EM BÉ VIỆT NAM VÀ VIÊN SỎI

trantrungdao

Bé thơ ơi cuộc đời em viên sỏi
Khóc một lần nước mắt chảy thiên thu
– Viên kẹo tròn nầy để dành cho Mẹ
Viên kẹo vuông nầy để lại cho Ba
Viên kẹo nhỏ nầy để qua cho chị
Viên kẹo lớn nầy để lại cho em
Còn viên kẹo thật to nầy …là phần Bé đấy
Bên bờ biển Palawan
Có một em bé gái
Tuổi mới chừng lên sáu lên năm
Ðang ngồi đếm từng viên sỏi nhỏ
Và nói chuyện một mình
Như nói với xa xăm.
– Em đến từ Việt Nam
Câu trả lời thường xuyên và duy nhất
Hai tiếng rất đơn sơ mà nhiều người quên mất
Chỉ hai tiếng nầy thôi
Em nhớ kỹ trong lòng
Em chỉ ra ngoài Ðông Hải mênh mông
Cho tất cả những câu hỏi khác.
Mẹ em đâu?
– Ngủ ngoài biển cả.
Em của em đâu?
– Sóng cuốn đi rồi.
Chị của em đâu?
– Nghe chị thét trên mui.
Ba em đâu?
Em lắc đầu không nói.
– Bé thức dậy thì chẳng còn ai nữa
Chiếc ghe nhỏ vớt vào đây mấy bữa
Trên ghe sót lại chỉ dăm người
Lạ lùng thay một em bé mồ côi
Ðã sống sót sau sáu tuần trên biển.
Họ kể lại em từ đâu không biết
Cha mẹ em đã chết đói trên tàu
Chị của em hải tặc bắt đi đâu
Sóng cuốn mất người em trai một tuổi.
Kẻ sống sót trong sáu tuần trôi nổi
Ðã cắt thịt mình lấy máu thắm môi em
Ôi những giọt máu Việt Nam
Linh diệu vô cùng
Nuôi sống em
Một người con gái Việt.
Mai em lớn dù phương nào cách biệt
Nhớ đừng bao giờ đổi máu Việt Nam
Máu thương yêu đã chảy bốn ngàn năm
Và sẽ chảy cho muôn đời còn lại.
– Viên kẹo tròn nầy để dành cho Mẹ
Viên kẹo vuông nầy để lại cho Ba
Viên kẹo nhỏ nầy để qua cho chị
Viên kẹo lớn nầy để lại cho em
Còn viên kẹo thật to nầy…là phần Bé đấy.
Suốt tuần nay em vẫn ngồi
Một mình lẩm bẩm
Ngơ ngác nhìn ra phía biển xa xôi.
Như thuở chờ Mẹ đi chợ về
– Thật trễ làm sao
Em tiếp tục thì thầm
Những câu nói vẩn vơ
Mẹ ngày xưa vẫn thường hay trách móc.
Em cúi đầu nhưng không ai vuốt tóc
Biển ngậm ngùi mang thương nhớ ra đi
Mai nầy ai hỏi Bé yêu chi
Em sẽ nói là em yêu biển
Nơi cha chết không tiếng kèn đưa tiễn
Nơi tiếng chị rên
Nghe buốt cả thịt da
Nơi Mẹ chẳng về dù đêm tối đi qua
Nơi em trai ở lại
Với muôn trùng sóng vỗ.
Bé thơ ơi cuộc đời em viên sỏi
Khóc một lần nước mắt chảy thiên thu.

TRẦN TRUNG ĐẠO

VÔ TRÚ AM

tamnhien

Sớm mai lên núi chiều xuống biển
Ta như mây trắng lặng bay về
Vi vút muôn phương miền tận thấu
Đâu chẳng là không phải chốn quê ?

Thế nên mây trắng đời ta đó
Bay lướt sơn hà khắp bao la
Vốn không ràng buộc không vướng mắc
Chẳng dính vào đâu giữa đang là

Sóng trùng dương vỗ trên đồi gió
Bốn bề lồng lộng hỡi mênh mông
Bát ngát ngàn khơi ta đã thấy
Cả thiên thu hiện ở trong lòng

Lòng như biển hát hòa âm với
Cung đàn nhật nguyệt ngút hồn thơ
Thở nhẹ nhàng theo bầu vũ trụ
Mà nghe mới lạ mãi bây giờ

Tâm Nhiên

THÁNG BA GÃY SÚNG (trích đoạn thật ngắn)

caoxuanhuy

Cao Xuân Huy sinh năm 1947 tại Bắc Ninh. Ông đi lính Thủy quân lục chiến năm 1968, bị bắt làm tù binh tháng 3, 1975 , tù 5 năm. Năm 1982 vượt biên và đến Mỹ năm sau đó. Năm 1985, in hồi ký “Tháng Ba Gãy Súng.” Truyện ngắn này rút trong “Vài mẩu chuyện,” do tạp chí Văn Học xuất bản, ra mắt 4 tháng trước khi ông qua đời.

