ĐÀN BÀ DỄ CÓ MẤY TAY.

dan ba de co may tay

Tuần lễ cuối tháng ba đầu tháng tư vừa rồi, Tập Cận Bình, Chủ tịch Trung Quốc đến thăm ba nước Pháp, Đức, Bỉ.

Paris là điểm dừng chân đầu tiên. Ông giành ưu tiên này cho Pháp quốc bởi cách đây tròn 50 năm, tháng Giêng năm 1964, tổng thống Pháp, tướng Charles De Gaule là nguyên thủ phương Tây đầu tiên ban ân huệcho Mao, công nhận nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Để tỏ lòng hiếu khách, Pháp không những trải thảm đỏ tận chân cầu thang máy bay, mà còn trải lòng ra đón. Yến tiệc xa hoa chưa từng có tại lâu đài Versailles nguy nga. Buổi hòa nhạc Trung Hoa tại nhà hát Opera. Dạ tiệc, khiêu vũ lu bù trong cung điện Roi-Soleil tráng lệ. Champagne trào bọt trắng lòa với những hợp đồng chục tỷ Euro.

Khác hẳn Pháp, người Đức đón Tập không ồn ào, xa xỉ, nhưng cũng vẫn giành được những hợp đồng không thua kém.
Đặc biệt là bà Thủ tướng Angela Merkel đã ghi hai bàn thắng ngoạn mục, mà vẫn giữ đúng những nghi lễ ngoại giao.

Bàn thắng thứ nhất:

Tập muốn sử dụng chuyến thăm Đức để gây một sức ép, buộc Nhật phải thừa nhận những tội lỗi đã gây ra cho Trung Quốc trong Thếchiến II. Để thực hiện ý đồ này, Tập khéo léo mời bà Angela Merkel cùng đến thăm đài tưởng niệm nạn nhân chiến tranh Holocaust. Bà Merkel khôn ngoan nhận ra ngay ý đồ. Bà đáp: “Ngài có thể đi một mình vào lúc rảnh rỗi”.
Bà không dại gì tham dự vào vòng xoáy ma quái của những cuộc chơi do Tập bày ra. Bị từ chối thẳng thừng, Tập cười lịch sự, nhưng trong lòng hẳn cay đắng lắm.

Bàn thắng thứ hai:

Trong bữa ăn tối chia tay, ở mục tặng quà lưu niệm, bà Merkel tặng Tập một tấm bản đồ Trung Quốc cổ, do nhà bản đồ học người Pháp Jean-Baptiste Bourguignon vẽ vào năm 1735, dựa trên những khảo sát địa lý của các nhà truyền giáo Dòng Tên, và được xuất bản tại Đức vài năm sau đó.

Tập cầm quà trong tâm trạng nửa cười nửa mếu. Trên tấm bản đồ có ghi “China Proper”(Trung Quốc chính thức) trong đó không có Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông, Điếu Ngư, hay biển Đông. Riêng đảo Đài Loan và Hải Nam được vẽ bằng một màu khác, ngụ ý rằng hai hòn đảo này chưa thuộc quyền kiểm soát hoàn toàn của nhà Thanh lúc đó.
Những nội dung trên tấm bản đồ này lại trái ngược với quan điểm chính thức của chính quyền do Tập đang điều hành. Theo họ thì Tân Cương, Nội Mông, Tây Tạng, Đài Loan, Điếu Ngư, và biển Đông là “lãnh thổ lịch sử không thể chối cãi của Trung Quốc”.

Hơn nữa, những chi tiết trên bản đồ lại gợi ra bao vấn đề. Bản đồ được vẽ năm 1735 là năm Hoàng Đế Càn Long trị vì. Ông là một nhân vật kiệt xuất nhất trong triều đại nhà Thanh, mà vẫn chưa thể kiểm soát nổi những vùng miền nói trên thế thì làm sao có thể gọi là “lãnh thổ lịch sử từ thời cổ đại”, “không thể tách rời”, “không thể chối cãi”.

Tổng thống Pháp François Hollande tiếp Tập lịch sự đến mức ông không dám nhắc đến chuyện “nhân quyền” mà Tập vốn ghét cay ghét đắng.

Còn bà Thủ tướng Đức Angela Merkel đã chẳng ngại ngùng đánh thẳng vào lòng kiêu hãnh bành trướng không phải của riêng Tập mà cả dân tộc Đại Hán.

Báo chí phương Tây gọi món quà bản đồ là “cú tát tai của Merkel” có lẽ cũng không ngoa.
Quả là:

“Đàn bà dễ có mấy tay,
Đời xưa mấy mặt, đời này mấy gan?

NGUỒN INTERNET

CHỦ NHẬT BUỒN

phananhdung

(Khóc Từ Thế Mộng)

Những ngày nằm thoi thóp
Anh gọi đến tặng thơ
Chữ ký MỘNG bay bổng
Thương quý lời dặn dò

Bàng hoàng chủ nhật buồn
Ngồi bên anh lần cuối
Chiều Phan Thiết rụng dần
Cuộn trong lòng trần trụi

Bạn bè xa chưa nhắn
Người con út không về
Ung dung anh tỉnh lặng
Nghìn sau trọn giấc mê !

