QUÁN CÁI CHÙA

Từ Kế Tường

582291_145854358915323_38386526_n

Nằm ở góc ngã tư Lê Thánh Tôn – Đồng Khởi Q1 có một quán cà phê nổi tiếng trước năm 1975 mà dân “sành điệu” nào cũng biết, đặc biệt là giới văn nghệ sĩ, đó là quán cà phê La Pagode được gọi nôm na là quán Cái Chùa. Quán không rộng lắm, khoảng 60 m2, đặt chừng 10 cái bàn gỗ mặt vuông, ghế ngồi rộng, cũng bằng gỗ có thành dựa, cửa kính dày hai mặt, khách ngồi uống cà phê có thể nhìn ra thông thống một khoảng không gian rất đẹp của khu công viên Chi Lăng nằm chếch ngã tư. Công viên này có rất nhiều cây cổ thụ, cao to, thẳng tắp, đường kính thân cây cỡ hai vòng tay người ôm mới hết, thân cây với lớp vỏ sần sùi, mốc trắng. Buồi sáng, buổi chiều lớp võ sần sùi, mốc trắng màu thời gian này tùy theo sắc độ mà ánh lên trong mắt người nhìn bằng sự cảm nhận tổng hòa cả thời gian, không gian không chỉ là một thứ màu sắc mà còn là sự hồi tưởng, chất chứa kỷ niệm. Nhất là khi có những cơn mưa nhỏ, giọt lất phất như bụi từ trên những tán cây chảy xuống lớp võ sần sùi khô mốc ấy thì thật giống như một bức tranh sơn dầu với gam màu nhạt, bảng lãng, đầy sức quyến rũ và lay động lòng người.

Quán Cái Chùa của ông chủ người Pháp và dĩ nhiên cung cách phục vụ cũng theo kiểu Pháp. Nhân viên phục vụ mặc đồng phục áo sơ mi trắng, quần tây đen, thắt nơ con bướm ở cổ áo, nói tiếng Pháp tiếng Anh thông thạo và rất lịch sự. Tất nhiên, khách vào quán uống cà phê cũng thuộc thành phần trung lưu, lịch sự, đa phần tuổi trung niên trở lên, thỉnh thoảng mới có một nhóm khách thanh niên “con nhà” hay cặp tình nhân vào quán tìm một chỗ tâm tình lịch sự, yên tĩnh tuyệt nhiên không có khách tuổi choai choai, nhí nhố và không hiểu từ bao giờ quán Cái Chùa trở thành địa điểm gặp gỡ của giới nhà văn, nhà báo và tùy theo “chiếu” mà tập trung ngồi từng nhóm, ở những cái bàn gần như cố định, không thể có trường hợp ngồi lộn “chiếu trên”, “chiếu dưới”. Cũng xin nhấn mạnh rằng giới nhà văn, nhà báo trước năm 1975 phân chia đẳng cấp rất rõ rệt mà lúc bấy giờ gọi là “chiếu”. Có hai nhóm nhà văn, nhà báo thuộc đẳng cấp “chiếu trên” lúc bấy giờ là nhóm Sáng Tạo và nhóm Văn Nghệ thường đóng đô ở quán Cái Chùa, ngồi ở hai bán khác nhau. Nhóm Sáng Tạo gồm có Mai Thảo, Thanh Tâm tuyền, Nguyễn Sỹ Tế, Vũ Khắc Khoan, Doãn Quốc Sỹ, Duy Thanh, Trần Thanh Hiệp, Thanh Nam, Cung Tiến (tức Thạch Chương)…nhóm Văn Nghệ gồm có: Trần Dạ từ, Nhã Ca, Nguyễn Thụy Long, Viên Linh, Trần Đức Uyển (Tú Kếu), Tô Thùy Yên, Nguyễn Nghiệp Nhượng…nhóm Văn Nghệ còn được gọi là nhóm “kính trắng ống vố” bởi họ mang kính cận thị ngồi uống cà phê miệng ngậm tẩu thuốc (pipe) phì phà khói thuốc rất điệu nghệ, đầy chất lãng tử Tiếp tục đọc

