NHÀ TÙ: CHƯƠNG 9

Không phải là Ba Trung nữa. Cũng không phải là phòng làm việc của Ba Trung. Tôi đang “đương đầu” với người công an chấp pháp khác. Y nói tiếng Nghệ Tĩnh nặng nề. Trên bàn của y không có cà phê, không có thuốc lá. Những ngày “trăng mật” của tôi và công an chấp pháp, hình như, chấm dứt. Tôi đã đụng độ 4 chấp pháp tại Sở Công An Thành Phố. Người thứ nhất, biểu tượng của miền Nam, chẳng bao giờ muốn bị nhuộm đỏ linh hồn, đã chỉ điểm cho tôi biết chỗ nào là bom, mìn, chông, bẫy trên tử đạo và triết lý sống đời tù cộng sản. Người thứ hai, biểu tượng của nằm vùng láu cá, muốn chứng tỏ mình cao thượng. Người thứ ba, biểu tượng của nền văn nghệ công an. Và người thứ tư. Để xem, y là biểu tượng cái gì.

– Anh làm tự khai.

– Tôi đã làm.

– Tôi bảo anh làm tự khai với tôi.

– Khai gì nữa? Tôi đang khai dang dở thì người ta ngừng lại mạn đàm. Tôi muốn coi bản tự khai dang dở để khai tiếp.

– Tôi là chấp pháp mới của anh, mọi việc bắt đầu lại.

– Nhưng khai gi?

– Quá trình, cuộc đời anh từ mười tuổi đến ngày bị bắt. Anh nhập bằng cái sơ yếu lý lịch của anh.

Y đem cho tôi 10 tờ giấy khổ giấy in roneo và cây Bic:

– Trang nào xóa bỏ, anh không được phép xé, phải nộp đủ mười tờ. Anh nhớ chưa?

– Tôi nhớ.

– Yêu cầu của tôi là mỗi ngày anh viết 20 trang: sáng 10, chiều 10.

– Tôi không phải là máy viết.

– Ngày xưa, một ngày anh viết cho mấy nhật báo? Anh tự hào viết nhanh nhất nước mà.

– Viết nhanh vì không cần suy nghĩ.

– Tự khai không cần suy nghĩ.

– Không suy nghĩ là thiếu thành khẩn.

Tôi hiểu ngay thủ đoạn của tên chấp pháp này. Y muốn tôi viết nhanh là y đã giăng bẫy. “Chúng ta có nhiều thời giờ”. Tôi nhớ Ba Trung. Và tôi không cần phí lời nữa. Tôi cầm bút, viết “phăng-tê-di” hai chữ Tự khai. Trong hàng chục chữ ghép sau chữ tự như tự do, tự hào, tự lực, tự lập, tự cường, tự chủ, tự vấn … tôi thấy có tự sát là bi đát nhất mà vẫn kém não nùng hơn tự thú, tự kiểm, tự khai. Tự khai – tự thú – tự kiểm. Nhà thơ Paul Éluard đã viết tự do trên lá, trên hoa, trên bảng đen, trong trái tim … Tôi viết tự khai trên cái gì, trong cái gì? Nhà văn chúng ta không bị công sản bắt về các tội hình sự; chúng ta không hề là công cụ của chế độ, của thế lực nào; chúng ta không đảng phải đối nghịch ý thức hệ, tư tưởng; chúng ta đã là những con người của lương tâm. Và thế, hơn cả mọi thứ … giai cấp tù, nhà văn là tù nhân của lương tâm (prisonnier de conscience). Cộng sản bỏ tù cả lương tâm. Họ không có lương tâm, chủ nghĩa của họ không có lương tâm. Họ đã giết chết thi sĩ của tình yêu, của lương tri con người là Vũ Hoàng Chương. Họ đã đầy thi sĩ làm thơ tả giọt nước mắt của người yêu là Thế Viên. Họ đã còng chân xích tay người viết cổ tích là Doãn Quốc Sĩ. Họ đã bắt cả lương tâm phải tự khai để truy nã niềm bí ẩn của lương tâm. Đó là cộng sản. Còn những kẻ không hề bị tự khai, nhưng luôn luôn tự nhận mình ấm áp lương tâm, cũng học đòi phán xét tù nhân của lương tâm. Trên cái gì, trong cái gì, tôi đã viết tự khai? Trên cay đắng phận người và trong cô đơn cõi đời. Trên cái gì, trong cái gì, tôi cần nói, sắp nói, sẽ nói với bọn học đòi phán xét tù nhân của lương tâm? Hãy để câu trả lời đó.

Như Tử Trường Tư Mã Thiên ôm nỗi đau dao hoạn hèn mọn. Ôi, 2000 năm cũ, lương tâm kẻ sĩ Tư Mã Thiên lên tiếng – Tiếng nói duy nhất của thời đại – vì nỗi oan khiên của Lý Lăng, của con người. Lương tâm vằng vặc trăng sao ấy đã chịu nhục hình. Bằng hữu Tử Trường đâu, chiến hữu Tử Trường đâu, tri kỷ Tử Trường đâu? Họ đứng trước mặt Tử Trường. Xanh mặt vì sợ bạo quyền, không dám bênh Tử Trường. Run rẩy vì sợ bổng lộc, không dám cứu Tử Trường. Trơ mắt ếch nhìn kẻ sĩ thọ hình nhục nhã. Rồi phán xét mỉa mai: Tại sao chẳng can đảm chết đi, tại sao cam đành bị thiến. Cũng may, Tư Mã Thiên không bị tù, không bị tập trung lao cải. Chứ không sẽ: Thằng Tư Mã Thiên làm ăng-ten, bán bè bạn, quỳ gối bò đi lãnh khẩu phần, xí gạt anh em nửa đêm dậy nấu nước pha cà phê rồi uống một mình, bị chọc thủng một mắt rồi! Vân vân và vân vân … Tư Mã Thiên cô độc, đem tâm sự nói với người xưa. Và cái tồn tại, cái để lại ở cuối đường hệ lụy, cái làm phục sinh sự chết là Sử Ký Tư Mã Thiên. Tư Mã Thiên vĩnh cửu, lúc nào cũng gần gủi con người. Bằng tác phẩm. Bọn phán quan đâu rồi nhỉ? Chúng nó chết rửa xác, chẳng còn ai thèm nhớ, thèm biết chúng nó sau khi chúng nó “phản tỉnh” và đã thực hiện những số báo tưởng niệm, tưởng mộ, đã quyên tiền bỏ túi và tuyên bố giúp vợ con kẻ sĩ tù nhân của lương tâm. 2000 ngàn năm cũ mà ngỡ gần nhau gang tấc. Tự tình khúc của Cao Ba Nhạ có làm xúc động lũ sâu bọ triều đình nhà Nguyễn đâu. Đã hiểu thế thì cũng chẳng cần Tân tự tình khúc mai này. Có lẽ, Ru khúc, Sầu khúc, Tình khúc đẹp hơn. Và, trong khi, ngậm trái đắng để làm gì hơn Sử Ký của Tư Mã Thiên, hãy ngâm thơ Nguyễn Bá Trác: “Chỉ ta ta biết, lòng ta ta hay”. Hoặc cùng bằng hữu ở Paris, đêm đêm, vật ngã vài chai hồng tửu, nghe Quỳnh Dao thở nhẹ:

Thôi, đành ru ta với ta

bằng xót xa

đêm già,

ngục đá

Rượu mềm môi nuối tiếc kiêu sa phôi pha

Ở dĩ vãng hiện về rét mướt phồn hoa…

Rồi đọc thơ Nguyễn Bính:

Thế nhân mắt trắng như ngân nhũ

Ta với nhà ngươi cả tiếng cười

Sau cái sơ yếu lý lịch, tôi ngừng lại. Tên chấp pháp – cứ như võ hiệp Kim Dung, chấp pháp, trưởng lão chấp pháp, mã đầu chấp pháp – ngồi hút thuốc, nhìn tôi viết. Y không mời tôi một điếu. Đúng là bản chất vắt chày ra nước của quê hương Hồ Chủ Tịch vĩ đại! Hay y cố tình thay đổi cung cách đối xử?

– Tôi nghĩ viết lâu rồi, không thể viết đúng yêu cầu của anh được.

– Phải khắc phục mọi khó khăn.

– Tôi không biết khắc phục.

– Thì tuân hành mệnh lệnh. Anh đọc nội quy chưa?

– Tôi đã đọc.

Nội quy trại giam, Điều 1: “Can phạm phải triệt để tuân hành chỉ thị và mệnh lệnh của chiến sĩ và cán bộ trong trại giam”.

– Vậy tuân hành đi.

Tôi tuân hành. Tôi cho chữ bò chậm chạp trên trang giấy. Tôi viết như học trò viết “Ecriture”. Tôi bỏ hàng thừa. Tôi để lề rộng. Đến giờ cơm trưa, chỉ mới được hai trang.

– Viết xong 10 trang thì anh về dùng cơm.

Y ngồi ì. Tôi ngồi ì. Không phải tôi không viết nổi mà là tôi chán viết. Chắc chắn, tôi tìm cách đổi chấp pháp. Với chúng tôi và với tất cả can phạm phản động hiện hành (những người chống cộng sau 30-4-1975), hễ chấp pháp làm việc không nổi hoặc không đủ khả năng làm việc với can phạm, Phòng Chấp Pháp thay thế công an chấp pháp khác. Can phạm có quyền nói thẳng với chấp pháp: “Tôi không thể làm việc với anh”. Chế độ Nguyễn Văn Thiệu cũng không hề đánh đập, tra tấn nhà văn, nhà báo khi họ bị bắt về bất cứ tội gì. Nhiều can phạm phản động hiện hành bị tra tấn bằng các kiểu còng, khóa ở đề lao Gia Định, bị đánh ở Cục Quân Báo (Tổng Nha Cảnh Sắt cũ) và trại Tô Hiến Thành. Những nhà văn bị bắt trong chiến dịch 2-4-1976 không hề bị đánh thẩm vấn ở Sở Công An, đề lao Gia Định, không hề bị chửi rủa tàn tệ. Đập bàn, quát tháo là căng nhất. Đưa vào cachot là biện pháp cuối cùng. Nắm được cái thế khỏi sợ ăn đòn, tôi bèn viết hoa lá cành về thời tiểu học. Ba Trung đã ra lệnh cho tôi: “Anh bỏ bớt râu ria thời thơ ấu”. Tôi quên Ba Trung, râu ria với tên chấp pháp Nghệ Tĩnh. Đoạn đời lớp ba ở huyện Phụ Dực, bị ỉa đùn trong lớp, tôi miêu tả kỹ lưỡng. Ông đói, mày cũng đói. Máy thèm ăn chứ ông không thèm ăn. Cơm tù hấp dẫn gì! Đúng năm trang chữ ruồi bò, y bảo tôi:

– Nghỉ, chiều viết tiếp.

– Chưa đủ 10 trang.

– Tôi bảo nghỉ!

– Tôi sợ buổi chiều không đủ 20 trang.

– Tôi bảo nghỉ. Đó là mệnh lệnh!

Bao tử của y chỉ thị y ban mệnh lệnh. Ăn cơm tập thể mà trễ bữa thì chỉ còn vét đĩa. Đã có ý đồ, tôi năn nỉ y:

– Tôi đang hăng say viết.

– Nghỉ!

Y dằng bút khỏi tay tôi. Rồi y kêu quản giáo dẫn tôi về phòng. Buổi chiều, y theo quản giáo đến tận phòng đón tôi ra làm việc. Cũng như buổi sáng, y ngồi hút thuốc, không thèm mời tôi. Tiếp tục quãng đời thơ ấu, tôi sang trang thứ sáu. Vẫn cung cách lề rộng, hàng thưa, chữ ruồi bò, tôi viết tự khai, viết những gì mà Ba Trung bắt tôi viết. Người chấp pháp miền Nam đã dặn dò tôi: “Anh sẽ phải làm tự khai nhiều lần. Vậy, khi viết phải sáng suốt mà nhớ những gì mình đã viết”. Tôi rất sáng suốt, lúc này, lúc mà tôi viết những gì tôi đã viết theo lệnh của Ba Trung. Được thêm hai trang, chấp pháp xứ Nghệ ra lệnh nghỉ. Y nhìn tôi, cười ruồi, gật gù:

– Anh thèm hút một điếu thuốc không?

Tôi có thói quen hễ viết là phải hút thuốc lá. Và hút liên miên. Ở nhà tù cộng sản, khi công an gọi ra làm việc, tù nhân không được phép mang theo thuốc lá và không được phép hút nếu công an không cho phép. Gã chấp pháp xứ Nghệ đã nghiên cứu kỹ lưỡng thói quen của tôi, y bắt tôi thèm hút để ban phát một ân huệ này, y sẽ đánh giá chúng tôi như những tên hèn mọn. Tôi chưa kịp trả lời, y nói tiếp:

– Anh Nguyễn Mạnh Côn rất chân thật. Anh ta thèm hút thuốc phiện, chúng tôi đem bàn đèn vào cho anh ta hút.

Tôi lặng thinh. Gã công an xứ Nghệ đã móc gói thuốc lá khỏi túi, đặt giữa bàn với hộp diêm Thống Nhất.

– Anh Côn viết tự khai thành khẩn lắm. Có đoạn anh ta chạy tội là đã không huấn luyện Hoàng Anh Tuấn, Nhã Ca và anh chống cộng sản. Các nhà văn trẻ của Sàigòn đã phản bội Nguyễn Mạnh Côn, phản thầy, chống cộng sản.

Tôi bắt đầu khó chịu.

– Anh Côn khai hết những điều không lấy gì làm đẹp đẽ về bản thân anh và nhiều người khác.

Tôi chợt nhớ thủ đoạn gây mâu thuẫn của công sản mà tôi đã đọc trong cuốn sách nào. Sự khó chịu sơ khởi dành cho anh Côn bỗng tiêu tan ngay. Người ta đã chọn anh Nguyễn Mạnh Côn là người quen tôi nhất để tạo niềm thù hận giữa tôi và anh Côn. Và tôi sẽ không ngần ngại trả đũa anh Côn. Và người ta sẽ nắm vững những gì anh Côn muốn dấu diếm. Đem bàn đèn vào nhà tù cho tù nhân hút thuốc phiện là điều không tưởng. Và nữa, chưa từng bao giờ anh Côn huấn luyện chúng tôi viết văn và chống cộng sản. Gã công an xứ Nghệ dừng ở đó. Y nhắc lại câu hỏi:

– Anh thèm hút một điếu thuốc không?

– Không. Tôi đáp.

– Hút đi, tôi chiêu đãi anh.

Y cầm gói thuốc lên:

– Tại sao anh khước từ?

Tôi mỉm cười:

– Vì tôi không thèm.

– Tại sao anh không thèm?

– Tôi đang được Đảng giáo dục. Thưa anh, bài học tập đầu tiên của tôi là khắc phuc mọi thèm muốn.

– Tốt.

Y bỏ gói thuốc vào túi.

– Chúng ta mạn đàm thân mật nhé?

Tôi nói:

– Tùy ý anh.

Y tỏ vẻ bực tức một cách rất … chân tình:

– Tại sao tùy ý tôi?

Tôi cũng tỏ ra rất chân tình:

– Anh Ba Trung khẳng định chúng tôi đang ở tù. Ở tù thì không được phép tùy ý mình.

Y cười:

– Anh ở tù với Đảng, với Cách Mạng, không ở tù vì tôi, với tôi. Đồng chí Ba Trung hơi lệch lạc tư tưởng. Bỏ cái hiện tại ở tù của anh đi, anh Duyên Anh. Ta nói chuyện khác.

Y chuyển đòn:

– Tôi đã đọc anh, đọc thật kỹ. Anh kiêu ngạo lắm. Viết phóng sự nguyền rủa cộng sản và bêu rếu lãnh tụ của chúng tôi, anh bảo anh viết bằng chân. Viết tiểu thuyết nham nhở, anh bảo anh viết bằng tay trái. Viết truyện trẻ con, anh bảo anh viết bằng tay phải. Viết tự khai, anh viết bằng gì?

Gã công an chấp pháp xứ Nghệ dồn tôi vào thế bí. Tôi trả lời thế nào? Nếu hôm nay, ngồi ở quán Đào Viên số 82 Rue Beaudricourt quận 13, Paris của người đẹp Lan Phương, bất cứ một thằng cộng sản nào hỏi câu tương tự, tôi sẽ đầy đủ can đảm và dũng cảm trả lời: “Tôi viết tự khai bằng củ cà-rốt của tôi”! Nhưng tháng 5 năm 1976, tôi nằm bẹp trong xà lim của Sở Công An Nội Chính, sự cao ngao của tôi mềm xìu. Tôi đã hèn mọn, tầm thường. Và tôi buồn bã nói:

– Anh hiểu tôi khó trả lời, hỏi mà chi?

– Hỏi để biết mà đánh giá tự khai của anh.

Gã chấp pháp xứ Nghệ xua tay:

– Thôi, anh đừng trả lời câu hỏi ấy nữa. Tôi trấn áp anh, tôi nhận khuyết điểm.

Nhìn tôi. Cái vẽ hãm tài trên khuôn mặt buổi sáng của y biến mất. Như thể, y đã lột mặt. Giọng nói của y, tuy trọ trẹ, mà đầy tình cảm:

– Anh Duyên Anh ạ, tôi vẫn còn ấm ức truyện dài mang tính cách tự thuật Trái chín rấm của anh.

Tôi chột dạ. Thằng này đọc tôi kỹ quá.

– Tôi cho sau Con sáo của em tôi, Cái diều, Nắng chiều quê nội, Đại dương trong lòng con ốc nhỏ là những kế tiếp xem TRÁI CHÍN RẤM có ngọt ngon bằng trái chín cây. Tại sao anh không viết thêm?

– Vì nó không thể chín.

– Nói thật đi, vì anh lấy vợ địa chủ và anh quên giai cấp của anh. Tôi biết, thằng Hữu sẽ đưa con Mai, em gái nó, vào đời khi bố mẹ nó chết. Anh em nó sẽ ê chề trong đời sống tư sản mà ông chú Nghiêm của nó là biểu tượng khốn kiếp. Cuối cùng, sẽ giống thằng Vọng, Hữu sẽ đi tìm cách mạng. Anh sẽ hơn mọi nhà văn cách mạng nếu dòng văn chương của anh không bị cắt đứt bởi giai cấp cố hữu của anh. Bản chất của anh là vô sản. Chưa muộn gì đối với anh. Anh có thể trở về sông Trà Lý. Xa dòng sông tình nghĩa ấy, anh phiêu lưu quá đà. Anh viết truyện Chiến tranh mèo chuột rồi đổi thành Rồi hết chiến tranh, anh phản bội giai cấp đích thực của anh, anh gọi giai cấp vô sản là chuột, mỉa mai cách mạng vô sản là thiếu chính nghĩa và tạo chính nghĩa cho bù nhìn mèo và thực dân phú ông. Anh nghĩ Đảng không quan tâm vụ Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ bắt cái bộ Dân Vận của ngụy quyền cấm anh viết phóng sự Tiền Mẽo, Sến Việt và ký Thương Sinh trên nhật báo Sống à? Anh bơ vơ, anh lạc lõng, anh tự nhận “Cộng sản không tha, quốc gia không dung”. Cộng sản nào không tha anh? Cộng sản dung anh. Anh về suy nghĩ đi …

Gã chấp pháp xứ Nghệ dẫn tôi về phòng. Y đã chơi tôi một đòn cân não, khiến tôi thao thức không ngủ suốt đêm. Y biết tôi nhiều mà tôi hoàn toàn không biết y. Cũng như những người đã chống cộng, đang chống cộng ầm ỹ chẳng hề biết tí ti gì về Ủy Viên Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam. Mãi mãi, người ta đánh giá cộng sản qua mấy chú bộ đội khờ khạo, nói ngọng. Con đường tù, con đường hệ lụy, xem chừng, còn hứa hẹn thật dài. Dương Nghiễm Mẫu đã dọn sẵn 12 năm. Tác giả Cũng đành không thích đếm những ngày tù, tháng tù. Tôi yêu Dương Nghiễm Mậu. Và tôi nói Dương Nghiễm Mẫu là nhà văn tôi yêu nhất. Cộng sản biết tôi nhiều hơn tôi biết tôi.

Ít độc giả thân mến nào của tôi nhắc tới truyện dài TRÁI CHÍN RẤM mà Con sáo của em tôi là chương nhất. Truyện dài này mang nhiều dáng dấp tự truyện. Tôi chỉ muốn diễn tả lòng hy sinh cao quý của người anh dành cho em gái. Hữu sẽ đưa em vào đời. Nó quên cả xuân đời của nó. Nó chịu đựng mọi đau đớn, moi nghịch cảnh. Khi tận mắt chứng kiến hạnh phúc của em, Hữu mới nghĩ đến mình. Thì nó đã héo hắt. Đã cuối thu. Sở dĩ tôi bỏ rơi TRÁI CHÍN RẤM vì không thể kéo dài một điệu buồn bã mấy trăm trang sách. Gã chấp pháp xứ Nghệ đã đổ vạ vợ tôi làm tôi quên giai cấp vô sản. Tôi đã chống đối sự quy định giai cấp cho con người. Nhưng tôi không hiểu tại sao cộng sản cứ muốn tôi xác nhận tôi thuộc gia cấp vô sản. Cộng sản bảo dung tôi và cộng sản bắt tôi, giam nhốt tôi nhục nhã. Và họ bảo tôi về suy nghĩ.

Không bao giờ tôi còn được gặp người chấp pháp xứ Nghệ nữa. Y lại bỏ rơi tôi. Cho đến một buổi chiều cuối tháng 6 năm 1976, cai ngục mở của với tờ danh sách can phạm đánh máy.

– Những người có tên sau đây…

Phòng B của tôi, lần lượt Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Hữu Hiệu, Hồng Dương, Đặng Hải Sơn và tôi, hành trang tù, rời khỏi phòng. Chúng tôi xếp hàng đôi với nhiều can phạm khác của các phòng. Ngồi xuống theo mệnh lệnh, chúng tôi chờ đợi. Chưa hiểu thân phận mình sẽ trôi dạt tới cái địa chỉ khốn kiếp nào của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc, vừa mới thành công vĩ đại bầu cử quốc hội cả nước. Tôi, thật sự, mất hết từ đêm 8-4-1976. Tôi còn gì bây giờ nhỉ? Còn chứ, tôi an ủi tôi: Ta còn nhà tù!

– Mình đi đâu, Mậu?

– Có lẽ về đề lao Gia Định hoặc sang Chí Hòa. Đi đâu thì cũng là đi tù, ông ạ!

Bốn giờ, chúng tôi nghe cai ngục đọc danh sách lần chót. Rồi đứng dậy, hai người một cái còng nhãn hiệu USA, cộng sản còng tay chúng tôi, đẩy chúng tôi lên xe bít bùng. Tôi nhớ, năm 20 tuổi, xem một cuốn phim nhan đề “Ma vie commence en Malaisie”. Cuốn phim mô tả thân phận một phụ nữ Anh trong lửa đạn và sự chiếm đóng của Nhật ở Mã Lai. Người ta thường bắt đầu cuộc sống đích thực bằng nỗi khổ đích thực. Dường như, chỉ bằng nỗi khổ mà con người kinh quá, nó mới khám phá nổi những bí ẩn của đời sống và biết bắt đầu cuộc sống của mình tự đoạn nào. Một hôm, tôi gặp Bùi Duy Tâm ở ngã tư Phan Đình Phùng – Trương Minh Giảng, Sàigòn. Anh ta vừa từ trại cải tạo ra. Anh ta nói với tôi: “Bây giờ, chúng ta nhìn rõ cả trái đất. Song tới phút này thì cũng đáng kể là tới.” Định mệnh đưa tôi đi xa hơn cái tới đáng kể của bạn tôi. Tôi bị còng tay dẫn vào Sở Công An. Ngót hai tháng trời nằm đây, tôi đã tra vấn tôi không ngừng. Tôi được thảnh thơi nhìn lại 15 năm viết tiểu thuyết của tôi. Chữ nghĩa của tôi đã không làm tôi xấu hổ. Chỉ có niềm ân hận là tôi chưa xuất bản bộ truyện 1200 trang Vẻ buồn tỉnh lỵ. Cuốn cuối cùng của bộ truyện vẽ cảnh đời đau đớn, ngơ ngác 1954, y hệt cảnh đời bi đát, não nề 1975. Toàn bộ của nó là lịch sử 10 năm (1944 – 1954) dưới mắt và trong ý nghĩa tuổi thơ trôi nổi theo vận mệnh dân tộc. Cách mạng và chiến tranh. Hòa bình và thù hận. Mỗi đổ vỡ đều có thể xây dựng lại, trừ nỗi băng hoại tình người. Tôi rất tiếc đã mất cơ hội trở thành nhà văn tiên tri. “Nếu cần thì ta làm lại tất cả”. Từ tra vấn trong cô đơn, tôi chợt thấy tâm hồn tôi có một chuyển mùa kỳ lạ. Và tôi bỗng thèm sống, khao khát sống. Tôi muốn bắt đầu cuộc sống của tôi ở Một địa chỉ chung của chủ nghĩa. Cuộc phiêu lưu đi tìm ý nghĩa cho đời sống của tôi còn dài, vô hạn định. Nỗi thống khổ đầu tay của tôi là một thử thách nhẹ so với nỗi thống khổ của các văn hào thế giới. Nỗi thống khổ mà các nhà văn lừng lẫy của nhân loại đã trực diện, đã đương đầu, đã kiên nhẫn chịu đựng, đã phấn đấu im lặng ví như trái núi. Nỗi thống khổ tôi đang ngậm chỉ là cái móng tay. Cái móng tay chớ vội ồn ào khi trái núi nín thinh, bình thản liếm máu trên vết thương của mình mà cống hiến cho đời sống những ý nghĩa tuyệt với về tình yêu và hạnh phúc.

