Hãy nói trước ngày chết

trantrungdao

Trong lịch sử nhân loại, không có một chủ nghĩa nào tàn bạo hơn chủ nghĩa Cộng Sản.
Từ khi Tuyên ngôn đảng cộng sản ra đời năm 1848 cho đến khi bức tường Bá Linh bị đập đổ vào 1989, khoảng gần 100 triệu người từ nhiều quốc gia đã bị giết. Hơn hai mươi năm qua, mặc dù ngọn lửa vô thần đã tắt trên phần lớn quả địa cầu, một góc trời phương đông lửa vẫn còn đỏ rực, nhà tù vẫn còn giam giữ nhiều người bất đồng với chế độ độc tài toàn trị và tự do vẫn là một bóng mây xa.
Người đời có thói quen kết án Stalin đã gây ra tội ác tày trời đối với nhân dân Liên Xô, Mao Trạch Đông đã giết trên 30 triệu nhân dân Trung Quốc và Pol Pot tiêu diệt một phần tư dân tộc Khmer bằng súng và cả bằng dao phay, cán cuốc. Những chuyện đó ngày nay nhân loại đều biết và tội ác của chúng không còn là vấn đề tranh cải nữa. Tuy nhiên, làm thế nào một nông dân có gốc gác bình thường, nếu không muốn nói là hiền lành như Mao lại có thể trở thành sát nhân của mấy chục triệu dân Trung Quốc? Làm thế nào Pol Pot, con của một điền chủ giàu có, được gởi sang Pháp ăn học, được bạn bè nhớ lại như một người nhã nhặn, lịch sự và được gọi là trí thức trong xã hội Khmer còn chậm tiến lúc bấy giờ, nhưng sau khi nắm chính quyền đã giết hai triệu dân Khmer bằng búa, dao và những cách giết người tàn bạo hơn cả trong thời Trung Cổ?
Bởi vì chủ nghĩa Cộng Sản trang bị cho chúng một quyền lực tuyệt đối, một niềm tin cuối cùng, một lối thoát tinh thần, một chỗ dựa lý luận để giải thích cho hành động bất nhân của chúng.
Nuon Chea, người đứng hàng thứ hai của chế độ Khờ Me Đỏ chỉ sau Pol Pot, lạnh lùng trả lời báo chí, những kẻ bị giết chỉ vì họ là “ kẻ thù của nhân dân”. Đơn giản vậy thôi. Chúng ăn rất ngon và ngủ rất yên dù sau một ngày ký hàng loạt bản án tử hình.
Giết một vài đối thủ thì không sao nhưng để loại bỏ hàng triệu người là chuyện khác. Stalin không thể lên tận các trại lao động khổ sai ở Siberia để bỏ đói những người chống đối y. Mao Trạch Đông không thể xuống từng trường học để tra tấn các thầy cô trong Cách Mạng Văn Hóa, Hồ Chí Minh không thể đích thân xử bắn bà Nguyễn Thị Năm trong Cải Cách Ruộng Đất. Nhưng họ có khả năng huấn luyện, đầu độc một thế hệ đao phủ thủ trẻ tuổi hăng say và cuồng tín để làm thay. Quyền lực đặt vào tay đám đao thủ phủ trẻ này chẳng khác gì con dao bén để chúng thanh toán những mối thù riêng và lập công dâng Đảng.
Tháng 10 năm 2002, nhà báo Mỹ Amanda Pike đến Campuchia để tìm hiểu nguyên nhân tội ác diệt chủng của Pol Pot đã không được làm sáng tỏ. Amanda Pike phỏng vấn bà Samrith Phum, người có chồng bị Khờ Me Đỏ giết. Theo lời kể của bà Samrith Phum, vào nửa đêm năm 1977 chồng bà bị một Khờ Me Đỏ địa phương bắt đi và giết chết vì bị cho là “gián điệp CIA”. Hung thủ chẳng ai xa lạ mà là người cùng làng với bà Samrith. Hiện nay, kẻ giết người vẫn còn sống nhởn nhơ chung một làng với bà cách thủ đô Nam Vang vài dặm nhưng không một tòa án nào truy tố hay kết án.
Với chủ trương “Dân tộc Khờ Me cần đào hố để chôn đi quá khứ” Hun Sen đã cản trở Liên Hiệp Quốc rất nhiều trong việc điều tra tội diệt chủng của chế độ Pol Pot. Hun Sen cản trở vì bản thân y cũng từng là một sĩ quan Khờ Me Đỏ. Hun Sen nhiệt tình với lý tưởng CS đến mức bỏ học theo Pol Pot khi còn trong tuổi thiếu niên. Nhiều chi tiết trong quảng thời gian từ 1975 đến 1979 của cuộc đời y vẫn còn trong vòng bí mật. Khi chôn quá khứ của Campuchia, Hun Sen muốn chôn đi quá khứ tội lỗi của mình.
Tình trạng kẻ sát nhân và gia đình những người bị sát hại vẫn còn sống chung làng, chung xóm, chung thành phố không chỉ phổ biến tại Campuchia nhưng cũng rất phổ biến tại Huế sau vụ Thảm sát Tết Mậu Thân 1968.
Số người bị giết trong vụ Thảm sát Tết Mậu Thân khác nhau tùy theo nguồn điều tra nhưng phần lớn công nhận số người bị giết lên đến nhiều ngàn người và “kẻ thù nhân dân” không chỉ là công chức chính quyền VNCH mà còn rất đông sinh viên, học sinh, phụ nữ, trẻ em và ngay cả một số giáo sư ngoại quốc. Ông Võ Văn Bằng, Nghị viên tỉnh Thừa Thiên và cũng là Trưởng Ban Truy Tìm và Cải Táng Nạn Nhân Cộng Sản Tết Mậu Thân, kể lại: “Các hố cách khoảng nhau. Một hố vào khoảng 10 đến 20 người. Trong các hố, người thì đứng, nào là nằm, nào là ngồi, lộn xộn. Các thi hài khi đào lên, thịt xương đã rã ra. Trên thi hài còn thấy những dây lạt trói lại, cả dây điện thoại nữa, trói thành chùm với nhau. Có lẽ, họ bị xô vào hố thành từng chùm. Một số người đầu bị vỡ hoặc bị lủng. Lủng là do bắn, vỡ là do cuốc xẻng.”
Tài liệu liên quan đến Thảm sát Tết Mậu Thân rất nhiều, từ điều tra của các nhà nghiên cứu nước ngoài cho đến các nhân chứng sống Việt Nam. Đến nay, thành phần được nghĩ đã gây ra biến cố đầy tang thương cho dân tộc Việt Nam này là những người Huế “nhảy núi”. Họ là những người bỏ trường, bỏ làng xóm, bỏ cố đô lên rừng theo CS và Tết Mậu Thân đã trở lại tàn sát chính đồng bào ruột thịt của mình. Họ là những kẻ vừa được giải thoát khỏi nhà giam Thừa Phủ đưa lên núi huấn luyện vài ngày rồi trở lại giết chết những kẻ bị nghi ngờ đã bỏ tù họ.
