VỤ TRẦN TRƯỜNG TẠI LITTLE SAIGON QUẬN CAM 1999.

vulinhchau

(Nhân lúc dầu sôi lửa bỏng tại quê nhà về những cuộc biểu tình ôn hòa, bạo động… tuongtri.com xin giới thiệu bài viết về biểu tình kiên trì 52 ngày đêm của cọng đồng người Việt tại Mỹ cách đây 15 năm của giáo sư VŨ LINH CHÂU (trường trung học TRINH VƯƠNG QUI NHƠN) cựu sĩ quan biệt phái QUÂN LỰC VNCH. Mong được đóng góp phần nào kinh nghiệm)

Vào thời gian đầu năm 1999, Trần Trường đã bất ngờ treo một lá cờ đỏ sao vàng và một tấm hình Hồ Chí Minh trong cửa tiệm sang băng của anh ta tại phố Bolsa.
Vào thời gian cuối thập niên 90 này, lòng căm thù Cộng Sản còn rất sâu đậm trong Cộng đồng tỵ nạn Việt Nam. Các tội ác của chúng gây ra cho nhân dân Miền Nam còn quá gần kề mới mẻ, những vết thương chiến tranh, những cảnh tan cửa nát nhà, đau thương mất mát cho từng cá nhân, từng gia đình vẫn còn chưa được nguôi ngoai. Các vết thương vẫn còn đang âm thầm rướm máu. Nợ nước thù nhà vẫn còn chồng chất. Nhất là các đợt di dân của các cựu Tù nhân chính trị qua chương trình HO đang dồn dập đổ vào Hoa Kỳ… Do vậy, khí thế chống Cộng trong giai đoạn này đã tràn dâng lên đến tột đỉnh. Một số người vì ý chí chống Cộng còn quá hăng say quyết liệt, họ không chấp nhận bất cứ một hành động, một lời nói, một cử chỉ nào có dính dáng xa gần tới bọn Cộng Sản Việt Nam. Thí dụ, bất cứ một chương trình văn nghệ nào mà có mặt, dù chỉ là một nghệ sĩ hay một ca sĩ đến từ trong nước là sẽ bị biểu tình chống đối rất dữ dội quyết liệt…
TRẦN TRƯỜNG, HÌNH HỒ CHÍ MINH VÀ LÁ CỜ MÁU.
Trong khi đó, một vài người có đầu óc chủ hòa dễ dãi, lại không hoàn toàn đồng ý với những hành động và thái độ mà họ cho là quá khích cực đoan đó. Trần Trường là một trong những người này. Anh ta thường có những lời lẽ công khai chống lại những hành động chống Cộng tích cực của Cộng Đồng. Trong các cuộc biểu tình chống nghệ sĩ trong nước chẳng hạn, Trần Trường thường công khai dẫn vợ con đi giữa hai hàng người biểu tình để vào trong rạp.
Trần Trường có một tiệm sang băng nhạc trên đường Bolsa, thuộc thành phố Westminster, tiểu bang California. Chắc là đã được ai đó bầy biểu, cho nên Trần Trường đã treo trong tiệm sang băng của anh ta hình Hồ Chí Minh và một lá cờ đỏ sao vàng của Cộng sản Việt Nam để thách thức Cộng Đồng, nhất là nhóm người mà anh ta cho là “quá khích” kia.
Anh ta đã biết sẽ không có ai dám hạ hai biểu tượng đó xuống hay dám hành hung, đập phá cửa tiệm của anh ta. Họ sẽ bị Cảnh Sát bắt giữ ngay vì đã xâm phạm vào quyền Tự Do Ngôn Luận của người khác.
Phải chăng sự việc chỉ đơn giản như vậy, chỉ do tính tình ngông nghênh của cá nhân Trần Trường, chỉ vì thích chơi nổi, chỉ vì muốn thách thức người khác cho bõ ghét, chứ không có một âm mưu gì ghê gớm hay một thế lực chính trị tầm cỡ quốc gia quốc tế nào đứng đàng sau Trần Trường cả.
Với thời gian, hình như sự việc đã sáng tỏ như vậy.
TIẾN THOÁI LƯỠNG NAN.
Tuy nhiên vào lúc đó, nhất là vào những tuần lễ đầu tiên của biến cố, Cộng đồng chúng ta đã rơi vào tình trạng hoang mang cực độ. Càng là người trí thức, càng thông hiểu luật pháp Hoa Kỳ, càng ý thức được tính cách bất khả xâm phạm của tấm hình và lá cờ mà Trần Trường đã treo lên, người ta càng phân vân dè dặt hơn. Chính vì vậy mà trong những tuần lễ đầu, rất nhiều người, kể cả hầu hết các cơ quan truyền thông lớn tại Quận Cam, hầu hết các đài phát thanh, các nhật báo, tuần báo…, tất cả đều đã giữ thái độ “wait and see”, chờ xem sự việc sẽ diễn tiến ra sao. (Khi đó tại Miền Nam California chưa có đài truyền hình VN). Riêng một đài phát thanh tiếng Việt lớn nhất lúc ấy tại Miền Nam Cali, thì vì qúa dè dặt, nên đã im lặng chờ đợi, quan sát… và chờ mãi cho tới phút chót, nghĩa là chẳng đóng góp, chẳng đề cập gì tới cái biến cố đã và đang làm rung rinh thủ đô tỵ nạn ngay chung quanh họ. Đây là một bài học đắt giá mà những người làm truyền thông trong Cộng Đồng nên học hỏi để rút tỉa kinh nghiệm cho mai sau.
Tuy vậy, một số khá đông những người sẵn có tinh thần chống Cộng quyết liệt, được sự yểm trợ của một số cơ quan truyền thông, nhất là đài Radio Bolsa của Việt Dzũng-Minh Phượng, được lãnh đạo bởi các vị có trách nhiệm trong Cộng Đồng lúc bấy giờ như qúi ông Bùi Bỉnh Bân, Trần Ngọc Thăng, Hồ Anh Tuấn… những chiến sỹ tiên phong can trường này đã không hề nản chí, đã không hề run sợ, họ đã rất quyết liệt, rất kiên cường bất khuất, đã bất kể mọi gian nan nguy hiểm, mọi rụt rè đắn đo…, họ đã liên tục tổ chức những cuộc biểu tình trước cửa tiệm của Trần Trường, suốt ngày suốt đêm.
Một đặc điểm rất quan trọng trong giai đoạn mở đầu này, đó là các người có trách nhiệm lãnh đạo đã rất thông hiểu luật pháp của xứ tạm dung, qúi vị này đã điều khiển và hướng dẫn cho các người tham dự tuyệt đối tôn trọng luật pháp, tuyệt đối bất bạo động.
Đây là một yếu tố chiến lược hết sức quan trọng cho sự thành công vẻ vang sau này.
Tinh thần bất bạo động và thượng tôn luật pháp đã được tiếp tục trải dài trong suốt thời gian tranh đấu, khiến cho nhân viên công lực không thể sử dụng võ lực để can thiệp giải tán, nhất là nhờ đó mà dân chúng Hoa Kỳ đã thấy rõ sự trưởng thành về ý thức chính trị và tinh thần thượng tôn luật pháp của Cộng Đồng Tỵ nạn Việt Nam.
