NHÀ TÙ : CHƯƠNG 6

Tôi được vợ con tiếp tế thực phẩm, thuốc men, tiền bạc vào mỗi thứ năm hàng tuần như tất cả mọi tù nhân khác. Tôi ở phòng B, nhà tù sở Công An đã qua hai tuần lễ. Đầu tuần lễ thứ ba, người ta cho phép chúng tôi cắt tóc, cạo râu. May mắn, tôi gặp Nguyễn Văn Sao làm giò chả ở Gò Vấp, cung cấp hàng cho toàn khu Chợ Cũ, Sàigòn. Anh ta vượt biên từ Bắc vô Nam năm 1956, được các linh muc Gò Vấp giúp đỡ và cưới vợ cho anh ta. Sau 30-4-75, Sao là Chủ tịch ủy ban nhân dân ấp, có súng lục và nhiều quyền hành. Anh đã đào nhiệm, theo ông Đinh Xuân Cầu và bị bắt cùng ông Đinh Xuân Cầu trên đường vào nhà Thái Ngũ lần thứ hai. Ngày Sao và Cầu bị bắt, tôi biết nhưng không biết nơi giam nhốt họ. Khi tôi thấy tên ông Cầu ghim trên miếng bìa đỏ, tôi cũng chỉ đoán ông nằm ở Sở Công An. Tôi để Sao giò vẽ bản đồ Phú Quốc bằng cái tông-đơ cùn nhay tóc trên đầu, sau gáy tôi mà nói chuyện riêng.

– Ông Cầu đâu?

– Phòng A. Ông vững dạ, không ai khai gì về ông cả.

– Bảo đảm?

– 100 phần 100

– Nói với ông Cầu là ông ấy ngây thơ lắm, ông ấy bị thằng mục sự chó đẻ Trương Phiên giảng tin độc rồi. Nó nói phét, hoàn toàn nói phét.

Sau ngày Giáng Sinh năm 1975, tại nhà tôi, số 225 bis Công Lý Sàigòn 3, có một cuộc họp tay tư. Đinh Xuân Cầu, Trương Phiên, bà Th. và tôi. Linh mục Trần Hữu Thanh, theo lời Trương Phiên (tôi chưa hề gặp gỡ linh mục Trần Hữu Thanh trước kia và sau này), cứ đòi mời vợ ông chủ báo quá cố V. S. Phan Mỹ Trúc tham gia nội các. Trương Phiên từ chối. Ông Phiên đã mời bà Th., tiến sĩ, tốt nghiệp tại Mỹ. Bà Th. đồng ý nhập cuộc. Lý do Trương Phiên chê bà Trúc vì bà này có tiệm sách Giải Phóng ở Thị Nghè. Cuộc họp chớp nhoáng. Tôi được giao nhiệm vụ đi mời bà Khánh Trang, cựu bí thư của bà Ngô Đình Nhu hay bà Nguyễn Văn T., chị của giáo sư Nguyễn Ngọc Huy. Nội các Đinh Xuân Cầu có sự tham gia của ông cựu Giám đốc VTX, thứ trưởng Bộ Thành Niên và Tuyên Truyền. Ghế Bộ trưởng còn để trống. Trương Phiên bảo mọi người tự ý chụp một kiểu ảnh, lấy chợ sách Lê Lợi làm phông, nhớ tìm quán bán lịch 1976 để ngoại quốc có chứng cớ cụ thế là nội các thành lập ngay Sàigòn rồi mới lưu vong. Tôi đến nhà bà Khánh Trang, đường Hồng Thập Tự, Sàigòn. Gặp một lô nón cối, giép râu, nói năng trỏ trẻ, không dám nói chuyện thật với bà Khánh Trang nữa. Lại ghé về đường Pasteur, vào kiếm bà Nguyễn Văn T.

– Chuyện đứng đắn hay chuyện phong thần hả, Duyên Anh?

– Chuyện đứng đắn.

– Duyên Anh có tham gia không?

– Có

– Làm gì?

– Báo.

Bà T. cáo lỗi vì bận tiếp thân chủ của bác sĩ Nguyễn văn T.. Một cách tiễn khách khéo léo. Chuyện gom góp một số người có uy tín để chiến đấu chống cộng sản sau 30-4-75 đã trở thành chuyện … phong thần. Nghĩ mà buồn bã và xót xa cho thân phận trí thức. Và tội nghiệp ông Đinh Xuân Cầu. Người ta đã và đang vượt biên trốn khỏi Việt Nam bằng thuyền gỗ đó, có chi là phong thần? Tôi bỗng nổi máu – sự nổi máu biến tôi thành tên biệt kích cuối cùng ra khỏi tù – Trước hết tôi đi tìm Bùi Duy Tâm. Ông Khoa trưởng đại học Y Khoa Minh Đức của tôi đã bị nhúm vô trại cải tạo Long Giao 3 tháng. Như Nguyễn Tuấn Anh, Bùi Duy Tâm về sum họp gia đình trước Giáng Sinh. Tôi nói với Tâm sự nhập cuộc của tôi. Anh không có ý kiến gì cả, chỉ vỗ vai tôi một cách thân tình:

– Ai dám chọi nhau với cộng sản lúc này đều can đảm hơn người. Chỉ lúc này mới chứng tỏ được rằng chống cộng sản để không ăn cái giải gì ngoài lý tưởng đích thực của mình. Chức tước là thứ hình thức cần có ở một giai đoạn nào đó. Anh đừng câu nệ. Rồi ai cấm anh nhả nó ra. Tôi chưa biết cuộc phiêu lưu đưa anh về đầu, vào đâu, nhưng anh hãy yên tâm, còn ở Sàigòn ngày nào, tôi lo sức khỏe cho chị và các cháu giùm anh.

Từ giã Bùi Duy Tâm, tôi tạt sang Nguyễn Tuấn Anh. Cũng nói với Tuấn Anh như nói với Tâm. Anh giữ tôi lại khá lâu. Cuối cùng, anh tiễn tôi về với câu dặn dò cần thiết:

– Duyên Anh thận trọng nhé, tôi nghe nói nhiều người bị bắt rồi đấy!

Đời tôi có nhiều lần ngông và lắm lần dại. Mười chín tuổi, tôi đã xách khăn gói tới nằm ở hành lang Tòa Thị Chính Hà Nội, đợi người Pháp đến đón sang phi trường Gia Lâm, bay vào Sàigòn, tứ cố vô thân. Hai mươi tuổi, tôi theo đảng Duy Dân lên Ban mê Thuộc, lập chiến khu chống Mỹ, Diệm, Pháp, Bảo Đại và cộng sản. Và cả Vatican nữa! Tôi học tậpTru trị lục của Lý Đông A, ngâm thơ chính khí Lý Đông A, nghiên cứu tư tưởng chính trị, kinh tế, quân sự, xã hội Lý Đông A. Rồi tôi tẩu hỏa nhập ma biến thành một ông nhóc quốc gia cực đoan rẻ tiền và lạc hậu. Rẻ tiền và lạc hậu vì không ai hiểu nổi tâm hồn Lý Đông A. Đàn anh của tôi cũng bị tẩu hỏa nhập ma. Khi tôi thấy có những bốn hệ phái Duy Dân ở Sàigòn, tôi cảm thấy mình bị lừa gạt niềm tin. Và tôi đã diễn tả trong Ảo vọng tuổi trẻ. Nhưng tôi nhờ Duy Dân mà biết Hòa Hảo, vào núi sống với Bảy Đởm, làm Cao Ba Quát cho giặc cỏ Lê Duy Mật một thời gian. Hai mươi nhăm tuổi, nhờ vài cái truyện ngắn, tôi được miễn bằng cử nhân, với sự tiến dẫn của ông Nguyễn Bích Liên, người ta nhận tôi làm Biên tập viên và người ta đẩy tôi lên hàng chủ bút! Hai mươi tám tuổi, tôi chửi nhau với Tổng giám đốc Nguyễn Ngọc Tú, bỏ nghề công chức ra làm báo. Bắt đầu làm báo là tôi viết bài quan trọng cho trang nhất. Từ đó là ngông nghênh và ngông cuồng. Vì từ đó tôi biết rõ trí thức khoa bảng và các thần tượng chính trị, thần tượng văn học nghệ thuật. Ba mươi lăm tuổi, tôi nhận ra tôi ngông nghênh láo lếu. Tôi bắt đầu làm lại bằng Tuổi Ngọc. Tôi cố nhịn nhục cuộc đời để dứt bỏ cái ngông nghênh ngu dại của mình. Bốn mươi tuổi, đúng cuối năm 1975, tôi lại ngông. Lần này không biết định nghĩa chữ ngông ra sao vì lần này tôi bị tước đoạt hết, kể cả quyền con người. Tôi nhận lời làm Bộ trưởng Thanh Niên và Tuyên Truyền cho nội các Đinh Xuân Cầu.

Ông Cầu không phải người đầu tiên mời tôi tham gia chiến đấu. Trước ông ta, khoảng tháng 8-1975, một người gọi dây nói cho tôi (bấy giờ, điện thoại nhà tôi chưa bị cắt) bảo rằng có người bạn cũ, đồng hương, muốn gặp tôi. Câu chuyện trong điện thoại:

– Tùy anh lựa chọn địa điểm và giờ giấc.

– Anh phải cho tôi biết tên người muốn gặp tôi.

– Để anh ngạc nhiên. Anh yên tâm, hoàn toàn thiện ý.

– Còn anh?

– Tôi hay đánh phé với anh ở nhà Trần Dạ Từ. Mấy năm trước, tôi là chánh sự vụ sở chương trình của Đài Sàigòn.

– Chiều mai, nhà hàng Kim Hoa, 5 giờ.

– Anh đến một mình nhé!

Tôi đã không đến một mình. Đặng Xuân Côn đến với tôi. Côn đến nhà hàng Kim Hoa, đường Lê Lợi, từ 4 giờ 30. Tôi dễ dàng nhận diện người bạn tây-đầm-bồi-xì. Họ đợi tôi ở chiếc bàn góc phòng. Người bạn cũ, đồng hương của tôi rất … xa lạ với tôi. Chúng tôi chưa hề quen nhau, gặp nhau. Anh ta tự giới thiệu.

– Tôi là em vợ của Đào Quang Huy, dân Thái Bình.

Ông Đào Quang Huy, tiến sĩ luật khoa, luật sư Tòa Thượng Thẩm Sàigòn, thầy cũ của tôi, người bị tôi tặng hỗn danh Huy Cà Chua vì cái mũi to và lúc nào cũng đỏ. Tôi không thích ông Huy từ ngày ông ta làm cố vấn cho Bộ trưởng Thông Tin Linh Quang Viên và ra ứng cử dân biểu đứng dưới tên Trần Thế Minh “tâu tắng”.

– Anh gặp tôi có chuyện gì?

– Việc chung. Nhưng anh mời anh Côn sang dùng chung bữa với chúng ta.

– Xin lỗi, tôi đề phòng.

Đặng Xuân Côn không biết người biết rõ mình. Chúng tôi đi vào chuyện trước khi ăn uống. Tôi học tập Võ Tòng đối xử với Thi Ân.

– Tôi ở rừng về Sàigòn mua thuốc. Tôi trốn trình diện. Chúng tôi muốn mời anh nhập cuộc chơi mới.

– “Chúng tôi”?

– Đàn anh và thầy của tôi, các ông đại tá. Họ đã họp, đã chọn lựa và, cuối cùng, quyết định chọn anh vì ảnh hưởng sâu rộng của anh đối với tuổi trẻ. Tôi được chỉ định về Sàigòn mời anh, nhờ tôi là dân Thái Bình, em vợ anh Đào Quang Huy và chơi thân với anh Chánh sở.*

– Tại sao chỉ mời tôi?

– Muốn các anh không cộng tác với địch.

– Phần đông nhà văn của chúng ta nghèo, anh biết chứ?

– Các ông ấy sẽ lo vấn đề mưu sinh, sẽ có tiền trao tận tay từng anh em.

– Đó là vấn đề tiên quyết. Còn tôi, tôi vào rừng?

– Anh hoạt động ở ngay Sàigòn, khi lâm nguy mới rút vào rừng.

– Cái thân tôi kể như tàn tạ rồi, chẳng sợ ai gài bẫy mình nữa. Cộng sản muốn bắt tôi lúc nào là bắt nên tôi không nghi ngờ gì anh cả. Có điều, muốn tôi nhập cuộc, phải đưa vợ con tôi ra khỏi Việt Nam. Khi tôi biết vợ con tôi an toàn ở ngoại quốc, các anh bảo tôi làm gì tôi cũng làm.

– Anh cam kết?

– Phải, tôi cam kết.

– Tôi sẽ về cho các ông ấy biết điều kiện của anh và sẽ gặp anh tại nhà anh. Tôi sẽ lái chiếc Cortina số ED, đậu bên kia đường. Thời gian chờ đợi, cần liên lạc gì, anh liên lạc với anh Chánh sở. Anh ấy bán xăng lẻ dưới gốc cây đường Trần Quý Cáp, lưu động dọc đường nầy. Đó là một trong những địa điểm của chúng tôi.

– Tôi nhớ.

– Anh Duyên Anh, chẳng cần dấu diếm anh làm gì, nếu hôm nay anh không nhận lời mới của chúng tôi, chúng tôi sẽ bắt anh đưa vào rừng.

Tôi giật mình. Rồi nhìn chung quanh. Có đến năm người nhìn tôi, cười thân mật.

– Sự hợp lý của anh là điều kiện anh nêu ra. Ta cứ coi đây là buổi sơ ngộ.

Ngày hôm sau, tôi đảo dọc đường Trần Quý Cáp tìm người bán xì-phé. Anh ta cho tôi biết em vợ Đào Quang Huy là sĩ quan tình báo và những người có mặt hôm qua đều là biệt kích. Người anh em đã tin tôi, tôi đặt hết niềm tin vào họ. Hai tuần sau, vào một buổi sáng trời mưa, người anh em bấm chuông cổng nhà tôi. Tôi nhìn sang bên kia đường có chiếc Cortina ED đậu. Người anh em che ô đến, dáng điệu bình thản. Tôi biết, bên ngoài còn nhiều anh em khác.

– Các ông ấy đồng ý. Anh cho chị và các cháu chuẩn bị sẵn sàng. Như là đi du lịch, thật giản dị. Sẽ có một em gái trạc 16 tuổi, mặc quần áo hướng đạo đến báo tin và hẹn giờ giấc, địa điểm. Chị và các cháu sẽ đi bằng thuyền nên anh phải lo thuốc chống say sóng. Chuyến này, chị và các cháu đi với một nhân vật quan trọng của chúng tôi. Nếu lỡ, chuyến sau, chị đi với những người vượt biên. Sau khi chị và các cháu an toàn ở Mỹ, chúng tôi sẽ thảo luận kế hoạch đối kháng kẻ thù. Anh cần hỏi gì thêm?

– Nhà tôi được mang theo tiền bạc chứ?

– Được. Theo tôi, vàng bạc, hột xoàn nên để lại. Đi tay không là an toàn nhất.

– Tôi sẽ nghe lời anh.

– Tôi về, ngồi lâu không tiện vì anh có thể bị chúng nó theo dõi.

Người anh em thật chí tình. Ba hôm sau, buổi chiều, một em bé gái, mặc quần áo hướng đạo, đến bấm chuông. Vợ tôi đang lên cơn sốt nặng lúc đó. Tôi dẫn em bé vào phòng. Em bé chứng kiến vợ tôi đang vật vã trên giường. Tôi nhờ em nói giùm là chuyến nầy vợ con tôi không thể đi. Em bé trở lại buổi tối, bảo tôi yên tâm đợi chuyến sau và phải đợi lâu. Mãi đến khi ông Đinh Xuân Cầu tìm tôi, em bé gái vẫn không trở lại trong thao thức chờ đợi của tôi. Tôi đã mất một cơ hội. Chẳng phải tại tôi. Định mệnh đã an bài như thế, đã an bài nỗi thống khổ mà vợ con tôi cam đành chịu đựng cùng với tôi gần trọn một thập niên. Người anh em tuyệt tích. Tuyệt tích luôn người bạn xì-phé bên đường Trần Quý Cáp. Tạm biệt anh em, chúng ta sẽ gặp lại hình ảnh kỷ niệm tuyệt vời ở phòng 6 khu C1, đề lao Gia Định với Thanh Thương Hoàng Nguyễn Thanh Chiểu, chủ tịch Nghiệp Đoàn Báo Chí Việt Nam.

Ông Đinh Xuân Cầu mừng rỡ khi tôi quyết định dấn thân. Tôi muốn giúp ông ta, đi mời nhiều nhân sĩ, trí thức nhưng tất cả đều cho chuyện lập nội các, họp báo quốc tế rồi lưu vong là chuyện phong thần. Miếng đỉnh chung không nhìn thấy, chỉ nhìn thấy con đường dẫn vào nhà tù, vào sự chết thảm, chết vô danh, chết không một nấm mồ; danh vọng không nhìn thấy chỉ nhận thấy cái án tích phản động tập trung cải tạo, sự mỉa mai của bọn thiếu can đảm nhưng đầy ác ý, sự phiền trách của vợ con, nên cái hợp thời và khôn ngoan nhất là tìm cách vượt biên hay ngồi yên hưởng nốt của cải còn lại. Tôi không muốn nhận tôi là người can đảm. Tôi không thích danh vọng chính trị vì tất cả danh vọng của Bộ trưởng, Thủ tướng, Tổng thống Việt Nam không lừng lẫy và vĩnh cửu bằng danh vọng của một nhà văn nổi tiếng. Tôi đã nổi tiếng, ở Việt Nam, chẳng thèm nhờ chức tước Bộ trưởng mà nổi tiếng. Nhận làm Bộ trưởng, lúc này, không ngu thì ngông. Tôi ngông. Thế thôi. Và tôi nghĩ tôi đủ khả năng làm đến nơi đến chốn nhiệm vụ người ta giao phó cho tôi. Điều oái oăm trong số phận của tôi là, người ta chỉ giao phó nhiệm vụ cho tôi, tin tưởng tài năng của tôi vào thời gian bóng xế, vào không gian quạnh hiu của nền chống cộng, vào thời buổi chẳng ai còn một đồng bạc nào cho nhau, chẳng lạc quyên ở đâu nửa cắc để uống nước mía mà làm … Bộ trưởng!

– Ông Cầu, khi ra ngoại quốc, ông tìm người khác thay thế tôi nhé!

– Ông phải làm việc tới khi thành công.

– Tôi không biết làm chính trị. Tôi nói trước kẻo ông sẽ trách tôi, sang nước ngoài, tôi làm cu li mưu sinh. Bấy giờ, mọi việc dễ dàng, ông kiếm Bộ trưởng không khó. Tôi nhắc lại: Tôi chỉ tin ông, không tin Trương Phiên. Và tôi cũng không tin Trương Phiên đem vợ con tôi ra khỏi Việt Nam.

– Thế tại sao ông nhận lời?

– Vì ông tin tấm lòng trong sách của tôi, tin tài năng của tôi. Cũng vì tôi tuyệt vọng, tôi muốn tìm từ trong nỗi tuyệt vọng một niềm hy vọng mới. Tôi đã là con số zéro, tự làm thành con số 9. Hôm nay, tôi lại trở về con số zéro. Tôi không tiếc rẻ sự mất mát. Sự khó khăn của tôi hiện tại chỉ là trách nhiệm của tôi đối với vợ con tôi. Nếu tôi độc thân hay nếu vợ con tôi đã di tản, tôi chấp hết.

– Tôi xin được phép chia xẻ một phần trách nhiệm với ông.

– Cám ơn ông. Tôi sẽ chọn lựa một người làm việc chung với tôi.

– Ông toàn quyền.

Tôi rủ Mai Thảo lên Kim Hoa ăn sáng, nói cho anh ta biết tôi đã tham gia một tổ chức chống cộng sản. Tôi cũng trình bày cái nội các lưu vong và mục đích của nó. Tôi mời Mai Thảo vào cuộc chơi. Anh ta bằng lòng. Rất khiêm tốn, tôi nói:

– Tôi biết ông không câu nệ chức này, chức nọ. Hãy coi tôi làm chủ nhiệm và ông làm chủ bút hoặc ông làm phụ tá.

Mai Thảo cười:

– Xong rồi.

– Ông vì vợ con tôi mà đừng nói chuyện này với ai.

– Tôi hứa.

Mai Thảo hứa và Mai Thảo nuốt lời hứa. Anh ta đem chuyện chống cộng sản cô đơn và lãng mạn của tôi (và của anh nữa vì anh ta đã nhận lời) kể vung vít. Chắc chắn, với sự mỉa mai của anh ta và với những nụ cười khinh mạn của những người nghe anh ta kể. Ít nhất đã 3 người nghe Mai Thảo kế. Doãn Quốc Sĩ, khi nằm chung đề lao số 3 khu C1 đề lao Gia Định, đã thuật lại với tôi. Hoàng Hải Thủy, khi tôi trở về cuối năm 1981, đã thuật lại với tôi và trách móc: “Tại sao mày rủ thằng Mai Thảo mà không rủ tao?” Bà Nguyễn Đình Vượng tâm sự với vợ tôi rằng: “Ông Mai Thảo dặn tôi đừng tin Duyên Anh”, cứ làm như thể tôi sẽ … quyên vàng của bà ta để kháng chiến! Mai Thảo không hề biết chính tôi phải ủng hộ tổ chức của tôi một lạng vàng. Và trong cái lạng vàng chia cắt ra mua xăng nhớt, có mấy chục dúi vào tay Mai Thảo ở nhà hàng Kim Hoa. Nhớ kỹ đi, Mai Thảo. Nhớ thêm có một lần tôi chở Mai Thảo bằng chiếc R-8 xuống làng Báo Chí kiếm Nguyễn Đình Toàn, ăn nhậu ở nhà Toàn, kéo nhau lên Phan Đình Phùng, hút thuốc phiện trên Quang Minh Đỉnh. Lần đó, Mai Thảo khuyến cáo tôi: “Đừng nói gì với Nguyễn Đình Toàn, miệng nó hở lắm”. Trong số nhà văn Việt Nam, tôi có nhiều kỷ niệm với Mai Thảo. Tôi không hề dính dáng tới Sáng Tạo hay Nghệ Thuật của anh ta. Tôi chơi với Mai Thảo khi tôi đã có Hoa Thiên Lý, Thằng Vũ, Mây Mùa Thu. Kỷ niệm khởi sự, Mai Thảo không biết, không muốn biết. Lúc ấy, anh ta nằm ở Grall để … tị nạn tình yêu sau khi bị Lê Quỳnh sửa một trận kỹ lưỡng, rạch trán Mai Thảo vì Mai Thảo dan díu với Thái Thanh. Năm giờ sáng, Anh Ngọc mò lên toà soạn nhật báo Sống, yêu cầu chúng tôi loại bỏ cái tin “từ thành đến tỉnh”, thứ tin xe cán, chó chết, “Mai Thảo bị đánh ghen”, nằn nì chúng tôi và xin các báo bạn đừng đăng tin này, đừng tạo ra xì-căng-đan ầm ỹ. Chúng tôi đã “bao kín”. Tôi quen và thân Mai Thảo từ đó. Được nghe một chuyện tình lớn của anh ta, được nghe tâm sự ủ ê của lãng tử độc thân, tôi mến Mai Thảo. Anh ta trầm lặng, anh ta đứng đắn. Nhưng, cuối cùng, anh ta đã dẫm lên lòng quý mến của tôi dành riêng cho anh ta. Có lẽ, anh ta tưởng tài năng của anh ta quần chúng thiên hạ, bất khả xâm phạm chăng? Có lẽ, anh ta tưởng tôi sẽ chết rủ trong ngục tù, chẳng còn dịp gặp anh ta nữa chăng? Tôi đã hiện diện. Tôi còn sung sức. Mai Thảo thì tàn tạ, cằn cỗi rồi. Tôi không hề có ý “tính sổ” với anh. Chỉ nhắc nhở anh một sai lầm đi ra ngoài cái thiên chức của một nhà văn tự nhận mình là “chef de file” khi anh rỉ tai với Nguyễn Tuấn Anh: “Duyên Anh bậy lắm, trong tù, nửa đêm nó bảo anh em đun nước pha cà phê uống, rồi nó uống một mình!” Làm gì có chuyện ấy, làm như có chuyện xích lô chạy ở Pleiku như anh viết trong tiểu thuyết của anh. Anh chưa có một ngày trong tù cộng sản nên anh không biết rằng, ngay cả cả phê cũng bị cấm đem vào nhà tù nói chi lửa bếp. Ở đề lao Gia Định, đến tháng 8-1976, cà phê và trà bị cấm tiếp tế. Trước đó, cà phê được phép và chỉ pha bằng nước nóng của trại phát buổi sáng và buổi trưa. Tù nhân nào hâm đồ, đun nước, bằng bao túi ni lông trong xà lim, bị phát hiện, sẽ bị còng chân nhốt ở cachot, sẽ bị cấm viết thư, nhận thư và thăm nuôi. Ở Chí Hòa, kỷ luật khe khắt hơn. Bị gọi ra đánh sưng mày mặt. Ở các trại tập trung, nếu lén lút gởi mua được cà phê, tù nhân pha ngoài bãi lao động hoặc chủ nhật tự do nấu nướng trong bếp của trại. Tôi thấy Thế Phong xếp anh vào loại nhà văn viễn mơ không sai. Anh ham ngồi xích lô, nên anh cho nhân vật của anh ngồi xích lô trên đường dốc Pleiku. Anh ghét tôi, ghét kẻ luôn luôn yêu mến anh, ghét kẻ thường xuyên thù tạc anh champagne và vin, ghét kẻ luôn luôn bênh vực anh, ghét kẻ luôn luôn dùng uy thế của mình với các nhà xuất bản để bán tác phẩm dùm anh khi anh đã hoàng hôn xế bóng và anh cho tôi “pha cà phê trong ngục thất nửa đêm” và nhiều chuyện bịa đặt nham nhở khác. Anh Mai Thảo, với anh thì tôi chỉ cần nói sự thật. Và anh đừng quên không phải là tôi không có tài tưởng tượng, thêu dệt.