Cơn thèm đàn bà bắt gã đạp xe loanh quanh trong thành phố.
Đường Hồng Thập Tự lác đác chị em ta đứng thập thò dưới các gốc cây.
“Xe qua lại nhiều quá, không được.”
Gã đảo một vòng công viên trước cổng Dinh Độc Lập. Tối. Mỗi gốc cây đều thấp thoáng bóng người. Vài tay cũng đạp xe rảo rảo giống gã.
“Được rồi.”
Gã tấp vào một gốc cây. Một ả ló ra kéo tay gã:
“Dzô sát trong đây.”
“Nhiêu?”
“Hai chục.”
“Không có đủ.”
“Dzậy có nhiêu?”
“Thổi không thì nhiêu?”
“Mười.”
“Vẫn không đủ.”
“Dzậy chớ muốn nhiêu?”
“Có năm thôi.”
“Hổng được. Đụ má… Chưa mở hàng.”
“Nguyên một ngày lương! Không được hả? Thì thôi.”
Gã quay đi. Ả kéo lại.
“Thôi, có nhiêu lấy nhiêu!”
Gã đứng tựa lưng vào gốc cây. Tụt quần.
Ả ngồi xổm xuống. Làm việc.
Ánh đèn pin bất ngờ chiếu thẳng vào mặt gã đàn ông, kèm theo tiếng quát:
“Đứng yên!”
Gã mở choàng mắt, kéo vội quần lên.
Ả bật dậy, co chân định chạy.
Tiếng lên đạn lách cách. Tiếng quát của tên dân phòng:
“Đưa giấy tờ coi.”
Gã lúng túng moi ra tờ giấy: “Ra Lệnh Tha” với tội danh: “Can tội sĩ quan ngụy”.
Ánh đèn pin dừng lại trên những hàng chữ, ngập ngừng.
Tiếng gã phân bua:
“Tôi mới được thả. Lâu ngày… Thèm quá…”
Tên dân phòng nhỏ giọng:
“Anh tui cũng bị mấy năm như cha, mà đâu có tầm bậy tầm bạ như dzầy. Phải kiếm chỗ kín kín một chút chớ.”
“Tôi cũng muốn vậy, nhưng tiền đâu mà mướn phòng.”
“Nó lấy cha nhiêu?”
“Năm đồng.”
“Năm đồng?” Tên dân phòng bật tiếng cười.
Quay sang phía ả đàn bà, hắn ra lệnh:
“Trả lại tiền cho người ta!”
Không hiểu, ả hỏi lại:
“Tiền? Trả lại…”
Hắn quát:
“Trả lại cho người ta. Rồi đi đi.”
Ả ngập ngừng định lên tiếng, nhưng đành im lặng trả lại tiền.
Gã đàn ông lên xe, đạp đi. Đợi tên dân phòng đi khuất, hắn vòng lại, đến gần ả.
“Này, tôi trả lại năm đồng.”
Ả quay lại. Cái nhìn đậu trên mặt gã vài giây, rồi nói:
“Thôi, giữ lấy xài đi.”

CAO XUÂN HUY

VÔ NGÔN

tranhodung

Lặng câm ! Hề , lặng câm !
Đi – Về , không in dấu
Một đời không tiếng nói
Ai người tri kỷ đây ?

Người – Một đời câm nín
Đá – Muôn đời vô ngôn
Phận người và phận đá
Biết ai buồn hơn ai ?

Người mài gươm lên đá
Hiện một dòng : Phôi pha
đời nghiêng , rơi chiếc lá
Hồn nào vừa đi qua ?

tranhodung

Hương đã về xuôi!

nguyendangmung

Sáng nay Hương về dưới ấy
Mùa thu ở lại trên này
Lá vàng rơi theo lối cũ
Buồn nghiêng vàng phía chân mây

Hương về làm chi cho vội
Để chiều Pleiku heo may
Nhớ em không chừng tôi khóc
Phố quen trống trãi thế này

Đã tới đèo Mang Giang chưa?
Mà sương mù trong cõi nhớ
Ai bảo sương tan rồi hợp
Để tôi khấp khởi mong chờ

Hay là Hương không trở lại?
Mà lòng tôi chẳng hề hay
Rằng xứ sương mù ẩn hiện
Những giấc mơ buồn lắt lay

NGUYỄN ĐẶNG MỪNG

Pleiku 1974

TIẾNG GẦM TRONG CUNG CẤM

truongnghi

Già Lạc lặng lẽ bước ra đường, cánh cửa Am nhẹ khép phía sau lưng nhưng giữa đêm thanh vắng nên cũng gây thành tiếng động rõ to. Mùi hương trầm đuổi theo thoang thoảng như còn muốn níu lấy đôi chân Già nán lại chốn thiền thêm chút nữa. Già thầm trách mình sao lắm chuyện. Chỉ mỗi một câu chuyện cần phải hỏi, rồi chuyện vãn kéo dài đến nỗi Già quên cả giờ giấc. Sư cụ Am Tịnh Liên sau thời kinh chiều cũng mải mê đàm đạo với Già bỏ cả nghỉ ngơi. Nếu đêm chưa khuya, chắc Già cũng chưa phải quay gót.

