Đôi mắt người thiếu phụ nhà bên

Vườn xưa lạnh tiếng chim về
Sông xưa quạnh bòng đò quê bãi gầy
Ta như chiếc lá tàn phai
Ngủ trên sương úa dạt ngoài đồng trăng
Tìm trong cát bụi mê lầm
Chỉ nghe tiếng vạc xa xăm cuối trời
Mười năm ngút bóng trăng côi
Gió tiêu tương, thổi qua đời quạnh hiu
Rằng ai đạp xuống cầu kiều
Để thương để nhớ quàng xiêu trắng đầu
Ta về nép giữa ngàn lau
Mắt em thăm thẳm một màu thu sương?!…

LÊ SA

NHÀ TÙ : CHƯƠNG 10 ,THỐNG KHỔ NHẬP MÔN

-10-

Chuyến xe đời chập chùng hệ lụy đổ chúng tôi xuống một địa chỉ mới. Địa chỉ mới, với tôi. Với dân tộc tôi thì nó đã quen thuộc đến cũ mèm. Số 4 đường Phan Đăng Lưu, Quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh, là địa chỉ mới ấy. Trước ngày 30 tháng 4 năm 1975, không ai cần biết số 4 đường Chi Lăng, tỉnh Gia Định. Những kẻ biết nó đều bất hạnh. Vì nó khoác cái nhãn hiệu hãi hùng: Đề lao Gia Định. Cũ hơn cả Nha Cảnh Sát Đô Thành, đề lao Gia Định do thực dân Pháp xây dựng. Nó nằm giữa Tòa án Gia Định và Tòa Tỉnh trưởng Gia Định. Nhà tù luôn luôn sát khít tòa án. Hình phạt và công lý gắn bó nhau. Ông Ngô Đình Diệm làm cách mạng nhân vị, ông ta chỉ xoá tên… phế đế Bảo Đại. Đề lao Gia Định vẫn còn nguyên. Và cách mang nhân vị của ông ta dùng đề lao Gia Định giam nhốt những người đối lập chế độ nhân vị. Cơ chừng nhân và vị đã nặng mùi, từ đó. Trong sự nghiệp khai phóng tự do, dân chủ của Hoa Kỳ, người Mỹ ít quan tâm tới đề lao Gia Định. Bằng tinh hoa kiến trúc Hiệp Chủng Quốc, họ đã tặng Việt Nam Cộng Hòa hai nhà tù thật hiện đại, thật tư bản. Để nhốt và khai thác Việt Nam cộng sản. Ở Tô Hiến Thành. Đôi mắt chú Sam đã nhắm tít khi ngang qua đề lao Gia Định. Do đó, đề lao không được hưởng văn minh và tự do Hoa Kỳ. Nó bệ rạc cả nội dung lẫn hình thức. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, cách mạng vô sản tiếp quản đề lao. Rồi, vì Chi Lăng đổi tên Phan Đăng Lưu, dân chúng tự ý đổi tên đề lao Gia Định thành nhà tù Phan Đăng Lưu, mặc dù, nhà nước cộng sản ghi rõ trên văn thư là Trại T-20. Vị anh hùng giai cấp Phan Đăng Lưu đã được phục sinh như một cai ngục vĩ đại của một nhà tù mà cổng treo tấm bảng nền vàng chữ đỏ: Không có gì quý hơn độc lập tự do! Câu nói bất hủ của Hồ Chí Minh chỉ sáng nghĩa và sáng giá khi con người vào tù bởi độc lập, tự do. Và con người phải chui qua cái cổng, chui dưới tấm bảng nền vàng chữ đỏ “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Dân tộc Việt Nam đã loay hoay với độc lập, tự do ngót nửa thế kỷ. Chúng ta loay hoay giành độc lập, tự do giữa chúng ta. Rốt cuộc, mãi mãi, chúng ta ngậm ngùi “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Người Việt Nam đã nhân danh cái của thiên hạ mà tàn sát nhau. Chưa ai chịu truy nã phận mình. Chúng ta điên rồ trong trò chơi của ý thức hệ. Và tàn cuộc, chúng ta hành hạ lẫn nhau. Chưa đủ, chúng ta thù hận nhau, chém giết nhau. Khi ấy, cánh đồng mầu mỡ quê hương, cỏ dại nhiều hơn lúa.

Bạn biết chợ Bà Chiểu chứ? Đằng sau Lăng Ông ấy mà! Bên đây đường, cổng đề lao. Bên kia, hông chợ. Biên giới của tự do và tù đầy ngắn ngủn. Chuyến xe đời chập chùng hệ lụy qua cổng chính. Cổng khép kín ngay. Xe ngừng lại. Tấm vải bố kéo lên. Chúng tôi, hai người chung một chiếc còng tay, nhảy xuống đất. Người ta mở cổng và lùa chúng tôi vào sân trong kín đáo. Buổi chiều hôm ấy không có nắng. Trời âm u. Chúng tôi ngồi trong sân thứ hai. Chúng tôi đi đứng tự do ở cái sân nhỏ, chung quanh tường cao giăng giây kẽm gai ngọn đỉnh. Một bạn tù vỗ vai tôi:

– Duyên Anh.

Tôi nhận không ra.

– Thế Viên đây mà.

Thế Viên, trời ơi, tác giả thi phẩm ướt tình Người yêu tôi khóc, giáo sư văn chương của trường Nguyễn Đình Chiểu, Mỹ Tho! Năm nào, anh đã giới thiệu tôi với cử tọa buổi diễn thuyết của tôi ở trường Gioan 23, Định Tường. Sau đó, chúng tôi sang Cồn Phụng, thăm ông Đạo Dừa. Thế Viên có mái tóc bồng bềnh, đôi mắt thật thi sĩ. Anh chưa từng chống cộng sản. Một nhà giáo tận tâm, một thi sĩ lãng mạn, suốt đời ca ngợi tình yêu, tại sao anh vào tù?

– Hệ lụy, anh Duyên Anh à!

Thế Viên đã về Nhà Trang, dạy ở đó cho đến đại nạn hồng kỳ. Là giáo chức, không một ngày quân trường, anh chỉ bị học tập tại nhiệm sở của anh vài tuần và tiếp tục nghề nghiệp theo giáo trình, giáo án của chế độ mới. Tháng 4-1976, anh vô Sàigòn thăm Doãn Quốc Sĩ, ăn cơm trưa với Sĩ. Đáng lẽ, Thế Viên về sớm là thoát nạn. Định mệnh của anh nằm trong sự quyến luyến của Doãn Quốc Sĩ. Sĩ đã lưu bạn hiền uống cà phê, kéo dài những phút hàn huyên. Tác giả Dòng sông định mệnh đâu biết người ta đã bủa lưới vây bắt anh. Công an ập vào căn nhà trong căn hẽm dài đuờng Thành Thái. Người ta còng tay Doãn Quốc Sĩ. Người ta đọc lệnh bắt anh. Tác giả Đoàn người hóa khỉ đã tận mắt nhìn người hóa khỉ. Thế Viên dính lưới một cách oan uổng. Không hề có lệnh bắt anh. Anh không được Trần Bạch Đằng chiếu cố. Trần Bạch Đằng vẫn chưa cho anh “một chỗ đất sống dưới ánh mắt trời”. Những tên công an nằm vùng, gã sinh viên đại học Vạn Hạnh, học trò cũ của Thế Viên, đã đích thân còng tay thầy của nó và đưa thầy nó vào cuộc phiêu lưu ê chề, nhục nhã. Nó gặp thầy, không nghiên mình như Carnot, mà bắt thầy nó đứng nghiêm. Và nó bảo thấy nó can tội thi sĩ phản động!

Tên sinh viên đại học nằm vùng này không phải là tên cộng sản mầm non học thói Đặng Trần Thường thứ nhất và duy nhất. Trước nó cả ba chục năm, nhà văn Lan Khai, tác giả Cái hột mận, Ai lên phố cát, đã bị học trò bỏ vào rọ tre, đeo đá nặng và thả xuống sống chết sặc sụa. Thế Viên may mắn hơn Lan Khai, Khái Hưng. Anh không bị đếm tung từng chết trầm. Anh chỉ bị học trò bắt đi… học tập. Người cộng sản sẽ trả lời thế nào về tình nghĩa, về đạo đức, về phẩm cách qua sự việc bắt nhốt Thế Viên? Bản chất của công sản là phản bội. Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã thủ tiêu bao nhiều bằng hữu, bao nhiêu đồng chí sáng giá hơn mình? Chúng ta chưa có bằng chứng cụ thể. Bằng chứng cụ thể là thi sĩ Thế Viên được học trò cộng sản đền ơn bằng còng, xích và ngục tù. Những anh cộng sản làm dáng ở Paris, ở Bonn, ở Amsterdam, ở Londres, ở Washington, có gợn chút ưu tư? Sự mỉa mai không dành cho những anh tập sự phản bội, tập sự dẫm nát tình nghĩa. Mà, hơi buồn, lại phải dành ưu tiên cho ông nhà văn Kẻ Tà Giáo. Ông nhà văn Kẻ Tà Giáo là con rể ông Trương Gia Kỳ Sanh, là em rể tên cộng sản khát máu Trần Bạch Đằng. Cả nước đều rõ. Trần Bạch Đằng tuyên bố: “Bọn văn nghệ Sàigòn không có đất sống dưới ánh mắt trời”. Cả nước đều rõ. Ông nhà văn Kẻ Tà Giáo tham dự phiên họp đầu tiên của Hội Văn Nghệ Giải Phóng. Cả nước đều rõ. Ông nhà văn Kẻ Tà Giáo được Trần Bạch Đằng cài đi nằm vùng ở Tin Sáng của bọn Ngô Công Đức, đi Bắc về Nam. Cả nước đều rõ. Ông nhà văn Kẻ Tà Giáo sang Mỹ dẫn lời Bertol Bretch: “Buồn cho thời đại, nói chuyện với cỏ cây cũng là một tội lỗi”. Nhiều người biết. Nhiều báo đăng. Chúng ta khó chịu cái thái độ bất lương trí thức của ông nhà văn với. Người nên nói lời của Bertol Bretch chỉ là Vũ Hoàng Chương, là Thế Viên. Những kẻ nhởn nhơ công tác theo chị thỉ của Trần Bạch Đằng, một giai đoạn nào đó, trong khi, các thi sĩ “nói chuyện với cỏ cây” chết rũ trong tù là những kẻ không được tha thứ. Song, người “quốc gia” vốn rộng lượng. Và những kẻ đã cộng tác với kẻ thù của họ, vẫn ngông nghênh, vẫn mục hạ vô nhân, tưởng thiên hạ mù và câm hết, ong óng một giọng bịp bợm rẻ tiền: “Tôi không nuôi một ảo tưởng nào. Và điều mong ước dĩ nhiên của tôi là tiếp tục dùng ngòi bút để phục vụ người Việt đang định cư ở hải ngoại”. Nuôi ảo tưởng nào cho một giai đoạn nào? Nước Mỹ không có Trần Bạch Đằng, sẽ có ai? Đó là ưu tư của người “quốc gia”, nếu họ còn chống cộng và còn tham vọng giải thoát quê hương. César nói: “Kẻ thù có thể tha thứ, kẻ phản bội phải ném vào chuồng cọp”. Những kẻ phản bội, những tên ở lại, đã xách súng lùa anh em đi họp chào mừng cộng sản, đã viết báo cộng sản, đã làm việc với công sản và đã vượt biên bằng thuyền và bằng máy bay sang Mỹ, sang Pháp. Bằng chứng rành rành, đọc tên đứa nào, đứa nấy cúi mặt câm nín. Thì vẫn công khai múa mép và múa bút. Thì vẫn được hoan nghênh như chiến sĩ đấu tranh cho tự do, dân chủ. Và nạn nhân của chúng nó thì bị vùi dập tơi bời, bị dồn vào cuối đường cô đơn, tuyệt vọng. Người “quốc gia” còn một hạng, mà dưới mắt và trong ý nghĩ đốn mạt của nó, ai cũng là cộng sản, nếu đã nằm tù cộng sản và nếu trốn khỏi đất nước muộn màng. Cái hạng chống cộng bằng sách vở này, chưa một phút nhìn giép râu dẫm trên đường phố Sàigòn, chưa một giây nếm nổi chua xót của tổ quốc, quá khích đến tội nghiệp. Có lẽ, sự cường điệu quốc gia chỉ nhằm khoả lấp một co cẳng chạy dài, vất lại một quá khứ bần tiện.