Đầu tháng giêng năm 1976, ông Đinh Xuân Cầu phát một tín hiệu mới: Một nửa nội các ra đi, một nửa ở lại hoạt động ngay tại Sàigòn. Tôi đến căn nhà của người thợ may, anh ruột của Trần Văn Lợi, khu chợ An Đông, nằm trên gác cùng với ông Cầu. Bây giờ, tổ chức có thêm Đặng Xuân Côn, đặt địa điểm liên lạc với Trương Phiên tại trụ sở Mai Hà công ty, đường Lê Lợi. Sáng 2-1-76, Đặng Xuân Côn tới An Đông để tiễn chân tôi. Buổi trưa, Trương Phiên xuất hiện. Ông ta nói tình hình bất ổn trong chiến khu. Nguyễn Cao Kỳ đã về nước, khống chế lực lượng của Bùi Thế Lân và bắt giam Lân. Kỳ muốn nắm nội các! Trương Phiên phàn nàn linh mục Trần Hữu Thanh không dứt khoát đi hay ở. Chuyến đi phải hoãn. Tôi ngỡ ngàng một chút và ngờ vực nhiều chút. Khởi sự, nội các họp báo quốc tế, cầm chân các thông tin viên bốn tiếng, rút vào bưng, xuất ngoại. Rồi một nửa nội các ra đi không kèn không trống. Rồi tình hình chiến khu bất ổn. Và, sau hết, Trương Phiên bảo tôi:

– Anh đừng về nhà nữa. Công an của phòng chính trị bảo vệ đã bao vây nhà anh.

Trương Phiện dặn dò chúng tôi cách khai báo, nếu rủi ro bị bắt. Phiên quả quyết người của tổ chức nằm ở hàng ngũ công an chấp pháp Sở Công An, không sợ hãi gì cả, anh em sẽ giải thoát. Tôi thực sự lưu vong ở … Sàigòn. Người ta tìm một căn nhà ở Tăng Bạt Hổ, đưa ông Cầu và tôi đến tá túc. Chủ nhà là một kỹ sư nông nghiệp hồi hưu, người miền Nam. Ông cụ biết mưu đồ của chúng tôi và tỏ ra quý mến chúng tôi. Cụ bà càng tha thiết, quyến luyến. Các cụ có 2 người con trai, một du học bên Pháp, ở lại, lấy vợ Pháp; một phi công trực thăng, đã hy sinh tại mặt trận Pleiku. Trần văn Lợi giới thiệu tôi đến đây. Ba người con gái của cụ, một cô là hotesse de l’air đường bay quốc ngoại, đã lấy chồng; hai cô đang còn là sinh viên và là độc giả của tôi. Rất lãng mạng, dù trong nghịch cảnh, hai cô mường tượng nhân vật Dũng cách mạng của Nhất Linh là tôi. Và tôi, tôi cũng thấy ở một cô, dáng dấp của Loan. Nếu sự “bôn ba” của chúng tôi chỉ là một trò chơi của gián điệp Mỹ Trương Phiên thì đau đớn quá. Trò chơi này đã xấc xược bước lên niềm tin của nhiều người bằng gót giày thô bỉ của nó. Tôi đã nghĩ, sau này, nếu tôi còn sống và được viết không gây nguy hai chi đến gia đình ân nhân của tôi, căn nhà số chẵn đường Tăng Bạt Hổ phải là một truyện dài tình nghĩa. Nó phải được ghi rõ số nhà cùng tên tuổi thật của những người cư ngụ trong đó.

Trương Phiên lại đến Tăng Bạt Hổ. Ông ta đưa cho tôi chút tiền. Khi Trương Phiên về, tôi và Đinh Xuân Cầu thảo luận trong nỗi bực tức của tôi.

– Tôi không tin những gì Trương Phiên nói.

– Tôi tin.

– Tôi cũng không tin nó vừa đi Mỹ về.

– Tôi tin.

– Ông tin là quyền của ông, tôi muốn tìm hiểu sự thật với chứng cớ cụ thể.

– Tôi có chúng cớ cụ thể.

– Hai tuần nữa, không rời khỏi Việt Nam, tôi về nhà tôi. Tôi không muốn bị bịp.

Tôi bàn với Đinh Xuân Cầu cái kế hạ sách của tôi bắt trói Trương Phiên lại, sai Sao Giò tra tấn y, Trương Phiên sẽ phải khai sự thật. Ông Cầu cười. Tôi cười. Chúng tôi cười rũ rượi, cười ngây ngất. Đinh Xuân Cầu, rốt cuộc, chỉ là một nghệ sĩ, ngây thơ và mơ mộng. Ông ta đã vẽ ra cảnh đất nước toàn thiện, toàn mỹ khi quyền bính về tay người quốc gia chân chính.

– Nếu Trương Phiên bị bắt, tôi bảo đảm, chỉ vài tháng sau nó được tự do.

– Tại sao?

– Vì nó là gián điệp.

– Còn ông?

– Tôi chết mục trong tù.

– Còn tôi?

– Thôi, đừng nói chuyện này nữa, ông Duyên Anh.

Ông Cầu rời Tăng Bạt Hổ đi đâu, tôi không biết. Tôi ở lại đây một tuần lễ. Khi tình yêu của tôi với cô con gái út của ông cựu kỹ sư vừa chớm nở thì Sao Giò chở tôi đến căn nhà của ông trùm xóm đạo, đường Tô Hiến Thành, Hòa Hưng. Người ta đã tổ chức cầu nguyện cho chúng tôi. Người ta đã cung phụng cho chúng tôi những gì người ta có. Người ta tin tưởng chúng tôi. Chắc chắn, tôi phải tìm cách giết Trương Phiên, nếu trò chơi của nó làm mất niềm tin của nhiều người. Ông Cầu, Sao Giò và tôi tá túc tại Tô Hiến Thành hai ngày. Chúng tôi di chuyển xuống ngã tư Bảy Hiền. Các chức sắc Xóm Mới thay phiên nhau đến thăm chúng tôi. Tôi áp lực với ông Cầu phải bắt Trương Phiên nói sự thật. Ông Cầu đi gặp Trương Phiên.

– Tôi đem các con tôi ra thề với ông rằng, chính mắt tôi, đã coi những dias mà Trương Phiên chụp đứng cạnh Lý Quang Diệu. Trương Phiên nói, để chứng minh sự thật, y sẽ đưa Ngô Quang Trưởng về Sàigòn gặp chúng ta.

– Tôi vẫn chưa tin.

– Vì ông tỏ vẻ không tin nên Trương Phiên có ý đề phòng ông.

Tôi nổi giận:

– Nó đề phòng tôi, tôi sợ gì nó!

Ông Cầu trấn an:

– Ông đừng hiểu đề phòng theo nghĩa xấu. Ngày mai, tôi hẹn Trương Phiên ở nhà em tôi, Đinh Xuân Thọ, đường Nguyễn Hoàng.

Chúng tôi đợi Trương Phiên. Ông ta đã tới. Trương Phiên trả lại tôi một lạng vàng. (Tổ chức mượn tôi 2 lạng). Ông ta đưa tôi coi một tờ báo bí mật in roneo của Phục Quốc. Rồi ông ta nói:

– Nếu các ông nóng lòng ra đi, tổ chức sẽ chỉ lo các ông tới Thái Lan thôi. Tương lai chính trị của các ông sẽ mất mát nhiều, vì các ông khó trở về Việt Nam.

Tôi nói:

– Tôi không cần tương lai chính trị, không cần ra đi. Tôi chỉ cần biết ông kéo dài trò chơi này bao lâu và trò chơi của ông nhằm mục đích gì?

Trương Phiên nghiêm nghị:

– Trước hết, tôi không phải là cộng sản. Thế thì hành động của chúng ta không phải là trò chơi.

Tôi đập bàn:

– Vậy các ông hành động đi, tôi bỏ cuộc.

Tôi về nhà tôi. Tôi không thấy một dấu hiệu nào của sự bao vây, theo rõi tôi. Sao Giò vẫn liên lạc tôi qua Đặng Xuân Côn. Tôi biết ông Cầu đã gặp Thái Ngũ ở Chợ Lớn và đã nhận được tài trợ của Thái Ngũ. Ông Cầu hẹn tôi ở Bảy Hiền. Tôi giới thiệu Hoàng Ngoc Thân với ông Cầu. Ông ta cho chúng tôi hay mọi diễn tiến tốt đẹp. Cuối tháng 1-1976, ông Cầu và Sao Giò bị bắt trên đường vào nhà Thái Ngũ. Chính Trương Phiên lên Nam Hà công ty báo tin này cho Đặng Xuân Côn. Trương Phiên hẹn gặp tôi ở nhà Đặng Xuân Côn. Ông ta đã thất hẹn. Sau Đinh Xuân Cầu, linh mục Trần Hữu Thanh bị bắt. Rồi Trần Thiện Ngọ, Hà Tường Cát … Tôi bắt đầu lo lắng. Ăn tết xong, tôi vẫn chưa bị bắt. Đặng Xuân Côn thường xuyên liên lạc với Trương Phiên. Ông ta nói với tôi rằng không muốn gặp tôi vì tôi nóng tính. Côn có vẻ tin Trương Phiên, ít nhất, tin rằng người của tổ chức nằm ở Sở Công An, do đó, tôi không bị bắt. Tôi cứ thắc mắc tại sao Trương Phiên, kẻ chủ chốt, vẫn khơi khơi ngoài đời?

Nguyễn Văn Sao, từ Sao Giò, chuyển lời của tôi cho ông Đinh Xuân Cầu khi anh ta về phòng. Buổi chiều, anh ta ra hành nghề hớt tóc tù, Sao xin phép cán bộ tặng tôi khúc bánh mì chả quế. Tôi hiểu ý, moi ổ bánh mì, lôi mẫu thư của Cầu: “Ông bi quan quá, mục sư vẫn là mục sư. Tôi tin.” Tôi không tin mà yên tâm ông Cầu đã quên tôi trong “tự khai”. Ba Trung cũng chẳng đề cập gì đến “Nội các Đinh Xuân Cầu” khi mạn đàm với tôi. Nó không gọi tôi ra viết tự khai nữa. Bản tự khai của tôi chưa hết quá trình từ 10 tuổi đến khi tôi di cư vào Sàigòn. Ba Trung bỏ rơi tôi. Nó gọi Đằng Giao. Nó gọi Nguyễn Viết Khánh. Nó gọi Thanh Thương Hoàng. Thời gian này, phòng B tiếp nhận một nhân vật của sách vở Sàigòn: Ông Nguyễn Văn Trường, chủ nhân nhà sách Khai Trí, chủ nhiệm tuần báo Thiếu Nhi. Ông Trường vào với tin sốt dẻo: Các giám đốc của các nhà phát hành Nam Cường, Đồng Nai, Việt Nam đã bị bắt hết. Nguyễn Hữu Hiệu phát biểu một câu chính xác: “Ở chế độ mới, những ai dính líu vào chữ nghĩa mà không bị bắt là một điều ô nhục!” Rất nhiều kẻ không những đã không bị bắt mà còn rạch miệng theo thời kết án những người bị bắt. Thí dụ tên Hồ Thành Đức, chồng của Bé Ký, đã đăng đàn nhục mạ vợ chồng Trần Dạ Từ. Thí dụ con gái tên cộng sản nằm vùng, đã đứng trong phòng triển lãm tội ác Mỹ Ngụy, nhìn sách của Nhã Ca trình bầy mà cười sung sướng. Vân vân … Tôi ái ngại nhất trường hợp Đằng Giao. Cả đời cậu Trần Duy Cát chưa hề vẽ một bức tranh chống cộng sản. Đằng Giao bị bắt chỉ vì là con rể của Chu Tử. Trước 30-4-75, Chu Tử đã yếu lắm rồi, sắp chết rồi. Tay Chu Tử run. Môi Chu Tử thường xuyên mấp máy. Chu Tử theo đứa con trai đầu lòng xuống tàu. Việt cộng bắn tàu. Tất cả sống nhăn hoặc bị thương, trừ Chu Tử bị chết và bị quăng xác giữa biển khơi. Đằng Giao, Chu Thị Thủy ở lại, biến 104 Công Lý thành quán cà phê, bún chả, bánh mì… Bạn bè tá túc 104 Công Lý có Ninh Chữ be be chửi cộng sản, có Nguyễn Hữu Đống, tự Đống hói, giép râu túi vải thời thượng khó hiểu. Anh em văn nghệ tới Đằng Giao ăn uống giúp đỡ bạn đều bị ghi tên vào số đen. Ai ghi? Đằng Giao biết và Đằng Giao chẳng thể tuyết hận được vì kẻ ấy đang có mặt ở Paris, cũng sinh hoạt hội đoàn sôi nổi! Người ta bắt Đằng Giao, bắt vợ Đằng Giao, bắt con mới sinh ra được 3 ngày của Đằng Giao vì 104 Công Lý là nơi tụ tập phản động. Không, vì không bắt nổi Chu Tử, cộng sản giận cá chém thớt. Và đó là đạo đức cách mạng, là khoan hồng chủ nghĩa, là phẩm cách cộng sản! Người ta còn nói thêm, đó là cái “bách chiến bách thắng”, cái “ưu việt” của chủ nghĩa”, cái nôi của loài người. Cộng sản là những người trả thù vặt vãnh, là những người nuôi thù hận cả nghìn đời. Hãy nghe một bài hát của họ:

Ta là người nông dân

Mặc áo lính

Chiến đấu vì giai cấp bị áp bức từ bốn nghìn năm…

Từ bốn nghìn năm cũ, con người đã là đối tượng thù hận của cộng sản. Tất cả đều là kẻ thù của cộng sản khi họ đến. Phải đợi 100 năm sau, khi cộng sản “trồng người” thành công cụ bịt tai, che mắt và chỉ biết tiến lên tuyến đầu mà chết thảm, bấy giờ, họ mới hết nội thù. Nhưng vẫn còn ngoại thù.

…Sống tập đoàn cùng thế giới công khai

Và kiến thiết xã hội ngày mai

Lúc đế quốc đang sắp tan rã dần.

Ta tiền phong tiến tới

Sức chiến đấu đi xuống miền Đông Nam

Lúc đế quốc đã tàn …

Bạn ơi, lúc đế quốc tàn là đời bạn cũng tàn, là con cháu bạn phải hứng đau khổ giùm bạn. Lúc ấy là da đen, da đỏ biến thành công cụ của thù hận trừng phạt da trắng. Và người cộng sản thì làm linh mục, mục sư, giảng phúc ấm về đạo đức, khoan hồng, phẩm cách, ưu việt, hạnh phúc, tự do, dân chủ, hòa hợp… Đừng nghĩ rằng nước Mỹ không thể bị thôn tính bởi cộng sản. Vũ khí tiêu diệt toàn bộ nước Mỹ của cộng sản là lòng ích kỷ, sự trịch thượng và tinh thần thân cộng làm dáng tiến bộ của người Mỹ. Cộng sản luôn luôn tự hào mình giỏi sáng tạo nỗi khổ. Họ sẽ có dịp sáng tạo nỗi khổ trên khắp nước Mỹ. Một trong những nỗi khổ mà người Mỹ ớn hơn bị mọi da đỏ lột da đầu là xuống hầm phân cải tạo, dùng tay bốc cứt, với hàng tỉ con ròi bỏ lên thân thể, chui vào lỗ mũi, lỗ tai. Wait and see, American!

Cuối tuần lễ thứ ba xảy ra một chuyện toát mồ hôi lạnh. Vào lúc 11 giờ đêm, chúng tôi đang nằm yên, bỗng nghe tiếng chìa khóa tra vào ổ. Người cai ngục đã chứng tỏ một nghệ thuật siêu đẳng về sự gây ra tiếng động hăm doạ chết chóc. Chúng tôi vụt ngồi dậy. Cai ngục kéo cánh của sắt thật chậm chạp, cố tình tạo âm thanh “két két” nổi da gà. Hắn vào phòng, cầm tờ giấy, soi dưới ánh đèn vàng:

– Năm người có tên sau đây chuẩn bị đồ cá nhân. Khẩn trương!

Chúng tôi hồi hộp. Tim đập thình thịch. Khoảnh khắc sợ hãi đó, mỗi người trong chúng tôi đều chỉ nghĩ tới sự bất hạnh khốn cùng. Có thể chúng tôi bị bắn. Có thể chúng tôi bị thủ tiêu. Có thể chúng tôi bị lưu đày. Ai là năm người? Ai cũng mong đừng là mình, dám là mình. Cảm giác này không bao giờ có ở những anh bên ngoài nhà tù giải thích về lòng can đảm và phán xét sự khiếp nhược. Những anh ưa giải thích lòng can đảm trong bình yên sẽ xón đái, vải cứt ra quần ngay, sẽ ngất xỉu khi nghe gọi tên mình. Không chừng, quýu quá, mấy anh phán xét rẻ tiền sẽ móc lỗ đít, đưa lên ngửi, rồi nếm và hy vọng đó là phép lạ cứu mình! May quá, chúng tôi không có ai xón đái, tuy rất sợ hãi.

– Nghe tôi đọc tên, đáp có, xách hành lý ra khỏi phòng ngay.

Cai ngục hắng giọng:

– Hoàng Anh Tuấn!

– Có.

Hoàng Anh Tuấn chụp vội cái điều cày và bước ra hành lang.

– Trần Duy Cát!

– Có.

– Nguyễn Hải Chí!

– Có

Cửa phòng khép lại, khóa kỹ. Những người lọt sổ thở phào. Một tiếng đồng hồ sau, khi mồ hôi lạnh của tôi vừa kịp khô thì chìa khóa lại tra vào ổ rất điệu nghệ.

– Ba người có tên sau đây …

Rồi tiếp tục. Đến 4 giờ sáng. Cuối cùng, phòng B còn lại Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Hữu Hiệu, Hồng Dương và tôi là văn nghệ sĩ. Chúng tôi có tin lành sáng hôm sau. Chú công an Hồng nói, đêm qua chuyển tội phạm sang đề lao Gia Định. Năm chúng tôi bị chấp pháp bỏ rơi. Nguyễn Hữu Hiệu nói:

– Nó sẽ phân tán mỏng chúng ta. Gom toàn bộ nhà văn một phòng, tin tôi đi, chúng ta sẽ lập thuyết, sẽ có thuyết mới ra đời.

Tôi cần nói thêm, chúng tôi sống chung với Trịnh Quới Tài, nhân viên của Phòng Nhì cũ, tiếp tục nghề nghiệp qua các chế độ Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu. Ông ta bị bắt từ 1-5-75. Chức tước của ông ta: trung tá phủ đặc ủy Tình Báo Trung Ương. Ông Trịnh Quới Tài làm tự khai ngày nầy qua ngày khác. Thiếu thuốc phiện, trí nhớ của ông ta sụt giảm. Sở Công An biết điều này, mỗi ngày cho ông ta “làm việc” một lần. Ông được hút thuốc phiện và khai báo đủ thứ chuyện. Một nhà báo liếc đọc trên tờ khai của ông ta có tên Thanh Thương Hoàng, Tô Ngọc, Trịnh Viết Thành… Tất cả ký giả nhận tiền của Trung Ương Tình Báo đều bị Trịnh Quới Tài … tự khai. Tuy không liên hệ gì với Trung Ương Tình Báo, Mậu, Hiệu và tôi rất ngán ông Tài. Chúng tôi chỉ sợ làm mất lòng ông ta. Ông Tài thích kể kỷ niệm xuống Long Xuyên, vây bắt bố vợ tôi, ông Nguyễn Ngọc Đề, người “chống luật người cày có ruộng không biết mệt mỏi”.

Cùng với những người bị bắt về đủ thứ tội, cụ già và con nít, chúng tôi ở Sở Công An đã qua bầu cử. Chúa ngục Hai Phận hân hoan bao tin:

– Bầu cử quốc hội cả nước thành công vĩ đại.

Y trơ trẽn nói:

– Gia đình các anh rất cảm động khi đọc thư các anh. Vợ con các anh khen các anh đã vào tù mà còn nhắc nhở bổn phận bầu cử!

Hai Phận bắt chúng tôi viết đúng boong câu mồi của chế độ rồi y khen chúng tôi! Trong một nghìn nỗi bất hạnh con người phải chiu đựng, nỗi bất hạnh chảy nước mắt nhiều nhất là vào nhà tù cộng sản để có ông thầy Hai Phận, biểu tượng thê thảm của chủ nghĩa ưu việt. Cộng sản kiêu ngạo một cách ngu xuẩn. Họ mắc cái bệnh thích làm thầy mọi người. Họ khoái được giáo dục con người. Cứ mở miệng là họ đòi … giáo dục. Họ đã giao nhiệm vụ giáo dục chúng tôi cho Hai Phận dốt nát. Mỗi sáng thứ bẩy, y ngồi chễm chệ trên ghế đẩu, giảng dạy văn hóa Mác xít như Hồ Chí Minh giảng dạy cách giết người. Chúng tôi phải nghe. Không dám cười.

– Hôm nay, tôi dạy các anh về bệnh ghẻ. Các anh có biết tại sao miền Nam ghẻ mà miền Bắc không ghẻ không?

Im lặng, Hai Phận cười:

– Cần một anh trả lời và hỏi. Học, hỏi, hiểu, hành. Học mà không hỏi thì hiểu gì mà hành!

Trưởng phòng bèn lễ độ:

– Thưa ông Trưởng trại, chúng tôi không hiểu tại sao?

Hai Phận gật gù:

– Thế mới phải học. Học, học, học nữa, học mãi. Miền Nam ghẻ vì dân miền Nam mặc quần áo ni-nông. Quần áo ni-nông bí lắm, mồ hôi nhễ nhãi gây ngứa, gãi lung tung rồi nhiễm trùng là sinh ghẻ. Còn miền Bắc mặc quần áo vải, thấm mồ hôi không có ngứa. Đấy, bệnh ghẻ là do ni-nông! Hay chưa? Vỗ tay đi!

Chúng tôi vỗ tay. Hai Phận quả thật vĩ đại hơn Hồ Chí Minh. Y có cả một triệu bài học. Bài học thứ 2 y dạy chúng tôi là … kinh tế:

– Kinh tế miền Nam là kinh tế phồn vinh giả tạo. Cho các anh biết tất cả của cải miền Nam gộp lại cũng chỉ xây nổi một nửa Lăng Bác thôi. Mấy cái máy lạnh, tủ lạnh, xe hơi, honda, ti vi của miền Nam thấm tháp gì! Miền Nam có mỏ dầu hỏa chưa? Miền Bắc đã có, ở huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình đó. Cần quái gì phải giàn khoan, cứ cắm ống nứa xuống đất là dầu phụt lên, muốn xăng có xăng, khí đốt có khí đốt.

Kết luận của bài học kinh tế, Hai Phận hỏi:

– Các anh có muốn ăn thịt lợn quay không?

Trưởng phòng đáp:

– Muốn.

Hai Phận nói:

– Muốn thì chung tiền lại, chiều nay cán bộ đi mua về cho mà ăn.

Hôm nay, chúng tôi nhiệt liệt vỗ tay hoan hộ Hai Phận. Thế giới gọi các nhà tù cộng sản là trại học tập cải tạo. Thế giới dùng chữ nghĩa của cộng sản một cách khơi khơi. Và nếu đúng ý muốn của cộng sản và thế giới tự do, tôi, một tù nhân lương tâm, đã học tập được ở trại cải tao Sở Công An hai bài học phi thường: Bệnh ghẻ do mặc quần áo ni-nông và không cần giàn khoan, cắm ông nứa xuống mỏ, dầu phụt lên, phân loại xăng, khí đốt, khỏi cần lọc!


*Tôi quên mất tên của ông chánh sở chương trình và em vợ Đào Quang Huy

Hoa Bay …

 

Chiều ơi hoa tím đang bay…
Tôi đứng bên này con lộ
Nhìn qua bên kia…là gió
Nhớ ơi em chiếc áo dài!

Mấy mươi năm rồi em nhỉ
Từ khi cổng khép trường xưa
Ông Thầy Giáo nhòa mắt lệ
Quay xe đi về trong mưa!

Mấy mươi năm rồi bỡ ngỡ
Vẫn đau như mới hôm nào
Khi không mà thời thế đổi
Khi không mà như chiêm bao!

Chiều nay tôi trong phố Mỹ
Trên đường con lộ gió xuôi
Tôi nhìn dòng xe chạy ngược
Thấy em đâu đó lòng tôi…

Là những câu thơ rời rã
Là em thanh nhã áo dài
Một thời tự dưng mà lạ
Một thời vậy đó Trời ơi!

Hoa hay mưa rơi tầm tã?
Hoa hay em mới cầm tay?
Áo dài hay là chiếc lá
Mà sao bay chỉ lá bay?

Và hoa bay theo với lá
Mùa Thu đã tới rồi ư?
Cái bóng chiều bay nghiêng ngã
Trong lòng tôi đã mùa Thu!

Tâm sự cùng ai, ai hiểu?
Lòng tôi một hướng áo về
Các em ơi thời niên thiếu
Hoa bay áo bay tóc thề…

 Trần Vấn Lệ

 

 

GIỚI THIỆU TÁC PHẨM MỚI

Tập thơ NGOẢNH LẠI PHÙ DUNG của một tác giả quen thuộc NP PHAN vừa được xuất bản.
Xin giới thiệu cùng các độc giả của Tương Tri.

 

 

 

Lời giới thiệu của nhà văn MANG VIÊN LONG

NGOẢNH LẠI PHÙ DUNG

những ánh nhìn lại sâu thẳm và dào dạt cảm xúc

Cách đây hơn mười năm, tôi có chia sẻ trên trang Văn học của tuần báo Giác Ngộ (và một số trang mạng trong và ngoài nước) quan niệm của tôi về hai vấn đề “Thế nào là một bài thơ hay” và “Thử tìm mẫu số chung cho thơ” giữa bối cảnh các tác phẩm thơ đã được xuất bản ngày càng tăng, và nhất là, thơ đang đứng ở ngã ba đường, với nhiều quan niệm, trường phái, chủ trương sáng tác khác nhau… (Sau này, có in lại trong tập Tiểu luận và Tạp bút “Như những giọt sương” tập I – Nhà XB Hội Nhà văn – 2012).