Không giống quân đội chính quy tấn công Huế, những du kích nằm vùng, những thanh niên, sinh viên, học sinh là những người sinh ra và lớn lên ở Huế, thuộc từng tên phố tên đường, biết tên biết tuổi từng người. Họ lập danh sách và đến từng nhà lừa gạt người dân bằng cách “mời đi trình diện” rồi sẽ trả về nhà ăn Tết. Những người nhẹ dạ đi theo. Mà cho dù không nhẹ dạ cũng chẳng ai nghĩ mình sắp bị chôn sống chỉ vì làm chức liên gia trưởng của năm bảy gia đình, ấp trưởng một ngôi làng nhỏ, xã trưởng của vài trăm dân. Kết quả, từng nhóm, từng đoàn người lần lượt bị đem ra “tòa án nhân dân” và kết án tử hình.
Người “nhảy núi” nổi tiếng nhất là Hoàng Phủ Ngọc Tường.Ngày 12 tháng 7 năm 1997, Hoàng Phủ Ngọc Tường trả lời câu hỏi của nhà văn Thụy Khuê về sự liên quan của ông đối với vụ Thảm sát Tết Mậu Thân : “Sự thực là tôi đã từ giã Huế lên rừng tham gia kháng chiến vào mùa hè năm 1966, và chỉ trở lại Huế sau ngày 26 tháng 3 năm 1975. Như thế nghĩa là trong thời điểm Mậu Thân 1968, tôi không có mặt ở Huế” và ông cũng thừa nhận Thảm sát Tết Mậu Thân là có thật chứ chẳng phải “Mỹ Ngụy” nào dàn dựng “Điều quan trọng còn lại tôi xin ngỏ bầy ở đây, với tư cách là một đứa con của Huế, đã ra đi và trở về, ấy là nỗi thống thiết tận đáy lòng mỗi khi tôi nghĩ về những tang tóc thê thảm mà nhiều gia đình người Huế đã phải gánh chịu, do hành động giết oan của quân nổi dậy trên mặt trận Huế năm Mậu Thân. Đó là một sai lầm không thể nào biện bác được, nhìn từ lương tâm dân tộc, và nhìn trên quan điểm chiến tranh cách mạng”.
Khi được hỏi ai là những người phải chịu trách nhiệm, Hoàng Phủ Ngọc Tường phát biểu “Nhưng tôi tin rằng đây là một sai lầm có tính cục bộ, từ phía những người lãnh đạo cuộc tấn công Mậu Thân ở Huế” và tiếp tục nêu thêm chi tiết chính Đại tá Lê Minh, tư lệnh chiến dịch Huế Mậu Thân thừa nhận trong tạp chí Sông Hương “Dù bởi lý do nào đi nữa, thì trách nhiệm vẫn thuộc về những người lãnh đạo mặt trận Mậu Thân, trước hết là trách nhiệm của tôi.”
Tóm lại, Hoàng Phủ Ngọc Tường trong buổi phỏng vấn dành cho nhà văn Thụy Khuê xác nhận ông ta không có mặt ở Huế trong suốt thời gian Huế bị CS chiếm đóng và những kẻ sát hại thường dân vô tội là do các “lãnh đạo cuộc tấn công Mậu Thân ở Huế” chủ trương.
Tuy nhiên 15 năm trước đó, ngày 29 tháng 2 năm 1982, trong buổi phỏng vấn truyền hình dài 15 phút dành cho hệ thống WGBH, Hoàng Phủ Ngọc Tường thừa nhận việc dư luận đang tố cáo ông là đúng, nghĩa là chính ông đã có mặt tại Huế: “Tôi đã đi trên những đường hẽm mà ban đêm tưởng là bùn, tôi mở ra bấm đèn lên thì toàn là máu …Nhất là những ngày cuối cùng khi chúng tôi rút ra ..” và ông cho rằng một số người dân Huế chết thảm thương là do sự trả thù của chính người Huế với người Huế “chính nhân dân đã căm thù quá lâu, đó là những người đã bị chính nó tra tấn, chính nó đã làm cho tất cả gia đình phải bị đi ở tù ra ngoài đảo v.v. và đến khi cách mạng bùng lên họ được như là lấy lại cái thế của người mạnh thì họ đi tìm những kẻ đó để trừ như là trừ những con rắn độc mà từ lâu nay nếu còn sống thì nó sẽ tiếp tục nó gây tội ác trong chiến tranh.”
Nếu phân tích theo thời gian và diễn biến chính trị thế giới, đặc biệt sự sụp đổ của phong trào CS quốc tế, câu trả lời của Hoàng Phủ Ngọc Tường vào năm 1982 là thành thật và sát với thực tế Mậu Thân nhất. Trong giai đoạn chuyên chính vô sản vài năm sau 1975, không chỉ ông ta mà cả các lãnh đạo CSVN vẫn nghĩ “con đường tất yếu” là con đường “tiến nhanh, tiến mạnh, tiếng vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”. Không có một thế lực nào cản trở sức chảy của “ba dòng thác cách mạng”. Vào thời điểm 1982, Hoàng Phủ Ngọc Tường chẳng những không sợ gì phải che giấu mà còn xem đó như một thành tích cần được nêu ra. Xem đoạn phim, khuôn mặt Hoàng Phủ Ngọc Tường đằng đằng sát khí khi diễn tả việc giết một viên chức VNCH: “chỉ lấy lại mạng sống của một người, giá đó rất nhẹ và công bằng” .
Thái độ đó hoàn toàn khác với giọng ôn tồn khi ông ta nhắc lại lời của Đại tá CS Lê Minh như thay cho chính mình 15 năm sau “bây giờ, là những người lãnh đạo kế nhiệm ở Huế, phải thi hành chính sách minh oan cho những gia đình nạn nhân Mậu Thân, trả lại công bằng trong sáng và những quyền công dân chính đáng cho thân nhân của họ”. Thời gian đổi thay, lịch sử đổi thay và con người cũng thay đổi. Không phải chỉ Hoàng Phủ Ngọc Tường mà cả những cựu lãnh đạo CS Đông Âu, một thời giết người không chút xót thương, sau 1990 cũng trả lời báo chí với giọng ngọt ngào như thế.
Nhiều bạn hữu của Hoàng Phủ Ngọc Tường như tác giả Ngô Minh viết trên talawas 2008, cho rằng Hoàng Phủ Ngọc Tường “trong suốt những năm lên “xanh” ở A Lưới, Hoàng Phủ Ngọc Tường không được phân công về thành phố hay đồng bằng một chuyến nào cả” mà không biết hay cố tình bỏ qua sự kiện 26 năm trước chính Hoàng Phủ Ngọc Tường đã xác nhận mình ở Huế với những tình tiết mắt thấy tai nghe của một người trong cuộc.