Trước đây, tuyệt nhiên tôi không có tham vọng văn chương. Hoặc nếu người ta bắt tôi phải công nhận tôi có tham vọng văn chương thì tham vọng văn chương ấy là thứ tham vọng giới hạn bằng vong đai biên giới quốc gia. Lúc này, lúc tay tôi đang đeo còng chế tạo tại USA, tham vọng văn chương của tôi cuồn cuộn, sóng gió, bão táp. Tôi thèm trả lời người cộng sản một câu nói đầy miệt thị “Thế giới đâu đã đọc sách của các anh”! Phải, thế giới chưa hề biết chúng tôi như những nhà văn rực rỡ nhân bản. Thế giới chỉ biết chúng tôi, chỉ nghĩ về chúng tôi như Nguyễn Ngọc Nghĩa ăn cắp tượng Chàm, như Phạm Văn Đổng mở sòng bạc, chứa thổ đổ hồ, như Hoàng Đức Nhã ngu si, nham nhở, như Nguyễn Văn Thiệu hèn mọn, như Đặng Văn Quang đốn mạt và bầy chồn cáo tham nhũng, lũ tướng lãnh đào ngũ trước lệnh đầu hàng, như bọn y sĩ ăn cắp… Thế giới, đáng lẽ, phải biết Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Hải Chí, Cung Tiến, Phạm Duy, Thanh Tâm Tuyền, Võ Hồng, Doãn Quốc Sĩ, Hoàng Anh Tuấn, Phạm Thiên Thư… Nhưng, với thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ say mê “Cô Gái Đồ Long”, với tổng thống Nguyễn Văn Thiệu say mê “Căn nhà ngoại ô”, với Bộ trưởng Ngô Khắc Tỉnh mê hái hoa và vì mê gái chạy trốn không kịp, thế giới, hôm nay, vẫn tưởng miền Nam không có nhà văn lỗi lạc như miền Bắc. Miền Nam chỉ biết làm chiến tranh, làm giàu, không biết làm văn học nghệ thuật đúng nghĩa!

Tôi đã leo lên xe. Chúng tôi đã leo lên xe. Chuyến xe đời chập chùng hệ lụy. Tấm vải bố trùm kín mít. Xe nổ máy. Rồi lăn bánh. Giã từ Sở Công An, giã từ một địa chỉ chung của chủ nghĩa. Tôi đi tới một địa chỉ khác. Giã từ và cám ơn những cay đắng, nghẹn ngào vỡ lòng. Cám ơn nó đã cho tôi bắt đầu cuộc sống và tham vọng văn chương.

duyenanh_sign2

BÓNG

 

bóng 1

 như cách ấy
ngồi trong bóng tối
đừng bật đèn
hãy để ngọn nến tự sáng
hay để ngày đi qua đêm

như cách ấy
lặng đi và đừng ngủ
những cơn đau cấu cào dọc bờ tường
sẽ buông lời phẫn nộ

như cách ấy
nuốt chửng thâm u bằng bóng tối
bóng tối là thâm u
đừng biện minh cho bất cứ điều gì
dù ngang ngược

như cách ấy
sinh ra , lay lắt tồn tại và mất đi
những ngày những người những đời chưa bao giờ được sống

 

Bóng 2

 đến
và dịch chuyển
bằng những bước chân không lối thoát
sự trung thành tối nghĩa
buộc ràng nhau
ở nơi chốn không có an nhiên
những ẩn ức không màu
điềm nhiên trú ngụ
đường siêu âm đồng quy
trên hai tay
bưng lấy giọt nước mắt nửa khuya

đến và ở lại
bằng sự bế tắc
biết không thoát khỏi muôn trùng
thì
đừng bật đèn
đừng đốt nến
khi cơn đau không thể sẻ chia
dù với
thì hãy nằm xuống
rồi cũng sẽ rời nhau mà đi.

 

 

 

bóng 3

đêm vô thanh không tiếng gọi
tôi nhìn tôi qua lổ ước thề bồi
cánh chim ngày không đập đậy
tôi ruồng rẫy chính tôi

đêm vô âm thăm thẳm
lảng vảng rìa cơn bão vô hồi
trốt gió tung cuộn ngầm xoáy
tôi đày đoạ tôi

đêm vô ngôn sũng màn trời ướt
tôi co ro cuộn thân tôi
hoa mạn đà là ảo ảnh
trăng khuya tử nạn trên đồi
tôi nhìn tôi mùa vô dụng
phế tích thời gian trôi

đêm rỉ hoen ngược tìm bóng
vô thanh vô âm tìm vô ngôn
từ lòng bàn tay héo
tôi thả lên trời những thông điệp u buồn
đáp lại tôi không tiếng vọng
tôi láp dáp tìm mình trong hoang vu

đêm ngóng gió về qua phố
chỉ lặng im sinh sôi
tôi ngược đãi tôi cùng tận
nghe mùa sám hối rối bời

thi hài đêm trổ mộng
sần sùi hạt lệ vô phần
tôi mắc cạn bờ huyễn tưởng,
bóng tìm đêm vô căn

đêm ngưng đọng từng giọt gió
rít thiên hà xa xăm
tôi ngưng đọng tôi vết xước
cào xới những bặt âm
mùa vọng lành níu giữ
đêm vô hình trăm năm

 

bóng 4

dẫu bàn tay đã cố với
vẫn không chạm được
hạnh phúc vốn chỉ là thứ
nhập nhằng xanh xao

dẫu mùa mưa có dài hơn
bàn tay cũng khô
không như nước mắt thiếu phụ
tràn đêm gió xô

dẫu đêm có đen như bóng
đổ ngập tường trắng
dẫu buồn có sâu như đêm
rồi cũng nhạt màu

thời gian quay ngược trở lại
em rồi có về
lựa chọn cho mình hồi ức
khác ngày hôm qua?

 

 bóng 5

không phải thơ đâu em
chỉ là lời nguyện đêm tha thiết
không phải sáng mai nào cũng trong veo
như sáng nay gió về vẩn đục
lời kinh rớt xuống lũng oan cừu

không phải đau đâu em
chỉ là cơn mơ nước mắt
bên thềm câu mớ rớt à hời
cơn đau vừa đập cánh
bay lên đỉnh tinh khôi

không có yêu đâu em
lời hi sinh là lừa dối
câu chứng trong giáo đường
Chúa không về tha tội
thiên thần bỏ địa đàng
vắng bóng chung thân

không phải tôi
trong đêm nay
chỉ có lời thống hối
cơn đau cũng bị dối lừa
dưới mồ sâu
tăm tối
mặt người.

Phương Uy

THÌ THẦM EM VÀ DÒNG SÔNG

Em không về lại bến sông
Chiều muộn trót thương giọt nắng
Thấp thoáng bóng vời xa…. một nẻo đường trần
Kí ức ta vở ra như hạt bụi
Thì thôi!
Một đời biệt li buồn đau ơi cố nhân

Ừ nhỉ! nghĩ mà thương!
Mấy cánh hoa bằng lăng đầu mùa hạ
Như hỏi han người có bận bịu lòng với nỗi nhớ mênh mông.
Bất chợt lòng se thắt bên khoảng không màu tím
Quá khứ lùi xa trong em

Bỗng dưng
Em bỏ lại dòng sông
Mênh mang lời ru xưa neo đậu
Quên ngày về nâng niu mùa hoa.
Chùng nhớ
Em xòe tay nắn nót câu thơ 
Tóc chưa rối một đường duyên
Khép lòng chờ đợi
Như dáng tinh khôi xưa mở khép một đường tơ

Không hẹn với đất trời mùa bằng lăng vẫn nở
Nghìn trùng khua vang lời tình tự đôi bờ
Một ngày như không nhau em buông câu đa tạ
Cám ơn đời !

Ta có nhau như mãi một giấc mơ…

Hoàng Chẩm

NHÀ TÙ: CHƯƠNG 8

 

– Anh đã suy nghĩ kỹ chưa?

– Rồi.

– Anh suy nghĩ cái gì?

– Sự viết lại.

– Không, tôi muốn, trước hết, anh suy nghĩ về gia đình anh, cha mẹ anh, ông bà anh, giai cấp anh, ấu thơ anh, niên thiếu anh. Ông nội anh là nhà nho nghèo nàn, khí tiết. Cha anh là một tiểu thương lận đận. Ấu thơ anh ảm đạm. Niên thiếu ánh khốn khổ. Anh, đáng lẽ, phải là vô sản. Tại sao anh phản bội giai cấp của anh? Tại sao anh chống cộng sản? Ngụy quyền cho anh gì? Nó thường xuyên đe dọa anh, ghét bỏ anh, bắt anh đi lính. Anh trốn chui trốn lủi. Anh tưởng nó tạo cơ hội để anh mua villa, tậu xe hơi à? Không, anh đã lao động khó nhọc bằng tài và sức của anh. Anh còn xứng đáng hưởng ngàn lần hơn nữa cơ.

Chẳng còn gì đau đớn, nhục nhã hơn bị một thằng mình khinh bỉ nó mà đành ngồi im nghe nó “lên lớp” mình. Tất cả đều cam đành như tôi. Hãy nói cho tôi biết vị anh hùng nào dám cãi lại, dám to tiếng với công an chấp pháp ở Sở Công An, ở đề lao Gia Định, ở khám Chí Hòa hay ở bất cứ trại tập trung nào! Sự can đảm, tinh thần bất khuất chỉ tìm thấy ở các buổi diễn thuyết của các ngục sĩ khi đã thực sự thoát khỏi móng vuốt của kẻ thù. Và cũng chỉ tìm thấy trong đòi hỏi của những anh không hề bị tù, không hề biết 90 ngày “tự khai” liên tiếp ra sao! Có nhiều kẻ đã bỏ qua cái tuổi “tri thiên mệnh”, tóc bạc phơ, răng rụng hết rồi mà vẫn khoái huyễn hoặc người khác bằng sự gian dối với chính mình. Tôi muốn thí dụ một ông trung tá đã giải ngũ từ lâu. Tôi sẽ không nêu tên ông ta để ông ta yên tâm nhắm mắt mà đi về với đất … Mỹ. Cộng sản không hề bắt sĩ quan giải ngũ đi trình diện học tập (Mãi đến khi Trung Quốc đánh phá miền Bắc, họ mới đến tận nhà còng sĩ quan giải ngũ vào tù). Vị trung tá nọ sợ quýnh lên, khăn gói đi trình diện, nghĩ rằng “đi sớm về sớm”. Cộng sản đưa vị ấy đi hơi xa và hơi lâu. Khi về, thoát nanh vuốt kẻ thù, vị ấy làm thơ ví mình như anh hùng, vì sự “đi sớm về sớm” như mối thù nặng nghìn cân. Và dọa nạt lung tung. Và làm phán quan xét tội những người mà vì ấy không hề ở chung với họ ngày nào. Vị ấy quên sờ gáy để nhớ bức chân dung Hồ Chí Minh và lời tự khai thành khẩn: “Đây là họa phẩm đắc ý nhất trong sự nghiệp của tôi”! Nhớ chưa, phán quan. Hay phải nhắc bức chân dung vẽ ở trại nào?

– Anh đã suy nghĩ bản chất giai cấp của anh chưa?

– Tôi ít nghĩ tới tôi.

– Anh không phải trí thức chứ?

– Đúng thế.

– Anh không phải địa chủ chứ?

– Đúng.

– Anh không phải tư sản chứ?

– Đúng.

– Anh không phải cường hào ác bá chứ?

– Đúng.

– Anh chưa nợ máu với nhân dân chứ?

– Chưa hề.

– Vậy anh tự quyết định thành phần giai cấp của anh đi.

– Tôi là tiểu tư sản.

– Sai rồi. Anh là vô sản. Anh là người vô sản đã quên bản chất của mình, rồi phản bội giai cấp mình. Anh nên tỉnh ngộ trở về với giai cấp.

– Muộn rồi, anh ạ.

– Tại sao muộn?

– Vì tôi luôn luôn nhận tôi là con người phi giai cấp. Con người lương thiện là đủ, cần gì khoác ao giai cấp cho nó?

– Anh hơn Nguyễn Mạnh Tường và Trần Văn Giàu không?

– Tôi không dám ví với ai cả.

– Đầu hàng giai cấp mới khó. Trở về giai cấp của mình thật dễ.

– Với tôi tất cả đều khó. Tôi mệt mỏi rồi, tôi chán nản rồi. Tôi không thiết gì nữa.

– Anh mệt thật à?

– Phải, tôi mệt!

– Vậy anh về nghỉ, hôm khác chúng ta làm việc.

Ba Trung nhận chỉ thị của ông Mai Chí Thọ, quay tôi như quay chong chóng. Nó bảo tôi suy nghĩ một chuyện, rồi nó xoáy vào tâm thần bấn loạn của tôi một chuyện khác. Nó bắt tôi nhận thuộc thành phần giai cấp vô sản để làm gì chứ? Quả thật, tôi cũng chẳng hiểu tôi thuộc thành phần nào, giai cấp nào trong xã hội loài người. Giai cấp là cái con mẹ gì? Đứa khốn nạn nào trên trái đất này đặt ra thành phần giai cấp? Thượng Đế sinh ra con người có bảo nó mày thuộc giai cấp nào đâu. Con người tự gây khó khăn cho con người. Không, chủ nghĩa ép buộc con người phải nhận rõ thành phần, giai cấp của mình. Đề thù hận thành phần, giai cấp khác. Điều khác lạ, đối với tôi, là người cộng sản không bắt tôi nhận bất cứ một tội gì khác, ở cái địa chỉ chung của chủ nghĩa nầy, ngoài giai cấp tôi. Họ bắt tôi truy nã thân phận tôi. Tôi đã truy nã. Không, nhất định, không bao giờ tôi là vô sản hay tư sản, trí thức hay công nhân. Tôi là một người bình đẳng với mọi người trên trái đất, đúng ý Thượng Đế. Nếu Thượng Đế – Thượng Đế là tôi trong ý nghĩ tôi sắp nói – phán: “Duyên Anh, mày thuộc giai cấp vô sản đấy!”, tôi sẽ bằng lòng khoác nhãn hiệu vô sản lên con người tôi. Ngoài ra, đừng ai nên qui định thành phần, giai cấp con người. Bởi vì, nó sẽ tương tự chủ trại chăn nuôi phân loại súc vật: Bò gầy, bò mập, bò nhiều sữa, bò ít sữa, bò đắt tiền, bò rẻ tiền, bò giống nọ, bò giống kia … Chủ nghĩa đâu phải chủ chăn nuôi. Có lẽ, chủ nghĩa cộng sản đã là chủ chăn nuôi từ lâu mà loài người chưa biết chăng. Chủ nghĩa đê tiện đó đã đánh dấu giai cấp bằng thù hận, như chủ trại chăn nuôi đã đánh dấu súc vật bằng sắt nung đỏ. Tôi không hiểu nổi cộng sản, không ai đoán nổi mưu đồ của cộng sản. Trò chơi của họ biến đổi khôn lường. Nhưng có một kiểu chơi của họ tôi đã hiểu và chỉ hiểu bằng kinh nghiệm rạc rài. Đó là cung cách đối xử, ngôn ngữ đối thoại của lãnh tụ. Đại lãnh tụ của họ, Phật hơn cả Phật, Chúa hơn cả Chúa. Nghiên cứu những danh ngôn Hồ Chí Minh sẽ thấy. Còn họ, luôn luôn cao thượng, lịch sự. Mỗi ông Ủy Viên Bộ Chính Trị Trung Ương là mỗi thi sĩ hiếu hỉ. Họ không làm mất lòng anh khi anh được gặp họ, dù anh là … nhà văn, nhà thơ, nhà báo phản động. Những gì anh muốn – dĩ nhiên đừng muốn tự do ra khỏi nhà tù – họ giải quyết liền, hiệu quả tức khắc. Anh đừng quên, sau khi chia tay anh, ho phủi tay bằng chỉ thị cấp thừa hành. Và họ sẽ sẵn sàng phê bình nghiêm khắc kẻ thừa hành chỉ thị của họ trước mặt anh. Cộng sản có một câu rửa tội tuyệt diệu: Hiện tượng chứ không phải bản chất. Hiện tượng bắt buộc khác bản chất. Bản chất của chủ nghĩa – của chế độ – tốt đẹp, lý tưởng. Hiện tượng của cán bộ – của đảng viên – sai lầm. Bản chất của Đảng quang vinh, rực rỡ. Đảng họp bàn, quyết định thủ tiêu trên 1 triệu 500 ngàn dân, mùa Cải Cách Ruộng Đất năm 1956. Lãnh tụ Hồ Chí Minh vẫn vĩ đại. Chỉ có hiện tượng Trường Chinh sai lầm, tạm mất chức Tổng Bí Thư, để Đảng … sửa sai. Vậy đối tượng chiến đấu của anh là ai? Là mấy cậu công an vênh váo, là mấy chú bộ đội khờ khạo, là mấy anh cán bộ ngớ ngẩn? Không, phải là lãnh tụ và thủ thuật của họ. Từ 30 năm nay, chúng ta chỉ nói cộng sản gian ác và cộng sản ngọng nghịu, ngu đần. Chúng ta quên không chứng mình cái gì, đứa nào biến con người thành ngọng nghịu, ngu đần. Để chúng ta chạy bán sống, bán chết. Bây giờ chúng ta vẫn tiếp tục mỉa mai những nạn nhân của chủ nghĩa, của lãnh tụ. Chúng ta dồn nạn nhân của chủ nghĩa, của những kẻ bị bóc lột tàn bạo nhất – của những kẻ chưa kịp sống, chưa biết mùi vị ái tình, của những kẻ tưởng hy sinh cho tổ quốc mà hóa ra đã hy sinh cho sự sống lâu của lãnh tụ. Mấy thế hệ bộ đội, công an chết rồi. Trường Chinh, Lê Duẩn, Tố Hữu, Phạm Văn Đồng, và toàn bộ gánh hát già nua Cộng Sản Việt Nam cứ sống nhe răng giả, cứ diện tuồng tích cũ mèm, cứ phì nộn tươi thịt thấm da, hồng môi, sáng mắt. Trong khi bộ đội gian khổ chiến trường Kampuchia, ăn rau muống nhiều quá, môi thâm sì, hốc hác, thảm hại. Anh muốn tiêu diệt chủ nghĩa và lãnh tụ hay muốn tiêu diệt con người? Tiêu diệt con người thì anh không có khả năng đâu, anh chỉ hò hét, lạc quyên, tranh giành. Anh sẽ là hiện tượng. Mà tiêu diệt chủ nghĩa, lãnh tụ thì anh phải cần con người. Anh phải vận dụng khả năng của anh nói cho con người thấm thía. Rằng, con người là công cụ thù hận của chủ nghĩa và lãnh tụ, con người ăn cỏ khô thành sữa để lãnh tụ vắt mà uống. Kế thượng sách để tiêu diệt cộng sản Việt Nam – tôi muốn nói với đồng bào của tôi thôi – là biết hoán chuyển vị thế của hiện tượngbản chất, là biết phơi bày chính xác thủ thuật và tâm địa của lãnh tụ, là biết lôi ra cái đốn mạt của chủ nghĩa, là biết tạo thế cho âm binh vây hãm phù thủy, là biết gây chia rẽ tan nát trong những “giai cấp cộng sản” – ít nhất, cộng sản Việt Nam có đến chín giai cấp hưởng thụ khác nhau và giai cấp đông nhất, hy sinh kỹ nhất, không được hưởng thụ là giai cấp bộ đội, chưa kể giai cấp giải phóng quân bị đào thải tức tưởi. Kế hạ sách là đem quân ít của mình đánh quân đông của kẻ thù. Còn thứ kế đem quân tưởng tượng đánh cộng sản và hô hoán những chiến công chiêm bao thì miễn bàn. Bởi đó là kế mưu sinh ô nhục như kẻ làm băng nhạc giả, in sách lậu của bọn gian manh.

Không để tôi nghĩ lâu, sáng hôm sau, Ba Trung gọi tôi ra. Vẫn gói Nông Nghiệp và ly cà phê đen trên bàn. Bên ngoài, mưa xối xả, hất cả vào chỗ tôi ngồi. Ba Trung không đóng cửa. Nguyên tắc làm việc của công an không đóng kín cửa phòng khi đối diện can phạm tay không bị còng. Nó sợ can phạm, bất chợt, hạ nó, áp đảo để vượt ngục.

– Anh Duyên Anh, người ta bảo anh khôn lắm.

– Người ta hay các anh?

– Bạn anh. Có những điều tôi kể ra sẽ làm anh sửng sốt. Bây giờ là phút nói thật, bởi vì, bây giờ, anh đã nằm gọn trong lưới cách mạng. Mọi người trong các anh, từ Doãn Quốc Sĩ, Dương Nghiễm Mậu, Nhã Ca, Mai Thảo … đều có hai cán bộ văn hóa của chúng tôi, ở cục R, nghiên cứu. Chúng tôi nghiên cứu các anh ở nội thành, ở R, ở Hà Nội. Anh có bao nhiêu bút hiệu, chúng tôi nắm hết. Kể cả những bút hiệu anh ký ở mục Nhìn xuống cuộc đời trên báo Tuổi Ngọc. Chúng tôi nghiên cứu bút pháp của các anh, diễn biến tư tưởng của các anh; chúng tôi theo dõi sinh hoạt của các anh, liên hệ giữa các anh. Tại sao chúng tôi dành nhiều công sức cho các anh thế? Vì chúng tôi sợ các anh, muốn có các anh. Vì các anh nguy hiểm, vì các anh bị ngụy quyền bạc đãi. Nghĩ thử coi, anh Duyên Anh, trong các anh, đã có ai được ngụy quyền dịch tác phẩm phổ biến ra nước ngoài? Ai trong các anh đi họp Văn Bút Quốc Tế được Nguyên Văn Thiệu trả tiền vé máy bay và tiền tiêu vặt? Cái ngu xuẩn của ngụy quyền là nó không biết kết hợp các anh thành một chiến tuyến văn hóa. Nếu nó kết hợp được, và các anh đừng chia rẽ nhóm, chửi bới lẫn nhau, chiến tranh còn kéo dài bất phân thắng bại và, có thể, chỗ anh đang nằm là chỗ của tôi. Nguyễn Khánh tuyên dương các anh làm chúng tôi hoảng hốt. Nó là thằng duy nhất biết sức mạnh của mỗi ngòi bút là một sư đoàn. Nó mới nói ngòi bút của nhà báo, chưa đề cập đến sức mạnh của nhà văn, của những người làm tư tưởng cuốn hút nhân dân.