Phan Thiết nắng ,buổi trưa đầy nắng
Tiễn anh về với má thương yêu
Anh nằm xuống , bạn bè ngơ ngẩn
Dưới chân đồi , Phan Thiết liêu xiêu …

PHAN ANH DŨNG

BÌNH YÊN SA MẠC

tranthienthi

“mả cha cái đời vô hậu
nhìn quanh chẳng biết thù ai”
Trần Vàng Sao

cố dàn hòa với cây lim sặt
lòng tri ân chưa đủ
cho một mùa hoa vàng
ngã ba mưa gió đã qua mùa
em bỏ xóm đi theo bao lời gọi
nào có hay
cái chết ám muội của cây xoài cơm
Tôi đã kịp làm lành với mình
làm cây hoa hồng không còn gai nhọn
làm tình
và chắc chắn là không có con
nắng mưa vẫn về không ai chờ
không tìm được một người để yêu
cuối cùng
không có cả một người ghét bỏ
ai đã thắp cho buổi chiều
thứ ánh sáng không từ mặt trời
ký ức một vì sao
đã ra đi từ muôn ngàn năm trước
nụ cười vãng lai không thể nào gây gổ
không có cơ hội làm lành
không thể đánh dấu trên bình yên sa mạc
sẽ khủng khiếp biết bao nhiêu
khi không còn khói bụi
tiếng í ới đầu chợ Cây Me
và một bờ vai trần mỗi ngày em đi chợ

trần thiên thị

THẰNG SAY

nguyenvi

Tợp vài hớp, da mặt của hắn từ vàng nâu đã chuyển sang màu đỏ lòm. Thêm vài hớp, tím đen. Thêm vài hớp nữa, ói. Nằm lăn kềnh ra, bất kể đâu, và ngáy bất kể trời trăng mây nước. Thế là hắn đã say rồi đó.
Hắn say dễ òm, dễ như anh nông dân đến giờ ngủ phải ngủ vậy. Khá nhiều người biết hắn, tất thảy đều bảo, đô hắn không quá hai chai bia năm mươi. Còn rượu đế (tên gọi tắt của rượu tào lao thiên đế các thứ) thì còn tệ hơn nhiều, chưa bao giờ hắn vượt quá đơn vị xị. Có tên bạn đương cơn ngà ngà, đã mạnh dạn vung tay tuyên bố dứt khoát, rằng đã tận mắt chứng kiến hắn vừa ngửi cái nắp ken đã say, ngã lăn quay. Không biết có đúng như vậy không. Quái lạ ở cái chỗ, hắn lại tự hào với cái đô uống kém cỏi hằng có của mình. Hắn thường lý sự, rằng uống ít không phải là cái tội. Uống ít, say. Vẫn lời hơn là phải uống nhiều mới say, phí!
Đời thuở giờ, có ai càng rèn luyện lại càng thụt lùi, tụt hậu không. Vậy mà hắn lại nằm trong cái tốp kỳ quặc đó, mà là điển hình tiên tiến của nhóm nữa mới đáng tội. Qua ba mươi năm phấn đấu rèn luyện, đến giờ thì đô uống của hắn là như vậy đó. Anh Chí, con đẻ của nhà văn Nam Cao, nếu còn sống, nghe chuyện chắc cũng phải ngữa mặt lên trời mà thốt lên một lần nữa cái câu bất hủ đã yên vị trong văn học sử: “Thế này thì có phải là uổng rượu không!”.
Nói tóm lại là thế này, đô uống của hắn tỷ lệ nghịch với số lần tham gia các cuộc nhậu, cùng thời gian được thử thách và tự rèn luyện. Mà phải đâu lâu lâu hắn mới được uống. Hao hao với câu kết của các cụ, ghét của nào trời trao của đó, trời xui đất khiến thế nào lại bắt hắn vì công việc, vì nghề, cả vì mối quan hệ song phương đa cực, hắn phải uống thường xuyên, có khi còn bị uống liên tục nữa là đằng khác.
Từ lâu lắm rồi, các cụ tổ đã bật đèn xanh cho phép lũ cháu con được uống, vô tửu bất thành lễ. Hắn là một trong đám cháu con thuộc hàng tép riêu, không dám không tuân lời các cụ. Thế nên chưa bao giờ hắn thù ghét chi bia, rượu.
Cho dù học vấn của hắn qua bao nhiêu năm cũng chỉ cỡ trung bình yếu, hắn cũng đã từng đọc và hiểu không ít trang sách tờ báo có đăng mục khuyến cáo về tác dụng xấu của bia, rượu đến sức khỏe con người. Lẽ ra phải sợ, đằng này cho đến giờ hắn vẫn thích nhậu đó thôi. Nhậu để được dịp ngồi bù khú trên trời dưới đất với đám bạn bè thân thuộc, hiểu nhau. Nhậu để tuổi hến của hắn được dịp mở miệng trong giây lát, tranh cãi um sùm với đám bạn, để rồi khi tan men không dám cãi nữa vì hắn hiểu rất rõ cái lý sự cùn của hắn. Nhậu còn để mượn men xé giùm vài mối liên kết hóa học phức hợp trong mấy miếng thịt rán mà cái bao tử đang độ về già của hắn không còn kham nổi.
Chỉ có ngu mới không uống. Ai nói hắn sai, hắn chịu. Thi thoảng say tí cũng hay hay. Đất say đất cũng lăn quay / Trời say mặt cũng đỏ gay, ai cười. Cụ Hiếu – người con ưu tú của quê hương sông Đà núi Tản – còn nói vậy, huống là.
Nhưng thề có thằng Cuội trên cung trăng và ngài Thổ công dưới mặt đất. Đến lạ lùng, hắn tuyệt nhiên không dung thứ, thù đắng ghét cay cái say kiểu bặm trợn cùm khóa phần người / tháo cũi xổ lồng phần con, trong chỉnh thể một-con-người.
Quá nửa phần đời ngồi nhâm nhi với gần đủ mọi hạng người, hắn có thể kể lơ mơ tới một ngàn lẻ một chuyện nhậu và liên quan đến nhậu. Hoặc có thể kể vanh vách, như in, một trăm lẻ một chuyện nhậu đại loại như thế. Nghịch vui, có. Kỳ cục, có. Thanh, có. Tục, có. Vừa thanh vừa tục, có. Và cả những chuyện tởm lợm, mới nhớ lại thôi đã phát buồn nôn. Thật may cho hắn, cũng nhờ cái đô rượu kém cỏi đó mà hắn đỡ phải tham gia tới cùng vô số những cuộc nhậu có phát sinh vấn đề. Nhân đây hắn cũng thật lòng xin lỗi các bạn nhậu, hắn, có lúc cũng đã mượn cái chứng chỉ “đô yếu” để diễn trò xây-xẩm-khi-chưa-xỉn, hoặc ngáy-trước-khi-ngáp để lách qua biền những cái cụng ly đầy nhạy cảm.
Say đến hết biết gì, không còn kiểm soát nổi ý nghĩ và hành động của mình, từ đó làm bao điều trái với luân thường đạo lý. Đã là điều chưa ai từng chấp nhận. Bất chợt hắn lại nghĩ tới những kẻ giả say, mượn rượu để buông thả cho phần con tha hồ tự tung tự tác. Không dưng hắn nhớ lại chuyện xảy ra cách đây khoảng chục năm…
Trong một chuyến dã ngoại cùng mấy thằng bạn về với một làng biển mang cái tên rất thái bình và an vui. Người quê nơi đây cũng hiền hòa, hiếu khách như cái tên làng đã có từ đời nảo đời nao. Sau cuộc tiệc rượu gồm toàn mồi hải đặc sản do gia chủ mời, một thằng bạn của hắn đã say đến độ cố tình mặc nguyên bộ đồ của A-đam, nằm chòng queo trên bộ ván gỗ giữa nhà chủ dưới ánh đèn nê-ông 40W trùm phủ cả căn phòng. Chiếc mền con công khổ nhỏ cũng bị thằng bạn say của hắn cố ý khều đạp lên quá rún. Cái mô hình của thứ vũ khí trấn thủ kinh thành Phú Xuân giữa thế kỷ mười chín lồ lộ ngang nhiên, làm xẩm tối cả một góc phòng. Nhà một gian. Tội nghiệp mấy cô con gái nhà chủ đang tuổi cặp kê. Cho dù không tham gia cuộc nhậu, mặt các cô cũng đỏ lòm lòm một cách tự nhiên, in cái bản mặt hắn khi uống đủ hai chai năm mươi, hay tu đúng nguyên một xị “ru-ga”.
Bất giác hắn nghi ngờ luôn cả thi sĩ vĩ đại bắc phương Lý Bạch, thi sĩ tài hoa trời nam Vũ Hoàng Chương – rằng các vị ấy đã sáng tạo nên những vần thơ say bất tử trong cơn say lúy túy, trời đất cuồng quay. Dù không tin hết những câu chuyện từng được đưa vào quốc văn giáo khoa thư do các nhà văn khái quát, cường điệu lên ít nhiều để làm bài học răn người, hắn cũng tin chắc rằng chưa có ai trên đời sống tốt hơn trong cơn say, chí ít là tốt với chính bản thân mình.
Thế nên mặc dù chưa bao giờ thù ghét chi bia rượu, hắn vẫn tự cho phép hắn thù đắng ghét cay cái say bặm trợn kiểu cùm khóa phần người / tháo cũi xổ lồng phần con, trong chỉnh thể một-con-người./.