Hôm nay, qua ngần ấy thời gian theo dõi và đọc thơ, tôi vẫn giữ nguyên quan niệm về thơ của mình: Một bài thơ có chân giá trị phải hội đủ bốn yếu tố: Cảm xúc, Trí tuệ, Nhân bản Kỹ thuật. Theo tôi, thơ  dầu là nhân danh “trường phái nào” đi nữa – cũng đều do “con người” viết ra cho “con người” đọc. Nhà thơ khao khát được giãi bày, tha thiết được tâm sự, sẻ chia – từ đó, có thơ. Người đọc mong ước được cảm nhận, học tập, cảm thông (…) tìm đến với thơ…

Bốn yếu tố (hay điều kiện) này cũng đã được nhà thơ Dylan Thomas diễn giải một cách bay bướm như sau: “Thơ là những gì làm bạn khóc, cười, đau khổ, câm lặng, làm cho các móng chân của bạn lấp lánh, làm bạn muốn làm mọi điều hoặc chỉ ngồi yên một chỗ, khiến bạn thấy rằng mình cô độc trong thế giới, rằng hạnh phúc, khổ đau của riêng mình đã được mãi mãi sẻ chia”. Hay nói đơn giản “Thơ là những gì đáng ghi nhớ trong cuộc sống” (William Hazlitt).

Với cảm thức như vậy, trong hơn mười năm qua – tôi chỉ có dịp được đọc vài ba tập thơ mà mình kỳ vọng, ao ước – trong đó có tập “Ngoảnh lại phù dung” của NP phan.

NP phan (còn có bút danh Nhật Phong) làm thơ không nhiều, thầm lặng, có cuộc sống nội tâm sâu lắng và sống hết lòng cho đam mê thơ ca như niềm an ủi không thể thiếu bên đời; hơn là để chia sẻ, phô trương… Tập thơ dày 140 trang, gồm 67 bài thơ – là những ánh nhìn, những khoảnh khắc “ngoảnh lại” soi rọi vào quá khứ, chiếu sáng kỷ niệm, dò tìm từng bước đi của đời sống trong hiện tại và đôi khi dõi về tương lai dầu chỉ là những bóng hình (…) để tự mình xoa dịu, vỗ về, hay tìm ra cho chính mình một hướng nhìn mới, hướng đi mới – tôi gọi đó là “Những ánh nhìn lại sâu thẳm và dào dạt cảm xúc” rất cần thiết cho mỗi đời người:

(…) tháng ba lỡ đi quá đà

          phảng phất mùi hương và chút chạnh lòng êm ả

          mưa nắng trầm ngâm sớm tối

          một ngoảnh lại phù dung (…)”

(Thơ tình tháng ba)

Vẫn “một chút” trong “Một chút duyên cho ta rong ruổi đời”:

một chút thầm hương bỗng thành trộm nhớ

một chút say, một chút tỉnh, chút buồn vui

một chút tình cho ta lao đao lận đận

một chút duyên cho ta ruổi rong đời (…)”

Tôi đã đọc “Ngoảnh lại phù dung” – có bài đọc nhiều lần, nhưng lần nào cũng cảm nhận thêm “cái mới”, bởi thơ NP phan có nhiều tầng lớp cảm xúc, nhiều tư duy lạ, tinh khôi; nhất là những khám phá sáng tạo cần thiết để mỗi dòng thơ đều là những ánh nhìn trong trẻo, lấp lánh, vẹn toàn!

“… ngày ta khóc giữa cội đời

ngỡ ngàng núi thẳm đã rời sông sâu

chỉ còn một chút niềm đau

ru ta ngủ giữa trái sầu nhân sinh”

(Lời ru)

Tôi đã đôi lần nghĩ, thơ NP phan sở dĩ tạo đươc ấn tượng mới, lạ – chính là ngôn ngữ trong thơ anh đã được chưng cất, tinh lọc sáng tạo nhất của bản thân được kinh qua đời sống. Ví dụ:

“… anh thương em về phía biển muôn phần

sóng vẫn vỗ trong anh

biển vẫn xanh về phía ấy

cách núi, ngăn sông nhưng anh nhìn thấy

cánh hải âu xoãi dài trong nắng vàng mật ong

ở quê mình không có mùa đông

anh muốn em gửi cho anh

những cánh thư đầy nắng

để sưởi cho anh, để giữ cho thật nhiều hơi ấm

để lấp phần trống vắng trong anh”

(Có một mùa đông)

Hay nói một cách khác, “Ngoảnh lại phù dung” là những cung bậc âm vang từ một tâm hồn an tĩnh, như nhiên, như hoa đúng giờ phải nở: “Thơ ra đời khi cảm xúc đã tìm thấy suy nghĩ của mình và suy nghĩ thì đã tìm ra lời để diễn đạt” (Robert Frost):

“… em từ độ rất sầu bi

trái tim vô lượng thầm thì nói thưa

một mai mưa gió cho vừa

cũng đành bỏ mặc mộng thừa điêu linh

cám ơn một chút yên bình

cô đơn tận tuyệt chỉ mình tôi hay

em về chút nắng cầm tay

xin đừng để lỡ một ngày có nhau 

(Xin đừng để lỡ)

          Và lắm khi trong ký ức, những vết thương tưởng như nhẹ, tưởng như đã lành lặn, nhưng lại lâu phai mờ, khi tình cờ “Ngoảnh lại

chợt ngoảnh lại, thời gian

đã nhuốm màu dâu bể

cho lòng ta như thể

quay quắt trời bão giông… 

“…chợt ngoảnh lại, trên đầu

cả hai vầng nhật nguyệt

cả thu đông biền biệt

còn đắm giấc hoàng hoa

chợt ngoảnh lại, còn ta

trong hoang mang trường mộng

trên sông dài biển rộng

chút ảo vọng phù sinh

(Ngoảnh lại)

Ngày đầu năm mới được thư thả “nhìn lại” một quãng đời đã qua của người bạn văn thân thiết; được chia sẻ cùng nhau đôi điều chân tình  – quả thật là một niềm hạnh phúc!

  Quê nhà, tháng Giêng Bính Thân

20.2.2016

  MANG VIÊN LONG

 

