Đời như một hạnh ngộ

nhatchieu
ELENA TRUONG

(Đọc Một Phút Tự Do- Tập truyện ngắn – Tùy bút của Elena Pucillo Truong)
Nhà Xuất Bản Văn Hóa Văn Nghệ – 10-2014

Elena Pucillo Truong là một trường hợp văn chương thú vị, một từ trường cuốn vào mình một vài chất nào đó của Ý và mội vài chất của Việt.
Chị là người Ý, sống ở Việt Nam, sống trong giao cảm với đất, nắng gió và người ở góc trời xa lạ mà thân thiết này, đơn sơ mà rắc rối này, bi cảm mà hay cười này…
Đầy cảm hứng, chị cầm lấy bút. Truyện ngắn và tản văn. Ở đâu cũng man mác một niềm giao cảm với Đời-như-một-hạnh-ngộ. Và Đông Tây hòa vào một giai điệu tình yêu.

Truyện ngắn của Elena có cái đặc sắc mà truyện ngắn Ý thường có. Đó là nhẹ, nhanh và linh hoạt.
Nhẹ như hơi thở nhẹ. Không có gì trầm trọng. Dẫu có ngộ nhận nhưng rồi sẽ có biến chuyển. Một cái gì đó bình thường thôi nhưng “nó sẽ làm thay đổi cuộc đời chúng ta…” như ta thấy trong truyện “Phút mặc khải”.
Nhanh như một bài ca. Một bi kịch có thể kể trong vài trang, như truyện “ Phòng số 3” nói về một cuộc tự tử đôi. Lối kết rất cô đọng : “ Nhiều năm đã trôi qua nhưng không hiểu sao tôi không thích giao chìa khóa phòng số 3 cho ai cả.” Chỉ trong câu văn rất nhanh ấy, ta thấy cả nhân tính lẫn nhân tình.

Hình ảnh Việt nam xuất hiện thường xuyên trong tản văn Elena. Không phải hiện ra như một bưu thiếp. Không như những bức ảnh thường thấy khi người ta chụp về một trú xứ mà mình không tùy thuộc. Trong những tản văn này, ta hiểu được sự hòa điệu tâm hồn, sự thấu cảm có thể thực hiện từ nền văn hóa này đến nền văn hóa khác.
Elena có thể thấm hồn mình vào không gian trà việt với một cảm thức tinh tế lạ thường: Sau khi diễn tả động tác chiết trà tuyệt vời của nghệ nhân Viên Trân, Elena viết : “Tôi có cảm giác là thời gian đã ngưng lại trong khoảnh khắc đó: chăng quan trọng là mình đang ở đâu, đang làm gì, ở đây không có chỗ cho quá khứ với những muộn phiền mà cũng chẳng còn chỗ cho tương lai với bao ẩn số…Không. Chỉ còn lại khoảnh khắc vô tận này, khi tôi ấp tách trà nóng ngào ngạt hương sen giữa hai lòng bàn tay…đó chính là niềm vui khi nhận một món quà không mong đợi, một thứ hơi ấm của tình người…”
Thế đấy, từ những truyện ngắn và tản văn của Elena, ta nhận được món quà không mong đợi mà đầy niềm vui, một thứ hơi ấm tình người vốn rất cần trong đời sống hôm nay mà vô cảm hóa đang là một nguy cơ.

NHẬT CHIÊU

Những khoảnh khắc vô tận

 

(Đọc Một Phút Tự Do- Tập truyện ngắn – Tùy bút của Elena Pucillo Truong)
Nhà Xuất Bản Văn Hóa Văn Nghệ – 10-2014

Hầu hết những truyện ngắn của Elena Pucillo Trương trong tập này đều thể hiện một đặc điểm quen thuộc của thể loại: nắm bắt cái khoảnh khắc của đời sống để làm hiện lên chân dung tinh thần và yếu tính tự do của con người.

Đó là phút mặc khải khi người mẹ chồng bấy lâu nuôi định kiến với người con dâu, bỗng một ngày nhận ra sợi dây mật thiết gắn bó hai người qua một mầm sống mới tượng hình, nhờ đó trút bỏ vẻ lãnh đạm và ích kỷ thường ngày để tìm lại sự dịu dàng và bao dung vốn có của mình.

Đó là những giờ phút hai anh em ruột thịt gặp lại nhau sau mười năm xa cách, trong căn nhà thời thơ ấu, nơi diễn ra đám tang của người cha thô bạo đã để vết hằn trên hai trái tim thơ dại. Trong cái khoảnh khắc từ giã, khi người anh tặng lại em chiếc đầu máy xe lửa chạy bằng pin mà người cha mua tặng một mùa giáng sinh xa lắc, dòng nước mắt bỗng rửa trôi tất cả những uất ức, căm hận.

Đó là một phút tự do khi người đàn bà quyền lực khô khốc, khó tính và cáu bẳn vì ngập đầu trong công việc, bỗng một buổi sáng kia muốn vượt thoát ra khỏi cái guồng máy quay đều làm ngạt thở để tìm lại bản tính thật của mình.

Đó là thời khắc của ngày cuối năm, sau bao ngày chờ đợi, người ni sư già gặp lại người đệ tử đã bỏ chùa ra đi không tăm tích, nay trở về với đứa con bé bỏng trong tay.

Đó là thoáng chốc hai người trẻ tuổi chưa quen biết trao cho nhau ánh mắt dịu dàng và nụ cười thân mật trên chuyến tàu về quê ăn Tết.

Đó là thời điểm định mệnh, ngẫu nhiên hay có chọn lựa, mà cặp vợ chồng già hay đôi tình nhân trẻ cùng nhau đi đến cái chết để giữ trọn một tình yêu đẹp…

Trừ truyện ngắn Trước khi màn hạ, ngòi bút nhân hậu của Elena Pucillo Trương như chỉ viết về tình liên đới, lòng trắc ẩn, sự bao dung và tha thứ của con người. Trên tất cả, đó cũng chính là những khoảnh khắc của yêu thương, như tác giả viết qua ý nghĩ của một nhân vật: “Tình yêu đã bùng nổ trong một lát nhưng đã theo tôi đến suốt đời người”.

Elena không chỉ nắm bắt mà còn biết cách miêu tả những khoảnh khắc, làm cho nó kéo dài ra, thu hút sự chú ý của người đọc, chẳng hạn khi chị tái hiện hình ảnh bà Viên Trân chiết trà ướp sen mời khách: “Tôi có cảm giác là thời gian đã ngưng lại trong khoảnh khắc đó: chẳng quan trọng là mình đang ở đâu, đang làm gì, ở đây không có chỗ cho quá khứ với những muộn phiền mà cũng chẳng còn chỗ cho tương lai với bao ẩn số”. Và tác giả gọi đó là “khoảnh khắc vô tận”: ngắn ngủi về thời gian vật lý, nhưng vô tận về hiệu ứng tâm linh.

Với chủ đề Carpe diem/ Nắm bắt khoảnh khắc, Elena đã từ một nouvelliste trở thành một essayiste khi chị bình luận về những vần thơ của Tôn Nữ Hỷ Khương: “Và trong hầu hết các bài thơ của nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương đều có phản chiếu tư tưởng này, bà trải lòng với người đọc rằng cuộc đời này là duy nhất, nhắc chúng ta biết đó là một quà tặng duy nhất và tuyệt vời của tạo hóa mà chúng ta đang có và vì thế cần phải biết trân trọng và hãy sống với niềm vui. Thế giới bao quanh chúng ta thật tuyệt vời và sự sống chính là điều quan trọng. Bất cứ một biến cố nhỏ hay lớn nào trong cuộc đời chúng ta, từ nụ cười của em bé đến sự leo lên đỉnh một ngọn núi cao cũng đều phải cho chúng ta ý thức về tính siêu phàm của cuộc sống”.

Thế giới này vô thủy vô chung, nhưng được tạo dựng từ những khoảnh khắc được chiếu sáng từ trái tim nhân ái của con người.

Đó là những đốm sáng lóe lên trên đường đời dằng dặc, giúp mình gắng đi cho trọn dù chỉ một chặng ngắn ngủi của thời gian.

HUỲNH NHƯ PHƯƠNG

BÓNG NGUYỆT THIÊN THU

truongdinhtuan

ta trót nghe theo lời nắng mật
từ ê a buổi tập đánh vần
thấp cao cánh chuồn chuồn châu chấu
mót lúa ngoài đồng một hạt cũng thọ ân

con dế lỡ hát lời sầu cổ
phiêu du đâu nghìn sớm vạn chiều
mái đình cong nguyệt hoài thơ dại
khói lam này nguyên cuống rạ đăm chiêu

vạn cổ hề cũng chỉ bấy nhiêu
về nơi đâu thêm hoang vu màu cỏ
sông chảy mãi bài tứ tình thứ nhất
ngược vào ta câu rực rỡ u phiền

em trót nghe theo ngọt mềm lục bát
đừng thương lây thân ngựa lù khù
lúc cao hứng bỗng phi nước đại
biết bao giờ ơi bóng nguyệt thiên thu

TRƯƠNG ĐÌNH TUẤN

Người Về

trantrungdao

Người về bóng ngả trên đường phố
Phố đổi màu theo mỗi bước chân
Mười năm ở lại cùng muông thú
Mây đã thành mưa rụng mấy lần

Chén rượu quan hà chưa uống cạn
Hương nồng ngây ngất vẫn còn đây
Người ơi! trăng vẫn tròn trong mộng
Sao chẳng chờ nhau một kiếp nầy

Người về một tấm thân hoang phế
Ngơ ngác bên đường lạc dấu vui
Chiếc áo phong trần xin gửi lại
Mười năm đi quên mất tiếng cười

Vẫn tạ ơn đời khi sống sót
Mười năm máu chảy đọng thành thơ
Lòng ai muôn dặm còn thao thức
Có biết rằng đây vẫn đợi chờ

Người về thương bóng mây qua núi
Núi đứng muôn đời nhớ tiếc mây
Cứ tưởng một lần quay trở lại
Cùng nhau vui hết cuộc sum vầy

Cụm khói lam chiều thôn Việt Bắc
Như màu khói thuốc thuở quen nhau
Bài thơ xưa viết mừng em lớn
Vẫn giữ làm tin chẳng nhạt màu

Người về ngồi lại thềm soan cũ
Cỏ mọc điêu tàn trên lối xưa
Xin khóc một lần cho thảm thiết
Cho sóng triều dâng mở hội mùa

Ngôi mộ ven đường ai chết đó
Đi tìm tung tích của cha anh
Đâu những oan hồn xưa lạc bước
Về đây nghe lại khúc quân hành

Người về cúi nhặt bài thơ cũ
Nhặt trái tim mình trong khói tro
Mười năm đá cũng mềm như lệ
Chẳng trách ai quên một chuyến đò.