NGUYÊN VI

THƠ NGUYỄN NHƯ MÂY

nguyennhumay

Biết đời chẳng có gì đâu
Ngoài cây nến thắp hai đầu áo quan
Và đôi mắt khép muộn màng
Sau khi đã nhận trăm ngàn đắng cay

Nhưngtôi vẫn cứ dang tay
Đón trời đất , đón đêm ngày thế gian
Có khi nước mắt đã tàn
Vẫn cười gượng để giấu ngàn nỗi đau

Vẫn nhìn lên cõi trăng sao
Nghĩ suy thân phận mà đau một mình …

NGUYỄN NHƯ MÂY

VÀNG PHAI

Em về giữa tháng mười hai
Áo xưa giờ đã nhạt phai tháng ngày
Hai hàng lá nhỏ chiều nay
Bỗng lao xao úa trên tay rụng vàng
Em về nhịp guốc rơi hoang
Dư âm diễm đọng trên ngàn dấu xưa

Em về chốn cũ chiều mưa
Gió liu thiu gió lạnh mùa u giêng
Vói tay vịn bóng muôn phiền
Vàng phai tình đã quên tuổi rồi?!

Thanh Hà 1976. Cho Thu Hòa
ĐĂNG THỌ

DẬY MÀ ĐI – ĐỨNG DẬY MÀ ĐI!

trantrungta

Năm 1818, vua Gia Long ra Hoàng Sa
Thăm lính và cắm bia làm dấu tích…, đặt tên biển là Nam Hải, Biển Của Nước Nam.

Năm 1858 quân Pháp chiếm Đông Dương làm thuộc địa. Biên bao quanh nước ta và một phần Cambodge được Pháp đạt tên là Mer de l’Indochine, tức Biển Đông Dương, nay ta gọi là Biển Đông.

Chính quyền Pháp thiết lập Đài Khí Tượng và dựng Hải Đăng trên quần đảo Hoàng Sa
Bản đồ Đông Dương, Indochine, có in những chi tiết đó
Khi quân Pháp rút về Pháp, năm 1956, Hoàng Sa, Trường Sa bàn giao cho chính phủ Việt Nam Cộng Hòa vì dưới vĩ tuyến 17
Tổng Thống Ngô Đình Diệm đưa lính ra trấn giữ, đưa công chức ra làm việc

Tổng Thống Ngô Đình Diệm lập kế hoạch lấy phân chim ở Hoàng Sa Trường Sa làm phân bón ruộng
Đưa bản kế hoạch cho Cố Vấn Mỹ xem, trình về Mỹ, bị bác.
Nước Mỹ thừa phân để viện trợ cho Việt Nam!