NHÀ TÙ: CHƯƠNG 5

Qua một đêm thao thức, sáng hôm sau, người ta mở cửa gọi tôi ra làm việc. Tôi phải khai sơ yếu lý lịch với một người công an hồ sơ. Họ và tên, năm sinh, nơi sinh, nơi cư ngụ, nghề nghiệp … của tôi được viết vào năm miếng bìa năm màu. Người công an cho tôi luôn một cái tội, khỏi cần ra tòa án: Phản động! Tên phản động bị mắng trận phủ đầu vì ngồi trước mặt cách mạng thiếu ngay ngắn. Rồi người ta đuổi tôi ra khỏi phòng hồ sơ. Người ta bắt tôi lăn đủ 10 đầu ngón tay lên 5 miếng lý lịch. Người ta chụp tôi 12 kiểu hình đứng, ngồi, nghiên, thẳng, cười, nghiêm… Thiếu một kiểu khóc. Có lẽ họ kiêng số 13! Buổi chiều, tôi làm việc với một người công an miền Nam. Ông ta trên 50 tuổi, tóc hoa râm, đeo kiếng cận thị. Ông ta kéo ghế mời tôi ngồi, niềm nở:
– Anh cứ thoải mái, không việc gì phải sợ hãi. Tội trạng của các anh đã rõ rệt, khỏi cần điều tra. Các anh ở đây, qua bầu cử cả nước rồi về.
Lời ông phù hợp với lời người công an dẫn tôi nộp cho Hai Phận tối hôm qua. Họ sơ chúng tôi phá bầu cử! Tôi hơi yên lòng. Người công an già này cũng ghi sơ yếu lý lịch của tôi và yêu cầu tôi tóm tắt quá trình hoạt động văn chương, báo chí từ khi tôi cầm bút.
– Những gì không cần khai, anh cứ quên đi. Tôi không bắt buộc.
Dĩ nhiên, có nhiều điều tôi không khai, nhất là, vụ viết tuyên ngôn cho ông Đinh Xuân Cầu. Qua 2 tiếng làm việc, người công an đọc lại cho tôi nghe những lời khai của tôi mà ông ta ghi trên giấy bằng bút bic. Tôi rất ngạc nhiên thấy ông ta ghi rất tóm tắt và nhẹ nhàng hơn cả lời tôi khai. Ông ta, thay vì gọi tôi là nhà văn phản động, đã gọi là nhà văn chế độ cũ. Tôi ký tên vào lời khai. Ông ta cũng ký tên. Rồi ông ta nhìn tôi:
– Rất tiếc tôi chưa hề đọc tác phẩm nào của anh và tôi cũng không biết nói chuyện thơ văn để mạn đàm với anh. Anh có gì muốn hỏi tôi không?
– Có.
– Anh cứ hỏi tự nhiên và tự do. Tôi không ghi chép, hết giờ làm việc với anh rồi.
– Tôi đã rất lo lắng trước khi bước vào phòng của anh. Buổi sáng tôi bị nạt nộ. Buổi chiều tôi sợ bị tra tấn. Anh đã không nạt nộ, không tra tấn mà còn tử tế với tôi. Do đó, tôi muốn lợi dụng thêm lòng tốt của anh để xin anh một ân huệ.
– Anh muốn tôi giúp điều gì?
– Cho tôi viết vài dòng và gởi về cho vợ con tôi.
– Được.
Người công an đưa tôi một miếng giấy và cái phong bì.
– Anh mặc sức viết. Viết cho đủ đi, tôi rảnh rỗi.
– Cám ơn anh.
Tôi viết những giòng sau đây cho vợ tôi:
Phương,
Anh hiện ở Sở Công An thành phố tức là Nha Cảnh Sát Đô Thành cũ, đường Trần Hưng Đạo. Anh không bị tra tấn. Em yên tâm. Đừng lo lắng sợ hãi. Cố giữ sức khỏe nuôi con. Các bạn đều ở đây.
Anh,
Long
Tôi đưa miếng giấy cho người công an.
– Viết ngắn thế thôi à?
– Vâng, đủ ý rồi.
– Anh bỏ vô phòng bì dán lại đi. Tôi không đọc, không muốn đọc. Tôi sẽ đem đến tận nhà anh. Viết địa chỉ và tên vợ anh trên phòng bị cho rõ.
Thật sự, tôi không hiểu rõ người công an miền Nam này. Ông ta đóng kịch với tôi chăng? Tôi cũng không mấy tin rằng bức thư ngắn sẽ đến tay vợ tôi. Người công an miền Nam đứng tuổi bỏ bức thư của tôi vào cái cặp da – ông ta không đeo xà cột – rồi nói:
– Tôi sẽ không gặp anh nữa. Anh cho tôi khuyên anh một điều: Có nhiều vị anh hùng không chết ở chiến trường mà bị chết nhục ở cái lỗ chân trâu. Anh chớ dại chết vì cái lỗ chân trâu. Điều nữa: Anh sẽ phải làm tự khai nhiều lần. Vậy khi viết phải sáng suốt mà nhớ những gì mình đã viết.
– Cám ơn anh. Anh có thể cho tôi biết tên anh không?
– Không. Anh cứ hiểu tôi là người Sàigòn, theo cách mạng từ 1945, ngày xưa tôi học ở Chasseloup Laubat. Anh chớ nói điều khuyên của tôi với người khác. Trong tù, tuyệt đối không tin ai. Thôi, anh về phòng nghỉ ngơi. Yên chí, tối nay vợ anh sẽ biết tin anh.
Người công an miền Nam đưa tôi về tận cửa phòng. Ông ta cho tôi gói thuốc Nông Nghiệp. Từ đấy, không bao giờ tôi gặp ông ta. Tôi đã gặp rất nhiều người kháng chiến Nam bộ tập kết ở đề lao Gia Định, ở Chí Hòa thuộc đủ mọi ngành thương nghiệp, kinh tế, công an, bộ đội… nhưng không gặp người công an đã khuyên tôi những điều mà ngay khi chia tay ông ta, tôi không được phép nghi ngờ ông ta. Hẳn nhiên, với người khác, đó là chuyện khó tin. Và, hẳn nhiên, với người khác, chuyện này không nên viết bằng sự thật. Sau những tháng năm quằn quại trong tù, tôi học được điều này: Tôi muốn tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản và không muốn tiêu diệt con người. Chủ nghĩa sẽ bị tiêu diệt nhưng con người cần tồn tại. Con người chỉ là công cụ thù hận của chủ nghĩa. Và, nếu phải tiêu diệt con người thì tiêu diệt con người lãnh tụ cộng sản là đủ. Giết thêm là thừa. Là bít lối về của những người đã trót lỡ theo cộng sản rồi cầm đành hay những người bị cưỡng bức theo cộng sản không đường thoát.
Trong phòng B, tôi quý nhất Dương Nghiễm Mậu. Và tôi chỉ muốn tâm sự với tác giả Địa ngục có thật. Có lần, ngoài đời, Mẫu nói với tôi:
– Nhiều người ghét ông vì ông là Thương Sinh. Nhưng người ta cứ sợ Thương Sinh và nhờ vả Thương Sinh đánh kẻ thù giùm người ta. Và ông mang tiếng. Tôi không nhờ ông, không sợ ông, không ghét ông, không bình phẩm sau lưng ông. Việc của ông, ông cứ làm. Việc của tôi, tôi cứ làm. Chúng ta có niềm tương kính, thế là đủ.
Tôi kể riêng với Mẫu buổi làm việc với người công an miền Nam. Mẫu nói:
– Người miền Nam ghét giáo điều. Trước hay sau thôi, họ sẽ lần lượt ly khai cộng sản hoặc bị cộng sản thanh trừng.
– Ông có tin sau bầu cử mình về không?
– Không. Tôi chuẩn bị nằm tù 12 năm. Chúng ta sẽ còn đi nhiều nhà tù khác nhau.
– Ông có tin cộng sản sẽ xử dụng tài năng của chúng ta không?
– Không.
– Ông đúng. Có một người tự hào mình hiểu cộng sản nhất nước đã quả quyết cộng sản sẽ dùng lại mình.
– Tôi biết người ấy rồi.
– Ông ta xúi tôi viết thêm vài chương người thầy giáo giảng giải về lao động trong Ngựa chứng trong sân trường và thử gửi ra nhà xuất bản Văn Học ở Hà Nội xem sao. Ông ta tin cuốn sách này sạch, chắc chắn, Hà Nội xuất bản.
– Bậy quá.
– Trước những ngày bị bắt, ông ta và Mặc Thu lấy làm mừng rỡ về bài diễn văn đọc trong ngày khai giảng niên học 75-76 của Lê Duẩn. Ông ta bảo chuyên trên hồng rồi, cộng sản Việt Nam thay đổi rồi và ông ta chờ đợi sự thay đổi này từ 20 năm.
– Không tưởng. Sự không tưởng đưa ông ta tự sai lầm này đến sai lầm khác. Đã một lần ông ta nằng nặc ghi đầy đủ câu “giải thưởng văn chương toàn quốc do đích tay tổng thống trao tặng” để cực tả sự vinh quang của ông trong triều đại nhà Ngô. Lại một lần ông ta nằng nặc đòi tặng bản thảo bìa da gáy mạ vàng cho Nguyễn tổng thống. Nhiều người càng già càng tối tăm. Ông ta sợ vắng mặt buổi họp mặt vớ vẩn, phải sai con đem thư tay cho Thế Nguyên “ sẵn sàng đặt dưới sự chi phối của các anh bất cứ lúc nào các anh cần” và xin hội kiến với Lưu Hữu Phước bị khước từ. Cái đau là ông ta cứ nhận ông ta tạo ra thế hệ đàn em văn nghệ miền Nam! Ông ta sẽ còn sai lầm nhiều nữa.
Tôi bị bỏ rơi một tuần lễ. Trong tuần lễ mệt mỏi đó, Hai Phận vĩ đại vào phòng, ngồi vắt vẻo trên cái ghế đẩu, “giáo dục” chúng tôi. Thầy Hai Phận vĩ đại phát cho chúng tôi mỗi người một miếng giấy học trò gấp tư, bắt chúng tôi viết thư về động viên gia đình tích cực tham gia bầu cử. Chúa ngục đọc một câu kiểu mẫu, bảo cứ viết nguyên con. Và chúng tôi, nhà văn, nhà báo, nhà thơ, nhà đạo diễn điện ảnh lừng danh của Sàigòn đã phải ngoan ngoãn viết theo sự đạo diễn tư tưởng của Hai Phận! Nếu không, thư sẽ bị xé bỏ và gia đình mù mịt tin tức. Cũng trong tuần lễ mệt mỏi nầy, vợ tôi đã gởi vào cho tôi cái mền, cái mùng và ít thuốc cảm cúm, tiêu chảy. Bức thư tôi nhờ người công an chuyển đã tới tận tay vợ tôi. Hoàng Anh Tuấn được gọi ra làm việc. Đằng Giao được gọi ra làm việc. Hoàng Anh Tuấn làm việc sáng, chiều liên tục. Công an chấp pháp quay Tuấn như quay con mòng. Tuần về phờ phạc. Anh nói nhỏ với vài người chúng tôi.
– Có một thằng nguy hiểm lắm. Đôi mắt nó liến láu. Tao đang bị nghe đập bàn thì nó vào. Nó bảo tao quên hết mọi chuyện đi, cùng nó ôn kỷ niệm làm thơ ở Paris ngày xưa. Chúng mày biết nó là ai không?
– Không.
– Huỳnh Bá Thanh, bút hiệu Ớt, bí danh Ba Trung, họa sĩ nằm vùng ở nhật báo Điện Tín của nghị sĩ Hồng Sơn Đông.
– Nó à?
– Nó đấy, trung úy công an cộng sản. Nó kịch cọc giỏi lắm, gặp nó thì coi chừng.
Hoàng Anh Tuấn nói buổi tối hôm trước thì sáng hôm sau tôi được gọi ra. Chú công an ngây thơ, 17 tuổi, tên Hồng (người Nam, chắc là con em cách mạng mới được tuyển vào nghề coi ngục, thường cho thuốc là tù nhân) dẫn tôi đến phòng chấp pháp. Tôi gặp đúng nhân vật mà Hoàng Anh Tuấn miêu tả: Họa sĩ Ớt, kẻ đã vẽ hàng trăm bức hí họa thô bỉ nhục mạ “ngụy quân, ngụy quyền”. Nó vẽ chúng ta là chó mèo, chồn cáo. Nó cắt đuôi giúp chúng ta để chúng ta làm người! Dĩ nhiên, Ớt biếm họa trên Sàigòn Giải Phóng. Phụ họa với Ớt là thằng Cung Văn, nằm vùng ở Điện Tín và Việt Nam Thống Tấn Xã, tên thật Nguyễn Văn Hồng, chửi rủa chúng ta tàn tệ trong mục thơ trào phúng của nó. Ba Trung kéo ghế mời tôi rất lịch sự. Trên bàn của nó đã có sẵn một bình trà, 2 cái ly và gói Président. Nó rót nước mời tôi. Tôi thò tay vào túi lấy hai viên Aspro uống vì tôi bị cảm. Ba Trung dằng vội ra.
– Thuốc gì đấy anh Duyên Anh?
– Aspro.
– Tôi sợ anh dùng thuốc khác. Đừng tuyệt vọng anh Duyên Anh!
Khi biết chắc là Aspro, Ba Trung để tôi uống. Nó bóc gói Président, hỏi tôi:
– Anh hút thuốc này hay Pall Mall?
– Tôi quen hút Bastos, bây giờ là Nông Nghiệp.
– Để tôi nhờ người mua Nông Nghiệp. Anh dùng cà phê đen hay sữa?
– Đen
– Anh ngồi ở trong phòng, đừng bước ra cửa, sợ phiền phức. Tôi sẽ trở lại.
Mười lăm phút sau, Ba Trung trở lại. Nó bưng hai ly cà phê. Và móc ở cái túi da của nó ra một gói Nông Nghiệp. Ba Trung và tôi uống cà phê, hút thuốc.
– Tôi mời anh ra hôm nay chưa phải để làm việc mà để mạn đàm trong tình thân mật giữa con người và con người. Anh đừng có ỷ sợ hãi chúng tôi như sợ hãi cảnh sát đặc biệt của Thiệu. Tôi lấy danh dự bảo đảm với anh rằng không một người nào trong các anh bị đánh đập, tra tấn và thủ tiêu, mặc dù, người của chúng tôi đã bị đánh đập, tra tấn và thủ tiêu.
– Cám ơn.
– Anh Duyên Anh! Anh có công nhận ở tù khổ không?
– Vâng, ở tù khổ.
– Chắc chắn là tù khổ. Vậy mà có người bảo ở tù không khổ. Người đó là anh Hoàng Anh Tuấn. Anh xem thư anh Tuấn nhờ tôi gửi cho chị ấy.
Ba Trung cho tôi coi thư của Tuấn. Tôi chỉ liếc đọc câu Ba Trung gạch đỏ dưới hàng: Em đừng lo, anh ở trong này ăn uống cũng sướng lắm. Ba Trung gấp bức thư lại:
– Hoặc anh Tuấn kiêu ngạo, hoặc anh Tuấn mỉa mai, hoặc anh Tuấn tuyên truyền. Cả ba đều không thật lòng anh Tuấn và tôi đã không chuyển thư. Tôi muốn thành khẩn. Anh nghĩ sao?
– Nghĩ gì?
– Về bức thư của anh Tuấn.
– Tôi nghĩ anh Tuấn rất thật. Với một người không lệ thuộc miếng ăn ngon, chỗ nằm êm ấm như anh Tuấn thì ở tù sướng.
– Anh khéo bào chữa cho bạn anh.
– Tôi nói sự thật. Anh Tuấn đã nhường chỗ ngủ tốt cho tôi.
Ba Trung xoay qua chuyện khác.
– Các anh đã nghĩ đài BBC cứu các anh, phải không?
Tôi cười gượng:
– Đài ấy nhằm gì với tôi!
– Không ai cứu nổi các anh, ngoài các anh. Đừng tưởng đầu hàng giai cấp là nhục. Đảng cũng không bắt anh phải phục vụ Đảng. Đảng muốn anh đem tài năng của anh phục vụ đất nước, quê hương. Tài năng là vốn quý của con người, của tổ quốc.
– Nhưng nó cũng là những hệ lụy, những tai họa…
– Tai họa là do anh. Chúng tôi bắt các anh là bảo vệ các anh. Chúng tôi biết bọn phản động sắp quyến rũ các anh vào rừng chống lại chúng tôi. Chiến tranh lại kéo dài và các anh lại chết vô ich…
Đột nhiên Ba Trung hỏi:
– À anh Duyên Anh, anh còn nhớ người con gái năm xưa không?
Tôi sững sờ giây lát.
– Người con gái nào? Tôi quen cả trăm người con gái.
– Người con gái đã tặng anh mẫu bánh mì.
– Tôi nhớ rồi.
Người con gái ấy trong truyện Nhà tôi, ở ngay chương thứ nhất.
– Thuở ấy anh khốn khổ quá nhỉ?
– Phải.
– Bây giờ anh cũng khốn khổ.
– Đúng thế.
– Và Đảng cũng đem tặng anh mẫu bánh mì.
Ba Trung mở túi lôi ra ổ bánh mì Garden (Givral cũ) trịnh trọng trao vào tay tôi. Tôi cầm lấy, ăn một cách ngon lành. Ba Trung diễn kịch giỏi nhưng người soạn kịch vụng về. Năm xưa, năm tôi mới lưu lạc miền Nam, có lần đói quá, tôi đạp xe lên nhà thờ Tin Lành, đường Trần Hưng Đạo, xin tiền vị mục sư ăn cơm dĩa. Vị mục sư từ chối và bảo tôi hãy về tin Chúa. Tôi thất vọng, đạp xe về ngôi chùa ở đường Vườn Chuối xin cơm. Bị mấy cậu sư lườm nguýt đóng cổng vì tưởng tôi diễu. Lại đạp về Ông Tạ, vô nhà thờ thì đã quá trưa, giáo đường im bóng. Tôi chán nản về Lăng Cha Cả, gặp em điếm tặng khúc bánh mì, ly cà phê đá và gói Ruby. Bây giờ, Đảng bỏ tôi vào tù rồi Đảng tặng bánh mì Garden. Đảng tứ ví Đảng với điếm. Điếm vì tình người đích thực. Đảng hoàn toàn giả dối.
– Anh có hay đến nhà thằng Trần Dạ Từ chơi không?
Ba Trung cay cú Trần Dạ Từ ra mặt. Nó, từ đầu đến cuối, gọi Trần Dạ Từ là thằng với nó.
– Thỉnh thoảng.
– Anh có biết nhà nó có bao nhiêu cửa số không?
– Tôi không để ý.
– Mỗi cửa số nhà nó là một kiểu, anh hiểu tại sao không?
– Không.
– Vì nó là con nuôi một anh thầu khoán. Trần Dạ Từ là … vua con nuôi! Con nuôi Cao Văn Luận, con nuôi Thích Trí Thủ 1 … Anh thấy chứ, Huế còn nguyên, còn nguyên kỷ niệm của Nhã Ca và Nguyên Sa, mất mát gì đâu mà chúng nó kêu réo là đổ nát, chết chóc.
Tôi đã gặm quá nửa ổ bánh mì. Rồi tôi liệng phần còn thừa vào sọt rác gần đó. Nhâm nhi ly cà phê, tôi nghe Ba Trung “mạn đàm” hết chuyện nọ xọ sang chuyện kia một cách cố ý.
– Anh Duyên Anh ạ, anh nên suy nghĩ để phục vụ quê hương. Tôi nhấn manh phục vụ quê hương chứ không phục vụ Đảng. Người viết truyện hấp dẫn tuổi thơ như anh không có ở Việt Nam nữa. Đảng biết anh có tài. Chỉ cần anh đừng kiêu ngạo!
Tôi kiêu ngạo? Tôi không hiểu tôi đã kiêu ngạo ở chỗ nào mà Đảng cộng sản Việt Nam quang vinh chụp cái mũ kiêu ngạo lên người tôi. Có lẽ, tôi đã kiêu ngạo mà tôi không biết. Nói tôi kiêu ngạo chưa đúng. Nói tôi không chịu nổi những cảnh chướng tai gai mắt mới đúng. Tôi thường lên tiếng. Và lên tiếng thẳng thắn đến cay độc. Ở bất cứ không gian thời gian nào. Nếu tôi đã tròn như hòn bi, chắc chắn tôi đã yên thân.
– Anh phấn đấu hết kiêu ngạo, mọi việc sẽ tốt đẹp.
“Mọi việc sẽ tốt đẹp”. Ba Trung đã thừa hành lệnh của thượng cấp gợi ý tôi “đầu hàng giai cấp” và “hết kiêu ngạo” là tôi được thả và được tiếp tục nghề nghiệp của tôi. Tôi nhớ, trong một bức thư, người bạn niên thiếu của tôi ở Hà Nội năm 1954, nắm giữ một chức vụ then chốt ngành xuất bản, viết cho tôi: “Cậu nên mở quán bán nước trà ở hè phố mà mưu sinh, nếu đến nỗi thế. Cậu không thể xoay cái rụp 360 độ được, vì cậu sẽ bị chính chúng tôi khinh bỉ, dù cậu có được việc. Hãy nhìn những Hồ Dzếnh, Hoàng Công Khanh, Nguyễn Minh Lang đã ở lại 1954, đã viết và đã chìm vào quên lãng với đầy miệt thị của tất cả. Vả nữa, bọn nhà văn cách mạng và giải phóng sẽ chẳng chịu để cậu thao túng văn chương đâu. Hàng thân vốn lơ láo, Long ạ”!
– Anh cần phấn đấu mọi mặt. Đảng biết anh ra ánh sáng không lóe mắt. Bọn Lý Chánh Trung từ bóng tối ra, dễ chóng mặt. Rồi chúng nó sẽ chóng mặt. Bọn ấy có tài cán gì đâu.
– Tôi sẽ phấn đấu để bớt kiêu ngạo.
Tôi nhận bừa mình đã kiêu ngạo. Ba Trung cười thật ranh mãnh. Bọn nằm vùng chúng nó cáo hơn bốn nằm rừng.
– Anh cần gửi thư về cho chị không?
Suýt nữa tôi buột miệng nói tôi đã gửi rồi. Ba Trung không phải người miền Nam. Nó trôi dạt từ đâu đó vào Nha Trang rồi nằm vùng ở Sàigòn. Nó đóng chốt tại Điện Tín, nó biết tường tận sinh hoạt của chúng tôi. Bọn nằm vùng rất nguy hiểm vì chúng ta khinh bỉ cuộc sống hèn mọn của chúng nó. Chúng ta hào sảng, thích đối diện, đương đầu. Bọn nằm vùng thì như bầy dán, sợ ánh sáng và chỉ dám mò ra kiếm ăn ban đêm. Chúng nó, với những hành tung cổ quái, khó ai đoán nổi. Xuất hiện và hành động ngu xuẩn thì có Vũ Hạnh, Nguyễn Trọng Văn với bầy múa rối trường đại học Văn Khoa. Lầm lũi và đau khổ thì có Thái Bạch. Tưởng như là thái độ của người Thiên Chúa cấp tiến thì có Thế Nguyên. Làm ra vẻ lái báo hám danh thì có Nguyễn Văn Lương, hỗn danh Lương thịt chó. Vân vân … Cộng sản Hà Nội chủ quan và kiêu ngạo đần độn nên mới trao sứ mang thao túng văn học nghệ thuật cho thứ Vũ Hạnh, Thái Bạch, Thế Nguyên. Cả 3 đứa đều vừa sáng tác vừa phê bình. Người ta đã nhìn rõ tư tưởng Mác xít của Vũ Hạnh trong những cuốn sách của nó. Nhưng, phần vì sách của nó bán ế, phần vì nhân vật vô sản của nó đều là những người nghèo bệ rac, xấu xa nên người ta để mặc nó bôi bẩn chủ nghĩa vô sản của nó. Sau này, có dịp đọc cuốn Người mẹ cầm súng, tôi mới hiểu nhân vật vô sản phải là nhân vật của biểu tượng ưu việt của chủ nghĩa. Chị Hậu, chẳng hạn. Khi còn bé, bị bán ở đợ suốt đời cho một gia đình địa chủ. Sáu tuổi, Người mẹ cầm súng đã biết leo lên cây dừa, tụt quần, đái xuống mặt địa chủ cường hào ác bà để đấu tranh giai cấp! Và tôi thấy người ta không thèm đả động gì tới Vũ Hạnh là bởi tác dụng văn chương của nó không có. Nó không lôi cuốn được độc giả. Nếu Vũ Hạnh đừng động tới Lê Xuyên, Chu Tử, nó là thằng vô danh trong quảng đại quần chúng đọc sách báo. Kế hoạch của công sản là tìm đủ mọi cách triệt hạ những người có uy tín ở Saigon. Mục tiêu trước mặt: Văn nghệ sĩ nổi tiếng. Cái mà nó huyễn hoặc quần chúng, nó tạo hậu thuẫn cho nó, nó vỗ về cái đạo đức dân tộc cho nó là nó nghiêm khắc phê bình sự dâm đãng trong tác phẩm Lê Xuyên, Chu Tử. Người quốc gia, bất cứ ai, đều được phép công kích nhà văn miền Nam, trừ cộng sản. Cộng sản không được phép công khai miệt thị nhà văn quốc gia ngay tại Sàigòn trên những nhà báo có giấy phép của nhà cầm quyền chống cộng. Và chúng tôi đã tỏ thái độ với bọn nằm vùng, với cả bọn tiếp tay với bọn nằm vùng là cái Bộ Thông Tin. Vũ Hạnh bị bắt (thời Ngô Đình Diệm, nó đã bị bắt). Anh em văn nghệ … viễn mơ, thứ văn nghệ phòng trà tửu điếm, thứ văn nghệ sợ hãi cái nhãn hiệu “nhà văn chống cộng” 2, đã âm thầm phản đối chúng tôi vụ hạ gục Vũ Hạnh. Trên nhật báo Sống, Chu Tử đánh Vũ Hạnh để bảo vệ mình. Tôi đánh Vũ Hạnh để bênh vực Lê Xuyên. Dạo ấy, tôi còn là thứ ngựa non háo đá. Đến khi nhà văn hóa Thanh Lãng bảo lãnh Vũ Hạnh, cam kết với ông Nguyễn Văn Thiệu rằng Vũ Hạnh không hề là cộng sản thì tôi … ân hận. Và khi tôi cho thực hiện loạt bài phỏng vấn một số nhà văn “Họ đã viết truyện ngắn như thế nào?” tôi đã phỏng vấn Vũ Hạnh, đã có lời lẽ rất tử tế. Đó chỉ là thái độ trung thực, là phản ứng của lương tâm và còn là mời gọi tìm về. Cần lưu ý bạn rằng Vũ Hạnh chưa hề công kích tôi. Vũ Hạnh đã viết cho tôi bức thư thật cảm động. Nó bảo: “tôi chờ đợi thái độ nghệ sĩ của anh từ lâu” 3. Dẫu là sai – buồn thay lại đúng – bọn nằm vùng đã hết nhí nhố khoảng thời gian khá lâu. Phải đợi đến lúc Nguyễn Trọng Văn và lũ phu nhà đòn ở Đaị Học Văn Khoa Sàigòn hô hoán “Phạm Duy đã chết rồi”, bọn chúng mới toan tính vùng dậy. Phạm Duy phổ thơ Apollinaire “Mùa thu chết” có âm mưu chính trị gì đâu, vậy mà Châu Kỳ vội vàng rống lên “Mùa thu chưa chết”, mùa thu cộng sản cướp chính quyền chưa chết! Người văn nghệ quốc gia lại phản ứng. Viên Linh và Chóe nhập cuộc trên Khởi Hành. Tôi viết bài “Phạm Duy, ai giết nổi anh?” trên Tuổi Ngọc. Cùng với đám ma Phạm Duy, trên tạp chí Trình Bày của Thế Nguyên, nhà công giáo cấp tiến, tác giả “Hồi chuông tắt lửa”, khai quật Sáng Tạo, Thế kỷ hai mươi, Văn Nghệ, dẫn chứng cái quá trình chống cộng rồi viễn mơ tuỳ thuộc vào chính sách của Mỹ ở Việt Nam, tùy thuộc vào sự chi tiền của các chế độ rồi kết luận Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Viên Linh, Lý Hoàng Phong, Dương Nghiễm Mậu … là “bọn tiêu bạc giả”. Rõ rệt, bọn văn nghệ nằm vùng không đạt nổi mục đích thao túng văn nghệ thì chúng nó bôi bẩn những người làm văn nghệ có thái độ dứt khoát với cộng sản. Song hành màn toan tính hạ bệ uy tín Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Viên Linh, Dương Nghiễm Mậu, tạp chí Đất Nước của Nguyễn Văn Trung nham nhở nhận họ hàng “Việt cộng, người anh em của tôi!” Bọn nằm vùng thủ đoạn tua tủa. Thất bại vụ Vũ Hạnh đụng độ nhật báo Sống, chúng nó không dám gây sự với những nhà văn viết cho nhiều nhật báo. Thí dụ, chúng nó đã quên tôi. Cuối năm 1974, bọn văn nghệ nhóc nắm được tạp chí Phổ Thông, chúng nó đã hội thảo đề tài “Tại sao không ai dám đụng tới Duyên Anh?”, có nghĩa là chúng nó sắp mần thịt tôi vì biết tôi chỉ còn Tuổi Ngọc và Tuổi Ngọc khó chơi bạo. Chúng nó chưa kịp lập công với Đảng thì Đảng đã vô Sàigòn và Đảng bỏ tù tôi và tài năng nằm vùng của chúng nó vất vào thùng rác lề đường. Bọn nằm vùng hèn mọn và dơ dáy. Nó sẽ không tha báo cáo người công an miền Nam đã chuyển thư tay giùm tôi. Nó sẽ nâng quan điểm và đánh giá đồng chí của nó là “làm mất phẩm chất cách mạng”, là “tư tình với kẻ thù của Đảng và nhân dân”. Vân vân …
Tôi vội giả vờ hỏi:
– Được hả, anh?
Ba Trung nhìn tôi, rất đểu:
– Với anh thì được.
Nó đưa cho tôi tờ giấy và cây bic. Tôi viết vài giòng thăm vợ con và báo tin tôi vẫn khỏe mạnh.
– Bây giờ anh về phòng. Tôi cần nói với anh rằng anh có thể lừa gạt được tôi nhưng anh không thể lừa gạt nổi cách mạng.
Tôi nghĩ đến thân phận của tôi mà ngao ngán. Tôi đã chống cộng sản, đã hô hào “chống cộng sản đến chiều”, đã vì chống cộng mà chống luôn tất cả những bất công, thối nát của những kẻ đòi độc quyền chống cộng sản, chống thêm cái chánh sách trịch thượng nuôi dưỡng lãnh đạo ngu xuẩn bản xứ và đánh bóng chính nghĩa chống cộng sản của người Mỹ. Tôi đã “chống cộng sản tự nguyện” và luôn luôn bị chụp bủa trong cái màng lưới ngộ nhận vô tình và cố ý. Và, bây giờ, một thằng nằm vùng hạng bét cảnh cáo tôi đừng hòng lừa gạt nó. Tôi muốn trả lời nó để đón nhân hậu quả phẫn nộ của nó. Chợt nhớ đến lời tâm tình của người công an miền Nam: Chớ dại chết vì cái lỗ chân trâu, tôi im lặng. Về phòng, tôi nằm dài trên bục xi măng, hồn vướng những ý nghĩ não nề. Tôi gọi Trần Tế Xương và thì thầm với ông tú Vị Xuyên rằng: Ngài ơi, ngài đã làm thơ cho con, vì con đấy, ngài ạ! Và tôi khe khẽ ngâm:
Một việc văn chương thôi đã hỏng
Trăm năm thân thế có ra gì
Có ra gì, còn ra gì cái thân thế của tôi, của chúng tôi? Tôi muốn nói với Dương Nghiễm Mậu, Doãn Quốc Sĩ, Như Phong, Nguyễn Mạnh Côn, Nhã Ca, Mặc Thu, Trần Dạ Từ, Thái Thủy, Lê Xuyên, Hoàng Anh Tuấn ở lại và bị bắt. Tôi cũng muốn nói với Thảo Trường, Thanh Tâm Tuyền, Mai Trung Tĩnh, Văn Quang, Tô Thùy Yên, Đặng Trần Huân, những nhà văn, nhà thơ quân đội ở lại và bị trình diện học tập cải tạo. Ở Sàigòn, trước năm 1975 có bao nhiêu nhà văn, nhà thơ? Vậy mà cộng sản đã sàng sẩy, đãi lọc để chỉ bắt, chỉ còng tay hơn mười người. Hơn mười người đang có mặt tại một địa chị chung của xã hội chủ nghĩa, đang cởi trần, mặc quần xà lỏn, và mồ hôi nhễ nhãi khắp mình mẩy, đầm đìa trên khuôn mặt buồn bã. Mỗi người một tâm sự. Mấy ông ký giả còn thêm nhiều thắc mắc, như ông Đào Xuân Hiệp, thông tín viên tòa án, đã giải nghệ và đã làm “tà loọc” cho chủ nhà hàng Đồng Khánh, Lê Lai, không hiểu tại sao mình bị bắt. Như ông Văn Minh, chủ nhiệm tuần báo Con Ong, nửa chữ không biết viết, không hiểu tại sao mình bị bắt. Như Chóe đã làm tới chức thư ký tuần báo Lao Động Mới, không hiểu tại sao mình bị bắt…
Hôm sau, Ba Trung gọi tôi ra. Vẫn ly cà phê đen, bình trà và gói Nông Nghiệp trên bàn. Nó mở đầu câu chuyện tình cảm.
– Chiều qua, tôi đến nhà anh. Tôi biết chị ấy có nhà, nhưng chị ấy sai bà cụ ra nói chị ấy vắng nhà. Tôi hẹn buổi tối trở lại và trao thư của anh tận tay chị ấy.
Ba Trung thở dài:
– Chị ấy không tin thiện ý của chúng tôi.
Tôi nói:
– Nhà tôi bị khủng hoảng tinh thần.
Nó cười:
– Tuy nhiên, vẫn có lẽ giải sao ở sân nhà anh. Có thể giải được các sao nhưng không tài nào giải được sao vàng. Buổi tối tôi tới, gặp chị ấy, đưa thư của anh. Tôi hỏi chị ấy muốn trả lời anh thì tôi ngồi đợi chị ấy viết. Và chị ấy nói không cần thiết nữa.
– Cám ơn anh.
– Hôm nay anh làm tự khai.
Ba Trung lôi ngăn kéo ra một tập giấy pelure fort do Cogido sản xuất. Nó không quên đặt lên tập giấy 2 cây Bic.
– Tôi viết gì?
– Trước hết là “Sơ yếu lý lich” rồi quá trình đời anh, từ 10 tuổi đến ngày anh bị bắt. Thời gian từ 1954 đến 1963, anh không được quên một chi tiết nào. Đoạn anh theo đảng Duy Dân, anh nhớ viết đầy đủ. Mỗi tờ báo anh cộng tác, mỗi cuốn sách ánh sáng tác, anh phải nói rõ cảm hứng nào anh cộng tác, anh sáng tác. Anh tóm tắt từng cuốn sách.
– Như thế dài lắm.
– Chúng ta có nhiều thì giờ. Anh ngồi một mình ở đây viết cho yên lặng. Cần gì thì anh báo cáo cán bộ trực. Tôi có việc với anh Anh Quân.
Ba Trung bỏ đi. Tôi đốt điếu thuốc lá mới. “Chúng ta có nhiều thời giờ”. Dương Nghiễm Mẫu đã dọn sẵn 12 năm lưu đầy. Có lẽ, Mẫu đúng và người công an miền Nam sai. Tôi chưa quên vụ Nhân Văn giai phẩm. Mới chỉ là những ẩn ức được giải tỏa theo chính sách “sửa sai” của Đảng, theo mỹ từ “trăm hoa đua nở” của Nhà Nước mà Trần Dần, Phùng Quán, Hữu Loan cùng đi lao động cải tạo vài năm rồi bị đuổi khỏi Hội Nhà Văn, bị giải nghệ viết lách, mặc dù, Trần Dần là người có công to với cách mạng, được Hồ Chí Minh đánh giá cao tác phẩm Người người, lớp lớp. Và những Hoàng Cầm, Văn Cao bị đẩy vào trong đói rách, lãng quên. Và những Nguyên Hồng, Nguyễn Tuân bị kiểm điểm tơi tả. Và Nguyễn Hữu Đang, Thụy An là hai người cuối cùng của Nhân Văn giai phẩm được bước ra khỏi trại cải tạo sau 20 năm đầy đọa (1956 – 1976). Vậy thì, chúng tôi, Doãn Quốc Sĩ, Dương Nghiễm Mậu, Nhã Ca, Nguyễn Mạnh Côn, Như Phong, những nhà vẫn chống cộng rõ nét nhất, tích cực nhất, chắc chắn, phải nằm tù ít nhất, cũng phải bằng Nguyễn Hữu Đang. Nhật báo Giải Phóng (một thứ Nhân Dân miền Nam do cục R chủ trương) đã nêu đích danh chúng tôi, gọi chúng tôi là tay sai của CIA gài lại và kết tội chúng tôi “kéo dài chiến tranh”. Nhật báo ấy mỉa mai Doãn Quốc Sĩ: “Nó tự ví nó là viên kim cương và nó xấc láo bảo rằng cộng sản không thể cắn vỡ nó nổi”! Nhật báo ấy cay cú Dương Nghiễm Mậu: “Nó dám so sánh nơi chúng ta giải phóng dân tộc là địa ngục có thật, nhân dân trong xã hội xã hội chủ nghĩa của chúng ta là những kẻ sống đã chết”! Nhật báo ấy nguyền rủa tôi: “Ở chỗ nào nó cũng có thể tìm cách nhục mạ lãnh tụ của chúng ta và chúng ta. Nó dám hỗn láo, mất dạy so sánh tay của Bác không gây cảm xúc bằng tay Con Thúy. Và trong cuốn Gấu Rừng, nó cho con nít đánh nhau với khỉ thì nó nói hạ được vài chiến sĩ vô sản chính thống”!”
Người công an miền Nam đã “lạc đường vào lịch sử”, lạc đường vào kháng chiến, lạc đường tập kết; đã bị phản bội, đã mệt nhoài và đã cam đành trong một guồng mày khốn kiếp, bằng tình cảm của người dân đồng bằng sông Cửu Long, không thích kéo dài thù hận, muốn hòa giải dân tộc thật tình nhưng ông ta nhỏ bé, ông ta làm gì nổi! Cái 10 ngày học tập của “ngụy quân, ngụy quyền” đã thành cái vô hạn kỳ của Đảng. Thì cái sau bầu cử cả nước, chúng tôi sẽ về, đúng với ý nghĩ của người công an miền Nam cũng phải thành cái vô hạn kỳ. Dù sao, tôi vẫn phải ghi nhớ chân lý “Chớ dại chết vì cái lỗ chân trâu” và lời khuyên cần thiết: “Anh sẽ phải làm tự khai nhiều lần. Vậy khi viết phải sáng suốt mà nhớ những gì mình đã viết”.
Tôi đặt bút viết Tự khai… Không, tôi viết những lời buộc tội tôi. Ở chế độ cộng sản, con người không biết mình có tội gì mà vẫn phải tự nhận mình có tội bằng bút tích. Và đó là … tự khai! Một ngày nào đó, khi cờ búa liềm ngạo nghễ bay trên tòa Bạch Ốc, thì ngay cả đồng chí Gus Hall cũng phải làm tự khai, nói chi các mợ Jane Fonda, Elizabeth Hopkins, những anh chị trong tòa án Bertrand Russell và các chú thực hiện Vietnam, a television history. Đừng bao giờ tưởng chống chiến tranh là có công với cộng sản. Cộng sản chỉ thích phản chiến khi họ đã xâm lăng toàn cầu. Hòa bình của chó sói khác hòa bình của người công chính. Người cộng sản chủ chiến, không chủ hòa. Họ ra vẻ hòa bình là vì họ còn yếu. Cộng sản thực sự mạnh về kinh tế, nhân loại sẽ biến thành biển máu. Anh cần nhớ tâm niệm của người Mác xit là tiêu diệt đế quốc tư bản để nắm quyền lực độc tôn của đế quốc cộng sản. Có lẽ, chỉ khi anh phải làm tự khai nhận tội phản chiến, anh mới hiểu lòng dạ cộng sản. Khi ấy, anh chẳng còn dịp than thở với ai, sám hối với ai nữa. Khi ấy đã là đại nạn hồng thủy Liên Xô, tàn bạo, phũ phàng hơn đại nạn hồng thủy. Và hiện thực. Và khi ấy, trước giờ phút rã rượi gục chết trên một trang tự khai nào đó nhận cái vô tội làm cái có tội, anh sẽ chợt hiểu tại sao người Việt Nam bỏ quê hương, xứ sở lưu vong sang nước anh bằng những chiếc thuyền gỗ nhỏ bé lênh đênh trên đại dương để chịu đựng mọi bỏ rơi, hắt hủi, xua đuổi của anh. Anh sẽ thấm thía những phán xét về người tị nạn cộng sản là đê tiện, ích kỷ, hẹp hòi. Nhưng, rốt cuộc, anh vẫn chết trong cô đơn và ngu xuẩn truyền thống. Cái chết của anh lãng nhách. Anh không được phục sinh. Vì anh đã không được để lại cho đời sống kế tiếp một ý nghĩa nào về sự sống hay kinh nghiệm sống của con người. Nếu anh sợ hãi chết dần chết mòn trong cô đơn, nếu anh thèm khát phục sinh, anh nên nhìn rõ cộng sản và khơi dậy từ trái tim anh niềm trắc ẩn đối với nạn nhân cộng sản anh sẽ được cứu rỗi. Tôi nhắc anh: Đã 12 giờ thiếu 15 phút!
“Sơ yếu lý lịch” của tôi dưới 2 chữ “tự khai” to tướng:
Họ và tên: Vũ Mộng Long.
Bút hiệu: Duyên Anh.
Sinh năm: 19-8-1935.
Sinh quán: Thái Bình (Bắc Việt Nam)
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 225 Bis Công Lý, Sàigòn 3.
Quốc tịch Việt Nam.
Dân tộc: Kinh.
Nghề nghiệp: Nhà văn.
Bị bắt ngày: 8-4-1976.
Can tội: Nhà văn chế độ cũ.
Nếu được viết thêm “người bắt”, tôi sẽ viết “người Việt Nam”. Tôi không muốn nói xa xôi, tôi muốn nói thật gần gũi thôi. Từ 30 năm nay (1945-1975), từ ông Hồ Chí Minh đọc Tuyên Ngôn Độc Lập 2-9-1945, ở quê hương yêu dấu của tôi, chỉ thấy người Việt Nam bắt bớ người Việt Nam, bỏ tù người Việt Nam, tra tấn người Việt Nam, đày đọa người Việt Nam, trả thù người Việt Nam. Cộng sản giải phóng chúng tôi, nó không bắt chúng tôi. Tư bản khai phóng tự do, dân chủ cho chúng tôi, nó không bắt chúng tôi. Liên Xô và Mỹ không bắt chúng tôi. Chủ nghĩa của chúng nó bắt chúng tôi. Chúng tôi dại dột quá, nhân danh chủ nghĩa vô sản, chủ nghĩa tư bản và bằng vũ khí của vô sản, tư bản, chúng tôi đâm chém, tàn sát lẫn nhau ròng rã 30 năm. Chúng tôi thủ tiêu nhau, thù hận nhau ròng rã 30 năm. Bằng nhà tù, giây kẽm gai, xiềng xích, còng khóa tư bản và vô sản, chúng tôi nhốt nhau, trói buộc nhau ròng rã 30 năm. Bằng công cụ tra tấn và phương pháp tra tấn tư bản, vô sản, chúng tôi hành hạ nhau. Bằng xương máu, nước mắt và mồ hôi, chúng tôi làm sáng danh chủ nghĩa. Và, hãy cứ hiểu là chiến tranh ý thức hệ hay chiến tranh bẩn thỉu đi, thì sau hòa bình của thứ chiến tranh ấy, sau cuộc phiêu lưu man rợ dẫn dắt bởi Liên Xô và Mỹ, chúng tôi còn lại gì? Chúng tôi còn nguyên vẹn nhà tù, còng khóa nhãn hiệu USA, chúng tôi có thêm trại tập trung, phương pháp tẩy não nhãn hiệu USSR. Trước 1975, Việt Nam Cộng Hoà bắt nhốt Việt Cộng vì chủ nghĩa … tự do, dân chủ. Sau 1975, Việt Cộng bắt nhốt Việt Nam Cộng Hoà vì chủ nghĩa… giải phóng nô lệ. Bạn rõ chưa? Chủ nghĩa đến, chủ nghĩa đi, chủ nghĩa ở lại. Nó đến, nó đi hay nó ở lại, thì người bản xứ vẫn chết thảm, vẫn tù ngục, vẫn xa rời tình tự dân tộc mình. Để ngu dốt, đói khổ vì chủ nghĩa. Mà chủ nghĩa cứ công khai bắt tay hữu nghị, toa rập đầy đọa những nước nhỏ có sự hiện diện của chúng nó. Tình trạng não nề này đã “hiện thực xã hội xã hội chủ nghĩa” ở Việt Nam, ở Nicaragua, ở Mozambique. Sẽ ở El Salvador, ở cùng khắp các xứ sở gọi là thế giới thứ ba chậm tiến! Bạn hãy lo thân phận bạn và số phận dân tộc của bạn đi là vừa. Tôi nhắc bạn: Theo cộng sản thì khổ, theo tư bản thì nhục. Chia đôi đất nước, một nửa theo cộng sản, một nửa theo tư bản thì có kinh nghiệm Việt Nam. Vậy phải làm sao? Đó là suy tư của bạn, tài năng của bạn. Một nhà văn nước nhỏ như tôi không đủ tư cách đề nghị một giải pháp. Trước hết, tôi không phải là nhà tư tưởng chính trị. Sau hết, tôi rất ít học.
Tôi đọc lại cái “sơ yếu lý lich” của tôi. Nghề nghiệp: Nhà văn. Can tôi: Nhà văn chế độ cũ. Không chỉ riêng nhà văn, nhà thơ, nhà báo chế độ cũ bị chế độ mới còng tay tống vào ngục tù đầu. Còn có nhà soạn kịch và đạo diễn điện ảnh. Vào tù hết. Vì anh thuộc sản phẩm của chế độ cũ. Vào tù hết vì anh đã có ảnh hưởng trong quần chúng. Chị Jane Fonda sẽ vào tù vì chị được xếp vào hàng văn nghệ đồi trụy! Các anh nhà báo Mỹ sẽ vào tù vì các anh cộng tác với … tư bản. Ở chế độ cũ, dĩ nhiên, nếu cộng sản nuốt gọn nước Mỹ, người đi trình diễn học tập cái tạo đầu tiên sẽ là ngài Edward Kennedy. Cháu nội vĩ nhân Al Capone sẽ là chủ tịch cả nước Hoa Kỳ. Đồng chí Gus Hall thoát tù thì cũng đến làm … chủ nhiệm trường mù! Tương lai rực rỡ cho anh đấy, kẻ theo voi ăn bã mía ạ!
Ba Trung trở lại. Nó đọc bản tự khai của tôi, cười mỉa:
– Anh xúc động à?
Tôi đáp:
– Không phải xúc động mà là chưa quen tự khai. Chẳng còn gì tẻ nhạt hơn viết về mình một cách trung thực.
– Rồi anh sẽ quen.
– Vâng, nhưng khó.
– Khó cũng phải quen. Cả buổi anh viết xong có cái “sơ yếu lý lịch”. Anh tự hào viết nhanh nhất nước cơ mà.
– Khi tôi thích viết.
– Bây giờ anh không thích?
– Anh muốn tôi thành khẩn hay gian dối?
– Thành khẩn.
– Phải, tôi không thích.
– Chúng tôi thừa hiểu các anh không thích. Xin các anh đừng bắt chúng tôi phải làm các anh thích.
Ba Trung doạ tôi. Một người nhà văn trẻ bị bọn Xuân Diệu, Chế Lan Viên chèn ép không cho nổi tiếng, không thể có sách xuất bản, vào Sàigòn tìm gặp tôi và nói riêng với tôi: Khi công sản muốn giết anh, anh cúi đầu lạy nó, nó vẫn giết. Khi nó không thể giết anh, anh ngẩng mặt lên, nó cũng không dám giết. Khi ấy, nó ném anh vào trại tập trung để bọn cai tù giết anh, rình rập giết anh bằng tội trốn trại vượt ngục, bằng tội vi phạm kỷ luật bị bỏ đói chết dần mòn. Vậy anh nhớ, đừng ngẩng mặt với bọn chăn trâu cắt cỏ. Với bọn cai tù ranh con, anh nên ngoan ngoãn, nên tỏ ra biết điều, nên nhịn miếng ăn ngon biếu nó. Tôi muốn ngẩng mặt. Nhưng, nghĩ lại, Ba Trung không xứng đáng để tôi ngẩng mặt. Tôi không thích chết trong cái lỗ chân trâu.
– Anh bảo chúng ta có nhiều thì giờ.
– Đúng.
– Tôi sẽ nhàn nhã viết
– Đồng ý. Miễn là anh thích.
– Tôi phải thích. Tù nhân phải làm theo ý thích của người giam nhốt nó.
– Thành thật, tôi không muốn anh nhận anh là tù nhân.
– Tôi là gì, thưa anh?
– Anh là nạn nhân của chế độ cũ, là nạn nhân của chính anh.
– Còn anh?
– Tôi là cán bộ của cách mạng!
Thêm nỗi đau đớn nữa của thời đại tôi: Tù nhân không được nhận mình là tù nhân và cai ngục chỉ là cán bộ cách mạng. Tôi về phòng. Buổi chiều, tôi lại ra viết tự khai. Sáng sau, chiều sau. Mãi mãi. Tự khai, tự khai. Tôi đã mô tả cái thủ thuật truy nã linh hồn nầy tường tận và cay đắng trong truyện dài Sỏi đã ngậm ngùi.
Chú thích
Trong Vụ án Hồ Con Rùa, vợ chồng Trần Dạ Từ còn bị Ba Trung miệt thị kỹ hơn.
Hồ Nam đã công khai viết và miệt thị Nguyễn Mạnh Côn là “nhà văn tố cộng” trên nhật báo Quyết Tiến của Hồ Văn Đồng.
Vũ Hạnh, bây giờ thật tội nghiệp. Bạn sẽ đọc loạt bài “Thân phận Vũ Hạnh và những người nằm vùng”. Và bạn sẽ thấm thía nếu bạn đang nằm vùng cho cộng sản ở ngoại quốc.