Ba Trung dẫn tôi vào ngơ ngác mới. Lãnh đạo của nó đã dạy bảo nó huyễn hoặc tôi. Tôi sửng sốt thiệt tình. Tôi đâu dám tưởng tượng cộng sản đánh giá chúng tôi ghê gớm thế. Từ khởi sự cuộc đời văn chương, tôi đã nghĩ mình viết văn mua vui cho độc giả để mưu sinh. Hoàn toàn tôi không có tham vọng gì vào văn chương. Tôi thấy Nguyễn Du vĩ đại đã khép Truyện Kiều bằng hai câu bình dị và khiêm tốn:

Lời quê góp nhặt dông dài

Mua vui cũng được một vài trống canh

Tiền bối vĩ đại không hề “phi lộ” đao to búa lớn. Rằng, ta, Tố Như, làm văn chương vì mục đích này nọ. Hậu bối ễnh ương xem chừng khoái làm con bò văn học nghệ thuật. Đâu ngờ, cái sự mưu sinh bằng chữ nghĩa của mình lại được cả cộng sản lẫn quốc gia rình rập kỹ vậy. Cộng sản thì tôi đã biết ở Sở Công An. Quốc gia thì vừa biết khi sang Paris và gặp anh Phương Linh Châu. Ở Sàigòn, tôi chưa được quen anh Châu. Anh ta làm việc cho Trung Ương Tình Báo và đặc biệt theo rõi tôi. Anh cho biết, trong thân tình và việc đã qua rồi, anh quán triệt cá tính của tôi, từ cách ngồi viết ở tòa soạn đến cách ngồi uống cà phê ở vỉa hè, giờ giấc sinh hoạt, liên hệ bạn bè… Người được anh chị thỉ theo dõi tôi là chủ bút tuần báo Tuổi Ngọc. Tôi giật mình. Giật mình hơn, Trung Ương Tình Báo định bắt tôi và gài tôi vào cái thế phải làm việc cho họ với tư cách chủ bút một tờ báo của họ. Nhờ một sĩ quan già lục hồ sơ của tôi, đoán tử vi và nói chưa đến lúc bắt tôi, nên tôi thoát. Ông Thiệu trị nước có thầy bói bên cạnh! Trung Ương Tình Báo cũng có thầy tử vi! Anh kể rất nhiều kỷ niệm theo rõi tôi. Tóm tắt, quốc gia rình rập tôi mà tôi không hay. Hôm nay, nhờ cộng sản, nhờ quốc gia tiết lộ, tôi bỗng thấy nhà văn chúng tôi phi thường quá. Ôi, cuộc mưu sinh của tôi sao mà lận đận, sao lắm kẻ rình mò, hãm hại thế! Vẫn chẳng có gì đáng để tôi kiêu hãnh. Ta vẫn phải đi trên sầu đạo dằng dặc hệ lụy. Cái gì ta để lại ở cuối sầu đạo mới đáng để ta kiêu hãnh. Và ta chỉ bằng lòng chịu phán xét, lúc ấy.

– Thế giới biết nhiều về nhà văn, nhà thơ của chúng tôi hơn biết các anh. Tác phẩm của nhà văn, nhà thơ chúng tôi đã dịch mười thứ tiếng. Còn các anh, chạy vạy xuất bản đã khó, thu tiền về còn nhục. Đã nhà văn nào của các anh diễn thuyết ở Hoa Thịnh Đốn, Đông Kinh, Ba Lê? Nhà văn của chúng tôi xách va li đi khắp thế giới. Các anh đều làm lợi cho ngụy quyền, cho Mỹ mà cả Mỹ lẫn ngụy quyền đều bạc đãi các anh. Đàn áp các anh. Bỏ rơi các anh. Anh nghĩ sao?

– Tôi nghĩ chính nhờ bị bạc đãi, bị đàn áp, bị bỏ rơi mà chúng tôi đã trở thành chúng tôi.

– Thành tội phạm?

– Vâng, tội phạm của chiến thắng của các anh.

– Kỳ-Thiệu về, giả sử thế, chúng nó có cứu các anh chăng?

– Không. Chúng sẽ giết tôi hoặc nhốt tôi mãi mãi.

– Anh đã làm lợi cho chúng nó?

– Tôi ích kỷ để nói với các anh rằng tôi chỉ làm lợi cho tôi, cho vợ con tôi. Nếu anh thích, và như nhận xét của anh, tôi làm lợi cho quê hương.

– Anh sẽ làm lợi cho quê hương chứ chưa làm lợi cho quê hương. Anh quyết định đi. Tôi nhắc lại, người ta bảo anh khôn lắm. Dễ hiểu thôi, anh là mẫu người thân lập thân, anh phải khôn anh mới là Duyên Anh. Anh đã dự định bán tuần báo Người để lách thoát cái thế tranh chấp của Thiệu-Kỳ-Minh, thoát sự trả thù của Đặng Văn Quang, Hoàng Đức Nhã. Anh làm Tuổi Ngọc để thoát ký quỹ mười triệu đồng. Anh hô hoán những “đêm của lính” để được động viên tại chỗ. Anh lợi dụng Trần Hữu Thanh để viết hịch tham nhũng, chửi Thiệu qua miệng người khác. Anh lợi dụng diễn đàn Quốc Hội để viết diễn văn cho nghị sĩ, dân biểu đối lập phát biểu tư tưởng đối kháng của anh, trong khi, anh giả vờ làm báo con nít. Anh đã khôn, anh nên khôn thêm một lần cuối.

Cộng sản nó đi guốc trong bụng tôi. Nó biết tôi ngàn lần hơn tôi biết nó. Và tôi thua nó là hợp lý.

– Sự khôn của tôi đã là tai họa. Tôi không muốn khôn nữa.

– Anh lại khôn rồi đấy. Đừng khôn với cách mạng. Tôi hỏi anh, bị chúng tôi bắt, anh biết chắc Thiệu-Kỳ sẽ nhốt mãi mãi hoặc giết ngay, nếu chúng “giải phóng dân tộc”, anh tin ai cứu anh? Quốc tế à? Với quốc tế, anh vô danh tiểu tốt. Quốc tế đâu đã đọc sách của các anh mà can thiệp cho các anh. Anh chỉ có một hy vọng cuối cùng. Chúng tôi tha anh. Muốn được tha, là người khôn, anh tự hiểu anh nên làm gì.

Ba Trung nâng tôi lên, rồi đap tôi ngã chúi. Nó không bắt tôi nhận tôi là vô sản nữa. Hôm nay, nó “mạn đàm” với tôi về sự khôn của tôi và sự nắm linh hồn tôi của cộng sản và kích thích tự ái của tôi và nói rõ ẩn ức của tôi với chế độ cũ. Tôi không ngần ngại gì mà không nói những ẩn ức của tôi với chế độ cũ, từ sau 1-11-1963. Trước hết, tôi bất bình cái thái độ du côn của Nguyễn Cao Kỳ. Ông ta là thứ thủ tướng bất xứng về mọi phương diện. Vì bài phiếm luận của tôi đăng trên nhật báo Tin Báo, đụng chạm tới Đô trưởng Văn Văn Của (Đô trưởng say rượu, bắn súng loạn cào cào, quân cảnh Mỹ còng tay nộp cho Ty Cảnh Sát quận 1, Sàigòn), ông ta họp báo bỏ túi, gọi tôi là côn đồ, đòi đánh nhau tay đôi nếu là Văn Văn Của và đóng cửa Tin Báo. Gọi tôi là côn đồ tức là đồng hóa tôi với “Việt Cộng ác ôn côn đồ”. Tôi chưa bỏ theo Việt Cộng đấy. Tôi ngậm trái thù, trả đũa liên tiếp Nguyễn Cao Kỳ và tay chân. Hôm nay vẫn chưa nguôi hận. Đáng lẽ, không bao giờ có tuần báo Con Ong, tuần báo Người, nếu Đinh Trình Chính, đầy tớ của Kỳ, cho tôi xuất bản tuần báo Búp Bê. Chính ghét tôi, chấp nhận truyện tranh nhảm nhí “charlot Nguyễn Thọ” và chỉ “lưu tình” khi ông sắp mất chức Tổng trưởng Thông Tin. Tôi làm báo nhi đồng trong hoàn cảnh khó khăn. Và Búp Bê đình bản sau năm số. Trở về nhật báo, tôi hung hăng, tôi tàn bạo, tôi sa lầy, tôi đầy ngất ân oán giang hồ. Từ đó là Thương Sinh dẫm lên tất cả. Kỳ và Chính đã không để tôi làm Duyên Anh viết truyện mơ mộng. Chúng nó dồn tôi vào con đường bất mãn, tôi đi hết sai lầm này đến sai lầm khác, và tôi bị chụp bủa bởi cái lưới ngộ nhận oan nghiệt. Tôi rất muốn làm công việc nhỏ mọn có ý nghĩa cho đời sống. Và tôi chỉ gặp bọn quyền bính bỏ lửa vào tay mình. Một lần nữa, tôi xuất bản tuần báo Tuổi Ngoc khổ lớn, tôi cố giã từ nhật báo, tuần báo nham nhở. Bấy giờ là triều đại của Thiệu và Tổng trưởng Giáo dục Lê Minh Liên. Ông Châu Kim Nhân giới thiệu tôi với Liên. Tôi trình bày sự cần thiết phải có một tờ báo cho thiếu niên trong cái sa mạc sách báo tuổi trẻ. Ông Liên đồng ý. Ông hứa yểm trợ Tuổi Ngọc mỗi kỳ 500 số cho tới khi nó vững. Tôi mừng quá, hí hửng tính 500 số x 20 đồng bằng 10,000 đồng x 4 kỳ bằng 40,000 đồng, vừa đủ tiền bìa và công in offset cho 4 số báo. Chừng báo ra mắt, tôi gọi dây nói cho văn phòng của ông Liên. Tôi được viên bí thư trả lời:

– Ông Tổng trường chỉ thị rằng mỗi kỳ báo, ông cho tùy phái đem lên Bộ 10 số báo, và Bộ sẽ trả bằng mandat mỗi tam cá nguyệt!

Tôi định chửi cha cái bộ … vô giáo dục đó một câu. Lại thôi, bèn đáp:

– Báo tôi nghèo không có tùy phái và không bán cho Bộ nữa. Ông thưa với ngài Tổng trưởng giùm, nếu ngài ấy rảnh, ghé tòa soạn, tôi cho 500 số, về đọc, rồi bán ký tính giá đồng nát.

Bực quá, tôi viết Ngựa chứng trong sân trường để mở mắt bọn ngu xuẩn ở Bộ Giáo Dục, viết tiếp Bò sữa gặm có cháy, dạy lũ Thiệu cách huấn luyện nhi đồng. Đổng lý của Tổng trưởng Thông Tin Trương Bửu Điện mời tôi đến Bộ … thông cảm. Bò sữa chuyển vào phủ tổng thống. Sáu tháng không trả lời cho hay không cho xuất bản. Nhà Nguyễn Đình Vượng đã in xong xuôi, chỉ còn chờ giấy phép. Cuối cùng, vì thương cụ Vượng, tôi phải “xin được tự ý xóa bỏ hai chương phê bình tổng thống” để Bò sữa gặm cỏ cháy nhởn nhơ gặm cỏ cháy. Tôi đã khốn đốn vì cuốn sách này khi làm việc với công an cộng sản.

– Thế nào, anh Duyên Anh?

– Anh muốn thế nào?

– Muốn anh tiếp tục nghề viết của anh. Trước hết, anh phải kiểm điểm toàn bộ sai lầm của anh trong vòng 15 năm, kiểm điểm toàn bộ quá trình viết lách của anh.

– Tôi sẽ viết trong tự khai.

– Không, anh sẽ viết trên báo Đảng, viết ở nhà anh.

– Tôi viết trong tù cũng được chứ.

– Anh viết trong tù, nhân dân sẽ nói công an cưỡng ép anh viết. Anh viết ở nhà anh, nhân dân tin anh thành khẩn.

Một phút thôi, một sợi tóc như Thạch Lam viết, sau những dồn nén không tài nào nhịn nổi, tôi nhìn thẳng vào đối mắt liến láu của Ba Trung:

– Anh không đủ tư cách tha tôi. Anh cũng không đủ tư cách cưỡng ép tôi viết.

– Đảng thừa tư cách.

– Anh không phải là Đảng.

– Ai là Đảng?

– Tố Hữu.

– Tố Hữu không phải công an.

– Vậy công an biết gì về văn chương mà luận bàn.

Ba Trung đập bàn. Nó đứng dậy, đôi mắt ánh lên thù hận. Tôi tưởng nó sắp đấm vỡ mặt tôi. Nó lại ngồi xuống:

– Anh mệt rồi. Hôm nay làm việc hơi căng.

Tôi lặng thinh. Nó đưa tay bóp trán:

– Anh về phòng nghĩ. Cầm gói thuốc về hút.

– Cám ơn. Tôi không hút thuốc nữa.

– Tại sao?

– Vì ở tù có nhiều thứ cần phải nhịn.

Nó thông mình lắm, hiểu ý câu nói của tôi. Nó mỉm cười rồi đưa tôi về phòng. Tôi không biết Ba Trung đã làm việc với Hoàng Anh Tuấn ra sao. Nó có gợi ý cho Tuấn kiểm điểm quả trình viết lách và hứa hẹn gì không. Tuấn đã chuyển trại, tôi mất dịp rút kinh nghiệm để đối phó với Ba Trung. Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Hữu Hiệu chưa hề bị gọi ra. Luôn luôn, tôi cô đơn. Tôi nhớ, cuối năm 1950, sau khi quy định thành phần giai cấp, loại bỏ toàn bộ trí thức và đảng phái ra khỏi kháng chiến, cộng sản tổ chức một khóa chỉnh huấn cho văn nghệ sĩ. Những Xuân Diệu, Thế Lữ, Nguyễn Tuân … sau khóa hoc, đã ỉa lên tác phẩm cũ của mình những bài tự kiểm gớm ghiếc. Thơ thơ, Gửi hưởng cho gióchỉ còn là hai đống phân trong nhãn quan vô sản. Thế Lữ tha hồ mà chửi Nhất Linh và Tự Lực Văn Đoàn. Nguyễn Tuân coi Tàn đèn dầu lạc, Chiếc lư đồng mắt cua là sản phẩm của bồi tiêm thuốc phiện (tạp chí Văn Nghệ, liên tiếp 3 số, đầu 1951). Vẫn trò chơi bắt nghệ sĩ phóng uế lên sự nghiệp mình, Trịnh Công Sơn đã tự kiểm để được làm ở Sở Thông Tin Văn Hóa thành phố. Loại bài tự kiểm của Trịnh Công Sơn đã làm ngao ngán tuổi trẻ ngưỡng mộ nhạc của Sơn. Từ đó, Sơn say mèm. Bố già Á Nam Trần Tuấn Khải tự kiểm trên tờ Văn Nghệ Giải Phóng mới nản chứ! Người nản nhất, xấu hổ nhất là Trần Việt Hoài. Anh đã uất ức làm bốn câu thơ trước khi chết:

Đầy tớ Mỹ ngã gục

Bồi Tàu, Nga reo vui

Riêng cháu con nòi Việt

Ôi, xiết bao ngậm ngùi

Tôi đã thấy nghệ sĩ tự kiểm thuở chưa làm văn chương. Tôi vừa thấy nghệ sĩ tự kiểm khi đã làm văn chương. Tốt nhất, tôi nên tự khai trong tù. Dương Nghiễm Mậu hoàn toàn đúng. Chúng tôi không có tội với nhân dân. Chúng tôi cứ nhận phứa phựa có tội với chế độ. Lẽ phải ở bất cứ không gian, thời gian nào, đều nằm gọn trong tay kẻ mạnh. Điều đó đã thành chân lý muôn thuở. Để tự vệ, để tồn tại, tổ tiên ta đã có di chúc “Tránh voi chẳng xấu mặt nào”. Buổi chiều, Ba Trung gọi tôi ra. Lần này, ở phòng của nó còn thêm một người mà Ba Trung giới thiệu là nhà văn cách mạng. Nó không nói bút hiệu nhà văn đó và tôi cũng chẳng buồn hỏi. Một lần, Trần Kim Thanh, nhà văn Hà Nội, đã nói với tôi: “Ở miền Bắc của chúng tôi có công an văn nghệ”. Nhà văn vừa gật đầu chào tôi, chắc chắn là nhà công an văn nghệ, thứ lính kín của văn học nghệ thuật.

– Buổi sáng căng quá, chiều nay chúng ta nói chuyện văn chương, Ba Trung giáo đầu.

Nhà công an văn nghệ hỏi tôi:

– Anh hiểu thế nào là một nghệ sĩ?

Tôi nói:

– Anh muốn có một định nghĩa chính xác về hai tiếng nghệ sĩ?

Nhà công an văn nghệ đáp:

– Phải.

– Anh có phải công an không?

– Tại sao anh hỏi thế?

– Tôi có hai lối trả lời. Một lối cho công an và một lối cho nghệ sĩ.

– Tôi là nhà văn.

– Hân hạnh cho tôi lắm lắm. Anh có đọc thơ cũ, thơ mà Xuân Diệu phủ nhận không?

– Không.

– Vậy tôi đọc cho anh nghe Xuân Diệu định nghĩa nghệ sĩ và tôi rất chịu.

Và tôi anh dũng đọc thơ đồi trụy, thơ vàng cho cộng sản nghe.

Tôi là con chim

Tới từ núi lạ

Ngứa cổ hót chơi

Khi ánh sáng vào reo um khom lá

Khi trăng khuya lên ủ mộng xanh tươi

Chim ngắm suối đậu trên cành bịn rịn

Hót tự nhiên nào biết bởi sao ca

Tiếng to nhỏ chẳng xui chùm trái chín

Khúc huy hoàng không giúp nở bông hoa

Cứ hót mãi thế mà chim vỡ cổ

Héo tim non cho quá độ tài tình

Cả ánh sáng bảo lần giây màu đỏ

Rồi một ngày sa rụng giữa bình minh

Tôi rả rích chẳng qua trời bắt vậy

Chiếc thuyền lòng nước chảy phải trôi mau

Gió đã nổi cho nên buồm phải dậy

Hồn vu vơ lời ấy bởi mây đào…

Đoạn kết, tôi nhìn Ba Trung, đọc một cách say sưa:

Tôi là con chim

Tới từ núi lạ

Ngứa cổ hót chơi

Hãy nghe lấy còn như sao rỉ rả

Nói làm chi tôi không biết trả lời!

Ba Trung cười:

– Con chim Xuân Diệu vô tội vì nó lãng mạn. Con chim Duyên Anh khác xa.

Nhà văn nghệ công an đưa sang vấn đề khác:

– Tôi thấy văn nghệ Sàigòn không chuyên nghiệp.

Nó vừa mới bảo tôi định nghĩa người nghệ sĩ, chẳng tỏ thái độ đúng hay sai, đã vội vàng chuyển mục.

– Ý anh muốn nói văn nghệ Sàigòn không tốt nghiệp ở một trường chuyên nghiệp nào ra, phải không? Tôi hỏi.

– Đúng.

– Tôi công nhận đúng, song chỉ đúng với nghệ sĩ trình diễn, đa số, họ đã không ở trường ca nhạc, kịch nghệ nào ra cả. Nhưng, theo tôi, nghệ sĩ Sàigòn thì chuyên nghiệp đúng nghĩa. Tất nhiên, nghệ sĩ Hà Nội không thể có cái đúng nghĩa ấy.

– Tôi cần được giải thích.

– Câu giải thích thật đơn sơ: Các anh không ôm một nỗi cô đơn nào cả.

– Các anh ôm nỗi cô đơn? Các anh cô đơn bằng hưởng thụ.

– Anh còn muốn nghe nữa không?

– Còn chứ.

– Đừng mỉa mai vội. Tôi tin anh là nhà văn, dù anh có phục vụ ở ngành công an.

– Xin lỗi.

– Anh đừng xin lỗi tôi, vì sự xin lỗi của anh càng tăng thêm vẻ mỉa mai.

Ba Trung giả vờ có việc đột xuất, rời khỏi phòng. Người nhà văn công an, dân miền Bắc chính cống, hình như, nhiều quyền hành hơn Ba Trung nằm vùng. Nó dục tôi:

– Ta tiếp tục.

– Tôi xin phép được hỏi anh và anh trả lời chính xác, thành khẩn, rồi từ những câu vấn đáp sẽ có kết luận chuyên và không chuyên.

– Đồng ý.

– Có bao giờ anh thấy, ở rạp hát nào đó, tại Hà Nộihay bất cứ tỉnh huyện nào ở miền Bắc, dù mưa hay nắng, dù bão to hãy yên lặng, khi đến giờ bắt buộc phải kéo màn mà chỉ có vài khán giả không?

– Không, không bao giờ. Nhà hát của chúng tôi luôn luôn đông nghịt, bất kể giông bão.

– Có bao giờ anh thấy, ở vỉa hè Hà Nội, tác phẩm và tên tác giả nằm ngổn ngang không?

– Không, không bao giờ. Chúng tôi có mấy trăm ngàn xã, mỗi xã một thư viện. Tác phẩm của nhà văn của chúng tôi được xuất bản, ít nhất, cả 100 ngàn cuốn, chưa đáp ứng yêu cầu.

– Chúng tôi khác các anh, khác ghê gớm. Ở Sàigòn, sân khấu cải lương vẫn phải kéo màn đêm mưa đột xuất dù khán giả vài chục người. Nghệ sĩ vẫn đông đủ. Tuồng tích không bị cắt xén. Giọng ca ngọt bùi hơn, tiếng đàn tha thiết hơn trong nỗi hoang vắng ấy. Ở những phòng trà, gặp đêm giông tố, khách thưởng ngoạn vỏn vẹn một người thôi, ca sĩ của chúng tôi vẫn trình diễn, và đã diễn tả hết cái cô đơn của con người trong quạnh hiu, trống trải. Mỗi tác phẩm văn học nghệ thuật là mỗi cuộc phiêu lưu. Nó đi từ nhà xuất bản đến nhà phát hành. Nó được xếp vào chỗ quan trọng của hàng sách hay bị xuống vỉa hè thì nó vẫn có linh hồn. Tóm lại, chúng tôi thường xuyên trực diện nỗi cô đơn, uống từng giọt cô đơn trong đời sống. Còn các anh, các anh được người ta lùa khán giả cho kín rạp để ca múa, các anh được người ta chỉ thị vỗ tay hoan hô, các anh được người ta khuân sách về xã ấp mà ra lệnh độc giả … học tập. Các anh không có nỗi cô đơn. Các anh chỉ là nghệ công hay nghệ nhân. Các anh chưa từng là nghệ sĩ. Như tôi mới là nghệ sĩ. Vì trọn đời tôi, tôi lạc lõng trong sương mù cô đơn; trọn đời tôi, tôi bị truy nã, săn đuổi; trọn đời tôi, tôi bị đố kỵ, ghen ghét; trọn đời tôi, tôi bị ngộ nhận, phản phúc. Bằng những cái đó, tôi trở nên chuyên nghiệp, tôi tồn tại và tôi có những cái mà người khác không có. Không có so sánh trong tác phẩm nghệ thuật, không có chối bỏ trong tác phẩm nghệ thuật. Anh có cái mà người khác không có, mà tôi không thể có vì anh không phải là người khác, không phải là tôi, không thích đồng hoa, đồng dạng, đồng hành. Tôi xin nhắc lại: Những gì đã được quần chúng công nhận thì không thể chối bỏ. Sự chối bỏ chỉ có tính cách nhất thời và gian dối. Nhiều chế độ đã bị xóa bỏ, tác phẩm nghệ thuật và nghệ sĩ vẫn tồn tại. Đã không thể chối bỏ được tác phẩm nghệ thuật thì cũng không thể bắt nghệ sĩ chối bỏ nghệ thuật của nó bằng bá đạo.

– Anh kiêu ngạo qua, anh Duyên Anh ạ! Mỗi nhà văn nổi tiếng ở Saigon là một cái rốn của vũ trụ. Đã Vũ Khắc Khoan kiêu ngạo, Mai Thảo kiêu ngạo, Nguyễn Mạnh Côn kiêu ngạo… lại cả đến Dương Hùng Cường, Hoàng Hải Thủy cũng kiêu ngạo.