– Gia đình tôi chưa biết tôi ở tù. Thế Viên buồn bã nói.

– Họ đã cho viết thư mà. Tôi nói.

– Tôi đã viết hai lần. Không thấy gia đình trả lời, không có ai gửi quần áo, thuốc men, tiền bạc.

– Anh còn tiền không?

– Còn. Tôi đăng ký mấy chục.

Chúng tôi được lệnh xếp hàng và ngồi yên lặng. Tôi nhìn sang phía Thế Viên, thi sĩ của tình yêu. Người yêu của anh, những người yêu của anh còn khóc? Tại sao người ta không bắt chủ nhiệm nhật báo Xây dựng, nhật báo Tự Do chống cộng khét lẹt? Tại sao người ta không bắt Thanh Lãng? Câu trả lời có phần lợi cho sự “ân trả oán đền” của cộng sản. Linh muc Nguyễn Quang Lãm đã lôi Thái Bạch ra khỏi Tổng nha Cảnh Sát quốc gia và bảo đảm hành vi “nằm vùng “ của nó. Linh mục Thanh Lãng đã xin ông Nguyễn Văn Thiệu thả Vũ Hạnh và cho nó một chỗ ngồi ở Trung tâm Văn Bút Việt Nam. Ban chấp hành Văn Bút bình yên. Thế Viên không chống ai thì lận đận. Chắc chắn, anh đã không thích May cờgiống thi sĩ Tướng Lĩnh, không thích Ngày mai giống thi sĩ Hoàng Trúc Ly gửi đăng Sàigòn giải phóng vội vàng. Anh cũng không thích giống văn sĩ Lan Đình, tuyết hận Nguyễn Mạnh Côn chê Từ hôm khởi chiến của mình, bị loại ra giải văn học tổng thống bằng loạt bàiThâm cung bí sử trên Tin Sáng. Anh ngồi chồm hổm, thi sĩ của chúng ta. Nông dân Moritz của Giờ thứ hai mươi lăm chỉ vì trời mưa, chỉ vì vợ đẹp mà lưu lạc mấy chục nhà tù phát xít, đồng minh. Thi sĩ Thế Viên chỉ vì ly cà phê hàn huyên, chỉ vì Người yêu tôi khóc mà đã lưu lạc hai nhà tù cách mạng. Tôi đi tù không oan uổng. Sự hèn mọn của công sản ở đó, và từ đó, loài người có thể phán xét công lý cộng sản.

Chúng tôi bị phân thành ba nhóm. Ba tên công an chức sắc của đề lao Gia Định xuất hiện. Họ ngó chúng tôi như lái buôn nô lệ chọn người. Cười nói một lúc, họ thỏa thuận, mỗi tên nhận một nhóm. Nhóm của tôi vào sau cùng. Chúng tôi, Hồng Dương, Nguyễn Hữu Hiệu và tôi, được đưa vào khu C-1. Dương Nghiễm Mậu, Đặng Hải Sơn, Thế Viên đến khu khác. Đề lao Gia Định, thời Pháp đô hộ có mỗi khu A. Khu A cũ kỹ, ẩm thấp, nhưng đầy đủ “tiện nghi”. Người Pháp lập một thư viện nhỏ, tràn ngập tiểu thuyết trinh thám, gián điệp. Sang thời cách mạng nhân vị, ông Ngô Đình Diệm trùng tu khu A và cất thêm khu B mái phẳng xi-măng cốt sắt. Qua cách mạng vô sản thống nhất cả nước, Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc” hơn thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, xây liền một mạch hai khu C-1, C-2. C-1 và C-2 mỗi khu có 7 phòng và 12 cachots. Cachot hay biệt giam đối diện phòng giam tập thể. Biệt giam khu A có phòng nhốt bốn, năm tù nhân, còng tay, xích chân dính chùm*. Trưởng khu C-1, bí danh Sáu Cầu, người Quảng Ngãi. Ông ta bảo chúng tôi đứng xếp hàng. Một công an quản giáo dở sổ ghi tên tù nhân mới nhập trại. Sau này, tôi biết tên hắn là Hùng, dân Củ Chi “thành đồng cách mạng”. Tù nhân tặng hắn biệt danh Hùng kẽm gai.

Hồng Dương rất thông minh. Anh ta kéo tôi đứng cuối cùng hàng. Để có thể biết anh em ai vào phòng nào. Nguyễn Hữu Hiệu vô phòng 3 C-1. Hồng Dương đã xong thủ tục. Tôi là kẻ cuối cùng. Khám xét hành lý của tôi hồi lâu, gã quản giáo cật vấn lý lịch:

– Họ và tên?

– Vũ Mộng Long.

– Bí danh?

– Không có.

– Nghề gì?

– Viết văn.

– Viết tiểu thuyết ba xu hả?

– Phải

– Bút hiệu?

– Duyên Anh.

– A, Duyên Anh viết Điệu ru nước mắt.

Sau khi ghi lý lịch của tôi vào sổ tù, sổ đoạn trường, gã quản giáo hỏi tôi:

– Tại sao anh viết Điệu ru nước mắt?

Tôi đáp:

– Tôi sẽ trả lời với cán bố chấp pháp.

Có nghĩa rằng, cai ngục, anh không có quyền thẩm vấn tôi. Gã quản giáo cay cú. Hắn cũng là tên nằm vùng. Tôi hiểu hắn đã đánh dấu tôi. Đó là điều dại dột, là sự lãng quên lời dặn “Chớ dại chết ở cái lỗ chân trâu”.

– Anh đã viết Kẻ bị xóa tên trong sổ bụi đời?

– Phải.

– Bao giờ anh viết Kẻ được xóa tên trong sổ tù?

Hắn không cho tôi trả lời, vẫy tay xua tôi ra chỗ Hồng Dương. Một tên cai ngục dẫn tôi đến phòng cuối dãy. Chúng tôi vào phòng 6 C-1. Ở đây, tôi gặp lại các anh em của tôi: Thanh Thương Hoàng, Chóe, Thân Trọng Kỳ, Cao Sơn.

Như tất cả các phòng giam tập thể của C-1 và C-2, 6 C-1 của tôi thấp lè tè, lợp tôn. Nó dài tám thước, rộng bốn thước. Hồ nước, cầu tiêu ở trong đó luôn. Người ta xây bục xi măng cao khỏi nền đất hai gang tay làm bục ngủ. Có một miếng trống, thấp gần cửa để chia cơm nước. Trần phòng là những thanh xà mười tròn, chồng lên nhau thành hình vuông, đầu người chui không lọt. Chẳng hề có cửa sổ, cửa gió. Chúng tôi tiếp dưỡng khí qua ô nhỏ vừa bằng cuốn sách bỏ túi trổ giữa cửa sắt. Trưởng phòng và Trật tự viên dùng dây đo lại toàn phòng để chia chỗ nằm đồng đều cho tù nhân. Khi phòng đã chật, thêm tù nhân mới là một sự vất vả. Chia chỗ thường dẫn đến gây gỗ, mỗi tù nhân bị bớt một chút xíu chiều rộng. Cuộc chia chỗ kéo dài nửa tiếng, tôi được đúng hai gang tay chiều rộng. Bằng hai gang đo này, tôi chỉ có thể nằm nghiêng hay nằm ngửa, đặt đôi tay lên bụng, không nhúc nhíc. Hành lý của tù nhân được treo lên những thanh sắt trần sát tường. Tù nhân có, ít nhất, một cái bị cói và một cái giỏ plastic. Bị đựng kẹo, bánh, đường, bột, mì vụn, thuốc lá, thuốc cảm sốt và quần áo. Giỏ đựng chén, muỗng, nước mắm, thức ăn mặn. Tất cả bằng nhựa. Mọi đồ kim khí bị nghiêm cấm. 6 C-1 thêm Hồng Dươngng và tôi, là 52 người. 52 người chiếm một diện tích 32 thước vuông tính cả cầu tiêu, hồ nước, sàn tắm, chỗ chia cơm nước.

Xong thủ tục nhập phòng và sau bữa cơm chiều vội vã, tôi có dịp tìm hiểu phòng 6 C-1. Trưởng phòng, thiếu tá cảnh sát đặc biệt Lâm Văn Thế, ngoài 50 tuổi, điềm đạm, nhẫn nhục. Ông Thế thuộc thế hệ kháng chiến Nam Bộ. Năm 1954, thay vì xuống Cà Mau ra Bắc tập kết, ông ta đã ngược lên Sa Huỳnh. Nửa đường, ông ta bỏ về. Rồi ông cộng tác với cảnh sát quốc gia, tự học thi đậu tú tài, tự học Anh ngữ. Trong tù, ông ta học chữ Nho bằng phấn viết trên bục xi măng với ông hiệu trưởng trường Tàu. Phấn bị cấm, ông nhúng ngón tay vào ca nước mà học. Ông Thế bị bắt ngay đêm 30-4-75 tại nhà. Trật tự viên, Dzũng quan tài, một du đãng trẻ, lừng danh sau vụ cướp súng của bộ đội, bắn nhau với công an, bị bắn què cẳng và bị đánh gãy răng. Thư ký phòng là nghị viên hàng tỉnh Nguyễn Tấn Lợi. Đó là ba chức sắc của phòng 6 C-1. Ngoài ra, phòng 6 tập hợp đủ thành phần: Tư sản mại bản Chợ Lớn, phản động trẻ tuổi, đầu trộm đuôi cướp, án phạt của chế độ cũ về những thành tích bất hảo. Và nhà văn, nhà báo, nhà vẽ, nhà đạo diễn! Cái xã hội tù ô hợp nầy chửi thề văng tục suốt ngày, kèn cựa nhau từng tí. Nó khác xa với sĩ quan trình diện học tập hay công chức cao cấp trình diện học tập. Trình độ văn hóa và tâm tính hoàn toàn chênh lệch nên đối nghịch nhau liên miên. Tôi được nhiều độc giả du đãng và phản động trẻ săn sóc. Và đó là những hệ lụy suốt thời gian tôi trọ ở khách sạn quốc doanh Đề Lao Gia Định.

Năm chúng tôi, Thanh Thương Hoàng, Chóe, Hồng Dương, Thân Trong Kỳ và tôi, xúm quanh nhau hút thuốc lá, chuyện trò.

– Chúng mày là chuyến xe vét đấy. Bên Sở chỉ còn một Nguyễn Sĩ Tế vẫn nằm cachot. Thanh Thương Hoàng nói.

Tác giả Cánh chim mỏi đưa tay gãi háng:

– Tao bị ghẻ nặng rồi.