Hai buổi trả lời phỏng vấn hoàn toàn trái ngược chứng tỏ Hoàng Phủ Ngọc Tường phải có một khó khăn để giải thích sự liên hệ của mình đến vụ Thảm sát Mậu Thân. Lời phát biểu của ông cho thấy một điều, những người bị giết chắc chắn biết người giết mình là ai.
Không giống Hoàng Phủ Ngọc Tường mâu thuẫn, hai ông Nguyễn Đắc Xuân và Hoàng Phủ Ngọc Phan từ trên núi theo đoàn quân CS đánh vào Huế. Hai ông không từ chối điều này nhưng đều phủ nhận đã có liên hệ gì với Thảm sát Mậu Thân. Trong bài viết nhân đọc bài “Trịnh công sơn – Những hoạt động nằm vùng” Hoàng Phủ Ngọc Phan khẳng định: “Còn tôi thì có theo chiến dịch về hoạt động ở Thành nội Huế nhưng tôi không hề giết ai cả, suốt gần 10 năm đi kháng chiến cũng không hề làm thiệt mạng một con thú trên rừng chứ đừng nói là con người.”
Nhà văn Nhã Ca kết án ông Nguyễn Đắc Xuân trong Giải Khăn Sô Cho Huế vì đã “đích tay đào một cái hố, bắt một bạn học cũ có xích mích từ trước ra đứng bên hố để xử tử” và ông Nguyễn Đắc Xuân đáp lại trong bài Hậu Quả Của “Cái Chết” của tôi: “Còn tôi, một sinh viên Phật tử mới thoát ly chưa đầy một năm rưởi, không có quyền hành gì, nếu tôi muốn làm những việc như Nhã Ca viết thì cũng không thể làm được. Không ai cho tôi làm. Nếu tôi tự ý làm, làm sao tôi có thể thoát được sự phê phán của đồng chí đồng sự của tôi, đặc biệt là những người sau nầy không còn đứng trong hàng ngũ kháng chiến nữa…”
Chuyện “thoát ly chưa đầy một năm rưỡi” không chứng minh được ông ta không có quyền giết người, trái lại cũng có thể giải thích ngược, càng tham gia trễ càng phải chứng tỏ nhiệt tình cách mạng cao độ, càng phải giết nhiều người, càng phải lập nhiều công. Nói thế không phải để đánh bồi thêm một người đã ngã nhưng cho thấy lời biện bạch của ông không thuyết phục.
Trong tinh thần “Lợi ích của sự ngờ” (Benefit of the doubt), tạm cho những lời người khác kể về các ông chưa đủ bằng chứng kết tội, tuy nhiên, các ông Hoàng Phủ Ngọc Phan và Nguyễn Đắc Xuân, những thành viên tích cực của phong trào đấu tranh đô thị, hoạt động 26 ngày trong lòng thành phố Huế bị rơi vào tay các ông với nhiều ngàn người dân vô tội bị giết bằng những cách dã man hơn cả bọn diệt chủng Pol Pot mà các ông nói rằng không biết gì, không thấy gì thì trẻ con ngây thơ cũng không tin được.
Và không chỉ ba ông Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Phan mà cả thế hệ “nhảy núi” ở Huế trong đó rất nhiều nhà nghiên cứu văn hóa, nhà văn, nhà thơ, họa sĩ, nhạc sĩ cho đến nay vẫn không biết gì, không thấy gì, không viết gì về Thảm sát Tết Mậu Thân thì quả là chuyện lạ. Hãy thử đặt mình trong vị trí của gia đình các nạn nhân vụ Thảm sát Huế, các ông có nghĩ rằng chính Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân hoặc đã giết hoặc biết chắc ai đã giết thân nhân các ông các không?
Lẽ ra Thảm sát Tết Mậu Thân phải là nguồn thôi thúc cho nhiều tác phẩm văn học lớn nói lên sự đau khổ, sự chịu đựng tận cùng của đồng bào Huế nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung.
Lẽ ra những người đang bị dư luận kết án, nếu thật sự không tham dự vào cuộc tàn sát, thay vì than mây khóc gió trong văn chương hay lao đầu vào cơm áo, nên dành phần còn lại của đời mình đi tìm cho ra cội nguồn gốc rễ để vừa giải oan cho đồng bào mà cũng minh oan cho chính mình. Gia đình nạn nhân còn đó, nhân chứng còn đó, hầm hố còn đó, bạn bè còn đó, chứng tích còn đó, chế độ còn đó. Có thể người đọc vì sự công phẫn chưa nguôi, sẽ không tin hết các điều các ông các bà viết nhưng nếu đúng rồi lịch sử sẽ tin. Nếu không làm thế, cơ chế độc tài này chắc chắn sẽ tàn lụi nhưng tên tuổi Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Thị Đoan Trinh v.v.. mãi mãi vẫn là những dấu đen ngàn đời không phai.
Dư luận khắt khe nhưng không bất công. Suốt 42 năm, các ông các bà có rất nhiều cơ hội để làm sáng tỏ một sự kiện lịch sử mà các ông các bà từng tham dự, nhưng ngoại trừ việc phải trả lời vài buổi phỏng vấn rải rác đó đây, các ông các bà im lặng. Kết án lại những người kết án không phải là cách trả lời mà nhân dân Việt Nam đang muốn biết. Ông Nguyễn Đắc Xuân được gọi là “nhà Huế học” nhưng Huế không chỉ có sông Hương, núi Ngự, lăng tẩm, đền đài mà còn có Bãi Dâu, Khe Đá Mài, khu Gia Hội và hàng chục ngôi mồ tập thể khác.
Đời sống của một dân tộc không chỉ gồm những thời đẹp đẻ, vinh quang mà còn cả những giai đoạn đau buồn, tủi nhục.
Tại sao ông không viết?
Phải chăng những người “nhảy núi” ở Huế cũng giống như Hun Sen hay tên Khờ Me Đỏ giết chồng bà Samrith Phum năm 1977, đang cố chôn đi quá khứ ?
Sự im lặng của các ông là lời tự tố cáo lớn tiếng nhất.