Ngẩng lên nhìn trời, Già Lạc thấy sao Cày đã lên quá trên đỉnh đầu, trăng thượng tuần xê xế phía Tây bóng khuất sau tàu cau cao. Mọi thứ chung quanh chìm trong yên ắng. Già Lạc trầm ngâm đạp lên cái bóng đổ dài của mình trên đường. Chốc nữa thôi. Cũng đã sắp tới giờ nghe tiếng Hổ gầm phát ra từ phía Hoàng cung.

Hôm trước đem củi vào bán trong chợ Hoàng thành, Già Lạc nghe được tin ngọc thể của Hoàng thượng chẳng ổn. Không hiểu sao mình mẩy Vua bỗng ngứa ngáy sinh ra đầy lông lá. Hình như các Ngự y trong cung không biết đó là căn bệnh gì, tất cả đều bó tay trước hình dạng quái ác của nhà Vua. Người trong Hoàng thành còn tán với nhau là khi mấy đại quan vào vấn an, Vua vụt chồm lên chụp phải một người nhe răng cắn lấy cắn để. Cả triều thần đều một phen kinh hoảng. Từ ấy đến nay, hằng đêm người ta nghe tiếng gầm gừ vang ra từ chốn hậu cung. Thoạt đầu chỉ nghe lơi lơi tiếng hừng hực, nhưng càng về sau thốt lên thành tiếng gầm xé tai của loài dã thú chốn sơn lâm. Mọi người cho là Vua đã hóa thành Hổ.

Già Lạc chợt bật cười thầm. Bấy lâu nay lăn lộn với núi rừng, không chỉ với Thỏ Sóc Hươu Nai…, Già đã từng gặp gần như đủ hết các loài ác thú. Giờ Già bỗng muốn được thấy bóng dáng con người trong hình hài của Chúa sơn lâm. Không khéo lại phạm húy mất. Nhưng nói để mà vui chớ với kẻ thường dân như Già dễ gì diện kiến được long nhan. Mà kể ra cũng lạ, chuyện người hóa Hổ biết được trong đời Già, lần nầy có phải là lần thứ nhất đâu.

Bốn mươi, bốn mốt năm về trước, quãng ấy Già chừng đâu được hai lăm, hai sáu, thuở mà vợ chồng Già mới xuôi về đây che tạm cái lều bên lạch Phù Khê, Già thường theo cửa Quảng Phúc vào ra Hoàng thành đổi chim muông lấy gạo lấy mắm. Già còn nhớ dạo đó cả Thành râm ran câu chuyện người hóa Hổ muốn hại Vua lan ra khắp ngõ hẻm hang cùng. Năm ấy Tiên đế Lý Nhân Tông đang ngự thuyền ở Dâm Đàm xem đánh cá, trời bỗng chợt nổi mây mù mịt mà chung quanh lại có tiếng mái chèo rào rào bơi sát bên thuyền Rồng, Vua sợ có biến nên lấy giáo từ bọn thị vệ ném ra. Mây mù theo đó lắng tan nhưng mọi người hoảng kinh thấy trên thuyền tự nhiên xuất hiện một con Cọp dữ. Người đánh cá vội lấy tay lưới chụp trùm lên con thú. Khi định thần nhìn rõ thì té ra con thú trong lưới đó lại chính là Thái sư Lê Văn Thịnh. Sau nghe đâu triều đình bắt tội là Thái sư học được phép lạ hóa ra Hổ định làm chuyện thí nghịch, nhưng Tiên đế xét vì Thái sư đã có nhiều công trạng với đất nước nên chỉ đưa đi an trí trên miệt Thao Giang.

Già Lạc chép miệng thở dài. Thuở trước là Thái sư, dạo nầy lại là Hoàng thượng. Sao vậy nhỉ. Người hóa thú không phải Quan thì cũng là Vua, không phải kẻ cầm cân nẩy mực thì cũng là người có quyền uy tối thượng !

Xa xa phía trước bóng Hoàng thành chìm dưới chân trời. Ánh trăng mờ mờ soi chẳng rõ đường đi nhưng Già Lạc vẫn rảo bước. Mấy khi nay Già đã vốn quen đi lại, đã quen từng vạt cỏ bờ cây trên đường nầy. Nơi sơn thôn hoang dã lèo tèo mấy nóc nhà, chỉ riêng Già là thường qua lại chốn vắng vẻ nầy để hầu chuyện cùng với Sư cụ Am Tịnh Liên. Am Tịnh Liên chỉ là một mái lá nhỏ dựng bên bờ đầm chừng ba năm nay. Sư cụ là người trước đây như thế nào, ở đâu về đây… Lâu nay Già không tiện hỏi hay đúng hơn là không muốn hỏi. Già chỉ cần biết khi bước vào thảo am của Sư cụ xem có vẻ nghèo nàn so với những ngôi chùa Phật vàng tráng lệ do triều đình xây dựng trong thành, nhưng chỉ có ở đây Già mới thấy mình phiêu phiêu như ở giữa chốn hư vô. Già chỉ cần biết khi tiếp chuyện cùng Sư cụ với bao nhiêu chuyện trên đời không riêng gì là chuyện của cửa thiền, Già thấy mình như nhẹ hẳn ra sau những nhọc mệt với công việc hằng ngày. Nhưng đêm nay… Đêm nay trên đường rời thảo am trở về nhà, Già thấy vẫn còn cái gì đó chưa làm thanh thản được bước chân. Tại sao những người đầu tắt mặt tối như Già không sinh ra chuyện hóa thành ác thú như vậy. Rồi trong hình hài ác thú, con người có hay không có bản tính của con người… !? Già chưa kịp hiểu hết những gì lúc nãy Sư cụ đã nói.

