đèn chong héo hắt hao gầy
dầu khô bấc lụn đắng cay giấc thầm
buồn tênh cũng ghé bên nằm
ôm nhau vào giấc mộng thầm chờ trăng
trăng đêm lại đến muộn mằn
đèn khuya vừa đủ thăng trầm một đêm.
VŨ HY TRIỆU
NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before The Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.
LACY WRIGHT
(Nhân viên ngoại giao. Trưởng phòng chính trị)
“Hy vọng luôn bừng nở”
Tôi sinh trưởng ở Springfield, Illinois thuộc miền Trung Tây nước Mỹ. Xong đại học, sang La Mã thụ giáo linh mục hai năm rưỡi. Rồi bỏ dở. Về lại Mỹ dạy trung học tại Chicago một năm. Thời gian ấy tôi dự một kỳ thi tuyển nhân viên ngoại giao và theo học chương trình cử nhân Bang giao quốc tế tại đại học Chicago một năm. Tôi cũng không theo hết chương trình, vì đã được nhận làm nhân viên ngoại giao từ đầu năm 1968. Lúc ấy, ai vào ngoại giao mà chân còn cất bước và mồm còn bỏm bẻm nhai kẹo cao su được là được gửi đi Việt Nam.
Có thể nói lúc ấy đối với đa số người làm ngoại giao, bị đưa sang Việt Nam là một điều cay đắng. Ngành ngoại giao thời ấy, ít hay nhiều, đều có khuynh hướng chống chiến tranh. Chưa kể người ta sợ, chẳng ai muốn mất mạng giữa thời son trẻ. Nhưng phần lớn chúng tôi đều đã được đưa sang Việt Nam.
Sang bên ấy, có điều kỳ lạ làm chúng tôi thay đổi: đa số đâm ra thích Việt Nam. Nhiều người, kể cả tôi, sau khi về, lại tình nguyện xin trở lại.
Trước khi đi, chúng tôi được học mười tháng tiếng Việt tại học viện ngoại giao ở Hoa Thịnh Đốn. Dù không giỏi bằng nhiều người khác, nhưng khả năng Việt ngữ của tôi cũng không đến nỗi nào. Trái với điều người ta thường bảo người Mỹ không hiểu biết gì về xứ sở này, kể ra cũng có phần đúng, nhưng phần lớn nhân viên ngoại giao và nhân viên các ngành đều nói được tiếng Việt, nói rất giỏi. Tất nhiên không sánh được với người Pháp và vài nhóm người ngoại quốc khác tại Việt Nam.
Học viện ngoại giao không phải chỉ gồm có nhân viên ngoại giao. Dù nhân viên ngoại giao chiếm đa số, nhưng còn có cả các sĩ quan quân đội, thường là cấp thiếu tá, trung tá, và nhiều người thuộc các cơ quan khác. Nói chung, sĩ quan quân đội hơi lớn tuổi đối với việc học Việt ngữ, vốn là một ngôn ngữ khó. Trung bình họ ngoài bốn mươi, và cũng không có ai cố theo học. Còn nhân viên ngoại giao đa số đều học tiếng Việt, nhiều người sau khi sang Việt Nam ra ngoài sinh hoạt, làm việc ở các tỉnh, đã trau dồi thêm và nói tiếng Việt rất giỏi.
Sau một năm học Việt ngữ rồi tham dự những lớp thuyết trình chuẩn bị, tôi đã đến Việt Nam vào tháng 3, 1969.
Có vài điều tôi muốn nói. Điều thứ nhất: Dân Việt không phải ai cũng như ai, có người thế này người thế khác, có người khá có người không. Những nhân viên sang bên ấy trước vẫn không có cảm tình với chính phủ Nam Việt Nam, nhưng sau khi tiếp xúc với người Việt, làm việc với người Việt, sinh hoạt với các viên chức địa phương, dần dà nảy sinh nhiều tình cảm. Những người này bắt đầu đứng bên họ, mong cho họ những điều tốt đẹp, hy vọng họ sẽ thắng. Và mặc dầu tất cả chúng tôi đều thấy chế độ Nam Việt Nam có nhiều thiếu sót, nhưng sau khi quen thuộc với chiến thuật đối phương, thấy rõ sự khác biệt của phía Cộng sản và phía bên này, chúng tôi đều nảy sinh nhiều tình cảm đối với Nam Việt Nam. Điều thứ hai: Ở Việt Nam người ta có thể sống một cuộc đời phiêu lưu, với một giá sinh hoạt rẻ. Phần lớn nhân viên dân sự chúng tôi sống tiện nghi thoải mái, tương đối an toàn. Tất nhiên nhiều người phải về những vùng nguy hiểm, nhất là những người đi các tỉnh lẻ. Nhưng với đa số chúng tôi, những hiểm nguy đó chỉ vừa đủ cho cuộc đời thêm thích thú. Nó là cảm giác sôi nổi của cuộc sống thú vị giữa những hoạt động đầy tranh cãi của thời đại chúng ta. Và đàn bà thì vô số! Người ta ở vào một thời gian và không gian mà mọi kiềm chế bình thường được tung hê tháo bỏ, chẳng phải giữ gìn gì. Tất nhiên, đó là một hấp dẫn không ngừng.
Thế đấy. Nơi ấy đã có những cái tốt, những cái xấu, có những điều cao quí và cũng có nhiều thứ kém cao quí như vậy.
Một trong những chuyện tôi thích kể là vào năm 1973 sau khi đã ký hiệp định Paris, Bộ Ngoại giao quyết định gửi nhiều nhân viên về lại
Việt Nam. Đưa người sang Việt Nam là bật rễ họ khỏi cuộc sống, gây nhiều trở ngại và thay đổi. Để thu hút chúng tôi, họ tìm cách tạo khích lệ: Trước hết, chỉ cần đi trong vòng sáu tháng để theo dõi việc thi hành hiệp định. Lương được tăng đến 25 phần trăm. Trong thời hạn có sáu tháng, lại được về thăm nhà một chuyến, hoặc tùy ý du lịch bất cứ chỗ nào vói phí tổn tương đương. Và Mỹ ở tận bên kia địa cầu, như thế nghĩa là có thể đi du lịch bất cứ chỗ nào trên thế giới tùy thích.
Sau khi đặt ra đủ thứ khích lệ hấp dẫn như thế, Bộ Ngoại giao lại cho biết nếu được chỉ định là phải đi, không có quyền lựa chọn. Tuy nhiên sau khi công bố, ai cũng muốn đi. Có người gọi cả điện thoại đến sở nhân viên hỏi: “Này, sao không thấy tên tôi trong danh sách trở lại Việt Nam.”
Chuyến đầu tiên tôi sang Việt Nam một năm rưỡi. Vào thời gian ấy chương trình Bình định đạt nhiều kết quả. Chương trình này có hai diện: một là loại bỏ Cộng sản, hai là cải thiện đời sống dân chúng. Nhiều tiến bộ đạt được trong cả hai lãnh vực. Nói chung những tiến bộ ấy bắt đầu kể từ sau vụ tổng công kích Mậu Thân thất bại và tiếp tục được vài năm. Những kết quả này làm cho phần lớn vùng đồng bằng Cửu Long trở nên yên ổn.
Vùng đồng bằng gồm 16 tỉnh, tôi đã làm việc tại một trong 16 tỉnh ấy. Không hề có hoạt động của đối phương. Phần lớn vùng đồng bằng đều như vậy, an ninh rất tiến triển. Vì thế khi trở lại, tôi có một thái độ lạc quan khá ngây thơ. Mọi người đều phấn khởi là chiến tranh đã chấm dứt, hoặc ít nhất, có một triển vọng mới cho hoà bình: Bất kể sự kiện hiển nhiên là hiệp định hoà bình này không thực hoàn hảo gì. Có lẽ vì hy vọng luôn bừng nở? Chúng tôi đã hy vọng: dẫu có thế nào, biết chừng đâu hiệp định này sẽ mang nhiều kết quả!
Vào thời điểm ấy, vẫn còn nhiều người Mỹ ở tại Việt Nam, nhờ đó đời sống vẫn thịnh vượng. Nhưng đến khi chúng ta rút đi một con số lớn người Mỹ, xứ sở này bắt đầu xuống dốc. Họ bắt đầu đối mặt với những khó khăn kinh tế trầm trọng, thiếu tiếp vận cho quân đội, và họ mất tinh thần.
Đầu năm 73 tôi được gửi đi Chương Thiện khoảng một, hai tháng. Rồi tôi lên Cần Thơ, thủ phủ vùng đồng bằng, cũng là thủ phủ quân khu 4. Lúc ấy chúng tôi thiết lập tại đây một lãnh sự quán cũng như các lãnh sự ở các quân khu khác. Tôi trở thành một trong 16 nhân viên ngoại giao làm việc dưới quyền lãnh sự Mỹ ở Cần Thơ.
Tình hình đồng bằng Cửu Long thực ra mỗi lúc một xấu. Đầu năm 74, lãnh sự quán làm một bản phân tích chiến sự rất dài, rất bi quan. Chúng tôi nắm rõ những dữ kiện xảy ra: lính đào ngũ gia tăng, quân vận thiếu hụt, tinh thần xuống thấp. Những dấu hiệu cho thấy sau một thời gian khả quan ở vùng đồng bằng vào năm 73, tình hình tuột dốc kể từ mùa Xuân 74.
Vào lúc này, Cam Bốt sắp bị Khmer Đỏ nuốt trọn. Chúng tôi đang đứng ở lằn ranh của diễn trình này. Một sự hiện đáng kể – ít ai biết – là bấy giờ có một số dân tỵ nạn chiến tranh chạy trốn Khmer Đỏ, sang Việt Nam, đến tỉnh Kiên Giang. Một nhân viên lãnh sự quán của chúng tôi đã thẩm vấn họ, đúc kết nhiều bản báo cáo dài. Sau này Khmer Đỏ chiếm đóng toàn bộ Cam Bốt, tạo ra những cuộc tắm máu, thảm sát hàng triệu con người, nhưng thật ra các hành động tàn bạo nổi tiếng ấy đã xẩy từ trước. Các cuộc thẩm vấn cho thấy Khmer Đỏ đã giết chóc dã man tại những vùng họ chiếm trước rồi, chúng tôi đã ghi nhận những sự kiện ấy vào tài liệu rất sớm, ngay từ 1974.
Nhưng việc ấy không được công bố rộng rãi. Thật ra, chúng tôi có công bố các tài liệu này tại Hoa Thịnh đốn trên một vài mức độ, tôi nhớ những người như Sidney Schanberg của tờ New York Time hồi ấy đã gạt đi, coi các báo cáo này chỉ là tài liệu tuyên truyền của Mỹ. Nhưng tôi nghĩ, nói chung, dân Mỹ không hoàn toàn xem những vụ chiếm đóng ấy bằng nhãn quan được gọi là tuyên truyền Mỹ, hay Mỹ bóp méo sự thật.
Tôi rời đồng bằng vào tháng 9,1974, nhận nhiệm vụ phụ tá đơn vị Nội chính trong ngành chính trị tại toà đại sứ. Công việc chúng tôi là theo dõi nội tình chính trị Việt Nam.
Khi phái đoàn quốc hội đến vào đầu 1975, tôi đã thuyết trình cho phái đoàn này trong lãnh vực chuyên biệt của tôi. Họ không hề đặt với tôi những câu hỏi như ông Thiệu thế nào, có nên duy trì quyền lực cho ông Thiệu hay không, hay bất kỳ câu hỏi nào khác như vậy. Họ chỉ thích nói về vai trò các đảng phái chính trị, vai trò các nhân vật chính trị khác, ví dụ về ông linh mục nổi tiếng, ông cha Thanh lãnh đạo phong trào chống tham nhũng.