Anh tiếp:

– Đêm sang đây thật hãi hùng. Chúng tao cứ tưởng nó đem đi thủ tiêu.

Làm sao tôi quên đêm ấy. Bản lề phòng giam kèn kẹt ghê rợn. Nó nhiễm đầy Đảng tính nên kỹ thuật dọa nạt của nó tuyệt vời. Một kẻ bất cần đời như Hoàng Anh Tuấn mà nghe đọc tên mình thì rối loạn, chụp vội mỗi cái điếu cày ra đi, quên cả hành lý. Con người rất con người là phải biết sợ bỏ rọ ngâm sông. Thiếu nỗi sợ đó, con người vô tri giác. Và phê bình nỗi sợ đó, phán xét nỗi sợ đó, dành cho các phán quan Nói Phét ở những nơi bày tỏ sư dũng cảm không bị đánh thuế. Tôi đã thấy các vị phán quan bệnh hoạn này trên đất nước của Lincoln. Hình như, tất cả đều ngậm miệng, đều khom lưng trước quyền uy ảo tưởng Hoàng Cơ Minh. Chủ nghĩa tôi mọi thường tỏ ra thiếu hào sảng với đồng nghiệp oan khiên và đồng bào oan khổ. Một giây Hoàng Anh Tuấn thôi, sẽ không còn nhớ chụp cái điều cày ra đi. Mà sẽ đứng nghệt mặt, xón đái ra quần. Vậy thì, chưa kinh quá khốn cùng, nên câm họng, chớ nên luận anh hùng hay chụp mũ bừa bãi. Không hề kiếm nổi một anh hùng tù ngục trong ngục tù cộng sản đâu. Chỉ có những kẻ bất trí, những kẻ thiếu chí lớn, ngông nghênh với đám cai tù chăn trâu cắt cỏ, tự hạ thấp mình cùng lũ công an nói ngọng. Để chết dại ở lỗ chân trâu. Thảng hoặc, những anh hùng tù ngục được vinh tôn bởi một tù nhân vô loại “xuống bếp ăn vụng thit, ăn cắp cơm cháy, ăn tránh phần cơm heo”, tưởng đã chẳng hiển hách, còn bị nhục thêm. Không có gì xấu hổ để bị bắt hay tình nguyện vẽ tranh Hồ Chí Minh trong tù cả. Biết nhẫn nhục “vẽ chân dung Hồ Chí Minh cũng như vác củi, cuốc đất”. Sự bảo trọng thân xác kiểu “cũng như” đã phô bày sự tồn tại lãng nhách trong một pho hồi ký thuật viết lách còn phải học tập lâu ngày. Lãnh tụ cộng sản không chấp nê những tiểu tiết trong nhà tù. Không có thằng lãnh tụ cộng sản nào làm anh hùng trong nhà tù cả. La fin justifie les moyens. Chúng nó hèn hạ để tồn tại, để trở thành “cha già dân tộc”, để trở thành Tổng bí thư và Uỷ viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng. Trong Ngục trung nhật ký, Hồ Chí Minh không ngần ngại tự khai:

Ở đời trăm sự đều cay đắng
Cay đắng đâu bằng mất tự do
Mỗi lời mỗi việc không tự chủ
Để chúng dắt đi tựa trâu bò.

“Cha già dân tộc”, chủ tịch Hồ Chí Minh “vĩ đại sống mãi” đã mất thế tự chủ, đã biến thành trâu bò cho cai ngục dắt dẫn, sai bảo. Thế giới đã quên cái hèn của Hồ Chí Minh, chỉ còn nhớ cái vĩ đại của một người đọc Tuyên Ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, đánh bại thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Chúng ta đã không khai thác cái khía cạnh ở tù hèn hạ của lãnh tụ cộng sản. Chúng ta chỉ khai thác cái khía cạnh ở tù hèn hạ của chúng ta. Không hiểu nổi tâm sự và chí lớn của đại bàng, bằng thù vặc cá nhân, bằng đố kỵ hẹp hòi, bằng kết tội và phán xét thiếu suy diễn và a dua, những con chim sẽ mãi mê lép nhép. Rốt cuộc, cái tư tưởng anh hùng tù ngục nằm gọn trong tiếngăn: “Ăn vụng, ăn cắp, ăn tranh”. Và nó chỉ có thế. Nó không thoát nổi thứ địa ngục tồi tệ với mấy trăm trang sách vô tích sự, viết lấy được, mà kiên nhẫn doc, người ta dễ dãi cách mấy cũng khó tìm nỗi hạt bụi thông minh, vết chấm tài hoa.

– Nhưng mà hên. Chóe nói.

– Hên sao? Tôi hỏi.

– Vừa sang tới đây, nó lùa chúng tao vào hội trường. Anh em đủ mặt. Thiếu anh Tế và bọn mày. Đang đêm, Mai Chí Thọ đến.

Thanh Thương Hoàng ngừng lại, kéo một hơi thuốc lá. Chậm rãi, Chiểu** tiếp:

– Nó thăm hỏi chúng tao. Tình cảm ra phết. Bố Côn đứng phắt dậy, đại diện anh em xin xỏ. Anh em buồn quá. Bố ấy đói thuốc đâm ra ngớ ngẩn. Thằng Trịnh Viết Thành nổi đóa. Tao phải nói bố Côn không đại diện ai cả, bố ấy đại diện cho riêng bố ấy thôi.

– Rồi sao?

– Mai Chí Thọ cười.

– Rồi sao?

– Chúng tao yêu cầu gặp vợ con. Mai Chí Thọ ô-kê. Thằng nầy thủ đoạn vô song. Nó bảo anh em ghi địa chỉ để nó sai người đi báo gấp. Và sáng hôm sau, chúng tao gặp vợ con, tiếp tế ê hề … Chúng mày sẽ được gặp vợ con.

– Sang đây làm việc gì chưa?

– Chưa. Nó quên rồi.

Anh em đủ mặt. Thế là, ngoài nhà văn, nhà báo quân đội đi trình diện học tập theo diện sĩ quan, đám văn nghệ sĩ và ký giả bị bắt trong chiến dịch 2-4-76 đã bị lùa hết về đề lao Gia Định, trừ Nguyễn Sĩ Tế vẫn cô đơn ở cachot Sở Công An.

– Phòng 5C-1 có Doãn Quốc Sĩ, Sao Biển, Hoàng Vĩnh Lộc, Vương Hữu Đức, Minh Đăng Khánh. Anh em khác trụ trì khu A, khu B, Chiểu nói. Được gần gũi nhau cũng đỡ buồn.

Khi kẻng tù báo ngủ Chiểu nói riêng với tôi:

– Ngày về xa lắm đấy, Duyên Anh ạ! Chuyện buồn nhỏ nhặt liệu mà quên.

Tôi về chỗ của tôi. Không ai được phép giăng mùng. Dzũng quan tài muốn chia máu đồng đều cho muỗi. Vì 52 tù nhân nhồi nhét vào diện tích 32 thước vuông nên Trật tự viên Dzũng quan tài đặt lệ:

– Cấm nằm co kiểu xếp thìa.

– Cấm nắm kiểu chân nầy gác lên đầu gối chân kia.

– Sắp lớp kiểu cá mòi hộp, đầu anh này là chân anh kia nằm cạnh.

– Cấm tiểu tiện ban đêm.

Chúng tôi tuân lệnh. Anh mập nằm nghiêng, anh gầy nằm ngửa. Tất cả nằm thẳng không nhúc nhích. Tôi nằm cạnh Nguyễn Tấn Lợi và Chóe, hai tên cùng to xác. Tuy kẻng tù đã điểm nhưng ngọn đèn nê-ông không tắt. Nó sẽ sáng đến lúc điểm danh sớm hôm sau. Đêm đầu, lạ nhà tù, tôi khó nhắm mắt. Nhớ câu thơ của Sông Hồ “Chuyện buồn nhỏ nhặt liệu mà quên” mà Thanh Thương Hoàng vừa khuyên vừa khuyến cáo, tôi suy nghĩ mãi. Có lẽ, mọi chuyện buồn nhỏ nhặt hết, kể cả chuyện buồn ở tù. Những ngày còn nằm bên Sở Công An, tôi đã ao ước chuyển trại. Tôi muốn biết khoảng 20 nhà tù trong thời gian ba năm. Tôi thiếu cái thung dung của Dương Nghiễm Mậu. Mậu tính mười hai năm. Tôi chỉ dám tính một cái mốc. Cộng sản đặt mỗi mốc tù ba năm. Nếu tôi độc thân như Mai Thảo, Như Phong, mọi việc quá dễ dàng. Tôi có người vợ yếu đuối, đau ốm quanh năm và ba đứa con còn nhỏ dại. Nằm tù, mà cứ lo chuyện xảy ra ngoài đời thì mau héo hắt lắm. Tôi vào tù, chắc chắn, bằng hữu đã sợ vạ lây mà xa tránh. Nghĩ ngợi lung tung, rồi ý nghĩ lại trở về nồi cháo thịt chiều 8-4-76. Tôi thèm gặp vợ con tôi để hỏi nồi cháo thịt có bị cháy đen. Nồi cháo hay thân phận tôi? Chóe đang ngáy pho pho. Lợi đã co một chân và gác chân kia lên đầu gối chân co. Mồ hôi của hai tên phì lũ chảy sang chỗ tôi khiến lưng tôi nhơm nhớp. Tôi nhổm dậy, dựa lưng vào tường, kiếm thuốc lá hút và quan sát năm mươi mốt ổ bánh mì trong lò. Có mỗi ô cửa gió, dưỡng khí ít, thán khí nhiều, mà con người vẫn sống, vẫn ăn, vẫn ngủ. Tiếng ngáy, tiếng gải ghẻ soàn soạt, tiếng mớ tạo thành một hợp âm. Thỉnh thoảng, cái chân gác lên đầu gối của anh này rơi bịch xuống ngực anh kia, hay chân anh kia đạp trúng đầu anh nọ, thì những tràng chửi thề văng ra. Nhưng tù nhân cứ ngủ. Mùi vị đề lao mới ghê. Mồ hôi chua, hôi nách, mũ ghẻ và mùi cầu tiêu, quyện lấy mùi thuốc lá, thuốc lào, nước mắm, mắm ruốc … Cơ hồ, tôi thoáng thấy mùi đau khổ.

Thả hồn theo khói thuốc, tôi về gõ cổng nhà tôi. Im lặng. Bên ngoài cũng đã là một ngục tù. Và vợ con tôi đang thoi thóp trong ngục tù bao la đó…

*Đọc Sỏi Đá Ngậm Ngùi, cùng một tác giả. Nam Á Paris xuất bản 1985.