Đang rảo bước Già Lạc bỗng dợm chân đứng lại. Một bóng đen thoáng vụt qua lao biến trong màn đêm dao động cả tàng cây bên đường. Phía trước mặt là một khe nước cùng với nhịp chân chạy vừa rồi, Già biết chắc bóng đen lúc nãy hẳn là một con nai tơ. Ừ, nếu con nai vừa rồi là một con nai trắng thì hay biết mấy. Nếu muốn Già sẽ theo dấu nó đến cùng và chẳng muộn gì nó sẽ dính bẩy sập của Già. Chẳng cần phải dùi mài kinh sử như Thái sư tiền triều làm gì, chẳng cần chi phải đeo đuổi khoa cử, vì dưới triều Hoàng thượng hiện nay đã có lắm người được triều đình ban tước lộc chỉ nhờ vào mỗi một việc là dâng lên cho Vua những con rùa, con chim, con hươu trắng…

Già Lạc soải chân bước qua khe nước rộng. Nói cho cùng, việc Hoàng thượng ưa điềm lành thích vật lạ đâu có gì đáng để phải tán chuyện. Hồi nhận được báo tiệp của Thái phó Lý Công Bình ở Châu Nghệ An phía nam gởi về, Hoàng thượng xa giá đến tận các kiểng chùa, các đạo quán trong thành để lạy tạ ơn trên đã ngầm giúp cho Thái phó thắng giặc. Điều đó tỏ thấy Hoàng thượng rất sùng đạo, đắm vào đạo hơn cả Vua cha. Cả Hoàng thái hậu tiền triều là Linh Nhân Hoàng hậu Ỷ Lan được tiếng mộ đạo cũng chẳng thể so bì. Già Lạc trầm ngâm. Thế thì nay sao Hoàng thượng lại hóa thành ác thú cuồng loạn cắn xé làm ai cũng phải sợ, triều đình phải sắm “kim lung” cho Hoàng thượng ở tạm trong đó. Sao vậy nhỉ !?
* * *
Ánh đèn tờ mờ trong nhà không đủ sáng để xuyên qua phên liếp thưa. Tiếng con Mốc rít khe khẽ ở bên trong. Già Lạc vừa đẩy tấm phên bước vào nó đã quắn quíu vẩy đuôi, dụi đầu quấn lấy chân Già.

– Ông nó về rồi đấy à.
– Bà nó cũng chưa ngủ sao.
– Mới vừa hãm ấm nước đấy, lấy Ông nó uống nghe.

Nhìn bọt nước lá vối lăn tăn nổi trào trên miệng bát đất, Già Lạc hít một hơi dài lắng nghe cái mùi ngai ngái của lá vối đậm hơi khói bếp xông sâu vào trong lồng ngực. Mùi sương đêm hầu như đã rũ bỏ hết bên ngoài sân. Mấy mươi năm rồi vợ chồng Già đạm bạc bên nhau, nó nồng nồng, chan chát nhưng lúc nào cũng quyện sánh như màu sắc cùng mùi vị của bát nước lá vối.

– Sao Bà nó không uống cùng.
– Ừ, Ông nó uống trước đi. Tiếng trong cung đêm nay… có vẻ muộn hơn mọi khi Ông nó nhỉ !?

Có vẻ là vậy, Già Lạc ngập ngừng đưa bát nước lên môi. Hoàng cung là nơi quyền quý cao sang, chắc Hoàng thượng chưa từng dùng tới thứ nước dân dã nầy. Nghe đâu thiên hạ cho rằng Hoàng thượng chính là hóa thân của Đức Thánh Láng Từ Đạo Hạnh. Già còn nghe nói Đức Thánh Láng trước khi hóa có bảo cùng đồ đệ rằng vì túc nhân chưa hết nên phải thác thai vào cung ! Già chưa thấy hết sự huyền diệu của đạo pháp nhưng dưới cặp mắt tục thế của mình, Già nghĩ đã bước vào chỗ chức quyền là nơi phải chấp lấy sự quyết liệt chốn trần đời. Nơi ấy, dễ gì Hoàng thượng đã có được cảnh ấm cúng như Già nâng bát nước mà vợ của Già vừa mới rót cho. Chốn quan trường, chỗ triều trung là nơi cuốn xoáy cuộc sống của tứ dân. Thế nào mới gọi là đủ đạo hạnh để bước vào nơi hiểm ác đó mà vẫn ung dung, thanh thản. Rong chơi trong cõi tồn sinh, dễ gì đạo hạnh thắng được cám dỗ của hưởng thụ và quyền lực… Già Lạc thấy mình như càng lúc càng đắm chìm vào những vướng bận không đâu.