– Theo tôi, kiêu ngạo là tự do, dân chủ là nhận đường phấn đấu. Anh phải là cái gì mới được quyền kiêu ngạo chứ? Và kiêu ngạo của nghệ sĩ vô tội. Nó khiến anh khó chịu nhưng nó không bỏ tù được anh, không bắt anh nhịn đói, không cưỡng ép anh tự khai…

– Anh ám chỉ tôi?

– Anh là nhà văn mà…

– Phải, tôi là nhà văn.

– Tôi đang biểu dương anh. Tại sao anh không thích tôi kiêu ngạo? Anh nên nghiên cứu kỹ lưỡng về trường hợp tôi. Trong một xã hội phân hóa toàn diện, băng hoại từ gốc rễ, một mình tôi cô đơn với mớ kiến thức còm cõi, đòi làm lại cuộc đời xum họp, bình yên, yêu thương và chia xẻ; một mình tôi viết 50 cuốn sách, làm 200 số báo đẹp, tôi rất xứng danh kiêu ngạo. Sự lao động chân chính của tôi hơn các anh. Đã ai trong các anh viết nhiều bằng tôi?

– Anh có thể khắc phục sự kiêu ngạo được không?

– Anh bảo tôi kiêu ngạo thì tôi kiêu ngạo. Anh đừng có định kiến gì về tôi, anh sẽ thấy tôi chả kiêu ngạo tí nào. Độc giả tuổi nhỏ của tôi có bảo tôi kiêu ngạo đâu. Chỉ những kẻ tự ti mặc cảm mới bảo tôi kiêu ngạo, chỉ những đứa thù ghét tôi mới bảo tôi kiêu ngạo.

– Tôi khuyên anh nên truy nã bản thân hiện tại của anh, anh nên tự hỏi anh nên ở đâu, nói chuyện với ai. Câu trả lời của anh cho chính anh sẽ giúp anh toàn diện.

– Cảm ơn anh. Tôi trả lời luôn: Tôi là nhà văn độc lập bị khép tội phản động, đang ở tù và làm việc với … nhà văn chiến thắng. Tôi không dám chết anh hùng vì tôi sợ làm anh hùng, nhưng tôi tình nguyện chết dần chết mòn theo cung cách chết bình thường của những tù nhân bình thường.

Tôi nhìn nhà văn công an:

– Anh còn gì hỏi thêm tôi nữa không?

Nhà văn công an móc thêm gói thuốc đen Tam Đảo, bốc ra, mời tôi:

– Anh nhớ Hà Nội chứ?

Tôi nhả khói thuốc:

– Nhớ.

– Hà Nội vẫn y nguyên như thời niên thiếu của anh. Căn nhà số 13 đường Ngô Thời Nhiệm chưa bị bom Mỹ san bằng. Chỉ có con ngõ Lệnh Cư ở Khâm Thiên đã bị B52 xoá bỏ dấu tích kỷ niệm của anh và căn nhà số 42 Cửa Bắc của “bác nhà” bị sập đổ. Bác gái chết vì bom Mỹ năm 1969, anh biết chứ?

– Bố tôi đã kể.

– Anh còn yêu Hà Nội không?

– Tại sao không? Hà Nội hay Sàigòn đều là thành phố của quê hương chúng ta.

– Anh muốn về Hà Nội?

– Dĩ nhiên, tôi để lại Hà Nội muôn vàn kỷ niệm.

– Bạn cũ của anh còn nguyên vẹn. Anh Nguyễn Thịnh giữ chức vụ quan trọng trong ngành xuất bản âm nhạc. Anh Đàm Việt Minh ở trong hội nghiên cứu văn học. Anh Lê Huy Luyến dạy ở đại học. Anh còn người em út tên là Vũ Hổ.

– Vâng, nó bị bắt vì trốn lính và đang nằm ở Lào Kay.

– Bác trai cho anh biết?

– Vâng.

– Vũ Hổ là thứ Trần Đại của Hà Nội. Anh đã viết truyện du đãng về em anh đấy.

– Vinh dự quá.

– Tôi đến thăm anh với tư cách đồng nghiệp. Tôi thành thật nói với anh điều này để anh suy nghĩ: Nhạc sĩ Hoàng Dương, tác giả bài Hướng về Hà Nội, đã mang giày của giặc, về với cách mạng, vẫn được trọng dụng. Hiện nay, anh Hoàng Dương dạy nghệ thuật ở Viện Kịch Nghệ Âm Nhạc Hà Nội.

– Cám ơn anh.

– Điều này nữa: Anh không thể kiên trì bằng người cộng sản. Với cộng sản, nhiều người muốn chết mà cứ bị sống khi họ đã bị đánh dấu.

– Cám ơn anh. Tôi duy tâm và tôi tin sống chết có số.

Người nhà văn công an cho tôi một túi thuốc là Sông Cầu và gói kẹo Hà Nội. Tôi nhận một gói tượng trưng và vài cái kẹo mềm. Ba Trung trở về đúng lúc. Người nhà văn công an bắt tay tôi, tạm biệt. Tôi về phòng, ân hận vì mình quá … kiêu ngạo, không thèm hỏi bút hiệu của nhà văn công an. Ít ra, nó đã đọc tôi, đọc kỹ Trường cũNgày xưa còn bécủa tôi. Nó biết nhiều về gia đình tôi, bạn bè tôi, kỷ niệm Hà Nội của tôi. Nó chịu khó nghe tôi mà không đập bàn, dù tôi là can phạm. Tôi không nghĩ tất cả đảng viên trung cấp đều mất hết lương tâm. Người cộng sản đáng tội nghiệp. Họ bị chính đồng chí của họ rình rập, soi mói. Sự ám ảnh bị rình rập trở thành thói quen, thành lý tưởng nên họ đi rình rập lẫn nhau. Lãnh tụ cộng sản muốn có một phút sống thực với lòng mình mà cũng không được. Còn những đảng viên nhỏ, những viên chức đối tượng đảng viên thì phải đeo hai cuộc đời khốn khổ trên một cuộc đời hệ lụy. Cuộc đời khốn khổ thứ nhất là cuộc đời với tiếng nói giả dối, xu phụ, phét lác. Cuộc đời khốn khổ thứ hai là cuộc đời với tiếng nói thành khẩn chỉ dám nói thầm với mình và đầy mặc cảm không ai thèm tin mình. Xuân Thiều, nhà văn quân đội miền Bắc, người Vinh, đảng viên trung kiên của đảng Cộng Sản Việt Nam quang vinh đã dặn chúng tôi nên giữ kín những vụ liên hệ ăn uống, chơi bời với anh ta. Người đảng viên ấy mở miệng nói một câu xót xa: “Ngoài Marxisme, tôi còn thờ chủ nghĩa Marimite và bảo vệ nó tới cùng.” Lý tưởng nào rồi cũng ở cái nồi cơm, niêu cá!” Nếu xưa có kẻ si tình than thở: “Than ôi, chí lớn trong thiên hạ không đầy đôi mắt mỹ nhân” thì nay, những đảng viên cộng sản trung cấp và trung kiên than thở: “Than ôi, lý tưởng cộng sản và chủ nghĩa Mác-Lê không đầy cái nồi cơm”! Xin có lời chia buồn muộn màng với Marx, với Engels dưới lòng đất; với Lenine, với Hồ Chí Minh trong hòm kính đìu hiu.

“Với cộng sản, nhiều người muốn chết mà cứ bị sống khi họ đã bị đánh dấu.” Tôi không biết nên tin câu này như lời dọa nạt sinh tử hay lời căn dặn chân tình. Thôi, đành tin Trời Đất khi đã hết dám tin ai. “Trong tù, tuyệt đối không tin ai”. Người công an già miền Nam bắt tôi luôn luôn nhớ thế. Tôi vốn ham ngạo báng cả thần thánh lẫn ma quỷ. Trên đường mưu sinh, ở đoạn nào đó, người ta chỉ gặp may mắn và may mắn, người ta bỗng quên số phận mà chỉ tin vào tài năng. Đến lúc tuột dốc, người ta chợt tỉnh ngộ và người ta ngây thơ bấu víu lấy cái thiêng liêng vô hình để hy vọng. Buổi sáng ngày 8-4-1976, tôi đi tìm thấy bói Kim ở đường Chị Lăng, Phú Nhuận một lần nữa. Ông thầy bói mù gieo quẻ dịch. Đồng tiền bắn ra khỏi đĩa. Gieo lại. Bấm. Đoán.

– Trốn đi!

– Cụ đã bảo mệnh vững?

– Mệnh vẫn vững nhưng hôm nay nhằm ngày rất xấu của Mậu Dần tức là vợ ông. Trốn đi chừng ba tháng sẽ thoát tù tội.

– Nếu không trốn?

– Sẽ bị bắt trong ngày hôm nay!

– Rồi sao?

– Cũng sẽ về thôi. Vài năm đấy.

– Mấy năm?

– Không thể rõ. Đừng lo chết trong tù, bảo đảm mệnh vững. Ông Mạnh Côn mới nguy.

– Chắc chắn mệnh vững?

– Chắc chắn. Bị bắt thì đừng quên Thường Tung: “Mềm còn, cứng mất”!

– Cám ơn cụ.

Buổi chiều 8-4-1976, đánh đu với số mệnh và cũng chẳng vất vợ con cho ai, tôi nằm nhà. Và bị bắt. Đúng quẻ Dịch của thầy bói Kim. Đã tin cụ Kim, tôi càng tin mệnh mình vững. Mà nó không vững thì cũng đành như tên một cuốn sách của Dương Nghiễm Mậu:Cũng đành. Tôi lại thở than với Nguyễn Du:

Cũng đành nhắm mắt đưa chân

Thử xem con tạo xoay vần ra sao.

TÌNH QUÊN

 

Nghe loáng thoáng lời ru của gió
Chiều dịu dàng sau những cơn mưa
Tháng năm cũng lam nham mùa gặt dở
Ta tìm gì sau những cơn mơ

Đời lang bạt mấy vòng đua định mệnh
Tới rồi lui như những trò đùa
Bao ngày tháng trượt dài trên vội vả
Ta còn gì sau những cuộc vui

Đốt lửa lên tình chưa chịu cháy
Nhịp đập xa xưa trong trái tim buồn
Ta còn lại gì khi thời gian đã khép
Lời thề đong đưa trong cuộc tình quên…

NHÃ MY

Đêm

Đêm liêu trai chấm lá tình,
Rỡ ràng em giữa màn hình vụt lên.
Đâu con gió lạ bên thềm,
Mà ngan ngát thoáng  hương mềm tóc ai.
Kìa em hương xõa ngang vai,
Quấn quanh sợi rối vướng hoài sợi đau.
Dễ gì mình đã quên nhau,
Em đi đâu? Anh về đâu ? Biệt mù.
Muộn rồi nắng hạ mưa thu,
Mịt mờ cánh nhạn tương tư trông vời.
Dao Vàng ai gọi ới ơi,
Dập dìu bông tuyết nghiêng trời mà bay.
Một năm những mấy trăm ngày,
Ôm sao hết biệt ly này hởi em?
Đêm liêu trai thực là đêm,
Tình thơ ngỡ mất lại tìm thấy đây.
Anh ngồi trước máy đăm say,
Thủy chụng với mạng ảo này và em.
Ngắm đôi má lúm tiền duyên,
Đủ xua tan cả ưu phiền ngày qua.

Trần Ngọc Hưởng

NHÀ TÙ: CHƯƠNG 7

 

Để tôi đếm lại cho chính xác những nhà văn, nhà thơ bị bắt trong chiến dịch 2-4-1976.
Doãn Quốc Sĩ
Dương Nghiễm Mậu
Lê Xuyên
Nguyễn Mạnh Côn
Mặc Thu
Nhã Ca
Trần Dạ Từ
Thái Thủy
Hoàng Anh Tuấn
Thế Viên
Duyên Anh
Vũ Hoàng Chương

Chỉ có từng ấy người bị còng tay dẫn vào tù, bị nhốt chung với ăn trộm, ăn cắp, vượt biên, tư sản mại bản và đảng phái trốn trình diện. Chỉ từng ấy người bị công an chấp pháp quần thảo tơi tả và bị Hai Phận vĩ đại dạy học ở Sở Công An. Trong số những người ấy, tội nghiệp nhất Thế Viên. Anh ta chẳng có tội tình gì cả. Anh ta làm nghề dạy học và làm thơ ca ngợi tình yêu. Từ Nha Trang, anh ta mò vô Sàigòn thăm Doãn Quốc Sĩ, ăn cơm trưa nhà Sĩ. Đừng níu bạn lại uống cà phê, nghe nhạc thì bạn thoát 6 năm tù lãng nhách. Vì Sĩ hiếu khách quá, Thế Viên đã gặp lại học trò cũ của mình đến bắt Sĩ và lũ học trò đốn mạt đó đã sẵn còng, còng luôn thầy mình. Cách mạng 1945, học trò của nhà văn Lan Khai bỏ thầy vào cái bao tải, buộc đá, liệng thầy xuống sông. Cách mạng 1975, học trò của thi sĩ Thế Viên còng tay thầy đẩy vào tù! Vẫn thứ cách mạng tồi tệ đó. Nó đã anh dũng sát hại một nhà thơ tài hoa của dân tộc là Vũ Hoàng Chương. Ôi! Vũ Hoàng Chương, người thi sĩ gió thổi mạnh là bay theo gió, người thi sĩ mình hạc vóc mai, mà cả Đảng Cộng Sản Việt Nam cộng với “chủ nghĩa bách chiến bách thắng” mới giết nổi khi đã còng tay đưa vào tù thì thi ca của họ Vũ phải vinh tồn bằng trăng sao vạn kỷ. Và chủ nghĩa cộng sản phải dùng danh từ gì để cực tả lòng khinh bỉ? Hai tiếng chó đẻ, có lẽ, đắc ý nhất. Tôi nghĩ những người cộng sản sẽ không phản đối. Bởi vì, tự bản chất họ đã bộc lộ niềm khao khát làm người. Hãy nghe họ mơ ước.

Nếu là chim, tôi sẽ là loại bồ câu trắng.
Nếu là hoa, tôi sẽ là một đóa hướng dương.
Nếu là mây, tôi sẽ là một vầng mây ấm.
Nếu là người, tôi sẽ chết cho quê hương.

Họ chưa là người. Họ đang mong làm người. Bảo họ là chó đẻ, có khi họ rất hồ hởi, phấn khởi! Nhưng đừng nói thật với Hai Phận vĩ đại. Những ngày tạm ngụ tại địa chỉ của chủ nghĩa, các bạn sang đề lao Gia Định gần hết, chúng tôi buồn lắm. Cửa sắt là chỗ ngồi “rửa mắt” của Dương Nghiễm Mậu và tôi. Tôi đã gặp Nguyễn Sĩ Tế mặc quần xà lỏn, cởi trần, ngồi hớt tóc. Anh ta gầy ốm, hom hem. Nằm cachot riết, nước da anh xanh tái. Tên tập truyện Chờ sáng đã vận vào người anh. Anh nằm trong cachot tối tăm như cuộc đời tối tăm mà chờ sáng. Nguyễn Sĩ Tế bị bắt trước tháng 4-1976. Bị bắt cùng ngày, cùng vụ với anh còn có Đặng Lê Kim, giám thị trường Trường Sơn, quản lý tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa. Anh Nguyễn Sĩ Tế dính líu vào một tổ chức chống cộng sản sau 30-4-1975. Không biết anh có mời ông “nhà văn” nọ tham gia tổ chức của anh không mà, vì ông ta là thầy giảng dạy triết học ở trường của anh, em vợ Hưởng Triều Trần Bạch Đằng, được Trần Bạch Đằng cho “nằm vùng” báo Tin Sáng của bọn Ngô Công Đức, đi Bắc về Nam như … đảng viên, nên người ta nghi ngờ ông “nhà văn” nọ đã gài bẫy anh. Y hệt trường hợp luật sư nằm vùng Đỗ Hữu Cảnh đã gài bẫy đưa bạn cũ của mình là Dương Đức Dũng, Đoàn Kế Tường cùng cô Phan Vô Kỵ vào tù. Ít nhất, Đỗ Hữu Cảnh, bí danh Ba Sơn, đã chỉ điểm cộng sản bắt gần một ngàn sinh viên, học sinh phản động. Anh Tế rất phờ phạc, buồn bã. Anh thấy chúng tôi, lắc đầu chán nản. Chúng tôi gặp Nhã Ca đi tắm, cười toe toét.

Tôi tưởng Ba Trung quên hẳn tôi. Không dè nó lại gọi tôi ra.
– Hôm nay anh gặp lãnh đạo của tôi, đồng chí Giám đốc.

Ông Mai Chí Thọ, con cháu ngài Tổng Đốc Nam Định Phan Đình Hòe, em ruột ông Lê Đức Thọ, gặp tôi! Chỗ ông ta ngồi là chỗ của Trang Sĩ Tấn ngày xưa. Chức Giám đốc Sở Công An của Mai Chí Thọ là chức nổi, ông ta nắm toàn bộ lực lượng vũ trang miền Nam. Ông ta niềm nở mời tôi ngồi, sai cán vụ bưng nước, mang thuốc lá Thăng Long chiêu đãi tôi. Ông ta thân mật khiến tôi sửng sờ.
– Thế nào, Duyên Anh?
– Bình thường, thưa ông Giám Đốc.
– Giam giữ anh em nhà văn là khuyết điểm của anh em chúng tôi nhưng bắt buộc phải làm vậy. Duyên Anh có buồn không?
– Thưa ông, tôi không được phép buồn.
– Đừng khách khí, Duyên Anh. Tôi đọc Duyên Anh nhiều. Mây mùa thu tình tự dân tộc lắm. Luật hè phố rất hay. Tại sao không viết như thế mãi mãi?
– Vì độc giả của tôi cần thay đổi. Và tôi cũng cần thay đổi.
– Đáng tiếc. Trước đây, Duyên Anh định viết 10 cuốn truyện căn cứ vào “10 điều tâm niệm của học sinh tiểu học”, bây giờ, liệu có cảm hứng viết 5 cuốn truyện nhi đồng, căn cứ vào “5 điều dạy học sinh” của Hồ chủ tịch không?
– Tôi sợ viết văn rồi.
– Tại sao?
– Viết văn đã gây ra tại họa cho tôi.
– Đáng tiếc. Duyên Anh muốn làm gì?
– Thưa ông, tôi thật chưa biết sẽ nên làm gì.
– Anh em trong phòng ra sao?
– Bình thường cả.

Mai Chí Thọ thăm hỏi anh em tôi ngoài Bắc và vợ con tôi trong Nam. Câu chuyện kéo dài gần một tiếng. Và chỉ có thế. Ông ta tỏ ra hết sức lịch sử và kẻ cả. Ông ta hơn tôi tuổi tác, kinh nghiệm chiến đấu và kiến thức chính trị. Ông ta thua tôi nghệ thuật viết văn. Cái mà ông ta đang hơn tôi rõ rệt là ông ta có quyền giam nhốt tôi. Chưa chắc ông ta đã có quyền tha tôi. Về phòng, tôi kể cho Dương Nghiễm Mậu nghe.
– Thằng ấy cáo già thật, Mậu nói. Nếu nó gọi tôi, tôi cũng không thể trả lời khéo hơn ông. Mình cứ tùy cơ ứng biến. Ông mà nhận lời viết, nó sẽ khinh ông. Cộng sản gộc, nó cao ngạo lắm. Mình ở vào cái thế hết lạy nó được rồi. Tôi và ông thống nhất điểm này: Mình sẽ nhận hết tội với Đảng và cách mạng, không nhận tội với nhân dân. Với nhân dân, chúng ta vô tội. Nhân dân đâu có kết tội chúng ta. Và nữa, chúng ta chống Đảng, chống cách mạng, không chống nhân dân. Chúng nó bị thực dân bắt cũng nhận tội hết. Sự tồn tại là cần thiết, tiểu tiết bỏ đi. Tồn tại để viết, nhẫn nhục để viết. Chết ngu là bất trí.
– Nó chiếu cố mình thì hơi phiền.
– Phiền gì? Nó hiểu ông có ảnh hưởng sâu rộng với tuổi trẻ hơn nhiều anh em khác. Nó sẽ làm ông điêu đứng về mọi mặt. Có vinh quang nào không phải trả giá bằng xương máu? Tôi xin ông một điều.
– Chi?
– Ông bớt nóng tính đi. Bữa nọ tôi thấy ông chửi thằng tư sản mại bản Chợ Lớn thật đúng vì quyền lợi tập thể. Ông còn tiếp tục vì quyền lợi tập thể, ông sẽ hố. Tôi nhắc để ông nhớ châm ngôn tù mà ông đã từng viết “Bạn tù, tình nhà thổ. Trong tù thấy chuyện bất bình thì câm”. Ông ưa bầy tỏ chính kiến quá. Cái chính của ông sẽ bị cái ác át giọng. Về tư tưởng bất đồng, người ta có thể giết nhau, huống chi nói xấu lẫn nhau.
– Cám ơn ông.