Trần Trung Đạo

Đêm trên thung lũng

nguyenmonggiac

Xin cảm tạ Mai Phương và Trần Viễn Phương về những kinh nghiệm sống ghi trên báo Đời.
Xin cảm tạ những người bạn đã từng tham dự vào trận Hạ Lào, và đã cung cấp cho tôi những chi tiết quí giá của cuộc giao tranh.
Xin viết tặng những người vừa là anh hùng vừa là tội đồ của cuộc chiến tương tàn.

1. LỜI KHAI CỦA BINH NHẤT CỦA.

Tôi tên là Nguyễn Của, binh nhất, số quân 69/506.632. Lý lịch chi tiết của tôi, quí vị dễ dàng tra cứu trong quân bạ. Tôi xin lấy danh dự một người lính chiến, hằng ngày chạm mặt với cái chết, xin lấy tình yêu của Trần thị Lan người tôi nguyện thương yêu suốt đời, và tính mệnh đứa con trai hai tuổi ( thằng bé Nguyễn Trần Cải ) để thề rằng tôi viết ra đây toàn sự thật :

… Tiểu đoàn chúng tôi hôm ấy được bỏ xuống một ngọn đồi trọc. Phía đông dốc thoai thoải còn ba phía kia dốc khá đứng, xuôi tuột xuống một thung lũng xanh già. Có lẽ mưa gió liên miên tháng năm đã xoi mòn đỉnh núi cao, mang đất cát mầu mỡ về miền hạ lưu, nên sườn đồi chỉ toàn một loại cây cằn thấp bé. Đã quen với công việc, chúng tôi lo hệ thống phòng thủ. Một toán lo đào những giao thông hào chi chít ngang dọc ngoằn ngoèo. Một toán lo di tản đạn dược để phòng bị pháo kích. Bấy giờ khoảng một giờ trưa. Trung đội tôi yểm trợ cho một trung đội khác đi chặt cây lớn làm xà ngang cho mái hầm. Phải chọn loại cây lớn nhất có thể tìm được, vì những cây đà nầy phải chịu đựng hàng thước đất dày. Có như vậy mới chịu nổi xuyên pháo 122 ly của cộng quân. Xa đỉnh đồi độ năm trăm thước, chúng tôi đã gặp dấu vết của địch. Đầu tiên là những ngọn cây đọt cỏ ngọt dấu dao, nhựa thơm còn ướt. Chen vào những đọt héo, vài đọt lá xanh. Dấu chân người dậm nát một khoảng đất lầy mầu cỏ úa, thường thường nấp sau một khóm lá tươi. Xa hơn chút nữa, một khoảng đường mới đắp còn in dấu vết xe vận tải. Bánh xe lún khá sâu trên nền đất cứng, chứng tỏ trọng tải nhiều. Một người bạn của tôi hớt hải chạy từ phía trước lại :

– Có dấu xe gì lạ lắm. Không phải bánh cao su. Lại đây xem.

Chúng tôi cẩn thận tiến lên, tay trỏ đặt sẵn trên lảy cò. Người bạn đi đầu len lỏi khéo léo giữa các nhánh cây sà thấp. Đến nơi, nhìn vết in trên đất, tôi biết chắc là vết tăng.

Tôi bảo :

– Không biết bộ chỉ huy biết chưa ? Địch dùng xe tăng ở chiến trường nầy.

Tin ấy làm cho các sĩ quan trầm ngâm. Những ngày sau việc bố phòng càng cẩn thận hơn. Giao thông hào đào thêm xuống đến triền đồi. Bãi mìn và bom lửa dày đặt. Số người xuất trại ít hơn, chỉ đi khi thật cần thiết. Tiểu đoàn lo gấp rút múc nước dự trử, chấm các tọa độ khả nghi trong trường hợp địch tấn công. Pháo của ta bắt đầu nổ quanh đồi khi dấu hiệu địch được các toán viễn thám phát giác không xa đơn vị mấy. Đôi khi sau một loạt pháo, có nhiều tiếng nổ phụ. Đôi khi là một cột khói đen đùn đùn vươn lên cao, nhập vào sắc mây ám.

Mức độ pháo kích và oanh tạc càng tăng khi dấu hiệu địch càng hiện gần. Không khí trong trại căng thẳng, khẩn trương. Tiếng bom B 52 ầm ầm liên hồi, vang vọng qua mấy chặng thung lũng như một trận giông chưa bao giờ có từ thủa khai thiên. Cobra khạc đạn giống như tiếng heo bị chọc tiết. Phản lực F4 gầm gừ, mỗi lần rú xé mây là một lần chớp lửa để dội tiếng ầm về đỉnh đồi, tung bay cát bụi lên những người lính đăm chiêu.

Tình trạng trên kéo dài suốt tuần lễ. Đến đầu tuần thứ nhì thì pháo của ta nổ ngay dưới chân đồi. Phản lực như cắm sâu xuống lòng hào, và chúng tôi vừa thấy chớp sáng đã nghe tiếng nổ xé.

Hôm ấy suốt ngày tạm yên, nghĩa là còn có thể đứng trong giao thông hào nhai gạo sấy và ruốc. Đến chín giờ tối, địch bắt đầu tấn công lên phía chúng tôi tử thủ. Bốn phương tám hướng đều có pháo địch rót về, nào 82 ly, nào sơn pháo 57 ly, đại liên 32 ly… Chúng tôi không có thì giờ ngóc đầu lên nổi. Nhưng qua khe mũ sắt và bờ hầm, ném nhìn xuống phía thung lũng đen, ánh lửa đom đóm chớp lòe. Tiếng địch xung phong từ dưới vọng lên, từng đợt tràn qua bãi mìn và lựu đạn bẩy. Mạn đông thoai thoải nên áp lực địch mạnh nhất. Chúng tôi ghìm cây súng bắn liên miên không cần nhắm ra phía trước. Một vài người bị đạn, rên la phía sau lưng. Một số đã nằm yên trong poncho. Tiếng xung phong của địch càng gần. Lệnh trên cho hệ thống mìn nổ. Claymore hướng xuống phía dưới, bật cháy các bom lửa. Ánh bom soi rõ từng đám địch lố nhố chạy lên, mỗi tên đều cầm thủ pháo. Từng xác ngã gục dưới ánh lửa đêm thủ pháo nổ tại chỗ.

Cobra và phản lực dập tắt dần các đợt xung phong và pháo kích. Trực thăng võ trang bắn như mưa bão xuống sau lưng địch, ngay dưới chân đồi. Mỗi lần bom đạn lóe sáng là một lần chiếu hắt ánh sáng xanh lên mặt mọi người, tô đậm không biết bao nhiêu đụn khói cuồn cuộn. Mãi đến gần khuya, áp lực của địch mới nhẹ dần. Tiếng súng thưa thớt. Bấy giờ chúng tôi mới cảm thấy đói cồn cào, húp vội mấy lon trái cây hộp hay nhai cơm sấy. Tiếng thương binh rên la rõ hơn, ma quái nhọc nhằn trong đêm rừng. Tôi vẫn đứng trong phòng tuyến chăm chăm nhìn xuống khoảng đêm phía trước. Mấy người bạn đến đọc tên những đứa đã vĩnh viễn nằm xuống, trong đó có trung sĩ Hạ, thượng sĩ Chất. Trung đội tôi có bảy người bị thương khá nặng, trừ năm người chết, số còn lại tiếp tục đứng chỗ cũ. Không ai nói với ai lời nào, gục đầu vào tường giao thông hào bập điếu thuốc. Bên ngoài trời rả rích mưa. Tôi nhớ nhà da diết. Em lo lấy quần áo vào kịp không hở Lan ? Có nhớ đắp mền lên ngực con không đấy ? Chúng tôi mệt quá không ngủ được, ở trong trạng thái lơ lửng giữa mê và tỉnh. Hạ sĩ Bền đập vai tôi :

– Tao nghe nói họ bỏ mình lên đây để nhử Việt cộng. Như cột dê bắt cọp đó.

Tôi ậm ừ, giả vờ ngủ gật. Bền bỏ lại chỗ cũ.

Tình trạng chiên đấu đẫm máu giống vậy kéo dằng dai hai ngày hai đêm. Chúng tôi vừa chợp mắt là đạn pháo kích lại dồn dập đánh thức dậy. Khi nào có trực thăng hay phản lực, B52, chúng tôi mới có thể tạm dừng bắn nghỉ ngơi chút ít để hút điếu thuốc thoa chút dầu nhai nắm cơm.

Sang tuần thứ ba có lệnh Đại Bàng cho rút quân sang cứ điểm bên cạnh. Sĩ quan đại đội trưởng họp trên bộ chỉ huy tiểu đoàn. Binh sĩ trông ngóng tin tức, lo âu về phương tiện di chuyển. Trung úy Hân về cho biết đại đội phải chận hậu cho các đại đội khác lui binh.

Đại đội một xuống đồi trước, thận trọng mở đường. Hai đại đội còn lại chia nhau khiêng poncho xác, băng ca thương binh nặng, cõng hoặc dìu các thương binh nhẹ. Ba lô quần áo và đồ đạc cồng kềnh bị quăng cả lại. Hầu hết anh em không nói gì, nhưng nhìn theo ngậm ngùi, băn khoăn. Cứ điểm mới cách đồi chỉ 3 cây số đường chim bay. Khi ba đại đội trước rút binh an toàn , phản lực và trực thăng võ trang sẽ yểm trợ, cho chúng tôi rút tiếp.

Tình trạng đại đội chúng tôi về sau quí vị đã xem báo và nghe đài phát thanh tường thuật nhiều lần. Đại khái là áp lực địch mạnh hơn, thời tiết lại xấu khiến không quân khó yểm trợ hữu hiệu. Do đó, chúng tôi không thể rút kịp theo tiểu đoàn như dự tính. Chúng tôi bị vây chặt, trong khi vòng phòng thủ không kiên cố như lúc đầu.