BỐN MÙA THIỀN MỘNG

mùa thu còn để bên bờ
hẫng chân tôi bước trật mùa xuân xanh
mộng đầy hơi thở lữ hành
đan điền chấm lửng tròng trành mộng ra
chân mòn con dốc ghé qua
băng triền núi lở mưa sa cuối hè
chập chờn hoa phượng lắng nghe
hoa mai trổ nụ, hoa chè trổ hương
bốn mùa hạt nảy bốn phương
xuân thu nhảy với vô thường hạ đông
hai vai trần thế quay mòng
chợt đâu nắng vội trong lòng mưa xuân
đan vui từng chặng xen buồn
cũng còn mộng ảo soi gương mỗi đời
soi người rồi lại soi tôi
hằng hà bào ảnh phân đôi số phần
bao nhiêu chìm nổi xa gần
nửa xoay huyễn tượng, nửa quần nhân sinh
từng cơn sấm chớp thình lình
bốn mùa tung toé thân mình lại rơi
con đường lữ thứ xa xôi
dài từ thiên cổ đến tôi là cùng
tự nhiên có bỗng là không
tự nhiên hữu bỗng nảy bông không thời
thì chơi tận cuộc sinh sôi
bốn mùa chắc đủ nguôi ngoai gọi là.

Phù Du
1996

HỌA

Bỏ người
ta vẽ chân dung
Bỏ người
ta thấy trùng trùng cõi xa
Bỏ ta
ta vẽ đời ta
Bỏ nhau
ta vẽ ngựa già ngủ im
Bỏ ngày xưa
bỏ trái tim
Ta lang bạt tự kiếm tìm xót đau
Bỏ đời rồi bỏ đời nhau
Bỏ trăng chết lạnh bỏ sầu khói sương
Bỏ rừng tuổi lá thơm hương
Bỏ sông để gió làm buồn sóng chao
Bỏ người tôi bỏ đời nhau
Bỏ thiêng liêng…ngẩng mặt chào cõi không…

VŨ HỮU ĐỊNH

( Vũ Hữu Định toàn tập -Thư Ấn Quán xuất bản)

Vũ Hữu Định tên thật là Lê Quang Trung  (1942-1981) sinh tại Thừa Thiên, sống nhiều nơi ở Tây Nguyên,  lập gia đình và định cư tại Đà Nẳng.  Làm thơ từ thập niên 60 và đăng báo rải rác.  Sinh thời anh chưa có tác phẩm nào được xuất bản nhưng anh là người rất nổi tiếng vì đã có công đưa thành phố núi Pleiku đầy sương và bụi đỏ vào trái tim của mọi người…

Nước Mắt Trước Cơn Mưa 2

1768114

LỜI MỞ ĐẦU

(tiếp theo)

…Tuần lễ đầu của năm 1975, Bắc Việt chiếm Phước Long. Hạ thủ tỉnh này là một ý định trắc nghiệm. Bằng sự vi phạm Hiệp định một cách trắng trợn như vậy , miền Bắc muốn xem phản ứng của Mỹ ra sao. Nhưng không có phản ứng nào của Mỹ cả. Nói cho đúng, Mỹ có vẻ không quan tâm đến việc Bắc quân làm gì ở miền Nam nữa. Tháng sau đó, khi Phái đoàn Quốc Hội Mỹ đến viếng miền Nam. Bắc quân hoạt động rất ít. Phái đoàn này đến để lượng giá tình hình quân sự, tư vấn cho Quốc Hội và Tổng Thống Mỹ về việc tiếp tế Quân viện và viện trợ nhân đạo. Vài ngày sau khi phái đoàn Quốc hội Mỹ rời Việt Nam, Bắc quân đi nước cờ kế tiếp.

Ngày 10/3/1975 Bắc quân tung một trận tấn công mãnh liệt tối hậu. Họ đã biết chắc là Mỹ mất ý chí chiến đấu và cũng không muốn tài trợ cho sự độc lập của Nam Việt Nam nữa. Không còn e ngại Mỹ can thiệp, quân đội Bắc Việt khẳng định được rằng sau gần 30 năm dai dẳng. chiến thắng của họ và  cuộc thống nhất Việt Nam bằng vũ lực đã đến lúc hoàn tất.

Trên đường mòn Hồ Chí Minh, miền Bắc chuyển xuống 100.000 bộ đội mới mẻ khỏe khoắn. Con đường , trước chỉ là lối mòn len lỏi giữa rừng già Việt Miên Lào, giờ đây đã trở thành một xa lộ nhộn nhịp với cả một hệ thống ống dẫn dầu chạy kèm theo đến tận tâm điểm miền Nam Việt Nam. Con  đường này giờ đây không còn bị các trận bom của máy bay B 52 đe dọa nữa.