Dương Nghiễm Mậu ít tuổi hơn tôi, ít học ở nhà trường như tôi, nhưng Mậu điềm đạm hơn tôi. Một nhà văn thuần túy thì chỉ có người thích và người không thích. Một nhà văn đi làm nhật báo ồn ào, đụng chạm tứ tung, thì nhiều người yêu và lắm kẻ ghét. Dương Nghiễm Mậu hạnh phúc hơn tôi. Vì không ai ghét Mậu cả. Vì Mậu đã không làm nhật báo ồn ào. Ở đời, có những điều mình muốn mà chẳng được, có những điều mình chẳng muốn mà bị muốn, bị cuốn hút vào quỹ đạo mong muốn của người khác. Tôi đã không muốn làm báo, viết báo. Thuở còn ngồi tiểu học, thầy giáo cho bài luận: “Lớn lên anh làm gì?”, tôi đã khước từ chọn lựa nghề nghiệp vì tôi lười, tôi dốt, tôi không thể làm bài luận hóc búa ấy. Lớn lên, theo Duy Dân, được biết phái xuống Long Xuyên dạy học bất đắc dĩ, tôi bỗng yêu nghề dạy học. Sự yếu mến nồng nàn này tôi đã diễn tả trong Ngựa chứng trong sân trường. Rất tiếc, tôi còn quá trẻ và cần mảnh bằng tú tài. Tôi trở về Sàigòn học thi tú tài. Định mệnh xui tôi đến cái lớp chuyện dạy Việt văn của giáo sư Lữ Hồ Nguyễn Minh Hiền, sau này là biên tập viên ở những báo tôi làm chủ bút. Tôi đứng ngoài, nghe Lữ Hồ nói phét câu giờ dễ sợ. Lữ Hồ hơn tôi vài tuổi. Anh có thêm tài vẽ. Anh vừa vẽ vừa giảng văn chương. Tôi nghĩ không nên có anh chàng nầy làm thầy mình. Và tôi bỏ mộng thi tú tài, bỏ mộng làm thầy giáo. Nếu tôi có tú tài, tôi sẽ vào trường Bộ Binh Thủ Đức, chẳng hiểu đời mình sẽ là cái gì! Loay hoay ít lâu, tôi viết truyện ngắn. Nhờ truyện ngắn, tôi thành anh công chức. Nhờ đảo chính 1-11-1963, tôi thành anh nhà báo và thành người sửa bài, viết giùm giáo sư văn chương Lữ Hồ. Giáo sư viết yếu quá. Tôi tưởng tôi sẽ chỉ viết những truyện hiền hòa như Hoa thiên lý, dễ thương như Thằng Vũ, nồng nhiệt như Bồn Lừa, êm đềm như Mây mùa thu. Ai ngờ tôi lại phải viết Điệu ru nước mắt, Vết thù hằn trên lưng con ngựa hoang, Trần Thị Diễm Châu. Và, theo đà cuốn hút của thời đại, của những đòi hỏi của chủ nhiệm nhật báo, tôi biến thành cha đẻ của loại phóng sự chính trị nham nhở, sống sượng. Cuộc mưu sinh của tôi thật khó khăn. Tôi phải tự lắp sừng nhọn vào đầu tôi mà húc, mà tranh đấu với cuộc sống vốn chẳng tử tế gì. Sách của tôi xuất bản, không ai thèm nhắc tới. Thỉnh thoảng cũng có người phê bình thì cũng khen chê kiểu “bình thường hiện thân”. Bọn sa-đích phê bình văn nghệ rẻ tiền – chữ của Nguyên Sa – không dám đụng đến tôi. Vì tôi có sừng nhọn Thương Sinh của nhiều nhật báo. Châm ngôn của tôi hồi đó: “Thằng nào cắn ông một miếng, ông cắn lại đủ 26 miếng nhân với 4!” Khi sách của tôi bán chạy nhất nước, tôi làm nhà xuất bản, tôi là con “cưng” của các nhà phát hành, tôi khá giả, bọn sa-đích văn nghệ quên làm tính nhân, quên luôn 50 tác phẩm bán chạy ròng rã 10 năm, tác phẩm tôi thức đêm viết, hút cả tấn khói vào phổi mà viết, dài tay ra mà viết. Tính vất đi, mỗi cuốn tôi hưởng lợi nhuận 500,000 đồng quốc gia, tôi đã có 25 triệu đồng rồi. 25 triệu nhỏ quá. 25 triệu tính bằng 1 tỉ chữ, càng nhỏ hơn. Tại sao chúng nó không dám thị phi những thằng thầu đổ rác, những thằng tham nhũng, những thằng thầu khoán chiến tranh? Mà lại chỉa mũi dùi bẩn đâm lén một thằng viết văn khá hơn chúng nó. Tôi phải tự võ trang sừng nhọn, vì thế. Sa-đích văn nghệ chơi tôi đủ kiểu. Chúng nó thấy các trường trung học trần thuyết sách của tôi, các trường đại học nghiên cứu sách của tôi, chúng nó điên lên, xếp tôi vào loại những nhà văn “không có gì để phê bình”. Sa-đích văn nghệ tự bào chữa cho chúng nó: “Sách của các ông bán ế vì độc giả ngu, không đủ kiến thức thưởng ngoạn!” Quý vị nhà văn tự cho mình lớn, tự cho mình là hàng đầu, đã giả vờ quên tôi, mặc dù, quý vị ấy chán tôi lắm, tại tôi đã “đánh đu văn chương”, tôi đã “thao túng văn nghệ” và đẩy quý vị ấy vào bóng tối. Tôi cần thiết có nhiều bút hiệu để viết báo. Để viết văn. Để quảng cáo tôi. Để bảo vệ tôi. Người như Cao thế Dung và Nguyên Sa thật hiếm. Lúc ấy, Cao Thế Dung viết: “Thằng Vũ là giải lụa đào trong văn học Việt Nam. Chỉ cần một Thằng Vũ thôi, Duyên Anh đã xứng đáng là nhà văn hàng đầu của văn học hiện đại”. Nguyên Sa viết: “Thằng Vũ là vàng mười của văn chương Việt Nam”. Trước khi sa cơ còn được đọc những lời tuyên dương lên mấy chém, tưởng cũng nên bằng lòng. Tôi giải thích tại sao lại có Thương Sinh: Vì cuộc sống nhiều sa-đích văn nghệ. Tôi trả lời bạn hữu tôi, sẽ còn Thương Sinh nữa không: Còn chứ, vì sa-đích văn nghệ vẫn rình rập tôi, sa-đích mà Nguyên Sa đặt tên mới là Thiện Mông Cổ. Tôi bằng lòng hơn khi biết mình đã có nhiều đồ chơi lạ mà sa-đích văn nghệ thì cứ đếm nút khoen và đẩy lon sữa bò! Tôi bằng lòng hơn nữa, khi thấy hàng tỉ chữ cộng sản dùng để chửi bới nhà văn, nhà thơ lừng lẫy Sàigòn, đã chẳng có chữ nào họ bố thí cho sa-đích văn nghệ. Cuối cùng, tôi rút một kinh nghiệm: Ở nước tôi, càng nổi tiếng bao nhiêu, càng tai họa bấy nhiêu, bất cứ lãnh vực nào. Riêng lãnh vực báo chí, văn nghệ là tồi tệ nhất.

Và tôi đã tiếc không chịu ẩn dật như Dương Nghiễm Mậu, không vô vi như Dương Nghiễm Mậu, Ôi! Định mệnh đã an bài! Cái triết lý mất vợ của ông Tý Con thật tuyệt diệu. Nguyễn Mạnh Côn, hai tháng trước khi bị bắt, tâm sự với tôi hết sức tỉnh táo:
– Tôi rất tiếc trường hợp câu.
– Anh tiếc cái gì?
– Khi không cậu chống chính quyền rồi cậu chống cộng sản.
– Anh hối hận đã chống cộng sản à?
– Tôi chỉ nói cậu thôi.
– Tôi đâu có ân hận.
– Nếu cậu không chống chính quyền, chống cộng sản, chỉ riêng những sách viết về tuổi thơ, cậu là nhà văn của dân tộc, hoàn toàn thuộc về dân tộc. Cậu tin tôi đi, cộng sản không ngu đâu, nó sẽ dùng cậu viết về tuổi thơ.
– Tuổi thơ của Bác?
– Cậu cứ đùa cợt hoài.

Trên vỉa hè Tự Do, ở một quán cà phê lề đường, Cao Dao gặp Mai Thảo và tôi. Anh nói:
– Nghề nghiệp của các cậu chấm dứt rồi. Họ có cho viết, anh nào ham viết sẽ nhục với chữ nghĩa. Bởi các cậu không viết theo kiểu của họ nói. Họ không có tiểu thuyết. Trừ Duyên Anh, nếu Duyên Anh viết thuần túy về tuổi thơ loại Thằng Vũ, Bồn lừa.

Tôi có thể nói Hà Nội thèm một người việt truyện trẻ con như tôi mà không sợ lộng ngôn. Ba mươi năm xã hội chủ nghĩa ưu việt, tính đến tận hôm nay, nhà xuất bản Kim Đồng, với sự hỗ trợ của Đảng và Nhà Nước, đã cung cấp rất nhiều sách cho thiếu niên, nhi đồng nhưng chỉ là loại sách mỏng và không làm say mê độc giả tuổi nhỏ. Những người viết tung ra hàng nghìn mẫu dũng sĩ tẻ nhạt, không một cá tính riêng biệt mà chỉ có … đảng tính (Đảng tính là yếu tố cần thiết trong văn học Mác xít). Do đó, độc giả tuổi nhỏ không thấy một chút gì về họ. Họ không tìm ra họ trong xã hội truyện của nhà Kim Đồng. Đừng tưởng những người viết cho Kim Đồng hay các nhà xuất bản sách thiếu nhi khác không được tự do viết. Họ không thể viết được truyện tuổi nhỏ. Chẳng tin, cứ bảo Võ Phiến, Mai Thảo, Vũ Khắc Khoan, Mặc Đỗ thử viết truyện Dzũng Dakao thôi, xem nó ra sao. Viết truyện tuổi thơ rất khó. Đẩy nhân vật tuổi thơ vào vũ trụ tiểu thuyết với thời tiết, sân chơi, trò chơi, ngôn ngữ của tuổi thơ càng khó. Bởi vậy, cả nước Mỹ chỉ có Mark Twain với Tom Sawyer bất hủ. Trước 1945, chúng ta có ba nhà văn viết truyện tuổi thơ: Tô Hoài, Nguyễn Đức Quỳnh và Lê Văn Trương. Tô Hoài đã làm say mê thiếu niên thời đó với những truyện loài vật và sâu bọ. Từ O Chuột đến Chuột thành phố, Dế mèn, Dế mèn phiêu lưu ký, Tráng sĩ bọ ngựa, Tô Hoài vẫn chỉ là người biết nhân cách hoá loài vật, sâu bọ một cách tài tình, duyên dáng, vẫn chỉ là người viết cho tuổi thơ. Đúng nghĩa: những truyện kể trên viết cho độc giả tuổi nhỏ giải trí. Nguyễn Đức Quỳnh là nhà văn đầu tiên ở Việt nam muốn đưa tuổi thơ vào tiểu thuyết như những nhân vật đầy đủ yếu tố nhân vật tiểu thuyết. Những Thằng Kình, Thằng Cu So của ông chưa thật sự sống đúng với tuổi thơ của nó vì ngôn ngữ và sự suy nghĩ của chúng nó còn đầy dáng dấp người lớn. Cái khó của người viết về tuổi thơ là thiếu một vùng ánh sáng soi rõ lối về của quá khứ mình và không thể sống lại tuổi thơ của mình như nhân vật đang vùng vẫy trong tiểu thuyết của chính mình. Lê Văn Trương với Anh em thằng Việt, Thằng Việt nghỉ hè thì nặng nề triết lý người hùng, tuy đã hấp dẫn và cảm động. Những người viết truyện tuổi thơ đều quên rằng độc giả tuổi nhỏ của họ thích sang trang, sang trang và khoái đối thoại. Chi tiết rườm rà, ý nghĩ triền miên làm họ chán nản vì họ phải đậu lâu một chỗ, trong khi, như con chim mới ra ràng, họ thèm chuyền nhảy liên miên. Nhưng Thằng KìnhAnh em thằng Việt, với riêng tôi, đã là cảm hứng tuyệt vời để có Thằng Vũ, Thằng Côn, Con Thúy, Thằng Khoa, Thằng Vọng … Sau đó, chúng ta có Nhật Tiến. Những truyện về trẻ em mồ côi, Chim hót trong lòng, chẳng hạn, rất hay nhưng rất sầu thảm. Mà tuổi thơ cần thiết sân trường, sân cỏ, bóng nắng, tiếng cười hơn là khung cảnh cô nhi viện buồn bã. Chúng ta còn thêm Lê Tất Điều thổi cảm xúc vào đồ vật khá tinh tế và đầy nghệ thuật. Và chỉ có thế, về những người viết truyện cho tuổi thơ. Tôi rất tự hào về nhà xuất bản Tuổi Ngọc của tôi, với vốn liêng của cá nhân tôi, với khả năng làm việc của riêng tôi, không có Nhà Nước, không có Đảng tung tiền “trồng người”, chỉ có Bộ Văn Hóa Giáo Dục với các ngài Quốc Vụ Khanh đặc trách Văn Hóa, ngoài hát bội ca cải lương thì chẳng còn biết văn học nghệ thuật là cái gì, ngoài cái Trung tâm Học Liệu chỉ biết ấn loát sách dịch của Sartre, của Daudet thì chẳng còn biết in thứ gì thêm, mà tôi đã một mình một ngựa, vừa chống bọn sa-đích văn nghệ, vừa chống bọn “phối hợp nghệ thuật”, vừa chịu sự lạnh nhạt của các nhà văn tư tưởng, triết học, siêu hình, cô đơn, hiểm hóc, khều mặt trời “Tôi có thể đến giòng sông, bà ta có thể đến giòng sông; chưa chắc tôi đã đến giòng sông, chưa chắc bà ta đã đến giòng sông, bởi vì, chưa chắc đã có giòng sông!” để hạ gục bảng hiệu Kim Đồng và 30 năm hoạt động của nó. Cộng sản Việt Nam có Hồ Chí Minh vĩ đại, có chiến thắng Điện Biên Phủ, có đại thắng mùa xuân, nhưng đã không có nổi một Bồn Lừa.

Nguyễn Thanh Trịnh, giải thưởng văn học nghệ thuật về bộ môn kịch, tác giả Ví dụ ta yêu nhau, mà tôi viết tựa, sau nầy hợp tác với tuần báo Tuổi Trẻ, cơ quan ngôn luận của Thành Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, đã gặp tôi khi tôi rời trại tập trung. Trịnh có bút hiệu mới: Đoàn Thạch Biền. Dù hợp tác với Tuổi Trẻ, Trịnh vẫn quý mến tôi như thuở tôi “lăng xê’ Nguyễn Thanh Trịnh trên Tuổi Ngọc. Trịnh cho tôi biết, nhà xuất bảnTuổi Trẻ đã thuê Hoàng Ngọc Tuấn viết một truyện tương tự Bồn Lừa. Tuấn đẻ ra nhân vật Hoàng keo, bắt bóng dính hơn Chương còm. Cuốn sách đã xuất bản và chìm trong sự dửng dưng của độc giả cũ và mới. Trịnh còn cho biết, trong phiên họp kiểm điểm cuối năm 1981 của Tuổi Trẻ, đồng chí Bí thư Thành Đoàn thanh niên đã nêu một thắc mắc:

– Tại sao giải phóng đã sáu năm rồi, ảnh hưởng văn nghệ của bọn nhà văn cũ đã bị tận diệt rồi, chúng ta đầy đủ cơ hội thuận lợi, mà vẫn chưa tạo nổi một người viết làm say mê tuổi trẻ, tuổi thơ như thằng Duyên Anh?

Một câu tương tự, chính mắt tôi được nhìn người nói và nghe ông ta trên ti vi, hồi tôi ở Z30D và ở đội vệ sinh chuyên nghề xúc phân ở bệnh xá. Người nói là ông Thứ trưởng Bộ Văn Hóa:

– Tôi không hiểu tại sao, ngót sáu năm hết bóng quân thù rồi, mà ở Sàigòn và các tinh phía Nam, các thầy cô vẫn để hoc sinh viết lưu bút, lưu niệm cuối năm bằng thứ văn chương lãng mạn, tiêu cực, ảnh hưởng nặng nề văn nghệ đồi trụy Mỹ Ngụy? Không riêng gì học sinh cấp ba và đại học, chính một số các thầy cô vẫn còn say mê đọc tiểu thuyết của bọn nhà văn phản động như Duyên Anh, Mai Thảo, Nhã Ca …

Nhiều anh em được nghe, hôm ấy, đã lo sợ giùm tôi. Nhiều anh em tuyên dương:
– Duyên Anh, sáu năm bốc cứt mà vẫn còn thơm!

Tôi hiểu vì đâu Nguyễn Mạnh Côn “rất tiếc” trường hợp của tôi, vì đâu Ba Trung nhận lệnh lãnh đạo của nó gợi ý cho tôi “Đảng không bắt anh phải phục vụ Đảng, Đảng muốn anh đem tài năng của anh phục vụ quê hương, đất nước”. Vì đâu Mai Chí Thọ “đáng tiếc” là tôi đã không chỉ viết Mây mùa thu, Luật hè phố. Tự tôi, tôi cũng đáng tiếc cho tôi. Đáng tiếc tôi đã bước vào nghề văn chương một cách bất đắc dĩ. Đáng tiếc cái đáng tiếc của Nguyễn Mạnh Côn và Mai Chí Thọ. Ở quê nhà, tôi đã không viết truyện về tuổi thơ (sở trường của tôi, mọi thứ khác là sở đoản, là những thứ tôi thua kém tất cả) cho độc giả tuổi nhỏ của tôi đọc mà say mê, mà tung tăng theo nhân vật của tôi trong không gian hoa ngàn cỏ nội. Tôi đã tưởng, chút tài năng cuối mùa của tôi còn được phục vụ độc giả tuổi nhỏ của tôi ở quê người. Và tôi đã đánh đu với sự chết, xuống thuyền gỗ vượt biên. Tôi thấy gì bên kia dốc mơ? Toàn bộ tác phẩm của tôi bị ăn cướp. Bọn xuất bản gian manh “đồng bào”của tôi đã kiếm cả triệu đô la bằng 15 năm thao thức suy tư, bằng 6 năm quằn quại tù ngục của tôi mà không trả tôi cắc nào, không hỏi tôi nửa lời. Tôi thấy gì nữa? Tác phẩm của tôi, bày bên cạnh nước mắm, rau cỏ ở các tiệm chạp phô! Tôi thấy gì nữa? Văn hữu của tôi phải làm các nghề vớ vấn để mưu sinh. Và, đau đớn nhất, tôi chẳng còn độc giả nhỏ để chăm chút văn chương bồng bế cho họ nữa. Họ đã quên hết tiếng và chữ Việt Nam rồi! Tôi sẽ viết thẳng John, thằng Bob hay thằng Mít ngọng? Ai đọc tôi? Tôi là một nhà văn tội đồ ở quê nhà, một nhà văn cùng đồ ở quê người. Một nhà văn bị cấm viết thì đáng kiêu hãnh. Một nhà văn không bị cấm viết mà không viết được vì không ai đọc cả thì đau đớn khôn cùng. Bởi thế, những nhà văn lừng lẫy của chúng ta đã không có gì đáng kể sau mười năm xa xứ. Bởi thế, những nhà thơ nồng nàn của chúng ta không có gì đáng kể sau mười năm xa xứ. Và nhân danh “bảo tồn văn hóa”, nền văn hóa Việt Nam được tha thiết bảo tồn ở hải ngoại chỉ còn ông Kim Dung và bà Quỳnh Dao, người Trung Hoa! Và những thứ tiểu thuyết nhảm nhí mà chính chúng ta đã muốn khu trừ khi chúng ta chưa mất Sàigòn. Và lại ‘tiền chiến” với thơ Xuân Diệu, kẻ hàng ngày chửi rủa chúng ta, kẻ to tiếng miệt thi “ngụy quân, ngụy quyền” xấc láo. Tôi lại hiểu tại sao Boris Pasternak phải van lạy Khroutchev để xin khỏi bị trục xuất, tại sao Soljenitsyne chỉ rời nước Nga khi bị đuổi đi. Tôi đã quên lời linh mục dòng Tên ở Đắc Lộ, người Basques, an ủi tôi và khích lệ tôi sau 30-4-75: “ Hãy can đảm như những nhà văn Xô Viết!” Tôi hoàn toàn thiếu can đảm, không dám ở lại Việt Nam. Vì tôi thương vợ con tôi lưu lạc xứ người. Vì tôi sợ bị bắt nữa.

Mỗi hoàng hôn của một thời đại đều có những nghịch cảnh não nùng cho những người làm văn chương. Đã thấy một Tản Đà coi bói và “nhận viết quảng cáo vui buồn trong xã hội” mưu sinh. Lại thấy Lê Xuyên đạp xe cà-là-dỉ đi bỏ bánh mì ngọt rẻ tiền khắp vỉa hè Sàigòn. Nguyễn Thụy Long bán phụ tùng xe đạp. Dương Nghiễm Mậu mài tranh. Trần Lê Nguyễn, Đỗ Tấn bán báo. Nhã Ca bán cà phê. Hoàng Hải Thủy làm hoa vải. Trần Tuấn Kiệt viết thư thuê ở Bưu Điện! Ở Sàigòn đấy. Những người khác đang làm gì bên Mỹ, tôi không biết. Riêng tôi, ở Paris, định xin chân gác dan ban đêm, bằng hữu thương quá cho một chân đánh máy chữ. Mắt đã mờ vì tù và già, đánh máy chữ hết nổi, bằng hữu bảo nằm nhà viết truyện. Tôi đã vừa hết một năm ăn lương thất nghiệp của nước Pháp. Sự giúp đỡ của bằng hữu không đủ chi dùng. Bèn vẽ thêm nghề viết quảng cáo cho nhà sản xuất băng nhạc kiếm rượu, soạn nhạc kiếm gạo, diễn thuyết kiếm vé du lịch, vân vân và vân vân …

Hình như tôi mộng du quá tường nhà tù. Tôi trở lại với Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Hữu Hiệu, Hồng Dương và một người bạn mới gia nhập làng xuất bản là ông Đặng Hải Sơn. A, tôi có thêm ông Khai Trí. Tại sao ông Khai Trí mà cũng bị bắt? Giản dị lắm, vì ông ta giàu. Với cộng sản, giàu lương thiện hay giàu bất lương đều chung một tội: Tư sản. Xuất thân, ông Khai Trí rất nghèo. Phong trào di cư 1954 và sự mở mang giáo dục, sau đó, đã đưa nghề bán sách của ông phát đạt. Ông xây nhà cao lớn. Ông xuất bản tự điển, sách giáo khoa và đủ mặt sách. Ông có 9 kho sách vĩ đại. Mỗi kho là một ngân hàng, vốn lời vô tả. Khác với những người bán sách, xuất bản, ông Khai Trí theo chủ nghĩa snobisme, tỏ ra thích sưu tầm sách báo cũ. Ông đã từng lặn lội xuống lục tỉnh mua sách báo cũ nếu có người gởi thư đòi bán. Tầng thứ ba của tòa nhà Khai Trí, đại lộ Lê Lợi, là thư viên Khai Trí đầy đủ Nam Phong, Tri Tân, Đông Dương tạp chí, Phong Hóa, Ngày Nay, Tiểu thuyết thứ bảy… từ số ra mắt đến số đình bản. Sách thì vô kể. Ông có cả sách ấn loát giấy bán của “phường” nầy, “phường” nọ … Tóm lại, thư viện của ông chỉ thua lượng, chứ không thua phẩm Thư Viện Quốc Gia. Nhưng ông chỉ ngắm sách cho sướng mắt, riêng ông, không cho ai đến mượn đọc cả. Ông cũng ít thiện cảm với nhà văn và tỏ ra hep hòi chi tác quyền. Thường thì ông mua bản thảo vì cảm tình, vì tội nghiệp, rồi không xuất bản. Vào tù, mất hết cả, ông mới hối hận cung cách sống chỉ biết đếm bạc của ông. Sự tình đưa ông Khai Tri vào nhà tù và mất nốt nhà sách Khai trí chỉ tại cái thư viện riêng và chủ nghĩa snobisme. Thứ trưởng Văn Hóa Lâm Thời Miền Nam Thanh Nghị thèm rinh thư viện Khai Trí. Giám đốc Sở Thông Tin Văn Hoá cũng thèm. Nhiều đứa thèm. Không đứa nào dám ăn mảnh. Rốt cuộc, chúng nó chụp mũ “tư sản mại bản” lên đầu người bán sách cần kiệm. Và đám côn quang văn hóa đã xông vào thư viện Khai Trí, lượm mỗi đứa một mớ đem về làm … tư hữu. Quân vô sản thèm tư hữu. Chúng nó đã ỉa lên chủ nghĩa của chúng. Chúng đã, với riêng ông Khai Tri, làm tan nát công trình sưu tầm sách báo ròng rã 40 năm của ông. Khai Trí vào tù mang theo bịnh trị và vỏn vẹn 10 đồng bạc. Tôi không hiểu kinh nghiệm Khai Trí có làm sáng tâm hồn những người đang kèn cựa, tàn sát đồng hương ở Mỹ, ở Pháp, ở Úc để làm giàu? Cuộc đời thật phù ảo. Hữu đấy rồi vô đấy. Sắc đấy rồi không đấy. Hạnh phúc và niềm vui cá nhân xem chừng mỏng manh quá. Cái tiểu ngã phải nhập vào cái đại ngã thì mới hạnh phúc vĩnh cửu. Khi tôi thấm cái triết ly sống đẹp đẽ đó, tôi đã thành kẻ lưu đầy, lo tiền nhà, tiền gạo, tiền điện, tiền gaz, tiền vé metro chưa xong, nói chi đến sự đóng góp hoặc chia xẻ hạnh phúc của mình cho mọi người.
– Tôi chỉ còn tiếc cái thư viện của tôi, ông Khai Trí nói.
– Tiếc làm gì, ông Khai Trí, tôi nói.
– Làm sao có lại nó?
– Ồ, người ta làm ra sách, sách đâu có làm ra người. Quý hồ ông còn sống để lập thư viện.
– Tôi sẽ lập thư viện công cộng.
– Nếu như thư viện của ông đã là thư viện công cộng, ông không mất nó, không bao giờ mất nó.
– Tôi hiểu ý ông rồi, ông Duyên Anh ạ!
– Tôi cũng mới hiểu cái ý của tôi, từ khi vào tù. Mỗi chúng ta cần nhiều suy nghĩ. Điều duy nhất để tôi yêu ông, tâm sự với ông hôm nay là, sau 30-4-75, tôi thấy ông đi trên vỉa hè Saigon, mua tất cả các tạp chí Văn đóng bộ, tuần báo Tuổi Ngọc đóng bộ, tạp chí Bách Khoa đóng bộ… Khi chữ nghĩa của 20 năm văn học nghệ thuật Sàigòn bị dẫm nát bằng dép râu hỗn xược, còn một người biết đau đớn đi nhặt nhạnh, nâng niu, cất dấu, dù không đọc, hỏi sao tôi không xúc động.
– Trước đây, ông ghét tôi?
– Ông cũng chẳng yêu gì tôi.
– Chúng ta không hiểu nhau.
– Có thể.
– Tại sao ông ghét tôi?
– Vì ông giàu. Tôi ghét hết bọn nhà giàu. Tôi cho bọn giàu là bọn bất lương, ích kỷ.
– Nay tôi nghèo rồi.
– Ông nghèo, tôi có giúp nổi ông đâu. Ông giàu tôi có xin được ông đâu.
– Tại sao ngày xưa ông không năng đến tôi?
– Tôi đã nói.
– Vì ông không đến tôi, ông kiêu ngạo nên tôi không ưa ông.
– Ông chẳng yêu ai cả.
– Bây giờ tôi yêu mọi người.
– Vẫn còn sớm.
– Tôi kết nghĩa anh em với ông được chứ?
– Được. Nhà tù kết nghĩa!
Tôi và Khai Trí thành anh em. Và tôi gọi ông là anh, xưng em. Tự nhiên, Khai Trí hỏi tôi:
– Theo chú, một người làm tuyên truyền giỏi phải như thế nào?