Đạn đủ loại của địch tiếp tục nổ trên đầu chúng tôi. Để ngăn chặn các đợt tấn công của địch, chúng tôi chỉ còn một bãi mìn mỏng và vũ khí cá nhân, đại liên. May mắn trong hai ngày kế tiếp B52 hoạt động mạnh và Cobra xạ kích hữu hiệu. Tuy vậy không lực chỉ có thể ngăn phủ đầu các toan tính xung phong tràn ngập đỉnh đồi, không thể làm tắt các họng pháo. Địch theo dõi chúng tôi bằng viễn kính. Bất cứ lúc nào chúng tôi nhô người lên khỏi giao thông hào là ít nhất có hai loạt đạn nhắm tới. Chúng tôi chỉ còn hy vọng ở trực thăng. Thương binh được băng bó sơ sài, nằm rên la lăn lộn trên đất vì băng ca đã đem đi hết. bạn tôi bị tươm cả đùi, cắn răng chịu đựng trong khi nước mắt sống chảy ròng ròng. Một vài người bạn bị lòi ruột băng không kỹ, ruột phồng căng khi thở. Hầu hết chúng tôi đều thất thần vì nhọc và mất ngủ, đó là chưa kể sự căng thẳng do tiếng la hét của các bạn bị thương.

Trung úy Hân lâu lâu dùng vô tuyến xin trực thăng tải thương. Sáng thứ ba hai chiếc bay đến sà vội vã, vừa đáp xuống một chiếc bị bắn cháy, một chiếc bốc đứng vụt lên. Lửa tỏa trên bãi đáp, hai phi công chạy nhanh vào giao thông hào, một xạ thủ bị kẹt trong phi cơ, một xạ thủ bị thương nằm trân giữa bãi. Chúng tôi biết hai hoa tiêu là Đại úy Hường và Trung úy Luyến. Đại úy hăng hái nói chuyện với trung úy Hân, rồi giật ống liên hợp gọi tới tấp. Cuối cùng ông ta bỏ mạnh ống xuống, ngồi thừ nhìn mông lung.

Chiều thứ ba hai chiếc Cobra và ba chiếc F4 đến oanh kích tàn nhẫn vùng quanh đồi. Một trực thăng tải thương nhân cơ hội từ trên cao chúi xuống đáp an toàn trên bãi. Có lẽ trực thăng đã báo trước cho trung úy Hân nên từ giao thông hào bên phải hai lính dù khiêng một thương binh chạy nhanh ra. Hai lính khác vừa khiêng một thương binh nữa ló ra khỏi hầm thì hàng tràng đạn pháo kích rơi dày trên bãi. Khói mù tỏa che lấp mấy người lính. Trực thăng vụt lên cao. Chúng tôi lo cho số phận họ may không ai việc gì chỉ trầy trụa sơ sài vì lăn trên sỏi cát. Trực thăng bay luôn không trở lại.

Tối thứ ba, chúng tôi nghe thấy lẫn trong tiếng súng lẻ tẻ có một thứ âm thanh khác lạ. Không hẳn là tiếng máy phi cơ. Cũng không hẳn là tiếng xe Molotova vận tải. Không ai nhận ra tiếng gì. Sáng hôm sau vừa tinh sương, trung úy Hân tập họp cho toàn thể anh em biết hai điều : một là có thể hôm nay địch tấn công đồi, hai là Đại Bàng cho biết không lực sẽ can thiệp mạnh để trực thăng có thể đáp xuống di chuyển hết thương binh, hoặc nếu được, toàn thể đại đội về.

Mọi người có vẻ mừng, hăng hái đi lo chuẩn bị chiến đấu. Đạn chất cao quanh hai cây đại liên. Trong các hào sâu bên trong, chỉ còn vài tiếng rên nhỏ, những thương binh nặng đều mê man không la hét nữa.

Cả hai điều trung úy báo trước đều đúng. Khoảng tám giờ, xe tăng địch rầm rập xuất hiện, quay súng lên chúng tôi. Rồi cứ lừ lừ tiến lên. Chúng tôi dùng súng chống chiến xa thụt xuống, nhiều quả trúng đích, nhưng xe tăng vẫn tiến. Địch tự thị núp sau xe xông lên đồi. Vừa lúc đó phản lực cơ, và trực thăng ào ạt bay đến, lồng lộn dữ dội. Tôi cảm phục tài ba các phi công F4. Napalm đốt cháy số lớn xe tăng địch và thả bom chận đứng các đợt sóng người núp sau xe.

Địch có lẽ đã núng, rút bớt vào thung lũng xanh đen. Áp lực pháo cũng dịu bớt. Tin vô tuyến báo cho biết sẽ có một trực thăng đáp xuống đồi. Đôi mắt mọi người rạng rỡ. Trung úy Hân ra lệnh cho toán tải thương sẵn sàng, bắt mọi người xuống hết dưới công sự để ngừa pháo kích lúc trực thăng đến. Phản lực vẫn nhào lộn trên khoảng rừng ngã đen thẫm, bom nổ chát chúa và khói vươn lên trùng trùng lớp lớp.

Chiếc phi cơ tải thương hạ thẳng xuống, máy quạt sàn sạt bốc bụi, một phi công chạy nhanh vào hào chúng tôi gọi to :

– Hường đâu ? Tao đến vớt mầy về. Còn chỗ cho vài thương binh.

Trung úy Hân chạy ra, kéo phi công vào hào trong. Hai người có vẻ tranh luận gay go, tay chân múa may. Một lúc sau trung úy ra lệnh bốn đứa chúng tôi khiêng thương binh ra bãi đáp, theo thứ tự ưu tiên xếp sẵn. Viên phi công mặt mày có vẻ bất mãn, đứng nói chuyện với phi hành đoàn trực thăng rơi hôm trước. Khi toán tải thương chúng tôi chuyển được đến người thứ chín thì pháo địch lại rơi dày trên bãi. Chúng tôi lăn mình núp dưới thân trực thăng, quên rằng đây là mục tiêu ngon lành của địch. Lúc ấy tôi không chú ý sự việc chung quanh diễn tiến ra sao. Tôi không hiểu viên phi công chạy ra lúc nào, và ba người bạn làm gì. Riêng tôi, đột nhiên tôi da diết nhớ vợ nhớ con. Tôi thèm được xa hẳn cái chốn hiểm nguy này, thèm được ôm Lan thật chặt, thèm nựng đôi má thơm của bé Cải. Khi trực thăng bốc lên tôi ôm đại cái càng. Hai người kia cũng làm vậy, một người khác chới với giữa bãi khói. Trực thăng lên vút khiến lưng tôi bị kéo mạnh về phía trước. Tôi gắng lấy hết sức ôm chặt. Vừa qua khỏi địa phận đồi, trực thăng bỗng nhiên nghiêng trái, quặt phải, nghếch lên, chúc xuống. Mỗi lần như vậy, sức giằng rứt tôi ra khỏi thân phi cơ. Gió lạnh cóng, hai tay và chân tê cứng. Tôi hãi hùng nghĩ đến cảnh rơi từ đám mây nầy…

Trực thăng quật mạnh sang trái, một người rú lên rồi rơi mất. Tôi chỉ nghe tiếng rú một thoáng, rồi gió tạt đi, đứt đoạn. Trực thăng rướn mạnh lên cao, một tiếng rú khác.

Lúc về đến bãi đáp hậu cứ, tôi không tin mình còn sống. Tôi đã gục đầu, ngồi ngay bên trực thăng và khóc nức nở…

2. LỜI KHAI CỦA TRUNG ÚY THỤC

Vâng, nếu quí vị giở lại quân bạ của tôi, trung úy phi công Lê Trịnh Thục quí vị sẽ thấy Hường là người bạn thân nhất của tôi. Trong khoảng hồ sơ đòi mỗi tân binh ghi rõ ba người bạn biết mình nhiều nhất, tôi đã ghi tên Nguyễn Hường lên hàng đầu. Không cần suy nghĩ. Hai người kia chỉ cốt lấp hai khoảng trống.

Chúng tôi cùng học chung với nhau từ thủa còn mài đũng quần trên băng trường trung học Chu văn An. Quê tôi ở Qui Nhơn, còn Hường người Bắc. Tôi chuyển từ trường Võ Tánh vào, dân ngụ. Còn Hường học Chu văn An từ mấy năm trước. Tính Hường lém lỉnh, hoạt bát, hơi xạo một chút, giống y mẫu người Bắc theo thành kiến dân Trung chúng tôi thường phác họa. Hường lại là dân cựu, nên biết hết các ngõ ngách tập tục của trường. Riêng tôi, đây là lần đầu bước chân vào thủ đô hoa lệ, hòn ngọc viễn đông. Lúc mới xách cái va li kẽm bước xuống nhà ga Sài Gòn, tôi bắt chóng mặt vì cảnh xe cộ ngược xuôi tấp nập và tiếng ồn ào. Tôi cảm thấy bơ vơ hơn, không biết phải ngủ đâu đêm nay. Ba tôi cho địa chỉ chú tám Bình, ở miệt Phú Nhuận. Tôi kêu taxi, họ từ chối không đi xa. Chịu đựng những lời hỗn láo thô tục của bác cyclo máy mãi cả giờ đồng hồ, tôi mới tìm ra địa chỉ nằm sâu trong hẽm ngoắt ngoéo, để người chủ nhà mở cửa cho biết chú Tám đã dọn đi nơi khác từ lâu. Chắc bấy giờ hình dáng tôi thảm não lắm, nên bác cyclo đổi thái độ, nổi từ tâm, rủ tôi về ở tạm đằng nhà ở bến Vân Đồn.

Bác tên Chín Đen, nhà cất trên vũng lầy ven sông dưới hãng thuốc lá. Khi nước rút, rác rưới bùn lầy tỏa mùi hôi thối, khiến tôi muốn ngạt thở. Lúc nước lên, không khí mát mẻ trong sạch hơn. Tôi điều đình với bác Chín gái, xin kê cái ghế bố ngủ ở chái ngoài mé sông, móc ngược cái xe đạp lên mái lá, kê sách lên giường ngồi bệt trên sàn gỗ để học, bác ăn gì tui ăn nấy. Giá tiền mỗi tháng là bảy trăm đồng.

Bác gái bằng lòng. Ngay hôm đầu, bác Chín hỏi :

– Biết nhậu không cháu ?

Tôi lắc đầu. Bác chê :

– Dở ẹt. Thời buổi nầy, trai vô tửu như kỳ vô phong.

Rồi kê tai tôi dặn nhỏ :

– Cháu ở nhà coi giùm, con mẽ có đi đánh bạc về mét bác.

Đến Chu văn An tôi cũng gặp những may mắn tương tự. Ngày đầu đến trường, tôi ngơ ngác không hiểu văn phòng nhận đơn chuyển trường ở đâu. Thấy một học sinh có vẻ khả ái tươi cười, đứng hút thuốc, nói chuyện huyên thiên với một đám ba bốn người bạn tôi rụt rè đến hỏi :

– Thưa anh, làm ơn chỉ giùm văn phòng nhận đơn ở chỗ nào ?