Dân tộc Việt Nam đã trải qua nhiều thời kỳ suy vi và phân hóa nhưng sự kiện một số người dã tâm tàn sát nhiều ngàn người Việt khác trong chỉ vài tuần bằng các phương tiện phi nhân chưa từng có như ở Huế là lần đầu. Vết thương Mậu Thân sẽ không bao giờ lành một khi tội ác chưa được đưa ra ánh sáng. Nền tảng của hòa giải là công lý và sự thật chứ không phải che đậy và lãng quên.
Nhiều tác giả đã viết về Thảm sát Mậu Thân. Những dữ kiện trong bài viết này không có gì mới mà đã được nhắc đi nhắc lại. Dụng ý của kẻ viết bài này chỉ muốn nhấn mạnh một điều rằng, nhiều trong số những người “nhảy núi” còn sống ở Huế hay trong và cả ngoài nước, nhưng chắc không sống bao lâu nữa. Tuổi tác của các ông các bà đều trên dưới bảy mươi. Thời gian còn lại như tiếng chuông ngân đã quá dài. Tất cả sẽ là không. Các ông các bà ra đi không mang theo gì cả nhưng sẽ để lại rất nhiều. Vẫn biết con người khó tự kết án chính mình nhưng các ông, các bà vẫn còn nợ dân tộc Việt Nam, nhất là các thế hệ mai sau, câu trả lời cho cái chết của nhiều ngàn dân Huế vô tội.
Ngọn nến trước khi tắt thường bật sáng, vì tương lai dân tộc, các ông các bà hãy sáng lên sự thật một lần trước ngày chết.

Trần Trung Đạo

THIÊN SỨ

linhphuong

Soi gương em nhé ! Chiều Sài Gòn
Nắng sẽ phớt hồng lên đôi má
Mặc váy đầm. Chao ôi ! Rất lạ
Để đôi chân trắng muốt. Đi về

Tóc rối rồi. Soi gương em nhé !
Chút son môi trang điểm cho người
Bao nhiêu cặp mắt nhìn đắm đuối
Chết nửa hồn bởi em kiêu sa

Góc phố nào kín cổng tường hoa
Nơi em ở là nơi anh đến
Nụ hôn môi thành câu thề hẹn
Se tóc dài cột nửa đời nhau

Trời hôm nao mây thấp ngang đầu
Che gió thổi tạt mùa mưa tới
Sợ ướt vai mềm. Nên em vội
Nép vào anh đi dưới giáo đường

Chiều Sài Gòn. Chiều rất dễ thương
Cho chúng mình sóng đôi dạo phố
Bàn tay lớn nắm bàn tay nhỏ
Dẫu mai xa. Xa cũng không đành

Mặc váy đầm. Thiên sứ của anh
Em thánh thiện giữa đời trần tục
Em thanh khiết-em xinh đẹp nhất
Mang giáo điều kinh thánh bước ra

Bởi yêu em-anh quá thật thà
Đâu hiểu được những lời mật ngọt
Là nhát dao đâm sâu giữa ngực
Giết đời anh-từng phút-từng giờ

Thiên sứ ơi ! Sao nỡ đánh lừa ?
Để anh chết vô cùng thê thảm
Chúa cũng tức mình buồn khóc hận
Nhìn tim anh rịn máu tươi hồng

Quên thôi em nhé ! Chiều Sài Gòn
Không còn nữa ngày xưa thơ mộng
Gã giang hồ bao năm lận đận
Giờ nằm yên dưới đất lạnh căm

Thiên sứ ơi ! Em thật nhẫn tâm
Chôn tình anh bên mồ tận tuyệt.