**Tên thật của Thanh Thương Hoàng là Nguyễn Thanh Chiểu.

như giọt nắng chiều

 

gom lại hết yêu thương ngày tháng cũ
ta còn gì ngoài chút nắng tàn phai
thôi thì để những phiến sầu yên ngủ
khi tình yêu đã chìm ngút sông dài

người mơ mộng cả một trời cơm áo
dấu xe lăn hằn những vết thương tình
ta thì ném cả cuộc đời cao ngạo
vào vũng bùn rát mặt những lằn đinh

giữa đời sống nổi chìm bao hệ lụy
ta hay người leo lét cháy niềm tin
vác thánh giá đi dưới chiều ám thị
đâu hay đời rã nát những câu kinh

chỉ còn đây những buổi chiều tàn tạ
trải trong hồn ngầy ngật chút hương hoa
thôi thì thả cho mây trời gió cả
để nghìn sau chết sững mộng trăng tà…

nguyễn minh phúc

 

ngủ bên chân mẹ

 

đã bước chân đời vào tháng Sáu
mà hồn còn mộng tháng Giêng , Hai
còn mơ được ngủ bên chân mẹ
được chạm vào đêm – tiếng thở dài

nghe tiếng thở buồn hơn khói sương
tiếng mẹ thở buồn như quê hương
chờ cho ánh sáng xua đêm tối
cho đàn con thấy lại mặt trời …

con phiêu bạt nửa vòng trái đất
Còn nghe tiếng thở rách đêm thâu
con mơ về ngủ bên chân mẹ
ngày mẹ hiền thôi tiếng thở dài

TRẦN HỒ DŨNG

TÔI VẪN TÌM TÔI. CHỐN TẠM NẦY

 

từ chỗ em ngồi. hương với lửa
ta chia trăm năm. một nhánh sông
biết sông đòi đoạn. dòng trăm khúc
rẽ chảy về đâu? cõi tịch không.

trăng mật nhiệm màu. mùi quyện gió
từ bấy thiên thu. mấy sát na ?
có chìm mê mải. hồn cô lỉ
bao sắc trăng mơ ? mộng thuyền hoa

cội đã mòn chưa ? nợ tín điều
ôm quầng sóng bạc. giấc linh miêu
đá mòn đâu sá. duyên mây nước
dõi bóng quê nhà. nơi cú kêu

chia biệt bãi bờ. đêm nhạn trắng
thất thanh gọi giục. lạc đàn nhau
chia đêm ủ ấm. hơi trăng mật
thắp mãi nhang tàn. biệt bóng câu

ừ về ! thì về ! quê đâu đã ?
còn – mất trong tim. cuộc trả vay
lá rơi ngập cội. ba la mật
chẳng thấy mình đâu. chốn tạm nầy…

Chu Thụy Nguyên


BIỂN RỘNG HAI VAI

 

Ngày xưa khi còn đi học tôi nghe giải thích về sự cấu tạo của biển như thế này: nước từ trên nguồn chảy xuống làm thành những dòng suối, nhiều dòng suối đổ về một nơi gọi là sông, sông thì lớn hơn suối, rồi thì nhiều dòng sông chảy về tụ họp lại thành biển. Biển nhỏ năm ba cái chảy về một cái biển lớn hơn nữa gọi là đại dương. Thế giới có năm cái đại dương, cái lớn nhất trong năm cái là Thái Bình Dương, tiếng Mỹ gọi là Pacific Ocean. Tiếng Việt gọi nôm na là biển Thái Bình. Và nhạc sĩ gì đó viết bài Lòng Mẹ, à, Y Vân, viết: lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào … Lòng Mẹ là cái đại dương lớn nhất của thế giới.

Nhỏ nghe thầy dạy thì nhớ vậy, tin vậy, chẳng hơi đâu mà thắc mắc, cũng chẳng buồn thắc mắc tại sao sông thì nước ngọt, mà chảy về biển tự nhiên lại… mặn” Ai đổ muối vào đó” Mà có phải đúng vậy không” Nếu mà dạy học trò bây giờ thì nó sẽ I have a question chứ chẳng chịu ngoan ngoãn mà nghe vậy đâu. Thôi thì đúng sai không thành vấn đề, vì ở đây đang nói chuyện văn chương, mà văn chương với khoa học thì khác nhau rất xa, hãy để việc đó cho các nhà khoa học. Còn chúng ta thì hãy cứ tin rằng những dòng suối chảy ngoằn ngoèo trên các sườn núi kia đã tụ họp về một nơi gọi là sông, và nhiều dòng sông đã chảy về thành biển. Nhiều biển quẫy sóng thành đại dương. Cho nó dễ thương và thơ mộng. Như những đứa trẻ Việt Nam bây giờ còn nhìn lên mặt trăng rằm tháng 8 mà mơ tưởng có chị Hằng… mặt rỗ trên đó, như các trẻ em Mỹ vào mỗi mùa Giáng Sinh vẫn viết hàng trăm hàng ngàn lá thư cho ông già Noel, chẳng ai buồn thắc mắc có chị Hằng không, có ông già Noel không, những con tuần lộc vẫn kéo những chiếc xe chạy kêu leng keng leng keng trên tuyết, cuộc đời vẫn còn rất đáng yêu.

Bà cụ có mười người con, giống như mười dòng suối, chảy vào sông, rồi vào biển, rồi thành đại dương. Thái Bình Dương. Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình. Cách đây cũng không lâu lắm người ta có con đông như vậy đó. Ra đường bây giờ thấy một bà mẹ hơi… to con đi trước, một lũ nhóc đùm đề đi sau, la hét vang rân, thì biết đó là một gia đình … Mễ. Thấy kinh hãi quá. Việt Nam hồi xưa vậy. Việt Nam bây giờ không có cảnh đó nữa, hai đứa là nhiều, nhiều nhà chỉ một. Cho khỏe. Hồi xưa người ta quan niệm: đông con cho vui. Trời cho bao nhiêu nhận hết bấy nhiêu, có biết kế hoạch là gì. Không biết có vui không, nhưng quả là có mệt.

Sau 1975, cả gia đình, ngoại trừ một người con gái lớn nhất đã có chồng, bà mẹ dắt 9 đứa kia đi lên một nơi gọi là Kinh Tế Mới, sau khi ông cha đã một mình… vượt biển bằng tàu lớn, đi chính thức trên bến Bạch Đằng buổi trưa ngày 30 tháng 4. Ông ở lại thì chắc là ông chết, vì ông có… nợ máu quá lớn với chính quyền mới, ít nhất cũng trên chục năm… học tập. Mà ông thì chẳng bao giờ chịu học ai, ông chỉ có chết. Thế nên Thượng Đế đã mang ông đi trước qua Mỹ, dùng ông để cứu những người còn lại. Bà mẹ ở lại,  đem con lên núi, giống như bài hát năm mươi con theo mẹ lên núi năm mươi con theo cha xuống biển, mà ở đây tất cả con đều theo mẹ lên núi.

Thật ra chẳng phải bà muốn lên núi, người ta đẩy bà đi. Bà cố ngồi trì lại, ôm lấy thành phố, dù gì cũng sáng sủa hơn, gần mặt trời vẫn tốt hơn, nhưng sáng trưa chiều tối những công an rình rập cửa trước cửa sau, hết hù đến dọa, bà kinh hãi quá, sức yếu thế cô, bà bảo con: thôi mình đi. Trước đây bà chỉ toàn ngồi xe Jeep, đi giày đi guốc, làm bánh làm bông, bây giờ ngồi xe lam, đi bộ, đi chân không, hơn thế nữa, bà gánh bà gồng, bà cày bà cuốc, đám con cũng gánh gồng cày cuốc, cuốc cày những miếng đất hoang dại thành khoai thành bắp thành lúa, quăng hết sách vở vào xó. Những mùa hè đỏ lửa nổ tung con mắt những mùa đông trắng xóa nước lụt mênh mông. Người ta nói lên voi xuống chó, bà còn tệ hơn chó. Nhưng bà vẫn sống, vì đàn con, mỗi đêm bà cầu nguyện một Đấng thiêng liêng mà bà không biết rõ là ai, nhìn xuống hoàn cảnh bà, cũng như hoàn cảnh của hầu hết các gia đình sĩ quan chế độ… cũ. Nhưng mà thôi, cũng đã xưa rồi, ngày ấy qua rồi, cũng trên ba mươi năm chứ ít gì, thôi đừng nhắc tới nữa. Nhắc ít thôi. Sợ đau những kỷ niệm.

Nhưng mà, trong những ngày đó, mới thấm thía hết tất cả vẻ đẹp của những dòng suối khi chảy mãi về lòng đại dương. Và hình ảnh đại dương dang rộng vòng tay ôm hết những dòng suối vào lòng. Ngay cả những dòng suối đã trở thành sông, chia thành những sông con, lòng đại dương vẫn rộng mở. Bà mẹ thành bà ngoại bà nội, chắt chiu cho con, rồi cho cháu. Những mùa hè đói kém, bà ôm chén cơm nhỏ vào lòng, cái nón rách úp lên trên, chén cơm duy nhất mà những đứa con dành riêng cho bà, còn chúng thì ăn khoai trộn, rón rén đi qua mấy dãy nhà tranh, len lén đi vào căn nhà nhỏ như một cái chòi của Tazzan trong rừng sâu, đặt lên chiếc bàn tre cho cháu nội hai tuổi, rồi đội nón rách, rón rén đi về, nhịn buổi trưa đó. Rồi lên nằm võng, hát nghêu ngao … cho đỡ đói. Quê hương điêu tàn. Lòng đại dương cạn kiệt, nhưng biển lớn vẫn vắt ra những giọt nước cuối cùng để thêm sức cho những dòng suối.

Năm 1979, ông cha liên lạc được với gia đình, rồi những thùng hàng từ bên kia Thái Bình Dương bay về. Cuộc sống khá hơn. Bà mẹ được bảo lãnh, những dòng suối chảy theo đại dương qua bên kia bờ Thái Bình. Còn lại những dòng sông và những nhánh nhỏ của nó.

Chỉ một năm rưỡi khi bà đến Mỹ, người cha của những dòng suối qua đời. Những dòng suối phải tự chảy ra ngoài đời, vừa học vừa làm, còn bà, lòng đại dương mênh mông” Bà nhớ tới những đứa con đứa cháu còn ở bên kia biển lớn. Bà đã hơn 60, những ngày Kinh Tế Mới đã vắt cạn của bà sức lực. Nhưng bà vẫn còn sức, nhất là khi nghĩ đến những đứa con, những đứa cháu chẳng có thể làm gì trong cái chế độ cách ly chúng, đang cần sự trợ giúp để vượt qua. Bà được thêm sức. Như những ngày xưa, bà phải đứng dậy, làm một cái gì đó.

Những buổi sáng rất sớm, bà rón rén ngồi dậy, lại rón rén, mặc dù đây là đất nước của tự do và phồn thịnh, thật khẽ, sợ làm những đứa con thức giấc, chúng thức giấc, sẽ không cho bà đi. Bà rón rén đội cái nón rách, quơ cái bao nhét kỹ trong xó, với cái que khều. Bà rón rén mở cửa, đi ra. Bà đi đâu” Bà đi về hướng những cái thùng rác to lớn trong khu apartment. Bà nhỏ người, sức già yếu, cố gắng leo lên thành thùng rác, chúi đầu vào trong, khều những cái lon, những bao lon nước ngọt, lon bia người ta uống xong vứt bỏ. Bà cười khi kể lại: lúc đó mà mấy thằng Mỹ đen nó ganh tỵ với má, vì má lượm hết lon của nó, nó xô má lọt vào thùng rác thì chắc là má chết luôn ở trong đó, ai mà biết. Ngày đó người ta đi lượm lon không nhiều, bà ở trong một khu chung cư của người Mỹ, chứ khu Việt Nam thì chẳng còn lon đâu mà bà lượm.