Cả bọn ngưng nói chuyện, chăm chăm nhìn tôi. Có lẽ bấy giờ tôi có vẻ quê mùa lắm. Người học sinh tôi vừa hỏi đứng ngay ngắn, nghiêm nghị vòng tay lễ phép :

– Thưa em, văn phòng ở lầu hai, ngay phòng đầu tiên bên trái đấy ạ.

Cả bọn ma cũ cười khả ố. Thấy vẻ bất mãn của tôi, Hường đâm ra hối, ân cần dẫn tôi lên văn phòng, đem giấy tờ vào đưa thẳng cho thầy giám học quen, và trong vòng mười lăm phút trở ra cho tôi biết hai đứa sẽ học đệ nhất B sáu, thời khóa biểu thế nầy thế nầy…

Chúng tôi ngồi ở cuối lớp, thuộc xóm nhà lá. Lý do : Hường hay nghịch sợ ngồi đầu bàn giáo sư dễ để ý, còn tôi mang đầy mặc cảm dân ngụ. Có lẽ còn một lý do khác nữa, lý do kỹ thuật : tôi dốt toán nhưng khá sinh ngữ triết lý, còn Hường dốt sinh ngữ lười nhai triết nhưng lại cừ khôi về toán. Đó là chưa kể thứ tình bạn bè càng ngày càng gắn chặt cuộc đời hai đứa. Cuối năm ấy, cả hai đều thi hỏng khóa đầu, tôi vì làm không ra bài toán và Hường vì đã nguệch ngoạc những dòng triết lý bí hiểm đến độ giám khảo cho rằng thí sinh cố ý hỗn xược phỉ báng thứ khoa học của tất cả mọi loại khoa học. Tôi qua nhà Hường học suốt mấy tháng hè, khóa hai cả hai đứa đều đậu bình thứ. Đậu xong, các trường cao đẳng chuyên nghiệp đều đã thi tuyển, nên chúng tôi không biết làm gì hơn là vác hồ sơ ghi danh MPC. Bất cứ ở đâu, Hường luôn luôn đóng vai trò anh cả : chen chúc cả buổi để xin đơn ở khoa học, lấn đến đứt hết nút áo mồ hôi mồ kê để nộp lệ phí trên viện, đi sớm thật sớm để giành chỗ ngồi trong giảng đường. Cả hai chúng tôi đều cảm thấy bơ vơ, như bị đánh lừa, khi bước chân vào Đại học. Tôi vốn không khá toán lắm, lên Đại học lại càng vất vả. Hường dốt sinh ngữ, đọc mãi một tờ “cua” tiếng Pháp chỉ hiểu lờ mờ, huống hồ là nghe một giảng sư người Việt giảng tiếng Pháp cho sinh viên Việt. Cuối năm, chúng tôi không cần đi coi bảng cũng biết kết quả.

Năm sau tôi chạy qua Dự bị Văn khoa còn Hường sợ sinh ngữ trôi giạt về trường Luật. Tuy vậy chúng tôi vẫn thường gặp nhau, nhiều hôm bỏ học la cà trên phố, lang thang suốt ngày không biết làm gì, hút liên miên hết điếu thuốc này sang điếu khác. Đó là thời kỳ Hường đổi tính, hết cả hăm hở và hoạt bát. Hường đâm mê thi ca, triết lý, ông ổng ngâm mãi mấy câu của Nguyễn Trãi :

…Đã buồn vì ngọn mưa rào.
Lại đau vì nỗi ào ào gió đông.
Hoa trôi nước chảy xuôi dòng.
Chiếc thuyền hờ hững trên sông một mình.

Cuối niên khóa, Hường lại hỏng Luật I, còn tôi tuy đậu dự bị nhưng quá thất vọng về mọi thứ văn chương trường ốc. Do đó, chúng tôi mới rủ nhau vào không quân.

Mất đi một thiên thần hộ mệnh, tôi vất vả nhiều trong binh nghiệp, chuyên ở những chỗ xấu và bị cấp trên trù. Hường lên đại úy, tôi vẫn trung úy. Hường khá bằng lòng với đời sống nhà binh. Hường viết thư cho tôi :

– Mày biết không. Tao vừa khám phá ra một thứ triết lý. Trên đời, chỉ có hai loại người thực sự hạnh phúc : tu sĩ và quân nhân. Cứ cuối đầu tuân theo thánh ý và lệnh thượng cấp, không thắc mắc băn khoăn gì hết. Cuộc sống trở nên đơn giản trong sáng. Mày nên noi gương tao.

Có lẽ, Hường đã tìm ra chân lý thật. Trong các bức thư gửi tôi, giọng Hường yêu đời. Hường tha thiết yêu một thiếu nữ miền Nam, và dành cả một bức thư dài tám trang để tả cho tôi thấy hết vẻ đẹp đôi môi giai nhân khi nói : Ngộ quá héng.

Tôi mong được như Hường. Nhưng không thể!

Cuộc chiến ngoắc ngoéo xếp đặt cho tôi gặp lại Hường trong cuộc hành quân nầy. Chúng tôi ôm chầm lấy nhau, cảm động quá không biết nên nói gì. Hường yêu đời nên trẻ hẳn, từ cử chỉ lời nói y phục đều ngay ngắn thứ tự, cái thứ tự của người có vợ. Tôi bị chê già trước tuổi. Chúng tôi ở chung với nhau một phòng trong căn cứ, và cố xếp đặt để bay chung trong một phi đội.

Khung cảnh ở đây làm chúng tôi khó chịu. Thiếu hẳn màu xanh, mà dư nỗi trống trải đìu hiu. Sự rộn rịp chát chúa. Bãi đáp luôn luôn ngùn ngụt cát bụi, hơi không khí nóng bỏng, khét lẹt. Trực thăng lểu nghểu trên khắp bãi đáp. Phi công Mỹ có vẻ uể oải, chưa có kinh nghiệm nhiều trên chiến trường nầy. Cả chúng tôi cũng vậy. Chúng tôi đã quen với những cánh đồng bát ngát chằng chịt mương rạch, từ trên cao có thể nhìn thấu được suốt hai ba tỉnh kế cận. Chúng tôi đã thuộc lòng từng con sông nước đục, từng nhánh lạch nhỏ cong queo như những cộng rêu héo trên thảm xanh non, từng cụm cây mọc là trên mặt nước thường là ổ ngụy trang của các khẩu 37 ly, từng khoảng cỏ cao lá lã quị xuống run rẩy mỗi lần đổ quân.

Ở chiến trường nầy, mọi sự hoàn toàn đổi khác. Núi lúc nào cũng muốn vươn lên ôm lấy hai càng, và vực sâu luôn luôn chờ đợi. Từ buồn lái nhìn xuống, một bên là những thung lũng xanh già mây giăng ngút ngàn chỉ hé lộ những đáy sâu thăm thẳm, quay nhìn bên kia sườn núi án ngữ ngay trước mặt, sừng sững vòi vọi, rõ ràng từng cành cây khóm lá. Trực thăng phải bay nghiêng nghiêng trườn lên cao cao mãi, và tầm mắt không thể nào trải dài trên một khoảng rộng bao la, đàng giới hạn giữa hai đỉnh núi.

Chúng tôi phải kiên nhẫn len lỏi theo các sườn núi quanh co, cố gắng cua qua quẹo lại lượn lờ ven khoảng mây để khỏi va vào đỉnh cao hay rơi xuống vực sâu. Lúc chiến trường chưa sôi động, tôi và Hường cứ đều đều chuyển quân và vũ khí như vậy từ hậu cứ đến các cứ điểm trấn thủ, từ bảy giờ sáng cho đến chiều tối.

Nhưng càng ngày hỏa lực địch càng mạnh, các phi vụ trở nên khó khăn. Chúng tôi vừa xuất hiện là đạn địch bắn lên như mưa : 37 ly, 50 ly, 23 ly. Bay cao trở thành nguy hiểm, nên chúng tôi áp dụng chiến thuật bay thật thấp ngay trên ngọn cây rừng, lướt sát theo các dốc núi. Thà để thân tàu lỗ chỗ dấu đạn AK còn hơn giơ bụng nhận đạn 37 ly. Với lối bay giỡn mặt với vũ trụ đó, nếu không lanh tay lẹ mắt như một nhà ảo thuật, chúng tôi đã tự đè bẹp thân xác vào vách đá núi. Vừa vụt qua một khóm kiến lửa nguy hiểm, chúng tôi chúi đầu vào một khoảng mây mù. Chưa kịp định kiến, sườn núi đen đã lù lù trước mặt…

Tuy thế, khó nhất là lúc đáp xuống. Pháo địch đã điều chỉnh sẵn tọa độ bãi đáp. Vừa hạ xuống, đạn địch chụp lên tơi bời.

Trung úy Hiển ở phòng bên cạnh tản thương, vừa đáp xuống, khiêng được một thương binh lên thì địch pháo kích dữ dội. Phải bay nhanh lên nhờ Gunship làm im súng địch rồi mới hạ trở lại. Chờ mãi không được, Hiển chỉ chở được một binh dù cụt chân về đây. Tôi dài dòng nói đến những khó khăn của không quân, để quí ông thấy chúng tôi cần những phi công kinh nghiệm biết chừng nào.

Bây giờ xin nói đến điểm các ông muốn hỏi.

Hôm ấy là thứ ba. Tôi và Hường có phận sự đến đồi 17 tải thương. Chúng tôi bàn định cách bay. Từ hậu cứ đến đó, phải bay sát trên ngọn cây để tránh các ổ phòng không đặt trên các đỉnh núi. Nhưng đến cứ điểm 17, làm thế nào xuống được an toàn và bay an toàn? Hường đề nghị đáp theo lối cũ. Chúng tôi đồng ý với nhau qua vô tuyến, rồi liên lạc với Cobra xin oanh kích thật gắt để tụi nó lo núp không pháo kích lúc hạ cánh lúc hạ cánh. Chúng tôi kéo cho trực thăng vút lên cao, rồi Hường cho nhào thẳng xuống trước. Pháo địch từ trước đến giờ im tiếng, tự nhiên nổ ran. Tôi thấy trực thăng của Hường có vẻ lắc lư chòng chành. Hường họi tôi :

– Tao bị rồi. gãy đuôi.