Hồi tôi làm Biên tập viên của Tổng Nha Thanh Niên, biệt phái ra làm báo Chiến Đấu, người ta bắt tôi nghiên cứu các phong trào thanh niên phát xit, cộng sản, Do Thái, vệ binh đỏ, thanh niên cứu quốc và những bài nói chuyện với thanh niên cộng hòa của ông Ngô Đình Nhu. Nhân đó, tôi phải nghiên cứu nghệ thuật tuyên truyền phát xít, cộng sản. Cộng thêm những điều tôi nhớ ở Cổ Học Tinh Hoa, Đông Chu Liệt Quốc và những “sáng tạo” của riêng tôi, tôi thao thao nói với chủ nhà sách Khai Trí. Câu kết luận, tôi mượn ý của ông Quản Trọng:
– Sáng chính nghĩa ở nước mình chưa đủ, phải chế chính nghĩa ra bốn phương. Người biết làm tuyên truyền còn làm được đạo diễn, đạo diễn từ tổng thống đến các bộ trưởng. Nữa, phải biết viết và biết thưởng ngoạn cái hay của người viết; phải biết nói trước quần chúng mà không cần mang kính đọc bài!
Chợt nhớ “nỗi sợ” của mình, tôi hỏi:
– Anh muốn biết làm gì?
Khai Trí đưa tay vỗ trán:
– Anh em họ muốn biết. Tiếc là hỏng hết rồi! Giả biết sớm hơn*.

Tôi không tin Khai Trí dám dính líu đến một tổ chức nào. Có thể, trước năm 1975, Khai Trí được thăm dò bởi một người bạn nào muốn tham chính chăng? Nhưng, tôi nhớ không sai, một tháng sau 30-4-75, tôi nhận được một cú điện thoại. Người gọi cho tôi là giáo sư toán nổi tiếng, người miền Nam:
– Tạm chia buồn với ông. Hiện tại, ông không thể viết gì được, nhưng ông có nghĩ đến kinh nghiệm viết của ông dạy cho các bạn trẻ miền Nam không?
– Tại sao chỉ bạn trẻ miền Nam?
– Vì chỉ họ mới cần ông. Vì ông đã là người miền Nam, vợ con ông người miền Nam.
– Người miền Nam thiếu gì?
– Họ không hấp dẫn tuổi trẻ thành phố bằng ông. Họ không biết mở phong trào.

Thú thật, lúc ấy, tôi cần đề phòng. Mỗi ngày, người ta gọi dây nói mỉa mai hỏi tôi “Còn chống Cộng nữa không?”. Đến nỗi tôi muốn cắt dây điện thoại.
– Tôi mệt mỏi rồi. Tôi không thể làm gì được.
– Sẽ liên lạc với ông sau.

Tôi không hiểu người miền Nam này sẽ làm gì. Chỉ biết, buổi chiều 30-4-75, nón tai béo (giải phóng miền Nam) va nón cối (bộ đội miền Bắc) tranh nhau lượm súng đạn trên đường phố Sàigòn, mạnh ai nấy gom … chiến lợi phẩm. Và, ít ngày sau, một thông cáo ra lịnh cho bất cứ ai giữ vũ khí của “ngụy quân’ phải đem ra nộp, dù là quân giải phóng. Chưa có gì ổn định cả, cho đến nay, ở miền Nam. Hà Nội đã gài người của họ xuống tận cấp huyện. Rồi sẽ cấp xã. Bài hát “giải phóng miền Nam” đã bị cấm. Ngày kỷ niệm thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đã bị xóa. Cả bài “Tiến về Sàigòn ta quét sạch giặc thù” cũng bị tiêu diệt luôn! Nhưng những người lính nón tai bèo lượm vũ khí Mỹ, đem đi đâu, họ đang ở đâu, thì vẫn còn là niềm bí ẩn. Rõ rệt nhất, ở các trại tập trung phía Nam, không hề tìm ra một công an cai ngục nào người miền Nam cả.

Chúng tôi có tin mừng: Trịnh Quới Tài chuyển trại. Một số can phạm hình sự chuyển trại. Thay vào là những can phạm phản động, trẻ có, già có, vị thành niên có. Sở Công An có một phòng nhốt đàn bà, con gái. Phòng quá hẹp nên mỗi ngày đều có chuyển tù nhân. Phòng A, cạnh chúng tôi, Trịnh Viết Thành, Anh Quân, Lê Xuyên đã đổi chỗ. Đinh Xuân Cầu và Nguyễn Văn Sao đi luôn. Nhã Ca rời bỏ cachot cùng Nguyễn Mạnh Côn. Còn một Nguyễn Sĩ Tế, bút hiệu Người Sông Thương, côi cút ở khu cachot heo hút, ghê rợn. Chúng tôi đã hết cảm giác khi nghe chìa khóa tra vào ổ ban đêm. Cũng chẳng còn buồn cười khi nghe Hai Phận vĩ đại giáo dục. Đây là bài học thứ ba của Hai Phận, chuyên viên cai tù từ năm 17 đến năm 50 tuổi. Y đếm niên đảng của y bằng những năm quằn quại, rã rượi của tù nhân.
– Hôm nay, tôi dạy các anh một bài học, về bước tiến bộ mới của cách mạng. Cuộc kiểm kê dân số sau bầu cử thành công vĩ đại, cho ta một sự so sánh vẻ vang: Dân tộc ta bằng dân tộc Pháp!
Ngừng lại một giây, Hai Phận nói:
– Dân số nước ta bằng dân Pháp rồi. Hơn 50 triệu đấy nhé!

Hai Phận rất tốt bụng. Ý muốn chúng tôi cười cho đỡ buồn. Tiếc rằng y chọc cười khiếp đảm quá nên chúng tôi tê dại cảm giác. Câu “mặt trơ trán bóng” phải dùng cho cộng sản mới đúng. Lãnh tụ mặt trơ một kiểu, cán bộ trán bóng một lối. Cái dũng sĩ, anh hùng; cái vĩ đại, vẻ vang của cộng sản là họ chẳng cần biết họ ngu hay không ngu. Họ cứ bắt dân chúng phải nghe, phải tin những gì họ nói. Và họ bảo đó là giáo dục của Đảng. Trên đời này, từ cổ chí kim, chỉ có những người cộng sản, mà Hai Phận là biểu tượng, là dấu ấn của thời đại, mới dám giáo dục sư tổ của y bằng những bài học buồn mửa. Nỗi nhục của con người khi bị thống tri bởi con vật là thế.

Bẵng vài bữa, Ba Trung lại gọi tôi.
– Đồng chí lãnh đạo của tôi rất có cảm tình với anh.
Tôi nhả khói thuốc:
– Ông ấy lịch sự lắm.
– Theo ý tôi, anh nên viết lại.
Chắc chắn, ông Mai Chí Thọ đã chỉ thị cho Ba Trung truy nã tư tưởng của tôi.
– Tôi đã thưa với ông giám đốc, tôi sợ viết văn rồi.
– Không viết văn, ra ngoài làm gì?
– Buôn bán lằng nhằng.
– Chế độ này rất ghét trung gian tiêu thụ. Anh đã biết, tất cả là quốc doanh mậu dịch.
– Thì về quê vợ làm ruộng.
– Ai cho anh ruộng? Ông già vợ của anh đâu còn là điền chủ nữa.
– Về vùng kinh tế mới.
– Nói thật đi, anh Duyên Anh, ra ngoài anh sẽ vượt biên, sẽ viết nguyền rủa chúng tôi.
Ba Trung không muốn tôi chột dạ vì câu nói trúng tim đen của nó. Nó rót thêm nước trà vào ly của tôi.
– Chuyện này anh cần biết.
– Tôi nghe.
– Nó thuộc về dĩ vãng. Từ năm 1972, Đảng đã muốn anh suy nghĩ lại. Miền Bắc đánh giá cao cuốn Mây mùa thu của anh, trong khi Bộ Thông Tin ngụy quyền kiểm duyệt và tịch thu. Anh có nghe ông Nguyễn Ngọc Lan diễn thuyết ở đại học Văn Khoa không?

Tôi không đi, nhưng tôi được đọc bài tường thuật. Linh mục Nguyễn Ngọc Lan (Hồi ấy, chưa có cởi áo dòng lấy vợ, hồi ấy, cùng với linh mục Chân Tín và tạp chí Đối Diện, là đối tượng thù nghịch của tôi vì lập trường hòa bình thiên vị; sau này, cảm nhận nỗi cô đơn của 2 người, hiểu chính xác rằng Nguyễn Ngọc Lan và Chân Tín không bao giờ là cộng sản, cám ơn đã chăm sóc, bênh vực, giúp đỡ vợ con tôi rời Việt Nam trong khi tôi còn trong tù, nên tôi đã trở thành bạn thân của hai người) tỏ thái độ khó chịu về những bài tôi đả kích ông ký bút hiệu Thương Sinh, tuy nhiên, vẫn nồng nhiệt ca ngợi Mây mùa thu là tác phẩm thể hiện tình nghĩa dân tộc, tình thương yêu Nam Bắc . Cuốn sách tôi bị Bộ Thông Tin kiểm duyệt một trang tôi viết về tuổi trẻ miền Bắc tình nguyện vào Nam, đáp theo “Tiếng súng Nam Bộ” vì sự nghiệp đánh đuổi thực dân Pháp năm 1946. Nhà xuất bản không chịu bôi bỏ trang ấy và Bộ Thông Tin đi tịch thu.
– Không.
– Ông Lan khen anh tận tình. Miền Bắc khen anh tận tình. Nếu không bị Mỹ dội bom trở lại, Hà Nội sẽ diễn vở Thành Cát Tư Hãn của Vũ Khắc Khoan và phát một giải thưởng văn học cho Mây mùa thu. Anh có thể tiếp tục viết như Mây mùa thu chứ?
– Tôi cùn rồi.
– Thành khẩn một chút, anh Duyên Anh! Sau hòa bình có hàng nghìn đề tài cha con, anh em, vợ chồng, bạn bè cảm động rất hợp với lối viết của anh.
– Nhà văn Bắc thiếu gì?
– Tôi nói thẳng với anh: Theo báo cáo của Vũ Hạnh và Nguyễn Mai **, lãnh đạo của tôi muốn xử dụng anh làm nam châm cuốn hút người khác và chinh phục độc giả cũ của anh.
– Lãnh đạo của anh đánh giá tôi cao quá. Tôi là bông hoa đã tàn rồi.
– Anh về phòng suy nghĩ hai ngày.

Tôi không thể suy nghĩ, cũng không thể nói với Dương Nghiễm Mậu vì Mậu sẽ bảo tùy tôi lựa chọn. Mai Thảo đã tâm sự với tôi: “Tôi có một ông thầy, ông ta nói với tôi rằng, con người sống đến 50 tuổi là quá đủ. Tôi năm nay 50, tôi thấy tôi đã sống quá đủ, không còn gì để tiếc nữa. Nhưng tôi sẽ không để chúng nó bắt, trừ khi dí súng vào gáy, dao chĩa sát bụng”. Tôi kém Mai Thảo 9 tuổi. Cuộc đời tôi, có lẽ trầy trụa, nhọc nhằn hơn Mai Thảo. Vậy cũng kể là đã 50 tuổi. Tôi không cần suy nghĩ. Và sự không cần suy nghĩ của tôi thật đúng dù tôi phải trải dài nỗi đau đớn của mình ngót sáu năm tù ngục, lưu đày. Thật đúng vì, khi trở về, tôi nhìn rõ Thái Bạch bệ rạc nằm ở sòng hút thuốc phiện, xin xỏ từng điếu. Nó đã bị đá ra khỏi sinh hoạt văn nghệ. Cái hiệu sách Giải Phóng của nó ở đường Gia Long đã biến thành trụ sở công an phường. Quần áo nó lếch thếch, hôi hám. Cái chất nhễ nhãi vênh vang trên khuôn mặt đắc thời của nó giữa tháng 5-1975 đã khô rom. Nó bắt đầu chửi cộng sản chỉ để bấu một điếu thuốc phiện rẻ rề. Thế Nguyên thì tuyệt tích. Vũ Hạnh phải làm xà phòng lậu, bị công an phường gây khó dễ. Sơn Nam, quần ống thấp, ống cao, lang thang hè phố. Em rể Trần Bạch Đằng nằm ấp Chí Hòa một ngày, vợ nhận hết tội “áp-phe” xuất cảnh, nằm thế chồng ba tháng, nhà cửa bị khám xét, đồ tế nhuyễn bị tịch thu. Lệ Hằng hết mon men tới Hội Nhà Văn sau vở kịch chửi vượt biên, rồi vượt biên bị bắt. Từ Kế Tường mất chức chủ nhiệm nhà Văn Hoá quận 4. Nguyễn Thanh Trịnh, Ngụy Ngữ, Hoàng Ngọc Tuấn, một năm chỉ được đăng hai truyện ngắn. Ngô Công Đức, Hồ Ngọc Nhuận mất Tin Sáng, mất luôn tổ hợp tranh sơn mài, đi buôn bán tre và sẽ bị bắt. Vân vân … Suy nghĩ chi nữa. Biết chắc làm anh hèn cũng chẳng xong, thì tội gì không làm anh bình thường. Với tôi, cái bình đã vỡ. Và ngậm ngùi nhớ Nguyễn Du.

Bây giờ bình đã vỡ rồi,
Lấy thân mà trả nợ đời cho xong…


*Năm 1982, tôi gặp Khai Trí, anh ta đã thật sự mất trí vì mất hết tài sản, con cái lưu lạc. Anh ta như Thạch Sùng, ngơ ngơ ngẩn ngẩn, tội nghiệp lắm.

** Nguyễn Mai từng làm thầy cò cho tuần báo Người và Tuổi Ngọc của tôi.

NHÀ TÙ : CHƯƠNG 6

Tôi được vợ con tiếp tế thực phẩm, thuốc men, tiền bạc vào mỗi thứ năm hàng tuần như tất cả mọi tù nhân khác. Tôi ở phòng B, nhà tù sở Công An đã qua hai tuần lễ. Đầu tuần lễ thứ ba, người ta cho phép chúng tôi cắt tóc, cạo râu. May mắn, tôi gặp Nguyễn Văn Sao làm giò chả ở Gò Vấp, cung cấp hàng cho toàn khu Chợ Cũ, Sàigòn. Anh ta vượt biên từ Bắc vô Nam năm 1956, được các linh muc Gò Vấp giúp đỡ và cưới vợ cho anh ta. Sau 30-4-75, Sao là Chủ tịch ủy ban nhân dân ấp, có súng lục và nhiều quyền hành. Anh đã đào nhiệm, theo ông Đinh Xuân Cầu và bị bắt cùng ông Đinh Xuân Cầu trên đường vào nhà Thái Ngũ lần thứ hai. Ngày Sao và Cầu bị bắt, tôi biết nhưng không biết nơi giam nhốt họ. Khi tôi thấy tên ông Cầu ghim trên miếng bìa đỏ, tôi cũng chỉ đoán ông nằm ở Sở Công An. Tôi để Sao giò vẽ bản đồ Phú Quốc bằng cái tông-đơ cùn nhay tóc trên đầu, sau gáy tôi mà nói chuyện riêng.

– Ông Cầu đâu?

– Phòng A. Ông vững dạ, không ai khai gì về ông cả.

– Bảo đảm?

– 100 phần 100

– Nói với ông Cầu là ông ấy ngây thơ lắm, ông ấy bị thằng mục sự chó đẻ Trương Phiên giảng tin độc rồi. Nó nói phét, hoàn toàn nói phét.

Sau ngày Giáng Sinh năm 1975, tại nhà tôi, số 225 bis Công Lý Sàigòn 3, có một cuộc họp tay tư. Đinh Xuân Cầu, Trương Phiên, bà Th. và tôi. Linh mục Trần Hữu Thanh, theo lời Trương Phiên (tôi chưa hề gặp gỡ linh mục Trần Hữu Thanh trước kia và sau này), cứ đòi mời vợ ông chủ báo quá cố V. S. Phan Mỹ Trúc tham gia nội các. Trương Phiên từ chối. Ông Phiên đã mời bà Th., tiến sĩ, tốt nghiệp tại Mỹ. Bà Th. đồng ý nhập cuộc. Lý do Trương Phiên chê bà Trúc vì bà này có tiệm sách Giải Phóng ở Thị Nghè. Cuộc họp chớp nhoáng. Tôi được giao nhiệm vụ đi mời bà Khánh Trang, cựu bí thư của bà Ngô Đình Nhu hay bà Nguyễn Văn T., chị của giáo sư Nguyễn Ngọc Huy. Nội các Đinh Xuân Cầu có sự tham gia của ông cựu Giám đốc VTX, thứ trưởng Bộ Thành Niên và Tuyên Truyền. Ghế Bộ trưởng còn để trống. Trương Phiên bảo mọi người tự ý chụp một kiểu ảnh, lấy chợ sách Lê Lợi làm phông, nhớ tìm quán bán lịch 1976 để ngoại quốc có chứng cớ cụ thế là nội các thành lập ngay Sàigòn rồi mới lưu vong. Tôi đến nhà bà Khánh Trang, đường Hồng Thập Tự, Sàigòn. Gặp một lô nón cối, giép râu, nói năng trỏ trẻ, không dám nói chuyện thật với bà Khánh Trang nữa. Lại ghé về đường Pasteur, vào kiếm bà Nguyễn Văn T.

– Chuyện đứng đắn hay chuyện phong thần hả, Duyên Anh?

– Chuyện đứng đắn.

– Duyên Anh có tham gia không?

– Có

– Làm gì?

– Báo.

Bà T. cáo lỗi vì bận tiếp thân chủ của bác sĩ Nguyễn văn T.. Một cách tiễn khách khéo léo. Chuyện gom góp một số người có uy tín để chiến đấu chống cộng sản sau 30-4-75 đã trở thành chuyện … phong thần. Nghĩ mà buồn bã và xót xa cho thân phận trí thức. Và tội nghiệp ông Đinh Xuân Cầu. Người ta đã và đang vượt biên trốn khỏi Việt Nam bằng thuyền gỗ đó, có chi là phong thần? Tôi bỗng nổi máu – sự nổi máu biến tôi thành tên biệt kích cuối cùng ra khỏi tù – Trước hết tôi đi tìm Bùi Duy Tâm. Ông Khoa trưởng đại học Y Khoa Minh Đức của tôi đã bị nhúm vô trại cải tạo Long Giao 3 tháng. Như Nguyễn Tuấn Anh, Bùi Duy Tâm về sum họp gia đình trước Giáng Sinh. Tôi nói với Tâm sự nhập cuộc của tôi. Anh không có ý kiến gì cả, chỉ vỗ vai tôi một cách thân tình:

– Ai dám chọi nhau với cộng sản lúc này đều can đảm hơn người. Chỉ lúc này mới chứng tỏ được rằng chống cộng sản để không ăn cái giải gì ngoài lý tưởng đích thực của mình. Chức tước là thứ hình thức cần có ở một giai đoạn nào đó. Anh đừng câu nệ. Rồi ai cấm anh nhả nó ra. Tôi chưa biết cuộc phiêu lưu đưa anh về đầu, vào đâu, nhưng anh hãy yên tâm, còn ở Sàigòn ngày nào, tôi lo sức khỏe cho chị và các cháu giùm anh.

Từ giã Bùi Duy Tâm, tôi tạt sang Nguyễn Tuấn Anh. Cũng nói với Tuấn Anh như nói với Tâm. Anh giữ tôi lại khá lâu. Cuối cùng, anh tiễn tôi về với câu dặn dò cần thiết:

– Duyên Anh thận trọng nhé, tôi nghe nói nhiều người bị bắt rồi đấy!

Đời tôi có nhiều lần ngông và lắm lần dại. Mười chín tuổi, tôi đã xách khăn gói tới nằm ở hành lang Tòa Thị Chính Hà Nội, đợi người Pháp đến đón sang phi trường Gia Lâm, bay vào Sàigòn, tứ cố vô thân. Hai mươi tuổi, tôi theo đảng Duy Dân lên Ban mê Thuộc, lập chiến khu chống Mỹ, Diệm, Pháp, Bảo Đại và cộng sản. Và cả Vatican nữa! Tôi học tậpTru trị lục của Lý Đông A, ngâm thơ chính khí Lý Đông A, nghiên cứu tư tưởng chính trị, kinh tế, quân sự, xã hội Lý Đông A. Rồi tôi tẩu hỏa nhập ma biến thành một ông nhóc quốc gia cực đoan rẻ tiền và lạc hậu. Rẻ tiền và lạc hậu vì không ai hiểu nổi tâm hồn Lý Đông A. Đàn anh của tôi cũng bị tẩu hỏa nhập ma. Khi tôi thấy có những bốn hệ phái Duy Dân ở Sàigòn, tôi cảm thấy mình bị lừa gạt niềm tin. Và tôi đã diễn tả trong Ảo vọng tuổi trẻ. Nhưng tôi nhờ Duy Dân mà biết Hòa Hảo, vào núi sống với Bảy Đởm, làm Cao Ba Quát cho giặc cỏ Lê Duy Mật một thời gian. Hai mươi nhăm tuổi, nhờ vài cái truyện ngắn, tôi được miễn bằng cử nhân, với sự tiến dẫn của ông Nguyễn Bích Liên, người ta nhận tôi làm Biên tập viên và người ta đẩy tôi lên hàng chủ bút! Hai mươi tám tuổi, tôi chửi nhau với Tổng giám đốc Nguyễn Ngọc Tú, bỏ nghề công chức ra làm báo. Bắt đầu làm báo là tôi viết bài quan trọng cho trang nhất. Từ đó là ngông nghênh và ngông cuồng. Vì từ đó tôi biết rõ trí thức khoa bảng và các thần tượng chính trị, thần tượng văn học nghệ thuật. Ba mươi lăm tuổi, tôi nhận ra tôi ngông nghênh láo lếu. Tôi bắt đầu làm lại bằng Tuổi Ngọc. Tôi cố nhịn nhục cuộc đời để dứt bỏ cái ngông nghênh ngu dại của mình. Bốn mươi tuổi, đúng cuối năm 1975, tôi lại ngông. Lần này không biết định nghĩa chữ ngông ra sao vì lần này tôi bị tước đoạt hết, kể cả quyền con người. Tôi nhận lời làm Bộ trưởng Thanh Niên và Tuyên Truyền cho nội các Đinh Xuân Cầu.

Ông Cầu không phải người đầu tiên mời tôi tham gia chiến đấu. Trước ông ta, khoảng tháng 8-1975, một người gọi dây nói cho tôi (bấy giờ, điện thoại nhà tôi chưa bị cắt) bảo rằng có người bạn cũ, đồng hương, muốn gặp tôi. Câu chuyện trong điện thoại:

– Tùy anh lựa chọn địa điểm và giờ giấc.

– Anh phải cho tôi biết tên người muốn gặp tôi.

– Để anh ngạc nhiên. Anh yên tâm, hoàn toàn thiện ý.

– Còn anh?

– Tôi hay đánh phé với anh ở nhà Trần Dạ Từ. Mấy năm trước, tôi là chánh sự vụ sở chương trình của Đài Sàigòn.

– Chiều mai, nhà hàng Kim Hoa, 5 giờ.

– Anh đến một mình nhé!

Tôi đã không đến một mình. Đặng Xuân Côn đến với tôi. Côn đến nhà hàng Kim Hoa, đường Lê Lợi, từ 4 giờ 30. Tôi dễ dàng nhận diện người bạn tây-đầm-bồi-xì. Họ đợi tôi ở chiếc bàn góc phòng. Người bạn cũ, đồng hương của tôi rất … xa lạ với tôi. Chúng tôi chưa hề quen nhau, gặp nhau. Anh ta tự giới thiệu.