– Ông nó nè, tiếng nó… đấy.

Già Lạc tỉnh người khẽ buông bát nước xuống bàn. Xa xa phía hoàng cung đã vọng đến tiếng gầm của hằng đêm. Ban đầu còn văng vẳng, càng lúc tiếng càng rõ dần. Ban đầu thưa từng tiếng một, càng lúc tiếng càng dồn dập xé màn đêm. Đã chờ đã quen lắng nghe nhiều đêm rồi, Già bỗng nhiên thấy tiếng chúa sơn lâm đêm nay nó khang khác làm sao ấy. Tiếng gầm vang rõ sức thị uy nhưng chất chứa niềm cô độc, có cái gì đấy bi thương, dằn xé ở bên trong. Con Mốc dưới chân Già không nép mình mẹp dí xuống đất giống mấy đêm trước, nó nhổm dậy như muốn cất tiếng sủa lại. Già Lạc nhẹ tay vỗ vào đầu nó mấy cái. Con Mốc lặng lẽ bò sang nằm bên ngạch cửa. Già chợt thừ người ra nhớ lại bài kệ mà Sư cụ Am Tịnh Liên bảo rằng đó là của Đức Thánh Láng. Sao nhỉ, đại khái là :

Cho rằng Có thì cát bụi đều Có
Cho rằng Không thì hết thảy đều Không
Có và Không giống như trăng dưới nước
Chớ chấp vào Không là Có hay Không

– Sao vậy ! Sao Ông nó thừ cả người ra vậy !

Vợ của Già lặng người. Bà thấy hình như Già không nghe tiếng của bà hỏi, hình như Già cũng không nghe tiếng gầm nơi cung cấm còn vang vọng tới. Bà thấy rõ rằng Già đang để tâm lắng nghe tiếng nói ở trong Già.

PHAN TRƯỜNG NGHỊ

ĐỪNG

sao

Đừng chia em
những buồn phiền
Mai sau chết giữa một miền cỏ hoa
Đừng chia em
những xót xa
Đừng chia em
bóng trăng tà nửa khuya
Giọt sương nước mắt
đừng chia
Đừng chia gió …
thuở em về…
chiều nghiêng.

SAO

MỘT TRĂM CỦA MỖI NGƯỜI

nguyendinhbon

Ăn cắp, dù bất kỳ hình thức nào, cũng là một hành vi vô luân

Giữa một đống xô bồ hỗn loạn của một xã hội bước vào thời kỳ suy đồi cuối cùng, nhà văn A là một người thất bại. Anh có đủ sĩ diện để không nịnh nọt các tay viết báo hay biên tập viên giữ các mục sáng tác, văn hóa nên tác phẩm của anh gần như bị làm ngơ khi nó chuyển đến các tòa soạn. Nhưng anh lại không đủ đầu óc tỉnh táo để đi buôn, không đủ bằng cấp để xin làm ở các cơ quan, công ty, xí nghiệp và không đủ sức khỏe để làm phụ hồ, chạy xe ôm… nên cuối cùng nằm nhà, ăn bám bà chị ruột bằng việc chấp nhận sống trên tầng ba nóng bức của căn nhà mà hai chị em thừa kế từ cha mẹ đã mất. Ngoài ba mươi, A cũng đã có vài mối tình nhưng chẳng đi đến đâu, vì người anh thích thì không chịu lấy anh mà người chịu thì anh không muốn lấy!

Những năm này, kinh tế đảo điên, công việc kinh doanh của gia đình người chị cũng xuống dốc, hai vợ chồng họ thường to tiếng nên không khí của căn nhà chung rất ngột ngạt. A trốn suốt trong căn phòng của mình, thậm chí có bữa không muốn xuống ăn cơm, tạm lót lòng với mì gói nước sôi. Nhà bà chị có hai đứa con, đứa con gái lớn mười ba tuổi rất thương cậu, đi học về thường nhín tiền mua cà phê, thuốc lá và quét dọn căn phòng bừa bộn của một văn nhân thất chí!

Ở đời, khi cô đơn, quẫn bách con người ưa nghĩ ngợi. Đàn ông ba mươi tuổi dù có tâm hồn văn chương nhưng cái choán hết tâm trí A đôi lúc là sắc dục và tiền. Vậy nhưng như đã nói đây là kẻ chẳng hề biết kiếm tiền mà chỉ mơ mộng hão. Những ý nghĩ luôn có con đường đi xa thẳm trong hoang tưởng mà cực lạc cũng chỉ là cái chớp mắt cá nhân. Nằm trên chiếc nệm sờn rách, nhiều khi A mơ đến những tấm thân ngà ngọc, những lâu đài vương giả, những tiệc tùng xa hoa trong một xã hội mà A biết, đồng tiền chi phối tất cả. Nhưng làm sao có tiền mà không động đến tay chân trí não?