Cùng với dự tính lập nhà máy phân, Tổng Thống Ngô Đình Diệm còn muốn lập nhà máy sản xuất súng đạn
Rừng Giá Tị, tức cây gỗ Teck dùng làm báng súng, được trồng cả ngàn ngàn mẫu, cố vấn Mỹ khuyên đừng.
Rừng Giá Tị còn đó, 60 năm rất xanh tốt
Long Bình đáng lẽ là nhà máy chế súng và đạn, Mỹ trưng thu dùng làm Kho chứa Đạn Mỹ!
Năm 1973, Mỹ ký kết với “Phe Bên Kia” Hiệp Định Paris để rút hết nửa triệu quân Mỹ về trong danh dự

Trước đó, một năm, Tổng Thống Nixon của Mỹ qua Tàu gặp Mao Chệt Tung, giao hảo thắm thiết.

Năm 1974, đầu năm, Hải Quân VNCH có chuyến công tác Hoàng Sa, bị chiến thuyền của Trung Cộng ngăn cản.

Bên ta khai hỏa, quân Tàu đáp lễ ngay và chiếm đảo, bắt hết Đại Đội Địa Phương Quân trấn đóng đảo, giết chết hơn bảy mươi sĩ quan và thủy thủ VNCH, một số sống sót thì bắt đưa về Tàu.

Không Quân VNCH ở Biên Hòa, Đà Nẵng, Huế, Nha Trang trong tình trạng sẵn sàng cất cánh
Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu báo ngay cho chính phủ Mỹ biết và xin giúp đỡ

Hạm Đội 7 Mỹ đang rất gần Hoàng Sa không phản ứng gì
Máy bay và tàu chiến VNCH đành bất động
Ta mất Hoàng Sa vào tay giặc!
Sau đó, Tàu Cộng có gửi thư cho Tổng Thống Thiệu qua trung gian Singapour với yêu cầu Tổng Thống Thiệu cử Cố Vấn của mình là Hoàng Đức Nhã qua nhận.
Ông Hoàng Đức Nhã đi nhận. Nội dung thế nào thì tới nay cũng không nghe nói dù ông Hoàng Đức Nhã còn sống.

Chứng tích lịch sử rành rành, ta thua Tàu thật đáng xấu hỗ!

Lại nhớ chuyện Tổng Thống Diệm cầu tài nơi chính phủ Tàu Đài Loan giúp xây dựng trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị, và xin tin tình báo của nhóm gián điệp Tàu tại Miến Điện, Tổng Thống Diệm cho đứt Tưởng Giới Thạch đảo Ba Bình, đảo lớn nhất ở Trường Sa như cách đền ơn…
Hiệp Định Genève 7 – 1954 xác định Hoàng Sa và Trường Sa nằm dưới vĩ tuyến 17 và thuộc lãnh thổ của Nam VN.

Dấu tích lịch sử còn ràng ràng.
Nội dung thư Chu Ân Lai viết cho Tổng Thống Thiệu không được cho biết.
Việt Nam dưới chế độ nào cũng chỉ còn máu xương…

Nước ta từng có tên là Đại Cồ Việt, Đại Việt, Đại Ngu rồi lại Đại Việt. tên cuối cùng cho đến năm 1945 là Đại Nam. Ông bà tổ tiên chưa hề xưng nước-tui-là-nước nhược-tiểu, chúng ta đạp lại sạch bàn thờ Tiên Tổ…vòng tay thưa khắp thế giới : Việt Nam Là Quốc Gia Nhược Tiểu, Trời ơi!

Hồ Quý Ly đặt tên nước cực kỳ chính xác: Đại Ngu

Ông Tản Đà làm thơ…cũng chính xác: Nước Bốn Ngàn Năm Chưa Thức Tỉnh, Dân Bao Nhiêu Triệu Cứ Còn Mê! Nước Bốn Ngàn Năm Chưa Người Nhớn, Dân Lên Trăm Triệu Toàn Trẻ Con!

Buồn quá khi lật lại những trang lịch sử ố vàng…
Lật lại và thấy những câu Hịch Sát Đát, nước mắt cứ tuôn tuôn.
Hưng Đạo Đại Vương quyết tâm đánh quân Nguyên, kêu gọi ba quân một lòng một dạ. Và quân ta đã thắng!
Nay…Hịch không thấy
Chỉ nghe những lời khuyên: Nhẫn nhịn! Dĩ bất biến ứng vạn biến!

Một câu nhịn chín câu nhục! Không thể được!
Thà sống mái một lần. Thà một lần quyết liệt
Quyết Tử cũng là Quyết Sinh!

Hãy dây mà đi hãy dây mà đi
Anh Em Ơi!

TRẦN TRUNG TÁ

BÀI CẦU NGUYỆN MUÔN ĐỜI

phamkhanhvu

Xin đêm dài rộng lượng
Ôm em đầy vòng tay
Xin mưa về trên vai
Môi ru tình ngọt ấm
Xin mùa đông ảm đạm
Quên mình được làm người
Xin làm cội hoa tươi
Nở trong mùa địa ngục
Xin không còn hạnh phúc
Trong đêm đẹp vô cùng
Xin làm đóa hướng dương
Kiêu hãnh cười dưới nắng
Xin làm con bướm trắng
Bay giữa lòng đêm vui
Xin làm một mặt trời
Lăn qua thành phố chết.