Trực thăng của Hường bốc cháy khi rơi trên bãi. Bóng Hường và Luyến chạy vụt bên dưới, tiến tới phía mấy mô đất đỏ. Lửa dưới trực thăng bỗng chớp sáng bùng lớn lên, khói đen bốc dần lên gần. Không còn cách nào nữa. Tôi gọi phi cơ trinh sát :

– Sao tụi nó bắn dữ quá vậy? Tôi xuống được không?

OV 10 bảo thời tiết xấu, Mỹ chỉ yểm trợ ít phi cơ võ trang, không đủ làm nghẹn hết mọi họng pháo. Hôm đó, tôi đành quay về. Vậy là Hường kẹt lại đồi 17.

Chiều hôm ấy về phòng, quân bưu có mang đến hai lá thư của vợ Hường. Tôi sợ căn phòng trống trải, bỏ ra phố. Tôi gọi rượu nốc hết hết ly này đến ly khác. Hình như tôi có đập lộn với mấy thằng Mỹ đòi độc quyền gái. Hình như tôi bị quân cảnh xúc đem về đồn. Tôi nói hình như vì sáng hôm sau thấy mình vẫn còn trong trại, soi gương chỉ thấy vài vết bầm trên mặt. Hai lá thư của vợ Hường làm tôi nôn nao. Tôi chạy ra bộ chỉ huy, tình nguyện trở lại đồi 17. Lời tôi yêu cầu phù hợp với kế hoạch tải thương tiếp vận ngày thứ tư, sẽ có hai chiếc đáp xuống đồi 17. Tôi một chiếc. Trung úy Lạng một chiếc. Đại úy Tín đi với OV 10 của Mỹ hướng dẫn Coibra và phản lực oanh kích. Hôm ấy thời tiết tốt, không lực Mỹ yểm trợ tối đa. Phản lực sẽ xới nát vùng thung lũng chung quanh, vãi đạn tàn nhẫn để xạ thủ địch không có thì giờ câu pháo vào bãi đáp. Trong lúc ấy, tôi và Lạng sẽ hạ xuống đem thương binh và Hường Luyến về. Lúc ra đi Trung tá dặn :

– Cậu rán đem tụi nó về, cử cậu đi vụ nầy là phải nhất. Đừng để cho chim kẹt dí dưới đất.

Gần đến 17, Lạng bị bắn rát, máy trục trặc phải lết rán đến đồi 19. Chỉ còn có tôi đến 17.

Như lần trước, tôi kéo trực thăng vút lên cao, rồi tắt hết tay ga cho phi cơ rơi như chiếc lá, đến gần sát mặt đất mới điều khiển cho phi cơ vào bãi đáp. F4 nhào lộn chung quanh. Thấy đáp được dễ dàng, lại không bị pháo kích, tôi ngạc nhiên. Tín vừa báo cho biết nên cẩn thận, địch vừa dùng xe tăng cảm tử xung phong lên đồi nửa giờ trước. Thực vậy, vì bận lo đáp tôi chỉ thấy những cột khói nghi ngút dưới thung lũng, quên suy luận xem có gì vừa xảy ra.

Mặc kệ, tôi để cho trực thăng sẵn sàng, nhảy xuống sân chạy vào giao thông hào. Tôi hớt hải gọi Hường. Tên chỉ huy dù chạy lại kéo vào hào trung ương. Vừa lúc ấy Hường và Luyến cũng đến. Hường mừng :

– Mày đến được thật tài. Tụi tao về chuyến này chứ ?

– Ừ, còn chỗ tải thương. Vợ mày mới gửi thư ra.

– Trời, sao không mang cho tao?

– Chiều về đọc. Rõ lẩm cẩm. Nhanh lên.

Bấy giờ viên trung úy dù mới nói, giọng lạnh như dao chém :

– Các ông ở lại đây. Phải dành ưu tiên cho thương binh.

Tôi cãi lại :

– Lệnh của không đoàn là cho các hoa tiêu về. Sau mới đến thương binh.

– Tôi chỉ huy ở đây. Chính tôi mới có quyền quyết định. Các ông mạnh khỏe. Phải nhường chỗ cho những người cần cấp cứu. Họ sắp chết nếu không được giải phẫu, tiếp huyết.

Hường và Luyến không nói. Tôi bảo :

– Chính vì cần tản thương gấp nên phải cho hoa tiêu về trước. Chúng tôi cần những hoa tiêu giỏi để tránh được hỏa lực địch._

Viên chỉ huy dằn giọng :

– Không có thời giờ cãi vã nữa. Địch vừa định xung phong lên đây. Các ông còn có thể cầm súng chiến đấu. Các ông không thể bỏ về. Anh em dù sẽ bảo là các ông trốn.

Bây giờ Hường mới nói :

– Thôi, chờ chuyến sau đi Thục. Trung úy cho toán tải thương làm việc nhanh nhanh lên. Mai mốt nhớ mang thư cho tao.

Tôi lớ ngớ không biết phải làm thế nào. Toán tải thương đã khiêng thương binh ra gần đủ. Tôi chạy ra sân không nhìn lại phía sau. Bấy giờ súng địch tự nhiên nổ ran. Có quả đạn rơi ngay phía trước buồng lái. Không chần chờ gì nữa, tôi leo lên cho ngay trực thăng bốc thẳng khỏi vòng nguy hiểm. Tôi không còn đủ bình tĩnh nhìn về phía giao thông hào, cũng không đủ bình tĩnh để ghi nhận sự kiện lạ : Tự nhiên F4 bỏ đi hết để địch có thể pháo kích bãi đáp trở lại.

Trong trường hợp nguy hiểm như bấy giờ, tất cả mọi phi công đều áp dụng một lối bay độc nhất : tránh theo một phi đạo nhất định. Tôi cho trực thăng vừa bay thẳng tới trước, vừa nghếch đầu chếch lên không, vừa quặt mạnh về phía trái. Cho nên trực thăng phải chòng chành.

Nhờ ơn trời, tôi đã mang được chín thương binh về hậu cứ bình yên. Xin lỗi, mười chứ không phải chín, vì khi đáp xuống, tôi mới biết có người đeo cứng dưới hai càng.


3. LỜI KHAI CỦA ĐẠI ÚY TÍN

Tôi hoàn toàn không biết gì về trung úy Thục, ngoài phi vụ yểm trợ tản thương hôm ấy. Cho nên tôi chỉ khai những việc xảy ra từ sáng thứ tư mà thôi.

Tôi được lệnh trình diện gấp tại phòng thuyết trình hành quân. Lúc tôi vào, hầu như tất cả những người cần thiết đều đủ mặt. Tôi ngồi bên cạnh trung úy Thục. Dáng người cao lớn, vạm vỡ, nước da nâu, tóc cắt kiểu bàn chải. Đôi mắt của trung úy làm tôi chú ý nhất. Sâu, sáng, buồn,cái vẻ khổ não u uất như thường xuyên hiện ra ở đó.

Đôi mắt đặc biệt nầy làm tôi có cảm tình ngay với ông từ lúc đầu. Chúng chứng tỏ sự xúc động vô cùng của ông trước hình ảnh chiến cuộc diễn đều hằng ngày trên bãi đáp. Chúng tôi vẫn thường gọi đó là hai chuyến khứ hồi : chuyến khứ mang anh em từ Nam ra : mạnh khỏe, hăng hái, tươi cười, băng năng bô hô như gà mắc đẻ; chuyến hồi mang anh em từ phương Tây về : hốc hác mệt mỏi, dãy dụa rên la trên băng ca hay nằm yên trong poncho.

Tôi càng cảm phục trung úy Thục hơn khi biết ông tự nguyện xung phong thi hành phi xuất nầy. Chúng tôi ở hậu cứ, được đọc nhiều nhật báo tuần báo tiếng Việt, tiếng Mỹ, nên biết tình hình hiện không thuận lợi mấy. Đồi 17 đang bị nặng, đại đội tử thủ đang kêu cứu và chưa biết sẽ bị tràn ngập lúc nào. Đồi 19 đang bị đe dọa. Thời tiết lại xấu. Phi công Mỹ có vẻ e ngại thi hành những phi vụ quá sức hiểm nghèo, nhất là sau lúc họ vẽ nguệch ngoạc khẩu hiệu “Peace now. Make love nót war” trên hông trực thăng.

Kế hoạch hành quân khá tỉ mỉ, chắc chắn thành công. Tôi ngồi OV 10 của Mỹ để hướng dẫn F4 và phi cơ trực thăng võ trang oanh kích. Nếu cần, có thể gọi pháo binh yểm trợ. Mục tiêu hành quân là ngăn chận cuộc tấn công chiếm đồi 17 của địch, cứu thoát phi hành đoàn bị kẹt hôm trước và tải thương. Qua một vài câu ngắn tôi biết một đại úy bị kẹt trên đồi 17 là bạn thân của Thục. Tôi cảm phục ông hơn.

Chiếc OV 10 lượn qua chao lại như con diều trên không phần đồi 17. Tôi ghi nhận các mục tiêu có thể ẩn dấu xe tăng và trọng pháo địch, quan sát mọi phương để dự đoán hướng tấn công. Mạn đông nguy hiểm nhất vì dốc thoai thoải. Sâu phía dưới cây cối um tùm, lại thêm mấy quả đồi rậm nhìn thằng vào bãi đáp. Tôi gọi F4 thả bom các chỗ khả nghi. Lúc 8 giờ, địch dưới đất bắt đầu tấn công. Các chiếc PT 76 lừ đừ bò khỏi rừng rậm leo lên sườn đồi. Hoa tiêu Mỹ chúi đầu bắn một hỏa tiển khói ngay bên cạnh chiếc xe tăng. F4 nhào xuống, napalm trúng ngay mục tiêu. Khói lửa tỏa mù bên dưới. Địch chạy túa ra chung quanh, giạt xuống chân đồi. Mấy chiếc F4 khác dùng bom bươm bướm thả phủ xuống đàn kiến di động tơi tả, hoặc cày nát đỉnh đồi thấp và khoảng thung lũng rậm.

Hỏa lực ào ạt khủng khiếp ấy làm địch im tiếng súng. Bấy giờ trực thăng trung úy Thục cũng vừa đến. Tôi gọi cho Thục :

– Cậu coi chừng. Tụi nó vừa tấn công xong. Pháo của địch còn mạnh lắm.

Thục cảm ơn, hỏi ý kiến về an ninh bãi đáp. Tôi bảo :

– Các ổ pháo trên hai ngọn đồi thấp vừa im tiếng. Không biết đã thực sự nghẹn chưa. Tốt hơn hết, cậu đáp theo kiểu lá vàng rơi.