Một hôm đọc báo thấy dân số nước mình tăng vùn vụt, đâu chừng sẽ là một trăm triệu người trong nay mai, đầu A chợt lóe lên ý nghĩ: “Trời ơi, phải chi mình có thể lấy chỉ một trăm đồng của mỗi người trên đất nước này, thì mình sẽ có chừng… mười tỷ. Lúc đó thì sung sướng dường bao”. Một trăm đồng của mỗi người? Đúng rồi, một trăm đồng gần như vô nghĩa, không ai có thể biết được mình mất một trăm đồng, mà nếu mất một trăm đồng thì cũng không ảnh hưởng gì đến túi tiền, chi tiêu, đời sống. Ôi, nhưng đó chỉ là chuyện của phép màu!

Dù biết chỉ là chuyện hoang đường, nhưng do vô công rỗi nghề nên A vẫn bị cái ý nghĩa kia cuốn hút. Cả ngày hôm đó anh tưởng tượng khi trong túi mình có mười tỷ thì mình sẽ làm gì đây? Đầu tiên là đãi bọn bạn ưa khinh bỉ cái nghèo của mình bằng một chầu long trời lỡ đất, có rượu bia như suối, có sơn hào hải vị và cả chân dài cho tụi nó sáng mắt ra. Sau đó sẽ làm gì nữa? À, sẽ mua một căn nhà nhỏ, riêng biệt, mua một máy tính xách tay đời mới để sáng tác và ngay lập tức in ba cuốn tiểu thuyết cho cái đám nhà văn từng coi thường mình biết mặt. Làm gì nữa? Ôi, lúc đó không biết liệu người trong mộng của mình còn nhớ lời tỏ tình ngày trước và nàng sẽ nghĩ lại hay không?

Thôi, dẹp mộng mơ, vét chút tiền còn lại đi uống cà phê cái đã!

A lang thang ra quán cà phê đầu hẻm. Những người bán vé số không buồn mời mọc vì đã quen mặt. Bỗng nhiên một ông lão râu bạc, đầu quấn khăn, nhìn rất cổ quái đi qua. Ông lão nhìn A và kéo ghế ngôi đối diện với anh. Vừa ngồi xuống, lão đã nói: “Cậu đang có một suy tư bí mật. Cậu có muốn tôi giúp không?”. A giật mình. Lão này là ai, mà sao lại nói năng như nhà tiên tri. Hay đây là một tay thầy bói dạo, muốn kiếm tiền?

“Tôi suy tư bí mật điều gì, và ông giúp bằng cách nào?”. Ông lão cười khà khà, nhìn vào mắt A: “Lão biết hết tất cả. Cậu đang có một ước vọng lớn mà trên đời này chỉ có lão là giúp được”. A hơi ngạc nhiên, dò hỏi: “Ông biết ước vọng của tôi? Vậy nó như thế nào?”. Ông lão ghé tai A, thì thầm: “Ta biết ngươi đang có muốn có một số tiền lớn để thay đổi bản thân, chỉ cần “một trăm của mỗi người”, đúng không?”. Lần này thì A kinh hoàng thực sự, anh quơ tay đụng vào người ông lão để biết đó chắc chắn là một con người thực. Lão già cổ quái cười khà khà, bàn tay xương xẩu nắm tay A đau điếng: “Đúng phải không. Nhưng cái quan trọng là lão có thể giúp cậu hoàn thành sở nguyện”. A lúng túng: “Nhưng ông… ông là ai?” “Ta là ai ư? Cứ cho ta là ông Bụt hay một nhà tiên tri, một phù thủy, một quỷ sứ… tùy ngươi muốn. Nhưng ta chắc chắc, ta sẽ giúp được ngươi!” “Bằng cách nào?” “Bằng chính cái cách mà cậu đã tưởng tượng ra, ăn cắp chỉ “một trăm đồng của mỗi người”. “Ý tôi hỏi là ông sẽ làm điều đó bằng cách nào?” “À, điều này là hoàn tòan bí mật với nhà phép thuật. Cậu chỉ cần biết là ta làm được”. “Làm thế nào để tôi tin ông?” “Chỉ cần cho ta số tài khoản của cậu, sau đêm nay, đầu tiên tại cái thành phố mười triệu dân này, mỗi người sẽ mất một trăm đồng, và như vậy cậu sẽ có một tỷ. Sau đó đến những địa phương khác” “Tôi vẫn không tin, ông có gì chứng minh không?” “Hãy lấy tiền ra từ cái túi rỗng của cậu, xem nó có bao nhiêu?”. A nhìn vào túi áo, nó đã cộm lên, anh móc ra, toàn là mệnh giá lớn, mới cứng. Cứ nghĩ là mơ, A ngắt dái tai mình, nhưng đó là thật. Ông lão nói: “Tin rồi chứ hả? Bây giờ thì những đồng tiền trên tay cậu sẽ biến mất, vì nó không phải đến từ túi tiền của ai”.