PHẠM KHÁNH VŨ

LỜI CHIM HÓT NÚI

daolam

Một ngày chim hót núi
Gọi bình minh giao tình
Anh mang lời tình gọi
Về…hong ấm trang kinh

Câu thơ em buồn bã
Rơi trên nhánh vàng bay
Nhớ lời chim hót núi
Lay động mãi tháng ngày

Tìm bóng sương trong khói
Tìm nhau giữa mộng ngời
Như loài chim hót núi
Theo hình lạc bóng trôi

Trơ vơ nghìn năm tuổi
Một bóng nguyệt lặng thầm
Anh, loài chim hót núi
Em, giấu hàng lệ rưng

Mai về bên gốc nhớ
Chờ nghe tiếng hót xưa
Thắp lòng đêm thuở nọ
Săm soi giấc mộng vừa…

THEO LỜI CHIM HÓT NÚI XƯA
VỀ THĂM THẲM HÚT…NẮNG THƯA CUỐI RỪNG

DaoLam

NƯỚC TRÔI QUA CẦU

huongthuy

“Những lời yêu ấy nay đà quá xa… “(Cho người tình lỡ-Nhạc Hoàng Nguyên)

Hai đứa ở cùng xóm,chung một ngõ,biết nhau từ thuở còn thơ.Thời Ni học lớp 1,mỗi chiều tan trường,chính Cu Tí -tên móc nôi của Hoàng- phải cầm que xua hai con ngỗng chặn đường trước vẻ mặt xanh xám của Ni.
Nhà Ni ở cuối ngõ. Căn nhà lợp ngói âm dương cổ kính với hàng chè tàu bao bọc chung quanh. Mùi hoa dạ lý thơm nức trong vườn. Ba Ni dạy trường Trung học Hàm Nghi,ngày hai buổi đi chiếc Honda Dame màu xanh qua Thành Nội. Nhà Hoàng ở đầu ngõ. Cha mất sớm,mạ tần tảo gánh bún bò nuôi ba anh em. Biết thân phận nghèo khổ của gia đình, Hoàng chăm chú học hành và nổi tiếng học giỏi toàn xóm. Cuối bậc Tiểu học,Hoàng ngồi trên chiếc xích lô của chú Tư với chồng phần thưởng Danh dự toàn trường ngập mặt trong tiếng xuýt xoa của ba Ni “Thằng này sau chắc khá!”
Ni thi vào đệ thất. Ba qua nhà xin với mạ Hoàng “cho Cu Tí qua kèm cặp em Ni”. Năm đó,Hoàng mới học đệ ngũ trường Quốc Học. Cứ ba giờ chiều,Hoàng ôm cuốn “300 bài Toán khó “của Trần Tiếu đi vào nhà dạy Ni. Mỗi lần giảng lâu mà Ni cứ giương mắt không hiểu,Hoàng lại lấy cái thước kẻ khẻ vào tay mặc kệ nước mắt Ni rươm rướm. Có lẽ nhờ sự nghiêm khắc của Hoàng,Ni thi đậu vào trường Đồng Khánh với thứ hạng khá cao. Phần thưởng ba Ni dành cho Hoàng là chiếc xe đạp Peugeot với điều kiện “ngày hai buổi chở em Ni đi học,coi sóc nó cho bác “.Mạ Hoàng cảm động,không nói thành lời.
Từ đó trên yên sau chiếc xe đạp của Hoàng là Ni. Ni mặc áo đầm trắng,thắt nơ đỏ xinh xắn.Hoàng bắt Ni gọi mình là “anh Hoàng”,không được nhắc tên Cu Tí trước mặt bè bạn.Ni ngoan ngoãn vâng theo. Đoạn đường từ Nguyệt Biều thẳng xuống Lê Lợi không xa lắm. Hai anh em chuyện trò ríu ran suốt cả con đường Huyền Trân Công chúa. Hai trường cách nhau một con đường nhỏ. Đồng Khánh tan trước Quốc Học 15 phút. Ni ôm cặp đợi Hoàng ở nhà mụ Cai. Đám bạn Hoàng cứ khen “Mi có một đứa em thiệt là ngoan”.
Một lần, xe bị xẹp lốp ở ngay Cầu Lòn,hai đứa phải dắt đi bộ. Có một thằng nhóc mất dạy cứ chạy theo tốc áo đầm của Ni lên. Ni xấu hổ đến phát khóc. Nạt ba lần không được,Hoàng chống xe xuống đập nhau với thằng nhóc. Hậu quả là chiếc áo trắng đã cũ của Hoàng rách một vệt dài ở nách. Hai đứa bàn nhau giấu ba mạ. Buổi trưa Ni trốn ngủ ra sau vườn may lại áo . Những mũi kim vụng dại nhăn nhúm.
Mi lớn dần lên và bắt đầu biết “dị”. Năm lên lớp đệ ngũ Ni đã mặc áo dài và đỏ mặt xấu hổ trước sự cắp đôi của mấy đứa trong xóm. Nhất là những lời trêu chọc độc ác của Luyến, đứa con gái không đẹp lắm ở gần nhà Hoàng. Luyến học đến lớp 5 thì nghỉ ở nhà theo mẹ bán buôn. Mỗi lần thấy Hoàng chở Ni đi ngang, cái miệng của Luyến lại rống lên “Con gái chơi với con trai. Về sau cái vú bằng hai quả dừa”. Mặt Ni tía tai .Hoàng càu nhàu “Kệ nó. Đồ con gái vô duyên thúi.”
Lên đệ tứ thì Ni nhất quyết không ngồi sau yên xe Hoàng nữa. Bây giờ tụi trong lớp cũng biết Ni với Hoàng không phải là anh em. Mặc kệ lời phân trần của Ni, tụi nó trêu “Chắc hai đứa bây đã có chi với nhau”. Chiều Ni, ba mua cho con gái một chiếc mini màu trắng xinh xắn. Bây chừ thì hai chiếc xe đạp đi song song hàng ngày trên con đường Công chúa Huyền Trân.