Cũng phải công tâm mà nói ngay rằng, tuy ít mưu lược, tuy vai trò của họ đã mờ lạt đi vào giai đoạn cuối của biến cố này, nhưng những con người qủa cảm nói trên đã có những đóng góp rất lớn, rất quan trọng trong vụ Trần Trường. Với ý chí chống Cộng kiên cường mãnh liệt, chính họ đã phát khởi và nuôi dưỡng ngọn lửa đấu tranh lúc ban đầu để rồi sau đó đã lôi cuốn được sự tham gia của cả Cộng Đồng và sau cùng thì đã đi đến thành công vô cùng vẻ vang rực rỡ.
ÁC Ý CỦA TRUYỀN THÔNG MỸ.
Riêng đối với các kí giả của Báo chí và Truyền thanh, Truyền hình Hoa kì. Ngay từ khi cuộc chiến còn đang tiếp diễn, hầu hết giới truyền thông và bọn phản chiến Mỹ đã cố ý trút bỏ tất cả trách nhiệm về sự thất trận của Mỹ tại Việt Nam lên đầu Quân dân Miền Nam Việt Nam, khiến rất nhiều người Hoa Kỳ đã bị đầu độc tai hại, kể cả cưụ Tổng Thống George Bush, khi so sánh Việt Nam với Iraq, Ông đã phát biểu: “Vì Miền Nam Việt Nam không chịu chiến đấu, nên họ đã mất Tự Do”. Sau ngày 30/4/1975, truyền thông Mỹ càng không tiếc lời phỉ báng bôi nhọ người tỵ nạn Việt Nam, công khai gọi chúng ta là bọn lưu manh đĩ điếm. Họ cũng cố ý liên tiếp thổi phồng những sơ sót, bêu rếu những sai lỗi nhỏ nhặt liên quan tới Cộng đồng tỵ nạn Việt nam trên báo trên đài.
Đối với Cộng đồng Việt Nam, khi vụ Trần Trường treo cờ Việt Cộng và hình Hồ Chí Minh nổ ra, không phải chỉ có những người lâu nay vẫn tích cực tham gia quyết liệt vào các cuộc biểu tình chống Cộng, mà cả Cộng Đồng đã bị dồn vào ngõ cụt tưởng như không còn lối thoát.
Về mặt tình cảm, chúng ta không thể cho phép lá cờ và tấm hình đó hiện diện ngay giữa thủ đô tỵ nạn được.
Nhưng về mặt pháp lý, chúng ta, và ngay cả mọi cơ quan quyền lực tối cao tại Hoa Kỳ, mọi nhân vật quyền uy nhất nước Mỹ như Tổng Thống, Chủ tịch Quốc Hội, Chánh án Tối cao Pháp viện… cũng không ai có thể ra lệnh hạ lá cờ và tấm hình đó xuống, vì làm như vậy là vi phạm vào Tu chính án số một của Hiến Pháp Hoa Kỳ, xâm phạm vào quyền Tự do Phát biểu, Tự do Ngôn luận của cá nhân Trần Trường, một quyền tự do cao cả của mọi công dân Hoa Kỳ, đã được Hiến pháp long trong bảo vệ gần như tuyệt đối. Nếu bất cứ cá nhân hay tập thể nào, dù to lớn, giầu có hay dù ngang tàng quyết tử đến đâu… mà dám cả gan vi phạm – trong trường hợp này, là việc hạ tấm hình HCM và lá cờ máu đó xuống – mà không đươc Trần Trường đồng ý, thì các cơ quan quyền lực của Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ – gần kề và trực tiếp nhất là Lực lượng Cảnh Sát Westminster – có nhiệm vụ phải bảo vệ việc treo tấm hình và lá cờ đó bằng mọi giá.
Đó là luật pháp và truyền thống của quốc gia Hoa Kỳ, không thể làm khác đi được.
Chỉ có một người duy nhất có thể hạ được chúng xuống một cách hợp pháp, đó là Trần Trường. Nếu muốn cưỡng bức Trần Trường phải hạ chúng xuống, thì chỉ còn một phương cách hợp pháp duy nhất là… sửa đổi Hiếp Pháp Hoa kì. Một ý nghĩ điên rồ không thể thực thi.
TRUYỀN THÔNG MỸ NHẬP CUỘC.
Dĩ nhiên giới truyền thông Mỹ biết rất rõ điều đó, họ hiểu tường tận thế kẹt này của cộng đồng Việt Nam. Hơn nữa họ cũng bị tự kỷ ám thị bởi những điều xấu xa mà chính họ đã tạo ra và gán ghép cho cộng đồng Việt Nam. Một vài lời nói và hành động quá khích hời hợt của một số người năng động ồn ào tại Little Saigon lúc bấy giờ, càng khiến họ tin rằng trình độ và thái độ của tất cả cộng đồng tỵ nạn Việt Nam đều giống như vậy. Chắc chắn bọn cao bồi, du đãng, đĩ điếm… mà họ cho rằng đang đầy dẫy tại Little Saigon, sẽ nhân cơ hội này để cướp bóc, hôi của, đốt nhà… Nhiều tờ báo Mỹ còn công khai tiên đoán Little Saigon sẽ bị thiêu rụi trong nay mai.
Thế là tất cả các cơ quan truyền thông Hoa Kỳ đã rầm rộ đổ dồn về khu phố Bolsa, cần ăng ten, xe phát sóng của các đài TV tua tủa khắp nơi, máy quay phim, máy chụp ảnh, ký giả của các tờ báo, các hãng thông tấn, các phóng viên truyền thanh truyền hình… chen chúc trước khu biểu tình chật hẹp. Nhiếp ảnh gia danh tiếng của hãng AP là Nick Út cũng được gửi tới, sẵn sàng thu vào ống kính những hình ảnh tồi tệ nhất của người Việt Nam.
Trần Trường, được các luật sư Mỹ trong hội ACLU tình nguyện cãi thí, được tòa án xử cho thắng kiện, dương dương tự đắc, được cảnh sát Mỹ hộ tống, vợ chồng anh ta mở toang cửa tiệm, nhang khói nghi ngút, quì gối lạy lục trước ảnh già Hồ và lá cờ máu.
Bên ngoài, đồng bào sôi sục căm hờn, giận muốn phát điên, nhưng đành uất ức đứng nhìn.
Tất cả các hình ảnh này đều đã được trình chiếu hàng ngày trên các đài truyền hình Mỹ.
Đám đông càng ngày càng vĩ đại thêm, họ chỉ biết điên cuồng hò hét, hoan hô đà đảo suốt ngày suốt đêm, nhưng vẫn trong vòng trật tư, nên cảnh sát cũng không thể can thiệp giải tán.
Tại quốc nội, dĩ nhiên chính quyền CS đã hết sức vui mừng phấn khởi. Một chiến dịch quyên góp cho Quĩ pháp lý yểm trợ Trần Trường đã được phát động rầm rộ trên toàn quốc, tất cả Công Nhân Viên đều bị trừ lương để góp vào quĩ này. Chả biết số tiền đó đã đi về đâu, có đồng nào đến tay Trần Trường hay không?
CỘNG ĐỒNG TỴ NẠN KIÊN CƯỜNG BẤT KHUẤT.
Tinh thần chống Cộng của đồng hương tỵ nạn vẫn hừng hực cháy, suốt ngày suốt đêm, như một lò lửa căm hờn, mỗi ngày một thêm mãnh liệt gay gắt hơn. Nhiều ý kiến đã dần dần được đóng góp vào. Như là:
– “Nếu treo hình Hitler giữa một cộng đồng Do Thái thì sẽ ra sao”
– “Vì Hồ Chí Minh mà 58 ngàn lính Mỹ đã chết”
– Ngoài cờ Việt Nam, còn phải treo nhiều cờ Mỹ và cả cờ MIA (Lính Mỹ mất tích) nữa…
Nên cuộc biểu tình càng ngày càng đông, nhiều cựu quân nhân Mỹ cũng đã bắt đầu tham gia, rất nhiều đồng bào túc trực 24/24, đồ ăn, tiền bạc ào ạt gửi tới.