Vấn đề đàn áp đối lập và vấn đề tù nhân chính trị không phải là một vấn đề mới. Nó hiện hữu và đã được quan tâm. Song le điều tôi muốn nói là vào lúc này chẳng nên xoáy vào vấn đề tù chính trị mà trọng điểm của vấn đề phải là sự sống còn của quốc gia này. Đó mới là vấn đề chính đáng. Trong mấy chuyện nhân quyền, vấn đề này cũng quan trọng thiệt, đặc biệt là quan trọng đối với mấy cha ngồi tù. Nhưng trong chuyện chính trị thì trọng điểm lúc ấy của phái đoàn quốc hội là phải đến để thực hiện một phán đoán khó khăn về chế độ Thiệu, phải cân nhắc xem Hoa Kỳ có nên tiếp tục hỗ trợ chế độ này nữa hay là thôi.
Người như Don Fraser là loại người có cái tình cảm của phái Tự Do, họ cố tìm kiếm các dấu hiệu cho thấy chính phủ Thiệu tham nhũng hay không tham nhũng. Tôi nghĩ những người như thế đã vấp phải cùng một cái lầm lẫn của dân Mỹ nói chung thường có khuynh hướng mắc phải, đó là cứ xoáy chặt vào những tội lỗi của chế độ Thiệu. Chế độ này quả có những tội lỗi. Nhưng nếu không cân nhắc xác đáng để thấy tội lỗi của đối phương còn ghê tởm gấp bội, và nếu không suy nghĩ rốt ráo để hiểu việc gì có thể xảy ra nếu đối phương chiến thắng – thì chuyện ấy không thể tha thứ hay bào chữa được.
Trong thời gian đại sứ Martin ở Mỹ, việc tan rã cao nguyên đã xảy ra lúc ông đang vắng mặt. Theo sự hiểu biết của tôi, ông đã lạc quan một cách thiếu bảo đảm lúc về lại Hoa Thịnh Đốn có thể vì ông không ở tại trung ương, ông không nắm vững những gì xảy ra. Vai trò của đại sứ Martin và phương cách làm việc của ông tất nhiên cũng là một đề tài đáng lưu ý.
Khỏi cần nói, nếu quý bạn ở địa vị ông, quý bạn cũng sẽ phải cực kỳ thận trọng mỗi khi tuyên bố, hay mỗi khi mở lời nói một điều gì. Đại sứ Martin cũng vậy. Ông được xem là con cừu đầu đàn. Những gì ông làm đều có giá trị tượng trưng. Khi phân tích phê bình ông, người ta phải nhìn các hoạt động của ông trong bối cảnh ấy, với ánh sáng ấy. Nhìn như thế, người ta sẽ thấy ông bắt buộc phải lạc quan. Một khi đại sứ Martin bắt đầu biểu lộ bi quan, ấy là mọi sự đổ vỡ hết.
Người ta cũng nói đến đại sứ Martin và những lý luận của ông trình bày về sự can dự của chúng ta vào Việt Nam. Ông giải thích tại sao chúng ta ở đây, để làm gì, tại sao cần tiếp tục. Những luận giải của ông hay hơn, vững chắc hơn rất nhiều người khác. Tôi nghe ông nói vài lần và ông đã gây nhiều ấn tượng sâu sắc với tôi.
Nhưng có một điều tôi nghĩ ông đại sứ có thể làm, và nên làm – mà ông đã không chịu làm là đối với giới truyền thông, báo chí. Tôi không bảo rằng truyền thông, báo chí không bao giờ lầm lẫn, thật ra họ lầm lẫn khá nhiều, nhưng đại sứ Martin đã gây ra nhiều đối kháng nơi họ. Ông làm cho những người vốn đối kháng cá nhân ông, đối kháng sự can dự của chúng ta ở Việt Nam trở nên đối kháng mạnh mẽ hơn. Tôi nghĩ việc này có thể đối phó cách khác. Nhưng tôi không hiểu nếu như thế liệu có ảnh hưởng gì đến cái kết quả cuối cùng không? Có lẽ không, chắc chắn cũng chẳng có gì tốt hơn. Thường người ta khó biết bên trong con người Martin, ông thực sự nghĩ gì, tin tưởng gì khi nói chuyện với công chúng và ông phải phủ trên những chuyện ấy một bộ mặt đẹp đẽ.
Tôi không dám chắc có ai biết. Nhưng bây giờ, chúng ta đã biết được một điều. Đó là trong trí ông, ông có cái hy vọng sẽ thương thảo như một giải pháp cứu vãn danh dự. Mặc dù giải pháp này chẳng hơn gì một cuộc thất trận được che đậy, nhưng như thế ít nhất còn có thể cho phép thực hiện di tản, giúp những người cần ra khỏi nước có thể đi thoát. Chúng ta cũng biết cái hy vọng ấy chỉ là hy vọng hão huyền, nhưng chính hy vọng ấy đã từng ở trong trí ông lúc ông nỗ lực đối phó tình hình.
Đầu tháng Tư, nhiều chiến dịch nhỏ được thiết trí để đưa một số người ra khỏi xứ một cách lặng lẽ, không bị lưu ý. Đại sứ Martin giao cho tôi việc giúp đỡ những người Việt thân thích của người Mỹ ra đi. Có một số nhân viên ngoại giao kết hôn với người Việt, gia đình ở tại Sàigòn và khắp nơi trong xứ. Các nhân viên này đến ăn vạ ở Bộ Ngoại giao, nằng nặc yêu cầu giúp đỡ gia đình họ. Khỏi nói chúng ta đều biết gia đình họ quả sẽ là những người phải chịu nhiều nguy hiểm.
Chúng tôi thực hiện tác vụ này qua các căn nhà an toàn ở những địa điểm khác nhau. Trong mười ngày cuối cùng chúng tôi bận rộn bù đầu, ngày nào cũng nửa đêm mới về đến nhà như cái xác chết. Sau này tôi tiếc lúc ấy tôi đã không viết được gì để ghi lại, nhưng thật ra cũng không thể làm gì, vì sau mỗi ngày làm việc là kiệt sức, cứ thế cho đến ngày cuối.
Sáng 29 tháng Tư tôi choàng dậy từ sớm vì bom nổ ở phi trường. Lúc ấy tôi ở cách toà đại sứ có nửa khu nhà, tôi thức giấc đi ngay đến toà đại sứ mà không biết ngày hôm nay chính là ngày cuối cùng. Nhưng khi đến, tôi hiểu rõ và chúng tôi cố rút người từ tất cả các trạm ra đi.
Sáng hôm ấy chúng tôi liên lạc gọi tất cả những người Việt thuộc đường dây chúng tôi trách nhiệm đến toà đại sứ hoặc đến một trong các căn nhà an toàn được thiết lập làm trạm di tản. Mọi thứ trên đường phố đều tuyệt đối im lìm vì có giới nghiêm 24/24, không một bóng người lai vãng. Tôi rời toà đại sứ bằng xe hơi đến một căn nhà an toàn mà hôm trước tôi đã bỏ lại một danh sách gồm các tên người – vì tôi tưởng hôm sau tôi sẽ trở lại. Tôi cần phải lấy lại danh sách ấy, tôi không muốn nó rơi vào tay đối phương. Tôi đã đi về an toàn, không trở ngại gì.
Sau đấy tại văn phòng đại sứ, Alan Carter cứ lo lắng suy nghĩ: có vài người Mỹ và một số người Việt vẫn còn đang ở tại trụ sở phòng thông tin Hoa Kỳ. Ông không biết cách nào mang họ đi, ít nhất là mang hai người Mỹ đi. Tôi bảo ông ta để tôi lo, tôi lái xe đến đấy, bốc họ về. Vẫn không có trở ngại. Đường phố vắng tanh. Chúng tôi cứ loay hoay, suốt buổi như thế. Chừng tám giờ sáng, có một Mục sư Tin Lành người Anh lò dò bước đến cổng toà đại sứ, dòm vào. Ông ta hỏi: “Thưa quý ông, chẳng hay tình hình hiện nay như thế nào?” Tôi nói: “Tình hình xấu lắm, mục sư nên vào trong này. Sắp sửa phải di tản. Nơi này sắp rối beng đến nơi.” Ông mục sư bảo: “Ô, chúng tôi nào dám làm phiền quý ông! ” Tôi nói lại lần nữa: “Tốt hơn hết, Mục sư nên vào trong này.” Lúc ấy ông mục sư mới chịu bước vào, sau đó đã được trực thăng bốc đi. Có những người khiêm tốn đến thế! Giữa cơn phong ba bão tố, họ vẫn cứ một mực cung kính mà thưa rằng: “Chúng tôi nào dám làm phiền quý ông!”
Chừng buổi trưa, chúng tôi bắt đầu đi đón người. Vào lúc đó, chúng tôi tiến đến một ý tưởng tuyệt vời. Phải nói ý tưởng ấy là quà của Chúa gửi cho chiến dịch di tản: Đó là sử dụng xà lan để đưa người Việt đi bằng đường sông. Thật ra đây là đề nghị của vài người, trong ấy có Mel Chatman đã đưa ra một hai tuần trước nhưng lúc ấy ai cũng cho ý kiến này là “óc thỏ,” nghĩa là: nông nỗi và liều lĩnh. Nay trong tình trạng khẩn cấp, cần đến các hành động quyết đoán, họ đã mang ý tưởng ấy ra sử dụng và cho xà lan chuẩn bị, chờ dưới bến.
Do đó từ trưa cho đến 3 giờ 30 là lúc tôi ngừng, tôi cùng với một người bạn là Joe Mc Bride liên tục chở người ra xà lan bằng chiếc xe thùng. Không bao giờ tôi quên chuyến đầu tiên, nó chật ních hơn cá mòi đóng hộp. Lại thêm không kiếm ra xà lan đậu ở chỗ nào. Mọi thứ không dễ dàng đến thế! Chúng tôi phải qua một cây cầu, lúc ấy dân chúng bắt đầu tràn ra, cả thành phố đã trở nên điên cuồng. Tôi lo không cách gì qua cầu nổi vì đường đã bắt đầu kẹt xe. Tôi tính nếu có đi thoát được thì đây chắc phải là chuyến cuối cùng.
Trời ngó lại! Phép lạ xảy ra là có một người ở toà đại sứ mang theo một nắm tiền. Anh ta biếu hết cho cảnh sát, yêu cầu cứ đứng đấy chỉ chỏ cho xe chạy. Nhờ thế chẳng mấy chốc chúng tôi tiếp tục di chuyển, rồi còn trở đi trở lại căn nhà bốc thêm mấy chuyến nữa.
Hôm ấy tại căn nhà này người ta đến rất đông. Cảnh tượng ấy thực não lòng: Ai nấy đều tuyệt vọng mong đi, ai nấy đều biết thế là hết. Thế là xong. Trên đầu chúng tôi trực thăng bay sành sạch, rõ ràng số người quá đông, Joe và tôi không thể nào mang đi xuể. Tôi sẽ không bao giờ quên chuyến xe chót. Mọi người tuyệt vọng chen lấn lọt vào, tôi đã gần như phải dùng đến vũ lực để giữ trật tự. Tôi sẽ không bao giờ quên một người đàn ông, một ông già đã tự động đứng sang một bên giúp tôi sắp xếp mọi người. Ông không tìm cách len vào xe. Ông bảo mọi người “Đừng lo, anh ta sẽ trở lại.” Lúc ấy tôi biết rất rõ là tôi sẽ không bao giờ trở lại nữa. Toà đại sứ đã bảo tôi: đấy là chuyến cuối.