LINH PHƯƠNG

TA NÍN THINH…

hochibuu

Ai bảo ta buồn nên lá khóc
Rụng vào góc tối cuối hàng hiên
Ai bảo ta buồn trong cô độc
Rượu chảy vào ly- túi rổng tiền

Giang hồ- ta chẳng là hảo hán
Hào sảng bằng thơ cũng tức cười
Ngoảnh lại tầm tay dăm thằng bạn
Thằng nào cũng ngơ ngác – ma trơi

Nhiều lúc chửi thề cho sướng miệng
Chửi luôn mình chẳng biết nâng bi
Tại ta ngu không thèm lòn cúi
Quậy lắm bùn nhơ chẳng ích gì ?

Thì thôi- cứ làm thơ tán gái
Tán tới tán lui một chút tình
Yêu em vì bởi ta khờ dại;
Mai mốt lấy chồng. Ta nín thinh…

HỒ CHÍ BỬU

TÁN GẪU : ĐẦU NĂM NÓI CHUYỆN ĂN VỤNG

thuyvi

“Thế giới có triệu điều không thể hiểu
Càng hiểu không ra lúc cuối đời
Chẳng sao khi đã nằm trong đất
Đọc ở sao trời sẽ hiểu thôi”

(Mai Thảo)

Đúng là thế giới có triệu điều không hiểu, như sáng hôm nay, dậy uống cà phê, đọc bản tin buổi sáng, chưng hửng, thất vọng khi thấy mặt mày tướng tá người đàn bà mà ông tài tử kiêm cựu Thống đốc tiểu bang California vụng trộm suốt chục năm nay…

Chuyện ngoại tình của thiên hạ là chuyện “muôn đời” hấp dẫn, nhất lại là chuyện của những người nổi tiếng thì càng đình đám, tỷ như chuyện ông chính khách này hay bà tài tử kia… léng phéng ăn vụng thì chính là đề tài cho mấy bà mụ gọi điện thoại “tám” mệt nghỉ. Tôi cũng thuộc loại “chúa” tò mò nên mấy ngày nay bận rộn nghe ngóng liên miên -Cứ canh ngay giờ Talk- show, nghe mấy ông mấy bà Host đủ chuyện trên đời – Chỉ cần một đề tài “nóng” là dịp mấy ông mấy bà chẻ băm cắt nhỏ kéo lê thê nói từ chuyện này qua chuyện kia còn hơn mấy bà hàng xóm ngồi lê ở xóm tôi hồi đó.

Như chuyện mới đây thôi – chuyện ông chính khách gì đó nghe nói rất sáng giá, thiên hạ kháo nhau kỳ này ông chắc mẻm sẽ đuổi ông Tổng thống Pháp có bà vợ ca sĩ kiêm người mẫu đẹp hết xảy và thiệt là sexy về vườn để ông lên ngự trong kỳ bầu cử sắp tới…. ai dè mới vừa bị cảnh sát cùm tay mời vô nghỉ mát trong nhà tù nước Mỹ vì con lợn lòng mắc bịnh kinh niên “nổi cơn” rọ rạy bất tử khiến cô bồi phòng người da đen kêu tá lả trong khách sạn tại New York… Chuyện thực hư, gài bẫy dính chấu sao chưa biết – vì tòa chưa xử, nhưng kỳ này ông mới thiệt là tiêu tán thoòng cái sự nghiệp đang sáng rực như đám sao chổi trên trời… Thiên hạ bàn dân cả thế giới đang xì xầm, kẻ chắc lưỡi, người hít hà, bàn ra tán vô còn nóng hôi hổi thì kế tiếp ông tài tử nổi tiếng nước Mỹ lên truyền hình thú tội ngoại tình và có con với bà ôsin khiến một lần nữa thiên hạ có chuyện “tám” tiếp…

Chuyện đàn ông không qua khỏi “ải mỹ nhân” là chuyện…thường tình – Bị bầm dập vì mỹ nhân là thường tình – Bị thân bại danh liệt vì mỹ nhân cũng “who care”. Nhưng lạ một điều đàng này lại bị một người đàn bà không gì đặc biệt, tướng tá thô ráp knock-out ông chồng lừng lẫy, húc té ngửa luôn cả bà vợ đẹp đẽ thanh mảnh, có gout ăn mặc thẩm mỹ, lại vừa là con cháu dòng họ Kennedy danh gia thế tộc mới là chuyện… không hiểu nổi! Hèn chi bà không đùng đùng xách vali ra khỏi nhà sao được!

Bà ra đi là phải. Vì sự tôn nghiêm, bà không cần phải hơn thua với tình địch “nặng ký” hơn bà, và không cần phải làm mình làm mẩy vì người đàn bà như thế. Cái mà tôi thắc mắc, thiệt tình thắc mắc, giống như chuyện tình tay ba của ông Thái tử chờ ngai vua “dài cổ” mặt mày nhăn nhăn nhó nhó Charles nước Anh – Ai đời ông hững hờ với cô vợ trẻ đẹp Diana chỉ để ôm lòng tình si với bà nạ dòng Camilla suốt mười mấy năm dài. Khi công nương Diana chết vì tai nạn, ông Thái tử mừng quá ôm ngay người đàn bà cục mịch “về dinh” tức khắc.