Memorial Day

Lễ Tưởng Niệm Chiến Sĩ Trận Vong hay Ngày Tưởng Niệm Chiến Sĩ Trận Vong (Memorial Day) là một ngày Lễ Liên Bang (Federal Holiday) tại Hoa Kỳ – vào ngày Thứ Hai cuối cùng trong tháng 5 hằng năm.

Ngày lễ đầu tiên – 30 tháng 5, 1868 – có tên là Decoration Day được tổ chức để tưởng niệm những quân nhân cả hai miền Bắc (Union) và Nam (Confederate) đã tử trận trong Nội Chiến Hoa Kỳ (American Civil War). Sau Thế Chiến Thứ Nhất (World War I), ngày lễ này bắt đầu được mở rộng để tưởng niệm binh sĩ tử nạn trong các cuộc chiến khác.

Từ năm 1971, Lễ Tưởng Niệm Chiến Sĩ Trận Vong chính thức trở thành ngày Lễ Liên Bang ở Hoa Kỳ. Vào ngày này, người Mỹ đi viếng thăm các nghĩa trang và các đài tưởng niệm; lá cờ Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ được để rũ cho đến trưa theo giờ địa phương.

Người Mỹ xem mùa Hè bắt đầu từ Ngày Tưởng Niệm Chiến Sĩ Trận Vong cho đến hết Ngày Lễ Lao Động (Labor Day) vào đầu tháng 9 “.

                

                  God Bless the USA (sáng tác: Lee Greenwood) – tam ca: Texas Tenors (video)

If tomorrow all the things were gone
I worked for all my life
And I’d had to start again
Just my children and my wife

I thank my lucky stars
To be living here today
‘Cause the flag still stands for freedom
And they can’t take that away

And I’m proud to be an American
Where at least I know I’m free
And I won’t forget the ones who died
Who gave that right to me

And I gladly stand up next to you
And defend her still today
‘Cause there ain’t no doubt I love this land
God bless the U.S.A.

From the lakes of Minnesota
To the hills of Tennessee
Across the plains of Texas
From sea to shining to sea

From Detroit down to Houston
And New York to L.A.
Where there’s pride in every American heart
And it’s time we stand and say

And I’m proud to be an American
Where at least I know I’m free
And I won’t forget the ones who died
Who gave that right to me

And I gladly stand up next to you
And defend her still today
‘Cause there ain’t no doubt I love this land
God bless the U.S.A.