Do sự góp ý của một số thính giả ở xa gọi về các đài phát thanh, phần lớn là ý của các bà các cô, một buổi trình diễn Văn nghệ Tự phát qui mô đã được tổ chức vào đêm 22 tháng 2, 1999.
Số người tham dự đã lên tới mức kỷ lục.
Hầu hết giới truyền thông Mỹ đều tin rằng bạo loạn sẽ bùng ra trong đêm này. Cảnh sát Westminster và các thành phố lân cận đã sẵn sàng ứng chiến, mỗi người đã được trang bị cả bó giây trói bằng nhựa cứng. Những tiếng lóng chửi bới nhục mạ người Việt Nam vang vang trong hệ thống truyền tin nội bộ của cảnh sát Mỹ. Họ công khai tuyên bố, nếu cần sẽ huy động, sẽ back up tất cả lực lượng của toàn miền nam California để bắt hết số người làm loạn. Chỉ cần một vi phạm giao thông rất nhỏ của một vài cá nhân, như bước xuống lòng đường chẳng hạn, hay một vụ gây gỗ ẩu đả của một vài người – chống đối và ủng hộ treo cờ và hình chẳng hạn – cảnh sát sẽ bắt giữ những người này ngay. Đám đông man rợ và vô kỷ luật, theo họ tưởng tượng, sẽ ào vô không cho cảnh sát bắt người. Lực lượng cảnh sát đang túc trực sẵn sẽ can thiệp ngay, hỗn chiến sẽ bùng lên. Bọn côn đồ sẽ thừa cơ cướp phá các tiệm buôn, thiêu hủy nhà cửa. Little Saigon sẽ biến thành một biển lửa…
Tưởng tượng ra như vậy, nên khi cuộc biểu tình đến mức cao điểm, trên bầu trời Little Saigon, trực thăng của các đài truyền hình vần vũ dầy đặc, giống như bầu trời Saigon trong dịp Tổng công kích Tết Mậu Thân 1968. Tất cả mọi phương tiện truyền thông đều đã sẵn sàng, mọi người, nhất là khán giả của các hệ thống truyền hình Hoa Kỳ, nóng lòng chờ Breaking News…
Đám người biểu tình mỗi lúc một đông, tràn ngập cả sang phía bên kia lề đường Bolsa, có lẽ lên tới cả bốn năm chục ngàn.
Rừng người sôi sục, điên cuồng hò hét, hoan hô đà đảo vang vọng cả một góc trời, như triều dâng sóng dậy, như muốn xé nát không gian. Tất cả mọi nỗi căn hờn uất hận, nợ nước thù nhà, bom đạn chết chóc, tù đầy nhục nhã, tan cửa nát nhà, sóng dữ biển đông, giặc cướp hải tặc… và cả như những tiếng thét Xung Phong oai hùng trên trân địa ngày xưa nữa…
Tất cả đang ầm ầm bùng cháy, một rừng Cờ Vàng đang cuồn cuộn dâng cao.
Đoàn người tị nạn Việt Nam, một nhóm di dân bé nhỏ mới tới, đang bắt bí toàn quốc Hoa Kỳ, đang thách thức cả Hiến Pháp Mỹ, đang dồn cả Ba cơ quan Hành Pháp, Lập Pháp, Tư Pháp của nước tạm dung vào một ngõ bí.
Về phương diện pháp lý, đúng, hoàn toàn đúng, không có bất cứ một ai, không một nhóm người nào được đứng trên Luật Pháp và trên Hiến Pháp. Cũng như mọi công dân Hoa Kỳ khác, quyền Tự do phát biểu của Trần Trường phải được luật pháp tuyệt đối bảo vệ.
Nhưng mà, nhưng mà, về phương diện… tình cảm, cộng đồng tỵ nạn Việt Nam chúng tôi cũng không thể chấp nhận cho tấm hình và lá cờ đó ngang nhiên phơi bày ở giữa khu phố Bolsa này được.
– Đả đảo Cộng Sản. Đả đảo Hồ Chí Minh.
Cả rừng nắm tay vẫn liên tiếp vung lên, cả biển Cờ Vàng vẫn cuồn cuộn như triều dâng sóng dậy, như bão táp cuồng phong, hàng vạn tiếng hô vẫn ào ạt vang dội, long trời lở đất, bằng cả hai ngôn ngữ Việt-Anh, như muốn xé nát bầu trời thủ đô tỵ nạn, như muốn vang vọng tới tận Hà Nội và Washington, như muốn lan ra trên toàn lãnh thổ Hoa Kỳ. Những tiếng thét xuất phát từ trong đáy lòng, từ tận trái tim, bất khuất, gan góc, lì lợm, 52 ngày, 52 tuần, hay 52 tháng… cho đến khi nào tất cả chúng tôi gục chết tại đây, cho đến khi nào tấm hình và lá cờ đó biến mất mới thôi.
Điên cuồng hò hét, say sưa đà đảo hoan hô, quyết liệt đấu tranh, diễn văn nẩy lửa… nhưng tất cả đều hoàn toàn trong vòng kỷ luật trật tự, tuyệt đối không hề có một vi phạm luật lệ nào, dù chỉ là một sai lỗi về giao thông rất nhỏ.
Và rồi, gần đến nửa đêm, cuộc biểu tình chấm dứt, biển người yên lặng ra về trong vòng kỷ luật và trật tự tuyệt đối, giống hệt như vừa tan một đại lễ ở nhà thờ ra.
Đã vậy, hai bên lề đường Bolsa lại hoàn toàn sạch sẽ, mọi người đã tự động thu dọn không còn sót lại một cọng rác nhỏ. Tờ mờ sáng ngày hôm sau, từng toán cụ ông cụ bà và nhiều nhóm thanh niên trai trẻ, tay cầm theo túi ni lông, lại dàn hàng ngang, lượm cho bằng hết mọi rơi rớt còn sót lại trong các lùm cây bụi cỏ.
Tất cả các hình ảnh này, cùng với không khí sôi sục căm hờn của buổi tối ngày hôm trước, đã được các phương tiện truyền thông, nhất là vô tuyến truyền hình, chuyển đi khắp nơi, đến tận phòng khách của rất nhiều gia đình người Hoa Kỳ.
“DIỆN HAY LÀ ĐIỂM”, BIẾN CỐ BẤT NGỜ ĐƯA TỚI THÀNH CÔNG?
Cũng trong cuộc mít tinh quan trọng này, Việt Dzũng, một xướng ngôn viên quen thuộc của đài Radio Bolsa tại Litlle Saigon đã lớn tiếng hô hào:
“Chống hình Hồ Chí Minh và cờ Cộng Sản chỉ là Diện. Chống Thương Ước Việt – Mỹ mới là Điểm. Phải nhân lúc lòng người đang sôi sục này để vùng lên, phá cho bằng được cái Thương ước đó”.
Phải chăng chưởng lực này đã vô tình giáng trúng tử huyệt của cả Hà Nội và Hoa Thịnh Đốn?
Vào thời gian đó, Hiệp Ước Thương Mại sắp được ký kết giữa Hoa Kỳ và Hà Nội. Đây là một biến cố vô cùng quan trọng cho cả hai bên. Không những nó là một lối thoát sống còn cho Cộng Sản Việt Nam, mà nó cũng là một bước ngoặc quyết định cho đường hướng ngoại giao hoàn toàn mới của Mỹ tại Á Châu nữa. Chính phủ Mỹ đang cố gắng dùng Hiệp Ước Thương Mại Việt – Mỹ này để biến kẻ tử thù cũ thành một Đồng minh Chiến lược mới. Road Map về Việt Nam đã ghi rõ ràng như vậy.
Bằng mọi giá, Hiệp ước này phải được thông qua. Cả hai phía Việt và Mỹ đều không muốn để cho bất cứ một trục trặc nào có thể cản trở hay là gây chậm trễ cho việc ký kết thương ước này.