– Tôi là em vợ của Đào Quang Huy, dân Thái Bình.

Ông Đào Quang Huy, tiến sĩ luật khoa, luật sư Tòa Thượng Thẩm Sàigòn, thầy cũ của tôi, người bị tôi tặng hỗn danh Huy Cà Chua vì cái mũi to và lúc nào cũng đỏ. Tôi không thích ông Huy từ ngày ông ta làm cố vấn cho Bộ trưởng Thông Tin Linh Quang Viên và ra ứng cử dân biểu đứng dưới tên Trần Thế Minh “tâu tắng”.

– Anh gặp tôi có chuyện gì?

– Việc chung. Nhưng anh mời anh Côn sang dùng chung bữa với chúng ta.

– Xin lỗi, tôi đề phòng.

Đặng Xuân Côn không biết người biết rõ mình. Chúng tôi đi vào chuyện trước khi ăn uống. Tôi học tập Võ Tòng đối xử với Thi Ân.

– Tôi ở rừng về Sàigòn mua thuốc. Tôi trốn trình diện. Chúng tôi muốn mời anh nhập cuộc chơi mới.

– “Chúng tôi”?

– Đàn anh và thầy của tôi, các ông đại tá. Họ đã họp, đã chọn lựa và, cuối cùng, quyết định chọn anh vì ảnh hưởng sâu rộng của anh đối với tuổi trẻ. Tôi được chỉ định về Sàigòn mời anh, nhờ tôi là dân Thái Bình, em vợ anh Đào Quang Huy và chơi thân với anh Chánh sở.*

– Tại sao chỉ mời tôi?

– Muốn các anh không cộng tác với địch.

– Phần đông nhà văn của chúng ta nghèo, anh biết chứ?

– Các ông ấy sẽ lo vấn đề mưu sinh, sẽ có tiền trao tận tay từng anh em.

– Đó là vấn đề tiên quyết. Còn tôi, tôi vào rừng?

– Anh hoạt động ở ngay Sàigòn, khi lâm nguy mới rút vào rừng.

– Cái thân tôi kể như tàn tạ rồi, chẳng sợ ai gài bẫy mình nữa. Cộng sản muốn bắt tôi lúc nào là bắt nên tôi không nghi ngờ gì anh cả. Có điều, muốn tôi nhập cuộc, phải đưa vợ con tôi ra khỏi Việt Nam. Khi tôi biết vợ con tôi an toàn ở ngoại quốc, các anh bảo tôi làm gì tôi cũng làm.

– Anh cam kết?

– Phải, tôi cam kết.

– Tôi sẽ về cho các ông ấy biết điều kiện của anh và sẽ gặp anh tại nhà anh. Tôi sẽ lái chiếc Cortina số ED, đậu bên kia đường. Thời gian chờ đợi, cần liên lạc gì, anh liên lạc với anh Chánh sở. Anh ấy bán xăng lẻ dưới gốc cây đường Trần Quý Cáp, lưu động dọc đường nầy. Đó là một trong những địa điểm của chúng tôi.

– Tôi nhớ.

– Anh Duyên Anh, chẳng cần dấu diếm anh làm gì, nếu hôm nay anh không nhận lời mới của chúng tôi, chúng tôi sẽ bắt anh đưa vào rừng.

Tôi giật mình. Rồi nhìn chung quanh. Có đến năm người nhìn tôi, cười thân mật.

– Sự hợp lý của anh là điều kiện anh nêu ra. Ta cứ coi đây là buổi sơ ngộ.

Ngày hôm sau, tôi đảo dọc đường Trần Quý Cáp tìm người bán xì-phé. Anh ta cho tôi biết em vợ Đào Quang Huy là sĩ quan tình báo và những người có mặt hôm qua đều là biệt kích. Người anh em đã tin tôi, tôi đặt hết niềm tin vào họ. Hai tuần sau, vào một buổi sáng trời mưa, người anh em bấm chuông cổng nhà tôi. Tôi nhìn sang bên kia đường có chiếc Cortina ED đậu. Người anh em che ô đến, dáng điệu bình thản. Tôi biết, bên ngoài còn nhiều anh em khác.

– Các ông ấy đồng ý. Anh cho chị và các cháu chuẩn bị sẵn sàng. Như là đi du lịch, thật giản dị. Sẽ có một em gái trạc 16 tuổi, mặc quần áo hướng đạo đến báo tin và hẹn giờ giấc, địa điểm. Chị và các cháu sẽ đi bằng thuyền nên anh phải lo thuốc chống say sóng. Chuyến này, chị và các cháu đi với một nhân vật quan trọng của chúng tôi. Nếu lỡ, chuyến sau, chị đi với những người vượt biên. Sau khi chị và các cháu an toàn ở Mỹ, chúng tôi sẽ thảo luận kế hoạch đối kháng kẻ thù. Anh cần hỏi gì thêm?

– Nhà tôi được mang theo tiền bạc chứ?

– Được. Theo tôi, vàng bạc, hột xoàn nên để lại. Đi tay không là an toàn nhất.

– Tôi sẽ nghe lời anh.

– Tôi về, ngồi lâu không tiện vì anh có thể bị chúng nó theo dõi.

Người anh em thật chí tình. Ba hôm sau, buổi chiều, một em bé gái, mặc quần áo hướng đạo, đến bấm chuông. Vợ tôi đang lên cơn sốt nặng lúc đó. Tôi dẫn em bé vào phòng. Em bé chứng kiến vợ tôi đang vật vã trên giường. Tôi nhờ em nói giùm là chuyến nầy vợ con tôi không thể đi. Em bé trở lại buổi tối, bảo tôi yên tâm đợi chuyến sau và phải đợi lâu. Mãi đến khi ông Đinh Xuân Cầu tìm tôi, em bé gái vẫn không trở lại trong thao thức chờ đợi của tôi. Tôi đã mất một cơ hội. Chẳng phải tại tôi. Định mệnh đã an bài như thế, đã an bài nỗi thống khổ mà vợ con tôi cam đành chịu đựng cùng với tôi gần trọn một thập niên. Người anh em tuyệt tích. Tuyệt tích luôn người bạn xì-phé bên đường Trần Quý Cáp. Tạm biệt anh em, chúng ta sẽ gặp lại hình ảnh kỷ niệm tuyệt vời ở phòng 6 khu C1, đề lao Gia Định với Thanh Thương Hoàng Nguyễn Thanh Chiểu, chủ tịch Nghiệp Đoàn Báo Chí Việt Nam.

Ông Đinh Xuân Cầu mừng rỡ khi tôi quyết định dấn thân. Tôi muốn giúp ông ta, đi mời nhiều nhân sĩ, trí thức nhưng tất cả đều cho chuyện lập nội các, họp báo quốc tế rồi lưu vong là chuyện phong thần. Miếng đỉnh chung không nhìn thấy, chỉ nhìn thấy con đường dẫn vào nhà tù, vào sự chết thảm, chết vô danh, chết không một nấm mồ; danh vọng không nhìn thấy chỉ nhận thấy cái án tích phản động tập trung cải tạo, sự mỉa mai của bọn thiếu can đảm nhưng đầy ác ý, sự phiền trách của vợ con, nên cái hợp thời và khôn ngoan nhất là tìm cách vượt biên hay ngồi yên hưởng nốt của cải còn lại. Tôi không muốn nhận tôi là người can đảm. Tôi không thích danh vọng chính trị vì tất cả danh vọng của Bộ trưởng, Thủ tướng, Tổng thống Việt Nam không lừng lẫy và vĩnh cửu bằng danh vọng của một nhà văn nổi tiếng. Tôi đã nổi tiếng, ở Việt Nam, chẳng thèm nhờ chức tước Bộ trưởng mà nổi tiếng. Nhận làm Bộ trưởng, lúc này, không ngu thì ngông. Tôi ngông. Thế thôi. Và tôi nghĩ tôi đủ khả năng làm đến nơi đến chốn nhiệm vụ người ta giao phó cho tôi. Điều oái oăm trong số phận của tôi là, người ta chỉ giao phó nhiệm vụ cho tôi, tin tưởng tài năng của tôi vào thời gian bóng xế, vào không gian quạnh hiu của nền chống cộng, vào thời buổi chẳng ai còn một đồng bạc nào cho nhau, chẳng lạc quyên ở đâu nửa cắc để uống nước mía mà làm … Bộ trưởng!

– Ông Cầu, khi ra ngoại quốc, ông tìm người khác thay thế tôi nhé!

– Ông phải làm việc tới khi thành công.

– Tôi không biết làm chính trị. Tôi nói trước kẻo ông sẽ trách tôi, sang nước ngoài, tôi làm cu li mưu sinh. Bấy giờ, mọi việc dễ dàng, ông kiếm Bộ trưởng không khó. Tôi nhắc lại: Tôi chỉ tin ông, không tin Trương Phiên. Và tôi cũng không tin Trương Phiên đem vợ con tôi ra khỏi Việt Nam.

– Thế tại sao ông nhận lời?

– Vì ông tin tấm lòng trong sách của tôi, tin tài năng của tôi. Cũng vì tôi tuyệt vọng, tôi muốn tìm từ trong nỗi tuyệt vọng một niềm hy vọng mới. Tôi đã là con số zéro, tự làm thành con số 9. Hôm nay, tôi lại trở về con số zéro. Tôi không tiếc rẻ sự mất mát. Sự khó khăn của tôi hiện tại chỉ là trách nhiệm của tôi đối với vợ con tôi. Nếu tôi độc thân hay nếu vợ con tôi đã di tản, tôi chấp hết.

– Tôi xin được phép chia xẻ một phần trách nhiệm với ông.

– Cám ơn ông. Tôi sẽ chọn lựa một người làm việc chung với tôi.

– Ông toàn quyền.

Tôi rủ Mai Thảo lên Kim Hoa ăn sáng, nói cho anh ta biết tôi đã tham gia một tổ chức chống cộng sản. Tôi cũng trình bày cái nội các lưu vong và mục đích của nó. Tôi mời Mai Thảo vào cuộc chơi. Anh ta bằng lòng. Rất khiêm tốn, tôi nói:

– Tôi biết ông không câu nệ chức này, chức nọ. Hãy coi tôi làm chủ nhiệm và ông làm chủ bút hoặc ông làm phụ tá.

Mai Thảo cười:

– Xong rồi.

– Ông vì vợ con tôi mà đừng nói chuyện này với ai.

– Tôi hứa.

Mai Thảo hứa và Mai Thảo nuốt lời hứa. Anh ta đem chuyện chống cộng sản cô đơn và lãng mạn của tôi (và của anh nữa vì anh ta đã nhận lời) kể vung vít. Chắc chắn, với sự mỉa mai của anh ta và với những nụ cười khinh mạn của những người nghe anh ta kể. Ít nhất đã 3 người nghe Mai Thảo kế. Doãn Quốc Sĩ, khi nằm chung đề lao số 3 khu C1 đề lao Gia Định, đã thuật lại với tôi. Hoàng Hải Thủy, khi tôi trở về cuối năm 1981, đã thuật lại với tôi và trách móc: “Tại sao mày rủ thằng Mai Thảo mà không rủ tao?” Bà Nguyễn Đình Vượng tâm sự với vợ tôi rằng: “Ông Mai Thảo dặn tôi đừng tin Duyên Anh”, cứ làm như thể tôi sẽ … quyên vàng của bà ta để kháng chiến! Mai Thảo không hề biết chính tôi phải ủng hộ tổ chức của tôi một lạng vàng. Và trong cái lạng vàng chia cắt ra mua xăng nhớt, có mấy chục dúi vào tay Mai Thảo ở nhà hàng Kim Hoa. Nhớ kỹ đi, Mai Thảo. Nhớ thêm có một lần tôi chở Mai Thảo bằng chiếc R-8 xuống làng Báo Chí kiếm Nguyễn Đình Toàn, ăn nhậu ở nhà Toàn, kéo nhau lên Phan Đình Phùng, hút thuốc phiện trên Quang Minh Đỉnh. Lần đó, Mai Thảo khuyến cáo tôi: “Đừng nói gì với Nguyễn Đình Toàn, miệng nó hở lắm”. Trong số nhà văn Việt Nam, tôi có nhiều kỷ niệm với Mai Thảo. Tôi không hề dính dáng tới Sáng Tạo hay Nghệ Thuật của anh ta. Tôi chơi với Mai Thảo khi tôi đã có Hoa Thiên Lý, Thằng Vũ, Mây Mùa Thu. Kỷ niệm khởi sự, Mai Thảo không biết, không muốn biết. Lúc ấy, anh ta nằm ở Grall để … tị nạn tình yêu sau khi bị Lê Quỳnh sửa một trận kỹ lưỡng, rạch trán Mai Thảo vì Mai Thảo dan díu với Thái Thanh. Năm giờ sáng, Anh Ngọc mò lên toà soạn nhật báo Sống, yêu cầu chúng tôi loại bỏ cái tin “từ thành đến tỉnh”, thứ tin xe cán, chó chết, “Mai Thảo bị đánh ghen”, nằn nì chúng tôi và xin các báo bạn đừng đăng tin này, đừng tạo ra xì-căng-đan ầm ỹ. Chúng tôi đã “bao kín”. Tôi quen và thân Mai Thảo từ đó. Được nghe một chuyện tình lớn của anh ta, được nghe tâm sự ủ ê của lãng tử độc thân, tôi mến Mai Thảo. Anh ta trầm lặng, anh ta đứng đắn. Nhưng, cuối cùng, anh ta đã dẫm lên lòng quý mến của tôi dành riêng cho anh ta. Có lẽ, anh ta tưởng tài năng của anh ta quần chúng thiên hạ, bất khả xâm phạm chăng? Có lẽ, anh ta tưởng tôi sẽ chết rủ trong ngục tù, chẳng còn dịp gặp anh ta nữa chăng? Tôi đã hiện diện. Tôi còn sung sức. Mai Thảo thì tàn tạ, cằn cỗi rồi. Tôi không hề có ý “tính sổ” với anh. Chỉ nhắc nhở anh một sai lầm đi ra ngoài cái thiên chức của một nhà văn tự nhận mình là “chef de file” khi anh rỉ tai với Nguyễn Tuấn Anh: “Duyên Anh bậy lắm, trong tù, nửa đêm nó bảo anh em đun nước pha cà phê uống, rồi nó uống một mình!” Làm gì có chuyện ấy, làm như có chuyện xích lô chạy ở Pleiku như anh viết trong tiểu thuyết của anh. Anh chưa có một ngày trong tù cộng sản nên anh không biết rằng, ngay cả cả phê cũng bị cấm đem vào nhà tù nói chi lửa bếp. Ở đề lao Gia Định, đến tháng 8-1976, cà phê và trà bị cấm tiếp tế. Trước đó, cà phê được phép và chỉ pha bằng nước nóng của trại phát buổi sáng và buổi trưa. Tù nhân nào hâm đồ, đun nước, bằng bao túi ni lông trong xà lim, bị phát hiện, sẽ bị còng chân nhốt ở cachot, sẽ bị cấm viết thư, nhận thư và thăm nuôi. Ở Chí Hòa, kỷ luật khe khắt hơn. Bị gọi ra đánh sưng mày mặt. Ở các trại tập trung, nếu lén lút gởi mua được cà phê, tù nhân pha ngoài bãi lao động hoặc chủ nhật tự do nấu nướng trong bếp của trại. Tôi thấy Thế Phong xếp anh vào loại nhà văn viễn mơ không sai. Anh ham ngồi xích lô, nên anh cho nhân vật của anh ngồi xích lô trên đường dốc Pleiku. Anh ghét tôi, ghét kẻ luôn luôn yêu mến anh, ghét kẻ thường xuyên thù tạc anh champagne và vin, ghét kẻ luôn luôn bênh vực anh, ghét kẻ luôn luôn dùng uy thế của mình với các nhà xuất bản để bán tác phẩm dùm anh khi anh đã hoàng hôn xế bóng và anh cho tôi “pha cà phê trong ngục thất nửa đêm” và nhiều chuyện bịa đặt nham nhở khác. Anh Mai Thảo, với anh thì tôi chỉ cần nói sự thật. Và anh đừng quên không phải là tôi không có tài tưởng tượng, thêu dệt.

Đầu tháng giêng năm 1976, ông Đinh Xuân Cầu phát một tín hiệu mới: Một nửa nội các ra đi, một nửa ở lại hoạt động ngay tại Sàigòn. Tôi đến căn nhà của người thợ may, anh ruột của Trần Văn Lợi, khu chợ An Đông, nằm trên gác cùng với ông Cầu. Bây giờ, tổ chức có thêm Đặng Xuân Côn, đặt địa điểm liên lạc với Trương Phiên tại trụ sở Mai Hà công ty, đường Lê Lợi. Sáng 2-1-76, Đặng Xuân Côn tới An Đông để tiễn chân tôi. Buổi trưa, Trương Phiên xuất hiện. Ông ta nói tình hình bất ổn trong chiến khu. Nguyễn Cao Kỳ đã về nước, khống chế lực lượng của Bùi Thế Lân và bắt giam Lân. Kỳ muốn nắm nội các! Trương Phiên phàn nàn linh mục Trần Hữu Thanh không dứt khoát đi hay ở. Chuyến đi phải hoãn. Tôi ngỡ ngàng một chút và ngờ vực nhiều chút. Khởi sự, nội các họp báo quốc tế, cầm chân các thông tin viên bốn tiếng, rút vào bưng, xuất ngoại. Rồi một nửa nội các ra đi không kèn không trống. Rồi tình hình chiến khu bất ổn. Và, sau hết, Trương Phiên bảo tôi:

– Anh đừng về nhà nữa. Công an của phòng chính trị bảo vệ đã bao vây nhà anh.

Trương Phiện dặn dò chúng tôi cách khai báo, nếu rủi ro bị bắt. Phiên quả quyết người của tổ chức nằm ở hàng ngũ công an chấp pháp Sở Công An, không sợ hãi gì cả, anh em sẽ giải thoát. Tôi thực sự lưu vong ở … Sàigòn. Người ta tìm một căn nhà ở Tăng Bạt Hổ, đưa ông Cầu và tôi đến tá túc. Chủ nhà là một kỹ sư nông nghiệp hồi hưu, người miền Nam. Ông cụ biết mưu đồ của chúng tôi và tỏ ra quý mến chúng tôi. Cụ bà càng tha thiết, quyến luyến. Các cụ có 2 người con trai, một du học bên Pháp, ở lại, lấy vợ Pháp; một phi công trực thăng, đã hy sinh tại mặt trận Pleiku. Trần văn Lợi giới thiệu tôi đến đây. Ba người con gái của cụ, một cô là hotesse de l’air đường bay quốc ngoại, đã lấy chồng; hai cô đang còn là sinh viên và là độc giả của tôi. Rất lãng mạng, dù trong nghịch cảnh, hai cô mường tượng nhân vật Dũng cách mạng của Nhất Linh là tôi. Và tôi, tôi cũng thấy ở một cô, dáng dấp của Loan. Nếu sự “bôn ba” của chúng tôi chỉ là một trò chơi của gián điệp Mỹ Trương Phiên thì đau đớn quá. Trò chơi này đã xấc xược bước lên niềm tin của nhiều người bằng gót giày thô bỉ của nó. Tôi đã nghĩ, sau này, nếu tôi còn sống và được viết không gây nguy hai chi đến gia đình ân nhân của tôi, căn nhà số chẵn đường Tăng Bạt Hổ phải là một truyện dài tình nghĩa. Nó phải được ghi rõ số nhà cùng tên tuổi thật của những người cư ngụ trong đó.

Trương Phiên lại đến Tăng Bạt Hổ. Ông ta đưa cho tôi chút tiền. Khi Trương Phiên về, tôi và Đinh Xuân Cầu thảo luận trong nỗi bực tức của tôi.

– Tôi không tin những gì Trương Phiên nói.

– Tôi tin.

– Tôi cũng không tin nó vừa đi Mỹ về.

– Tôi tin.

– Ông tin là quyền của ông, tôi muốn tìm hiểu sự thật với chứng cớ cụ thể.

– Tôi có chúng cớ cụ thể.

– Hai tuần nữa, không rời khỏi Việt Nam, tôi về nhà tôi. Tôi không muốn bị bịp.

Tôi bàn với Đinh Xuân Cầu cái kế hạ sách của tôi bắt trói Trương Phiên lại, sai Sao Giò tra tấn y, Trương Phiên sẽ phải khai sự thật. Ông Cầu cười. Tôi cười. Chúng tôi cười rũ rượi, cười ngây ngất. Đinh Xuân Cầu, rốt cuộc, chỉ là một nghệ sĩ, ngây thơ và mơ mộng. Ông ta đã vẽ ra cảnh đất nước toàn thiện, toàn mỹ khi quyền bính về tay người quốc gia chân chính.

– Nếu Trương Phiên bị bắt, tôi bảo đảm, chỉ vài tháng sau nó được tự do.

– Tại sao?

– Vì nó là gián điệp.

– Còn ông?

– Tôi chết mục trong tù.

– Còn tôi?

– Thôi, đừng nói chuyện này nữa, ông Duyên Anh.

Ông Cầu rời Tăng Bạt Hổ đi đâu, tôi không biết. Tôi ở lại đây một tuần lễ. Khi tình yêu của tôi với cô con gái út của ông cựu kỹ sư vừa chớm nở thì Sao Giò chở tôi đến căn nhà của ông trùm xóm đạo, đường Tô Hiến Thành, Hòa Hưng. Người ta đã tổ chức cầu nguyện cho chúng tôi. Người ta đã cung phụng cho chúng tôi những gì người ta có. Người ta tin tưởng chúng tôi. Chắc chắn, tôi phải tìm cách giết Trương Phiên, nếu trò chơi của nó làm mất niềm tin của nhiều người. Ông Cầu, Sao Giò và tôi tá túc tại Tô Hiến Thành hai ngày. Chúng tôi di chuyển xuống ngã tư Bảy Hiền. Các chức sắc Xóm Mới thay phiên nhau đến thăm chúng tôi. Tôi áp lực với ông Cầu phải bắt Trương Phiên nói sự thật. Ông Cầu đi gặp Trương Phiên.

– Tôi đem các con tôi ra thề với ông rằng, chính mắt tôi, đã coi những dias mà Trương Phiên chụp đứng cạnh Lý Quang Diệu. Trương Phiên nói, để chứng minh sự thật, y sẽ đưa Ngô Quang Trưởng về Sàigòn gặp chúng ta.

– Tôi vẫn chưa tin.

– Vì ông tỏ vẻ không tin nên Trương Phiên có ý đề phòng ông.

Tôi nổi giận:

– Nó đề phòng tôi, tôi sợ gì nó!

Ông Cầu trấn an:

– Ông đừng hiểu đề phòng theo nghĩa xấu. Ngày mai, tôi hẹn Trương Phiên ở nhà em tôi, Đinh Xuân Thọ, đường Nguyễn Hoàng.

Chúng tôi đợi Trương Phiên. Ông ta đã tới. Trương Phiên trả lại tôi một lạng vàng. (Tổ chức mượn tôi 2 lạng). Ông ta đưa tôi coi một tờ báo bí mật in roneo của Phục Quốc. Rồi ông ta nói:

– Nếu các ông nóng lòng ra đi, tổ chức sẽ chỉ lo các ông tới Thái Lan thôi. Tương lai chính trị của các ông sẽ mất mát nhiều, vì các ông khó trở về Việt Nam.

Tôi nói:

– Tôi không cần tương lai chính trị, không cần ra đi. Tôi chỉ cần biết ông kéo dài trò chơi này bao lâu và trò chơi của ông nhằm mục đích gì?

Trương Phiên nghiêm nghị:

– Trước hết, tôi không phải là cộng sản. Thế thì hành động của chúng ta không phải là trò chơi.

Tôi đập bàn:

– Vậy các ông hành động đi, tôi bỏ cuộc.