Sau đó, buổi tối ở toà đại sứ tôi nhận cú điện thoại của một ông đang ở đâu đó trên đường phố. Ông này nói với tôi rằng người ta đã dặn ông đến chỗ này chỗ kia ở một địa điểm nào đó, nhưng chẳng ai đến cả. Ông ta đang ở trên đường, không ở trong trạm an toàn. Điều duy nhất tôi có thể làm là bảo ông tự kiếm cách đi xuống xà lan. Nhưng lúc đó mọi người đều sợ phải đi ra ngoài. Đây cũng là câu chuyện rũ rích: hễ cứ đi với người Mỹ thì người ta mới thấy an toàn, và cảm thấy là có thể đi lọt. Còn tự đi một mình thì người ta sợ! Biết chuyện gì sẽ xảy ra đây? Nhưng tôi đã cố thuyết phục ông này rằng ông phải tự đi lấy, hãy tự bắt lấy cơ hội, và đó là một cơ hội nhiều triển vọng!
Tôi rời Việt Nam từ toà đại sứ Hoa Kỳ vào lúc chín, mười giờ tối ngày 29 tháng Tư. Nếu muốn, tôi có thể đi sớm hơn vì hễ trực thăng đến mà người nào muốn đi và đã sẵn sàng đi là cứ lên sân thượng mà đi. Vì vậy lúc 9 giờ tôi thầm nghĩ: tại sao không đi lúc này? Tôi không còn lý do gì để ở lại lâu hơn nữa. Khi ra đi, có một việc tôi sẽ không bao giờ quên, đó là lúc trực thăng quần một vòng trên thành phố, người ta nhìn thấy ở hướng tây, căn cứ Long Bình đang bốc cháy. Một đám cháy vĩ đại. Long Bình là một trong những căn cứ lớn nhất của chúng ta ở Việt Nam. Nhìn ngọn lửa, tôi nghĩ nó đang thiêu đốt tất cả. Mọi công trình của chúng ta ở đấy đang thiêu đốt ra tro. Và tất nhiên cũng phải nghĩ đến những con người chúng ta đã bỏ lại, một con số to lớn những người chúng ta đã rời bỏ mà đi.
Hôm nay tôi lại nhớ đến những người ấy. Tôi cũng nghĩ đến các oán thù bên phía đối phương. Họ đã không tạo ra các cuộc tắm máu như ở Cam Bốt, vâng, có vẻ như thế. Nhưng họ cũng đã giết biết bao người, và đến nay sau bao năm tháng trôi qua, vẫn còn những người bị giam giữ mỏi mòn trong các trại cải tạo. Suốt thời chiến tranh Việt Nam không một người nào dùng thuyền rời nước. Ngay cả vào những năm khi chiến cuộc đến mức khủng khiếp nhất, vẫn không hề có một người Việt nào bỏ nước ra đi. Nhưng từ 1975, một triệu rưỡi con người đã đi, bây giờ vẫn ra đi. Hai mươi lăm ngàn con người mỗi năm tiếp tục rời nước bằng thuyền, chưa kể ba ngàn người mỗi năm vượt thoát bằng đường bộ băng qua ngả Cao Miên.
Từ khi chiến tranh chấm dứt, nhìn những gì Cộng sản đã làm ở Việt Nam và ở Cam Bốt, nhiều người mới hiểu: Khi chính phủ chúng ta nói rằng Hoa Kỳ đang chiến đấu chống lại một bọn người hung ác, thì đây là trường hợp lời nói đã được xác nhận đúng như thế…
…

Sherlock Holmes đang ngồi nghiên cứu vụ án thì vị khách bước vào xin gặp. Đây là một vị khách bình thường, bình thường đến mức bằng tài năng nhận xét và phân tích thiên tài của mình, Holmes vẫn không rút ra kết luận gì cả.
Vậy ông ta là ai? Đến đây làm gì?
Vị khách lạ niềm nở chào Sherlock Holmes:
Holmes dè dặt đáp lời: Cảm ơn ông. Xin ông đi thẳng vào vấn đề.
Holmes khẽ nhếch mép: Thế ra ông định mua chuộc tôi để dấu nhẹm những bí ẩn à? Có phải chăng những bí ẩn ấy có liên quan đến tội ác của ông?
Khách lạ vẫn giữ bình tĩnh: Ồ, thưa Ngài Sherlock Holmes, Ngài nói đúng một phần. Tôi định mua những bí ẩn của Ngài, nhưng không phải để dấu nhẹm, mà là để công khai!
Holmes nhíu mày: Thế là thế nào? Ông là người của một thám tử cạnh tranh với tôi, muốn mua những thông tin tôi đã có để tiến thêm trong vụ án? Nếu thế, tôi sẽ không bao giờ bán. Hay ông là người thân của nạn nhân, đang rất nóng lòng muốn biết thêm thông tin? Nếu thế tôi cũng sẽ không bán ông à. Tôi sẵn sàng cung cấp thông tin cho ông miễn phí, nếu nó không ảnh hưởng đến quá trình điều tra, bằng không thì ông cũng không thể nào moi được thông tin.
Khách mỉm cười, kiên trì giải thích: Thưa Ngài, tất cả các giả định của Ngài đều SAI! Tôi không cạnh tranh với Ngài, thậm chí tôi còn muốn Ngài tìm ra manh mối của càng nhiều vụ án càng tốt. Tôi cũng chẳng phải thân nhân của nạn nhân nào trong các vụ án của Ngài cả. Tôi chỉ là nhà biên tập báo thôi à.
Holmes ngạc nhiên: Nhà báo? Nhà báo thì liên can gì ở đây? À, nếu để đăng tin thì xin ông chờ đến khi kết thúc vụ án.
Sherlock Holmes trầm ngâm suy nghĩ. Vụ án có kết thúc thành công thì thu nhập của Holmes cũng chẳng đáng bao nhiêu, mà công sức bỏ ra rất nhiều, có khi nguy đến tính mạng. Còn ở đây, Holmes chỉ cần ngoáy những chi tiết đắt giá nhất (bi thảm nhất, rùng rợn nhất) để đưa lên báo nhằm thu hút độc giả là có tiền nhuận bút ngay(mà những chi tiết ấy vụ án nào lại không có!). Viết tào lao thôi chứ chả cần điều tra chi cho cực! Vị khách lạ lại gợi ý một mức nhuận bút cao đến mức Holmes phải xiêu lòng.
Thế là Sherlock Holmes đồng ý. Thay vì dùng dữ kiện để điều tra, Holmes cứ đưa bứa bừa lên báo để thu hút độc giả, bất kể đã được kiểm chứng hay chưa, bất kể có ảnh hưởng gì đến quá trình điều tra hay không. Những cuộc điều tra đầy tính suy luận của thám tử Sherlock Holmes biến mất, thay vào đó là các bài báo lá cải (với bút danh khác, không phải Sherlock Holmes).
À, còn bác sĩ Watson, người bạn của Sherlock Holmes thì ra sao? Khi thám tử Sherlock Holmes biến mất, Watson cũng giã từ nghề bác sĩ. Ông về vườn trồng cải, loại cải có lá thật to. Nghe nói lá cải này được cung cấp cho Sherlock Holmes để viết báo!
Phạm Hoài Nhân ( nguồn PHNHAN.VNCGARDEN.COM)
Nằm trên mảnh trăng trôi lu, khuyết
Một bóng Hằng Nga co ro, cong.
Nằm trên câu thơ đẻ rớt, sót
Một bầy con chữ khuyết tật, nguyền!
Nằm trong đôi mắt sương phụ, đỏ
Một dáng Vọng Phu hom hem, ho.
Nằm trong câu hát lơ lửng. thửng
Một tiếng đàn đứt nửa chừng, tưng!
Nằm trong bóng đen tịch mịch, đêm
Một hình đôi mắt thao thiếc, thức
Nằm trong bức vẽ nửa chừng, mứa
Một vệt màu loang lỗ mỗ, rơi!
Nằm trong tôi những muộn phiền, điên
Một miền ký ức miên man dội …
Oanh Nguyên
Từ buổi nắng cao mây lũng thấp
Ai người dựng mộ lấp trăm năm
Trăng xưa rụng mãi không đầy biển
Nên sóng hoàng hôn lụy nhỏ thầm
Tóc rối áo nhàu người giữ mộ
Giơ cao chén đá cụng thời gian
Nước ơi vận nước sao hiu hắt
Cho đám dân đen hận ngút ngàn
Tráng sĩ khi xưa chân đạp đất
Thân tù đâu ngại áo sờn vai
Chỉ e đất lở bồi không kịp
Ngửa mặt kêu trời ai khóc ai.
Đêm tối bít bùng đời tứ cố
Cau mày thế sự tỏ lời riêng
Người ơi xin chút hương ngày tết
Phả nhẹ vào mưa sau mái hiên
Cái nắng đầu xuân nghe nhạt thếch
Đôi bàn tay vỗ lệch bàn tay
Thoáng trong mắt đỏ màu xanh ngọc
Vời vợi nhìn theo mây trắng bay
Xin bẻ giùm ta cây trí tuệ
Cúi thêm chút nữa lá tình thương
Tự do ơi đến cùng ta nhé
“Vọng mỹ nhân hề thiên nhất phương”.
Đặng Phú Phong
Ngày Bốn Tháng Bảy là Ngày Độc Lập của nước Mỹ.
Năm bắt đầu có ngày này là năm Một Ngàn Bảy Trăm Bảy Mươi Bảy.
Chính thức là Ngày Lễ kể từ năm Một Ngàn Chín Trăm Bốn Mươi Mốt.
Đây là một Ngày Trọng Đại của nước Mỹ.
Mỹ chớ không phải là Hoa Kỳ.
Người Trung Hoa không ai thích ai gọi họ là Người Tàu dù Người Trung Hoa thường đi xâm chiếm hay cướp bóc nước khác bằng Tàu, từng mang tiếng là Giặc Tàu Ô, Bọn Tàu Phù.
Người Việt ở phía Nam nước Trung Hoa, bây giờ là Trung Quốc, không thích ai gọi mình là Người An Nam.
Người Tàu xỏ lá người Việt gọi người Việt là Ố Nàm Dành / Dân An Nam Xấu Xí, nước của người Việt là Nước An Nam.
Chiến tranh từng xảy ra giữa quân Ta và quân Tàu.
Có một ngàn năm quân Tàu đô hộ nước Đại Việt.
Có ba ngàn năm dân Đại Việt làm chủ đất nước mình.
Người Tàu không biết xấu hổ khi nói xấu nước khác.
Chúng gọi nước Anh là xứ Hồng Mao vì người Anh lông da, tóc đầu và râu miệng màu đỏ.
Chúng gọi nước Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha là các xứ Tây Dương vì dân và quân các nước này dùng tàu đi cướp các nước phương Đông giống như Giặc Biển Đến Từ Đại Dương.
Chúng gọi nước Mỹ là xứ Cờ Hoa, viết chữ Tàu là Hoa Kỳ Quốc vì cờ của nước Mỹ có nhiều sao giống như chùm hoa.
Cách gọi đó xỏ lá.
Cách gọi đó thấy-sao-thì-nói-vậy giống như ba chữ tắt USA của nhóm chữ United States of America, Liên Bang Hợp Chúng Quốc Mỹ, chúng xuyên tạc thành Uncle SAM, Chú Sam.
Chúng tự hào nước chúng là xứ sở của Bác Mao Chệt Thun, các nước khác, dân khác đều thấp hơn Tàu.
Ngày hôm nay là Ngày Lễ Độc Lập của nước Mỹ, nước đẹp đẽ nghĩa từ chữ America, sao người Việt mình cứ gọi là Lễ Độc Lập Hoa Kỳ?
Có người nói với tôi rằng: Người Việt Nam Giống Người Tàu từ vóc dáng đến màu da, từ cách ăn cầm đũa đến cách nói xí xô xí xào.
À há! Sử gia Tạ Chí Đại Trường đã viết đúng: Việt Nam Là Một Phiên Bản Của Trung Quốc!
Phải chi có ngày Ba Mươi Mốt tháng Bốn nhỉ để tôi chạy trốn tới tận xứ Congo!
Hôm nay, phố xá Mỹ có cái lạ: Không Thấy Người Mỹ Treo Cờ mừng.