Ngay lập tức những đồng tiền trên tay A biến mất như chưa từng có. Anh ngớ người, hoàn toàn choáng váng với thực tế đang diễn ra. Lão già lại nói: “Ta sắp đi, nếu muốn giàu có như ước mộng vừa qua, cậu hãy viết cho ta số tài khoản của mình”. Như bị thôi miên, A lấy bút trên túi áo, viết số tài khoản anh lập từ thời còn cộng tác tin xe cán chó với vài tờ báo mà đã lâu không dùng, đưa cho ông lão. Lão chống tay vào gậy, đứng lên. A hỏi thêm: “Nhưng nếu đó là sự thật thì ông có điều kiện gì cho tôi không? Và liệu như vậy thì có… sai trái gì không”. Lão già bước đi, quay lại nói: “Ta không có điều kiện gì, số tiền đó có từ ý của ngươi. Còn có sai trái gì không thì ta không trả lời”. Thoắt một cái, lão đã đi xa, A ngồi lại một mình, như kẻ đang mộng du.

Buổi chiều đó A cứ bị hình bóng lão già ám ảnh, anh nằm trên giường trong căn phòng nhỏ nóng bức, không muốn xuống ăn cơm với gia đình. Đứa cháu gái mười ba tuổi chạy lên lầu, lo lắng sờ trán cậu, hỏi: “Cậu ơi, cậu bệnh hả? Con mua thuốc cho cậu nha” nhưng A lắc đầu, đầu óc vẫn chìm trong mộng tưởng. Cô cháu sợ cậu đói, mang cơm lên tận phòng…

Cả đêm A thức trắng, chỉ mong trời mau sáng để xem phép thuật của lão già cổ quái kia linh nghiệm ra sao dù với chút tỉnh táo còn sót lại, A cho rằng đó chỉ là cơn hoang tưởng. Sáng ra cô cháu còn lo sợ nên trước khi đi học lên hỏi sức khỏe cậu, A trấn an, nói mình không sao. Đúng tám giờ sáng, A ra ngân hàng nơi mình đăng ký tài khoản và suýt ngất xỉu khi nghe cô nhân viên ngân hàng thông báo, số tiền trong tài khoản của A tăng vọt lên gần một tỷ đồng. Cố trấn tỉnh, A lắp bắp: “Tôi… tôi có thể rút số tiền này ra bây giờ không?”. Cô nhân viên ngân hàng gõ lộp cộp trên máy tính, sau đó thông báo: “Do tài khoản của quí khách tăng đột ngột và nơi chuyển đến chưa được xác minh, nên xin mời đầu giờ chiều quí khách quay lại, chúng tôi sẽ làm thủ tục để quí khách rút tiền”. A rời ngân hàng như đi trong cơn mơ. Vậy là ông già kia nói thật. Chắc ông ta là ông Bụt giữa thời loạn này. Vậy là bước đầu anh đã có trong tài khoản một tỷ đồng. Tiền đó chỉ mấy tiếng đồng hồ nữa sẽ nằm trong túi anh, những dự định tiêu tiền rồi sẽ thành sự thật. Bạn bè rồi sẽ không còn nhìn anh với ánh mắt khinh khi, các cô gái sẽ thôi trốn tránh anh, bà chị sẽ hết cằn nhằn, những cuốn tiểu thuyết bìa cứng sẽ ra đời và …cuộc đời A rồi sẽ đổi thay từ đây!

A lang thang khắp thành phố vì nôn nao không muốn về nhà. Đúng 2 giờ chiều, anh quay lại ngân hàng. Cô nhân viên ngân hàng mỉm cười nhìn A trìu mến: “Chúng tôi đã xác minhh, số tài khoản và tiền của quí khách hoàn toàn hợp lệ. Giờ quí khách cần rút ra bao nhiêu?”. Niềm vui như nổ tung trong đầu A. Anh lắp bắp: “Cho tôi rút, cho tôi rút…”. Ngay lúc đó điện thọai trong túi A reo vang, A cầm điện thoại lên, thấy tên bà chị vội bật nghe. Tiếng bà chị gào khóc vang lên: “Cậu về liền đi, con bé Hai chết rồi cậu ơi!”. Tưởng nghe lầm, A thảng thốt: “Chị nói gì, ai chết?” “Con bé Hai, nó dại dột, nó chết rồi, cậu về nhà ngay đi!”.

A ù té chạy ra cửa trước con mắt ngạc nhiên của các nhân viên ngân hàng. Anh hộc tốc về nhà. Hàng xóm xúm đen trước cửa. Anh gạt ra. Lao lên lầu nơi có tiếng khóc rền rĩ của người chị. Ngay tại phòng anh xác đứa cháu thân yêu đã được đem xuống đặt trên nền nhà, mặt cháu bé sưng phù vì thắt cổ. A như đổ gục xuống bên xác cháu, thều thào: “Vì sao cháu ơi, vì sao cháu lại làm điều này”. Bà chị ngất lên ngất xuống vì đau đớn, đưa cho A một tờ giấy học trò: “Đây, cậu coi đi, nó làm mất tiền của lớp, chỉ có năm ngàn mà bị cô giáo, bạn bè nghi ngờ ăn cắp, nên nó mới dại dột như vầy, con ơi là con ơi… có năm ngàn sao phải chết con ơi!”