NHÀ TÙ: CHƯƠNG 4

Không phải tôi thích ở lại làm chứng nhân lịch sử. Tôi đã thành khẩn nói lên điều này trong lời tựa của hồi ký Nhà tù. Trung tuần tháng 4 năm 1975,…Hoàng Hải Thủy báo tin cho tôi biết là người Mỹ sẽ di tản toàn bộ khỏi Sàigòn và muốn đưa một số nhà văn, chủ bút, chủ nhiệm rời Việt nam để tránh sự trả thù cộng sản. Bấy giờ, Hoàng Hải Thủy làm phụ tá chủ bút tạp chí Cảm Thông của Phòng Thông Tin Mỹ trực thuộc Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ. Như những nhà văn khác, tôi đã đến Usis đường Lê Quý Đôn ghi tên. Tôi đã gặp Phạm Kim Vinh, Đỗ Quý Toàn, Đỗ Ngọc Yến, Nguyễn Viết Khánh, Doãn Quốc Sĩ … ở một nơi mà nếu không có 30-4-75 thì tôi không bao giờ thèm đặt chân tới. Giữa tôi và Usis có một mối thù. Mối thù nhẹ: Hồi nó còn là Juspao chễm chệ tại đường Nguyễn Huệ, Mark Crooker, viên chức Mỹ loại xịa, đọc nhật báo Sống, thấy tôi không mấy thiện cảm với chánh sách Mỹ ở Việt Nam, đã làm quen với tôi. Anh ta khuyên tôi nên Mỹ du ba tháng dưới sự bảo trợ của chính phủ Mỹ. Tôi nói tiếng Mỹ tôi nghèo lắm. Anh ta bảo không cần. Anh ta “tét” tôi vớ vẩn rồi đem hồ sơ đến tận báo Sống chỉ dẫn cách điền vào những ô cần thiết. Nửa tháng sau, Mark Crooker tìm tôi, buồn bã: “Tôi rất ân hận. Mọi chuyện đã kể như xong, bất ngờ boss của tôi đổi ý. Một nhân viên Việt Nam báo cáo với ông ấy rằng Duyên Anh chống Mỹ quá khích. Ông ấy sợ trách nhiệm.” Tôi cười: “Thế càng tốt, sợ đi Mỹ về, tôi chửi bọn quan lại Mỹ ở Việt Nam kỹ hơn vì Mỹ ở Mỹ khác Mỹ ở Sàigòn”. Mark Crooker cười theo. Chúng tôi trở thành bạn. Crooker nói tiếng Việt rất giỏi và khoái tiếu lâm Việt Nam. Hôm anh hết nhiệm kỳ, anh có mời tôi dự tiệc từ giã Việt Nam. Tôi không đi. Mối thù nặng: Lũ cầy cáo ở Usis đã xúi chủ Mỹ áp lực với Bộ Thông Tin cấm tôi viết phóng sự Tiền Mẽo Sến Việt trên báo Sống. Đinh Trình Chính cấm luôn cả bút hiệu Thương Sinh của tôi. Thế mà tôi lại phải vát mặt đến Usis ghi tên vô danh sách … di tản. Rốt cuộc, Alan Carter, sứ thần và giám đốc Usis đã bỏ rơi chúng tôi, mặc dù, trong bài diễn vẫn rửa tay chạy tội, Ford đã hứa bằng mọi cách phải di tản những nhà văn, chủ bút, chủ nhiệm càng sớm càng tốt.
Một người duy nhất, trước khi bỏ con chạy thục mạng, còn gọi dây nói cảnh giác tôi: “Tìm đường khác mà cút, đừng tin bọn Mỹ, chúng nó chó đẻ lắm”. Người ấy là Phạm Duy. Tôi thực sự yêu Phạm Duy từ phút báo tử đó. “Bon Mỹ chó đẻ lắm!” Tôi bỗng nhớ người Mỹ Robert Jones với cái danh thiếp in bằng Hán Viết câu “tứ hải giai huynh đệ” đã thuộc cả tiểu sử tôi, đã hứa cho tôi biết tin tức để tôi chuẩn bị đào tẩu và đã cút mất khỏi căn nhà số 35 đường Duy Tân. Alan Carter cũng là thứ người Mỹ đó. Ông ta cam kết với Nguyễn Viết Khánh. Rằng, danh sách nhà văn, chủ bút, chủ nhiệm được bảo vệ bí mật. Thế mà nó lại nằm trong tay người công an chấp pháp bí danh Hai Nghiêm! Nói người Mỹ ở Việt Nam chó đẻ thì hơi quá đáng. Nói họ vô tư cách, có lẽ, chính xác hơn. Còn chính sách chạy làng của Mỹ cần viết một pho xú thư cho nhân loại nghiền ngẫm. Người Pháp năm 1954 và người Mỹ năm 1975 là hai hình ảnh phải so sánh. Người Pháp thực sự bại trận ở Việt Nam, một phần họ thiếu cái khôn ngoan của người Anh, một phần tại họ bị người Mỹ phản phúc. Vài phi vụ B26 là giải quyết xong Điện Biên phủ, là lịch sử đổi khác. Người Mỹ từ chối. Người Mỹ buộc tay người Pháp lại như, trước khi cuốn gói, họ đã từ chối viện trợ cho Sàigòn, họ đã cúp bom đạn, chiến cụ. Pháo binh của chúng ta hứng hàng ngàn quả đại bác mà chỉ phản pháo vài chục quả! Tuy bại trận đau đớn, nhuc nhã và đang nghèo rớt mùng tôi, người Pháp vẫn đóng góp tích cực vào công cuộc di cư năm 1954. Những chuyện bay Hà Nội – Sàigòn đều đặn, tốt đẹp và lịch sự. Dĩ nhiên, bên cạnh tàu Mỹ, tàu Pháp đã biến thành con nhà nghèo, tiều tụy. Người Pháp ở Việt Nam hơn 100 năm rồi. Dân tộc Việt Nam cũng đã chán họ, nhất là trong nghịch cảnh chiến bại, xác xơ. Dẫu người Pháp luôn luôn chứng tỏ họ thuộc về một dân tộc văn minh, hào quang văn hóa của họ ngất trời; luôn luôn chứng tỏ là những con người có liêm sỉ, có trách nhiệm – trách nhiệm của người thua trận – người Việt Nam vẫn muốn xa họ để xích gần người Mỹ. Lý do thật giản dị và chua xót: Người Mỹ giàu. Và trên tàu Mỹ, những người di cư được chiêu đãi quá sức tưởng tượng. Tha hồ ăn và tự do đái ỉa! Thủy thủ Mỹ vui vẻ quét dọn.
Đã biến mất cái cử chỉ hào hoa của công tử Mỹ những ngày trước 30-4-1975. Người Mỹ hù “biển máu”, tạo ra “pa-ních” để trốn trách nhiệm. Đừng ngây thơ tưởng ông đại sứ Martin không biết gì đến nỗi phút chót thủy quân lục chiến Mỹ phải bảo vệ sự cuốn gói của ông ta. Ở phi trường Tân Sơn Nhất, hiện thực nhất là ở Tòa Đại Sứ Mỹ, lính thủy đánh bộ, tay trần, áo giáp, kè kè M-16 gắn lưỡi lê đã giáng những báng súng tàn bạo và đạp những cú thô bỉ xuống, vào thân thể những người Việt Nam sợ hãi “biển máu” cần trốn tránh. Vết ô nhục hẳn lên lương tri của dân tộc Hoa Kỳ ở cái tòa nhà vĩ đại và khốn kiếp mang tên Tòa Đại Sứ Mỹ. Nó cứ ở phi trường Tân Sơn Nhất đi. Không sao. Và chúng ta, có thể, chỉ trách cứ bọn lính bay mất dạy, vô giáo dục. Và, vì thân hữu ngầm với cộng sản, chính phủ Mỹ, có thể, dùng chữ của Việt Cộng để thanh minh rằng, đó chỉ là hiện tượng, không bao giờ là bản chất của cái dân tộc tạp nham có những vĩ nhân như Washington, Lincoln và … Al Capone! Những người Mỹ giáng báng súng xuống người Việt Nam đồng minh ở ngay Tòa Đại Sứ Mỹ những ngày kinh hoàng nhất thì, quả thật, dân tộc Mỹ đã ỉa lên cái chính nghĩa khai phóng tự do, dân chủ của họ cho các nước nhỏ bé trên thế giới. Vô số tướng lãnh, nghị sĩ, dân biểu đã leo tường vào sân Toà Đại Sứ Mỹ buổi chiều 29-4-1975, đã bị cư xử như súc vật. Và, hiện nay, vẫn ôm lấy chân Mỹ mà hít hà, mà mơ ngày về giải phóng vinh quang! Lý tưởng truyền bá tự do, dân chủ của Mỹ đấy. Trách nhiệm của họ đấy! Người Mỹ chỉ đáng xách dép cho người Pháp. Mãi đến 29-4-1975, người Việt Nam mới có dịp so sánh văn hóa Mỹ và văn hóa Pháp ở di tản 1975 và di cư 1954.
Một số người ngây thơ, trong đó có tôi, cứ đinh ninh rằng, người Mỹ sẽ là Noé của hồng thủy Việt Nam. Họ sẽ dành vài con tàu để cho những người Việt Nam lương thiện trở về giải thoát quê hương mình. Tất cả đã lầm. Công lao di tản của Mỹ ở Tân Sơn Nhất, ở Tòa Đại Sứ Mỹ chỉ nhằm phục vụ me Mỹ, bọn tướng tá đào ngũ trước lịnh đầu hàng, bọn làm giàu trong chiến tranh, bọn thư lại tham nhũng, bọn nghị sĩ, dân biểu hèn mọn và bọn gian manh. Những người lương thiện phải tìm phương tiện riêng, phải vượt biên và phải ở lại chịu cảnh ngục tù. Và rồi, một ông dân biểu thuộc tiểu bang California đã nao núng thẫn thờ: “Rác rưởi trôi giạt đến từ bên kia Thái Bình Dương!” Và rồi, mới nhất, tiêu biểu nhất, báo chí Mỹ “nghi” người hùng Nguyễn Cao Kỳ là trùm Mafia … mít! Cái cơ hội ngàn năm một thuở để loại bỏ lũ vô lại chính trường của dân tộc Việt Nam đã mất. Chúng ta lại thấy bọn vô lại hiện nguyên hình. Ở Mỹ. Để chờ được làm đầy tớ Mỹ. Và những người lương thiện, vì liêm sỉ, đành im hơi lặng tiếng trong cái thế tân xuân thu … phục quốc!
Bị bỏ rơi, 99% văn nghệ sĩ chống cộng ở lại. Họ đã là những nhà văn trực diện chống cộng sản; can đảm chống bất công, áp bức, bóc lột, chà đạp nhân quyền của bọn thống trị Sàigòn; hiên ngang chống chính sách nước lớn trịch thượng của Mỹ, bị nằm lại chờ đợi sự trừng phạt của cộng sản.
Bây giờ trở về nỗi sợ hãi của tôi. Một buổi tối đầu tháng 11 năm 1975, tôi đang ngồi trên vỉa hè trước cổng nhà mình, gặm bánh mi rất thảm não thì ông Đinh Xuân Cầu tới. Một thanh niên chở ông ta bằng Honda. Thanh niên thả ông Cấu xuống rồi lái xe sang bên kia đường chờ đợi. Ông ta hỏi:
– Tôi có chuyện muốn nói với ông, được không?
– Được. Ông cứ nói đi.
– Chuyện khá dài, nếu ông đồng ý, hai hôm nữa tôi cho người đến đón ông.
– Chuyện gì?
– Xuất ngoại.
Vượt biên. Tôi đang cần vượt biên. Nghe chuyện vượt biên, mắt tôi sáng lên.
– Đồng ý.
– Vậy tôi về. Người của tôi sẽ đến đón ông ngày mốt, buổi chiều. Họ sẽ nói “ông Hoàng mời ông”. Ông nhớ nhé, ông Hoàng.
– Tôi nhớ.
Ông Đinh Xuân Cầu băng sang bên kia đường. Honda cõng ông ta mất hút. Tôi quen ông Cầu hồi tôi còn ở cư xá Chú Mạnh Trinh, Phú Nhuận. Ông ta cùng chung một cư xá với tôi. Trước đó, tôi chỉ biết ông Đinh Xuân Cầu là tác giả cuốn Bên kia Bến Hải, cuốn sách tố cáo tội ác cộng sản thủ tiêu các chiến sĩ quốc gia đầu tiên ở miền Nam, sau vụ di cư 1954. Tôi biết thêm ông Cầu là chủ tịch Hội Nạn Nhân Công Sản và tác giả kịch sản Đôi Kính. Có lần, anh Hoàng Văn Đức bảo tôi: “Đinh Xuân Cầu là người chống cộng cuối cùng của Đại Việt”. Tôi đã viết câu nầy trên nhật báo Sống. Buổi chiều, tôi không nhớ rõ ngày tháng, ông Cầu qua nhà tôi, cho tôi mượn cuốn sách của ông viết bằng tiếng Anh do Rank Corporation, New York xuất bản khổ lớn, in roneo. Bấy giờ tôi bận viết, cũng chẳng đủ tiếng Anh để đọc, chỉ lật qua trang đầu và biết đó là một tác phẩm chiến lược. Hai hôm sau, ông Cầu sang đòi lại. Bẵng đi mấy năm, tôi mới gặp lại ông, quá vội vàng và đầy bí mật. Người của ông Cầu rất đúng hẹn. Anh ta chở tôi xuống Xóm Mới, Gò Vấp. Lần đầu tiên tôi đến Xóm Mới, nơi cung cấp “quần chúng” biểu tình hoan hô, đả đảo và đón rước quốc khách cho các chế độ Sàigòn. Căn nhà ông Đinh Xuân Cầu, bí danh Hoàng, tạm ngụ là một căn nhà lá hiu quạnh. Sau tuần trà, ông Cầu vào chuyện:
– Tôi đã viết xong cuốn Chiến tranh chống chiến tranh nhân dân của cộng sản và phác họa một chủ thuyết mới. Tôi muốn ông đọc và san nhuận văn chương giùm tôi.
– Bằng tiếng Việt?
– Vâng, bằng tiếng Việt.
– Được.
– Tôi muốn mời ông tham gia tổ chức chống cộng của chúng tôi.
– Của các ông?
– Vâng, có linh mục Trần Hữu Thanh, anh Nguyễn Tiến Hỷ, nhiều người khác. Tôi đang đợi một nhân vật để giới thiệu ông.
– Ai đó?
– Trương Mộng Hoàng.
– Bao giờ ông ta tới?
– Cuối tuần. Ông ta đi Mỹ 2 tuần trước, đã hẹn với tôi về cuối tuần này.
– Ở Mỹ về?
– Vâng.
– Xin lỗi ông tí nhé, ông Cầu. Ông có mắc bệnh … mộng du không?
– Tôi nói chuyện nghiêm chỉnh. Có lẽ, phải bắt đầu bằng một tóm tắt quãng đời dĩ vãng của tôi…
Đinh Xuân Cầu người Việt, dân tộc Thổ. Từ bé, ông học ở trường Albert Sarraut vì là con địa chủ. Đậu tú tài toàn phần, ông không lên đại học mà mon men vào con đường chính trị. Ông là đàn em của Nguyễn Văn Hướng tự Mười Hướng, Xứ Ủy Đại Việt miền Nam, sau này là Tổng Thư Ký Phủ Tổng Thống, triều đại Nguyễn Văn Thiệu, và đồng chí của Phan Văn Trâm. Hai mươi bốn tuổi, tràn ngập lý tưởng và ngây thơ như đàn anh Nguyên Văn Hướng, ông Cầu không thích người Pháp chi phối cuộc chiến đấu chống cộng sản. Ông bất mãn ngụy quyền thời ấy và muốn đi tìm những người Việt Nam chân chính chống cộng sản, đồng thời, chống luôn cả Pháp và ngụy quyền Bảo Đại. Ba ông Hướng, Trâm, Cầu gặp Hoàng Đạo (không phải Hoàng Đạo, Nguyễn Tường Long). Thảo luận, họp bàn hợp lý, Hoàng Đạo dẫn Xứ Ủy Đại Việt miền Nam hoạt động ở Hà Nội và Trâm, Cầu ra ngoài bưng tìm những người Việt Nam chân chính chống cộng cứu nước (Thời Nguyễn Hữu Trí làm Thủ Hiến Bắc Phần, Đại Việt miền Nam ra Bắc thao túng chính trường, Nguyễn Ngọc Tân tự Phạm Thái, tự Bấy Bốp đã đặt văn phòng của mình ở căn nhà Hồ Chí Minh ngồi viết Tuyên Ngôn Độc Lập, phố Hàng Quạt, Hà Nội). Ra ngoài bưng, Hoàng Đạo hạ lịnh trói chặt 3 vị đảng viên Đại Việt. Y nói thẳng y là gián điệp cộng sản. Người đứng tuổi hẳn còn nhớ cái gọi là “Vụ án Hoàng Đạo”. Ba ông Đại Việt bị đưa vào Thanh Hoá, nhốt tại Trai Lý Bá Sơ. Ông Cầu phải gánh nước đái tưới rau hàng ngày. Trại giam của ông có một nữ cai ngục, người Hà Nội, lạc đường vào kháng chiến và công tác giữa rừng già. Công tử Đinh Xuân cầu cao ráo, đẹp trai, trí thức. Nữ cai ngục đem lòng yêu thương. Chúa ngục Lý Bá Sơ ghen tức, đề nghị đổi Đinh Xuân Cầu ra một trai giam miền Bắc, gần sông Đà. Hai ông Nguyễn Văn Hướng và Phan Văn Trâm ở lại Lý Ba Sơ và sau này được thả ra tại đây. Đinh Xuân Cầu đã lợi dụng một đêm mưa bão, trốn trại bằng một chiếc bè nứa mùa nước lũ. Nước cuốn ông ta đi. Sau những hãi hùng tưởng đã chết, bè của ông dạt vào một đồn lính Pháp. Ông khai báo sự thực với Trưởng đồn. Ngày ông được cứu sống đúng là ngày báo chí loan tin Malenkov thanh trừng Béria và tay chân của trùm mật vụ Liên Xô. Nếu tôi nhớ đúng thì vào năm 1953. Ông Cầu được giải về Phòng Nhì ở Hà Nội. Ông được trả tự do nhanh chóng. Vũ Ngọc Các, chủ nhiệm nhật báo Dân Chủ đã định làm lớn vụ Đinh Xuân Cầu. Nhưng các đồng chí già sợ Đinh Xuân Cầu nổi hơn mình đã ngăn cản Vũ Ngọc Các, đã nói xấu người chiến sĩ quốc gia ấy và vụ vượt ngục của Đinh Xuân Cầu chìm lắng.
Hiệp định Paris chia đôi đất nước. Đinh Xuân Cầu vào Sàigòn, cho xuất bản cuốn Bên kia Bến Hải. Rồi ông làm chủ tịch Hội Nạn Nhân Cộng Sản. Rồi ông bị chế độ Ngô Đình Diệm bắt nhốt. Rồi ông tung vốn liếng đi đào vàng ở Đà Lạt vì tin chắc Nhật Bản đã chôn dấu vàng ở vùng này. Vàng chưa thấy, vốn sắp cạn thì Đỗ Cao Trí gây khó khăn. Rồi ông viết kịch. Rồi ông mưu sinh bằng cách đi làm thuê cho Mỹ. Toà Đại Sứ Mỹ mướn cho ông một phòng ở khách sạn Majestic. Công việc của ông là mỗi sáng gọi dây nói cho Bộ Chiêu Hồi xem có anh hồi chánh viên nào về từ R không. Những hồi chánh viên R, thật hay giả, đều không chịu khai báo chút xíu tài liệu nào về cục R.
– Tôi sắp chán việc này thì một hôm Bộ Chiêu Hồi đẩy một thằng ở R về sang tôi. Tôi biết tụi cộng sản kín miệng lắm. Tụi Mỹ không cho cảnh sát đặc biệt khai thác hồi chánh viên, sợ cảnh sát tra tấn. Tôi, thay vì hỏi, đưa thằng này đi ăn chơi dài dài. Tiền của Mỹ mà. Tự nhiên tôi gặp may.
– Rồi sao?
– Tụi Mỹ bắt tôi đưa tài liệu đã khai thác cho chúng nó. Tôi không đưa.
– Rồi sao?
– Một thằng đại tá già đến dọa nạt tôi rồi hỏi lý do tại sao tôi cố giữ tài liệu. Tôi trả lời tôi có mối đại thù với cộng sản, tôi muốn đích thân tiêu diệt cục R. Nó vỗ vai tôi: Mày già rồi, Cầu ạ, mày chống CIA không lợi cho sự nghiệp chính trị của mày đâu. Tao khuyên mày nộp cho tui nó. Tôi bằng lòng nộp. Trước khi nộp, tôi đưa cho con bồ của tôi làm ở Hải Quân photocopie thêm 2 tập. Tôi đem giao Nguyễn Tiến Hỷ một tập, nhờ đem gấp trao tận tay Nguyễn Văn Thiệu, một tập tôi giữ. CIA biết. Nó đuổi sở tôi. Sau nầy cục R bị tan nát, Phạm Hùng chạy bán sống bán chết và Bộ Tư Lệnh của R đặt mãi ở Vinh.
Đinh Xuân Cầu tan mộng chính trị vì đã bị ghi trong số đen của CIA. Ông ta lấy cô vợ bé trẻ măng, xinh đẹp, người Long An, cháu của một kép cải lương già, bố vợ Hữu Phước. Rồi ông ta làm nghề thầu khoán.
– Tôi có những dịch vụ với Tòa Đại Sứ Mỹ. Chính ở Tòa Đại Sứ, tôi gặp Trương Mộng Hoàng. Tên thật của ông ta là Trương Phiên, mục sư, người Quảng Ngãi. Thoạt đầu, tôi ghét Trương Phiên lắm, tôi không thể tưởng tượng mục sư mà đi thầu khoán. Trương Phiên giao dịch mật thiết với văn phòng chính trị của Tòa Đại Sứ. Sau 30-4, ông ta đi tìm tôi.
– Để làm gì?
– Làm lại. Ông ta bảo nếu Linh mục Trần Hữu Thanh và một số chính khách không chết nhát thì lịch sử có thể thay đổi. Lịch sử có thể thay đổi bằng một cú chơi bạo cuối cùng. Những người chống cộng quyết liệt đã vận động xong một sự hợp tác với một tiểu đoàn nhảy dù. Tiểu đoàn Dù sẽ bao vây Toà Đại Sứ Mỹ, sẽ nhắm trực thăng mà hạ. Trực thăng không đáp xuống được để cứu ông Đại Sứ thì thủy quân lục chiến phải đổ bộ vào cứu. Chúng ta lợi dụng cơ hội này hô hào chiến đấu tiếp tục vì Mỹ can thiệp thì quân đội sẽ lên tỉnh thần. Kế hoạch định vào sáng 30-4. Bất ngờ, sáng 30-4, Dương Văn Minh ban lịnh giới nghiêm. Quý vị đầu não của kế hoạch nản lòng, nằm nhà thở dài. Thế là lịch sử sang trang!
– Bây giờ làm lại cách nào?
– Lập Nội Các ngay tại Sàigòn và lưu vong ngày sau khi họp báo. Đại diện các thông tấn xã và bảo chí quốc tế còn ở Sàigòn khá đông.
– Mời lối nào?
– Đã có người lo liệu.
– Lưu vong cách nào?
– Tôi đợi ông Trương Mộng Hoàng về nước vì câu hỏi của ông.
– Ông Cầu ạ, ông đã ngây thơ tin Hoàng Đạo, đã ngây thơ đi tìm vàng, ông lại ngây thơ tin Trương Phiên.
– Tôi tin Trương Phiên vì tôi biết đích xác Trương Phiên là gián điệp. Với một gián điệp, sự đi lại giữa Mỹ và Việt Nam không khó đâu. Biển mênh mông và phương tiện của gián điệp vô kể.
– Kể như ông đúng. Nhưng tại sao ông tin tôi? Ông không nghĩ rằng tôi có thể bị bắt lúc nầy ư? Ông không nghĩ rằng tôi đi tố cáo ông là tôi lập công chuộc tội à?
– Tác phẩm của ông không cho phép ông tố cáo ai cả.
– Cám ơn ông.
– Xưa có một lần người bạn của tôi tưởng ra chấp chánh, tôi đã nghĩ đến ông và định tiến cử ông giúp anh ta công việc tuyên truyền, mặc dù tôi biết ông ghê tởm chính trị. Tôi đã đọc cuốn Ảo vọng tuổi trẻ của ông.
– Và nay?
– Đích thân tôi mời ông làm Bộ trưởng Thanh Niên và Tuyên Truyền, ông nghĩ sao?
– Tôi nghĩ rằng ông nên mời người khác.
– Ai?
– Thiếu gì nhà văn lỗi lạc hơn tôi.
– Rất tiếc, họ không hiểu tâm lý tuổi trẻ, họ không được tuổi trẻ ái mộ bằng ông. Và, họ thiếu lửa.
– Ông Cầu, thế này nhé, làm Bộ Trưởng ở cái giai đoạn này thì không ngu tức là điên. Tôi không ngu, không điên, nhưng ưa bốc đồng. Rất tiếc chưa đến cơn bốc đồng của tôi. Vậy tôi sẽ đọc cuốn sách của ông trước, rồi trả lời ông mọi việc sau.
Tôi đem bản thảo cuốn Chiến tranh chống chiến tranh nhân dân của công sản của Đinh Xuân Cầu về đọc. Tôi rất đồng ý với nhà văn Erkine Caldwell: “Có hai hạng người: Hạng viết và hạng đọc”. Tôi đã viết, tôi không đọc nữa. Tôi đành chịu tối tăm, ngu dốt vậy. Bù đắp, những gì tôi viết hoàn toàn của tôi tự suy nghĩ riêng tư, tôi chẳng ảnh hưởng ai hết. Về tư tưởng cũng như về văn thể. Ở mấy trang tựa, ông Đinh Xuân Cầu nói lên những lời thành khẩn tạ lỗi đồng bào vì ông đã không chịu hoàn thành cuốn sách cách đây 10 năm. Ông can đảm nhận ông đã đóng góp trách nhiệm đánh mất Sàigòn. Theo ông, cuộc chiến đấu tiêu diệt cộng sản chưa chấm dứt, ngay tại quốc nội, cả miền Bắc lẫn miền Nam. Do đó, những suy tư của ông, những kinh nghiệm của ông vẫn còn cần thiết. Trong một chương nói về lịch sử chiến tranh nhân dân, ông Cầu đề cập tới Mao Trach Động và Tôn Tử Binh Pháp. Ông Cầu cho rằng, nhờ thất bại về nằm ở Diên An mà Mao Trạch Đông mới thấu triệt Tôn Vũ và sáng tạo chiến tranh nhân dân. Ông quả quyết Mao Trạch Đông là người duy nhất nắm linh hồn của binh pháp Tôn Vũ. Một chương khác, ông bàn về nghệ thuật tận diệt chi bộ xã của cộng sản. Vẫn theo ông, then chốt của chiến tranh nhân dân nằm ở các chi bộ xã. Tận diệt chi bộ xã là băng hoại chủ lực quân của cộng sản cả chiến thuật lẫn chiến lược. Tóm lại, cuốn sách của ông rất hữu ích cho bất cứ dân tộc nào tương tự hoàn cảnh Việt Nam. El Salvador chẳng hạn. Cuốn sách của ông Cầu lên án nặng nề những kẻ thi hành “Kế Hoạch Phượng Hoàng”. Bọn cán bộ Phượng Hoàng đã tàn sát nông dân vô tội, đã hãm hiếp, cướp bóc và dồn thanh niên nông thôn lên núi, vô rừng theo cộng sản. Rất nhiều vấn đề thuộc phạm vi chiến lược trong cuốn sách … cuối mùa của Đinh Xuân Cầu. Tôi đọc, tôi phục và tôi bùi ngùi. Một chút tội nghiệp ông Cầu. Chẳng thà nó cuối mùa, chứ nó đầu mùa, bọn tướng lãnh ngu dốt cũng đâu có đọc, dù họ lãnh đạo đất nước. Người hùng Nguyễn Cao Kỳ chỉ mê “cô gái Đồ Long”, say mê đọc trên máy bay cả những khi kinh lý thăm dân cho biết sự tình. Người hùng Nguyễn Văn Thiệu thì mê “Căn nhà ngoại ô!” Nhà văn hóa Đỗ Văn Rỡ biết mỗi môn hát bộ. Vân vân …
Mấy hôm sau, ông Cầu lại cho người tìm tôi. Lần này, ở một căn nhà khác tại Xóm Mới, tôi gặp ba vị linh mục 1 mà tôi biết tiếng và tiếng tăm của họ không làm dơ áo thánh. Ba vị linh mục nói với tôi về sự cần thiết của một đoàn kết chí tình, thành khẩn, cấp bách giữa Thiên Chúa giáo, Phật giáo, Cao Đài, Hòa Hảo, Tin Lành … Rõ ràng, ông Đinh Xuân Cầu muốn dùng đòn của nhà Mộ Dung ở Cô Tô. Ba mươi năm trước, cộng sản có liên tôn chống Pháp. Ba mươi năm sau, chúng ta có liên tôn chống cộng. Lần lượt, tôi gặp các nhà sư thuộc hệ phái Ấn Quang và Việt Nam Quốc Tự. Rồi các vị mục sư và các chức sắc Hòa Hảo, Cao Đài. Những hào mục ở Xóm Mới đã làm tôi cảm động. Họ yêu cầu tôi ra “giúp nước”! Ra giúp nước, với tôi, sao mà bẽ bàng thế! Bình sinh tôi lười biếng, lêu lổng, học hành ngô chẳng ra ngô, khoai chẳng ra khoai. Lớn lên, làm kẻ phiêu lãng, lê đế giày mòn trên vỉa hè đời. Rồi biến thành thằng kiêu sĩ ngu đần, coi mọi việc trọng đại của thế gian là trò đùa, coi tất cả lũ trí thức khoa bảng, lũ chính khách cơ hội, lũ lãnh đạo vai u thịt bắp là lũ … thập nguyên! Bây giờ, người ta bảo tôi “ra giúp nước”, hỏi chi tôi chẳng bẽ bàng.
Tôi trả ông Cầu tập bản thảo của ông với lời đề nghị:
– Không có gì phải san nhuận cả. Ông nên sắp xếp những sự kiện thành hệ thống mạch lạc là ổn rồi. Cũng cần cô động lại vì có nhiều dẫn chứng nhắc đi nhắc lại nhiều lần.
Ông Cấu buồn bã hỏi tôi:
– Còn đề nghị của tôi?
Tôi đáp:
– Ông muốn tôi viết gì, tôi sẵn sàng viết cho ông. Để tạ lòng tri kỷ. Còn cái chức Bộ Trưởng, xin ông tìm người khác.
– Chức ấy không hấp dẫn ông lúc này?
– Không hấp dẫn tôi bất cứ lúc nào. Là nghệ sĩ, tôi chỉ biết mơ mộng, không biết điều hành công việc.
– Ông bỏ qua sự mơ mộng giải thoát dân tộc?
– Tôi tự cảm thấy bất tài. Và nữa, tôi nhát lắm, tôi không chịu nổi đòn tra tấn. Tôi mà bị bắt, tôi sẽ khai hết và hỏng việc lớn của các ông.
– Không có chuyện bị bắt.
– Tôi đề phòng.
– Ông đã cương quyết từ chối, tôi không thể ép ông. Tuy nhiên, tôi muốn ông bớt chút thì giờ gặp Trương Phiên.
– Cuối tuần hẹn hò của ông ấy đã qua rồi.
– Tôi tin Trương Phiên phải về.
Cuối cùng tôi gặp Trương Phiên ở căn gác sép của nghệ sĩ cải lương già, bố vợ kép hát Hữu Phước. Chủ nhà hoàn toàn không biết chúng tôi mưu đồ chuyện gì. Ông ta chỉ nghĩ chúng tôi là bạn ông Cầu, cháu rể của ông ta thôi. Căn gác sép ở hẽm nhỏ đường Trần Quý Cáp là nơi hội họp thường xuyên của tôi, Hà Tường Cát (CPS cũ), Trần Văn Lợi … sau này. Trương Phiên trên 50 tuổi, dáng người mảnh khảnh, trông hao hao khuôn mặt Nhượng Tống chụp ảnh. Ông ta nói về Việt Nam trễ vì còn ghé Tân Gia Ba gặp Lý Quang Diệu để nhờ Ly Quang Diệu giới thiệu với Thái Ngũ ở Chợ Lớn tài trợ. Ông ta thuật chuyện gặp gỡ tổng thống Ford, ăn uống với Kissinger, họp bàn với các nghị sĩ Mỹ làm tôi tưởng tôi đang nghe chuyện Phong Thần! Máu hài hước trong tôi nổi dậy. Nhưng Trương Phiên nghiêm túc. Ông ta luận về cục diện thế giới ngày mai và cái thế tất bại của cộng sản Việt Nam. Ông ta nhìn tôi:
– Trước khi sang Mỹ, ông Cầu đã ngỏ ý với tôi muốn mời ông. Tôi đã cho bên ấy biết. Bạn thích ông, kẻ thù nể ông.
Tôi nghe không sướng tai chút nào cả. Tại sao? Vì cái hiện tại bi đát của tôi kéo tôi lại, không cho tôi leo lên tàu bay thật hay tàu bay … giấy. Mỗi ngày, vợ tôi cằn nhằn tôi hàng chục lần bởi cái tội không tích cực di tản. Người ta hỏng đường bay, đi tìm đường thủy. Tất cả đều thoát. Tôi hỏng đường bay là về … uống rượu. Tôi càng không ham lời khen của Trương Phiên bởi lời khen ấy sẽ đưa tôi vào sự “chết rũ trong tù”. Ở tù sợ lắm. Chưa nói bị tra tấn.
– Người Mỹ muốn xóa đi để làm lại tất cả, Trương Phiên nói. Đây là cơ hội bằng vàng của dân tộc ta. Miền Bắc quằn quại dưới gót thống trị của cộng sản ròng rã 20 năm, oán hận cộng sản ngút ngàn. Miền Nam thì đã hiểu rõ tim đen cộng sản. Những khuôn mặt nằm vùng đã xuất hiện đầy đủ. Bọn tướng lãnh lãnh đạo đã chạy trốn. Bọn làm giàu trong chiến tranh, bọn tài phiệt thao túng kinh tế, bọn tư sản mại bản Chợ Lớn đã bị cộng sản tiêu diệt giúp chúng ta. Để lâu cộng sản moc rễ đâm chồi, diệt rất khó. Lực lượng vũ trang tinh nhuệ của chúng ta còn nguyên. Nguyễn Cao Kỳ cũng muốn về… Ông nghĩ sao, ông Duyên Anh?
– Tôi nghĩ là chuyện của các ông.
– Bất cứ ai giải thoát dân tộc lúc này đều là Chúa Giê Su.
– Tôi chỉ muốn làm nghệ sĩ.
– Ông Cầu sẽ bàn thêm với ông.
Trương Phiên về. Ông Đinh Xuân Cầu cho tôi biết Trương Phiên sẽ làm Chủ tịch Hội Đồng Bão Quốc, một thứ Bộ Chính Trị chi phối toàn bộ cơ cấu quốc gia sau này. Còn ông Cầu là Thủ Tướng của Chính Phủ Lâm Thời Đệ Tam Cộng Hòa. Ông Cầu được bên ấy chỉ định thành lập Nội Các. Ông ta đã mời kỹ sư Nguyễn Thiện Ngọ, bác sĩ Nguyễn Đan Quế, linh mục Trần Hữu thanh, chính khách Nguyễn Tiến Hỷ … và những người nầy nhập cuộc. Nên kể thêm Hà Tường Cát và một số người trẻ từng du học bên Mỹ, Đức. Hậu thuẫn của Bão Quốc là liên tôn chống cộng.
– Ông có tin Trương Phiên không? Cầu hỏi tôi.
– Không. Tôi đã xa lạ ông ta, càng xa lạ ông ta. Tôi trả lời.
– Tôi tin Trương Phiên là người của Mỹ.
– Tôi không tin cả Mỹ.
– Phải có Mỹ, ông ạ!
– Mỹ đã phản phúc.
– Theo tôi, mưu đại sự thì nên gạt bỏ những tiểu tiết. Việc của ta xong, ta dở mặt như Fidel Castro, không để Mỹ chi phối cũng như không để cộng sản chi phối.
– Tôi đã nói với ông rồi. Tôi chỉ có thể giúp ông về những dịch vụ viết lách. Để tạ lòng tri kỷ. Sau này, ông thành công, tôi xin được tặng ông Chính sách thanh niên và tuyên truyền do tôi soạn thảo. Nếu phải lưu vong, tôi xin ông một chỗ và xin được coi như người bạn trẻ, như người “ký giả nhà nước”.
– Tôi biết ông băn khoăn chuyện gia đình.
– Vâng
– Chúng tôi sẽ đưa gia đình ông đi ngay sau khi nội các ra mắt báo chí. p>- Và tôi vẫn đóng vai “ký giá nhà nước”?
– Tùy ông thôi. Có ông giúp, tôi đã cảm động lắm rồi.
Chưa phải là… Bộ Trưởng Thanh Niên và Tuyên Truyền của chính phủ đệ tam dân chủ cộng hòa, chỉ mới là bạn của ông Cầu thôi, tôi đã được tham dự những phiên họp bí mật. Tự nhiên tôi quên mắt tôi đang là ai, đang ở đâu và tôi tưởng mình như một hiệp sĩ trong một hội kín dưới thời nô lệ Pháp. Ông Cầu nhờ tôi viết một cái tuyên ngôn cho Bảo Quốc và một bài kêu gọi quần chúng chuẩn bị nổi dậy. Tôi đã viết cái tuyên ngôn đầu tay trong cuộc đời viết lách của tôi tại căn nhà của Đặng Xuân Côn ở số 215D/17 Chi Lăng, Phú Nhuận, Gia Định. Tôi cảm thấy chữ nghĩa của tôi thật xứng đáng trong cái tuyên ngôn duy nhất đó. Còn bài kêu gọi quần chúng chuẩn bị nổi dậy thì tôi đã kêu gọi chính tôi, tôi để hết lòng tôi vào đó nên nó đầy lửa. Và tôi bỗng cảm thấy ông Đinh Xuân Cầu là người hiểu biết giá trị và tác dụng của văn chương trong chiến đấu. Nếu ông Ngô Đình Diệm suy nghĩ thêm về các nhà văn, ông sẽ là người hoàn toàn nhất. Luôn luôn, các nhà lãnh đạo Sàigòn quên mất cái thế độc lập của nhà văn, cái thế mà quần chúng bị trị ngưỡng mộ và tin cậy. Ròng rã 20 năm, từ 1954 đến 1975, nhà văn chưa hề lên tiếng chính thức chống hay không chống chế độ Sàigòn. Họ chỉ phản kháng trong tiểu thuyết. Cái vụ xuống đường đi ăn mày bệ rạc, vô ý thức của đám ký giả bất tài vô tướng và mấy anh văn sĩ Pen Club là sự lên tiếng ngu xuẩn chỉ nhằm bôi bẩn chế độ. Nhà báo đi ăn mày vì thất nghiệp, vì bị loại khỏi nghề, vì thiếu tài năng, vì không còn cho viết. Nhưng nhà văn, lại là nhà văn danh tiếng, tại sao họ không cho chữ nghĩa lên tiếng? Mà phải đi ăn mày? Ăn mày tức là cần bố thí. Ai bố thí? Rốt cuộc họ đi ăn mày tình thương của chế độ. Trò chơi dân chủ quá lỡ làng! Một người mà báo Mỹ ca ngợi là “lãnh tụ tương lai” của Đông Nam Á là Hoàng Đức Nhã, tôi thấy cũng chỉ là một tên ngu dân trong chức vụ Tổng Trường Dân Vận. Trong nhiệm kỳ thông tin, tuyên truyền của ông ta, báo chí và quần chúng xa xả chửi bới sự độc diễn của chủ ông ta. Có một dịp may rửa nhục cho vị tổng thống anh mình mà ông ta không biết. Là cái điện văn chúc mừng “tổng thống tái đắc cử”. Điện văn ấy ghi tên một văn hào thế giới lỗi lạc: C. V. Gheorghiu, tác giả Giờ thứ hai mươi lăm, Niềm may mắn thứ hai, Kẻ ăn mày phép lạ … đã dịch sang Việt ngữ và làm say mê độc giả Việt Nam. Điện văn ấy được đăng khiêm tốn trên cả báo nhà nước. Một người làm tuyên truyền giỏi thì đã túm lấy cơ hội quý báu nầy, in hình và tiểu sử Gheorghiu, nhà văn chống cả cộng sản lẫn tư bản, mời Gheorghiu qua Việt Nam diễn thuyết, phỏng vấn. Và một câu ngắn khen tổng thống, chắc chắn, tổng thống nở mày, nở mặt. Tổng thống sướng rên, tổng thống thấy giá trị một câu ngắn của nhà vẫn lỗi lạc hơn cả gần hai nhiệm kỳ được cầy cáo suy tôn. Một dịp nữa để đánh vào mặt Hà Nội và báo chị Mỹ thân Hà Nội là dịp nhà văn “best seller” của Mỹ, James Jones, tác giả Thói đời, Như thác đổ, Trận chiến trên đồi voi sang thăm Việt Nam. Ông đã ra Huế, điều tra vụ Mậu Thân và tuyên bố: “Vụ tàn sát tập thể ở Huế là vụ có ý của cộng sản Hà Nội”. Lời tuyên bố của nhà văn James Jones, của tác giả “Tant qu’il y aura des hommes” mà khán giả đã xem muốn nát cuốn phim nhựa cùng với “Comme un torrent” … cũng chỉ được đăng khiêm tốn trên báo nhà nước. Và Tổng trưởng Dân Vận không biết vì ngủ hay vì bận đưa ca sĩ đi phá thai mà chẳng chịu cho nổ, chẳng chịu mời James Jones đi khắp nước diễn thuyết lên án cộng sản khát máu với chứng cớ Huế, Mậu Thân rõ ràng. Tổng thống Mỹ nói không ai nghe. James Jones nói cả thế giới tin. Tiếc thay! Càng tiếc thêm, những Mặt trận, những Hội đoàn chống cộng hải ngoại vẫn không hấp dẫn nổi nhà văn danh tiếng. Bởi vậy, cũng đừng ai đặt ra trách nhiệm này nọ cho nhà văn và bắt nhà văn phải có trách nhiệm này nọ. Nhà văn chỉ có trách nhiệm với những người đọc họ. Nói đúng nhất là dùng lời của Grabiel Marquez, tác giả Trăm năm hiu quạnh, giải Nobel văn chương 1982: “Bổn phận của nhà văn là viết cho hay”. Nhà văn tự cho mình ôm hàng tấn trách nhiệm mà viết không hay thì cũng vất đi. Tôi đã viết cái tuyên ngôn thật hay. Thật hay vì mới chỉ có tôi, ông Cầu, ông Phiên biết! Ông Cầu chưa kịp xử dụng những gì tôi viết cho ông thì tên ông đã ghim trên miếng bìa đỏ.
Chú thích:
Về vụ Đinh Xuân Cầu, trừ những người đã bị bắt, bị thẩm vấn và đã lãnh án bất thành văn, tôi mới

vết bầm

 

em có thể bây giờ là góa phụ
buồn vui kia trôi giọt nước mắt ngà
tôi thì đã ném bài thơ vào lửa
còn lại gì khi tình đã chia xa

năm tháng ấy rồi phù du sẽ đến
sẽ mang đi sẽ bụi cát sẽ tàn
những vết bầm trong nỗi sầu chống chếnh
sẽ lụi tàn sẽ dần tắt sẽ tan

còn gì nữa trong phất phơ hoài niệm
một bóng người phai ký ức rồi thôi
ai mà chẳng có nhiều lần đưa tiễn
những niềm đau trong đời sống ngậm ngùi

thì em ạ xem như là ta đã
trao cho nhau cay nghiệt những vết bầm
không có gì không tại ai không cả
những lỗi lầm của một thuở xa xăm…

nguyễn minh phúc

 

 

Thơ như một định mệnh oan nghiệt

PHÂN ƯU

 

Nhà thơ Phạm Ngọc Lư vừa  từ biệt chúng ta hôm nay ( ngày 26 tháng 5 năm 2017).
Các độc giả , các tác giả, các thân hữu và Ban Biên Tập TUONGTRI.COM thành kính chia sẻ cùng gia đình nhà thơ nỗi đau buồn này .
Xin vĩnh biệt anh, một nhà thơ lớn của nền thi ca Việt Nam.
…Người cũ thắp bài thơ tình cũ
Bái biệt nghìn thu không cố nhân !
(PNL)