Phải chăng chính vì chưởng lực này mà chỉ vài ngày sau đó, cảnh sát trưởng Westminster đã mở một cuộc họp báo để tuyên bố rằng từ nay, việc cờ và hình này không còn thuộc trách nhiệm của thành phố nữa mà sẽ do chính quyền Trung ương tại Washington giải quyết.
Nhiều cuộc biểu tình lớn nhỏ vẫn liên tục tiếp diễn suốt ngày suốt đêm, nhưng sự hiện diện của giới truyền thông Mỹ thì mỗi ngày mỗi thưa dần. Cho đến cuộc tập họp đêm 26 tháng 2, tuy chỉ cách cuộc tập họp lớn nói trên một tuần lễ, lại do giới trẻ tổ chức, không những số người tham gia đã đông đảo hơn cả các lần trước mà lại là một đêm thắp nến, nên nếu bị phá hoại bằng bom xăng, thì với một rừng người như vậy, rất có thể sẽ gây nên những hậu quả tai hại khó lường…
Tuy vậy, các cơ quan truyền thông Hoa Kỳ thì đã gần như hoàn toàn vắng bóng, bầu trời chỉ còn đơn độc một vài chiếc trực thăng của cảnh sát, dưới đất lác đác vài đài truyền hình địa phương…
Bụng dạ hẹp hòi của giới truyền thông Mỹ đã được phơi bày quá sức trơ trẽn lộ liễu.
AI ĐÃ RA LỆNH HẠ CHÚNG XUỐNG?
Trước cửa tiệm của Trần Trường vẫn dầy đặc người, suốt ngày suốt đêm.
Tuy nhiên không biết vì lý do gì, vì ngứa mắt, vì vô tình hay cố ý, tất cả cửa kiếng trước tiệm Trần Trường đã được dán kín bằng nhiều lớp giấy báo cũ, không thể nhìn thấy bên trong. Biểu tình vẫn sôi sục bên ngoài vì mọi người tưởng rằng hình và cờ vẫn còn trong đó.
Cho tới một hôm, một người da trắng đến xé một mảng giấy che và la to lên là hình và cờ đã biến mất rồi!
Ai đã hạ chúng xuống? Chắc chắn chủ phố và cả cảnh sát địa phương, cả chính quyền sở tại, không ai đã dám dại dột mà tự ý phạm vào cái tội tầy đình đó. Giới chức nào ở Washington đã dám vi phạm Hiến Pháp Hoa Kỳ, đã coi thường Tu chính án số I, đã bất kể tới Lập pháp, Tư pháp, đã khinh thường tập đòan luật sư ACLU của Trần Trường… để ngấm ngầm ban ra cái lệnh ghê gớm này?
Một bí mật lịch sử, phải chờ cho thế hệ này qua đi, mới dám tiết lộ. Cựu Tổng Thống Clinton đã viết hồi ký, nhưng dĩ nhiên Ông không dại gì mà đề cập tới trọng tội này.
Nhất lý, nhì lỳ. Ý chí chống Cộng kiên cường sắt đá, lòng căm thù Cộng Sản tận xương tận tủy, tinh thần bất bạo động và thượng tôn luật pháp của Cộng Đồng tỵ nạn Việt Nam đã oanh liệt chiến thắng.
Lá cờ máu và hình bóng của tên đồ tể bán nước hại dân đã âm thầm biến mất khỏi tiệm thâu băng của Trần Trường và sẽ không còn bao giời xuất hiện tại khu phố Bolsa nữa.
NHỮNG HẬU QỦA TO LỚN BẤT NGỜ.
Đây là một chiến thắng có tính chiến lược cho công cuộc chiến đấu chống Cộng, nhất là tại hải ngoại.
Rõ ràng là Trời đã trả công cho Quân Dân Miền Nam qua vụ Trần Trường.
Rõ ràng là các cơ quan truyền thông Hoa Kỳ đã quảng cáo miễn phí cho cộng đồng tỵ nạn Việt Nam.
– Trước hết, về Hồ Chí Minh, mọi người trên thế giới, nhất là công chúng Mỹ đã phải tự hỏi, chắc chắn là Hồ Chí Minh và Cộng Sản Việt Nam phải độc ác và tàn bạo khủng khiếp lắm nên dân chúng Việt Nam mới căm thù và ghê tởm đến như vậy.
Kể từ sau biến cố Trần Trường này, tất cả các cuộc vinh danh, suy tôn, ca tụng Hồ Chí Minh, kể cả của UNESCO, đều đột nhiên hoàn toàn chấm dứt trên toàn thế giới. Cuộc triển lãm sau cùng về Hồ Chí Minh diễn ra tại San Francisco trong thời gian vụ Trần Trường gần kết thúc đã phải âm thầm dẹp bỏ vì số người tới xem quá lèo tèo. Những năm trước đó, tại nhiều nơi trên thế giới, nhiều đoàn thể, tổ chức, hiệp hội… đã liên tục tổ chức rất nhiều cuộc hội thảo, triển lãm… để ca tụng, để thần thánh hóa, để suy tôn tên đồ tể sát nhân này. Thậm chí, chính cơ quan Unesco của Liên Hiệp Quốc cũng đã phạm phải lỗi lầm đáng trách này…
Nhưng từ sau vụ Trần Trường, cho tới ngày hôm nay, đã hơn 10 năm, trên khắp thế giới, không có bất cứ một cá nhân hay tập thể nào còn công khai tái diễn cái trò hề ngây ngô đó nữa.
– Hà Nội cũng chợt nhận ra rằng, hận thù còn lâu mới có thể xóa sạch, tội ác của họ còn lâu mới đi vào quên lãng được. Nợ nước đã vậy, còn thù nhà thì sao. Nợ nước, đối với nhiếu người thì nó xa vời và hơi hơi trừu tượng. Nhưng THÙ NHÀ thì nó dính liền với da với thịt, nó day dứt ngày đêm…Biết bao nhiêu người đã táng gia, bại sản, gia đình tan nát, mất vợ mất con… (năm mười năm tù chỉ là chuyện nhỏ). Vật chất càng dư gỉa sung túc, thì càng thêm thương vợ nhớ con, căm thù oán hận càng thêm nung nấu ngày đêm… Càng được ăn ngon mặc đẹp, lại càng nghĩ tới những ngày nheo nhóc đói khổ cuả thân nhân cha mẹ… Ấy là chưa kể sóng dữ Biển Đông, hải tặc hiếp vợ giết con…
Chính vì vậy, mà mãi cho đến ngày hôm nay, Cộng Sản VN vẫn chưa dám công khai ra một tờ báo hay mở một đài phát thanh, một cơ sở truyền hình.
Nếu không có biến cố Trần Trường này, thì từ cả chục năm nay, hình ảnh của khu phố Bolsa đã như thế này:
Tôi đi không thấy phố thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa trên mầu cờ đỏ.
Trước đây, người ta thường mỉa mai người Việt Nam là rời rạc, chia rẽ, thiếu đoàn kết, ba người Việt Nam không bằng một người Nhật…. Nhưng hình như, cũng thấy vậy mà không phải vậy. Hình như khi hữu sự, thì các cá nhân rời rạc này, sẽ tự động dính kết lại với nhau thành một khối tảng kiên cố vô cùng, kẻ thù nào cũng bị đánh bại, chướng ngại nào cũng bị vượt qua. (Xong việc thì lại tiếp tục đường ai nấy đi, nhà ai nấy ở, báo ai nấy viết, đài ai nấy nói, hội ai nấy họp… tiếp tục rời rạc, chia rẽ, mất đoàn kết.)
Nhưng mà coi chừng đấy nhá, đừng có chọc, khôn hồn thì để cho chúng tôi yên.