Bà lượm đầy bao, rồi rón rén đi về, dấu chỗ này chỗ kia, sợ các con biết, tụi nó giận mấy anh chị còn ở lại Việt Nam. Nhiều rồi thì bà chất lên những chiếc xe đẩy của các chợ đẩy tới chợ, chợ Ralph, chợ Albertson, chợ AlphaBeta, đổi thành những quarter, những quarter đổi thành tờ 1 đồng, 5 đồng, 10 đồng, tích tiểu thành đại, thành tờ 100 đồng, những cái lon bị vứt đi đó trở thành nguồn sống cho các con và cháu ở bên kia bờ đại dương, nhìn trên bản đồ, California và Việt Nam như đứng ở hai bên bờ Thái Bình nhìn nhau qua dòng nước… mắt. Như Ngưu Lang Chức Nữ hai bên cầu Ô Thước. Tiền bà gởi về mang theo cả một đại dương mênh mông mênh mông. Điều đó cũng đã xảy ra lâu rồi, có quá nhiều những chi tiết, những khổ nhọc, nước mắt và mồ hôi của cuộc đời một người đi… lượm lon trên đất Mỹ. Kể làm sao hết. Mà thôi, cũng chẳng nên kể, sợ đau lòng những kỷ niệm. Mà cần gì kể. Đại dương đâu cần kể. Đại dương chỉ cho đi. Nước vẫn chảy xuôi dòng.

Rồi những dòng sông bên kia bờ Thái Bình ấy cũng bắt đầu tự chảy. Một dòng sông tìm đường thoát. Và thoát đi được. Cuối mùa đông năm ấy, gia đình người con trai lớn lên máy bay, và bay đi. Malaysia, rồi London, rồi New York, rồi Texas và cuối cùng là California. Dòng sông hội ngộ đại dương. Bà mẹ lại ra tay giúp đỡ, bấy giờ bà không đi lượm lon nữa, vì đã già lắm rồi, và vì bà cũng đã có tiền trợ cấp, mà người ta gọi là tiền già. Bà dùng một phần số tiền già ấy để giúp đỡ con. Lẽ ra ở vào tuổi ấy bà đã chẳng phải còn trách nhiệm gì với con với cháu. Lẽ ra bà đã phải được hưởng những ngày thanh thản, bình an. Dòng biển lớn vẫn cứ chảy tràn, còn sức còn chảy, chảy mãi.

Một năm sau thì gia đình này vững vàng, và chắp cánh bay. Rồi hai gia đình hai người con gái còn ở lại, cuối cùng cũng qua đến, mười năm sau đó. Bà ở chung với gia đình họ, trong một căn chung cư nhỏ, cũ, và chật chội. Bà lại dùng số tiền trợ cấp để giúp đỡ họ, vì họ chưa có khả năng để trả tiền nhà. Bây giờ thì cả 10 đứa con, mười dòng suối, đều đã thành sông, tất cả đều đến Mỹ, quê hương của mộng ước và hy vọng. Hầu hết đều học hành đỗ đạt, nghề nghiệp vững vàng, và người nào cũng làm chủ một căn nhà… lớn, và đẹp. Các con thay phiên nhau chở bà đến nhà chúng chơi khi bà cần. Tuần này bà đi thăm cháu này tuần kia bà đi thăm cháu kia. Mỗi Giáng Sinh, gia đình đoàn tụ, mười dòng suối xưa tụ về, nay con cháu đầy đàn, nói cười vang rân, bà ngồi thu mình trên ghế sofa, thầm nhủ: cái đám Lu này sao mà ồn ào quá, giá mà ổng còn sống, để nhìn thấy cảnh này, ổng sẽ vui lắm.

Rồi tuổi già sinh bệnh. Bà bệnh, có khi không ngồi dậy được, trong phòng khách chung cư, kê một cái giường nhỏ. Bây giờ mẹ nằm, lá đổ ngoài sân, lá đổ ngoài sân … để ru mẹ ngủ. Những dòng suối kia nhìn lại đại dương nay đã khô cằn, và tự hỏi: phải làm cái gì chứ, làm cái gì cho mẹ chứ. Họ feel guilty. Họ họp lại, một đại diện trình bày:

– Mình mỗi người ai cũng có một cái nhà to, rộng, còn má thì ở trong phòng khách một chung cư cũ kỹ, chật chội, có được không, nhìn có được không” Một mẹ nuôi mười con, mà mười con không nuôi nổi một mẹ…

– Hỏi má đi, hỏi má muốn ở với ai, rồi mình sẽ tính.

Bà nói:

– Má muốn ở với anh trai lớn, đang ở tiểu bang khác. Anh là một Mục sư, cứ năn nỉ má qua bển cho ảnh chăm sóc. Con dâu lớn cũng có hiếu với má, các cháu nội thì thương bà nội, năn nỉ bà nội qua ở với gia đình con, bà nội muốn gì tụi con làm cho bà nội cái nấy. Nhưng mà má ở bên này quen rồi, hơn 20 năm rồi, cái gì cũng dễ dàng quen thuộc. Bên này thì cháu đông, đi nhớ tụi nó. Thêm nữa, bà cười, nói thật: bên này đồ ăn đầy đủ, muốn ăn gì có nấy, tạt ra chợ một chút là có đủ đồ ăn, còn bên kia, muốn ăn chút gì phải chở đi thật là xa…

– Bây giờ tùy má, má muốn gì tụi con làm cho má cái nấy.

Bà chẳng muốn gì, bà chỉ muốn tụ họp những dòng suối về, ôm họ vào lòng, dù nay họ đã là những dòng sông lớn, họ vẫn cứ mãi là những dòng suối bé nhỏ năm xưa của bà mà bà đã cưu mang bao nhiêu tháng năm đời bà. Nhưng mà khó quá để tụ họp lại. Mỗi người bây giờ đều có hoàn cảnh riêng của họ. Tính hết cách, một đại diện nói:

– Bây giờ phải tìm một chỗ ở tốt hơn cho má, rồi một người nào đó nhận ở chung để chăm sóc má, và những người còn lại phải đóng góp tiền hàng tháng cho người chăm sóc đó. Má có chuyện gì thì cả đám phải xúm lại.

Bà để cho các con tính toán. Kể ra bà cũng không phải bất hạnh. Bà biết bà có phước hơn nhiều người khác. Bà đọc những bài báo viết về cuộc đời những bà mẹ Việt Nam hy sinh cả cuộc đời cho con cháu nhưng khi đã già không còn giúp ích gì cho họ nữa thì họ đem vào viện dưỡng lão. Bà sợ nhất là điều đó. Bà năn nỉ các con:

– Má có bệnh hoạn gì các con ráng nuôi má, đừng đem má vào viện dưỡng lão, má sợ lắm.

Một người con gái của bà nói:

– Má có mười đứa con, chẳng lẽ không có đứa nào nuôi nổi má sao mà phải gởi vào viện dưỡng lão, má đừng lo, không ai làm chuyện đó đâu.

Những đứa con góp tiền lại hàng tháng, thuê cho bà một căn nhà tốt hơn, và một người con gái không đi làm ở ngoài nhận ở chung để chăm sóc bà. Bây giờ bà có một căn phòng riêng tha hồ bày biện bất cứ gì bà muốn. Một miếng đất nhỏ trồng hoa hay bầu bí gì đó, mỗi buổi sáng dậy sớm tập thể dục, khi cần ăn thì con hay cháu chở tạt qua khu chợ gần đó, Chúa Nhật đi nhà thờ. Nhớ cháu thì gọi con đến chở lên thăm. Người con trai lớn thỉnh thoảng gọi điện thoại hỏi thăm bà, thỉnh thoảng bay về Cali thăm bà.

Bây giờ con xong rồi, thì đến cháu nội. Bà hỏi người con trai lớn:

– Chừng nào thằng Nguyên Đán và thằng Hải Triều đám cưới hả con, má thấy mấy đứa kia cũng dễ thương, con tính cho tụi nó đi.

Mấy đứa kia đó là mấy granddaughter-in-law to be của bà, liên hệ càng xa thì tên gọi càng dài.

– Con đâu có biết, đó là do tụi nó thôi, chứ ở đây cha mẹ có … quyền gì đâu.

– Chừng nào tụi nó đám cưới cho má biết liền nghe con, má để dành tiền cho mấy đứa cháu đám cưới.

– Thôi bà nội già rồi lo cái gì. Tiền má có để dành tiêu xài đi, tụi con lo được.

– Chút quà cho cháu mà con, má thương tụi nó.

Khi nghe tin Hải Triều đám cưới, bà vội vã gọi qua:

– Con ơi bây giờ làm sao gởi tiền” Má đâu có đi đâu được. Nhờ ông bạn Mục sư của con gởi giùm được không”

– ……..

– Con ơi thương con dâu cũng như con mình nghe con, dâu hiền là con gái rể thảo là con trai

– Lỡ dâu không hiền thì sao”

– Kệ nó con, thương nó, mình thương nó nó thương mình…

Rồi thời gian trôi qua, đến lượt… cháu cố. Bà hỏi thăm khi nào cháu dâu sanh, rồi khi sanh rồi thì hỏi han từng chút:

– Con bé nó dễ thương không con, có giống cha nó không, cha nó dễ thương…

– Mẹ nó chắc không dễ thương…

– Mẹ nó cũng dễ thương, đứa nào má cũng thương. Nó ở đâu còn là người ngoài, khi vô trong dòng của mình rồi thì mình thương hết.

Một lần người con trai lớn dự tính một chuyến đi Cali thăm bà. Đi cả gia đình. Bây giờ dòng sông này xem ra cũng khá… bề bộn rồi. Vừa chồng vừa vợ vừa con trai vừa con dâu vừa cháu nội, tổng cộng là 7. Người này xin phép được nghỉ thời gian đó thì đến người kia khó khăn. Phải chờ cho tất cả đều xin phép được, mua vé bay về. Buổi gặp mặt thật là vui. Bà dẫn con cháu vào phòng, chỉ:

– Thấy chưa, má phóng lớn tấm hình của bé để ở đây, trên cái Ti Vi, chỗ má hay nằm coi Ti Vi, lúc nào cũng nhìn thấy hình cháu. Cái mặt thấy thiệt … ghét.

Mướn một chiếc xe van, thêm bà là 8, ngồi nép vào nhau, sợ cảnh sát thổi. Đi San Diego, đi Hollywood, đi… hết chỗ nào có thể đi được. Bà 84 tuổi rồi, vẫn còn đi bộ theo đám con cháu được mà không làm phiền ai, đôi khi còn đi nhanh hơn anh … con trai lớn:

Một buổi tối gần ngày về bà thì thầm:

– Ngày mai con chở cả nhà ra Phước Lộc Thọ nghe con.

– Để làm gì vậy má.

– Má muốn mua quà cho con bé, mua ít đồ đám cưới để dành sẵn cho thằng Nguyên Đán…

– Thôi má ơi, quà cáp cái gì không biết, tụi nó có dư hết rồi.

– Kệ mà con, quà của bà cố, bà nội mà. Má đâu biết còn sống ngày nào…

Khi bà hát điệp khúc má còn sống ngày nào thì người con trai mềm lòng. Bà ra Phước Lộc Thọ, đĩnh đạc đi vào tiệm vàng, nói với bà chủ tiệm:

– Làm cho cháu tui một tấm lắc, đề tên nó, mấy chỉ cũng được, đeo vừa tay nó.

Bà chủ tiệm nhìn đứa bé hơn một tuổi đang được bà nội bồng ẵm bên cạnh.

– Cháu cố tui… Bà hãnh diện nói.

– Cháu cố … bà chủ tiệm business liền. Cháu thiệt là có phước. Lại đây bà đo tay…

Người con trai ghé tai bà, thì thầm, nói đùa:

– Cháu cố… dỏm mà, má…

– Dỏm gì, cháu ruột. Bà trừng mắt.

Bà quay sang bà chủ:

– Khoan, còn thằng cháu nội kia, cái thằng đang đứng ngoài kia, nó sắp đám cưới, cần mua đồ…, cháu đích tôn. Đôi mắt già của bà long lanh.