Ni dự định chọn ban C khi lên đệ nhị cấp. Ni nói với Hoàng “Em sợ Toán lắm. Mai sau em sẽ thi vào Đại học Sư Phạm và làm cô giáo dạy Văn”. Hoàng nói “Còn anh sẽ thi vào trường Phú Thọ. Anh muốn làm kỹ sư. Mà kỹ sư thì phải giỏi Toán”.
Một bữa Hoàng rủ Ni lên chùa Thiên Mụ cầu cho anh thi đậu Tú tài I. Lo cho Hoàng, Ni đồng ý ,lại còn đem theo một thẻ nhang. Hai đứa leo lên những bậc tầng cấp rồi nhìn ra dòng sông Hương lộng gió. Nước sông xanh ngắt. Hoàng đọc cho Ni nghe bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử rồi nói “Ông Hàn Mặc Tử là Thi Thánh .Ni có thấy đúng là “ dòng nước buồn thiu “ không?”.Ni ngạc nhiên dân ban B như anh Hoàng mà tâm hồn cũng lãng mạn rứa a?
Đến dưới chân tháp Phước Duyên, Hoàng thắp nhang rồi lầm thầm khấn. Ni hỏi “Anh khấn thi đỗ hạng ưu à?” Hoàng cười “Bí mật”. Hai đứa ăn bánh bèo Kim Long rồi đi về.
Một bữa Ni chạy qua nhà Hoàng nhờ bày cho cách làm một bài Essay. Muốn vô ban C Anh văn phải thiệt giỏi. Hoàng đang ngủ. Chắc đêm qua anh thức khuya quá. Ni lục bàn học của Hoàng tìm cuốn tự điển. Thấy một quyển sổ đèm đẹp, Ni cầm và lật ra xem.Trên nền giấy trắng,có hàng chục dòng chữ cả Anh lẫn Pháp: I love you ,Je t’aime…Chu cha. Anh Hoàng có bồ. Ni nghe tưng tức trong bụng. Cô mô đây?. Ni lật qua trang thứ hai. Hàng trăm chữ Hoàng Ni nối tiếp nhau. Trống ngực Ni đánh thình thịch. Ni chạy về nhà, vào phòng nằm trên giường tim vẫn còn run.
Sáng hôm sau, bé Na kêu “ Chị Ni nhanh lên,anh Hoàng chờ hơn mười phút rồi”. Ni dắt xe đạp ra. Trên quảng đường dài, hai đứa không nói với nhau câu nào.
Hôm nay được nghỉ hai tiết cuối , Ni định về trước nhưng không hiểu sao lại đứng chờ Hoàng ở bức bình phong long mã trước trường Quốc Học. Sông Hương mùa này nước đục, báo động mùa lũ sắp đến. Ni nhớ ngày còn nhỏ, hai đứa đi lội nước lụt, xem người ta rớ cá thật vui. Ni lại nhớ những dòng chữ trên cuốn tập ngày qua, lòng xôn xao…Hoàng đứng sau lưng Ni từ lúc nào. Anh trao cho Ni cuốn sách bọc giấy màu xanh da trời. “Anh tặng Ni nè”. Đó là cuốn “Lá tương tư” của nhà văn Mường Mán, cuốn truyện đang làm xôn xao nữ sinh Đồng Khánh. Trên trang cuối cùng, Hoàng đề ba chữ nhỏ xíu bằng bút chì “Anh thương Ni”.
Chuyện của hai đứa bắt đầu như rứa đó. Ba mạ không cấm, chỉ khuyên hai đứa cứ như anh em xưa nay, khi nào lớn hẵng hay. Mạ Hoàng xuýt xoa “Thằng Hoàng thiệt có phước. Được gia đình ông Giáo thương”. Bác Tám sửa xe dưới gốc đa đầu xóm kêu “Hai đứa bây như Lục Vân Tiên với Kiều Nguyệt Nga”. Rồi bác ngâm nga “Vân Tiên ngơ mặt chẳng nhìn. Nguyệt Nga ngó thấy càng thìn nết na”.
Hoàng thi tú tài I đậu hạng Bình. Ba thưởng tờ 10 ngàn kêu đi ăn bù lại thời kì sôi kinh nấu sử. Hai đứa chẳng biết ăn chi ngoài bánh bột lọc học trò của mụ Đỏ bên Chi Lăng. Hoàng rủ Ni lên chùa Linh Mụ tạ ơn. Ni hỏi có phải anh tạ ơn thi đậu?Hoàng cười “Không, hôm nớ anh cầu cho Ni thương anh”. Ni lo lắng “Người ta nói thương nhau mà lên chùa Linh Mụ là xui lắm”.Hoàng cả quyết “Có sông Hương làm chứng cho anh”.
Hoàng lên đệ nhất,Ni đệ tam. Hai đứa quyết tâm học thật giỏi. Hoàng sẽ là kỹ sư,Ni sẽ là cô giáo. Ước mơ trong tầm tay…
Vậy mà đùng một cái. Biến cố 75. Cái xóm nhỏ của hai đứa thay đổi như bom B52 nổ. Ba của Luyến không chết mà ông ta tập kết ra Bắc bây chừ trở về trên chiếc xe Com măng ca màu xanh bộ đội, nghe nói làm chức gì to lắm. Căn nhà ba tầng của Thiếu tá Huyền Trung đoàn 54 bị trưng thu thành Cửa hàng Thương nghiệp. Cô Luyến đứng vênh váo sau quầy trong chiếc áo mậu dịch viên ,quyền hành to như giám đốc.