Tuy nhiên, đó vẫn chưa phải là thành quả quan trọng nhất của vụ Trần Trường.
– Hậu quả to lớn hơn cả của biến cố này là uy tín và danh dự của người tỵ nạn Việt Nam đã được phục hồi. Trước biến cố này, như đã nói ở trên, cộng đồng chúng ta đã bị giới truyền thông Mỹ bôi đen hoàn toàn. Thí dụ, chính các con tôi cho biết, nhiều em sinh viên Việt Nam tại trường Đại học UCI, thèm đồ ăn Việt Nam, nhưng không dám ghé Little Saigon, vì nghe đồn ở đó toàn là lưu manh du đãng, mời được một người bạn Mỹ đến đó lại càng khó hơn…
Ngay cả nhiều người lớn tuổi, để dễ dàng cho công việc làm ăn, cũng phải thay tên đổi họ hầu che đậy gốc gác Việt Nam của mình. Họ Nguyễn thì đổi là Win hay Yen, Lê thì thành ra Lee, Vương thành Vern, Vũ thành Wu … Rất nhiều người đã cố cải trang thành …người Hoa.
Nhưng sau biến cố này, nhờ giới truyền thông Hoa Kỳ, mọi người, nhất là dân chúng Mỹ, đã thấy rõ ràng Việt Nam là một cộng đồng văn minh, có trình độ giáo dục cao, biết thượng tôn luật pháp, biết tranh đấu ôn hòa bất bạo động trong khuôn khổ luật pháp. Và hình như…không có cả cao bồi du đãng trong cộng đồng nữa.
– Nhưng quan trọng nhất là giới trẻ, từ sau biến cố Trần Trường, họ đã gột rưả hết được các điều ngộ nhận, đã xóa sạch được các mặc cảm tự ti, hãnh diện ngước mặt lên cao, hiên ngang vỗ ngực xưng tên mình là người Việt Nam, rồi tích cực tham gia vào các sinh hoạt làm vẻ vang cho cộng đồng, cho quê hương đất nước.
TRỜI PHẬT TRẢ CÔNG?
Nghe nói mỗi phút quảng cáo trên TV Mỹ giá tới cả ngàn dollars, trên báo chí Mỹ cũng vậy. Như thế, nếu mà thuê họ, có lẽ cả trăm triệu bạc cũng không trang trải cho đủ.
Thế mà cộng đồng chúng ta lại không tốn mất một đồng xu teng. Xin gửi tới giới truyền thông Mỹ một lời cám ơn vì đã giúp nhân dân Hoa Kỳ hiểu biết chính xác rõ ràng về trình độ dân trí, nếp sống văn minh và nhận thức chính trị của người Tỵ nạn Việt Nam.
Phải chăng vì những hậu qủa to lớn và vô cùng quan trọng như vậy, cho nên “thùng tiền chính nghĩa” tuy đã bị Ủy Ban Bảo Vệ Chính Nghiã Quốc Gia của ông Hồ Anh Tuấn dành quyền quản lý, nhưng sự việc này cũng đã trở thành “ba cái lẻ lẻ”, cho đến hôm nay, Cộng Đồng chẳng có mấy người quan tâm.
Sau đó cửa tiệm của Trần Trường đã bị Cảnh sát lục xét và Trần trường đã bị bắt về tội…sang băng lậu. Nhưng đó cũng lại là một chuyện nhỏ nữa, chẳng có mấy ai lưu tâm để ý hay là ngay cả vui mừng sung sướng.
Dĩ nhiên, phải thành thật mà nói, không phải tất cả mọi thành phần trong Cộng Đồng tỵ nạn Việt Nam chúng ta đều đã có được một trình độ nhận thức chính tri và một tinh thần thượng tôn luật pháp toàn hảo như vậy.
Cho nên thành qủa vô cùng to lớn vĩ đại của biến cố lịch sử này, trước những chướng ngại tưởng như vô phương giải quyết, trước những khó khăn pháp lý tưởng như không thể vượt qua, trước con đường cùng tưởng như không còn lối thoát… Thành công to lớn bất ngờ này chỉ có thể giải nghĩa được bằng sự trợ giúp của Trời Phật, bằng sức Hộ Trì của Hồn Thiêng Sông Núi và của Anh Linh biết bao Anh Hùng Tử Sĩ, nhất là các Anh Hùng Tử Sĩ thuộc Quân Lực Viêt Nam Cộng Hoà…
Với những thủ đoạn vô cùng gian manh tàn ác, với những mưu mô qủi quyệt của “đỉnh cao trí tuệ loài người”… nhưng Bộ Chính Trị của đảng Cộng Sản Việt Nam đã phải bó tay, đã đành ngơ ngác đứng nhìn Lá cờ máu và hình ảnh già Hồ biến mất đi khỏi khu phố Bolsa cùng với biết bao hậu qủa tại hại kéo dài cho tới tận ngày hôm nay.
Một ngày không xa, phép lạ bất ngờ như vậy cũng sẽ lại tái diễn ngay chính trên quê hương Việt Nam thân yêu của chúng ta.
Trời Phật đã và sẽ trả công cho chúng ta.
Quân Dân Miền Nam, đã hoàn thành nhiệm vụ “Tiền Đồn Chống Cộng” của Thế Giới Tự Do. Chúng ta đã không giữ được Miền Nam, nhưng chúng ta đã ngăn được Làn Sóng Đỏ tràn xuống Miền Nam Châu Á. Nhờ những hy sinh gian khổ vô cùng to lớn của Quân Dân Miền Nam Việt Nam mà Vùng Nam Châu Á, mà các nước Thái Lan, Mã Lai, Singapore, Indonesia, Philippines, Miến Điện, Ấn Độ, Tích Lan… đã không bị nhuộm đỏ và vẫn còn được tự do thờ Trời cúng Phật như hiện nay. Nếu không có Quân Dân Miền Nam kiên cường chống đỡ, thì trong thời gian cực thịnh của phong trào Cộng Sản quốc tế, toàn thể Miền Nam Châu Á đã bị nhuộm đỏ, đã biến thành cộng sản và chắc chắn cục diện thế giới đã khác hẳn với ngày hôm nay.
Không có một ai, kể cả người dân các nước nêu trên, đã biết nghĩ đến điều đó, họ đã không có ngay cả một lời cám ơn xã giao thông thường cho chúng ta. Nhưng Trời Phật có mắt. Công của chúng ta với Trời với Phật to lớn như vậy, nên Các Ngài đã trả công cho Cộng đồng Tỵ nạn Việt Nam hải ngoại qua biến cố Trần Trường.
Và Các Ngài cũng sẽ trả công cho đồng bào và tổ quốc của chúng ta. Một Vụ Trần Trường thứ hai cũng sẽ tái diễn tại quê hương Viết Nam trong một ngày không xa.