Nếu là ngày Quốc Hận 30 – 4 – 1975 thì phố Bolsa dài mút chỉ đã treo cờ Mỹ và cờ Việt Nam Cộng Hòa đầy khắp…
Người Mỹ tỉnh bơ ăn mừng, người mình phùng mang nuốt hận.
Ông Phan Bội Châu nói đúng quá: “Lập Thân Tối Hạ Thị Văn Chương!”. Tôi làm thơ không biết mình viết sao cho cao thượng?
Trần Trung Tá
Chúng tôi vô cùng thương tiếc khi nhận được tin Thân Mẫu của nhà văn Nguyễn Bá Trạc đã tạ thế lúc 10 giờ sáng ở San Jose, California ngày 7, tháng 7, năm 2015.
TuongTri.Com Thành Kính Phân Ưu cùng nhà văn Nguyễn Bá Trạc, Nguyễn Hà Ý Nhi và toàn Gia Đình.
Xin chân thành chia sẻ nỗi đau buồn và mất mát lớn lao này cùng tang quyến
Kính cầu chúc hương hồn Bà sớm siêu thoát trong cõi vĩnh hằng.
Chương 5
Đại đội Lima xuất quân
Đại úy Ripley là một người luôn luôn sáng suốt, tỉ mỉ và trước bất kỳ một khả năng đụng độ nào ông đều chuẩn bị giống như ngày hôm trước hoặc có thể còn hơn thế nữa. Trước khi hành quân ông làm việc với viên sĩ quan đề-lô thân cận và gọi điện khắp nơi về mọi mục tiêu có khả năng sẽ phải pháo kích. Do đó, khi Đại đội Lima đụng trận, không yểm sẽ sẵn sàng có ngay lập tức và pháo binh còn có thể sớm hơn nữa.
Với biệt danh “Hoàng tử Hoa tiêu Henry,” viên sĩ quan đề-lô tài hoa đã được xếp thương mến và tất cả các TQLC của Đại đội Lima đều tin tưởng vào tài dẫn đường của anh ngoài trận địa. Nếu có trường hợp bất đồng ý kiến nào giữa “hoàng tử” Henry và Đại úy Ripley – mà thường thì họ đồng ý với nhau về một cái tọa độ sáu chữ số (với khả năng sai số 100 thước về mọi hướng), là họ tranh cãi một cách hòa hoãn với nhau về mức sai số 10 thước sau cùng trên một cái tọa độ với tám chữ số (tọa độ tám chữ số có thể xác định một vị trí với sai số 10 thước). Có được “hoàng tử” Henry hỗ trợ trong công việc di hành và sẵn sàng gọi phi pháo yểm trợ, Đại úy Ripley đã có thể tập trung nỗ lực nhiều hơn vào việc điều động binh lính và nắm được bức tranh tổng thể rộng lớn hơn.
Khi Đại đội Lima chuẩn bị để xuất quân, đơn vị đã sẵn sàng hơn bao giờ hết. Giống như bất kỳ một Đại đội TQLC nào, Đại đội Lima cũng phải gánh trên vai những thử thách bao gồm một loạt các vấn đề như trình độ kinh nghiệm suốt từ trên xuống dưới, khả năng chiến đấu, sự khôn ngoan và khéo léo của các cấp chỉ huy và binh sĩ.
Trong khi dư luận trong nước bắt đầu nghe đến các vấn đề như kỷ luật và xì-ke tại Việt Nam thì chuyện đó không bao giờ là những vấn nạn của Lima 3/3. Ý tưởng có một TQLC của Đại đội Lima hút xì-ke hay sử dụng ma phiến trong bụi rậm là một sự nguyền rủa đối với bất cứ ai quan tâm đến sự sống còn của đồng đội. Tất cả những công tác huấn luyện và kinh nghiệm chiến đấu sắp được mang ra thử thách một cách khốc liệt.
Trong bối cảnh tình hình chiến sự trong và quanh vùng nơi Đại đội Lima đang hoạt động, lệnh hành quân đầu tiên của Đại úy Ripley ngày 2/3/1967 là di chuyển từ vị trí đóng quân ban đêm đến một ngã ba đường mòn cách đó vào khoảng vài cây số để thiết lập một cuộc phục kích hay nút chận tại đó. Mặc dù hết sức căng thẳng và lo lắng thực hiện mọi điều thật hoàn hảo trong khả năng của mình, Đại úy Ripley vẫn thoáng có được một vài giây phút để tự hào về các TQLC dưới quyền mình. Đại đội Lima với tất cả các đơn vị phụ thuộc gồm khoảng 215 sĩ quan và binh sĩ là một cảnh tượng đáng khâm phục. Tất cả những người này, các thanh niên mà theo mọi tiêu chuẩn có thể được coi là những chàng trai mới lớn trong giai đoạn sung sức nhất giờ đây cùng nhau xung phong lên phía trước, họ di chuyển một cách lặng lẽ và bình tĩnh, với lòng quyết tâm đúng nghĩa là các chiến binh TQLC. Chẳng cần ai nhắc họ phải làm gì, vì họ đều biết cả rồi. Không một tiếng động dư thừa. Tất cả mọi liên lạc đều được thực hiện bằng thủ hiệu và dáng điệu. Tiếng giầy bốt đạp lên đất rất nhỏ và vừa lên tới đầu gối là tắt ngay. Mọi chuyện đều được thực hiện theo chủ đích. Thật giống như một con rết khổng lồ thật dài với hàng trăm bộ chân màu lục đang di chuyển một cách uyển chuyển theo dọc con đường mòn nhấp nhô trong rừng.
Chỉ trong chốc lát, nhóm TQLC bắp gặp một tay súng bắn sẻ Bắc Việt lẻ loi. Họ sơi tái ngay tên này và di chuyển xuống tiếp con đường mòn. Có nhiều bằng chứng về sự hiện diện mới đây của kẻ địch như máu và cơm gạo vương vãi. Họ biết là sắp có chuyện và có thể sớm hơn là dự tính.
Bộ đội Bắc Việt đặc biệt rất chú trọng vào chuyện di tản các xác chết và thương binh ngoài chiến trường trong nỗ lực không cho phía Hoa Kỳ, nhất là những người có cái quan niệm quái đản thích đếm xác chết của kẻ thù, được sự thỏa mãn khi biết rõ số lượng thương vong thật sự của họ. Nhiều lính Bắc Việt khi ra mặt trận có trang bị những sợi dây mây lớn quấn quanh cổ chân. Thoạt đầu lính TQLC tưởng là những sợi mây này là một loại ngụy trang rối rắm nào đó, nhưng sau này họ mới biết đó là những quai cầm để các đồng chí nắm lấy và kéo xác chết hay lính bị trọng thương ra khỏi trận địa. Bằng cách này, họ có thể che giấu số lượng thương vong nhưng các dấu tích kéo lê thường để lại dấu vết mà ngay cả một trinh sát tầm thường cũng có thể lần theo bước kẻ thù.
Dọc theo con đường mòn đầy vết gạo và máu, TQLC của Đại đội Lima phát hiện ra một số mồ mới lấp. Một trong những TQLC của Đại úy Ripley, một tay tương đối có óc khôi hài đen kỳ cục lại còn trình cho xếp một chiếc giày của lính Bắc Việt trong đó còn nguyên cái chân của nạn nhân.
Thiếu úy Terry Heekin, Trung đội trưởng Trung đội 1 tuy là người mới nhưng đã có vẻ già dặn hơn sau 24 tiếng đồng hồ chiến đấu vừa qua. Với lòng nhiệt tình của một sĩ quan cấp úy điển hình, anh đã cố rút tỉa những bài học từ các cuộc đụng độ và vươn lên như sự mong đợi. Các trận đánh ngày thứ Tư là một dạng thực tập tại chỗ để sửa soạn cho ngày thứ Năm hôm sau.
Vào đến mục tiêu chỉ định bởi Tiểu đoàn trưởng, Đại đội Lima vội vã thiết lập tuyến phòng thủ tại ngã ba con đường mòn. Đại úy Ripley quyết định đặt Trung đội 3 cùng với phân đội súng cối của Trung đội trọng pháo tại cùng một vị trí. Sau đó ông phái hai Tiểu đội lấy từ hai Trung đội 1 và 2 để đi trinh sát hai nhánh đường mòn tách ra từ vị trí sơ khởi khi Đại đội mới đến.
Lúc Đại đội Lima tiến gần đến địa điểm được lệnh chiếm giữ, Tiểu đoàn trưởng khuyên Ripley không nên đụng độ cho đến khi phần còn lại của Tiểu đoàn vào đến nơi. Theo sĩ quan Ban 3 Tiểu đoàn cho biết thì sẽ mất vào khoảng tám tiếng đồng hồ nữa. Đại úy Ripley trả lời: “Tôi sẽ triển khai để phòng thủ Đại đội.”
Hạ sĩ Hobbs là Tiểu đội trưởng thuộc Trung đội 1 TQLC mà Đại úy Ripley phái đi tuần thám về hướng Bắc. Hobbs, một trong những tay sừng sỏ của Đại đội, cùng với Tiểu đội chưa đi được bao xa thì đã hốt hoảng gọi điện thoại về bộ chỉ huy báo là Tiểu đội đã phát giác một chuyện có vẻ lớn lắm và khuyên Đại úy nên lên mà xem xét. Nhóm TQLC của Đại đội Lima chợt giữ im lặng hoàn toàn. Những tiếng động còn lại chỉ là tiếng điện đàm được cố giữ làm cho nhỏ đi.
Vượt lên đến vị trí tiền phong của Hạ sĩ Hobbs, Đại úy Ripley mang theo nhóm còn lại của Trung đội 1. Trung đội 2 được lệnh sẽ theo liền ngay khi họ thấy nhóm trinh sát đi ngược trở lại. Đại úy Ripley lặng lẽ gặp Trung đội 1. Hạ sĩ Hobbs dùng thủ hiệu để liên lạc với xếp. Ngay sau khi Trung đội 2 vào đến vị trí, Đại úy Ripley ra lệnh cho Hạ sĩ Hobbs tiến lên phía trước. Anh ta phát hiện ra một khu vực đóng quân gần giống y như lần mà họ đã từng gặp qua, trong cùng một hoàn cảnh mới chỉ non hai tuần lễ trước vào khoảng 20 cây số phía Tây gần Khe Sanh.
Biết rằng bộ đội Bắc Việt là bậc thầy về ngụy trang và thường sử dụng lợi thế tối đa về địa hình, Hạ sĩ Hobbs và Tiểu đội trừ của anh đã phải căng hết mắt mới phát hiện ra nổi. Ngay cả Đại úy Ripley khi được gọi lên để quan sát cũng phải mất một hồi lâu mới nhận ra bằng chứng sự hiện diện của bộ đội Bắc Việt. Hầm chiến đấu của kẻ địch nhiều vô số kể đã được đào chằng chịt và nối với nhau bằng những đường dây điện thoại. Nhóm TQLC nhận ra một số dây ăng-ten lớn ẩn giấu khéo léo theo hàng cây phía xa. Loại dây ăng-ten này chỉ có thể thuộc vào một đơn vị lớn hơn Đại đội Lima rất nhiều. Đại úy Ripley và toán TQLC thiện chiến đã từng chiến đấu bên nhau hai tuần lễ qua nhờ tài di chuyển tàng hình nên đã rơi vào thẳng tổng hành dinh của một Trung đoàn quân Bắc Việt. Lại một lần nữa trong ngày hôm nay, họ đã hành quân hữu hiệu đến nỗi kẻ thù chỉ có đủ thời gian để ló đầu ra mà thôi. Có vẻ như bọn chúng chưa ai biết chuyện gì sẽ xảy ra.