Bất ngờ hơn, ba Ni bị Công an khu vực đưa giấy gọi đi cải tạo vì có hai năm là Trung úy biệt phái. Mặc dù ba cố giải thích đây là chức vụ dự bị của ngành giáo dục, thực sự ba chưa cầm súng ngày nào. Nhưng ông Công an lạnh lùng nói “Nguyên tắc thiếu úy là đã phải đi học tập. Huống gì ông lại là Trung úy. Trung úy biệt phái có nghĩa là ông được phái qua giáo dục làm nhiêm vụ gì đó rất đặc biệt”. Mạ nước mắt lưng tròng chuẩn bị áo quần cho ba lên trại Bình Điền. Chị em Ni khóc rấm rứt. Xóm nhỏ ngậm ngùi thương cho ông giáo hiền lành chuyên làm việc phúc đức.
Hoàng chở Ni đi thăm ba. Con đường ngót 20 cây số về phía Tây thành phố. Qua lăng Minh Mạng,qua buôn Tà Rầu lại thêm một con dốc cao vút mà người thăm nuôi phải lè lưỡi kêu “Mạ ơi!”. Lâu dần thành cái tên “Dốc Mạ ơi!”. Lên đỉnh dốc,hai đứa ngồi nghỉ ở một bụi tre.Thấy Ni buồn Hoàng nói “Bữa ni nhà có việc chi nặng cứ kêu anh”. Ba cũng dặn dò “Nhà còn có ba mẹ con. Đêm hôm có chuyện chi cứ nhờ anh Hoàng”.
*
Đời sống ngày càng khó khăn. Đói xanh mặt. Đói vàng mắt. Khẩu phần mỗi người một tháng chỉ được mua 3kg gạo,còn toàn là bo bo,sắn lát. Ni đi mua gạo theo phân phối. Luyến cầm sổ gạo vất cái chạch, miệng mỉa mai “Hoàng thị Ni Ni. Cái tên nghe sặc mùi đế quốc”. Gạo vàng khè,ẩm mốc. Mạ phải ngồi sàng từng con mọt. Sang nhà Hoàng, mạ Hoàng khoe “Bác mua được gạo trắng tinh. Con Luyến ngó rứa mà tốt”.
Một đêm mạ buồn buồn bảo Ni “Ba đi học tập không biết khi nào về. Mạ ốm yếu không làm chi được. Thôi con nghỉ học,tìm cái ngành nghề chi giúp mạ, giúp em qua ngày”.
Ni ứa nước mắt. Thôi rồi ước mơ. Đành vậy thôi. Ni bỏ trường,bỏ lớp,xếp mấy cái áo dài trắng vào tủ đi học thêu ren ở Hợp tác xã Vĩnh Ninh. Giá một bức tranh thêu được hai đồng bạc Bắc. Hoàng an ủi “Thôi để anh học gấp đôi, bù cho Ni”.
Lần thăm nuôi thứ hai, Hoàng đưa cho Ni một gói đường cát. Ni hỏi ở đâu ra. Hoàng nói cửa hàng nhờ làm sổ sách,cô Luyến tạ ơn. Ni mừng húm. Gói đường giúp ba có thêm calory sau những buổi lao động mệt nhọc. Lần này Ni đi một mình. Mấy tháng nay Hoàng cũng phải kiếm việc làm thêm. Mạ Hoàng cũng phải giải nghệ gánh bún bò. Thời buổi không ai có tiền để ăn thứ hàng xa xỉ này. Lên con dốc “Mạ ơi!”, Ni ngồi nghỉ đúng chỗ hai đứa ngồi hôm trước. Ba gầy và xanh hơn. Ba an ủi Ni “Chắc Ba học tập cũng nhanh thôi. Ba đâu có làm gì hại dân hại nước”.
*
Bé Na kêu “Ui chị Ni,em thấy anh Hoàng chở bà Luyến”. Ni gạt phắt “Đừng nói tào lao.Công việc đó em”.Thâm tâm Ni cũng nghĩ bé Na nói bậy. Ni tự tin nhớ lời Hoàng “Con gái con lứa ăn nói cục mịch,cười ha hả. Vô duyên”.
Dạo này Ni thêu đẹp,chăm chút từng đường kim mũi chỉ cố tăng thêm thu nhập. Chị tổ trưởng khen “Bé Ni có năng khiếu”. Ni cười buồn “Gặp thời thế thế thời phải thế!”. Ni nhớ tuổi thơ năm nào vụng về may cái áo rách cho Hoàng. Mai sau mình sẽ vá áo cho anh ấy thật đẹp.
Ni lên Cửa hàng Thương nghiệp Thành phố xin duyệt cái giấy giới thiệu mua chỉ màu cho tổ hợp thêu. Lâu rồi Ni không đi đâu,chỉ biết cắm mặt vào cái khung thêu. Con đường Lê Lợi thênh thang với hàng cây long não xanh ngắt trên đầu. Ni nghe lòng chùng lại khi đi qua trường cũ. Ngay cả ngôi trường cũng đã thay tên. Ni tò mò đưa mắt nhìn vào. Môt đám học sinh vừa nam vừa nữ đang quét dọn trong sân. Ngôi trường cũng không còn độc quyền giành cho đàn bướm trắng của Huế. Ni nhớ cái phòng học tôi tối của lớp Tam C ; nhớ giờ Anh văn của thầy Hạnh; nhớ cây thước của cô giám thị Hạnh Phước; nhớ giờ ra chơi chạy xuống mua yaourt với mục đích chỉ để ngắm khuôn mặt duyên dáng của chị Minh Đức rồi bàn tán chị nào đẹp nhất trường mình. Chị Tiểu Kiều hay Mộng Vân,Tường Vy…Tất cả bây chừ như một thế giới mơ hồ xa lắc.