VŨ LINH CHÂU
Tháng Tư năm 2007.

TB:
Hôm nay đã là giữa năm 2014, biến cố Trần Trường đã được 15 năm tuổi. Lần đầu tiên, xin được bật mí về đóng góp nhỏ bé của mình trong biến cố đó như sau:
Tác giả là người đã đóng góp các ý kiến sau đây.
1- Ý thứ nhất:
– “Nếu treo hình Hitler giữa một cộng đồng Do Thái thì sẽ ra sao”
– “Vì Hồ Chí Minh mà 58 ngàn lính Mỹ đã chết”
– Ngoài cờ Việt Nam, còn phải treo nhiều cờ Mỹ và cả cờ MIA (Lính Mỹ mất tích) nữa…
(Ông Bùi Bỉnh Bân còn nhớ điều này)

2- Ý thứ hai:
– “Chống hình Hồ Chí Minh và cờ Cộng Sản chỉ là Diện. Chống Thương Ước Việt – Mỹ mới là Điểm. Phải nhân lúc lòng người đang sôi sục này để vùng lên, phá cho bằng được cái Thương ước đó”.
(Việt Dũng đã ra đi nhưng Minh Phương cũng biết chuyện này).

ĐÀN BÀ DỄ CÓ MẤY TAY.

dan ba de co may tay

Tuần lễ cuối tháng ba đầu tháng tư vừa rồi, Tập Cận Bình, Chủ tịch Trung Quốc đến thăm ba nước Pháp, Đức, Bỉ.

Paris là điểm dừng chân đầu tiên. Ông giành ưu tiên này cho Pháp quốc bởi cách đây tròn 50 năm, tháng Giêng năm 1964, tổng thống Pháp, tướng Charles De Gaule là nguyên thủ phương Tây đầu tiên ban ân huệcho Mao, công nhận nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Để tỏ lòng hiếu khách, Pháp không những trải thảm đỏ tận chân cầu thang máy bay, mà còn trải lòng ra đón. Yến tiệc xa hoa chưa từng có tại lâu đài Versailles nguy nga. Buổi hòa nhạc Trung Hoa tại nhà hát Opera. Dạ tiệc, khiêu vũ lu bù trong cung điện Roi-Soleil tráng lệ. Champagne trào bọt trắng lòa với những hợp đồng chục tỷ Euro.

Khác hẳn Pháp, người Đức đón Tập không ồn ào, xa xỉ, nhưng cũng vẫn giành được những hợp đồng không thua kém.
Đặc biệt là bà Thủ tướng Angela Merkel đã ghi hai bàn thắng ngoạn mục, mà vẫn giữ đúng những nghi lễ ngoại giao.

Bàn thắng thứ nhất:

Tập muốn sử dụng chuyến thăm Đức để gây một sức ép, buộc Nhật phải thừa nhận những tội lỗi đã gây ra cho Trung Quốc trong Thếchiến II. Để thực hiện ý đồ này, Tập khéo léo mời bà Angela Merkel cùng đến thăm đài tưởng niệm nạn nhân chiến tranh Holocaust. Bà Merkel khôn ngoan nhận ra ngay ý đồ. Bà đáp: “Ngài có thể đi một mình vào lúc rảnh rỗi”.
Bà không dại gì tham dự vào vòng xoáy ma quái của những cuộc chơi do Tập bày ra. Bị từ chối thẳng thừng, Tập cười lịch sự, nhưng trong lòng hẳn cay đắng lắm.

Bàn thắng thứ hai:

Trong bữa ăn tối chia tay, ở mục tặng quà lưu niệm, bà Merkel tặng Tập một tấm bản đồ Trung Quốc cổ, do nhà bản đồ học người Pháp Jean-Baptiste Bourguignon vẽ vào năm 1735, dựa trên những khảo sát địa lý của các nhà truyền giáo Dòng Tên, và được xuất bản tại Đức vài năm sau đó.

Tập cầm quà trong tâm trạng nửa cười nửa mếu. Trên tấm bản đồ có ghi “China Proper”(Trung Quốc chính thức) trong đó không có Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông, Điếu Ngư, hay biển Đông. Riêng đảo Đài Loan và Hải Nam được vẽ bằng một màu khác, ngụ ý rằng hai hòn đảo này chưa thuộc quyền kiểm soát hoàn toàn của nhà Thanh lúc đó.
Những nội dung trên tấm bản đồ này lại trái ngược với quan điểm chính thức của chính quyền do Tập đang điều hành. Theo họ thì Tân Cương, Nội Mông, Tây Tạng, Đài Loan, Điếu Ngư, và biển Đông là “lãnh thổ lịch sử không thể chối cãi của Trung Quốc”.

Hơn nữa, những chi tiết trên bản đồ lại gợi ra bao vấn đề. Bản đồ được vẽ năm 1735 là năm Hoàng Đế Càn Long trị vì. Ông là một nhân vật kiệt xuất nhất trong triều đại nhà Thanh, mà vẫn chưa thể kiểm soát nổi những vùng miền nói trên thế thì làm sao có thể gọi là “lãnh thổ lịch sử từ thời cổ đại”, “không thể tách rời”, “không thể chối cãi”.

Tổng thống Pháp François Hollande tiếp Tập lịch sự đến mức ông không dám nhắc đến chuyện “nhân quyền” mà Tập vốn ghét cay ghét đắng.

Còn bà Thủ tướng Đức Angela Merkel đã chẳng ngại ngùng đánh thẳng vào lòng kiêu hãnh bành trướng không phải của riêng Tập mà cả dân tộc Đại Hán.

Báo chí phương Tây gọi món quà bản đồ là “cú tát tai của Merkel” có lẽ cũng không ngoa.
Quả là:

“Đàn bà dễ có mấy tay,
Đời xưa mấy mặt, đời này mấy gan?

NGUỒN INTERNET

CHỦ NHẬT BUỒN

phananhdung

(Khóc Từ Thế Mộng)

Những ngày nằm thoi thóp
Anh gọi đến tặng thơ
Chữ ký MỘNG bay bổng
Thương quý lời dặn dò

Bàng hoàng chủ nhật buồn
Ngồi bên anh lần cuối
Chiều Phan Thiết rụng dần
Cuộn trong lòng trần trụi

Bạn bè xa chưa nhắn
Người con út không về
Ung dung anh tỉnh lặng
Nghìn sau trọn giấc mê !

Phan Thiết nắng ,buổi trưa đầy nắng
Tiễn anh về với má thương yêu
Anh nằm xuống , bạn bè ngơ ngẩn
Dưới chân đồi , Phan Thiết liêu xiêu …

PHAN ANH DŨNG

BÌNH YÊN SA MẠC

tranthienthi

“mả cha cái đời vô hậu
nhìn quanh chẳng biết thù ai”
Trần Vàng Sao

cố dàn hòa với cây lim sặt
lòng tri ân chưa đủ
cho một mùa hoa vàng
ngã ba mưa gió đã qua mùa
em bỏ xóm đi theo bao lời gọi
nào có hay
cái chết ám muội của cây xoài cơm
Tôi đã kịp làm lành với mình
làm cây hoa hồng không còn gai nhọn
làm tình
và chắc chắn là không có con
nắng mưa vẫn về không ai chờ
không tìm được một người để yêu
cuối cùng
không có cả một người ghét bỏ
ai đã thắp cho buổi chiều
thứ ánh sáng không từ mặt trời
ký ức một vì sao
đã ra đi từ muôn ngàn năm trước
nụ cười vãng lai không thể nào gây gổ
không có cơ hội làm lành
không thể đánh dấu trên bình yên sa mạc
sẽ khủng khiếp biết bao nhiêu
khi không còn khói bụi
tiếng í ới đầu chợ Cây Me
và một bờ vai trần mỗi ngày em đi chợ