Ban Mê Thuộc, thành phố cao nguyên rơi vào tay Bắc quân giữa tháng 3 . Cuộc kháng cự của Nam quân bị đè bẹp Tiếp tục đọc

Mùa Hạ Về Thành Nội

Bây chừ hoa phượng nở
Rưng rưng chiều nội thành
Ta về phơi thương nhớ
Bên đường kỷ niệm xanh

Một mình đi loanh quanh
Kiếm tìm mùi hương cũ
Phượng nở ,sen cũng nở
Sao không nở tình em ?

Ngó mô cũng thấy phượng
Rợp cả trời cố đô
Chiều rơi tiếng đàn nhớ
Trong tim người mơ mơ…

Tìm đâu ra em hở
Tôn Nữ của ngày xưa?
Một thời ai nghiêng nón
Sửng sốt hồn trai tơ!

Bây chừ hoa phượng nở
Mình xa nhau thật rồi
Chao ôi! Tình một thuở
Mà đau suốt một đời…

Trần Dzạ Lữ

mưa

giận hờn rên rỉ đau thương
mưa than thở níu buồn vương trăm chiều
ngõ về một sớm cô liêu
ôm muôn mối đã có nhiều đam mê
tình ta nay quá ủ ê
thứ cay đắng đã ê chề mông mông
dật dờ mưa bước qua sông
một đàn chim én thong dong đan mùa
buồn về moi ký ức xưa
là man mác một lần mưa ru hồn
là tiếng khóc đêm mưa tuôn
lòng ngân gót guốc em tương tư về…

Đồ Dõm

Nước Mắt Trước Cơn Mưa 1

NMTCMNBT1768114

Nước Mắt Trước Cơn Mưa

Tears Before the Rain, Nước Mắt Trước Cơn Mưa, là tựa một cuốn sách của Larry Engelmann, giáo sư khoa sử của đại học San Jose, California và được Nguyễn Bá Trạc, tác giả của Ngọn Cỏ Bồng dịch ra tiếng Việt.

Như trong một video clip phỏng vấn mình, tác giả Larry Engelmann cho biết mình không phải là nhà văn mà chỉ là người kể chuyện, storyteller, đến với sách vở chữ nghĩa chỉ là một sự tình cờ. Ông sinh năm 1941, lớn lên tại một thành phố nhỏ ở tiểu bang Minnesota. Ngay từ nhỏ ông đã say mê nghe người lớn, trong số đó là những người trở về từ Thế Chiến Thứ 2, kể chuyện. Ông say mê nghe người ta kể chuyện rồi từ nghe ông lại trở thành người kể chuyện. Nên không có gì lạ khi ông mê môn sử và chọn sử là ngành mình theo học khi lên bậc đại học, và học xong, ra trường lại đem chính cái tài kể chuyện của mình ra dạy môn sử tại đại học San Jose, California. Lương dạy học không đủ chi phí cho gia đình, ông mới viết và gửi bài cho một số báo để kiếm thêm tiền. Tài kể chuyện của ông khi đưa lên trang giấy lại gây lôi cuốn và xúc động cho người đọc, và ông thành nhà văn, không, ông thành nhà kể chuyện, storyteller, storyteller for money, người kể chuyện để kiếm tiền, như ông xác nhận mình là ai và vì sao viết.

Nước Mắt Trước Cơn Mưa xuất hiện cũng là sự tình cờ như vậy. Khởi đầu ông gửi cho một nhà xuất bản 38 trang đầu tiên ông mới viết nháp để thăm dò. Chỉ đọc xong 38 trang bản thảo, đúng 11 giờ khuya, nhà xuất bản gọi điện thoại cho ông, trước tiên cho ông biết, theo lẽ thường, những cú điện thoại của bác sĩ gọi 11 giờ đêm là tin xấu, còn của nhà xuất bản là những tin tốt lành. Nhà xuất bản đề nghị ký hợp đồng xuất bản cuốn sách, và vì cuốn sách chỉ mới có 38 trang, nên đưa ra thời hạn trong vòng 12 tháng, ông phải hoàn tất và giao bản thảo cho nhà xuất bản và nhà xuất bản ứng trước cho ông 175 ngàn đô.