Hạnh phúc của quãng đời còn lại của bà là như thế đó. Thỉnh thoảng người con trai lớn gọi qua, bà cười vui vẻ:

– Chào ông Mục sư. Tổ cha mày…

– Nè bà cụ, không được… hỗn với Mục sư nghe chưa. Mang tội với Chúa đó.

– Ông Mục sư với ai tui không biết, ông là con của tui, tui có quyền chửi, mang tội cái gì ..

Đây là một cuộc đối thoại giữa hai ông Mục sư, một ở California và một ở Maryland. Ông ở Maryland dự định về California để tham dự một buổi phát giải thưởng viết văn của một tờ báo Việt Nam:

– Tháng 8 này tôi về…

– Sao kỳ này về ở nhà tôi chứ, giảng cho Hội Thánh tôi chứ”

– Chắc vậy, lần trước ở nhà gia đình rồi, lần này ở nhà bạn. Tôi chỉ có hai ngày, muốn có thì giờ nói chuyện với ông.

– Nhậu … nữa nhé.

– Yes, sir.

(Xin đừng hiểu lầm, đây là chuyện bí mật riêng tư của các Mục sư, ít khi nào… bật mí cho người khác nghe, nhậu cà phê và bánh ngọt đó)

Tuần sau, California gọi sang:

– Ông ơi nguy rồi. Chúa Nhật vừa rồi bà cụ nhà ông đi nhà thờ than phiền tôi.

– Than phiền cái gì”

– Bà cụ nói ông Mục sư tui qua Cali có 2 ngày mà muốn ở nhà Mục sư hết, đâu có được. Ổng phải ở với tui một ngày, ngày kia ở nhà Mục sư.

Maryland cười lớn:

– Rồi ông nói sao”

– Tôi nói dạ thưa cụ, để con hỏi lại ý ổng. Bây giờ ông tính sao” Ở bên tôi hết hay ở bên bà cụ một ngày”

– Nếu bà cụ của ông yêu cầu như vậy thì ông sẽ trả lời sao” Maryland đáp.

Ngày về, bà cụ đón trước cửa, dẫn con trai lớn lên lầu, chỉ căn phòng của bà:

– Má làm cái giường cho con ngủ ở đây, bên cạnh má, nếu con bị đau lưng thì qua giường nệm của má nằm, má qua bên nay cũng được. Má nằm đâu cũng được.

Anh nhìn lên vách, không muốn bày tỏ tình cảm của mình. Tấm ảnh người cha trong quân phục oai hùng đang nhìn xuống như mỉm cười.

– Ba hồi đó coi cũng đẹp trai chớ hả má”

– Ừ, ổng hồi đó đẹp trai lắm, nên má mới chịu ổng đó chớ. Con cũng giống ổng, con cũng đẹp trai …

Anh cúi xuống cố giấu nụ cười. Bà cụ bước lại gần, và đưa tay ra ôm choàng đứa con trai nay tóc đã… phai mầu:

– Cho nên má thương con. Nhìn con má nhớ tới ổng. Cho dù con lớn bao nhiêu, già bao nhiêu, con vẫn là đứa con nhỏ của má, như hồi nào.

Bà cụ nhà tôi nói nguyên văn như vậy đó, cho dù bà đã 85 tuổi rồi.

Trăng có khi già, gọi là trăng già, nhưng biển thì chẳng bao giờ già. Đâu có ai gọi là biển già. Biển rộng cả hai vai …

Lữ Thành Kiến

PHÂN ƯU

Biết tin Thân Mẫu của Mục sư Lữ Thành Kiến vừa mất vào hôm nay ( 07/06/2017) tại thành phố Garden Grove, Nam CA.
Toàn thể thân hữu của Tuổi Hoa, Tuổi Ngọc, Ngàn Thông, Tương Tri xin chia sẻ cùng ông và gia đình nỗi mất mát lớn lao này.
Xin Chúa đón rước linh hồn bà Thân Mẫu của Mục sư về Nước của Ngài.
BBT TƯƠNG TRI và BẠN HỮU

Đêm

 

Đêm liêu trai chấm lá tình,
Rỡ ràng em giữa màn hình vụt lên.
Đâu con gió lạ bên thềm,
Mà ngan ngát thoáng  hương mềm tóc ai.
Kìa em hương xõa ngang vai,
Quấn quanh sợi rối vướng hoài sợi đau.
Dễ gì mình đã quên nhau,
Em đi đâu? Anh về đâu ? Biệt mù.
Muộn rồi nắng hạ mưa thu,
Mịt mờ cánh nhạn tương tư trông vời.
Dao Vàng ai gọi ới ơi,
Dập dìu bông tuyết nghiêng trời mà bay.
Một năm những mấy trăm ngày,
Ôm sao hết biệt ly này hỡi em?
Đêm liêu trai thực là đêm,
Tình thơ ngỡ mất lại tìm thấy đây.
Anh ngồi trước máy đắm say,
Thủy chụng với mạng ảo này và em.
Ngắm đôi má lúm tiền duyên,
Đủ xua tan cả ưu phiền ngày qua.

Trần Ngọc Hưởng

Từ ngày em bỏ ta đi


Nhiều khi ngày tới bất ngờ
Mới hay còn sống đến giờ,lạ chưa
Cuộc đời khi nắng khi mưa
Chưa từng bão tố là chưa biết gì

Từ ngày em bỏ ta đi
Câu thơ cũng úa huống gì là ta
Trái tim chết rất thật thà
Tự nhiên sống lại vẫn là khổ đau

Từ ngày hai đứa xa nhau
Ta tình nguyện đứng phía sau cuộc tình
Nhiều khi em rất lạ thường
Yêu ta như thể lại dường không yêu

Đã xoay đủ cả trăm chiều
Phía nào ta cũng cô liêu một mình

Nguyễn Miên Thảo

NHÀ TÙ: CHƯƠNG 9

Không phải là Ba Trung nữa. Cũng không phải là phòng làm việc của Ba Trung. Tôi đang “đương đầu” với người công an chấp pháp khác. Y nói tiếng Nghệ Tĩnh nặng nề. Trên bàn của y không có cà phê, không có thuốc lá. Những ngày “trăng mật” của tôi và công an chấp pháp, hình như, chấm dứt. Tôi đã đụng độ 4 chấp pháp tại Sở Công An Thành Phố. Người thứ nhất, biểu tượng của miền Nam, chẳng bao giờ muốn bị nhuộm đỏ linh hồn, đã chỉ điểm cho tôi biết chỗ nào là bom, mìn, chông, bẫy trên tử đạo và triết lý sống đời tù cộng sản. Người thứ hai, biểu tượng của nằm vùng láu cá, muốn chứng tỏ mình cao thượng. Người thứ ba, biểu tượng của nền văn nghệ công an. Và người thứ tư. Để xem, y là biểu tượng cái gì.

– Anh làm tự khai.

– Tôi đã làm.

– Tôi bảo anh làm tự khai với tôi.

– Khai gì nữa? Tôi đang khai dang dở thì người ta ngừng lại mạn đàm. Tôi muốn coi bản tự khai dang dở để khai tiếp.

– Tôi là chấp pháp mới của anh, mọi việc bắt đầu lại.

– Nhưng khai gi?

– Quá trình, cuộc đời anh từ mười tuổi đến ngày bị bắt. Anh nhập bằng cái sơ yếu lý lịch của anh.

Y đem cho tôi 10 tờ giấy khổ giấy in roneo và cây Bic:

– Trang nào xóa bỏ, anh không được phép xé, phải nộp đủ mười tờ. Anh nhớ chưa?

– Tôi nhớ.

– Yêu cầu của tôi là mỗi ngày anh viết 20 trang: sáng 10, chiều 10.

– Tôi không phải là máy viết.

– Ngày xưa, một ngày anh viết cho mấy nhật báo? Anh tự hào viết nhanh nhất nước mà.

– Viết nhanh vì không cần suy nghĩ.

– Tự khai không cần suy nghĩ.

– Không suy nghĩ là thiếu thành khẩn.

Tôi hiểu ngay thủ đoạn của tên chấp pháp này. Y muốn tôi viết nhanh là y đã giăng bẫy. “Chúng ta có nhiều thời giờ”. Tôi nhớ Ba Trung. Và tôi không cần phí lời nữa. Tôi cầm bút, viết “phăng-tê-di” hai chữ Tự khai. Trong hàng chục chữ ghép sau chữ tự như tự do, tự hào, tự lực, tự lập, tự cường, tự chủ, tự vấn … tôi thấy có tự sát là bi đát nhất mà vẫn kém não nùng hơn tự thú, tự kiểm, tự khai. Tự khai – tự thú – tự kiểm. Nhà thơ Paul Éluard đã viết tự do trên lá, trên hoa, trên bảng đen, trong trái tim … Tôi viết tự khai trên cái gì, trong cái gì? Nhà văn chúng ta không bị công sản bắt về các tội hình sự; chúng ta không hề là công cụ của chế độ, của thế lực nào; chúng ta không đảng phải đối nghịch ý thức hệ, tư tưởng; chúng ta đã là những con người của lương tâm. Và thế, hơn cả mọi thứ … giai cấp tù, nhà văn là tù nhân của lương tâm (prisonnier de conscience). Cộng sản bỏ tù cả lương tâm. Họ không có lương tâm, chủ nghĩa của họ không có lương tâm. Họ đã giết chết thi sĩ của tình yêu, của lương tri con người là Vũ Hoàng Chương. Họ đã đầy thi sĩ làm thơ tả giọt nước mắt của người yêu là Thế Viên. Họ đã còng chân xích tay người viết cổ tích là Doãn Quốc Sĩ. Họ đã bắt cả lương tâm phải tự khai để truy nã niềm bí ẩn của lương tâm. Đó là cộng sản. Còn những kẻ không hề bị tự khai, nhưng luôn luôn tự nhận mình ấm áp lương tâm, cũng học đòi phán xét tù nhân của lương tâm. Trên cái gì, trong cái gì, tôi đã viết tự khai? Trên cay đắng phận người và trong cô đơn cõi đời. Trên cái gì, trong cái gì, tôi cần nói, sắp nói, sẽ nói với bọn học đòi phán xét tù nhân của lương tâm? Hãy để câu trả lời đó.