Thực đồng ý, bắt đầu cho chúi xuống. Tôi điều khiển các chiếc F4 và Cobra bắn rát hơn vào phía thung lũng và hai đỉnh đồi đối diện. Thục đáp an toàn. Không thấy có pháo địch, chỉ còn những tiếng bom nổ dòn và các đụn khói dâng cao đây đó trên thảm xanh đậm của rừng.

Bỗng trên tầng số cấp cứu có tiếng một phi công Hoa Kỳ :

– Tôi bị rồi. Phi cơ sắp cháy. Tôi nhảy dù đây.

Nhìn sang phía phải, một chiếc F4 bốc khói đằng đuôi, và hai chiếc dù trắng đỏ vừa nở. Tôi gọi cho mấy chiếc F4 :

– Coi chừng hai đỉnh đồi, có thể pháo địch chưa im hẳn đâu. Làm ơn oanh kích rát hơn nữa.

Nhưng lần lượt tất cả mấy chiếc phản lực bay về phía hai cái dù. Hốt hoảng, tôi nói với viên hoa tiêu OV 10 :

– Thôi, để tụi F4 lo. Mầy với tao ở lại điều khiển Cobra.

Chiếc OV 10 bỗng nâng hẳn lên nghiêng mình bay theo mấy chiếc F4. Tôi nói với viên hoa tiêu :

– Làm ơn quay lại đi. Địch có thể tấn công trở lại. Làm ơn chút.

Tôi ràn rụa nước mắt. Nhìn ngoái lại đằng sau, pháo địch bắt đầu nổ trắng trong khi trực thăng của Thục nghiêng ngã chòng chành lánh xa. Đúng như các ông hỏi, dưới bụng trực thăng có mấy người ôm cứng hai càng.

Chúng tôi về căn cứ khoảng bốn giờ. Thục đã về trước đó ít lâu. Anh em trong căn cứ bàn tán xôn xao về những tiếng kêu cứu vô vọng cuối cùng của đồi 17, về cái chết chắc chắn của Hường trên ngọn đồi bị tràn ngập, về giọng nức nở của người lính ôm càng trực thăng về được đến đây. Tại câu lạc bộ, tôi gặp Thục đang ôm đầu ủ rũ, mắt đỏ sưng.

Thục nói bâng quơ :

– Không biết nó chết hay nó bị bắt.

Tôi im lặng, hiểu rõ Thục đang nói đến ai. Đột nhiên Thục hỏi tôi :

– Giá sử anh ở trong trường hợp nầy, anh xử trí ra sao :

Anh đang lái một chiếc xe đầy nhóc anh em bạn bè. Xe chạy ngon trớn. Đột nhiên anh thấy trước xe có một thằng bé chạy ra giữa lộ. Phanh gắt, xe sẽ lật. Lái tránh sang mé đường chín mươi phần trăm chắc chắn là xe sẽ xuống hố. Anh sẽ làm gì ?

– Cán bừa. Vì không thể tránh được nữa.

Thục nói :

– Tôi ước được như anh. Tôi đã rồ ga cán bừa, nhưng ngay sau đó, lại hối hận tự hỏi sao không đưa chân dậm thắng. Biết đâu trong mười phần trăm còn lại, đứa bé sẽ sống.

Hôm sau, Thục len lỏi ngược xuôi hỏi dò tên hai người lính rơi trực thăng. Thục hỏi kỹ cả gia cảnh họ.

Cả ngày và suốt đêm ấy, Thục không về trại.

Tôi chỉ biết có bấy nhiêu, và viết hết bấy nhiêu.

Nguyễn Mộng Giác
Bách Khoa số 348, 1-7-1971
(Qui Nhơn, tháng 4-71.)

HỒ NGHI

chuthuynguyen

hồ nghi đất rộng
trời cao
hồ nghi tấc dạ nông sâu
đổi dời

mảnh phù phiếm
khoác
rong chơi
chào mời rao bán
đã đời nhục vinh

khi tiên
lúc quỷ hiện hình
cạn hơi chạy vạy
rập rình oan khiên

sống
là chợp mắt
du miên
chưa trọn tiếng sáo
lỉ liên tội đầy

trân mình
ngục thất trói tay
ông – thằng
áo não
quắt quay nhục hình

hồ nghi vân cẩu
u minh…


Chu Thụy Nguyên

Mồng Tám Tháng Giêng

tranvanle

Ra Tết, không chi cũng mỏi mòn
giống như con ngựa nhớ hoàng hôn,
biết đi thêm nữa, đêm là tối…
mà cuối ngày là bóng tịch dương!

Ra Tết, nghĩa là mở cửa năm,
cửa thời gian không có tay cầm…
thì xô cho sập tường không khí…
rồi dựng cho đời một thế gian?

Ra Tết, nào ai nhắc nước nhà.
Thái Bình Dương đó, biển, ôi xa…
Người ta chuộng cái gần hơn biển,
một góc sân trồng một khóm hoa…

Người ta quên bẵng người Do Thái,
mất nước đi tìm nước mới nghe.
Do Thái với mình không thể giống:
Họ đi tứ xứ họ mong về!

Mình đi tứ xứ mong ra Tết…
đi diễn hành, vui, đọc diễn văn:
đọc sao cho có âm như Mỹ
và vẫn có tình rất Việt Nam!

Ra Tết, nhìn chơi dãy trụ đèn,
từng cây cách khoảng chẳng bon chen
mà đem ánh sáng cho đường phố
(chắc cũng thẹn thầm lúc nguyệt lên?)

Ra Tết đi ngang cổng nghĩa trang
Peek Family rực rỡ hoa vàng,
ước ao mai mốt nằm trong đó,
mỗi đóa hoa là một đóa trăng!

Trần Vấn Lệ

Tôi có còn cô độc?

kiettan

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
Thử địa không dư hoàng hạc lâu
Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu
[1]
(Thôi Hiệu)

tôi gọi tên tôi cho đỡ nhớ
thanh tâm tuyền
buổi chiều sao vỡ vào chuông giáo đường

Tiếng thơ bi thiết. Nhịp điệu giựt xé. Hình ảnh đột ngột lóe chớp. Rồi mất hút. Phụt tắt. Cảm giác bàng hoàng, nổi gai ốc.

tôi hét tên tôi cho nguôi giận
thanh tâm tuyền
đêm ngã xuống khoảng thì thầm tội lỗi

Ba câu thơ vụt xẹt như tầm sét. Giáng xuống. Chấn động. Người làm thơ bị thương. Người đọc thơ cũng bị thương. Thanh Tâm Tuyền lảo đảo. Tôi té xuống. Mặt úp trong vũng nước mưa đang bốc hơi trên mặt đất nhiệt đới. Mưa xuống quê hương. Mưa xuống Sài Gòn. Trời đương mưa. Mưa dữ dội.

tôi gào tên tôi thảm thiết
thanh tâm tuyền
bóp cổ tôi chết gục

Thôi thôi! Tôi cấu lấy tóc mình giựt giựt. Hai bàn tay úp kín trên hai tai. Không còn muốn nghe nữa. Tôi đang dẫy dụa tuyệt vọng trong ngục tù tình dục do chính tay mình dựng nên, hết biết đường ra, cũng không biết bằng cách nào ra được. Cô đơn cùng cực. Kiệt! Kiệt! Tôi bóp cổ tôi chết gục. Những đôi vú tròn căng nõn nà, những đôi mông trắng tươi ngó ngoáy, những đám cỏ đen mọc trên tam giác no nê đêm đêm bay đầy trời trong mộng mị chập chờn Chí Dị. Tôi chết mất. Không thể nào sống sót nổi. Tôi vừa rời thân thể ngọt bùi của Tuyết, người tình quán nước bên bờ Tiền Giang để bay sang Xứ Tuyết du học. Nhện sa xuống nước nổi phình, kiếu huynh kiếu đệ kiếu người tình tôi lui… Ðêm nằm tơ tưởng tưởng tơ, chiêm bao thấy bậu dậy rờ chiếu không… Một cửa sổ hai ba cửa sổ… Một cái vú hai cái vú ba cái vú… Chết! Tôi chết mất!

Tập thơ Tôi không còn cô độc, Người Việt xuất bản 1960. Bước sang năm thứ hai đời sinh viên ở Québec, Xứ Tuyết. Tôi thu mình quạnh quẽ trong căn gác trọ nhỏ nhít đường Garnier, gần đại học Laval. Cô đơn nhuộm người tôi vàng xỉn xanh xao. Như trái chanh non héo úa ai bỏ quên trong tủ đá. Rồi bỗng một tối nọ Thanh Tâm Tuyền tới gõ cửa gác trọ, tóc tai bù xù, dưới nách kẹp tập thơ mỏng Tôi không còn cô độc. Mở cửa nắm tay giắt vào, kéo ngồi xuống trên chiếc giường sắt sinh viên hẹp nhỏ ọp ẹp. Người mới bước vô là Khương, một du học sinh Việt Nam vừa bay sang Québec, nhập đại học Laval, cũng như tôi. Khương khoái thơ. Tôi cũng khoái thơ. Tôi khoái Nguyễn Bính, Lỡ bước sang ngang. Khương khoái Thanh Tâm Tuyền, Tôi không còn cô độc. Trao đổi văn nghệ, bắt nhịp cầu tri âm. Và tối đó, tôi khám phá nhà thơ đứng đầu nhóm Sáng Tạo. Những câu thơ chém xuống hừng hực.