trần thiên thị

THẰNG SAY

nguyenvi

Tợp vài hớp, da mặt của hắn từ vàng nâu đã chuyển sang màu đỏ lòm. Thêm vài hớp, tím đen. Thêm vài hớp nữa, ói. Nằm lăn kềnh ra, bất kể đâu, và ngáy bất kể trời trăng mây nước. Thế là hắn đã say rồi đó.
Hắn say dễ òm, dễ như anh nông dân đến giờ ngủ phải ngủ vậy. Khá nhiều người biết hắn, tất thảy đều bảo, đô hắn không quá hai chai bia năm mươi. Còn rượu đế (tên gọi tắt của rượu tào lao thiên đế các thứ) thì còn tệ hơn nhiều, chưa bao giờ hắn vượt quá đơn vị xị. Có tên bạn đương cơn ngà ngà, đã mạnh dạn vung tay tuyên bố dứt khoát, rằng đã tận mắt chứng kiến hắn vừa ngửi cái nắp ken đã say, ngã lăn quay. Không biết có đúng như vậy không. Quái lạ ở cái chỗ, hắn lại tự hào với cái đô uống kém cỏi hằng có của mình. Hắn thường lý sự, rằng uống ít không phải là cái tội. Uống ít, say. Vẫn lời hơn là phải uống nhiều mới say, phí!
Đời thuở giờ, có ai càng rèn luyện lại càng thụt lùi, tụt hậu không. Vậy mà hắn lại nằm trong cái tốp kỳ quặc đó, mà là điển hình tiên tiến của nhóm nữa mới đáng tội. Qua ba mươi năm phấn đấu rèn luyện, đến giờ thì đô uống của hắn là như vậy đó. Anh Chí, con đẻ của nhà văn Nam Cao, nếu còn sống, nghe chuyện chắc cũng phải ngữa mặt lên trời mà thốt lên một lần nữa cái câu bất hủ đã yên vị trong văn học sử: “Thế này thì có phải là uổng rượu không!”.
Nói tóm lại là thế này, đô uống của hắn tỷ lệ nghịch với số lần tham gia các cuộc nhậu, cùng thời gian được thử thách và tự rèn luyện. Mà phải đâu lâu lâu hắn mới được uống. Hao hao với câu kết của các cụ, ghét của nào trời trao của đó, trời xui đất khiến thế nào lại bắt hắn vì công việc, vì nghề, cả vì mối quan hệ song phương đa cực, hắn phải uống thường xuyên, có khi còn bị uống liên tục nữa là đằng khác.
Từ lâu lắm rồi, các cụ tổ đã bật đèn xanh cho phép lũ cháu con được uống, vô tửu bất thành lễ. Hắn là một trong đám cháu con thuộc hàng tép riêu, không dám không tuân lời các cụ. Thế nên chưa bao giờ hắn thù ghét chi bia, rượu.
Cho dù học vấn của hắn qua bao nhiêu năm cũng chỉ cỡ trung bình yếu, hắn cũng đã từng đọc và hiểu không ít trang sách tờ báo có đăng mục khuyến cáo về tác dụng xấu của bia, rượu đến sức khỏe con người. Lẽ ra phải sợ, đằng này cho đến giờ hắn vẫn thích nhậu đó thôi. Nhậu để được dịp ngồi bù khú trên trời dưới đất với đám bạn bè thân thuộc, hiểu nhau. Nhậu để tuổi hến của hắn được dịp mở miệng trong giây lát, tranh cãi um sùm với đám bạn, để rồi khi tan men không dám cãi nữa vì hắn hiểu rất rõ cái lý sự cùn của hắn. Nhậu còn để mượn men xé giùm vài mối liên kết hóa học phức hợp trong mấy miếng thịt rán mà cái bao tử đang độ về già của hắn không còn kham nổi.
Chỉ có ngu mới không uống. Ai nói hắn sai, hắn chịu. Thi thoảng say tí cũng hay hay. Đất say đất cũng lăn quay / Trời say mặt cũng đỏ gay, ai cười. Cụ Hiếu – người con ưu tú của quê hương sông Đà núi Tản – còn nói vậy, huống là.
Nhưng thề có thằng Cuội trên cung trăng và ngài Thổ công dưới mặt đất. Đến lạ lùng, hắn tuyệt nhiên không dung thứ, thù đắng ghét cay cái say kiểu bặm trợn cùm khóa phần người / tháo cũi xổ lồng phần con, trong chỉnh thể một-con-người.
Quá nửa phần đời ngồi nhâm nhi với gần đủ mọi hạng người, hắn có thể kể lơ mơ tới một ngàn lẻ một chuyện nhậu và liên quan đến nhậu. Hoặc có thể kể vanh vách, như in, một trăm lẻ một chuyện nhậu đại loại như thế. Nghịch vui, có. Kỳ cục, có. Thanh, có. Tục, có. Vừa thanh vừa tục, có. Và cả những chuyện tởm lợm, mới nhớ lại thôi đã phát buồn nôn. Thật may cho hắn, cũng nhờ cái đô rượu kém cỏi đó mà hắn đỡ phải tham gia tới cùng vô số những cuộc nhậu có phát sinh vấn đề. Nhân đây hắn cũng thật lòng xin lỗi các bạn nhậu, hắn, có lúc cũng đã mượn cái chứng chỉ “đô yếu” để diễn trò xây-xẩm-khi-chưa-xỉn, hoặc ngáy-trước-khi-ngáp để lách qua biền những cái cụng ly đầy nhạy cảm.
Say đến hết biết gì, không còn kiểm soát nổi ý nghĩ và hành động của mình, từ đó làm bao điều trái với luân thường đạo lý. Đã là điều chưa ai từng chấp nhận. Bất chợt hắn lại nghĩ tới những kẻ giả say, mượn rượu để buông thả cho phần con tha hồ tự tung tự tác. Không dưng hắn nhớ lại chuyện xảy ra cách đây khoảng chục năm…
Trong một chuyến dã ngoại cùng mấy thằng bạn về với một làng biển mang cái tên rất thái bình và an vui. Người quê nơi đây cũng hiền hòa, hiếu khách như cái tên làng đã có từ đời nảo đời nao. Sau cuộc tiệc rượu gồm toàn mồi hải đặc sản do gia chủ mời, một thằng bạn của hắn đã say đến độ cố tình mặc nguyên bộ đồ của A-đam, nằm chòng queo trên bộ ván gỗ giữa nhà chủ dưới ánh đèn nê-ông 40W trùm phủ cả căn phòng. Chiếc mền con công khổ nhỏ cũng bị thằng bạn say của hắn cố ý khều đạp lên quá rún. Cái mô hình của thứ vũ khí trấn thủ kinh thành Phú Xuân giữa thế kỷ mười chín lồ lộ ngang nhiên, làm xẩm tối cả một góc phòng. Nhà một gian. Tội nghiệp mấy cô con gái nhà chủ đang tuổi cặp kê. Cho dù không tham gia cuộc nhậu, mặt các cô cũng đỏ lòm lòm một cách tự nhiên, in cái bản mặt hắn khi uống đủ hai chai năm mươi, hay tu đúng nguyên một xị “ru-ga”.
Bất giác hắn nghi ngờ luôn cả thi sĩ vĩ đại bắc phương Lý Bạch, thi sĩ tài hoa trời nam Vũ Hoàng Chương – rằng các vị ấy đã sáng tạo nên những vần thơ say bất tử trong cơn say lúy túy, trời đất cuồng quay. Dù không tin hết những câu chuyện từng được đưa vào quốc văn giáo khoa thư do các nhà văn khái quát, cường điệu lên ít nhiều để làm bài học răn người, hắn cũng tin chắc rằng chưa có ai trên đời sống tốt hơn trong cơn say, chí ít là tốt với chính bản thân mình.
Thế nên mặc dù chưa bao giờ thù ghét chi bia rượu, hắn vẫn tự cho phép hắn thù đắng ghét cay cái say bặm trợn kiểu cùm khóa phần người / tháo cũi xổ lồng phần con, trong chỉnh thể một-con-người./.

NGUYÊN VI

THƠ NGUYỄN NHƯ MÂY

nguyennhumay

Biết đời chẳng có gì đâu
Ngoài cây nến thắp hai đầu áo quan
Và đôi mắt khép muộn màng
Sau khi đã nhận trăm ngàn đắng cay

Nhưngtôi vẫn cứ dang tay
Đón trời đất , đón đêm ngày thế gian
Có khi nước mắt đã tàn
Vẫn cười gượng để giấu ngàn nỗi đau

Vẫn nhìn lên cõi trăng sao
Nghĩ suy thân phận mà đau một mình …

NGUYỄN NHƯ MÂY

VÀNG PHAI

Em về giữa tháng mười hai
Áo xưa giờ đã nhạt phai tháng ngày
Hai hàng lá nhỏ chiều nay
Bỗng lao xao úa trên tay rụng vàng
Em về nhịp guốc rơi hoang
Dư âm diễm đọng trên ngàn dấu xưa

Em về chốn cũ chiều mưa
Gió liu thiu gió lạnh mùa u giêng
Vói tay vịn bóng muôn phiền
Vàng phai tình đã quên tuổi rồi?!