Cú điện thoại 11 giờ khuya của nhà xuất bản với 38 trang đầu là như vậy, nên bạn sẽ không ngạc nhiên khi đọc Tears Before the Rain qua bản dịch của Nguyễn Bá Trạc mà Tương Tri được phép của dịch giả Nguyễn Bá Trạc sẽ đánh máy lại và đưa lên.  Xúc động, xúc động và xúc động như hai câu thơ đầy định mệnh:

Thùng thùng trống đánh ngũ liên
Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa

Tuongtri.com

8111_engelmann_larry

_________________________________________

L Ờ I   M Ở   Đ Ầ U

Cuối tháng giêng 1975, một đàn ong đông đảo bất thường chợt bay xuống Sài Gòn. Đàn ong đậu trên hai tòa cao ốc làm mọi người trong nhà sợ hãi chạy ra. Sau đó vài người bạo dạn quay lại tính xông khói đuổi ong đi Tiếp tục đọc

GỌI

Bất ngờ tôi gọi tôi ơi
Nghe thinh không đáp vọng lời hư không
Nghe tan từng giọt máu hồng
Trong hơi thở đã ẩm nồng đau thương

Tôi trong cõi mộng vô thường
Bước chân xuôi phía lạc đường vời trông
Sông trôi dài dọc đời sông
Mây bay suốt cuộc phiêu bồng đời mây

Mở bàn tay khép bàn tay
Cũng không níu giữ được ngày tháng qua
Con người giữa cõi người ta
Tôi, và tôi, và tôi, và… tôi ơi!

Tạ Văn Sỹ

Người lính trong TRUYỆN TỪ VĂN* của Trần Hoài Thư

Trần Thị Nguyệt Mai

bia-truyen_tu_van-1

Trong bài giới thiệu về tác giả Trần Hoài Thư của nhà văn Mai Thảo đăng trên tạp chí Văn ngày 1-3- 1972, ông đã viết:

“…Người đọc có thể chê trách người lính bệnh của Trần Hoài Thư trong Bệnh Xá Cuối Năm đã đề cập tới những chủ đề lớn như chấm dứt chiến tranh, thống nhất đất nước, đoàn viên và thương yêu hai miền, bằng một tâm hồn quá đơn giản, thơ ngây. Người lính của chúng ta hiền quá. Hiền thật. Làm thế nào được. Dân tộc ta hiền, mãi mãi hiền, mặc dầu đã hai mươi năm lâm trận. Cái tính hiền đó được biểu hiện cùng khắp trong những truyện ngắn về tiền đồn, về mặt trận, của Trần Hoài Thư, mà Bệnh Xá Cuối Năm là một.”

Thật vậy, trong các truyện ngắn của anh trong tập “Truyện từ Văn” (*) mà tôi hân hạnh được đọc, nổi bật lên hình ảnh người lính VNCH thật hiền, dù là khi nằm trong bệnh viện hay khi đang lâm trận, hoặc ở bên người em, người tình. Họ chỉ có một mơ ước duy nhất, là ngày hòa bình mau trở lại để trở về với làng quê, xóm cũ, bên cha mẹ già, lấy vợ sinh con. Thôi không còn những ngày nằm mương nằm mả truy lùng địch. Không còn hỏa châu, trái sáng, tiếng đạn bom trên quê hương đã quá nhọc nhằn.Rồi tôi và lũ bạn ở trong trại bịnh sẽ dắt dìu nhau, kẻ chống nạng, người băng bó đầy mình, kẻ tóc râu như con dã thú, kẻ xanh xao, ốm yếu như một tên nghiện thuốc phiện… Chúng tôi sẽ mở cánh cửa sắt của bệnh xá này, trải con tim thật nhạy cảm cùng nhân loại, để làm một cuộc duyệt binh thật vĩ đại cùng những người đang lâm chiến. Họ ở Trường Sơn xuống. Hạ Lào qua. Cao Miên lại. Họ từ muôn nơi tụ hội lại, cùng bắt tay nhau, cùng chúc mừng nhau, cùng nghẹn ngào chào nhau. (Bệnh xá cuối năm – trang 12)

Họ mang một trái tim nhân hậu, không phân biệt đối xử ngay cả với tù binh. Các tù thương phế binh miền Bắc được săn sóc như những người lính miền Nam. Chứ không phải như ngày hòa bình mới lập lại, kẻ chiến thắng đã đuổi tất cả các thương bệnh binh VNCH đang nằm dưỡng thương ra khỏi quân y viện… Anh Trần Hoài Thư đã nhìn, đã tả người lính phía bên kia bằng con mắt anh em, rất người, rất bao dung Tiếp tục đọc