 

 

NHÀ TÙ : CHƯƠNG 3

Mỗi người có một cảm giác khi, lần đầu tiên trong đời, bước vào phòng giam của nhà tù. Cảm giác của tôi là sợ hãi. Anh phải nhớ rằng nhà tù và trại cải tạo khác nhau. Nếu tôi đã phục vụ quân đội như Thanh Tâm Tuyền, Phan Nhật Nam, Tô Thùy Yên … tôi sẽ đóng một khoảng tiền ăn 10 ngày cho đơn vị tôi trình diện học tập ở trường Gia Long, ở trường Lasan Taberd hay ở cô nhi viện Don Bosco, chẳng hạn. Rồi tôi chờ đợi xe molotova, xe GMC, xe đò nữa, chở tôi đến trại nào đó ở Long Giao, ở Suối Máu, ở Long Thành. Tôi đi tù với hàng ngàn, hàng vạn bạn bè, tôi không việc gì mà sợ hãi. Ít ra, hai ba năm đầu, bộ đội quản lý tôi cũng dễ dãi hơn công an. Tôi đi lại thong thả khắp trại và đêm đêm cửa phòng tôi không bị khóa chặt. Nhưng tôi đã thiếu vinh hạnh được làm sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hoà, tôi là nhà văn phản động và công an đã đến còng tay tôi, đưa tôi đi một mình. Nỗi cô đơn của tôi không những chất ngất trên đường đời mà còn chất ngất trên đường tù. Và tôi sợ hãi nếu tôi không gặp người quen trong cái phòng giam ở địa chỉ chung của chủ nghĩa, của những thứ chủ nghĩa đã đưa dân tộc tôi phiêu lưu quá xa khỏi tình tự đích thực của mình, từ 100 năm nay.
May quá, tôi đã gặp văn hữu. Người đầu tiên, Hoàng Anh Tuấn. “Nhà văn nghệ cao nhất nước” của tôi mặc trần xì cái quần đùi xắn cao tít lên thành một kiểu xì-líp … xã hội chủ nghĩa. Phòng giam chật ních gần 80 tù nhân, không khí nồng nặc mùi mồ hôi, mùi hôi nách, mùi nước đái và mùi khói thuốc. Tuy đã khuya và tuy cái quạt hút gió lắp ngược chạy xình xịch sát trần phòng, mồ hôi vẫn cứ chảy râm ran trên ngực phanh áo của Tuấn. Anh ta vỗ vai tôi, mỉm cười:
– Sao mày đến muộn thế? Anh em đợi mày mỏi cả mắt!
– Vì hôm nay họ mới hỏi thăm.
– Lạ nhỉ, mãi hôm nay nó mới vồ mày.
Bấy giờ, tôi hơi hơi lạ. Sau này, tôi hết lạ. Buổi tối, mùng 2-4-1976, tôi định xuống Cây Quéo kiếm Trần Dạ Từ hỏi xem Từ có đem về nhà cuốn Em Yêu nào không. Em Yêu là cuốn sách mới nhất của tôi, nhờ Trần Dạ Từ in mướn. Sách chưa kip vô bìa, thì Sàigòn mất, và cơ sở ấn loát Nguyễn Bá Tòng bị tiếp quản liền. Rẽ vào đường Ngô Tùng Châu, nhìn con ngõ nhà anh chị Hoàng Văn Đức thấy tối tăm, bùi ngùi quá, tự nhiên, tôi đạp xe về. Đêm ấy, vợ chồng Trần Dạ Từ – Nhã Ca bị bắt cùng với Đặng Hoàng Hà, Đặng Hải Sơn. Nếu tôi có mặt ở nhà Từ, tôi cũng bị bắt luôn. Đêm ấy, Trịnh Viết Thành, Nguyễn Mạnh Côn… lên đường trực chỉ Sở Công An. Đêm ấy, đêm kinh hoàng, đêm mở đầu chiến dịch khủng bố văn nghệ. Hôm sau, cả Sàigòn xôn xao vụ bắt bớ nhà văn, nhà thơ, nhà báo. Tối mồng 3-4, tôi đến nhà Mai Thảo ở 101 Phan Đình Phùng xem Mai Thảo bị bắt chưa. Tôi ngồi ngoài xe hơi của Đặng Xuân Côn, bảo Côn xuống hỏi thăm Nguyễn Đăng Viên, anh ruột Mai Thảo. Viên rất thông minh, anh trả lời Mai Thảo đi vắng và nhờ Côn, nếu gặp Mai Thảo, nhắn về gấp. Viên ra dấu cho Côn chuồn lẹ. Côn hiểu ý vì đã đoán ra 2 khách là nón cối, dép râu, nhìn Côn không chớp mắt. Tôi rú ga, vọt mau. Côn ngoái lại, 2 khách công an đã phóng ra vỉa hè. “Nó đến bắt Mai Thảo.” Côn nói. Tôi đi tìm dấu vết Mai Thảo. Công an không bắt được Mai Thảo, không lùng nổi tung tích Mai Thảo, đã giả vờ quên tôi. Để tôi kiếm giùm Mai Thảo. Như thế, có thể, tôi vuột luôn với Mai Thảo, họ bèn chấm dứt trò chơi và đưa tôi vào ngục.
– Ừ, lạ thật. Tôi nói.
Sau Hoàng Anh Tuấn, tôi nhận ra Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Hữu Hiệu, Thanh Thương Hoàng, Nguyễn Hải Chí (Chóe), Văn Kha, Đằng Giao, Hồ Nam… Hoàng Anh Tuấn thuyết trình:
– Quần hào đã tụ tập hết ở Quang Minh Đỉnh! Bên cạnh chúng ta có Trịnh Viết Thành, Anh Quân, Lê Xuyên. Trước mặt chúng ta có Doãn Quốc Sĩ, Nguyễn Mạnh Côn, Trần Dạ Từ, Thế Viên, Hoàng Vĩnh Lộc, Minh Đăng Khánh…
Hoàng Anh Tuấn lúc nào cũng có thể vui được. Những ngày ở sở Công An, nguồn vui của Tuấn là tranh luận với Thân Trọng Kỳ về điện ảnh. Tuấn chê Thân Trọng Kỳ chẳng hiểu điện ảnh tí gì, dù đã du học bên Mỹ. Tôi sẽ quên Hoàng Anh Tuấn nhiều thứ, kể cả những bài thơ thật bồng bế, những đóa hoa trên 10 ngón tay họ Hoàng, nhưng có 2 thứ tôi không bao giờ quên Tuấn, 2 thứ quá đơn giản mà rất người. Thứ nhất, Tuấn nhường chỗ trên bục xi măng cho tôi nằm cạnh Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh, tình nguyện vác chiếu xuống ngủ sát lối vào cầu tiêu. Luật lệ bất thành văn của bất cứ nhà tù ở bất cứ một chế độ Việt Nam nào là, hễ anh mới bước chân vào một phòng mới, anh đành chịu “tạm trú” ở nơi hẩm hiu nhất. Nơi hẩm hiu nhất của đêm tù đầu tiên của đời tôi là nền căn phòng ẩm ướt gần khít cửa vô nhà xí. Tù nhân, ngót 80 tù nhân, đêm như ngày, sẽ bước qua tôi, bước qua “nhà văn của tuổi trẻ,” bước qua cha đẻ của Trần Đại, James Dean Hùng, Hoàng Guitar, Dzũng Dakao để đi đái, đi ỉa! Hoàng Anh Tuấn không nỡ nhìn tôi nằm co ro khốn khổ. Tôi từ chối. Tuấn nói Tuấn thức suốt đêm, Tuấn chẳng cần ngủ. Thứ hai, Tuấn ngồi xếp bằng tròn “diện bích”, trân trọng lần chuỗi và đọc kinh. Lucifer cầu nguyện Chúa! Tuấn trả lời anh em: “Chúa không đến với tôi ngoài đời. Nhưng tôi biết ông theo tôi vào tù. Và tôi đọc kinh cầu nguyện. Tôi cảm giác ấm áp vì có ổng trên tôi.”
– Mấy hôm đầu, bị cơn ghiền hành hạ, ông Nguyên Mạnh Côn rên rỉ khiếp lắm.
Đằng Giao nói. Vợ của Giao, Chu vị Thủy – con gái Chu Tử – và đứa con sơ sinh cũng bị bắt. Chủ nghĩa cộng săn thù hằn cả sản phụ lẫn hài nhi! Thế mà người ta vẫn khoe khoang chế độ người ta ưu việt. Và thế giới vẫn bị huyễn hoặc bởi sự ưu việt lợm giọng ấy. Nếu có những vĩ đại lãnh tụ cộng sản tự hào về thành tích tù đầy của mình từ thiếu niên tranh đấu thì con trai út của Đằng Giao, sau này, xứng đáng tự hào hơn. Vì mới sinh ra đời 3 ngày, sinh ra giữa đời hòa bình thống nhất tổ quốc, đã can tội phản động, phải theo bố mẹ vào tù. Và nếu thế giới có bỉ thử chúng ta rằng, tại sao nước anh có nhiều tướng lãnh đào ngũ chạy trốn trước lệnh đầu hàng thế, thì chúng ta còn chỗ dựa vớt vát: Nước tôi còn có vị anh hùng vĩ đại nhất loài người, mới 3 ngày đã nằm tù cộng sản! Một vết son của chế độ hay một dấu ấn dơ bẩn hằn lên chủ nghĩa? Câu trả lời dành cho lương tri của nhân loại.
– Nguyễn Sĩ Tế nằm cachot. Nhã Ca nằm cachot. Lần lượt tới bọn mình. Linh mục Hoàng Quỳnh về nước Chúa tháng trước, ở cachot. Linh mục Trần Hữu Thanh bị tê liệt, mới rời phòng nầy hôm kia. Cứ bình tĩnh.
Như Phong nói:
– Tớ sẽ khước từ mọi khai báo. Tớ không vợ con nên có quyền cù nhầy. Các cậu đừng noi gương tớ. Chỉ đàn anh Trung Quốc mới cứu nổi chúng mình.
Quân sư Phải Gió, nhà tiên đoán thời cuộc chơi bạo hơn Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh. Lúc ấy, tôi cho rằng Như Phong nói phét. Sau này, Trung Quốc gây hấn với Việt Nam, tôi mới phục tài Như Phong.
– Tớ lạ nhất trường hợp thằng Chóe.
Chóe, hỗn danh của Nguyễn Hải Chí, giai cấp nông dân và có thể xếp vào hàng ngũ bần cố nông. Sinh quán ở Long Xuyên. Cha bỏ đi phiêu lưu từ nhỏ. Sống với mẹ. Ngày ngày đóng vai “cowboy” bên kinh rạch và hát bài tủ “Ai bảo chăn trâu là khổ”! Chiến tranh dẫn Chí lên Sàigòn, đăng lính, đeo lon hạ sĩ, phục vụ tại Tống Tham Mưu. Hạ sĩ Nguyễn Hải Chí bé tí trước đại tướng Cao Văn Viên. Nhưng họa sĩ Chóe thì vĩ đại gấp nghìn lần Cao Văn Viên. Khi đại tướng tổng tham mưu quân lực Việt Nam Cộng Hòa đào ngũ trốn khỏi Việt Nam quên đọc Huấn thị, Nhật lịnh nhờ đại tá thi sĩ Cao Tiêu viết hộ thì hạ sĩ Hải Chí còn nằm ở phòng giam của Cục An Ninh quân đội. Trước ngày tổng thống anh minh Nguyễn Văn Thiệu tự vặn ốc đinh bù loong khỏi cặp đùi rời ghế rồng chừng 3 tháng, đám cầy cáo Hoàng Đức Nhã, Đặng Văn Quang đã bắt một số ký giả chống “độc diễn” năm xưa và thường xuyên diễu cợt Thiệu. Một cái chảo to tướng chụp lên đầu Sức Mấy, Chóe: Cộng sản. Chóe bị bắt cùng lúc với vài tên ký giả nằm vùng. Vì Chóe gốc quân đội nên Chóe về nằm ấp Nguyễn Bỉnh Khiêm. Dịp này, Tổng Nha Cảnh Sát cũng bắt Mặc Thử, Vũ Bằng không phải lý do chính trị mà do nhà tỷ phú Phạm Quang Khai gài bẫy!
Chiều 30-4-1975, các thư cục lớn nhỏ trong cái Cục An Ninh chuồn đâu mất tích. Một mình Chóe mở cửa nhà giam đi về nhà thơ thới hân hoan. Rồi Chóe về chỗ nhật báo Tin Sáng của bọn thời cơ chủ nghĩa Ngô Công Đức, Nguyễn Văn Bình, Hồ Ngọc Nhuận, ký biệt hiệu Ta. Rồi Chóe được mời làm thư ký toà soạn cho tuần báo Lao Động Mới của công đoàn thành phố, dưới trướng đồng chí Nguyễn Hộ, ăn lương biên chế cán bộ. Và rồi, công an bảo vệ chính trị đem còng tới tận nhà Chóe đưa Chóe vào nhà lao. Người ta đã phẩm bình Chóe rằng tại sao Chóe cộng tác với chế độ mới và đả kích chế độ cũ. Người ta không chịu tìm hiểu cuộc đời Chóe. Chế độ cũ cho tài năng số 1 về hí họa của đất nước cái gì? Một cái lon hạ sĩ và những tháng tù đầy! Cộng sản rất gian ác nhưng đã không ngu. Nó nhìn rõ tài năng hiếm có của Chóe. Nó biết Barry Hilton đã in tập hí họa của Chóe. Hilton bị áp lực của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ nên không đem phát hành tập hí họa. (Vì trong tập hí họa nầy, Chóe lố bịch Nixon va Kissinger rất điêu luyện và rất độc địa. Barry Hilton là công chức của Bộ Ngoại Giao. Người ta đặt 2 điều kiện. Một: Rời khỏi ngành ngoại giao thì phát hành tập hí họa của Chóe. Hai: Ở lại ngành ngoại giao thi hủy tập hí họa đi. Hilton chọn điều kiện thứ 2.) Do đó, thế giới chưa biết tài năng của Chóe. Nếu tập hí họa của Chóe được phát hành, thế giới đã ồn ào can thiệp cho Chóe, khỏi cần đợi mãi đến cuối năm 1983, người ta mới đi hỏi vung vít khắp nơi về lý lịch một họa sĩ trứ danh tên là Nguyễn Hải Chí. Nó biết hoàn cảnh sống hiện tại của Chóe. Nó biết giai cấp xã hội của Chóe. Nó biết mức độ và ảnh hưởng chống đối trước đây của Chóe. Và nó xử dụng Chóe. Nó xử dụng Chóe để thu hút những tài năng khác còn cay cú, ngờ vực nó. Nó cần Chóe một giai đoạn nào đó thôi. Chóe chưa có kinh nghiệm cộng sản, Chóe còn trẻ, Chóe vừa mang thương tích chế độ cũ. Chóe bèn trả thù 3 tháng năm tù oan ức ở Cục An Ninh quân đội bằng cách giao du với cộng sản. Rồi Chóe lại bị cộng sản bắt giam. Lần này lâu quá, đã 9 năm rồi đấy. 9 năm tức là 108 tháng! Người ta cứ thích phẩm bình và phẩm bình. Chưa thấy ai đem tiền bạc nuôi Chóe và bảo Chóe đừng công tác với cộng sản. Và, hình như, vẫn chưa thấy ai gởi quà về trại Gia Trung tặng Chóe, ngoài vợ con của Chóe . Nhưng người ta đã thấy, trên các tạp chí màu sắc lòe loẹt, vài anh đại tá hạng bét, học đòi mang tâm sự Mã Chiếm Sơn, dâng hoa tặng gái hoa hậu, cười toe toét. Và nhận những tràng pháo tay. Khi ấy, Phan Nhật Nam quạnh hiu ở Thanh Hóa, Văn Quang rã rượi ở Sơn La, Tô Thùy Yên mệt mỏi ở Hàm Tân, Thảo Trường phờ phạc ở Vĩnh Phú.. Đó là sự lạ lùng của Như Phong.
– Hôm qua có chuyện vui lắm, Đằng Giao nói, nếu ông vô cùng lượt tôi, cuộc chơi sẽ vui hơn.
Anh em bị bắt từ 2-4, trừ Nguyễn Hữu Hiệu và Dương Nghiễm Mậu trầm lặng, thường tụ tập gần cửa sắt chấn song đan khit nhìn thẳng sang khu cachot, cũng là lối dẫn tù mới vào 2 phòng A, B, xem đến lượt thằng nhà văn, nhà thơ nào … nhập Cõi. Hồ Nam đến trước tôi một hôm. Khi Hồ Nam thấp thoáng, Đằng Giao kể, trong phòng đã chuẩn bị đón chàng. Đạo diễn hò hét: Thằng Trưởng phòng Thu ngồi xếp bằng tròn trên bục, lẹ đi. Mặt mày phải thật cô hồn. Mày không cần hỏi han gì cả. Cứ ngậm miệng. Hai đứa khác quạt, 2 đứa khác đấm bóp cho nó. Cấm cười. Tất cả nghiêm trang, sợ hãi. Thủ Trưởng phòng to xác, can tội dắt tàn quân vô bưng biền tìm đơn vị cũ. Hồ Nam lọt cõi B. Anh em mừng quá. Chàng ký giả biết cả những điều mình không biết lơ lơ láo láo. Chàng thấy 4 nhà văn, nhà báo gồ ghề đang phục vụ Trưởng phòng thì chàng bèn hình tượng vua tù và tù con so của chế độ cũ. Chàng rét. Chàng đứng trơ trơ. Đạo diễn ra hiệu. Một tên nhà văn phục dịch Trưởng phòng hất đầu: “Chào Trưởng phòng đi, Hồ Nam.” Hồ Nam quýu lưỡi: “Xin chào ông Trưởng phòng”. Trưởng phòng nín khe. “ Mày có thuốc là không?” Hồ Nam móc bị hành lý ra 2 gói Bastos de Luxe, trịnh trọng để lên bục. Anh em nhào tới, xé ra, mời nhau hút. Và cười rộ. Hồ Nam cười theo. Hú vía!
Sau Đằng Giao là Dương Nghiễm Mậu kể những giây phút công an ập vào nhà mình. Mậu thở dài: “Tôi chỉ tiếc mấy tập bản thảo viết từ tháng 5, 1975. Họ tịch thu hết”. Tôi hỏi: “Cậu viết về cái gi?” Mậu đáp: “Về sự hấp hối của Sàigòn trọn ngày 30-4 mà tôi nhìn rõ, nghe rõ”. Mai Thảo, có lần nói với tôi, trước chiến dịch 2-4-1976: “Cần 20 thằng nhà văn cự phách mới có nổi đại tác phẩm Sàigòn, ngày dài nhất”. Mai Thảo nói đúng. Tôi nghĩ Mậu đã viết và Mai Thảo đã nghĩ tới, chắc chắn, nhiều anh em khác đã viết, đã nghĩ tới. Nhưng bao giờ thế giới mới được đọc Sàigòn, ngày dài nhất, ngày dài nhất cho kẻ chiến thắng lẫn người chiến bại, cho cả đồng mình phản phúc lẫn thế giới toa rập, cho cả thủ đoạn hân hoan mất Sàigòn của Mỹ lẫn âm mưu dơ bẩn không muốn mất Sàigòn của Liên Xô, Trung Quốc… Sàigòn, ngày dài nhất của nhà văn Việt Nam, của những tâm hồn đích thực Việt Nam, không phải của bọn nhà báo Mỹ đê tiện vừa ngửa tay lãnh tiền CIA vừa ngửa tay lãnh tiền KGB. Thế giới, nhất là thế giới thứ 3, và đặc biệt các nước đang diễn trò quân ta giết quân mình bằng ý thức hệ cộng sản, tư bản, bằng bom đạn Mỹ, hỏa tiễn Nga cần học tập kinh nghiệm Sàigòn, ngày dài nhất, ngày dài nhất của hậu quả 20 năm khốn khổ nhất của lịch sử chiến tranh nhân loại. Và sau ngày dài nhất ấy là năm tháng dài nhất của đói rách, ngu dốt, hận thù, trại tập trung, nhà tù. Và vẫn chiến tranh!
Hình như thế giới vẫn bị mê hoặc trong sương mù chiến tranh ý thức hệ. Thực ra trò chơi của ý thức hệ đã chấm dứt. Ngày nay không còn ý thức hệ vô sản chơi nhau với ý thức hệ tư bản và các ý thức hệ khác nữa. Chủ nghĩa của Marx, Angel đã bị phôi pha từ sự “sáng tạo” của Lenine, từ sự thoát lý của Tito, từ sự tách rời của Mao Trạch Đông. Bây giờ, chỉ còn là sự tranh chấp quyền lực, tranh chấp ảnh hưởng giữa 2 thế lực mạnh nhất, dã man nhất, đê tiện nhất, xảo quyệt nhất. Hai thế lúc ấy, tạm dùng chữ nghĩa của Hồ Hữu Tường, là văn minh chính ủy và văn minh cơ khí. (Nếu Hồ Hữu Tưởng còn sống và đang có mặt ở Mỹ, ở Âu, ông sẽ sửa văn minh cơ khi thành văn minh bấm nút.) Ngày nay, không một thế lực nào dám mở miệng nói về chính nghĩa, về lý tưởng nữa. Hay mở mắt hướng về việt Nam! Hãy nhìn rõ cái lý tưởng giải phóng dân tộc bị trị của công sản! Hay hỏi xem 10 năm ròng rã kháng chiến chống thực dân Pháp được cái gì và mất những gì? Được cái lớn nhất và vĩ đại nhất là sự nghiệp “cứu nước” của ông Hồ Chí Minh, là tên tuổi danh vọng của ông Võ Nguyên Giáp, là nền độc lập cưa đôi xử sở, là tiếng thơm “dân tộc anh hùng” viễn vông, là … Hồ Chí Minh muôn năm! Cái mất lớn nhất, vĩ đại nhất là 1 triệu 500 ngàn dân Việt Nam chết ghê rợn bằng 1 triệu 500 ngàn cách giết, kiểu giết, lối giết của cháu yêu của ông Hồ trong mùa liên hoan máu Cải Cách Ruộng Đất năm 1956 và kế tiếp là mùa liên hoan máu sửa sai, thêm 500 ngàn cháu yêu của ông Hồ “tình nguyện” chết bằng 500 ngàn mẫu chết khiếp đảm nhằm xoa dịu sự phẫn nộ của nhân dân. Chưa kể một thế hệ tuổi trẻ Việt Nam và hàng chục ngàn trí thức tinh hóa của đất nước vùi xác ở chiến trường và rừng già thủ tiêu ròng rã 10 năm kháng chiến đánh bóng cho Hồ Chí Minh và chủ nghĩa cộng sản. Hãy mở mắt hướng về Mã Lai, một nước vô danh tiểu tốt, một nước đói kém văn hóa, văn hiến, một nước hiếm hoi anh hùng! Mã Lại gần Việt Nam lắm, cũng nô lệ 100 năm đấy, cũng Nhật đến đuổi Anh, cùng cộng sản nhi nhô. Thế mà, chẳng cần 10 năm kháng chiến, chẳng cần tiêu thổ kháng chiến, chẳng cần quy định giai cấp, chẳng cần đấu tố, chẳng tốn một giọt máu nào, Mã Lai vẫn độc lập. Độc lập trong hòa bình và đoàn tụ. Độc lập theo kiểu độc lập nước nhỏ. Đừng đòi hỏi độc lập toàn vẹn cho bất cứ một nước nhỏ nào trên thế giới, ở thời đại của chúng ta. Mày độc lập chính trị thì tao áp đặt nô lệ kinh tế lên đầu xứ sở máy. Dân tộc mày cứ chống tao đi, không sao, tao nắm cổ bọn thống trị thôi. Mày ái quốc cách mấy cũng khó thoát khỏi lưới thép thực dân mới, thoát khỏi móng vuốt đô la! Đó, nhìn rõ chưa? Chính nghĩa và lý tưởng cộng sản đã rực rỡ trên một nửa bản đồ hình chữ S. Chưa hết đâu, lý tưởng giải phóng còn tiến xa, tiến mạnh, tiến vững chắc, tiến sâu vào tội ác thêm hai mươi năm nữa.
Hai mươi năm sáng danh “chủ nghĩa Mác Lê bách chiến bách thắng” ở Việt Nam, ở toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam, được cái gì và mất những gì? Nói về cái mất trước. Hàng mấy thế hệ thanh niên, cả 2 miền Nam Bắc, chết thê thảm, chết văng chân lên trời, chết cắm đầu xuống đất bởi bom Mỹ, hỏa tiễn Nga. Dọc Trường Sơn, trên đường mòn Hồ Chí Minh, xương khô và xương khô, lóng tay và đầu lâu ngỗn ngang như đất cục, như củi mục! Không đếm xuể mồ mả của dân lành vô tội được hóa kiếp bởi bom napal, bom bi, bom B52 tư bản, đạn đại bác, hỏa tiễn vô sản. “Vì lý tưởng xã hội chủ nghĩa, vì Đảng cộng sản, quân đội ta tiến lên!” Quân đội ta chết nhiều quá. Những sư đoàn lừng lẫy Điện Biên Phủ năm xưa chỉ còn cái tên, người đã bị nướng hết. Thôn quê miền Bắc hết sạch thanh niên trên 17 tuổi. Đảng vay tuổi – ôi chủ nghĩa cộng sản! – thiếu niên. Vì lý tưởng, nhãi ranh 15 tuổi nhập ngũ. Vì lý tưởng, không, vì hết lính hứng bom Mỹ cho lý tưởng, nhi đồng 15 tuổi bị võ trang bằng thù hận, bằng mồi thơm dũng sĩ, bằng AK và một tuần tập bắn rồi bị tung vào chiến trường. Và thành liệt sĩ. Và thành thương phê binh. Số ít sống sót thành chiến sĩ anh hùng quanh năm ăn cơm gạo hẩm trộn khoai sắn với rau muống già luộc chấm nước muối. Cả chục ngàn dân bị chôn sống ở Huế mùa Tổng Công Kích Mậu Thân. Rồi buồn vì lính vô sản chết nhiều mà chôn sống dân lập thành tích quá ít, lại thua đau, mất luôn chủ tịch vĩ đại Hồ Chí Minh. Trước khi nhắm mắt để vào hòm kính, Hồ Chí Minh muôn năm đã phát điên. Lăng của chủ tich là một sự cười đùa trên nỗi khổ của nhân dân. Chỗ nằm của xác chết giá trị bằng lương thực nuôi cả dân miền Bắc một năm! Có thể hai, ba năm. Tiến nhanh, tiến mạnh, lý tưởng giải phóng tự thiêu quân mình và nướng dân mình ở Bình Long, ở Quảng Trị, ở Quy Nhơn, ở Kontum. Cái lý tưởng giết người của chủ nghĩa cộng sản đã mê hoặc bọn lãnh tụ Việt Nam. Họ chấp nhận mọi lạc hậu về khoa học, kỹ thuật, họ thản nhiên bắt dân đói khổ, ngu dốt, họ khích lệ tuổi trẻ nhảy xuống vực thẳm chiến tranh mù mịt, lao vào họng súng tư bản, đứng giữa trời hứng bom đế quốc để thỏa mãn sự ưu việt của chủ nghĩa và óc sáng tạo của lãnh tụ. Họ đã chiến thắng đế quốc Mỹ ở Việt Nam, sau 20 năm gặm khoai đánh giặc. Nhưng được gì? Một quê hương hòa bình thống nhất, tan nát, rã rượi, chia lìa. Một mảnh đất đầy dẫy nhà tù, trại tập trung. Một vùng trời ngút ngàn thù hận anh em. Người Việt Nam trả thù người Việt Nam. Chẳng còn vấn đề thực dân, đế quốc nữa. Bây giờ là nanh vuốt Việt Nam khống chế Việt Nam. Và chủ nghĩa, và lý tưởng giải phóng đứng chót vót đỉnh cao thành công. Và người ta bảo đó là độc lập, tự do tìm thấy sau hai mươi năm chiến đấu gian khổ!