Điều đáng kể là cặp mắt cú vọ của Hobbs đã phát giác địch chỉ cách khoảng 50 mét đằng trước mặt. Được lệnh án binh bất động, cả hai Trung đội Lima lặng lẽ và đồng thời tiến chiếm các vị trí phòng thủ, mọi cặp mắt chăm chú vào Hobbs. Với tạng người cao lớn và khỏe mạnh, Hobbs cố bò thật chậm vào cái trảng về hướng mục tiêu mà nếu thoáng nhìn chẳng ai có thể nhận ra đó là cái gì cả. Phải cần sự tập trung cao độ, tương tự như đọc các dòng chữ nhỏ nhất của một biểu đồ xét nghiệm nhưng cuối cùng Đại úy cũng nhận ra mục tiêu đó, hay đúng hơn là ai đó. Vươn ra khỏi một cái hầm giao thông được đào khéo léo là một cái ngực và đầu của một tên lính Bắc Việt. Hắn đang chăm chú cúi người làm chuyện gì đó và không hề biết đối phương đang tới sát bên.
Đến lúc gần như là ngồi trên đầu tên địch kém may mắn kia thì Hạ sĩ Hobbs chồm xuống nắm lấy hắn một cách không thương tiếc, lôi ra khỏi cái hầm giao thông. Thật hệt như trong cuốn phim hoạt hình gã mèo túm đầu chú chim con lôi ra khỏi tổ. Điểm khác biệt duy nhất là Hạ sĩ Hobbs không có ý định ăn thịt kẻ địch. Nếu chuyện này không xảy ra tại Vùng I chiến thuật năm 1967 thì chắc mọi người sẽ cho là chuyện giỡn trước cảnh một tay TQLC Hoa Kỳ to lớn túm chặt một tên bộ đội Bắc Việt nhỏ bé dãy dụa vì sự sống còn, một người con của “Cách Mạng,” một loại chuyên viên điện đàm chuyên nghiệp và được huấn luyện kỹ lưỡng chỉ có thể thấy được trong các đại đơn vị. Hắn đang chăm chú lắng nghe máy truyền tin (tai còn đeo máy nghe) và gõ mật mã Morse trên cái bàn máy đặt trên gối cho cấp trên đâu đó ở xa thì bị quấy rầy một cách thô bạo bởi một “tên chó hoang đế quốc.” Mặc dù cố giãy dụa giằng co nhưng sức hắn kém xa Hạ sĩ Hobbs. Vả lại lúc này Hobbs có thêm đồng đội giúp sức nên kềm chế hắn một cách dễ dàng.
Sau khi bắt được tù binh truyền tin Bắc Việt đưa về Trung đội 3 với mục đích giải giao cho hậu phương để thẩm vấn thì Đại đội Lima phát hiện được thêm chuyện thứ hai. Trong một cái trảng khác ngay sát khu vực có các giao thông hào là một đống ba-lô chất cao ngất, ít ra là phải 500 chiếc, có lẽ cònnhiều hơn nữa. Đối với các TQLC với quân số quá ít ỏi thì đống quân trang này trông như một hòn núi Suribachi (Iwo-Jima) nhỏ. Đối với họ, nó quá lớn đến nỗi nếu chúng không thay đổi thì chắc phải vẽ lại bản đồ vì trông giống như một địa hình có thật. Dòng suy nghĩ của Hạ sĩ Hobbs cũng giống như của mọi người: “Bọn chó đẻ chủ nhân của đống ba-lô này đâu rồi? Phe ta có được bao nhiêu mống…?” Sự căng thẳng chung của Lima lên cực độ. Tất cả mọi người dù mệt mỏi hay sợ hãi đến đâu cũng đều tỉnh cả người.
Tuy nhiên, một lần nữa, yếu tố được huấn luyện đầy đủ đã bắt nhịp với TQLC Lima. Theo bản năng, không cần phải nhiều lời hay phải đợi có lệnh, các TQLC lập tức gắn lưỡi lê lên mũi súng và sắp hàng di chuyển qua cái địa hình lạ lùng đầy chiến lợi phẩm của đối phương mà chẳng thấy bóng dáng bộ đội Bắc Việt ở đâu. Họ cảm thấy đang bị theo dõi. Những tiếng động văng vẳng chỉ là tiếng di chuyển lặng lẽ của những chiến binh chuyên nghiệp đang tiến bước vụng về nhưng có chủ đích sẵn sàng khi có đụng độ. Mọi người đều biết sự im lặng sẽ không kéo dài và mỗi bước chân sẽ đưa đám lính TQLC ít ỏi đến gần cái vực thẳm họ biết ở đâu đó nhưng không hình dung ra được. Họ chỉ biết sẽ vượt đến đó một khi trận đánh bắt đầu mà thôi.
Với quân số hai Trung đội, một phần ba khả năng tác chiến còn lại cùng với bộ phận súng nặng còn án binh tại chảng ba của con đường mòn nơi họ được chỉ thị phải trấn thủ, Đại đội Lima tiến lên được hơn 25 thước thì địa ngục bùng nổ. Trận đánh bắt đầu thật dữ dội.
Bộ đội Bắc Việt rất hăm hở và trong một tích tắc dường như bọn chúng tung hết hỏa lực trước mặt Lima. Họ sử dụng đủ loại các súng trừ không lực; từ súng nhỏ, súng liên thanh, bích kích pháo, hỏa tiễn, đến lựu đạn. Vì nằm trong tầm ném lựu đạn nên Đại đội trưởng Lima chưa bao giờ thấy lựu đạn, loại do Trung cộng sản xuất nhiều như vậy. Kiểu lựu đạn này khác với loại cực mạnh của Mỹ có hình dáng tròn dùng để ném như ném bóng chày hay ném cầu vòng nhờ sức nặng của nó. Lựu đạn Trung cộng có vẻ giống như loại chày giã khoai tây của Đức quốc xã trong hai trận Thế chiến nhiều hơn. Khối chất nổ được gắn vào một cái cán gỗ nên kiểu này có lẽ dễ ném hơn của Hoa Kỳ. Không gian bây giờ đầy loại này bay tới tấp giống như những khúc gậy quay lòng vòng, chỉ khác một điều là đây không phải là một trận banh biểu diễn.
Hỏa lực của Đại đội Lima cũng hùng hậu không kém. Mặc dù chịu một số tổn thất ngay tức thời nhưng các TQLC vẫn giữ áp lực và tràn vào các vị trí của quân Bắc Việt. Đại đội Lima chiếm ngay được một số vị trí và dường như làm cho kẻ địch bắt đầu bị nao núng.
Đại úy Ripley không cần phải hỏi hay nói điều gì với truyền tin. Lúc trận đánh khởi đầu, không lực yểm trợ đã được yêu cầu ngay lập tức. Toàn bộ Đại đội Lima đều phải xung trận nên chẳng ai thắc mắc những chiếc A-4 Skyhawk ở đâu tới đây? Họ chỉ thấy tự dưng như phép lạ máy bay xuất hiện ngay trên đầu. Hoàng tử Hoa tiêu Henry, với sự giám sát của Đại úy Ripley, đã sát cánh với họ. Rất chặt chẽ.
Trận đánh tiếp diễn và chẳng có cách nào, hoàn toàn vô phương để Lima có thể rút ra được. Nếu ngưng giáp chiến và cố lui về vị trí Trung đội 3 đang án ngữ thì chắc chắn họ sẽ bị tiêu diệt. Cách hay nhất để đối phó trong trường hợp này chỉ là cố gắng diệt bọn Bắc Việt trước khi chúng diệt Đại đội Lima.
Hầu như đúng lúc yêu cầu về phi pháo được chuyển về, mọi người ở tuyến sau, nhất là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3/3 đều lo lắng không biết chuyện gì đang xảy ra. Đại đội trưởng Lima phải thi hành các lệnh lạc khi cần thiết nhưng lúc này anh còn phải đôn đốc đơn vị và chưa có thời giờ để “đếm xác” địch quân. Trận chiến còn lâu mới xong.
Tiếng sấm rền của chiến đấu cơ đang bay đến gần rất nghe rất rõ và chóng vánh nhưng vẫn còn dài hơn cái chớp mắt khi các phi cơ xuất hiện vọt qua tàng cây rừng. Át tiếng động cơ phản lực và vượt lên trên mọi tiếng gầm rú là tiếng va chạm và tiếng rít kinh hoàng của kim loại với nhau khi những trái bom Mk-82 “Snake Eye” được thả xuống từ các giàn phóng dưới cánh máy bay. Mỗi trái có bốn cánh nhỏ bung ra nhằm làm giảm tốc độ của những trái bom 241 kí-lô, đủ thời gian cho những chiếc máy bay sát mặt đất tránh ra xa khi bom nổ.
Khối lượng hỏa lực bên phía quân Bắc Việt cũng mãnh liệt một cách không ngờ. Với khoảng ước lượng 500 chiếc ba-lô chất thành núi mà Hạ sĩ Hobbs đã phát hiện, chắc chắn là chung quanh còn nhiều quân Bắc Việt lắm. Nếu đúng như vậy, tương tự như trường hợp có hẳn một đơn vị trung đoàn Bắc Việt họ đã phát hiện ra trước đó không lâu tại Khe Sanh, thì số vũ khí trang bị chắc chắn có nhiều súng cối hơn, nhiều súng liên thanh hạng nặng hơn và hàng hàng lớp lớp kẻ thù hung hãn đang nổi giận. Không còn nghi ngờ gì là Đại đội Lima đang bị tràn ngập về quân số. Còn chuyện bị áp đảo về khả năng tác chiến hay không còn phải xem lại.
Cuộc chiến trên bộ tại Việt Nam tùy thuộc vào các nhịp độ và chu kỳ rất khó nhận ra một khi trận đánh được khởi sự. Rất hiếm khi các đơn vị Hoa Kỳ nhận diện được kẻ thù ngoài trận địa. Bất kể là do họ khởi sự hay không, các cuộc chạm trán thường kèm theo một khối lượng hỏa lực khủng khiếp được tác động bởi phản ứng nóng nảy và nhu cầu áp đảo về hỏa lực. Chỉ khi nào tình thế tạm ổn và cấp chỉ huy được báo là sự hiện diện của kẻ địch chỉ ở mức độ những đơn vị nhỏ thì vấn đề bảo toàn đạn dược mới được nghĩ tới. Một phản ứng chừng mực và đều đặn hơn có thể được táilập.
Cùng với việc phối hợp pháo binh và không yểm cần thiết, phối trí cho hai trung đội tiến lên phíatrước, lo di tản khỏi trận địa những binh sĩ nào thật sự cần thiết vì thương tích, Đại úy Ripley còn rất ngại số lượng đạn dược cơ hữu của Lima đang cạn dần. Sự dồi dào của sức mạnh kỹ nghệ Hoa Kỳ, mức sản xuất của Detroit, Pittsburgh và Youngstown chẳng nghĩa lý gì nếu tất cả các thành quả đó còn nằm yên trong những kho bến cảng Cam Ranh hay kho tiếp vận ở Phú Bài. Điều này khiến vị chỉ huy của Lima có thể phải muối mặt vì mặc dù đại diện cho một lực lượng quân sự hào hùng nhất của nước Mỹ, ông buộc lòng phải lục lấyđồ tiếp liệu từ các xác chết và các binh sĩ bị trọng thương nhằm tiếp tục cuộc chiến.
Cuộc đụng độ ban đầu, mặc dù bị thương vong, cũng còn tương đối khả quan đối với Đại úy Ripley. Pháo binh và không quân hoạt động khá hiệu quả. Bộ đội Bắc Việt có vẻ bị chùn bước trước hỏa lực Hoa Kỳ. Tuy nhiên TQLC Lima hiểu rằng kẻ địch chỉ tạm thời lui về các vị trí phòng thủ thứ hai để từ đó có thể sử dụng nhiều vũ khí yểm trợ hơn và phóng ra các cuộc phản công.
