọng hờn dỗi:
– Lâu thật lâu dad không đến thăm Kim!
– Ơ! Ba không đến được nhưng chủ nhật nào cũng gọi điện thoại.
– Chủ nhật trước dad có gọi điện thoại đâu!
– Có, nhưng lúc ấy cưng của ba còn ngủ khì. Mẹ… mẹ con nhấc máy, nhận ra giọng ba, cúp điện thoại liền.
Giọng Kim buồn:
– Chủ nhật rồi mom ở nhà với con cả ngày. Phải, nhưng sao dad không chờ đến trưa gọi lại cho con?
– Kim này.
– Gì hở dad?
– Ba thích con gọi ba là “ba” hơn gọi “dad”.
– Dạ con nhớ rồi, dad ạ!
– Lại dad!
Kim che miệng cười rúc rúc một lúc, rồi ngửng mặt lên nhìn ba, nói thật chậm:
– Dạ thưa…ba, con nhớ rồi!
Hai cha con lại ôm chầm lấy nhau. Người cha đặt con gái xuống, e dè một chút, rồi bắt đầu mạnh dạn tiến về phía bộ ghế nệm màu vàng nhạt ở phòng khách. Ông nhìn quanh phòng, như muốn tìm thứ gì. Kim hỏi:
– Dad có thấy khác với hồi dad còn ở đây không?
– Lại dad!
– Ồ! con xin lỗi dad! Xin lỗi ba!
– Không sao. Ba thấy căn phòng mình lạ hẳn đi, đồ đạc bàn ghế thì vẫn vậy. Bộ salon này, cái đèn có chụp thêu ren này, cái tivi Sony này…
Giọng Kim riễu cợt:
– Nhưng không còn cái gạt tàn thuốc to tướng như hồi trước nữa!
– À phải! Mẹ vẫn càu nhàu ba hoài vì cái tật đốt hết điếu này đến điếu khác. Ủa, mấy khung ảnh chỗ kia đâu rồi?
– Hôm sinh nhật con, mom lấy xuống để lau bụi bám trên tường. Chắc mom quên treo lại. À, sao hôm đó ba không đến?
Người đàn ông có khuôn mặt xương xương tóc muối tiêu khựng lại, do dự một chút rồi nói dối:
– Hôm đó ba bận việc ở sở, đã điện thoại xin lỗi mẹ và con, mẹ không nói lại cho con biết ư? Con có thích quà sinh nhật của ba không?
– Có. Mom cũng thích nữa. Ban đầu mom thích quá, reo lên. Nhưng không hiểu sau đó mom nghĩ sao, mom bảo con cất đi…
Kim quên cả e ngại hỏi liền:
– Sao ba với mom lại giận nhau hở ba?
Người đàn ông không biết trả lời thế nào, lúng túng đưa ngón tay lên quệt đầu mũi rồi nói lãng sang chuyện khác:
– Ồ, chuyện người lớn rắc rối lắm! Con đi chơi với ba hôm nay được không?
Kim mừng quá quên phắt lời dặn của mẹ.
– Được chứ ba!
– Đi suốt ngày nhé?
Mặt Kim xịu lại, nhớ lời mẹ dặn:
– Không. Phải về trước khi mom về cơ!
– Kim này!
– Ba thích con gọi…
Người đàn ông định bảo con đừng dùng tiếng Mỹ để gọi mẹ nữa, hãy gọi “mẹ” thay vì gọi “mom”. Nhưng nghĩ thoáng một lúc, lòng thắt lại, ông kịp ngưng không nói tiếp. Cô bé thắc mắc hỏi:
– Ba muốn con điện thoại xin phép mom hả? Nhưng mom xuống nhà bà bạn dưới Irvine, con có biết số điện thoại của người ta đâu.
Thấy con không nhận ra ý nghĩ thầm kín của mình, người đàn ông mừng rỡ, hấp tấp bảo con:
– Thôi được. Ba chở con đi chơi một vòng, kiếm cái gì ăn, tìm cái gì xem, rồi về.
– Đi đâu hở ba?
– Xem xi nê nhé!
– What? Ba nói gì con không hiểu!
– Xem movie nhé!
– Chán lắm ba! Con xem tivi hoài, đến thuộc làu!
– Đi ăn kem nhé!
Kim lắc đầu, môi hơi bĩu không nói gì. Người cha đề nghị:
– Hay ta đi biển?
Cô bé đứng bật dậy:
– Phải rồi. Con vẫn thích đi biển mà mom không chịu cho con đi, bảo biển ở đây xấu lắm không đẹp bằng biển Việt Nam. Ba có đem đồ tắm theo không, mom mua cho con bộ đồ tắm màu đỏ để tắm pool, ba muốn xem không?
Như vậy là họ đã có một chương trình chủ nhật hào hứng! Cô bé nhét bộ áo tắm, khăn mặt, khăn tắm, lược chải đầu vào túi vải, định giở tủ lạnh đem thức ăn mẹ nấu sẵn theo ăn trưa thì người cha ngăn lại:
– Khỏi cần. Đồ ăn Việt Nam không gọn. Con đem theo nhiều khi đổ cả ra xe. Mình ghé Liquor mua hai cái sandwich và nước ngọt tiện hơn!
Hai cha con vội vã ra xe, vội vã chạy đến tiệm thực phẩm gần nhà nhất để mua các thức ăn nguội. Kim nói chuyện huyên thiên cho đến lúc chiếc Pinto già của ba ho khục khặc rùng mình đến nhiều lần, cố bò được một đoạn, lại ho khục khặc rồi nằm lì ở vệ đường đổ nắng. Người cha thở dài, nói một mình:
– Lại làm mình làm mẩy rồi!
– What?
– Ý ba muốn nói chiếc xe lại trở chứng rồi.
Cô bé không hiểu riêng hai chữ “trở chứng” là gì, nhưng đoán đại ý câu than vãn của ba. Kim thắc mắc hỏi:
– Sao ba không mua chiếc xe mới như cái Volvo của mom?
– Tiền đâu mà ba mua?
Vừa đáp, người đàn ông vừa cố đẩy cánh cửa xe sau khi kéo cần mở nắp ca-bô. Cửa xe kêu cót két đến chói tai. Kim cũng muốn ra khỏi xe để tránh hơi nóng hâm hấp, nhưng không tài nào mở nổi cánh cửa phía tay phải. Người cha mở hộ cho con, sẵn dịp với tay lấy hộp đồ nghề giấu dưới ghế nệm. Trong lúc ba loay hoay tìm hiểu căn bệnh chiếc xe già, Kim hỏi:
– Ba mua chiếc xe này bao nhiêu vậy?
– Ba trăm.
– Ba trăm? Funny! Xe mua ba trăm làm sao chạy được!
– Được chứ! Bằng chứng là ba vẫn chạy đi làm hơn một năm qua. Với lại tuy xe cũ, nhưng ba có biết nghề máy, nên hư đâu ba sửa đó, không ngại. Con đưa cho ba cái khăn bẩn ba nhét dưới đệm lót chân. Không phải bên đó, bên này này. Cảm ơn con. Không hiểu sao nhớt ra nhiều thế này!
– Hôm trước chú Kỳ lại thăm, đi chiếc xe Toyota khá mới. Chú ấy nói chỉ mua 2000 thôi. Chú chở con với mom đi thử, thấy chạy êm lắm!
– Chú Kỳ là ai vậy?
– Con cũng chẳng biết. Nghe mom nói chú ấy làm cùng sở với mom.
– Con tìm xem trong cái hộp gỗ phía thùng xe có cái… cái… nói làm sao cho con hiểu đây (người đàn ông cố diễn tả bằng cách vẽ lên không nhưng không làm được). Chật! Ba lại quên mất tiếng Anh gọi cái đó là cái gì. A phải rồi, con tìm cho ba cái monkey wrench.
Kim cười thấy ba mình tội nghiệp như người lạc vào xứ lạ, làm theo lời ba sai. Người cha hì hục sửa một lúc, không nói gì. Nắng bắt đầu gắt, mà khoảng đường này lại không có lấy một bóng cây. Kim thấy áo ba đẫm mồ hôi, ngại ngùng hỏi:
– Ba có mệt không ba?
– Không. Sắp xong rồi.
– Sao ba không vay tiền mua xe mới như mẹ vậy?
– Ba mới qua, nghề nghiệp không vững, ai cho vay.
– Sao ba không mượn tiền của mom?
Người đàn ông ngửng phắt lên, nhìn con đăm đăm rồi hỏi:
– Nếu ba hỏi mượn, mẹ có cho không?
Kim suy nghĩ một lúc, rồi thú nhận:
– Con không biết.
Người cha cười, rồi nói:
– Ba hỏi đùa cho vui, chứ mẹ con không có tiền cho ba mượn đâu. Mẹ nợ đủ thứ, tiền mua nhà này, tiền mua xe này, tiền nợ credit này… Chiếc Volvo của mẹ con mới thật, nhưng mẹ con chỉ mới làm chủ được có một cái bánh xe. Còn là của ngân hàng.
Cô bé bật cười vì ý ba quá ngộ nghĩnh, Kim hỏi:
– Thế căn nhà con với mom ở, mom làm chủ được thứ gì?
Tự nhiên người đàn ông tức giận vu vơ. Ông nói, giọng chua chát:
– Mới được cái restroom.
Kim nhíu mày, kêu lên:
– Ba nói kỳ!
– Chú Kỳ có thường lại nhà mình không?
– Ba hỏi gì ạ?
Người đàn ông ngập ngừng, không muốn nhắc lại câu hỏi. Ông đã sửa xong xe, nên đóng mạnh ca bô lại thay cho câu trả lời con gái. Ông bảo con:
– Kim lên xe trước ba đóng cửa xe cho. Sức con không kéo ập vào được đâu. Coi chừng chéo vạt áo!
Họ lại khởi hành. Thấy con lấy tờ báo quạt quạt cho hơi nóng tan bớt, người cha hỏi đùa:
– Chiếc Volvo của mẹ làm gì có máy sưởi tốt bằng cái Pinto của ba, phải không?
Kim cười thích chí vì câu pha trò:
– Ba funny quá!
– Đời còn nhiều chuyện funny lắm. Con lớn lên, sẽ biết hết.
Cô bé không hiểu rõ ba mình nói gì, chỉ đoán qua nét mặt ba khi ba nói câu ấy, có cái gì buồn buồn, có cái gì nhẫn nhục, có cái gì cay đắng. Rồi cũng chẳng hiểu do đâu, Kim hỏi ba:
– Hồi mới sang Mỹ, ba có thấy con giống tấm hình mom gửi về Việt Nam cho ba không?
– Giống thế nào được. Những tấm hình mẹ gởi sau đều thất lạc cả. Bà nội chỉ nhận được tấm hình mẹ chụp với con lúc con lên bốn. Tội nghiệp, nội đi thăm nuôi ba tận ngoài Bắc, mang xách lỉnh kỉnh đủ thứ vậy mà không quên mang theo tấm hình của con cho ba nhìn mặt đứa con đầu lòng. Nhờ tấm hình đó ba chịu đựng được cho tới ngày về.
– Sao hồi đó ba không qua đây một lượt với mom?
– Mẹ đi với gia đình ngoại. Lúc ấy ba bận hành quân tận vùng 4, không về kịp.
– Hành quân? What means?
– Ơ, ba quên mất. Lúc đó ba đang đánh nhau với cộng sản ở vùng Cần Thơ, gần chỗ gia đình nội hiện nay đó.
– Đánh nhau hả? Có funny như M-A-S-H trên tivi không?
Người cha gặp câu hỏi bất ngờ, ngớ ra một lúc, cuối cùng đành đáp cho qua:
– Ờ, cũng funny như vậy.
Kim không hiểu, hỏi tiếp:
– Đánh nhau vui thế, sao họ bỏ tù ba lâu thế?
– Tại họ funny, thế thôi!
Lối giải thích của ba không vừa lòng tò mò của Kim, nhưng thấy nét mặt ba không vui, nên cô bé ngồi yên không hỏi nữa.
Người đàn ông tưởng con phật ý, hỏi câu gì đó cho không khí bớt căng thẳng.
– Nãy giờ mải nói chuyện quên mất việc ghé mua sandwich, con thích sandwich hay là hot dog?
– Con thích hot dog hơn.
– Con có biết gần đây có tiệm Liquor nào không?
– Hình như chỗ kia kìa, ba. Ở gần góc đường trước mặt phía tay trái. Ba sang lane đi.
Người cha làm theo lời con, nhưng đến ngả tư mới thấy đoạn này có bảng cấm không cho quẹo chữ U, mà tiệm thực phẩm lại nằm hơi xa ngả tư. Kim bảo:
– Mình rẽ trái, ba há! Rồi mình tìm cách quay lại chỗ tiệm Liquor mua cái gì uống, con khát quá!
– Ba cũng khát!
Họ tìm chỗ đậu xe, rồi vào hiệu thực phẩm. Cô bé tí toáy với cái cần chơi game trong khi người cha tìm mua các thứ cần thiết.