Thiệt ra không phải đợi đến tối đó tôi mới được đọc thơ Thanh Tâm Tuyền lần đầu. Tôi đã đọc thơ Thanh Tâm Tuyền hồi còn là học trò đệ nhị đệ nhất trung học, chuẩn bị thi Tú một Tú hai. Ðọc lõm bõm trên tạp chí Sáng Tạo nhưng không thấm. Thuở đó tôi chưa từng biết cô đơn là gì. “Khi ấy em còn thơ ngây, đôi mắt chưa vương lệ sầu…” Tôi còn rất hồn nhiên. “Tôi chưa hề cô độc”. Có thể nói như vậy. Hồn nhiên? Chưa chắc. “Anh chỉ giỏi tài ba xạo”, một bận Tuyết đã chỉnh tôi bằng lời lẽ đó. Trong thời kỳ này, tôi đã có Hoa, người yêu đầu tiên Xóm Bến Ðò Mỹ Tho. Tôi có Ánh, người yêu nữ sinh Cầu Cái Cá Vĩnh Long. Tôi có Tuyết, người tình quán nước bên bờ sông Cổ Chiên ngầu đục phù sa. Tôi đã biết rờ rẫm, biết hun hít mấy người em nhỏ hậu phương, tôi đã biết sục sạo đóa hoa thầm kín trong rạp hát bóng, đã biết vật lộn với em nhỏ bên bờ cỏ đêm trăng, đã biết xâm nhập và cư ngụ trong thân thể mượt ẩm, ấm hỉnh Liêu Trai của nàng. Cô độc sao nổi mà cô độc! Tôi còn đang lẩn quẩn trước hàng ba nhà nàng, còn đang đứng xớ rớ bên cạnh cái hàng rào dâm bụt, nhà nàng ở cạnh nhà tui, cách nhau cái giậu mồng tơi xanh dờn, lẩm cẩm y hịch như sư phụ Nguyễn Bính. Còn xa lắm mới bước được vào lãnh thổ của Thanh Tâm Tuyền, bước được vào vương quốc của Hoàng Ðế Cô Ðộc, nơi đức vua có đủ quyền y để cai trị mọi người bằng… thơ tự do. Còn được gọi diễu là thơ hũ nút bởi phe đối lập. Một bận, trên tờ Văn Nghệ Tiền Phong xuất hiện một bài thơ hũ nút nhái giọng Hoàng Ðế. Thơ rằng:

bánh xe đạp quay tròn
xịt khói
trái tim giơ mười ngón tay
thét chết
cô độc!

Xịt cười. Không hiểu ất giáp gì hết. Tuy nhiên, thấy ngộ ngộ cho nên còn nhớ tới bây giờ. Cũng như đã nhớ hai câu thơ vỡ lòng, em ơi em ở lại nhà, vườn dâu em đốn thịt gà xé phay của sư phụ mình. Và những câu thơ bá láp khác nữa, chẳng hạn: Ủa ủa giống gì trẹo? Ờ ờ chó mắc lẹo. Ðực vện ngổng đuôi trì, cái vàng cong lưng kéo… Mà càng bá láp lại càng nhớ dai. Trí nhớ con người nó khỉ như vậy đó.

Tuy nhiên, ngay những năm hai mươi tuổi, Thanh Tâm Tuyền đã ngoái đầu nhìn lại lịch sử nhân loại mà không khỏi hãi hùng:

toa chở súc vật
bít bưng tức thở
bánh nghiến đường rầy

chúng nó làm phát xít
chúng nó làm cộng sản
chúng con làm tù nhân

Và ngay từ những năm 50, hình như nhà thơ đã linh tính tai họa thảm thiết sắp sửa giáng xuống đất nước kể từ tháng Tư 1975:

mẹ bưng tấm hình úa cũ trước ngực
dò xét từng nét đau khuôn mặt
các anh nhìn cúi đầu
khóc lén
hai hàng rào quá khứ đăm đăm

chúng nó làm phát xít
chúng nó làm cộng sản
chúng ta làm tù nhân

Có phải, qua những câu thơ chặt khúc trên, Thanh Tâm Tuyền đã tiên đoán căn phần đày đọa của mình và bạn bè hai mươi năm sau, trong những trại tập trung cải tạo mọc lên như loài nấm độc trên khắp cùng đất nước tả tơi sau 75?

mưa bay lất phất gió căm căm
đường lầy trơn nhà cửa tối tăm
trốn đâu lũ trẻ mặt lem luốc
co ro đứng xem tù qua thôn

Và khi làm thân tù đi chém tre đẵn gỗ trên ngàn, một bận bị tuột dốc nhào trên hẻm núi, nhà thơ lại thấy lòng mình thanh thản hơn bao giờ hết:

duỗi soải chân tay gối trên nứa
ngó trời nhá nhem nghe mưa mau
tưởng chừng thi thể ai thối rữa
hồn viển vông chẳng chút oán sầu

Giọng thơ không còn uất hận như thuở ban đầu nữa. Tập Thơ ở đâu xa, tác phẩm cuối cùng của Thanh Tâm Tuyền đã xuất hiện im lìm, âm thầm xuất hiện tại Hoa Kỳ năm 1990. Ðể rồi mười sáu năm sau, nhà thơ cũng âm thầm ra đi tại Minnesota, để lại một vết chim bay trên nền trời băng giá giáp ranh Xứ Tuyết, nơi lần đầu tiên tôi khám phá Tôi không còn cô độc, tập thơ đầu tay của cùng một tác giả.

Nhìn lại công trình của nhóm Sáng Tạo, sự đóng góp đáng kể nhứt của nhóm này vào nền văn học Việt Nam, theo tôi, là thơ của Thanh Tâm Tuyền, về hình thể cũng như cách diễn đạt. Một công trình sáng tạo đúng nghĩa. Nhận định này rất chủ quan, dĩ nhiên. Hồi Võ Phiến sang chơi Paris và đóng đô tại nhà tôi ở Bagnolet, có bận tôi hỏi, theo ông, Thanh Tâm Tuyền là một nhà thơ hay nhà văn. Võ Phiến đã đáp không do dự: là một nhà văn. Kế Thanh Tâm Tuyền, sự đóng góp đáng kể khác của nhóm Sáng Tạo cũng lại là thơ: thơ của Tô Thùy Yên. Lại chủ quan nữa đó, cha nội! Tuy nhiên, về hình thức, thơ của Tô Thùy Yên không hoàn toàn phá thể. Mới gần đây, cõi thơ này (tiếng của Cung Tiến để ám chỉ ba cõi thơ tập trung ở Minnesota: Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Cung Trầm Tưởng) có bay sang Paris chơi và ngụ nhà tôi ít bữa. Tôi có bày tỏ nhận định vừa nói của mình và Tô Thùy Yên cũng đã gật đầu tán đồng. Còn về mặt văn xuôi, sự đóng góp của nhóm Sáng Tạo không được đặc sắc gì cho lắm. Văn xuôi à? Thì cũng có cái mới thiệt đó, nhưng nếu hỏi tác phẩm văn xuôi nào tiêu biểu cho nhóm Sáng Tạo thì tôi không / chưa kể được tên tác phẩm nào. Truyện của Thanh Tâm Tuyền hồi còn trẻ tôi cũng thích. Thích nhiều là truyện Ung thư, nhưng rủi thay tác giả đang viết chợt bỏ dở nửa chừng. Có bận tôi hỏi vì sao bỏ dở, Hoàng Ðế Cô Ðộc trả lời là tại hết hứng, thấy truyện bế tắc. Ðược biết sau này Ung thư đã hóa kiếp thành Cát lầy. Hình như trong Cát lầy có một nhân vật tên là Kiệt, quả đúng y thị, tên của tôi. Kiệt là một nhân vật lừng khừng, dật dờ, sống cẩu thả, bê bối – tôi nhớ loáng thoáng. Có bận hỏi tác giả, Kiệt trong Cát lầy có phải phần nào đã đội lốt Kiệt tui ngoài đời chăng? Hoàng Ðế khẽ gật gù phán nhỏ: “Cũng có”. Như vậy, vô tình tôi đã được đẩy vào văn học sử, và hết phương trở ra nữa. Than ôi, người ngay mắc nạn! Trời đã hại Sa Vệ! Khiến cho Hạng Võ phải biệt Ngu Cơ rồi tự ý cắt đầu giao cho ông lái đò trên dòng sông định mạng.

Tôi vốn đã không ưa văn học sử gì cho lắm. Hồi còn ở Việt Nam, năm 1966, Sáng Tạo có đứng tên in cho tôi tập thơ đầu tay Ðiệp khúc tình yêu và trái phá. Ðể rồi sau đó tôi quăng bút, quay sang làm thơ hiện thực (lẫn thực hiện): thơ Bia ôm và trái cóc. Mãi cho tới hai chục năm sau, phần Thanh Tâm Tuyền và Tô Thùy Yên thì đi tù cải tạo mút chỉ ở Việt Bắc, còn riêng tôi thì lêu bêu trôi dạt sang Paris. Lúc đó, nơi xứ lạ quê người không có bia ôm nên rất huởn thì giờ để mà cà nhổng chống xâm lăng, tôi bèn lượm bút lên và tiếp tục mần văn nghệ, bỏ thơ viết truyện, lần lượt ra mắt bà con Nụ cười tre trúc, Thương nàng bấy nhiêu, Lớp lớp phù sa… Sực nhớ lại sáu mươi bốn năm trước đây, nhân dịp Xuân Tha Hương, Nguyễn Bính sư phụ tôi đã xủ một quẻ tại Huế năm 1942 và tiên đoán thời tiết không khá mấy của bọn cầm bút:

Ai bảo mắc vào duyên bút mực
Suốt đời mang lấy số long đong
Người ta đi lấy giàu sang cả
Mình chỉ mơ toàn chuyện viển vông
Thiên hạ đua nhau mà sắm Tết
Một mình em vẫn cứ tay không…

Sư phụ tôi đã rên rỉ như vậy đó với người chị yêu dấu của mình ở xứ Hà Ðông (vốn đầy dẫy sư tử cái) xa tít mù xa ngoài Phương Bắc. Chị Trúc bạc phận trong Lỡ bước sang ngang. Hồi đó chưa có xa lộ không đèn, chưa có xe lửa cao tốc, chưa có Boeing 747. Bó tay. Bó giò. Rên là phải!

*

Cảo thơm lần giở trước đèn…

Ðiểm lại thời gian hơn mười năm chiến tranh sau cùng ở Việt Nam, những lần tôi gặp gỡ Thanh Tâm Tuyền đếm được trên năm đầu ngón tay. Kỷ niệm? Thì cũng có, gọi là… Và cũng đếm được trên năm đầu ngón chưn. Lần đầu tiên gặp nhau ở đâu không nhớ. Chỉ nhớ chàng có cái quai hàm vuông vức cương nghị, lông mày rậm, cái nhìn thẳng sâu, giọng nói miền Bắc, không giọng Hà Nội, mà là giọng lảo nhảo quê quê dân dã, dễ thương, dễ gần gũi. Tuy nhiên, vừa mới gặp nhau lần đầu mà đã có chạm súng lẻ tẻ, cũng như lần đầu với Mai Thảo. Tuy chàng làm thơ tự do, rất mới, rất phá thể, nhưng quan niệm của Thanh Tâm Tuyền về các vấn đề thường nhật, nhứt là đối với gia đình thì lại rất là cổ điển, rất là truyền thống, rất là tôn ti trật tự, với đầy đủ đèn xanh đèn đỏ hẳn hòi. Chung chung, là một con người sống rất ư là bình dị. Có thể tôi lầm lẫn vì ít khi tiếp xúc. Ðành bói mò. Cùng cắm dùi chung một cứ địa Gia Ðịnh, tôi ở Hàng Xanh, Thanh Tâm Tuyền ở Bà Chiểu, cách nhau một cái cầu bê tông nhỏ. Ðâu có đường về nhà em xa lắm anh ơi! Chàng có đến nhà tôi hôm in xong tập thơ. Tôi có xâm nhập lãnh thổ của Hoàng Ðế trong ngôi nhà cao cẳng (hình như vậy) để ngồi nhậu lai rai coi anh em cầm bút nhà ta kéo xì phé. Trong số có Trần Lê Nguyễn, người lè phè dễ thương, mê cờ bạc số một.