Hãy mở mắt hướng về Mã Lai! Dân tộc ấy hòa bình trong chiến tranh triền miên của Việt Nam. Dân tộc ấy không được vinh dự thường xuyên đặt tít hàng đầu trên báo Mỹ, báo Pháp, báo Nhật, báo Đức… Về tỷ tỷ tấn bom rơi. Về triệu triệu người chết. Về Huế Mậu Thân. Về Mỹ Lai thảm sát. Không, dân tộc ấy bình thường. Do đó, đất nước Mã Lại thiếu một hố bom B52 nhưng thừa nhiều thành phố mới xây dựng, thừa lúa gạo, thừa cao su, thừa thiếc, thừa dầu hỏa. Và, hiện nay, Mã Lai, cái nước vớ vẩn ấy lại đóng vai trò quyết định số phận cả vùng Đông Nam Á, quyết định luôn cả số phận dân tộc anh hùng 20 năm chống Mỹ cứu nước! Nhìn rõ để thức tỉnh. Để nhận chân giá trị của lý tưởng của chủ nghĩa cộng sản.
Cái lý tưởng giải phóng dân tộc bị trị đã vậy còn cái lý tưởng khai phóng tự do, dân chủ cho các nước chậm tiến của người quân tử Hoa Kỳ ra sao? Người quân tử Hoa Kỳ, bằng kinh nghiệm Việt Nam, ngày nay chúng ta có thể gọi là ngụy quân tử mà không sợ mình thiên kiến. Người Mỹ đến với các nước chậm tiến như một tên trọc phú đến với dân nghèo. Họ ồn ào thi ân, bố đức vì họ đã ngắm trước được những thứ họ sẽ thu về. Bọn lái buôn nào cũng tính toán kỹ lưỡng. Trong tác phẩm Một người Nga ở Saigon, tôi đã nói về người Mỹ ở Việt Nam. Và tôi khẳng định rõ rệt: Chính sách của nước Mỹ cư xử với dân tộc tôi không phải là dân tộc Mỹ. Tôi chống chính sách của chính phủ Mỹ, không chống dân tộc Mỹ. Bởi vì, suy nghĩ cho cùng, cái sự đầu tắt mặt tối, nợ đầm nợ đìa, đến chết vẫn chưa trả hết nợ cho nhà cửa, cho xe cộ, cho đủ mọi tiện nghi; đến chết vẫn chưa hiểu hạnh phúc đơn sơ, hạnh phúc thung dung của người phương Động của dân chúng Mỹ cũng là do thứ chính sách nó lệ hóa con người phóng ra từ một thứ chủ nghĩa đê tiện, thứ văn minh bấm nút. Tôi nói tiếp về lý tưởng khai phóng tự do, dân chủ và sự có mặt của người Mỹ, chính sách Mỹ ở nước tôi. Trước hết, lý tưởng ấy được khai phóng một cách trịch thượng, xấc láo và đốn mạt. Nó khỏi sự bằng 2 bàn tay thân hữu. Rồi không thân hữu nữa. Vì nó không muốn kết bạn với nước nhỏ. Nó có đầy tớ. Nó rút bàn tay biểu tượng trên nên cờ sao sọc khỏi bàn tay nước nhỏ. Để nắm cổ nước nhỏ! Muốn nắm cổ nước nhỏ mà thao túng, nó phải tiêu diệt thần tượng của nước nhỏ, nó phải gạt loài người công chính mà đem mồi phú quý nhữ lũ cầy cao tay sai. Và nó đã chơi trò bẩn y hệt Nhạc Bất Quần cộng sản. Nếu cộng sản phát động quần chúng để chôn sống các giai cập đối nghịch thì người Mỹ cũng xúi bẩy các phong trào quần chúng vùng dậy bắn bỏ lãnh tụ của họ, kẻ đối nghịch với quyền lợi Mỹ. Cộng sản trơ trẽn tuyên bố: Đó là sự phẫn nộ của nhân dân. Người Mỹ trơ trẽn tuyên bố: Đó là sự phẫn nộ của các phong trào đối lập muốn có tự do, dân chủ thật sự! Về thủ thuật giết người ái quốc nước nhỏ, chỉ khoái xử dụng đầy tớ ngoan ngoãn, cộng sản và tư bản giống nhau. Tư bản tệ hơn cộng sản ở điểm, đã tình nguyện làm đầy tớ cho nó mà nó vẫn không bênh vực tận tình. Hà Nội và Sàigòn là sự so sánh chính xác nhất.
Không hề thấy báo chí Liên Xô phê bình cuộc chiến đấu chống Mỹ của Hà Nội. Nghệ thuật tuyên truyền của Liên Xô đã kích thích cả ông già sắp chết, con nít còn hôi mùi sữa ủng hộ nước bạn Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Đến Simonov, nhà thơ kích thước của Liên Xô, còn chi một bài thơ ca ngợi sự hứng bom Mỹ của Hà Nội và lên án Mỹ kịch liệt. Ngoài Liên Xô, trước 30-4-1975, không hề thấy bảo chí Đông Âu nói xấu người anh em cộng sản Việt Nam. Không hề thấy một lời ngắn nào của các nhà lãnh đạo xã hội chủ nghĩa công kích Hà Nội. Fidel Castro, người hùng của Mỹ Châu La Tinh, đã ca ngợi Hồ Chí Minh và cuộc chiến đấu ăn cướp của Hà Nội hết lời. Fidel Castro đã đánh bóng Hà Nội, đã huyễn hoặc các nước Nam Mỹ và Phi Châu. Chỉ Fidel Castro mới dám tạc tượng Nguyễn Văn Trỗi và xuất bản sách viết về anh hùng Nguyễn Văn Trỗi! Vân vân … Ngoài mặt, cộng sản nó cưu mang nhau lắm, nó “hữu nghị” thắm thiết lắm. Trong lòng nó, dĩ nhiên, bẩn thỉu, bẩn thỉu như lòng đàn anh nước lớn tư bản. Thế giới cộng sản nó chơi với nhau, thế đấy. Còn thế giới tự do chơi với nhau ra sao? Thế giới tự do luôn luôn ngoác cái miệng vinh tôn “Sàigòn là tiền đồn chống cộng ở Đông Nam Á”, “Nam Việt Nam là thành trì bảo về tự do thể giới” nhưng cũng luôn luôn uốn lưỡi bôi nhọ Sàigòn đủ cách, đủ kiểu, mặc dù, đại diện của cái thế giới nhỏ mọn, bất công ấy đã làm giàu trong chiến tranh tủi nhục 20 năm của Sàigòn. Nhật Bản là con kên kên dơ dáy và vô liêm sỉ nhất. Nó tiêu biểu cho tinh thần giả đạo đức của thế giới tự do. Nó phơi bày nguyên vẹn tâm hồn lái buôn tư bản gian dối. Xoá bỏ cái thế giới tự do mù lòa đi, chỉ nói về ông chủ Mỹ thôi. Và hãy nói cái bề ngoài của ngụy quân tử Mỹ. Này, anh thế giới thứ 3, anh nước nhỏ chậm tiến, anh nên sưu tầm những câu thuộc loại “xú ngôn” phọt ra từ những cái miệng gang thép của quý vị nghị sĩ, dân biểu bọ cú về Saigon để suy gẫm. Nhiều lắm. Tôi xin đan cử một vị tiêu biểu cho tinh hoa của dân tộc Hoa Kỳ thôi. Vị này, ngài Fullright (Nếu tôi viết đúng càng tốt, viết sai cũng tốt luôn vì tôi có thể dịch rất bồi: Fullright là nghị sĩ của lẽ phải đầy nồi chân, là nghị sĩ công chính tràn trề, là nghị sĩ lụt lội lẽ phải, là nghị sĩ đầy quyền, vân vân …) đã nằm ngủ ở Hoa Thịnh Đốn, trong chiêm bao, ngài ú ớ: “Sàigòn là một ổ điểm!”. Anh thấy vị nghị sĩ tinh hoa của văn mình 200 năm Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ này có mặt dầy, vô giáo dục không? Kẻ thù của Mỹ là Liên Xô. Kẻ thù hung hãn nhất thời đó là Việt Cộng mà không dám sủa: “Washington là một ổ lưu manh!” Những đồng minh Mỹ đã xất xược ví thủ đô “nước bạn”, thủ đô của văn hóa, của văn học nghệ thuật, của mọi cơ cấu quốc gia, của anh hùng dân tộc Việt Nam là “ổ điếm” thì, quả thật, miệng ông ta và công ty có gang có thép. Nghị sĩ Mỹ chơi nước nhỏ kỹ lắm. Báo chí Mỹ chơi nước nhỏ kỹ hơn. Tôi không nói tất cả báo chí Mỹ. Điều này hồ đồ. Tôi chỉ nói cái số báo Mỹ đã chơi nước nhỏ mà Sàigòn là nạn nhân thê thảm của họ. Anh hãy đến thư viện nước Mỹ, bất cứ một thư viện lớn của tiểu bằng nào, lục lại các báo đã xuất bản năm 1954, trước ngày chí sĩ Ngô Đình Diệm về nước chấp chánh mà đọc. Anh đừng quên đọc chuyện Mỹ du của chí sĩ Ngô Đình Diệm mà báo chí Mỹ đã thắp hào quang rực rỡ chung quanh thân thế và sự nghiệp vị lãnh tụ anh minh của Nam Việt Nam. Đọc kỹ, anh nhé, chuỗi ngày dẹp sứ quân, chuỗi ngày xây dựng ấp chiến lược. Đủ rồi, anh lại tìm đọc, vẫn những tờ báo đã ca ngợi chí sĩ Diệm, bởi nhờ ông quyết liệt, xả láng, xuất bản năm 1963, trước ngày ông bị tay sai của Mỹ bắn chết trong xe bọc sắt của Mỹ. Họ đã khạc đờm xuống vỉa hè rồi họ hạ mình cúi liếm những bãi đờm họ đã khạc! Chữ nghĩa có 2 tiếng phản tỉnh vừa dễ yêu vừa ghê tởm. Những kẻ trót “bốc thơm” người khác, trót đánh bóng, mạ kền người khác vì những quyền lợi nào đó, khi cảm thấy mình hố hay khi cảm thấy quyền lợi mới beo bở hơn thì “thối” hóa “thơm” vá “thơm” hóa “thối”. Ngụ ngôn Tây phương đã có chuyện Cái lưỡi. Khổng Tử cũng đã luận về hạng người này. Và ở nước Mỹ, một vị tổng thống (tôi quên tên) đã nói thẳng vào mặt họ, đại ý: Bảo chỉ có thể bẩn thỉu, vô liêm sỉ, nhưng vẫn cần thiết có báo chí và tự do báo chí. Dĩ nhiên, tổng thống Mỹ luận về báo chí Mỹ. Vậy thì họ có quyền tự do khạc đờm rồi liếm lại đờm đã khạc trong 2 nghĩa bốc thơm, bốc thối. Chẳng sao, phản tỉnh là động từ tuyệt diệu để vỗ về lương tâm. Cũng còn để bán rẻ lương tâm nữa.
Cái số báo chí đã nhục mạ quân đội của Sàigòn: “Chết bị xe cán nhiều hơn là chết bị Việt Cộng giết”, chắc chắn, chưa hề đọc “Nghĩa vụ luận” nghề nghiệp. Họ không ưa ông tướng Phan Trọng Chinh, họ bênh cố vấn của họ bị ông Chinh khinh thường thì họ cứ “bốc thối” ông Chinh, việc gì họ phải hèn hạ xuyên tạc lính của Sư đoàn 25? Nước tôi có một số nhỏ thông tín viên chuyên bán tin mật cho các báo Mỹ, các hãng thông tấn ngoại quốc. Những thằng này chỉ cần tiền nhảy đầm, đánh bạc mà moi móc tin bẩn của các nhà lãnh đạo Sàigòn và vợ con họ để cung cấp cho báo Mỹ. Và báo Mỹ đã không phê bình cá nhân các nhà lãnh đạo, mà nó cứ ra rả miệt thị chế độ Sàigòn. Báo chí Mỹ là lũ cán bộ tuyên truyền cấp xã của cộng sản Hà Nội. Đại khái vài nét đan thanh của cái gọi là khai phóng tự do, dân chủ của ngụy quân tử Hoa Kỳ. Dân tộc ta được những gì, mất những gì từ chính sách tân biên cương của trọc phú Mỹ. Trước hết, về cái được. Ngôn ngữ của chúng ta giàu có thêm nhờ những danh từ “ôkê sa lem, năm bờ oăn, chích cun đai, pho ren, yét nô, ốp lai mít, xăn ốp bít” vân vân… Sĩ giới thì phong phú bằng các thầy thông ngôn, các cô bán bar xuất thân từ những English courses. Chúng ta có cả một chuồng tiến sĩ các kiểu tốt nghiệp ở Mỹ. Nông dân của chúng ta được nghĩ làm ruộng vì phi công Mỹ cần chỗ dội bom. Chúng ta được ăn gạo Mỹ hột tròn, gạo Thái Lan. Rừng đồi của chúng ta được thay mầu vì thuốc khai hoang của Mỹ. Phụ nữ của chúng ta được công khai làm điếm. Bọn lưu manh được làm giàu bằng chiến tranh. Tuổi trẻ của chúng ta được chết hết ở chiến trường. Chúng ta được ăn nhiều đạn đại bác và các bà tướng được ăn cắp vỏ đạn đồng bán cho lái buôn nước ngoài kiếm đô la gửi ngân hàng Thụy Sĩ. Các thành phố lớn của chúng ta được mở sì-nách-ba, sòng bạc, nhà thổ. Chúng ta được bán hàng Mỹ lậu ở chợ trời. Kinh tế của chúng ta được ngưng sản xuất. Xã hội của chúng ta được xuống dốc. Văn hóa của chúng ta được để tóc dài. Chính trị của chúng ta được thao túng bởi lũ vai u thịt bắp. Quốc hội của chúng ta được buôn bán lich cởi truồng. Và, vĩ đại nhất từ lập quốc, chúng ta được suy tôn thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ! Tóm lại, chúng ta được quá nhiều đến nỗi không thể kể hết.
Nhưng chúng ta cũng mất vô tả. Một nỗi mất dài dài, dài bằng lịch sử 200 năm Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ là nỗi mất nước. Về nỗi mất này, chúng ta đành chịu vì chúng ta khờ khạo, chúng ta không nhìn rõ cái gian manh của chính nghĩa 20 năm chính nghĩa khai phóng tự do, dân chủ. Và chúng ta không nhìn rõ lịch sử của chúng ta. Chúng ta cũng chẳng tiên đoán nổi những khúc rẽ oan nghiệt của lịch sử thế giới trong tương lai. Đừng bao giờ tự đặt chúng ta ở vào hoàn cảnh của Nam Triều Tiên hay Tây Đức. Nếu vị thế địa dư của chúng ta như ở Tây Đức thì dù lãnh đạo của chúng ta có ngu dốt, tham nhũng hơn nữa, Sàigòn vẫn cứ tồn tại. Và nếu Tây Đức hoán chuyển vị thế cho chúng ta, Tây Đức cũng sẽ bị dẹp đúng chu kỳ 20 năm. Sự có mặt của người Mỹ ở Việt Nam cùng với cuộc chiến mà người ta tưởng là “sa lầy” nhằm 3 mục đích rõ rệt: Một: Tạo dựng mâu thuẫn để chia rẽ Liên Xô và Trung Quốc. Hai: Thử vũ khí, đo vũ khí và thao dượt quân đội. Ba: Ngăn Trung Quốc tràn xuống Đông Nam Á. Mục đích thứ nhất thành công. Liên Xô và Trung Quốc đã biến thành cựu thù, thế lực của cộng sản giảm đi, ảnh hưởng của Cẩm Linh yếu dần, người Mỹ mở cửa vào Bắc Kính bằng xương máu lính Mỹ và lính Việt Nam cả 2 miền. Mục đích thứ 2 thành công. Ngay từ khi đắc cử tổng thống, ông Kennedy đã hứa với ông Hồ Chí Minh là “không xóa bỏ chế độ Hà Nội”. Vụ tàu Maddox dưới triều đại ông Johnson chỉ là cái cớ để không quân Mỹ học tập tránh né Sam-3, Sam-6 của Liên Xô. Hà Nội rêu rao Mỹ muốn xâm lược miền Bắc cũng chỉ nhằm khích động quân dân của mình và làm sáng “chính nghĩa” đánh Mỹ cứu nước giải phóng miền Nam. Ông tướng Vĩnh Lộc, khi bị “biếm” về trường Cao Đẳng Quốc Phòng, có lần, dở trang báo Pháp chụp nguyên vẹn thành phố cảng Hải Phòng và buồn bã nói với tôi: “Ông xem, không tập dài dài, bao nhiêu phi vụ, bao nhiêu tấn bom mà Hải Phòng co sứt sát gì đâu. Họ đổ bom xuống núi!” Không lực Mỹ chỉ muốn đùa với lực lượng phòng không của công sản Hà Nội. Các kiểu máy bay oanh kích của họ đã vùng vẫy trên vùng trời miền Bắc. Chưa hề thấy một tên đảng viên cấp huyện nào chết vì bom Mỹ. Mà chỉ thấy dân vô tội chết oan, nhà cửa cháy rụi, mồ mà tổ tiên chúng ta bị khai quật. Vụ B52 “ta pi” bom xuống khu phố Khâm Thiên cũng không nhằm giải quyết chiến tranh. Đó là đòn của kẻ mạnh bắt kẻ yếu ngoan ngoãn, vì đã đến lúc … triệt buộc trong ván domino. Hà Nội cứ nói phét “Mỹ cút”. Mỹ cứ yên lặng để Hà Nói nói phét. Thế giới ghét Mỹ cứ hoan hô sự nói phét của Hà Nội. Tình báo Mỹ đã điều nghiên kỹ lưỡng. Khả năng chịu đựng B52 của Hà Nói không quá 12 ngày. Mỹ “ta pi” bom đúng 12 ngày thôi. Hà Nội vào bàn hội nghị nghiêm chỉnh. Nếu Mỹ đội bom thêm 1 ngày nữa, chỉ cần một ngày nữa thôi, Hà Nội đã đầu hàng, dân chúng miền Bắc đã hả hê và lịch sử Việt Nam đã khác hẳn. Nhưng sức mấy Mỹ thích Hà Nội tan rã. Bắc tiến là khẩu hiệu hò hét cho sướng miệng. Mỹ nuôi dưỡng chiến tranh Việt Nam, nuôi dưỡng cộng sản Việt Nam. Để dùng cộng sản Việt Nam làm “tiền đồn” ngăn Trung Quốc bành trướng thế lực khắp vùng Đông Nam Á.
Mỹ nghiên cứu lịch sử Việt Nam tường tận. Những trang sử quật khởi làm nên bởi Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Nguyễn Huệ cho Mỹ một bài học: Chỉ có dân tộc Việt Nam mới đủ khả năng bịt lối nam tiến của anh khổng lồ Trung Hoa. Thái Lan, Mã Lai, Miến Điện không hề bị Trung Quốc đô hộ là nhờ cái nút Việt Nam đóng thật chặt. Nhật Bản muốn vùng vẫy ở Đông Nam Á cũng đã phải dùng Việt Nam làm bàn đạp. Mỹ đã hòa hoãn với Trung Quốc nhưng vẫn sợ Trung Quốc bành trướng. Đã đánh nhau với Hà Nói rồi, biết người biết mình rồi, Mỹ bỏ rơi Sàigòn và khoán cho Hà Nói làm phú-lít canh giữ không cho Trung Quốc xuống phía Nam. Lịch sử sang trang dễ dàng sau 20 năm âm mưu đê tiện. Mỹ giả vờ thua đau để gây phẫn nộ cho dân chúng, để chuẩn bị một khí thế dìều hâu y hệt vụ Trân Châu Cảng. Và ngân sách quốc gia dưới triều đại Jimmy Carter lên vọt. Và B-1 thay thế B52. Và bom sạch. Và vân vân … Và mới nhất Liban thê thảm. Mà không ai chửi chiến tranh dơ bẩn nữa! Mỹ xúi Việt Nam giải phóng Kampuchia. Tại sao? Vì sợ Kampuchia lọt vào tay bọn lãnh tụ tay chân của Bắc Kinh. Để Pol Pot va Iang Sary thủ tiêu hết bè lũ thân Liên Xô, để Pol Pot va Iang Sary dấn sâu vào tội ác và để hai tên đồ tể quá khích này phát động chiến tranh khắp biên giới Việt Miên, tràn qua lãnh thổ Việt Nam, khí thế đằng đằng, yêu sách hỗn xược, Mỹ mới bật đèn xanh cho Việt Nam. Và Việt Nam giải phóng Kampuchia cái rụp, ngon ơ, dưới cặp mắt sững sờ rồi nổi giận của Đặng Tiểu Binh. Không chiếm Kampuchia để Trung Quốc ép Việt Nam rồi thao túng Đông Nam Á à? Đâu được. Đạo diễn Mỹ lại trổ thêm thủ thuật. Liên Hiệp Quốc làm nổi trò gì cứu dân tộc Kampuchia? Những ông thông dịch Việt-Miên của đài phát thanh Hà Nội đã biến thành những lãnh tụ vĩ đại của nước cộng hòa nhân dân Khmer. Ván đã đóng thuyền. Đã đóng thuyền cho cuộc chơi của chính sách toàn cầu của Mỹ. Nhà đạo diễn xúi Trung Quốc “cho Việt Nam một bài hoc”. Đặng Tiểu Binh đánh qua rồi rút lẹ, sợ để lâu sẽ có thêm một Thoát Hoan, một Tôn Sĩ Nghị! Cộng sản Việt Nam đã là một cái xác chết. Đấm đá xác chết chỉ tổ mỏi tay thôi. Cái xác chết được dựng lên bởi đạo diễn Mỹ. Muốn xác chết gục xuống, chỉ cần biết thọc nách đạo diễn Mỹ. Buồn thay, người ta, những người muốn tiêu diệt cộng sản Việt Nam, vẫn ngây thơ ôm chân Mỹ, trông cậy Mỹ sẽ có lần đưa mình về giải thoát xứ sở. Ông Ford đã dõng dạc tuyên bố: “Lịch sử đã sang trang”. Người Mỹ đã hết sứ mạng “khai phóng tự do, dân chủ” ở Việt Nam rồi! Lật lại lịch sử để hồi tưởng, để học tập chứ không để … “encore une fois”! Chắc chắn, người Mỹ chỉ làm lịch sử Mỹ. Làm lại lịch sử Việt Nam phải là người Việt Nam, phải là tâm hồn Việt Nam đích thực.
Tóm tắt: Không còn chiến tranh ý thức hệ nữa. Quá độ của thứ chiến tranh này là sự chia vùng ảnh hưởng của hai thế lực bất lương, bất nhân. Ngày kia, chúng sẽ diệt lẫn nhau. Và nhân loai mơ ước cả 2 thế lực sẽ bị dìm sâu dưới đại hồng thủy. Để con người xứng đáng làm người. Nhưng mỗi con người, trước đó, cần truy nã thân phận mình, cần phải nhớ rằng, làm đấy tớ cho cộng sản thì khổ, lắm đấy tớ cho tư bản thì nhục. Nỗi khổ và nỗi nhục nhìn rõ ở Việt Nam, từ Sàigòn, ngày dài nhất.
Đêm đầu tiên trong cuộc đời tù đầy của tôi là đêm đầu tiên ở Một địa chỉ chung của chủ nghĩa. Tôi đã nằm trên bục xi măng, cố nhắm mắt mà không sao ngủ nổi. Tự nhiên, tôi nhớ miếng bìa đỏ ghi họ và tên của một người quen ghim vào tấm các-tông lớn treo trên tường văn phòng Hai Phận. Họ và tên của những người khác ghi trên bìa xanh. Tại sao họ và tên người quen tôi, người dính líu với tôi những vấn đề mới nhất lại bìa đỏ? Tôi nằm không yên. Tôi ngồi dậy, ra cửa hút thuốc lá với Hoàng Anh Tuấn. Và tôi bắt đầu nghĩ đến sự tra tấn. Tôi sợ …
Chú thích:
Đã được trả tự do khoảng 1986 – Chú thích của nhà xuất bản.