Thế giới có triệu điều không hiểu. Đúng như ông nhà văn Mai Thảo than thở – Úy, mà cũng ngộ – ông này thời trẻ cũng đâu tệ, cũng thuộc loại điển trai đó chứ… Sao ông không có vợ vậy cà? Ông không có vợ vì ông không thèm lấy vợ, hay đàn bà không thèm lấy ông…..?!
Có đề tài để khua môi rồi.
Vậy nghen !

thụyvi

.

CA KHÚC TẶNG XUÂN HỒNG

thuongvuminh

Tặng Vương

Mùa xuân, ta bước về phố cũ
hai hàng sao đứng rũ bên đường
ô hay, là tết hay chưa tết
mà sao hồn nặng nỗi vui mừng

Nhớ không, cây dã quì khép nép
nở đi, nghìn vạn đóa hoa vàng
đàn chim nhỏ nhẹ bay về tổ
ta nhỏ nhẹ về trong nắng xuân

Này em, cô nhỏ mười hai tuổi
mùa xuân áo đỏ với hài xanh
còn không, ngồi hát bên rèm cửa
thuở ta về qua đó một mình

Mùa xuân, ta bước về trên cỏ
hồn bay tản mạn với muông chim
ngắt vội cành hoa tươi trước cửa
nhắm mắt – mơ vào trong trái tim

Còn đó, chưa phai mầu lục diệp
con phố bay nghìn xác pháo hồng
ôi tới bây giờ ta mới thấy
bốn mùa còn lại một mùa xuân

Này em, cô nhỏ mười hai tuổi
em ở phương nào không có ta
gửi em một chút mưa nồng cũ
một thuở mơ nào đã quá xa

Mùa xuân, ta đứng trong thành phố
không dưng nước mắt rụng bên đường
ô hay hồn nhẹ như là khói
theo gió bay về giữa nắng nhung

THƯƠNG VŨ MINH

XUÂN HUYỀN

tamnhien

Mây và gió đưa anh về chốn cũ
Phập phồng đi hồi hộp giữa mong chờ
Ngờ ngợ ngó nhìn ai quen lạ
Rộn niềm mơ ý mộng cõi thơ thơ

Bờ với bến xanh xanh màu bổi hổi
Ngồi lại đây bên hiên quán chiều tà
Đợi tri âm đến kìa em đến
Rợp đường xuân bừng rộ trổ hoa ra

Tỏa loang đầy lâng lâng trời ngào ngạt
Lạ lùng sao ảo diệu thấm tim mềm
Đẹp quá ! Đẹp kinh hồn sững sốt
Ơi mị kỳ duyên dáng ngát hương em

Mình cùng nắm tay nhau mừng tao ngộ
Lời say say trong lai láng bồi hồi
Mời em cạn chén hồng xuân tửu
Mà bàng hoàng như một giấc mơ thôi

Tâm Nhiên

TẾT PHỐ

daothithanhtuyen

1. Mấy năm trước, đối diện nhà tôi có gia đình làm nghề mứt tết. Khoảng đầu tháng chạp đêm phố thơm mùi gừng, lào rào tiếng chậu thau và cả tiếng rì rầm nói chuyện. Mùi tết đậm đặc, ngọt ngào hơn khi đến công đoạn xên đường rồi cứ thế lan tỏa từ khu phố nhỏ ra đường lớn. Những tấm bạt trên vỉa hè, quần áo đổ đống cũng có mà thẳng thớm trong bịch nylon cũng có. Đủ các chiêu thức quảng cáo bài “hạ giá” phục vụ đối tượng trẻ, sinh viên, người lao động, công nhân. Thỉnh thoảng đi qua, tôi cũng tò mò ghé lại xem thử hàng hóa thế nào và làm con tính nhẩm bài toán kinh tế cơ bản. Hàng lỗi mốt, lỗi kỹ thuật… Vốn liếng người bán trút hết vào đó nhằm “đánh cú chót” kiếm tiền tiêu tết, ra sức thuyết phục người mua bằng giá cả và những lời quảng cáo thật hài hước. Tết mà, đắn đo làm chi, mua thì có cái diện ba ngày xuân vui cửa vui nhà.

Một vòng phố chợ, đã thấy màu tết từng ngóc ngách cuộc sống. Thợ chùi đồ đồng tối mặt bởi phải giao cho kịp trước ngày cúng ông Táo. Các dịch vụ tất bật hơn, trăm thứ bà lằng chỉ phục vụ cho mỗi nhu cầu tết. Và, phố phường sáng bừng lên khi hoa ra phố. Tết đã thực sự về trên từng góc phố, trong mỗi gia đình. Vỉa hè nào cũng có thể tận dụng để bán hoa. Có thể là nhà vườn đem ra bán, cũng có thể người mua đi bán lại mong kiếm chút đỉnh tiêu tết. Với tôi, chộn rộn trong cái không khí chung những ngày cuối năm như thế đã là tết. Mới thấy giá trị của thời gian, một năm trôi qua, trẻ con lớn lên, người lớn già đi, thời gian giúp cho con người có cơ hội trải nghiệm. Sống riết rồi biết là vậy!

2. Cũng cách đây không lâu có mấy nhà cạnh nhà tôi năm nào cũng nổi lửa nấu bánh trước nhà khi con cháu về đông đủ có người trông coi trực nồi bánh tét. Mùi khói len lỏi khắp xóm, từng nhà. Những đêm chờ tết nhờ thế mà vui. Nhà không nấu bánh thường gia đình ít người, vợ chồng trẻ. Một vòng phố về, người thảnh thơi dừng xe vài ba câu chuyện làm quà với người đang canh nồi bánh. Có khi, nán lại lâu hơn nếu câu chuyện không có hồi kết, dường như không có khoảng thời gian một năm giữa người đi xa và người ở lại.