Như Tử Trường Tư Mã Thiên ôm nỗi đau dao hoạn hèn mọn. Ôi, 2000 năm cũ, lương tâm kẻ sĩ Tư Mã Thiên lên tiếng – Tiếng nói duy nhất của thời đại – vì nỗi oan khiên của Lý Lăng, của con người. Lương tâm vằng vặc trăng sao ấy đã chịu nhục hình. Bằng hữu Tử Trường đâu, chiến hữu Tử Trường đâu, tri kỷ Tử Trường đâu? Họ đứng trước mặt Tử Trường. Xanh mặt vì sợ bạo quyền, không dám bênh Tử Trường. Run rẩy vì sợ bổng lộc, không dám cứu Tử Trường. Trơ mắt ếch nhìn kẻ sĩ thọ hình nhục nhã. Rồi phán xét mỉa mai: Tại sao chẳng can đảm chết đi, tại sao cam đành bị thiến. Cũng may, Tư Mã Thiên không bị tù, không bị tập trung lao cải. Chứ không sẽ: Thằng Tư Mã Thiên làm ăng-ten, bán bè bạn, quỳ gối bò đi lãnh khẩu phần, xí gạt anh em nửa đêm dậy nấu nước pha cà phê rồi uống một mình, bị chọc thủng một mắt rồi! Vân vân và vân vân … Tư Mã Thiên cô độc, đem tâm sự nói với người xưa. Và cái tồn tại, cái để lại ở cuối đường hệ lụy, cái làm phục sinh sự chết là Sử Ký Tư Mã Thiên. Tư Mã Thiên vĩnh cửu, lúc nào cũng gần gủi con người. Bằng tác phẩm. Bọn phán quan đâu rồi nhỉ? Chúng nó chết rửa xác, chẳng còn ai thèm nhớ, thèm biết chúng nó sau khi chúng nó “phản tỉnh” và đã thực hiện những số báo tưởng niệm, tưởng mộ, đã quyên tiền bỏ túi và tuyên bố giúp vợ con kẻ sĩ tù nhân của lương tâm. 2000 ngàn năm cũ mà ngỡ gần nhau gang tấc. Tự tình khúc của Cao Ba Nhạ có làm xúc động lũ sâu bọ triều đình nhà Nguyễn đâu. Đã hiểu thế thì cũng chẳng cần Tân tự tình khúc mai này. Có lẽ, Ru khúc, Sầu khúc, Tình khúc đẹp hơn. Và, trong khi, ngậm trái đắng để làm gì hơn Sử Ký của Tư Mã Thiên, hãy ngâm thơ Nguyễn Bá Trác: “Chỉ ta ta biết, lòng ta ta hay”. Hoặc cùng bằng hữu ở Paris, đêm đêm, vật ngã vài chai hồng tửu, nghe Quỳnh Dao thở nhẹ:

Thôi, đành ru ta với ta

bằng xót xa

đêm già,

ngục đá

Rượu mềm môi nuối tiếc kiêu sa phôi pha

Ở dĩ vãng hiện về rét mướt phồn hoa…

Rồi đọc thơ Nguyễn Bính:

Thế nhân mắt trắng như ngân nhũ

Ta với nhà ngươi cả tiếng cười

Sau cái sơ yếu lý lịch, tôi ngừng lại. Tên chấp pháp – cứ như võ hiệp Kim Dung, chấp pháp, trưởng lão chấp pháp, mã đầu chấp pháp – ngồi hút thuốc, nhìn tôi viết. Y không mời tôi một điếu. Đúng là bản chất vắt chày ra nước của quê hương Hồ Chủ Tịch vĩ đại! Hay y cố tình thay đổi cung cách đối xử?

– Tôi nghĩ viết lâu rồi, không thể viết đúng yêu cầu của anh được.

– Phải khắc phục mọi khó khăn.

– Tôi không biết khắc phục.

– Thì tuân hành mệnh lệnh. Anh đọc nội quy chưa?

– Tôi đã đọc.

Nội quy trại giam, Điều 1: “Can phạm phải triệt để tuân hành chỉ thị và mệnh lệnh của chiến sĩ và cán bộ trong trại giam”.

– Vậy tuân hành đi.

Tôi tuân hành. Tôi cho chữ bò chậm chạp trên trang giấy. Tôi viết như học trò viết “Ecriture”. Tôi bỏ hàng thừa. Tôi để lề rộng. Đến giờ cơm trưa, chỉ mới được hai trang.

– Viết xong 10 trang thì anh về dùng cơm.

Y ngồi ì. Tôi ngồi ì. Không phải tôi không viết nổi mà là tôi chán viết. Chắc chắn, tôi tìm cách đổi chấp pháp. Với chúng tôi và với tất cả can phạm phản động hiện hành (những người chống cộng sau 30-4-1975), hễ chấp pháp làm việc không nổi hoặc không đủ khả năng làm việc với can phạm, Phòng Chấp Pháp thay thế công an chấp pháp khác. Can phạm có quyền nói thẳng với chấp pháp: “Tôi không thể làm việc với anh”. Chế độ Nguyễn Văn Thiệu cũng không hề đánh đập, tra tấn nhà văn, nhà báo khi họ bị bắt về bất cứ tội gì. Nhiều can phạm phản động hiện hành bị tra tấn bằng các kiểu còng, khóa ở đề lao Gia Định, bị đánh ở Cục Quân Báo (Tổng Nha Cảnh Sắt cũ) và trại Tô Hiến Thành. Những nhà văn bị bắt trong chiến dịch 2-4-1976 không hề bị đánh thẩm vấn ở Sở Công An, đề lao Gia Định, không hề bị chửi rủa tàn tệ. Đập bàn, quát tháo là căng nhất. Đưa vào cachot là biện pháp cuối cùng. Nắm được cái thế khỏi sợ ăn đòn, tôi bèn viết hoa lá cành về thời tiểu học. Ba Trung đã ra lệnh cho tôi: “Anh bỏ bớt râu ria thời thơ ấu”. Tôi quên Ba Trung, râu ria với tên chấp pháp Nghệ Tĩnh. Đoạn đời lớp ba ở huyện Phụ Dực, bị ỉa đùn trong lớp, tôi miêu tả kỹ lưỡng. Ông đói, mày cũng đói. Máy thèm ăn chứ ông không thèm ăn. Cơm tù hấp dẫn gì! Đúng năm trang chữ ruồi bò, y bảo tôi:

– Nghỉ, chiều viết tiếp.

– Chưa đủ 10 trang.

– Tôi bảo nghỉ!

– Tôi sợ buổi chiều không đủ 20 trang.

– Tôi bảo nghỉ. Đó là mệnh lệnh!

Bao tử của y chỉ thị y ban mệnh lệnh. Ăn cơm tập thể mà trễ bữa thì chỉ còn vét đĩa. Đã có ý đồ, tôi năn nỉ y:

– Tôi đang hăng say viết.

– Nghỉ!

Y dằng bút khỏi tay tôi. Rồi y kêu quản giáo dẫn tôi về phòng. Buổi chiều, y theo quản giáo đến tận phòng đón tôi ra làm việc. Cũng như buổi sáng, y ngồi hút thuốc, không thèm mời tôi. Tiếp tục quãng đời thơ ấu, tôi sang trang thứ sáu. Vẫn cung cách lề rộng, hàng thưa, chữ ruồi bò, tôi viết tự khai, viết những gì mà Ba Trung bắt tôi viết. Người chấp pháp miền Nam đã dặn dò tôi: “Anh sẽ phải làm tự khai nhiều lần. Vậy, khi viết phải sáng suốt mà nhớ những gì mình đã viết”. Tôi rất sáng suốt, lúc này, lúc mà tôi viết những gì tôi đã viết theo lệnh của Ba Trung. Được thêm hai trang, chấp pháp xứ Nghệ ra lệnh nghỉ. Y nhìn tôi, cười ruồi, gật gù:

– Anh thèm hút một điếu thuốc không?

Tôi có thói quen hễ viết là phải hút thuốc lá. Và hút liên miên. Ở nhà tù cộng sản, khi công an gọi ra làm việc, tù nhân không được phép mang theo thuốc lá và không được phép hút nếu công an không cho phép. Gã chấp pháp xứ Nghệ đã nghiên cứu kỹ lưỡng thói quen của tôi, y bắt tôi thèm hút để ban phát một ân huệ này, y sẽ đánh giá chúng tôi như những tên hèn mọn. Tôi chưa kịp trả lời, y nói tiếp:

– Anh Nguyễn Mạnh Côn rất chân thật. Anh ta thèm hút thuốc phiện, chúng tôi đem bàn đèn vào cho anh ta hút.

Tôi lặng thinh. Gã công an xứ Nghệ đã móc gói thuốc lá khỏi túi, đặt giữa bàn với hộp diêm Thống Nhất.

– Anh Côn viết tự khai thành khẩn lắm. Có đoạn anh ta chạy tội là đã không huấn luyện Hoàng Anh Tuấn, Nhã Ca và anh chống cộng sản. Các nhà văn trẻ của Sàigòn đã phản bội Nguyễn Mạnh Côn, phản thầy, chống cộng sản.

Tôi bắt đầu khó chịu.

– Anh Côn khai hết những điều không lấy gì làm đẹp đẽ về bản thân anh và nhiều người khác.

Tôi chợt nhớ thủ đoạn gây mâu thuẫn của công sản mà tôi đã đọc trong cuốn sách nào. Sự khó chịu sơ khởi dành cho anh Côn bỗng tiêu tan ngay. Người ta đã chọn anh Nguyễn Mạnh Côn là người quen tôi nhất để tạo niềm thù hận giữa tôi và anh Côn. Và tôi sẽ không ngần ngại trả đũa anh Côn. Và người ta sẽ nắm vững những gì anh Côn muốn dấu diếm. Đem bàn đèn vào nhà tù cho tù nhân hút thuốc phiện là điều không tưởng. Và nữa, chưa từng bao giờ anh Côn huấn luyện chúng tôi viết văn và chống cộng sản. Gã công an xứ Nghệ dừng ở đó. Y nhắc lại câu hỏi:

– Anh thèm hút một điếu thuốc không?

– Không. Tôi đáp.

– Hút đi, tôi chiêu đãi anh.

Y cầm gói thuốc lên:

– Tại sao anh khước từ?

Tôi mỉm cười:

– Vì tôi không thèm.

– Tại sao anh không thèm?

– Tôi đang được Đảng giáo dục. Thưa anh, bài học tập đầu tiên của tôi là khắc phuc mọi thèm muốn.

– Tốt.

Y bỏ gói thuốc vào túi.

– Chúng ta mạn đàm thân mật nhé?

Tôi nói:

– Tùy ý anh.

Y tỏ vẻ bực tức một cách rất … chân tình:

– Tại sao tùy ý tôi?

Tôi cũng tỏ ra rất chân tình:

– Anh Ba Trung khẳng định chúng tôi đang ở tù. Ở tù thì không được phép tùy ý mình.

Y cười:

– Anh ở tù với Đảng, với Cách Mạng, không ở tù vì tôi, với tôi. Đồng chí Ba Trung hơi lệch lạc tư tưởng. Bỏ cái hiện tại ở tù của anh đi, anh Duyên Anh. Ta nói chuyện khác.

Y chuyển đòn:

– Tôi đã đọc anh, đọc thật kỹ. Anh kiêu ngạo lắm. Viết phóng sự nguyền rủa cộng sản và bêu rếu lãnh tụ của chúng tôi, anh bảo anh viết bằng chân. Viết tiểu thuyết nham nhở, anh bảo anh viết bằng tay trái. Viết truyện trẻ con, anh bảo anh viết bằng tay phải. Viết tự khai, anh viết bằng gì?

Gã công an chấp pháp xứ Nghệ dồn tôi vào thế bí. Tôi trả lời thế nào? Nếu hôm nay, ngồi ở quán Đào Viên số 82 Rue Beaudricourt quận 13, Paris của người đẹp Lan Phương, bất cứ một thằng cộng sản nào hỏi câu tương tự, tôi sẽ đầy đủ can đảm và dũng cảm trả lời: “Tôi viết tự khai bằng củ cà-rốt của tôi”! Nhưng tháng 5 năm 1976, tôi nằm bẹp trong xà lim của Sở Công An Nội Chính, sự cao ngao của tôi mềm xìu. Tôi đã hèn mọn, tầm thường. Và tôi buồn bã nói:

– Anh hiểu tôi khó trả lời, hỏi mà chi?

– Hỏi để biết mà đánh giá tự khai của anh.

Gã chấp pháp xứ Nghệ xua tay:

– Thôi, anh đừng trả lời câu hỏi ấy nữa. Tôi trấn áp anh, tôi nhận khuyết điểm.