Tôi có một số bạn thường đi chơi chung của tôi. Những tay nhậu mút mùa, đi thăm mấy em Kiều dài dài, những ông chồng không xứng đáng. Sớm Ðào trưa Lý đêm Hồng Phấn. Tuyết Hạnh sương Quỳnh máu Ðỗ Quyên. Thanh Tâm Tuyền có những người bạn để đi la cà riêng của mình. Những Mai Thảo, Vũ Khắc Khoan, Phạm Ðình Chương… Vì hai chàng trai nước Việt đều có bạn riêng nên kỷ niệm chung hơi hiếm.

Thanh Tâm Tuyền không có tiếng là tay nhậu cừ khôi. Cũng không “rằng nghe nổi tiếng cầm đồ”. Không vũ nữ sexy, không bia ôm lả lướt, không xướng ca vô loại. Theo truyền thuyết, hồi theo học khóa sĩ quan ở Thủ Ðức, có một đêm xỉn quá xỉn nên Hoàng Ðế bèn đốt lửa thiêng kêu gọi chư hầu tới cứu viện, đoạn cởi truồng chạy nhồng nhổng trong quân trường. Tuy nhiên sự cố này cũng chỉ là truyền thuyết, không có hình ảnh gì để chứng minh với hậu thế. Có thể đó là mưu tối nhằm bôi nhọ để Hoàng Ðế không còn cách nào ra tranh cử tổng thống với ông Hoàng Ðã Nhứt (tức ông Hoàng…) nước ta thời Thiệu trị Kỳ nhông.

Không xướng ca vô loại? Ấy vậy mà một chiều nọ, trong một phòng trà thời trang ở Sài Gòn, đã có lần Hoàng Ðế bước lên sân khấu và cầm micrô lên mà rỉ rả một bài tình ca rất ư là lả lướt. Khó tin nhưng mà có thiệt! Có nhân chứng và nạn nhân thời cuộc làm chứng trước tòa. Ðó là lần tổ chức bán đấu giá tranh để lấy tiền giúp Vũ Hoàng Chương trị bệnh. Ở đâu? Ở phòng trà Khánh Ly đường Tự Do. Tay nào đã lôi kéo tôi tới đó tôi không nhớ. Có Mạnh Thường Quân nào mua tranh hay không tôi cũng không nhớ. Khi tới phòng trà, tôi đã xiêu vẹo ba ngù. Tôi ngất ngưởng nghe nhạc như người điếc không sợ súng. Rồi thình lình Hoàng Ðế giáng lâm. Tay nắm tay Phạm Ðình Chương, hai ta bèn song ca Mộng Dưới Hoa do Phạm sĩ phổ nhạc, thơ Ðinh Hùng. Hoàng Ðế thơ tự do mà hát thơ bảy chữ có vần thì phải biết! Tôi ngồi khép nép, run như run thần tử thấy long nhan. Rồi việc gì phải đến đã đến. Hoàng Ðế cất tiếng vỗ an bá tánh:

“Chưa gặp anh em đã có bầu, với chàng trai trẻ đẹp như trâu…”

Bủn rủn! Dĩ nhiên Hoàng Ðế không hát nhảm nhí như vậy. Cũng không “tôi hét tên tôi cho nguôi giận: thanh tâm tuyền! Tôi gào tên tôi thảm thiết: thanh tâm tuyền!“. Cõi thơ tự do cất tiếng hát rất là trữ tình, rất là ru em: “Chưa gặp em anh vẫn nghĩ rằng, có nàng thiếu nữ đẹp như trăng...” Có thế chứ! Ðứng trên sân khấu bằng phẳng vững chắc mà Hoàng Ðế cũng lắc lư con tàu đi trên hai chưn không thua gì tôi. Ca sĩ mầm non lim dim hát tiếp: “Tóc xanh lả bóng dừa hoang dại. Âu yếm nhìn tôi không nói năng…” Em gái hậu phương nào mà nghe lọt lỗ tai giọng ca truyền cảm của Hoàng Ðế thì ắt phải rụng rún là cái chắc! Cuộc bán đấu giá chưa tan mà tôi đã tự động giã từ cuộc chiến. Chuyếnh choáng bước ra đường nhựa đứng xớ rớ chưa biết làm cách nào để mà xuôi thuyền về Bến Ngự cho được. May quá! Bỗng một anh chàng cao lớn bô trai từ đâu xáp tới kéo tay tôi rủ rê: Nguyễn Xuân Hoàng! Hoàng Tử rủ tôi vô Brodard giải lao. Ừ, vô thì vô, sợ ai. Tôi gọi cái bia lạnh. Hoàng Tử một ly bia không có bọt, màu trắng đục bỏ đường có ống hút. Hình như lúc đó Hoàng coi tờ Văn, Nguyễn Ðình Vượng chủ trương. Và cũng hình như chàng vừa viết xong một truyện ngắn bảo đảm mới rất mới: “Người đàn ông đội nón ngồi trên chiếc ghế bành”. Thời đó, phong trào Tiểu Thuyết Mới đang thịnh hành. Tôi thì chẳng tiểu thuyết mới, chẳng tiểu thuyết cũ gì hết ráo. Chỉ chủ trương thơ hiện thực bia ôm và trái cóc là ăn chắc (mặc bền). Ngày đêm miệt mài, đi thực tế cho biết lòng dân – và bụng dạ ngoắt ngoéo của đàn bà (ấm cha chả là ấm!)

Bạc Liêu là xứ quê mùa, dưới sông cá chốt trên bờ Tiều Châu. Tôi vốn người miệt Hậu Giang bần chua nước mặn nên rất thiệt thà chơn chất, nhứt là đối với nữ phái tay yếu chưn mềm (mà có thể vật chết anh hùng mạnh cùi cụi trong vòng năm phút như chơi). Vì chưng thiệt thà nên điều gì có ngó thấy tận mắt thì tôi mới tin. “Chưa thấy quan tài chưa nhỏ lệ”, lấy câu này làm châm ngôn ở đời. Cũng bởi lẽ đó nên đối với Kiệt tui, Thanh Tâm Tuyền chưa chết. Không thấy tẩm liệm, không thấy chôn cất thì đối với tôi là chưa chết. “No see die, no die!”. Dịch nôm tiếng Việt: nô xi đai, nô đai. Cũng như má tôi, cũng như ba tôi. Ba má tôi vẫn còn sống đủ cặp Ngọc Cẩm-Nguyễn Hữu Thiết trong tâm tưởng của tôi. Cũng như Vũ Khắc Khoan, cũng như Phạm Ðình Chương, cũng như Mai Thảo, cũng như Thanh Nam, cũng như Ngọc Dũng. Trong trí mình, tôi chưa hề cử hành tang lễ cho một ai hết, tôi chưa hề làm đám ma cho một ai hết.

Tôi không còn cô độc! Khi gào lên như vậy, Hoàng Ðế có chắc không? Trong những đêm đen đặc mịt mù tù đày ở Bắc Việt, có khi nào nhà thơ mò mẫm đá lạnh dưới lưng mà rùng mình trong quạnh quẽ? Tôi biết những người khóc lẻ loi, không nguôi một phút. Ðau đớn! Lệ là những viên đá xanh. Hoặc những hôm trời bão tuyết tầm tã ở Minnesota, ngồi rất một mình bên ly rượu dở dang, Thanh Tâm Tuyền có rùng mình ớn lạnh nói nhỏ một mình trong đầu: “Tôi vẫn còn cô độc!”. Ngó xuống ly rượu lạnh lẽo, bỗng chợt thoáng hiện em về trong đáy cốc, nói cười như chuyện một đêm mơ. Xa lắm rồi em người mỗi ngả…

Nhưng bây giờ thì Thanh Tâm Tuyền đã có thể quả quyết: “Tôi không còn cô độc!”. Bởi lẽ bây giờ Thanh Tâm Tuyền đã có vĩnh viễn bên cạnh mình để mà khề khà chén chú chén anh những Vũ Khắc Khoan, những Mai Thảo, Phạm Ðình Chương, Thanh Nam, Ngọc Dũng. Chỉ xin đứt Hoàng Ðế một điều là Người chớ có cai trị mọi người bằng thơ tự ro của Người. Nếu được như vậy thì mai kia mốt nọ sẽ có thêm Thái Tuấn, Duy Thanh, Doãn Quốc Sỹ, Trần Thanh Hiệp, Tô Thùy Yên, Kiệt Tấn tới nhập bọn cho thêm xôm tụ, rậm đám. Tha hồ mà đập bồn đập bát! Ðọc tới đây chắc Thanh Tâm Tuyền cũng đành phải ngậm cười nơi chín suối.

Ngàn năm, ngàn năm… Bạch vân thiên tải không du du. Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản…

Kiệt Tấn
Bagnolet, Pháp, tháng Ba 2006

(Trong bài này, thơ Thanh Tâm Tuyền trích từ các bài: “Phục sinh”, “Tù binh”, “Lệ đá xanh”, “Chiều cuối năm qua xóm nghèo”, “Ngã trên núi khi đi vác nứa”. Thơ trích khác là của Nguyễn Bính, Ðinh Hùng, Quang Dũng, Thôi Hiệu.)

[1]Người xưa cỡi hạc đến nơi đâu
Hoàng Hạc còn đây một mái lầu
Chiều tối trông vời đâu cố quận?
Trên sông khói sóng giục ai sầu

Trần Trọng San dịch

HỘI NGỘ TƯƠNG TRI Ở NHATRANG

mocmienthao

12735939_968174483237925_616419196_n

Chút duyên hội ngộ tang bồng
Mượn câu thơ hát vang trong chiều tà
Nghiêng ly nhắp ngụm trăng ngà
Người, thơ như cũng la đà khói sương

Uống nào!
Cạn hết hồ trường
Vớt hồn thơ bạc như sương khói nầy
Nghe trong một cuộc tỉnh say
Chút tình thơ đã rót đầy trong nhau.

Mộc Miên Thảo