Thời gian dần trôi, những nồi bánh tét nhỏ dần rồi mất hẳn. Có gia đình bán nhà theo con vào thành phố, có gia đình con cái ra riêng tự lo tết ở gia đình nhỏ. Đôi lúc tôi thắc mắc không hiểu họ có đem theo mùi khói tết cuối năm về xóm nhà mới?

Mùi gừng cũng vào cáo chung khi bà cụ qua đời, con cái bán nhà, dọn đi xóm khác. Tôi cũng không biết họ có mang mùi gừng cuối năm về xóm mới?

Bây giờ tôi lại chú ý đến những nồi bánh tét “công nghiệp”, quy mô hơn trên con đường tôi đi chợ mỗi ngày. Đâu quãng 20 tháng chạp, có một người đàn ông làm công việc đắp lò ở ngoài sân. Bắt đầu là xây gạch vòng tròn sau đó mới đắp đất chung quanh. Cạnh đó cánh phụ nữ vừa vo nếp vừa chuyện trò rôm rả. Nhìn vào trong nhà nào lá, nào nếp, nào đậu xanh, dây lạc… Không khí vui như tết khi người gói, tay làm, miệng nói, tiếng gọi bảo nhau…

3. Từ chuyện tết phố mình, tôi nhớ bạn kể chuyện tết xứ người. Năm đó, do vườn nhà bạn có nhiều lá chuối, cả nhà nghĩ ra chuyện gói bánh chưng. Mấy ngày trước tết, vợ lo ngâm nếp, mua thịt, đậu xanh, gia vị.. làm nhân. Chồng kiếm một cái thùng phuy sắt thật lớn đề nấu bánh, lấy gỗ đóng khuôn gói bánh. Huy động anh em gom gỗ vụn, cành cây khô, những vật liệu có thể đun nấu, làm một cái bếp dã chiến ngay sau vườn. Xế chiều hôm ấy, chồng đặt lò, nổi lửa. Xui làm sao, mấy hôm trước mưa dầm, củi bị ướt, thế là khói nghi ngút khắp xóm. Cuối tháng Giêng ở Cali khá lạnh. Vợ chồng cùng các con, cháu vui vẻ co ro sưởi ấm quanh nồi bánh chưng. Nhìn khói trắng cuồn cuộn bốc lên chồng bồi hồi kể lại những ngày tết xưa ở quê nhà. Nồi bánh chưng nấu được một lúc thì mọi người giật mình vì tiếng còi xe cứu hoả dồn dập tiến sát về khu vực nhà. Ông bà ngơ ngác chạy ra xem thì thấy hai chiếc xe Fire Department (cứu hoả) án ngữ trước cửa. Nhân viên cứu hoả xông vào và sau khi xem xét hiện trường đã khuyến cáo gia đình không được đốt lửa ngoài trời vì giữa khu dân cư, có thể gây ô nhiễm và nguy cơ cháy nhà! Hỏi ra mới biết, hàng xóm thấy khói nghi ngút đã gọi cứu hoả. Có thể họ gọi báo cáo tình nghi cháy nhà, hoặc cũng có thể họ gọi để than phiền vì phải ngửi mùi khói suốt mấy tiếng đồng hồ. Rốt cuộc, hai vợ chồng đành lấy hai cái nồi lớn khác, cố nhét vào mỗi nồi ba cái bánh chưng để nấu tiếp bằng bếp nhỏ trong nhà. Số còn lại phải gỡ nếp và thịt riêng ra. Thế là thành một chõ xôi và một nồi thịt kho đột xuất! Từ đó bạn tôi cạch luôn chuyện gói bánh chưng.

4. Tối ba mươi tôi lại dạo một vòng ra phố. Những cây mía ở quê đem xuống từ chiều. Tất cả như dừng lại khi nhà nhà sạch sẽ, tươm tất từ những chậu hoa bên ngoài cho đến đèn sáng rực bên trong. Ngày mai là mùng một mọi người được sống chậm. Phố sẽ thức dậy trễ, đường phố vắng hơn. Mọi thứ chộn rộn dường như đã lùi lại rất xa.

Năm mới, hy vọng mới… Cứ vui ba ngày xuân đã rồi tính tiếp!

ĐÀO THỊ THANH TUYỀN

Ngày Nguyên Đán

tranvanle

Sáng đầu năm không nắng. Tôi đi dạo vườn hoa. Một con bướm bay qua. Hoa nở chào con bướm…
Hoa nở cùng một hướng – hướng Đông, hướng mặt trời. Con bướm thì đi chơi, mặt trời chắc còn ngủ?
Bầy chim trên cây lựu / ngắm nghía những mầm non, đẹp như mẹ với con / vờn nhau và ríu rít.
Chuông Chùa ngân tha thiết. Chuông Nhà Thờ vang vang. Mây và sương dần tan. Nhà hàng xóm mở cửa.
Một mặt trời rực rỡ / từ trong nhà hiện ra. Cô hàng xóm như hoa / nở giữa vườn nhân thế…
Tôi nghĩ ba ngàn bể / cũng một lòng như tôi: những đóa sen mỉm cười hứa với đời Thương Mến!
Thêm con bướm bay đến. Thêm chuồn chuồn…và thêm / những con chim không quên / đường tìm hoa hút mật!
Đẹp ơi hummingbird! Đẹp ơi con chuồn chuồn. Trên nhành hoa giọt sương / từng mặt trời lấp lánh…