A lập bập đọc lá thư tuyệt mệnh của cháu gái. Nét chữ rõ ràng: “Cháu là thủ quỷ, giữ tiền cho lớp, lớp cháu 50 bạn, sáng ra mất năm ngàn, cháu nói là mình không lấy nhưng các bạn và cả cô giáo cứ nghi ngờ, cháu phải chết để chứng minh mình trong sạch”. Trời ơi! A gào to một tiếng. “Một trăm của mỗi người”. Trời ơi! Anh lao ra ban công. Từ lầu ba cắm thẳng đầu xuống nền đất cứng!

Viết lại vào ngày 10.4.2013
(Đã in trong tập KIỀU- NXB Sống- Hoa Kỳ)

EM KHÉP CỬA RA VỀ

linhphuong

Em khép cửa ra về
Đêm qua chẳng còn nữa
Căn phòng đầy bông hoa vỡ
Chảy máu từ đâu đó trên cơ thể sặc mùi thuốc lâu năm
Cọ rửa cơn đau nhức vết thương
Anh hôn mười ngón chân em thơm mùi da thịt
Mười ngón chân nổi gân xanh buồn da diết
Để yêu da diết đến cuối đời

Em cởi xiêm y qua giấc mộng lâu rồi
Trắng nõn từng mi li mét
Trắng nõn từng ngóc ngách
Vòng tay anh rã rời siết chặt vòng ôm
Người đàn bà giấu giữa ngực mình vầng trăng
Giận hờn vu vơ không đâu mà rớt nước mắt
Em hóa thành em khác
Đánh rơi chiếc khăn tắm xuống lằn ranh sinh- tử của anh

Người đàn bà giấu hình bóng người đàn ông trong trái tim
Chếnh choáng men rượu cất từ vùng hương con gái
Uống cạn giọt nơtron ngai ngái
Sự thăng hoa đẩy lùi tế bào phát triển hũy diệt tế bào
Anh dỗ dành anh,anh dỗ dành cơn đau
Em lặng lẽ cọ rửa vết thương chờ bác sĩ
Phán quyết liệu pháp proton hay hóa trị ?
Tùy thuộc vào kịch bản lâm sàng

Em khép cửa ra về bỏ quên mảnh vải tang
Đêm qua bệnh viện khóc người đàn ông vừa chết
Đêm qua bệnh viện khóc mối tình chúng mình khánh kiệt
Vĩnh biệt anh –vĩnh biệt bông hoa vỡ cuối mùa
Em khép cửa ra về dù nắng hay mưa
Nhớ nhé chuyến xe định mệnh hôm nào bàn tay nắm
Nhớ nhé lời khẩn cầu tuyệt vọng
Rằng anh ơi ! Em sợ vuốt mặt anh lần sau cùng

Em khép cửa ra về thật dửng dưng
Khi ngọn đèn néon cô y tá trẻ vội vàng bật công tắc
Đêm qua Sài Gòn bỗng dưng thao thức
Nghe tin dự báo bão số 2 cách Hải Phòng-Quảng Ninh hơn 300 km đường chim bay
Sờ soạng tìm lại đôi bờ vai
Mệt nhọc vuốt ve bờ vai em ngày anh còn sống
Đừng chật lòng khi bầu trời xanh vẫn rộng
Và thơ anh vẫn nặng nề chuyện bệnh hoạn -áo cơm

LINH PHƯƠNG

MẶT TRỜI SAU LƯNG

tranvanle

Gió thoảng qua chiều lạnh bỗng dưng
Sắt se thương quá lá hàng phong
Xanh tươi mấy tháng đang vàng úa
Mấy tháng cuối đời…rụng cuối năm!

Có hai người chia tay cuối đuờng
Rồi mờ mờ nhạt bóng hoàng hôn
Nắng chiều sót chút màu tim tím
Tê tái môi người mấy nụ hôn?

Mặt trời không còn sau lưng người
Và sau lưng người không chi vui
Gió thơm phảng phất mùi hoa lý
Đêm báo hiệu ngày đã cạn thôi!

Ta cũng cạn dần ly rượu cuối
Không buồn rót tiếp để mời ai
Trăng đầu tháng hiện trên đầu núi
Trăng có cùng ta đến sáng mai?

Ta hứng buổi chiều cơn gió thoảng
Trút vào đêm đợi dế mèn kêu
Khép bâu áo tưởng ta Đà Lạt
Ta nhớ làm sao sương trong veo…

Đôi mắt của em ngày đó vậy…
Buồn ơi không biết đã bao chiều!


Trần Vấn Lệ