Đại đội Lima với Trung đội 3 còn án ngữ phía sau ở ngã ba đường mòn, đồng loạt xếp hàng tấn công theo hướng Hobbs đã tìm ra. Vô tình Trung đội 2 nằm ngay trong đường nhắm của hai khẩu súng liên thanh Bắc Việt được ẩn dấu cẩn thận phía trước. Đây là loại đại liên hạng nặng có chân bánh xe và ghế ngồi cho xạ thủ do Trung cộng hay Liên sô sản xuất bắt chước theo mẫu của khẩu Maxim (thời đệ nhị Thế Chiến). Hai khẩu này bắt đầu nã đạn dữ dội vào Trung đội 2 TQLC.
Hạ sĩ Richard Strahl xuất thân từ Glendale, Arizona thuộc nhóm TQLC dù bị thương nhưng không chịu cho di tản. Anh làm truyền tin cho Trung đội 2 và đã quá hạn ba tháng trong chu kỳ nhiệm vụ 13 tháng, nhưng vẫn cảm thấy có nhu cầu phải hỗ trợ cho vị Trung đội trưởng chưa quen việc lắm. Thêm một chiến dịch nữa chắc đủ, theo ý anh. Sau nhiệm vụ kéo dài này trong rừng rậm, anh có thể rời Trung đội 2 với lương tâm yên ổn là đã làm tất cả những gì có thể làm được để truyền đạt lại kinh nghiệm học hỏi cho vị “Thiếu úy của mình.” Sau công việc này, anh có thể hồi hương để cưới người con gái đang chung thủy chờ đợi và cùng chung sống hạnh phúc mãi mãi bên nhau.
Thiếu úy Heekin và binh sĩ Trung đội 1 thành công khi đánh kẻ thù vào cánh sườn. Trận đánh diễn tiến từng phân một, từ các trảng trống qua các khu rừng rậm rồi lại tiếp vào khu trống. Trong lúc cả Đại đội Lima rượt đuổi kẻ địch, Trung đội 2 tiến vào một khoảng trống. Thật không may cho Trung đội trưởng Thiếu úy Butch Goodwin và tay truyền tin trung thành dày dặn kinh nghiệm. Họ bị rơi vào tầm nhắm một trong những loại súng kiểu Maxim đó. Một loạt đạn dài nhắm đúng đã lia trúng họ ngay khi cả hai từ trong rừng bước ra khoảng trống. Thiếu úy Goodwin và Hạ sĩ Strahl bị tử thương ngay tức khắc. Trận đánh vẫn tiếp tục không gián đoạn ở cự ly rất gần.
Trong khi đó, mọi người tại bộ chỉ huy Trung đoàn và Sư đoàn đã có thể nghe được mọi sự trao đổi giữa các TQLC đang chiến đấu, cũng như hàng loạt các yêu cầu yểm trợ hỏa lực gởi về. Cuộc hành quân của Đại đội Lima hiện đang là trận đánh lớn duy nhất đang diễn ra trên Vùng I Chiến Thuật. Chẳng có gì hứng thú để mà theo dõi cả. Một số TQLC đã thực sự ngã xuống. Những người khác thì đang mải chiến đấu, rõ ràng là với một lực lượng đối phương đông gấp bội Đại đội Lima. Những người ở hậu phương có thể biết là chuyện lớn đang xảy ra và họ bắt đầu làm việc với lòng quyết tâm hơn nữa để mang đồ tiếp vận cần thiết cũng như các nguồn yểm trợ hỏa lực đến nơi nào đang cần. Các trực thăng tản thương đang trên đường bay vào vị trí Lima. Trung Tâm Không Yểm Trực Tiếp (Direct Air Support Center) điều động tất cả các máy bay A-4 và F-4 có sẵn về nơi Lima đang đụng độ.
Sự xuất hiện đột ngột của Chuẩn Tướng Michael Patrick Ryan trên chiến trường vào khoảng xế trưa ngày 02 tháng 3 năm 1967 là một phước lành nhưng cũng là mối bận tâm cho TQLC. Với tư cách là phụ tá Sư đoàn trưởng Sư đoàn 3 TQLC và sĩ quan thâm niên của Quân đoàn I, tướng Ryan thuộc thành phần chọn lọc trong các sĩ quan cao cấp TQLC có kinh nghiệm bản thân đáng kể trong cả Thế Chiến Thứ Hai lẫn Chiến Tranh Triều Tiên. Không có gì phải nghi ngờ rằng trong nhóm những người đó, tướng Ryan thuộc vào thành phần lão làng và nòng cốt. Trường phái cổ điển của TQLC tin rằng khả năng chỉ huy phải thông qua thực hành tại chỗ và phải tự tay mình thực hiện. Do đó ông biết rằng chỉ có thể hiểu mọi chuyện không phải bằng cách nghe ngóng các đoạn điện đàm ở phía sau hay bay trên trời bằng trực thăng chỉ huy mà phải có mặt tại tại chỗ nơi các Đại đội, Trung đội và Tiểu đội đang đụng độ trực tiếp với kẻ thù.
Vào tháng 11 năm 1943, với cấp bậc Thiếu tá, 27 tuổi thuộc Sư đoàn 2 TQLC, Michael Patrick Ryan được công nhận đã góp phần vào trận chiến thắng đặc biệt đẫm máu tại Tarawa nhờ tài chỉ huy và lòng dũng cảm. Ryan đã tập hợp được một Tiểu đoàn hỗn hợp từ những Đại đội bị thiệt hại sau khi đổ bộ xuống bờ biển dưới hỏa lực tàn sát và thảm khốc của quân Nhật. Hành động của Thiếu tá Ryan đã giúp làm giảm áp lực đang đè lên Trung đoàn 2 TQLC của Đại tá Shoup và giúp quân Mỹ lấy lại được thế thượng phong. Có người tin rằng nếu không có sự chỉ huy của Thiếu tá Ryan, chiến thắng tại Tarawa chắc chắn đã phải trả bằng một giá đắt hơn. Do công lao trong khoảng thời gian 76 giờ tại địa ngục đó, Thiếu tá Ryan đã được tặng thưởng Huân Chương Hải Quân. Ông năm nay đã 51 tuổi, một vị tiền bối nếu so sánh với các TQLC của Đại đội Lima. Thật nói không ngoa là đối với các TQLC đã từng biết ông, tướng Ryan là một nhân vật huyền thoại của TQLC vào thời điểm năm 1967.
Đại úy Ripley đang bận túi bụi khi tướng Ryan bay đến mà không thông báo trước nhằm đích thân thị sát mặt trận. Trung đội 1 và 2 của Ripley đang đụng độ nặng với bộ đội Bắc Việt một hồi lâu rồi. Tổn thất phe ta đã khá nặng nề mà còn đang chờ trực thăng tản thương lúc tướng Ryan đến thăm các vị trí tạm của Lima. Trong lúc tiếng súng vẫn còn đang bắn nhau giữa hai bên thì tướng Ryan sánh bước cùng Đại úy Ripley rảo qua các xác chết của TQLC và địch quân lẫn lộn nhau trên chiến địa hiện nằm trong tay TQLC Hoa Kỳ.
Có lẽ cảnh tượng rùng rợn nhất trên mảnh đất bé xíu mới chiếm được của TQLC là khẩu liên thanh loại Maxim có bánh xe, đúng chiếc đã bắn chết Thiếu úy Goodwin và Hạ sĩ Strahl. Khẩu súng này đã bị phá hủy gần một tiếng đồng hồ trước đó bởi một quả lựu đạn tay phốt-pho trắng mà lính TQLC gọi là “willy-peter” hay “willy-pete.” Tay xạ thủ Bắc Việt vẫn còn đang ngồi dán mình vĩnh viễn trên ghế, ngay cả trong cái chết vẫn cố gắng nhả đạn hướng về phía tấn công của TQLC. Sự kiện khẩu súng đã bị phá hủy bằng lựu đạn cầm tay trong lúc cận chiến chứng tỏ là trận đánh hết sức khốc liệt và tổn thất cao.
Mặc dù vừa trải qua một ngày đặc biệt khó khăn, và các TQLC Đại đội Lima còn chưa hết căng thẳng, nhưng sự hiện diện của cái thây ma da thịt còn bốc khói mà trước đó còn là một con người, và mùi hôi của da thịt bị đốt cháy trộn lẫn với hóa chất nào đó của trái lựu đạn willy-pete gây ra một cảm giác khá lạ lẫm. Cảnh tượng này đập vào giác quan mạnh hơn và nhấn mạnh toàn bộ trận chiến là một cái gì đó vô lý và siêu thực. Hình ảnh tay xạ thủ bị chết cũng tạo cho các TQLC một cảm xúc kỳ lạ phảng phất tính phục thù và hài lòng. Một tình cảm cá nhân đã trả được mối thù, nhất là đối với những người trong Trung đội 2.
Hàng đống thiết bị của địch quân nằm vương vãi khắp chiến trường, hầu hết bị hất văng lung tung bởi cường lực nặng của không tập và pháo binh mà Ripley đã gọi đến. Ông tướng đã ra lệnh cho các TQLC từ trên trực thăng là cố bảo quản những chiến lợi phẩm quan trọng, nhất là cỗ máy truyền tin lớn do Trung Cộng sản xuất còn nguyên vẹn để mang về phía sau cho tình báo khám xét.
Trong lúc duyệt sát tuyến phòng thủ với ông tướng, Đại đội trưởng Ripley vẫn tiếp tục tham mưu và động viên tinh thần binh lính TQLC, bảo đảm là các đường liên lạc được thông suốt, và đạn dược được chia lại từ những người đã hi sinh hay bị trọng thương không thể chiến đấu được nữa. Những người bị thương nhẹ, trong thời điểm này chiếm một tỉ lệ cao trong quân số của Đại đội Lima vẫn tiếp tục cầm súng và rất ít, hay là không có một ai màng đến chuyện được tản thương đi.
Tướng Ryan thị sát toàn bộ chiến trường. Ông khá quen thuộc với cảnh chiến đấu cùng cực vì đã từng ở vào những hoàn cảnh tương tự. Trong lúc hai người tiếp tục đi thanh tra và chậm rãi trở về vị trí chiếc trực thăng của viên tướng đậu trên bãi đáp tí hon ngay trung tâm cái trảng thì cuộc trò chuyện tập trung vào Đại đội Lima phải làm gì. Ông tướng hứa sẽ tìm mọi cách để tăng cường hỏa lực yểm trợ và tăng viện. Ông biết đây là một cuộc đụng độ lớn và Đại đội Lima đang đối chọi với một lực lượng lớn hơn rất nhiều. Tướng Ryan nhận ra sự thiệt hại về phía TQLC nhưng ông cũng thấy đây là cơ hội có thể tiêu diệt bộ chỉ huy của một đơn vị cấp trung đoàn Bắc Việt.
Khu vực hiện thuộc quyền kiểm soát của TQLC rõ ràng là một kho tàng chiến lợi phẩm đầy trang thiết bị của bộ đội Bắc Việt, hầu hết còn trong thùng đựng từ xưởng sản xuất đưa ra sẵn sàng để được sử dụng. Những cái thùng và hộp còn nguyên vương vãi khắp nơi cùng với hàng đống vũ khí, đồ tiếp liệu y khoa, ba lô, đủ mọi thứ chỉ trừ không có bóng dáng các cán binh Bắc Việt ở đâu.
Họ bước gần đến chiếc trực thăng đang chờ với máy còn nổ dòn. Phi công nhận ra họ và vội vàng sửa soạn cho chuyến bay. Động cơ cánh quạt quay tít lên. Át tiếng rú của con chim sắt đang chực phóng lên, Tướng Ryan và Đại úy Ripley trao đổi những câu đối thoại cuối cùng:
“Anh nhắm giữ được vị trí này không, Đại úy Ripley?”
“Dĩ nhiên là được, thưa Thiếu tướng, chúng tôi giữ được.”