Thanh Hà 1976. Cho Thu Hòa
ĐĂNG THỌ

DẬY MÀ ĐI – ĐỨNG DẬY MÀ ĐI!

trantrungta

Năm 1818, vua Gia Long ra Hoàng Sa
Thăm lính và cắm bia làm dấu tích…, đặt tên biển là Nam Hải, Biển Của Nước Nam.

Năm 1858 quân Pháp chiếm Đông Dương làm thuộc địa. Biên bao quanh nước ta và một phần Cambodge được Pháp đạt tên là Mer de l’Indochine, tức Biển Đông Dương, nay ta gọi là Biển Đông.

Chính quyền Pháp thiết lập Đài Khí Tượng và dựng Hải Đăng trên quần đảo Hoàng Sa
Bản đồ Đông Dương, Indochine, có in những chi tiết đó
Khi quân Pháp rút về Pháp, năm 1956, Hoàng Sa, Trường Sa bàn giao cho chính phủ Việt Nam Cộng Hòa vì dưới vĩ tuyến 17
Tổng Thống Ngô Đình Diệm đưa lính ra trấn giữ, đưa công chức ra làm việc

Tổng Thống Ngô Đình Diệm lập kế hoạch lấy phân chim ở Hoàng Sa Trường Sa làm phân bón ruộng
Đưa bản kế hoạch cho Cố Vấn Mỹ xem, trình về Mỹ, bị bác.
Nước Mỹ thừa phân để viện trợ cho Việt Nam!

Cùng với dự tính lập nhà máy phân, Tổng Thống Ngô Đình Diệm còn muốn lập nhà máy sản xuất súng đạn
Rừng Giá Tị, tức cây gỗ Teck dùng làm báng súng, được trồng cả ngàn ngàn mẫu, cố vấn Mỹ khuyên đừng.
Rừng Giá Tị còn đó, 60 năm rất xanh tốt
Long Bình đáng lẽ là nhà máy chế súng và đạn, Mỹ trưng thu dùng làm Kho chứa Đạn Mỹ!
Năm 1973, Mỹ ký kết với “Phe Bên Kia” Hiệp Định Paris để rút hết nửa triệu quân Mỹ về trong danh dự

Trước đó, một năm, Tổng Thống Nixon của Mỹ qua Tàu gặp Mao Chệt Tung, giao hảo thắm thiết.

Năm 1974, đầu năm, Hải Quân VNCH có chuyến công tác Hoàng Sa, bị chiến thuyền của Trung Cộng ngăn cản.

Bên ta khai hỏa, quân Tàu đáp lễ ngay và chiếm đảo, bắt hết Đại Đội Địa Phương Quân trấn đóng đảo, giết chết hơn bảy mươi sĩ quan và thủy thủ VNCH, một số sống sót thì bắt đưa về Tàu.

Không Quân VNCH ở Biên Hòa, Đà Nẵng, Huế, Nha Trang trong tình trạng sẵn sàng cất cánh
Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu báo ngay cho chính phủ Mỹ biết và xin giúp đỡ

Hạm Đội 7 Mỹ đang rất gần Hoàng Sa không phản ứng gì
Máy bay và tàu chiến VNCH đành bất động
Ta mất Hoàng Sa vào tay giặc!
Sau đó, Tàu Cộng có gửi thư cho Tổng Thống Thiệu qua trung gian Singapour với yêu cầu Tổng Thống Thiệu cử Cố Vấn của mình là Hoàng Đức Nhã qua nhận.
Ông Hoàng Đức Nhã đi nhận. Nội dung thế nào thì tới nay cũng không nghe nói dù ông Hoàng Đức Nhã còn sống.

Chứng tích lịch sử rành rành, ta thua Tàu thật đáng xấu hỗ!

Lại nhớ chuyện Tổng Thống Diệm cầu tài nơi chính phủ Tàu Đài Loan giúp xây dựng trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị, và xin tin tình báo của nhóm gián điệp Tàu tại Miến Điện, Tổng Thống Diệm cho đứt Tưởng Giới Thạch đảo Ba Bình, đảo lớn nhất ở Trường Sa như cách đền ơn…
Hiệp Định Genève 7 – 1954 xác định Hoàng Sa và Trường Sa nằm dưới vĩ tuyến 17 và thuộc lãnh thổ của Nam VN.

Dấu tích lịch sử còn ràng ràng.
Nội dung thư Chu Ân Lai viết cho Tổng Thống Thiệu không được cho biết.
Việt Nam dưới chế độ nào cũng chỉ còn máu xương…

Nước ta từng có tên là Đại Cồ Việt, Đại Việt, Đại Ngu rồi lại Đại Việt. tên cuối cùng cho đến năm 1945 là Đại Nam. Ông bà tổ tiên chưa hề xưng nước-tui-là-nước nhược-tiểu, chúng ta đạp lại sạch bàn thờ Tiên Tổ…vòng tay thưa khắp thế giới : Việt Nam Là Quốc Gia Nhược Tiểu, Trời ơi!

Hồ Quý Ly đặt tên nước cực kỳ chính xác: Đại Ngu

Ông Tản Đà làm thơ…cũng chính xác: Nước Bốn Ngàn Năm Chưa Thức Tỉnh, Dân Bao Nhiêu Triệu Cứ Còn Mê! Nước Bốn Ngàn Năm Chưa Người Nhớn, Dân Lên Trăm Triệu Toàn Trẻ Con!

Buồn quá khi lật lại những trang lịch sử ố vàng…
Lật lại và thấy những câu Hịch Sát Đát, nước mắt cứ tuôn tuôn.
Hưng Đạo Đại Vương quyết tâm đánh quân Nguyên, kêu gọi ba quân một lòng một dạ. Và quân ta đã thắng!
Nay…Hịch không thấy
Chỉ nghe những lời khuyên: Nhẫn nhịn! Dĩ bất biến ứng vạn biến!

Một câu nhịn chín câu nhục! Không thể được!
Thà sống mái một lần. Thà một lần quyết liệt
Quyết Tử cũng là Quyết Sinh!

Hãy dây mà đi hãy dây mà đi
Anh Em Ơi!

TRẦN TRUNG TÁ

BÀI CẦU NGUYỆN MUÔN ĐỜI

phamkhanhvu

Xin đêm dài rộng lượng
Ôm em đầy vòng tay
Xin mưa về trên vai
Môi ru tình ngọt ấm
Xin mùa đông ảm đạm
Quên mình được làm người
Xin làm cội hoa tươi
Nở trong mùa địa ngục
Xin không còn hạnh phúc
Trong đêm đẹp vô cùng
Xin làm đóa hướng dương
Kiêu hãnh cười dưới nắng
Xin làm con bướm trắng
Bay giữa lòng đêm vui
Xin làm một mặt trời
Lăn qua thành phố chết.

PHẠM KHÁNH VŨ

LỜI CHIM HÓT NÚI

daolam

Một ngày chim hót núi
Gọi bình minh giao tình
Anh mang lời tình gọi
Về…hong ấm trang kinh

Câu thơ em buồn bã
Rơi trên nhánh vàng bay
Nhớ lời chim hót núi
Lay động mãi tháng ngày

Tìm bóng sương trong khói
Tìm nhau giữa mộng ngời
Như loài chim hót núi
Theo hình lạc bóng trôi

Trơ vơ nghìn năm tuổi
Một bóng nguyệt lặng thầm
Anh, loài chim hót núi
Em, giấu hàng lệ rưng

Mai về bên gốc nhớ
Chờ nghe tiếng hót xưa
Thắp lòng đêm thuở nọ
Săm soi giấc mộng vừa…

THEO LỜI CHIM HÓT NÚI XƯA
VỀ THĂM THẲM HÚT…NẮNG THƯA CUỐI RỪNG

DaoLam