Nhìn tôi. Cái vẽ hãm tài trên khuôn mặt buổi sáng của y biến mất. Như thể, y đã lột mặt. Giọng nói của y, tuy trọ trẹ, mà đầy tình cảm:

– Anh Duyên Anh ạ, tôi vẫn còn ấm ức truyện dài mang tính cách tự thuật Trái chín rấm của anh.

Tôi chột dạ. Thằng này đọc tôi kỹ quá.

– Tôi cho sau Con sáo của em tôi, Cái diều, Nắng chiều quê nội, Đại dương trong lòng con ốc nhỏ là những kế tiếp xem TRÁI CHÍN RẤM có ngọt ngon bằng trái chín cây. Tại sao anh không viết thêm?

– Vì nó không thể chín.

– Nói thật đi, vì anh lấy vợ địa chủ và anh quên giai cấp của anh. Tôi biết, thằng Hữu sẽ đưa con Mai, em gái nó, vào đời khi bố mẹ nó chết. Anh em nó sẽ ê chề trong đời sống tư sản mà ông chú Nghiêm của nó là biểu tượng khốn kiếp. Cuối cùng, sẽ giống thằng Vọng, Hữu sẽ đi tìm cách mạng. Anh sẽ hơn mọi nhà văn cách mạng nếu dòng văn chương của anh không bị cắt đứt bởi giai cấp cố hữu của anh. Bản chất của anh là vô sản. Chưa muộn gì đối với anh. Anh có thể trở về sông Trà Lý. Xa dòng sông tình nghĩa ấy, anh phiêu lưu quá đà. Anh viết truyện Chiến tranh mèo chuột rồi đổi thành Rồi hết chiến tranh, anh phản bội giai cấp đích thực của anh, anh gọi giai cấp vô sản là chuột, mỉa mai cách mạng vô sản là thiếu chính nghĩa và tạo chính nghĩa cho bù nhìn mèo và thực dân phú ông. Anh nghĩ Đảng không quan tâm vụ Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ bắt cái bộ Dân Vận của ngụy quyền cấm anh viết phóng sự Tiền Mẽo, Sến Việt và ký Thương Sinh trên nhật báo Sống à? Anh bơ vơ, anh lạc lõng, anh tự nhận “Cộng sản không tha, quốc gia không dung”. Cộng sản nào không tha anh? Cộng sản dung anh. Anh về suy nghĩ đi …

Gã chấp pháp xứ Nghệ dẫn tôi về phòng. Y đã chơi tôi một đòn cân não, khiến tôi thao thức không ngủ suốt đêm. Y biết tôi nhiều mà tôi hoàn toàn không biết y. Cũng như những người đã chống cộng, đang chống cộng ầm ỹ chẳng hề biết tí ti gì về Ủy Viên Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam. Mãi mãi, người ta đánh giá cộng sản qua mấy chú bộ đội khờ khạo, nói ngọng. Con đường tù, con đường hệ lụy, xem chừng, còn hứa hẹn thật dài. Dương Nghiễm Mẫu đã dọn sẵn 12 năm. Tác giả Cũng đành không thích đếm những ngày tù, tháng tù. Tôi yêu Dương Nghiễm Mậu. Và tôi nói Dương Nghiễm Mẫu là nhà văn tôi yêu nhất. Cộng sản biết tôi nhiều hơn tôi biết tôi.

Ít độc giả thân mến nào của tôi nhắc tới truyện dài TRÁI CHÍN RẤM mà Con sáo của em tôi là chương nhất. Truyện dài này mang nhiều dáng dấp tự truyện. Tôi chỉ muốn diễn tả lòng hy sinh cao quý của người anh dành cho em gái. Hữu sẽ đưa em vào đời. Nó quên cả xuân đời của nó. Nó chịu đựng mọi đau đớn, moi nghịch cảnh. Khi tận mắt chứng kiến hạnh phúc của em, Hữu mới nghĩ đến mình. Thì nó đã héo hắt. Đã cuối thu. Sở dĩ tôi bỏ rơi TRÁI CHÍN RẤM vì không thể kéo dài một điệu buồn bã mấy trăm trang sách. Gã chấp pháp xứ Nghệ đã đổ vạ vợ tôi làm tôi quên giai cấp vô sản. Tôi đã chống đối sự quy định giai cấp cho con người. Nhưng tôi không hiểu tại sao cộng sản cứ muốn tôi xác nhận tôi thuộc gia cấp vô sản. Cộng sản bảo dung tôi và cộng sản bắt tôi, giam nhốt tôi nhục nhã. Và họ bảo tôi về suy nghĩ.

Không bao giờ tôi còn được gặp người chấp pháp xứ Nghệ nữa. Y lại bỏ rơi tôi. Cho đến một buổi chiều cuối tháng 6 năm 1976, cai ngục mở của với tờ danh sách can phạm đánh máy.

– Những người có tên sau đây…

Phòng B của tôi, lần lượt Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Hữu Hiệu, Hồng Dương, Đặng Hải Sơn và tôi, hành trang tù, rời khỏi phòng. Chúng tôi xếp hàng đôi với nhiều can phạm khác của các phòng. Ngồi xuống theo mệnh lệnh, chúng tôi chờ đợi. Chưa hiểu thân phận mình sẽ trôi dạt tới cái địa chỉ khốn kiếp nào của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc, vừa mới thành công vĩ đại bầu cử quốc hội cả nước. Tôi, thật sự, mất hết từ đêm 8-4-1976. Tôi còn gì bây giờ nhỉ? Còn chứ, tôi an ủi tôi: Ta còn nhà tù!

– Mình đi đâu, Mậu?

– Có lẽ về đề lao Gia Định hoặc sang Chí Hòa. Đi đâu thì cũng là đi tù, ông ạ!

Bốn giờ, chúng tôi nghe cai ngục đọc danh sách lần chót. Rồi đứng dậy, hai người một cái còng nhãn hiệu USA, cộng sản còng tay chúng tôi, đẩy chúng tôi lên xe bít bùng. Tôi nhớ, năm 20 tuổi, xem một cuốn phim nhan đề “Ma vie commence en Malaisie”. Cuốn phim mô tả thân phận một phụ nữ Anh trong lửa đạn và sự chiếm đóng của Nhật ở Mã Lai. Người ta thường bắt đầu cuộc sống đích thực bằng nỗi khổ đích thực. Dường như, chỉ bằng nỗi khổ mà con người kinh quá, nó mới khám phá nổi những bí ẩn của đời sống và biết bắt đầu cuộc sống của mình tự đoạn nào. Một hôm, tôi gặp Bùi Duy Tâm ở ngã tư Phan Đình Phùng – Trương Minh Giảng, Sàigòn. Anh ta vừa từ trại cải tạo ra. Anh ta nói với tôi: “Bây giờ, chúng ta nhìn rõ cả trái đất. Song tới phút này thì cũng đáng kể là tới.” Định mệnh đưa tôi đi xa hơn cái tới đáng kể của bạn tôi. Tôi bị còng tay dẫn vào Sở Công An. Ngót hai tháng trời nằm đây, tôi đã tra vấn tôi không ngừng. Tôi được thảnh thơi nhìn lại 15 năm viết tiểu thuyết của tôi. Chữ nghĩa của tôi đã không làm tôi xấu hổ. Chỉ có niềm ân hận là tôi chưa xuất bản bộ truyện 1200 trang Vẻ buồn tỉnh lỵ. Cuốn cuối cùng của bộ truyện vẽ cảnh đời đau đớn, ngơ ngác 1954, y hệt cảnh đời bi đát, não nề 1975. Toàn bộ của nó là lịch sử 10 năm (1944 – 1954) dưới mắt và trong ý nghĩa tuổi thơ trôi nổi theo vận mệnh dân tộc. Cách mạng và chiến tranh. Hòa bình và thù hận. Mỗi đổ vỡ đều có thể xây dựng lại, trừ nỗi băng hoại tình người. Tôi rất tiếc đã mất cơ hội trở thành nhà văn tiên tri. “Nếu cần thì ta làm lại tất cả”. Từ tra vấn trong cô đơn, tôi chợt thấy tâm hồn tôi có một chuyển mùa kỳ lạ. Và tôi bỗng thèm sống, khao khát sống. Tôi muốn bắt đầu cuộc sống của tôi ở Một địa chỉ chung của chủ nghĩa. Cuộc phiêu lưu đi tìm ý nghĩa cho đời sống của tôi còn dài, vô hạn định. Nỗi thống khổ đầu tay của tôi là một thử thách nhẹ so với nỗi thống khổ của các văn hào thế giới. Nỗi thống khổ mà các nhà văn lừng lẫy của nhân loại đã trực diện, đã đương đầu, đã kiên nhẫn chịu đựng, đã phấn đấu im lặng ví như trái núi. Nỗi thống khổ tôi đang ngậm chỉ là cái móng tay. Cái móng tay chớ vội ồn ào khi trái núi nín thinh, bình thản liếm máu trên vết thương của mình mà cống hiến cho đời sống những ý nghĩa tuyệt với về tình yêu và hạnh phúc.

Trước đây, tuyệt nhiên tôi không có tham vọng văn chương. Hoặc nếu người ta bắt tôi phải công nhận tôi có tham vọng văn chương thì tham vọng văn chương ấy là thứ tham vọng giới hạn bằng vong đai biên giới quốc gia. Lúc này, lúc tay tôi đang đeo còng chế tạo tại USA, tham vọng văn chương của tôi cuồn cuộn, sóng gió, bão táp. Tôi thèm trả lời người cộng sản một câu nói đầy miệt thị “Thế giới đâu đã đọc sách của các anh”! Phải, thế giới chưa hề biết chúng tôi như những nhà văn rực rỡ nhân bản. Thế giới chỉ biết chúng tôi, chỉ nghĩ về chúng tôi như Nguyễn Ngọc Nghĩa ăn cắp tượng Chàm, như Phạm Văn Đổng mở sòng bạc, chứa thổ đổ hồ, như Hoàng Đức Nhã ngu si, nham nhở, như Nguyễn Văn Thiệu hèn mọn, như Đặng Văn Quang đốn mạt và bầy chồn cáo tham nhũng, lũ tướng lãnh đào ngũ trước lệnh đầu hàng, như bọn y sĩ ăn cắp… Thế giới, đáng lẽ, phải biết Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Hải Chí, Cung Tiến, Phạm Duy, Thanh Tâm Tuyền, Võ Hồng, Doãn Quốc Sĩ, Hoàng Anh Tuấn, Phạm Thiên Thư… Nhưng, với thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ say mê “Cô Gái Đồ Long”, với tổng thống Nguyễn Văn Thiệu say mê “Căn nhà ngoại ô”, với Bộ trưởng Ngô Khắc Tỉnh mê hái hoa và vì mê gái chạy trốn không kịp, thế giới, hôm nay, vẫn tưởng miền Nam không có nhà văn lỗi lạc như miền Bắc. Miền Nam chỉ biết làm chiến tranh, làm giàu, không biết làm văn học nghệ thuật đúng nghĩa!

Tôi đã leo lên xe. Chúng tôi đã leo lên xe. Chuyến xe đời chập chùng hệ lụy. Tấm vải bố trùm kín mít. Xe nổ máy. Rồi lăn bánh. Giã từ Sở Công An, giã từ một địa chỉ chung của chủ nghĩa. Tôi đi tới một địa chỉ khác. Giã từ và cám ơn những cay đắng, nghẹn ngào vỡ lòng. Cám ơn nó đã cho tôi bắt đầu cuộc sống và tham vọng văn chương.

duyenanh_sign2