Khi ba Kim ôm bọc giấy đến chỗ cô bé đứng, ông đưa cho cô bé hai thỏi kẹo chocolate đậu phụng. Kim nhăn mày, đầu ngún nguấy:
– Oh my God! Ba không biết là con chán kẹo lắm sao!
Người đàn ông ngớ ra, bất ngờ nhận thấy mình lạc loài. Nhận thấy mình vẫn còn suy nghĩ, hành động như hồi còn ở Việt Nam, thời mà đêm đêm những giấc mơ đẹp nhất không phải là những nàng tiên hiền, không phải là những cuộc tình có hậu, không phải là những cảnh thái bình thịnh trị ra đường không ai thèm nhặt của rơi và đời trải chiếu hoa cho người thánh thiện, mà là mơ một buổi đẹp trời nào đó người tù được nhai thật chậm một miếng thịt mỡ lớn bằng ngón tay cái, hoặc nguyên một tán đường mía. Ông vụng về lúng túng không biết phải làm gì với hai thỏi kẹo bị chối từ. Ông cố vớt vát:
– Con không thích kẹo. Thế thích thứ gì, ba mua cho, kem nhé?
– Con cũng ngán cả kem.
– Potatoes chips nhé?
-Không.
Giọng người cha bắt đầu bực:
– Thế con thích thứ gì?
Giọng cô bé đột nhiên nghiêm trọng, thì thào chậm chạp như giọng cầu nguyện.
– Con thích được thấy ba cười.
Người đàn ông chống chế:
– Ba vẫn cười đấy chứ, xem này!
– Không phải. Ba cười mà như mếu.
Kim bỏ hẳn cần chơi game, quay lại ngước nhìn thẳng vào mặt ba, e dè nói:
– Ba này!
– Cái gì?
– Tại sao ba dọn đi, không ở với mom và con?
Người đàn ông đổi sắc mặt, bảo con:
– Thôi ta đi kẻo trễ.
Cô bé cưỡng lại không chịu theo người cha, giọng nói như sắp khóc:
– Không. Con không đi biển nữa đâu. Bây giờ đã 2 giờ chiều, mom sắp về. Con muốn… con muốn ba đáp câu con hỏi.
Người đàn ông liếc nhìn về phía người đàn bà Mỹ ở quầy thu ngân, yên tâm không ai hiểu tiếng Việt, nên mới cố dằn xúc động bảo con:
– Chuyện người lớn rắc rối phức tạp, con hiểu được không? Ba y như người đi bắt bóng. Ở trong trại cải tạo đêm ngày chỉ mơ ngày về. Được về rồi thì mơ ngày được thoát khỏi cái trại tù mênh mông quê hương, được có ngày ôm mẹ với con vào lòng. Ba đã toại nguyện. Nhưng đến khi giấc mơ thành sự thật, ba lại thấy người ba ôm trong tay không còn là mẹ nữa, liệu con có hiểu được chuyện đó không?
Kim thú thực:
– Con chỉ hiểu lờ mờ là chuyện ba nói không có gì funny hết. Vì thế ba ít cười.
Từ đó đến khi trở về lại căn nhà ở chân đồi, hai cha con không nói gì với nhau nữa. Tiếng máy xe Pinto già nua vì thế nổ lớn hơn. Nghe rõ đến cả tiếng lục cục bất trắc và hơi thở hổn hển rán quá sức.

Nguyễn Mộng Giác
Cali 6.1984

Ở LẠI VỚI MÙA ĐÔNG

tranvannghia

Rồi em đã ra đi không về nữa
Trời tiếc gì đứt ruột với cơn mưa
Những mảnh ly chiều run tay đánh vỡ
Cứa vành môi giọt rượu đắng ơ thờ

Nếu còn giữ với chút tình đã cũ
Soi đời nghiêng bao cơn sốt mê cuồng
Xin nước mắt ai còn vương quá khứ
Lấy tay này lau nhẹ đỡ nhớ thương

Con đường vắng mấy mùa thoi thóp gió
Trăng về đâu đêm phố ngẩn ngơ tìm
Có tiếng hát chập chờn bên quán chợ
Đem nỗi buồn len lén bước qua tim

Nghĩ về sông mà thương đời phiêu dạt
Mơ về người thêm lờ lửng chiêm bao
Quay nhìn lại cuối đường xa ngơ ngác
Chỉ còn sương và khói đứng nghẹn ngào…

TRẦN VĂN NGHĨA