Chực chờ cả hai tiếng đồng hồ, bà chủ nhiệm mới duyệt cho Ni với một chữ ký loằng ngoằng không rõ nét. Ni thở phào nhẹ nhõm bước ra. Chiều đã về trên thành phố. Những đám mây trắng lang thang trên bầu trời. Ni yêu Huế,một xứ Huế cơ cực nhưng duyên dáng, những con người hiền lành với những mối tình dài lâu như ba mạ, như Ni với Hoàng. Ni nhắc mình nhớ nhờ Hoàng qua sửa cái công tắc điện nhà bếp tối nay.
Ni ngồi ở chỗ sửa xe của bác Tám chờ Hoàng. Mạ Hoàng nói anh đang quyết toán sổ sách cuối quý cho cửa hàng. Ni ngại khi phải chạm mặt Luyến. Bao giờ mặt cô ta cũng đăm đăm khi thấy Ni. Bác Tám hỏi thăm tình hình của ba Ni rồi thở dài.
Chờ lâu lắm rồi Hoàng cũng bước ra,sau lưng là Luyến. Luyến nhảy lên sau yên chiếc xe đạp rồi vòng tay ôm lấy lưng Hoàng. Trên giỏ xe đầy ắp thuốc lá,đường,sữa…Hoàng cong lưng nhấn cái bàn đạp. Anh ngó lơ khi nhìn thấy Ni. Nụ cười của Luyến vang vọng khanh khách. Ni cúi mặt nghe lòng chênh chao. Bác Tám lầm bầm “Đồ ngựa Thượng Tứ”.
Ni đi thăm ba. Dĩ nhiên là không còn Hoàng. Cái giỏ xách nhẹ mà lòng Ni nặng trĩu. Đẩy chiếc xe đạp lên dốc “Mạ ơi” tưởng không muốn nổi nhưng Ni không dừng lại nghỉ, không ngó đến nơi hai người đã từng ngồi. Câu nói hôm nào đau thắt trong ngực Ni “Có sông Hương làm chứng cho anh”.
Ba hỏi thăm tình hình mấy mạ con ở nhà và rồi “Thằng Hoàng mô? Răng con đi một mình?”Ni giả đò như không nghe ba hỏi. Ba bóp nhẹ tay Ni không nói gì. Bàn tay quen cầm phấn của ba nay đã chai sần.
Lượt về, đứng trên dốc nhìn xuống. Nếu không có ba mạ, bé Na chắc Ni sẽ cho xe lao xuống và buông hai tay…
*
Ni cúi mặt trên khung thêu. Cái tin Hoàng cưới cô Luyến rồi đi học Đại Học Thương nghiệp tận ngoài Hà Nội mấy hôm nay xôn xao xóm nhỏ. Nhà Hoàng được quét vôi sạch sẽ. Ông bố Luyến còn cho người tới tô xi măng cái sân. Mạ Hoàng nói với người trong xóm “Tui tội con Ni nhưng lấy con Luyến thằng Hoàng mới có tương lai”. Chú Tám sửa xe nói lối “Xin đừng tham đó bỏ đăng. Chơi lê quên lựu chơi trăng quên đèn”. Mỗi lần bắt buộc phải đi ngang nhà, Ni che nón cúi mặt bước nhanh như chạy trốn.
Chị Tổ trưởng xếp lại mấy cái khăn thêu nói bâng quơ “Ở xứ ni con gái bao giờ cũng thiệt thòi vì cái tình nặng quá. Con trai rủ một cái nhẹ tênh”. Cây kim đâm vào ngón tay Ni. Một giọt máu rơi xuống bức tranh thêu. Mắt Ni long lanh. Chỉ tại chiều hôm nay trời nhiều gió…
*
Ni mở cái hộp gỗ cẩn xà cừ mạ cho hôm sinh nhật 16 tuổi. Mùi hương trầm thoang thoảng bay lên. Tất cả gồm ba mươi hai tờ giấy perlure màu xanh,màu hồng được buộc lại bằng một sợi ruy băng đỏ. Niềm tin của Ni đó. Tình yêu của Ni đó.
Ni châm ngọn nến trắng. Tay run run cầm những tờ thư. Này là hai câu thơ của Nguyễn Công Trứ trong bài Tương Tư: ”Trăng soi tước mặt ngờ chân bước.Gió thổi bên tai ngỡ miệng chào”. Này là thơ Xuân Diệu “Anh chỉ có một tình yêu thứ nhất.Anh trao em cùng với một phong thư”. Này là đóa tường vi được ép khô hôm hai đứa đi vô Đại Nội. Này là cây viết Pilot màu tím có khắc hai chữ Hoàng Ni…
Một tấm ảnh rơi ra. Ảnh của Hoàng hôm thi đậu Tú tài Bán được thầy Hiệu trưởng Quốc Học Nguyễn Khắc Tuân trao phần thưởng. Nụ cười Hoàng trong sáng rạng rỡ. Ni thẩn thờ đưa bức ảnh vào lửa. Gương mặt Hoàng méo mó,nhăn nhúm,cong queo.
Ni mở to mắt nhìn trừng trừng đống tro tàn. Đầu xóm tiếng pháo đón dâu nổ ran…

HƯƠNG THỦY

Tốt nghiệp Đại học Sư phạm Huế niên khóa 72-76.Từng cộng tác với Tuổi Hoa,Tuổi Ngọc,Ngàn Thông…Dạy học ở Bảo Lộc,Đalạt,Lâm Đồng,Nghỉ hưu ngưng vẫn tiếp tục ‘ chiến đấu “ở các Trung Tâm