Trần Vấn Lệ

MUÀ XUÂN

transa

Muà Xuân Mai sẽ nở
Đi đâu nhớ trở về
Những đoá hoa vẫn đợi
Với nụ cười mừng vui

Mây trắng bay trên trời
Hoa vàng tươi mặt đất
Trong khu vườn bình yên
Ta và Mình là một

Nắng ngàn năm vẫn còn
Gió mãi hôn lên lá
Vĩnh viễn là như vậy
Yêu – Như ngày đầu tiên

Trân Sa

CHUYỆN KỂ CUỐI NĂM TA

xuanphong

Dù không chút cảm tình với nhà thơ, nhà chính trị Tố Hữu nhưng khi kể chuyện cuối năm ta trong đầu tôi vẫn ghi nhớ hai câu thơ của ông:
“Đêm cuối năm riêng một ngọn đèn
Dở, hay, khôn, dại những chê khen”
Đó là cái nhìn hướng nội- nhìn trở lại những công việc mình đã làm trong năm qua để rút ra bài học.

Năm qua có lẽ điều đáng kể nhất với tôi là được đọc trên mạng 2 tập sách của ông già Trần Đỉnh . Vỡ vạc ra nhiều thứ. Trần Đỉnh bằng cây bút nhà báo, tâm hồn nhà thơ và bản lĩnh của một nhà chính trị đã cho ra đời đứa con “già tháng, già năm” : tập hồi ký Đèn Cù – mà ông gọi là “truyện tôi”-. Tôi cho rằng Đèn Cù sẽ tạo cú hích cho nhiều tác phẩm na ná như vậy trình làng trong những năm về sau. Bởi vì các nhân chứng sống của thế kỷ 20 vẫn còn, còn nhiều; và những sự kiện nằm yên trong các bộ nhớ của họ sẽ tiếp tục ra đời.

Lâu nay hình như tôi đang sống trong bóng tối của một rạp chiếu phim (ciné). Ngước nhìn lên màn ảnh, những câu chuyện cứ thế hiện dần ra. Xem đến đâu biết đến đấy. Người coi trước biết trước, người coi sau biết sau. Tuy nhiên, cái đoàn làm phim đó – những người trong cuộc- thì ít ai biết họ.

Ở một tỉnh ven biển miền trung Việt Nam, nơi có cây cầu được báo chí ca tụng là cây cầu vượt cây cầu vượt biển dài nhất nước; theo tôi chính xác hơn có lẽ đó là một cây cầu dài vượt đầm nước mặn ( không nhiều cầu vượt đầm nước mặn trên thế giới ). Một ngày nọ cây cầu bị hỏng. Do được thiết kế chịu lực yếu chỉ cho phép xe dưới 30 tấn chạy qua. Sau khi đưa vào sử dụng xe bốn, năm mươi tấn chạy qua kìn kìn suốt năm. Thế là cây cầu bị đứt dây cáp phải ngừng sử dụng. Sau đó người ta thay bộ cáp khác xịn cho cầu. Điều đáng chú ý là bộ dây cáp trước đây được mua từ Trung Cộng rồi bị đứt là vì chịu quá tải do đoàn xe ngày đêm chở một thứ kim loại nặng là titanium để bán cho Trung Cộng. Người đi du lịch Trung Cộng về nói: sang bên đó thấy cát đen đổ đống cao như núi ở Hải Khẩu, tỉnh đảo Hải Nam. Trung Cộng mua nhiều titanium để làm gì? Tại sao ta mua cũng mua của Trung Cộng mà bán cũng bán cho Trung Cộng? Tiền bán titanium chạy về đâu? Để rồi suốt một dọc ven biển ấy mảng cây xanh chắn gió trồng lâu năm bị bóc sạch, dân kêu trời không thấu!

Lại chuyện cát đen : một tỉnh ven biển miền trung khác cũng có mỏ titanium lớn nằm dưới lớp cát biển. Dân tỉnh có cầu dài đến khai thác, tỉnh này cho nhưng bộ cấm cửa. Bộ cử người đến kiểm tra. Dân múc cát biển phủ đống titanium to như núi đã bóc lên, sự việc bị nhà báo phát hiện phanh phui. Thế là Dân chạy ra Hà Nội xin phép bộ- xin không được. Dân chạy qua văn phòng TƯ đảng, gặp tay thư ký X, Y, Z nào đó. Kết cuộc: trong mấy ngày nghỉ lễ hàng trăm xe chở titanium chạy kìn kìn qua trạm gác công an. Tỷ lệ ăn chia đã được thỏa thuận từ Hà Nội. Trạm gác đếm xe tính tiền. Thực hiện đúng câu: “đảng lãnh đạo, chính quyền quản lý, nhân dân làm chủ” tiền lãi bán cát đen được chia làm 3 phần theo tỷ lệ như trên. Dân nào mà sướng vậy? – Dân doanh nghiệp. Doanh nghiệp nào? – người trong nhà. Tôi chợt ngộ ra vấn đề: Khác với các nước tư bản, xuất cảng phải qua khâu giấy tờ thủ tục rườm rà, tiêu chuẩn chất lượng lôi thôi. Mua bán với Trung Cộng thật dễ dàng! kiểu gì cũng mua, kiểu gì cũng bán, kiểu gì cũng chơi, có tiền đút túi liền.

Ê kíp làm phim nào cũng có ba bộ phận: đạo diễn – diễn viên – quần chúng. Thực ra bộ phim này là phim cũ mấy năm rồi, tôi chỉ là một người xem phim rồi kể lại cốt truyện chính mà thôi. Trong phim còn nhiều tình tiết li kì, hấp dẫn, gay cấn, éo le chứ không đơn giản như những gì tôi kể bạn nghe.

Rốt cuộc, tôi rút ra một điều: Ở đất nước này tiền bạc giải quyết mọi vấn đề. Tiền thì Trung Cộng không thiếu.

XUNG PHONG