“Tôi sẽ chuyển hết các hỏa lực yểm trợ sẵn có của vùng I cho Đại đội Lima. Tôi sẽ yểm trợ tối đa hỏa lực cho anh.”
“Cám ơn Thiếu tướng.”
“Tiếp tục nhé Đại úy Ripley. Anh cừ lắm, skipper. Rất khá.”
“Vâng, thưa Thiếu tướng.”
Cánh quạt trực thăng đã quay hết cỡ trước khi ông tướng trèo lên. Ngay khi ông vừa đặt chân lên càng máy bay và chưa kịp ngồi xuống thì tay phụ trách bãi đáp đã giơ ngón cái ra dấu cho viên phi công. Vỏn vẹn vài giây đồng hồ sau máy bay đã cất cánh và thêm vài giây nữa là họ rời khỏi cái bãi đáp tí hon và vượt qua khỏi tàng cây. Đại đội Lima lại đơn thân độc mã. Ngày còn dài và chưa hề xong đối với họ.
Mặc dù Ripley rất trân trọng sự hiện diện của tướng Ryan ngoài mặt trận nhưng ông cũng hài lòng là không phải bận tâm đến sự kiện bọn Bắc Việt có thể nhắm vào một mục tiêu quan trọng như vậy. Ripley biết chắc bọn nó đang quan sát từ khu rừng rậm chung quanh và không muốn chúng chú ý đến đơn vị của ông nữa. Một chiếc trực thăng tư lệnh UH-1 to tướng màu xanh lục với động cơ còn quay tít chắc chắn sẽ là một miếng mồi quyến rũ cho đối thủ, giống như dán một tấm bảng “Đây nè” ngay giữa trán. Ripley không cần những chuyện này.
Vừa bay lên trời, tướng Ryan lập tức liên lạc trên mạng lưới điện đàm để tìm hết cách gọi hỏa lực yểm trợ, tiếp viện đồ tiếp liệu và nhân sự, cũng như di tản thương binh. Đại đội Lima đang cần tất cả những thứ đó và ngay lập tức.
Cuộc giao tranh giữa Đại đội Lima và bộ đội Bắc Việt vẫn tiếp diễn khốc liệt, không thương tiếc nhưng với nhịp độ tương đối chậm hơn lúc khởi đầu. Một phần lý do cho những lúc tạm lắng, ngoài chuyện hết đạn dược có lẽ cả hai bên đang bị lâm vào còn có nguyên nhân là tất cả mọi người đều đã kiệt sức.
Chẳng bao lâu sau thì trực thăng của tướng Ryan bay trở lại ngay trên đầu họ. Trong lúc trực thăng còn đang treo trên bãi đáp thì John Ripley chạy tới phất tay ra dấu phải bay đi ngay. Ripley biết là bọn Bắc Việt sẽ không bỏ lỡ cơ hội thứ hai này để bắn hạ chiếc trực thăng và một số TQLC quanh đó.
Về tình hình tại Trung đội 1 thì mọi người trong lúc này, có lẽ kể cả tụi Bắc Việt nữa, đã gần như cạn sạch cả adrenalin và đạn dược. Không một ai, dù là người khỏe nhất, có thể tiếp tục duy trì cái nhịp độ như lúc đầu cho đến nay. Ngay trước khi trực thăng của ông tướng bay trở lại thì có nguồn tin là Tiểu đoàn 3/3 đã trực thăng vận được một số tăng viện, nhặt nhạnh từ các bộ phận hành chánh và yểm trợ từ hậu cứ. Họ được thả xuống một bãi đáp phía sau xa hơn vị trí hiện nay của Đại đội Lima. Ripley vội gọi điện thoại cho Trung đội 1 điều một người xuống dọc con đường mòn để đón họ lên.
Quân số Trung đội 1 hiện trải ra khá mỏng. Trung đội 2 sát bên sườn trái án ngữ sâu xuống thêm khoảng một trăm thước nữa. Ban chỉ huy của Trung đội 1 gồm Thiếu úy Heekin, Thượng sĩ Witkowski và Hạ sĩ Goggin, trấn thủ ở vị trí thuận lợi nhất để kiểm soát tình hình, tức vào khoảng 10 thước phía sau và ở khoảng giữa Trung đội. Giống như các đồng đội khác, cả ba đều bở hơi tai. Trong thoáng chốc, cuộc giao tranh tạm dừng và đơn giản là họ đã gục tại chỗ để nghỉ ngơi.
Tình trạng mong manh của Đại đội Lima chỉ còn kết dính lại bằng sức mạnh của lòng quyết tâm và ý chí chung. Tình hình có vẻ như mọi thứ sắp sửa đồng loạt vượt ra khỏi tầm kiểm soát. Khi nghe tin quân tiếp viện đã đến, Ripley và một nhân viên truyền tin của anh chạy vội ra chỗ trực thăng của Thiếu tướng Ryan sắp đáp để bảo họ rời ngay. Đúng lúc đó thì sự nhanh nhẹn của Hạ sĩ Goggin có lẽ đã cứu mạng sống của chính anh.
Là một “bô lão” của Trung đội 1, Thượng sĩ Witkowski chỉ trạc 30 hoặc 32 tuổi là cùng. Hạ sĩ Goggin thấy ngay là Thượng sĩ “Ski” và Thiếu úy Heekin đều đã kiệt sức cả rồi. Do đó, đáng lẽ Thượng sĩ “Ski” là người thích hợp nhất để ra phía sau đón tiếp viện thì Hạ sĩ Goggin tình nguyện: “Đừng lo Thượng sĩ, để em đi đón họ cho…”
Thiếu úy Heekin và Thượng sĩ “Ski” còn đang nằm phục dưới đất. Goggin, vai đeo cái máy Prick 25, dựa lưng vào cành cây nhỏ để làm giảm sức nặng cái máy truyền tin đang đè nặng trên vai. Sau đó anh ngồi dậy bước ra phía sau với bộ ống nghe vẫn còn gắn trên nón sắt. Chuck Goggin chưa đặt xong bước đầu tiên thì đã nghe tiếng “ụp ụp” quá quen thuộc của bích kích pháo bắn đi át cả tiếng vùn vụt của cánh trực thăng đang quay. Lúc đó Đại úy Ripley còn đang cố phất hiệu cho trực thăng bay đi. Goggin vội vàng nhào xuống, nghĩ rằng anh và mọi người chung quanh đang là mục tiêu của bọn đề-lô Bắc Việt gần đó. Ngay đằng trước khoảng trống nhỏ mà Thiếu úy Heekin, Thượng sĩ “Ski” và anh đang ẩn núp có một số thùng nước cỡ năm gallons có lẽ do ai đó trong toán tiếp viện mang lên trước kia. Miệng cầu trời là những cái thùng còn đầy nước để hấp thụ bớt các mảnh đạn khi anh nhào qua phía bên kia, Hạ sĩ Goggin vừa chạm đất thì cùng lúc đó một quả đạn cối bắn trúng chỗ núp. Thực ra thì đó là những can nước không, nhưng anh đã đủ xa nơi trái pháo rớt xuống. Cảm giác cháy bỏng bên cổ chân trái khiến Goggin biết là anh đã bị trúng miểng. Anh bị thương nhưng không nặng lắm. Sau một giây bàng hoàng anh ngó về phía Thiếu úy Heekin và Thượng sĩ “Ski.” Họ đã không được may mắn như anh.
Loạt bích kích pháo vừa qua đã rơi xuống gần họ hơn. Không đầy một phút sau khi Goggin nhào đến Thiếu úy Heekin thì anh biết Heekin đã ra đi. Thượng sĩ “Ski” có vẻ cũng sắp cùng chung số phận.
Đợt pháo kích làm tê liệt Trung đội 1 đã được thực hiện hoàn toàn chính xác. Không ai chối cãi là bọn Bắc Việt sử dụng súng cối rất giỏi. Cùng với loạt pháo kích đó là một đợt khác quá gần đến nỗi Đại úy Ripley thấy cả những trái đạn súng cối địch với màu sắc đặc thù chậm rãi bay lên cực điểm đạn đạo rồi thong thả rơi xuống vị trí của Ripley. Anh chắc chắn là một trong những trái đạn đã rơi xuyên qua như phép lạ cái cánh quạt trực thăng đang bay của Thiếu tướng Ryan. Tay trưởng cơ đã chất đầy y cụ tối cần thiết phía sau máy bay và đang bận đạp chúng xuống trong lúc máy bay còn đang lơ lửng vài thước trên mặt đất. May mắn thay, viên phi công giữ trực thăng vừa đủ cao do đó khi viên đạn nổ anh ta không bị thổi tung trên không. Anh nhận ra tình thế hiểm nghèo và tống ga vọt lên trời tránh ra khỏi vùng nguy hiểm.
Đại úy Ripley và viên truyền tin mải cố gắng ra hiệu cho trực thăng bay đi để kẻ thù không còn cái mục tiêu khổng lồ nhắm vào thì lại không được may mắn như phi hành đoàn trên trực thăng của ông tướng. Trái đạn rơi xuyên qua cánh quạt trực thăng đang quay có vẻ đã nổ ngay trên một trong những thùng thuốc men bên dưới. Tay phi công trực thăng đã nhanh nhẩu lái nhanh ra khỏi vùng rồi.
Nhiều trái đạn rơi xuống nữa. Một trái rớt trúng làm bắn tung Đại úy Ripley và tay truyền tin lộn ngược đầu trên không, tai còn đang đeo máy nghe và miệng như thể vẫn còn đang liên lạc điện đàm. Cả hai rơi xuống đất cách một khoảng xa. Cơn bàng hoàng ban đầu làm họ mất hết phương hướng. Đối với Lima “đích thân,” cảm giác đầu tiên là anh đã bị thương nặng rồi. Bị tung lên trời và trúng miểng ở bên sườn trái, Đại úy Ripley rơi xuống đất phía bên phải với cái báng súng nằm giữa anh và mặt đất của vùng I Chiến Thuật.
Anh bị gãy liền mấy bẹ xương sườn. Cảm giác đau đớn ngay lập tức cả hai bên ngực làm anh có cảm tưởng đã bị bắn xuyên táo gọn ghẽ. Tay truyền tin thì máu me đầy người. Lắc đầu để xua đi cơn bàng hoàng, Ripley hoàn hồn là anh chưa chết nhưng không kịp ngăn một tay truyền tin khác chạy lên kiểm tra tình hình và la lối trong máy rằng: “Xếp bị trúng đạn rồi! Xếp bị trúng đạn rồi!”
Hạ sĩ Goggin nghe được điện đàm báo tin số phận của xếp và tin ngay là thật mà không kịp kiểm chứng lại. Thiếu úy Goodwin đã bị ngã trước đó rồi. Thiếu úy Heekin và Thượng sĩ “Ski” cũng đã tử trận, tất cả sĩ quan chỉ huy coi như đã ra đi. Trong khung cảnh đất trời rung chuyển chung quanh, Chuck Goggin – ngay cả tay TQLC lạc quan và tự tin nhất này – cũng phải phân vân trong chốc lát. Sau đó anh buột miệng: “Chúa ơi! Họ đi cả rồi. Chúng ta chắc không qua nổi con trăng này đâu. Không xong rồi…” Rồi anh nhìn kỹ lại và nhận ra phía dưới viên “Đích thân” Lima 6 đang gượng đứng lại được. Bóng mây nghi ngờ tan dần.
Trong khoảng thời gian cái thông tin sai lạc được loan đi thì tiếng súng nổi dậy dường như mãnh liệt hơn. Bọn Bắc Việt chắc hẳn đã nghe được. Mặc dù người chỉ huy đã thật sự bị văng lên trời rồi gượng đứng lên được nhưng sự tác hại đã xảy ra. Bọn lính Bắc Việt giống như lũ cá mập đang lượn quanh chờ cú giết cuối cùng.