Tôi về nhà tôi. Tôi không thấy một dấu hiệu nào của sự bao vây, theo rõi tôi. Sao Giò vẫn liên lạc tôi qua Đặng Xuân Côn. Tôi biết ông Cầu đã gặp Thái Ngũ ở Chợ Lớn và đã nhận được tài trợ của Thái Ngũ. Ông Cầu hẹn tôi ở Bảy Hiền. Tôi giới thiệu Hoàng Ngoc Thân với ông Cầu. Ông ta cho chúng tôi hay mọi diễn tiến tốt đẹp. Cuối tháng 1-1976, ông Cầu và Sao Giò bị bắt trên đường vào nhà Thái Ngũ. Chính Trương Phiên lên Nam Hà công ty báo tin này cho Đặng Xuân Côn. Trương Phiên hẹn gặp tôi ở nhà Đặng Xuân Côn. Ông ta đã thất hẹn. Sau Đinh Xuân Cầu, linh mục Trần Hữu Thanh bị bắt. Rồi Trần Thiện Ngọ, Hà Tường Cát … Tôi bắt đầu lo lắng. Ăn tết xong, tôi vẫn chưa bị bắt. Đặng Xuân Côn thường xuyên liên lạc với Trương Phiên. Ông ta nói với tôi rằng không muốn gặp tôi vì tôi nóng tính. Côn có vẻ tin Trương Phiên, ít nhất, tin rằng người của tổ chức nằm ở Sở Công An, do đó, tôi không bị bắt. Tôi cứ thắc mắc tại sao Trương Phiên, kẻ chủ chốt, vẫn khơi khơi ngoài đời?

Nguyễn Văn Sao, từ Sao Giò, chuyển lời của tôi cho ông Đinh Xuân Cầu khi anh ta về phòng. Buổi chiều, anh ta ra hành nghề hớt tóc tù, Sao xin phép cán bộ tặng tôi khúc bánh mì chả quế. Tôi hiểu ý, moi ổ bánh mì, lôi mẫu thư của Cầu: “Ông bi quan quá, mục sư vẫn là mục sư. Tôi tin.” Tôi không tin mà yên tâm ông Cầu đã quên tôi trong “tự khai”. Ba Trung cũng chẳng đề cập gì đến “Nội các Đinh Xuân Cầu” khi mạn đàm với tôi. Nó không gọi tôi ra viết tự khai nữa. Bản tự khai của tôi chưa hết quá trình từ 10 tuổi đến khi tôi di cư vào Sàigòn. Ba Trung bỏ rơi tôi. Nó gọi Đằng Giao. Nó gọi Nguyễn Viết Khánh. Nó gọi Thanh Thương Hoàng. Thời gian này, phòng B tiếp nhận một nhân vật của sách vở Sàigòn: Ông Nguyễn Văn Trường, chủ nhân nhà sách Khai Trí, chủ nhiệm tuần báo Thiếu Nhi. Ông Trường vào với tin sốt dẻo: Các giám đốc của các nhà phát hành Nam Cường, Đồng Nai, Việt Nam đã bị bắt hết. Nguyễn Hữu Hiệu phát biểu một câu chính xác: “Ở chế độ mới, những ai dính líu vào chữ nghĩa mà không bị bắt là một điều ô nhục!” Rất nhiều kẻ không những đã không bị bắt mà còn rạch miệng theo thời kết án những người bị bắt. Thí dụ tên Hồ Thành Đức, chồng của Bé Ký, đã đăng đàn nhục mạ vợ chồng Trần Dạ Từ. Thí dụ con gái tên cộng sản nằm vùng, đã đứng trong phòng triển lãm tội ác Mỹ Ngụy, nhìn sách của Nhã Ca trình bầy mà cười sung sướng. Vân vân … Tôi ái ngại nhất trường hợp Đằng Giao. Cả đời cậu Trần Duy Cát chưa hề vẽ một bức tranh chống cộng sản. Đằng Giao bị bắt chỉ vì là con rể của Chu Tử. Trước 30-4-75, Chu Tử đã yếu lắm rồi, sắp chết rồi. Tay Chu Tử run. Môi Chu Tử thường xuyên mấp máy. Chu Tử theo đứa con trai đầu lòng xuống tàu. Việt cộng bắn tàu. Tất cả sống nhăn hoặc bị thương, trừ Chu Tử bị chết và bị quăng xác giữa biển khơi. Đằng Giao, Chu Thị Thủy ở lại, biến 104 Công Lý thành quán cà phê, bún chả, bánh mì… Bạn bè tá túc 104 Công Lý có Ninh Chữ be be chửi cộng sản, có Nguyễn Hữu Đống, tự Đống hói, giép râu túi vải thời thượng khó hiểu. Anh em văn nghệ tới Đằng Giao ăn uống giúp đỡ bạn đều bị ghi tên vào số đen. Ai ghi? Đằng Giao biết và Đằng Giao chẳng thể tuyết hận được vì kẻ ấy đang có mặt ở Paris, cũng sinh hoạt hội đoàn sôi nổi! Người ta bắt Đằng Giao, bắt vợ Đằng Giao, bắt con mới sinh ra được 3 ngày của Đằng Giao vì 104 Công Lý là nơi tụ tập phản động. Không, vì không bắt nổi Chu Tử, cộng sản giận cá chém thớt. Và đó là đạo đức cách mạng, là khoan hồng chủ nghĩa, là phẩm cách cộng sản! Người ta còn nói thêm, đó là cái “bách chiến bách thắng”, cái “ưu việt” của chủ nghĩa”, cái nôi của loài người. Cộng sản là những người trả thù vặt vãnh, là những người nuôi thù hận cả nghìn đời. Hãy nghe một bài hát của họ:

Ta là người nông dân

Mặc áo lính

Chiến đấu vì giai cấp bị áp bức từ bốn nghìn năm…

Từ bốn nghìn năm cũ, con người đã là đối tượng thù hận của cộng sản. Tất cả đều là kẻ thù của cộng sản khi họ đến. Phải đợi 100 năm sau, khi cộng sản “trồng người” thành công cụ bịt tai, che mắt và chỉ biết tiến lên tuyến đầu mà chết thảm, bấy giờ, họ mới hết nội thù. Nhưng vẫn còn ngoại thù.

…Sống tập đoàn cùng thế giới công khai

Và kiến thiết xã hội ngày mai

Lúc đế quốc đang sắp tan rã dần.

Ta tiền phong tiến tới

Sức chiến đấu đi xuống miền Đông Nam

Lúc đế quốc đã tàn …

Bạn ơi, lúc đế quốc tàn là đời bạn cũng tàn, là con cháu bạn phải hứng đau khổ giùm bạn. Lúc ấy là da đen, da đỏ biến thành công cụ của thù hận trừng phạt da trắng. Và người cộng sản thì làm linh mục, mục sư, giảng phúc ấm về đạo đức, khoan hồng, phẩm cách, ưu việt, hạnh phúc, tự do, dân chủ, hòa hợp… Đừng nghĩ rằng nước Mỹ không thể bị thôn tính bởi cộng sản. Vũ khí tiêu diệt toàn bộ nước Mỹ của cộng sản là lòng ích kỷ, sự trịch thượng và tinh thần thân cộng làm dáng tiến bộ của người Mỹ. Cộng sản luôn luôn tự hào mình giỏi sáng tạo nỗi khổ. Họ sẽ có dịp sáng tạo nỗi khổ trên khắp nước Mỹ. Một trong những nỗi khổ mà người Mỹ ớn hơn bị mọi da đỏ lột da đầu là xuống hầm phân cải tạo, dùng tay bốc cứt, với hàng tỉ con ròi bỏ lên thân thể, chui vào lỗ mũi, lỗ tai. Wait and see, American!

Cuối tuần lễ thứ ba xảy ra một chuyện toát mồ hôi lạnh. Vào lúc 11 giờ đêm, chúng tôi đang nằm yên, bỗng nghe tiếng chìa khóa tra vào ổ. Người cai ngục đã chứng tỏ một nghệ thuật siêu đẳng về sự gây ra tiếng động hăm doạ chết chóc. Chúng tôi vụt ngồi dậy. Cai ngục kéo cánh của sắt thật chậm chạp, cố tình tạo âm thanh “két két” nổi da gà. Hắn vào phòng, cầm tờ giấy, soi dưới ánh đèn vàng:

– Năm người có tên sau đây chuẩn bị đồ cá nhân. Khẩn trương!

Chúng tôi hồi hộp. Tim đập thình thịch. Khoảnh khắc sợ hãi đó, mỗi người trong chúng tôi đều chỉ nghĩ tới sự bất hạnh khốn cùng. Có thể chúng tôi bị bắn. Có thể chúng tôi bị thủ tiêu. Có thể chúng tôi bị lưu đày. Ai là năm người? Ai cũng mong đừng là mình, dám là mình. Cảm giác này không bao giờ có ở những anh bên ngoài nhà tù giải thích về lòng can đảm và phán xét sự khiếp nhược. Những anh ưa giải thích lòng can đảm trong bình yên sẽ xón đái, vải cứt ra quần ngay, sẽ ngất xỉu khi nghe gọi tên mình. Không chừng, quýu quá, mấy anh phán xét rẻ tiền sẽ móc lỗ đít, đưa lên ngửi, rồi nếm và hy vọng đó là phép lạ cứu mình! May quá, chúng tôi không có ai xón đái, tuy rất sợ hãi.

– Nghe tôi đọc tên, đáp có, xách hành lý ra khỏi phòng ngay.

Cai ngục hắng giọng:

– Hoàng Anh Tuấn!

– Có.

Hoàng Anh Tuấn chụp vội cái điều cày và bước ra hành lang.

– Trần Duy Cát!

– Có.

– Nguyễn Hải Chí!

– Có

Cửa phòng khép lại, khóa kỹ. Những người lọt sổ thở phào. Một tiếng đồng hồ sau, khi mồ hôi lạnh của tôi vừa kịp khô thì chìa khóa lại tra vào ổ rất điệu nghệ.

– Ba người có tên sau đây …

Rồi tiếp tục. Đến 4 giờ sáng. Cuối cùng, phòng B còn lại Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Hữu Hiệu, Hồng Dương và tôi là văn nghệ sĩ. Chúng tôi có tin lành sáng hôm sau. Chú công an Hồng nói, đêm qua chuyển tội phạm sang đề lao Gia Định. Năm chúng tôi bị chấp pháp bỏ rơi. Nguyễn Hữu Hiệu nói:

– Nó sẽ phân tán mỏng chúng ta. Gom toàn bộ nhà văn một phòng, tin tôi đi, chúng ta sẽ lập thuyết, sẽ có thuyết mới ra đời.

Tôi cần nói thêm, chúng tôi sống chung với Trịnh Quới Tài, nhân viên của Phòng Nhì cũ, tiếp tục nghề nghiệp qua các chế độ Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu. Ông ta bị bắt từ 1-5-75. Chức tước của ông ta: trung tá phủ đặc ủy Tình Báo Trung Ương. Ông Trịnh Quới Tài làm tự khai ngày nầy qua ngày khác. Thiếu thuốc phiện, trí nhớ của ông ta sụt giảm. Sở Công An biết điều này, mỗi ngày cho ông ta “làm việc” một lần. Ông được hút thuốc phiện và khai báo đủ thứ chuyện. Một nhà báo liếc đọc trên tờ khai của ông ta có tên Thanh Thương Hoàng, Tô Ngọc, Trịnh Viết Thành… Tất cả ký giả nhận tiền của Trung Ương Tình Báo đều bị Trịnh Quới Tài … tự khai. Tuy không liên hệ gì với Trung Ương Tình Báo, Mậu, Hiệu và tôi rất ngán ông Tài. Chúng tôi chỉ sợ làm mất lòng ông ta. Ông Tài thích kể kỷ niệm xuống Long Xuyên, vây bắt bố vợ tôi, ông Nguyễn Ngọc Đề, người “chống luật người cày có ruộng không biết mệt mỏi”.

Cùng với những người bị bắt về đủ thứ tội, cụ già và con nít, chúng tôi ở Sở Công An đã qua bầu cử. Chúa ngục Hai Phận hân hoan bao tin:

– Bầu cử quốc hội cả nước thành công vĩ đại.

Y trơ trẽn nói:

– Gia đình các anh rất cảm động khi đọc thư các anh. Vợ con các anh khen các anh đã vào tù mà còn nhắc nhở bổn phận bầu cử!

Hai Phận bắt chúng tôi viết đúng boong câu mồi của chế độ rồi y khen chúng tôi! Trong một nghìn nỗi bất hạnh con người phải chiu đựng, nỗi bất hạnh chảy nước mắt nhiều nhất là vào nhà tù cộng sản để có ông thầy Hai Phận, biểu tượng thê thảm của chủ nghĩa ưu việt. Cộng sản kiêu ngạo một cách ngu xuẩn. Họ mắc cái bệnh thích làm thầy mọi người. Họ khoái được giáo dục con người. Cứ mở miệng là họ đòi … giáo dục. Họ đã giao nhiệm vụ giáo dục chúng tôi cho Hai Phận dốt nát. Mỗi sáng thứ bẩy, y ngồi chễm chệ trên ghế đẩu, giảng dạy văn hóa Mác xít như Hồ Chí Minh giảng dạy cách giết người. Chúng tôi phải nghe. Không dám cười.

– Hôm nay, tôi dạy các anh về bệnh ghẻ. Các anh có biết tại sao miền Nam ghẻ mà miền Bắc không ghẻ không?

Im lặng, Hai Phận cười:

– Cần một anh trả lời và hỏi. Học, hỏi, hiểu, hành. Học mà không hỏi thì hiểu gì mà hành!

Trưởng phòng bèn lễ độ:

– Thưa ông Trưởng trại, chúng tôi không hiểu tại sao?

Hai Phận gật gù:

– Thế mới phải học. Học, học, học nữa, học mãi. Miền Nam ghẻ vì dân miền Nam mặc quần áo ni-nông. Quần áo ni-nông bí lắm, mồ hôi nhễ nhãi gây ngứa, gãi lung tung rồi nhiễm trùng là sinh ghẻ. Còn miền Bắc mặc quần áo vải, thấm mồ hôi không có ngứa. Đấy, bệnh ghẻ là do ni-nông! Hay chưa? Vỗ tay đi!

Chúng tôi vỗ tay. Hai Phận quả thật vĩ đại hơn Hồ Chí Minh. Y có cả một triệu bài học. Bài học thứ 2 y dạy chúng tôi là … kinh tế:

– Kinh tế miền Nam là kinh tế phồn vinh giả tạo. Cho các anh biết tất cả của cải miền Nam gộp lại cũng chỉ xây nổi một nửa Lăng Bác thôi. Mấy cái máy lạnh, tủ lạnh, xe hơi, honda, ti vi của miền Nam thấm tháp gì! Miền Nam có mỏ dầu hỏa chưa? Miền Bắc đã có, ở huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình đó. Cần quái gì phải giàn khoan, cứ cắm ống nứa xuống đất là dầu phụt lên, muốn xăng có xăng, khí đốt có khí đốt.

Kết luận của bài học kinh tế, Hai Phận hỏi:

– Các anh có muốn ăn thịt lợn quay không?

Trưởng phòng đáp:

– Muốn.

Hai Phận nói:

– Muốn thì chung tiền lại, chiều nay cán bộ đi mua về cho mà ăn.

Hôm nay, chúng tôi nhiệt liệt vỗ tay hoan hộ Hai Phận. Thế giới gọi các nhà tù cộng sản là trại học tập cải tạo. Thế giới dùng chữ nghĩa của cộng sản một cách khơi khơi. Và nếu đúng ý muốn của cộng sản và thế giới tự do, tôi, một tù nhân lương tâm, đã học tập được ở trại cải tao Sở Công An hai bài học phi thường: Bệnh ghẻ do mặc quần áo ni-nông và không cần giàn khoan, cắm ông nứa xuống mỏ, dầu phụt lên, phân loại xăng, khí đốt, khỏi cần lọc!


*Tôi quên mất tên của ông chánh sở chương trình và em vợ Đào Quang Huy

Hoa Bay …

 

Chiều ơi hoa tím đang bay…
Tôi đứng bên này con lộ
Nhìn qua bên kia…là gió
Nhớ ơi em chiếc áo dài!

Mấy mươi năm rồi em nhỉ
Từ khi cổng khép trường xưa
Ông Thầy Giáo nhòa mắt lệ
Quay xe đi về trong mưa!

Mấy mươi năm rồi bỡ ngỡ
Vẫn đau như mới hôm nào
Khi không mà thời thế đổi
Khi không mà như chiêm bao!

Chiều nay tôi trong phố Mỹ
Trên đường con lộ gió xuôi
Tôi nhìn dòng xe chạy ngược
Thấy em đâu đó lòng tôi…

Là những câu thơ rời rã
Là em thanh nhã áo dài
Một thời tự dưng mà lạ
Một thời vậy đó Trời ơi!

Hoa hay mưa rơi tầm tã?
Hoa hay em mới cầm tay?
Áo dài hay là chiếc lá
Mà sao bay chỉ lá bay?

Và hoa bay theo với lá
Mùa Thu đã tới rồi ư?
Cái bóng chiều bay nghiêng ngã
Trong lòng tôi đã mùa Thu!

Tâm sự cùng ai, ai hiểu?
Lòng tôi một hướng áo về
Các em ơi thời niên thiếu
Hoa bay áo bay tóc thề…

 Trần Vấn Lệ

 

 

GIỚI THIỆU TÁC PHẨM MỚI

Tập thơ NGOẢNH LẠI PHÙ DUNG của một tác giả quen thuộc NP PHAN vừa được xuất bản.
Xin giới thiệu cùng các độc giả của Tương Tri.

 

 

 

Lời giới thiệu của nhà văn MANG VIÊN LONG

NGOẢNH LẠI PHÙ DUNG

những ánh nhìn lại sâu thẳm và dào dạt cảm xúc

Cách đây hơn mười năm, tôi có chia sẻ trên trang Văn học của tuần báo Giác Ngộ (và một số trang mạng trong và ngoài nước) quan niệm của tôi về hai vấn đề “Thế nào là một bài thơ hay” và “Thử tìm mẫu số chung cho thơ” giữa bối cảnh các tác phẩm thơ đã được xuất bản ngày càng tăng, và nhất là, thơ đang đứng ở ngã ba đường, với nhiều quan niệm, trường phái, chủ trương sáng tác khác nhau… (Sau này, có in lại trong tập Tiểu luận và Tạp bút “Như những giọt sương” tập I – Nhà XB Hội Nhà văn – 2012).

Hôm nay, qua ngần ấy thời gian theo dõi và đọc thơ, tôi vẫn giữ nguyên quan niệm về thơ của mình: Một bài thơ có chân giá trị phải hội đủ bốn yếu tố: Cảm xúc, Trí tuệ, Nhân bản Kỹ thuật. Theo tôi, thơ  dầu là nhân danh “trường phái nào” đi nữa – cũng đều do “con người” viết ra cho “con người” đọc. Nhà thơ khao khát được giãi bày, tha thiết được tâm sự, sẻ chia – từ đó, có thơ. Người đọc mong ước được cảm nhận, học tập, cảm thông (…) tìm đến với thơ…

Bốn yếu tố (hay điều kiện) này cũng đã được nhà thơ Dylan Thomas diễn giải một cách bay bướm như sau: “Thơ là những gì làm bạn khóc, cười, đau khổ, câm lặng, làm cho các móng chân của bạn lấp lánh, làm bạn muốn làm mọi điều hoặc chỉ ngồi yên một chỗ, khiến bạn thấy rằng mình cô độc trong thế giới, rằng hạnh phúc, khổ đau của riêng mình đã được mãi mãi sẻ chia”. Hay nói đơn giản “Thơ là những gì đáng ghi nhớ trong cuộc sống” (William Hazlitt).

Với cảm thức như vậy, trong hơn mười năm qua – tôi chỉ có dịp được đọc vài ba tập thơ mà mình kỳ vọng, ao ước – trong đó có tập “Ngoảnh lại phù dung” của NP phan.

NP phan (còn có bút danh Nhật Phong) làm thơ không nhiều, thầm lặng, có cuộc sống nội tâm sâu lắng và sống hết lòng cho đam mê thơ ca như niềm an ủi không thể thiếu bên đời; hơn là để chia sẻ, phô trương… Tập thơ dày 140 trang, gồm 67 bài thơ – là những ánh nhìn, những khoảnh khắc “ngoảnh lại” soi rọi vào quá khứ, chiếu sáng kỷ niệm, dò tìm từng bước đi của đời sống trong hiện tại và đôi khi dõi về tương lai dầu chỉ là những bóng hình (…) để tự mình xoa dịu, vỗ về, hay tìm ra cho chính mình một hướng nhìn mới, hướng đi mới – tôi gọi đó là “Những ánh nhìn lại sâu thẳm và dào dạt cảm xúc” rất cần thiết cho mỗi đời người:

(…) tháng ba lỡ đi quá đà

          phảng phất mùi hương và chút chạnh lòng êm ả

          mưa nắng trầm ngâm sớm tối

          một ngoảnh lại phù dung (…)”

(Thơ tình tháng ba)

Vẫn “một chút” trong “Một chút duyên cho ta rong ruổi đời”:

một chút thầm hương bỗng thành trộm nhớ

một chút say, một chút tỉnh, chút buồn vui

một chút tình cho ta lao đao lận đận

một chút duyên cho ta ruổi rong đời (…)”

Tôi đã đọc “Ngoảnh lại phù dung” – có bài đọc nhiều lần, nhưng lần nào cũng cảm nhận thêm “cái mới”, bởi thơ NP phan có nhiều tầng lớp cảm xúc, nhiều tư duy lạ, tinh khôi; nhất là những khám phá sáng tạo cần thiết để mỗi dòng thơ đều là những ánh nhìn trong trẻo, lấp lánh, vẹn toàn!

“… ngày ta khóc giữa cội đời

ngỡ ngàng núi thẳm đã rời sông sâu

chỉ còn một chút niềm đau

ru ta ngủ giữa trái sầu nhân sinh”

(Lời ru)

Tôi đã đôi lần nghĩ, thơ NP phan sở dĩ tạo đươc ấn tượng mới, lạ – chính là ngôn ngữ trong thơ anh đã được chưng cất, tinh lọc sáng tạo nhất của bản thân được kinh qua đời sống. Ví dụ:

“… anh thương em về phía biển muôn phần

sóng vẫn vỗ trong anh

biển vẫn xanh về phía ấy

cách núi, ngăn sông nhưng anh nhìn thấy

cánh hải âu xoãi dài trong nắng vàng mật ong

ở quê mình không có mùa đông

anh muốn em gửi cho anh

những cánh thư đầy nắng

để sưởi cho anh, để giữ cho thật nhiều hơi ấm

để lấp phần trống vắng trong anh”

(Có một mùa đông)

Hay nói một cách khác, “Ngoảnh lại phù dung” là những cung bậc âm vang từ một tâm hồn an tĩnh, như nhiên, như hoa đúng giờ phải nở: “Thơ ra đời khi cảm xúc đã tìm thấy suy nghĩ của mình và suy nghĩ thì đã tìm ra lời để diễn đạt” (Robert Frost):

“… em từ độ rất sầu bi

trái tim vô lượng thầm thì nói thưa

một mai mưa gió cho vừa

cũng đành bỏ mặc mộng thừa điêu linh

cám ơn một chút yên bình

cô đơn tận tuyệt chỉ mình tôi hay

em về chút nắng cầm tay

xin đừng để lỡ một ngày có nhau 

(Xin đừng để lỡ)

          Và lắm khi trong ký ức, những vết thương tưởng như nhẹ, tưởng như đã lành lặn, nhưng lại lâu phai mờ, khi tình cờ “Ngoảnh lại

chợt ngoảnh lại, thời gian

đã nhuốm màu dâu bể

cho lòng ta như thể

quay quắt trời bão giông… 

“…chợt ngoảnh lại, trên đầu

cả hai vầng nhật nguyệt

cả thu đông biền biệt

còn đắm giấc hoàng hoa

chợt ngoảnh lại, còn ta

trong hoang mang trường mộng

trên sông dài biển rộng

chút ảo vọng phù sinh

(Ngoảnh lại)

Ngày đầu năm mới được thư thả “nhìn lại” một quãng đời đã qua của người bạn văn thân thiết; được chia sẻ cùng nhau đôi điều chân tình  – quả thật là một niềm hạnh phúc!

  Quê nhà, tháng Giêng Bính Thân

20.2.2016

  MANG VIÊN LONG