Các chiến binh TQLC trong Đại đội Lima nếu còn thở và bấm cò súng được đều phải chiến đấu cho sự sống còn của chính họ và liều mình vào trận đánh chỉ trong tầm sát hại năm thước quanh những quả lựu đạn Chi-com hay lựu đạn công phá (HE) của Mỹ. Đối với các Tiểu đội trưởng thì khoảng cách có lẽ xa hơn gấp ba hoặc năm lần và đối với trung đội trưởng thì rộng hơn một chút. Đại đội trưởng thì nhiệm vụ vô cùng nặng nề trong cái thế giới viễn ảo khoảng 150-200 thước anh chịu trách nhiệm. Tuy mới bị thương khá nặng nhưng Đại úy Ripley vẫn nắm vững tình thế chỉ huy như một phép lạ nào đó.
Chuck Goggin, mới được thăng Hạ sĩ hai ngày trước đây, còn quá non đối với ba tay Tiểu đội trưởng nhưng có cái nhanh trí cho rằng bọn Cộng sản đang nghe lén các cuộc điện đàm. Cường độ của hỏa lực địch tăng mạnh ngay sau khi tin vị chỉ huy bị trúng đạn được loan đi không thể là do tình cờ được. Điều cuối cùng Goggin không muốn bọn Bắc Việt biết là Thiếu úy Heekin cũng đã bị chúng giết chết rồi. Nhưng Đại úy Ripley cần phải hay tin này. Và ông ta cũng cần phải biết Chuck có khả năng nắm quyền thay thế. Ít nhất tạm thời lúc này.
Trong hoàn cảnh này thì tuyến phòng thủ của Đại đội Lima còn tương đối thẳng và vững vàng một cách đáng kinh ngạc. Xuyên qua trảng trống và mảnh rừng gẫy nát đầy bụi tạo ra bởi chất nổ, Goggin nhận ra viên xếp khoảng chừng 100 thước phía dưới phòng tuyến, đang chỉ huy binh lính và phối hợp hỏa lực yểm trợ. Chuck Goggin vụt chạy tới. Anh chạy tưởng chừng như mạng sống anh trông cậy vào điều đó. Và thật đúng như vậy. Cuộc đàm thoại giữa hai người hết sức ngắn ngủi. “Xếp ơi, Thiếu úy và Thượng sĩ Ski đi rồi. Em thay được lúc này…”
“Goggin, Trung đội 1 giao cho anh. Coi chừng hai bên sườn. Đừng để bọn nó đánh ngang sườn!” Chỉ có vậy thôi. Goggin chạy vội trở về Trung đội 1.
Kể ra thì Đại úy Ripley không cần phải dặn dò Hạ sĩ Goggin phải canh chừng mạn sườn vì mọi người đều đã rõ. Hạ sĩ TQLC Charles Francis Goggin, mới chỉ 13 tháng gia nhập TQLC đã nắm quyền chỉ huy phần sống sót còn lại củaTrung đội 1. Anh đã trở thành “đích thân” Lima 1.
Chuck Goggin, bây giờ là Trung đội trưởng, biết trách nhiệm và quyền hạn anh đã tăng lên nhiều hơn. Anh nắm vững nhiệm vụ trước của anh và tầm quan trọng của truyền tin đối với một Trung đội. Anh gọi xuống tuyến dưới ven rừng nơi mà quân số còn lại của Trung đội 1 đang kháng cự lại quân địch đang ẩn kỹ. Anh nhắm vào binh nhất George Petri, một tay TQLC xuất thân từ Brooklyn. Goggin biết là tay này khá cứng cỏi và vững vàng trong mọi tình huống tồi tệ nhất. Cuộc trao đổi chỉ dài hơn cuộc nói chuyện với Đại úy Ripley một chút.
Hạ sĩ Goggin ra lệnh: “Petri, lên đây ngay!”
“Sao vậy?”
“Thiếu úy Heekin ngã rồi. Xếp mới giao Trung đội cho tao và tao cần truyền tin.”
“Tôi đâu có biết cách nói điện đàm.”
“Mày đừng lo. Vác cái máy. Để tao nói.”
Chỉ có vậy thôi.
Với tư cách truyền tín viên cho Trung đội 1, Hạ sĩ Goggin vẫn luôn là người biết được nhiều chuyện hơn hết trong các đồng đội. Anh là người chuyển tin đi và anh cũng là người nhận các tin tức về. Anh còn là người của Trung đội 1 có nhiệm vụ theo dõi tất cả các cuộc điện đàm trong Đại đội.
Chỉ cần một thời gian ngắn thì một nhân viên truyền tin – mặc dù thông minh vừa phải thôi – cũng có thể đánh giá được các hành động và tâm tính những nhân vật mà anh thường nghe. Sau một thời gian dài hơn nữa thì đừng hòng mà họ qua mặt nổi một nhân viên truyền tin lành nghề. Mức độ sợ hãi hay bực bội của một cấp chỉ huy khi ra lệnh qua điện đàm đều biểu lộ ra rõ ràng với một tay truyền tin lão luyện. Làm nhiệm vụ truyền tin giống như là tham gia vào một mối liên hệ kỳ cục giống như vợ chồng vậy. Do đó, nhân viên truyền tin thường phải “ăn ngủ” với các “nàng dâu,” phải nhìn mặt mũi họ không phấn son trang điểm mỗi buổi sáng, ngày nào cũng vậy. Nhân viên truyền tin hiểu rõ từng mặt mạnh và nét dị hợm của mỗi sĩ quan chỉ huy cũng như các tay truyền tin khác trong cùng mạng lưới điện thoại. Sự căng thẳng thường xuyên không dứt của chiến tranh không cách nào dễ nhận thấy hơn là nghe họ liên lạc với nhau bằng điện đàm. Chia sẻ mạng lưới điện thoại, đặc biệt trong các tình thế cùng cực, trên thực tế là cơ hội để thấu hiểu tâm tư tình cảnh của mỗi người trong mạng lưới.
Trong nhiều mặt mà Hạ sĩ Goggin kính trọng vị chỉ huy Đại đội mà anh thường xuyên quan sát hay nghe qua điện thoại là trong tình thế khẩn trương, đặc biệt nóng bỏng như hôm nay thì “đích thân” Lima 6 tỏ ra là người điềm tĩnh nhất. Tuy mới chỉ là lính TQLC trong vòng có 13 tháng nhưng Goggin cũng đủ già dặn để nhìn ra là mức độ tự tin hay sợ hãi của sĩ quan chỉ huy đã tác động đến kết quả của trận đánh. Vào cuối chiều ngày 2 tháng 3, 1967 đó, mặc dù bị thương tích, kiệt sức, cả Đại đội tan tác nhưng Đại úy Ripley vẫn tỏ ra không chút nao núng, hay ít nhất là không hề có dấu hiệu chịu thua. Goggin, một người mới được thăng cấp thành Trung đội trưởng Trung đội 1 nhận xét như vậy.
Chẳng ai có thời giờ mà cành nanh Hạ sĩ Goggin còn kém thâm niên hơn các Tiểu đội trưởng mà anh chỉ huy cả. Hoàn cảnh là như vậy và cũng không ai hơi đâu chỉ trích hay ganh tị. Cuộc chiến tiếp diễn, thỉnh thoảng có những lúc tạm dừng hay tạm lắng, có vẻ như phù hợp với những lúc cần tiếp tế, di tản thương binh hay đơn giản hơn là mọi người mệt mỏi và hỗn loạn cùng cực quá rồi. Có một lúc Đại úy Ripley đủ tỉnh táo để quan sát trong bao lâu thì Đại đội hết đạn sau một đợt tiếp tế. Ripley nhận ra là họ cạn sạch đạn trong vòng dưới năm phút đồng hồ.
Về phía quân đội Mỹ thì đơn vị tăng viện trên bộ lớn nhất là Đại đội India, một trong các Đại đội khác của Tiểu đoàn 3/3. Họ đang di chuyển nhanh xuyên rừng tìm đường vào trận địa. Vào lúc buổi sáng khi đụng độ, sĩ quan hành quân Tiểu đoàn đã báo cho Ripley biết là Đại đội India cần tám tiếng đồng hồ mới vào tới nơi được. Trong lúc chờ đợi thì Lima phải sử dụng những người còn lại của Tiểu đoàn như tài xế lái xe tải, nhân viên hành chánh, đầu bếp, nói chung tất cả những người nào đã từng tốt nghiệp San Diego hay Parris Island.
Giữa các chuyến trực thăng đáp xuống trên bãi đáp vài trăm thước phía sau trận tuyến, nơi quân tiếp viện và đạn dược được mang tới, Chuck Goggin đã có trận cười lần đầu tiên trong ngày. Khi trực thăng tiếp tế đáp xuống bãi lần thứ tư hay thứ năm gì đó, Goggin nhận thấy một gã trẻ tuổi trèo xuống trực thăng trong bộ quân phục xanh lục sậm gồm quần láng coóng chưa phai màu và áo jacket còn mới tinh. Mắt hắn mở to vì sợ hãi, mặt thì trắng bệch chưa thấm sương gió rừng rậm. Hắn chính là một tên bạn từ trong trại huấn luyện và sau này đã trở thành nhân viên hành chánh. Anh chàng sắp sửa phải ăn lương chiến đấu thật sự, và phải sống với câu châm ngôn cũ của TQLC Hoa Kỳ là “Mỗi TQLC là một tay súng.” Cười thầm trong bụng nhưng cũng tôn trọng nỗi sợ hãi của anh lính chiến lần đầu tiên ra trận, mà lại là một thử thách quan trọng nhất sắp sửa phải đối đầu, tân Trung đội trưởng Trung đội 1 Goggin chỉ biết truyền đạt lại một ít kiến thức có thể san sẻ được trong lần tái ngộ ngắn ngủi này trước khi chuyển tên bạn thân ra tuyến đầu đụng độ
Khi cuộc đời quất ta những ngọn roi đầu tiên
Ta mới thẩm thấu được mùi vị của giọt nước mắt
Reo vui như những giọt thủy tinh trong vắt
vừa chào đời khởi nguyên cho cuộc sống trên thảo nguyên xanh
Nước bất tận từ sông suối biển khơi thác ghềnh
Một ngày nào sẽ biến mất chỉ còn trơ đá sỏi
Lạ thay từ một hốc nhỏ nước vẫn tuôn trào không mõi
Không pha tạp chút gì lại mặn suốt một đời ta.
Ta sẽ nhận ra trong ánh mắt thiết tha
Niềm hạnh phúc lăn dài trên má người đàn bà sau một ca sinh khó
Khi nhìn thấy một sinh vật nhỏ nhoi oe oe khóc dở
Đêm vượt cạn thiếu vắng người chồng yêu quí không về
Điều gì hiện lên trong hốc mắt đỏ hoe
Những giọt nước mắt chảy ngược trong lòng người mẹ
Khi hay tin con mình hy sinh tuổi còn quá trẻ
Chưa từng nếm được mùi vị ngọt ngào của nụ hôn
Chưa một lần nắm bàn tay người con gái yêu thương.
Trong lòng thằng đàn ông giang hồ tứ chiến
Ngày trở về chỉ thấy nấm mộ mẹ hiu hiu gió chướng
Nước mắt trào ra trong trái tim khô cằn từ lâu
lấp lánh như viên kim cương tỏa sáng nhiệm mầu
trong lòng tên cướp muốn hoàn lương hối lỗi
Bỏ đi một thời tăm tối.
Còn anh và em biết bắt đầu từ đâu
Lại chia tay khi chúng ta từng là hai kẻ tha thiết yêu nhau
Khi một người luôn chạy theo giấc mơ đầy ảo mộng
Nào biết được nửa kia cần nhau như hình với bóng
Sự cay đắng và ngọt ngào, niềm vui cùng hạnh phúc
Biết tìm ở đâu khi cuộc tình đã mất
Chỉ có người trong cuộc mới nhận ra nhau
Vì tất cả những giọt nước mắt đều không màu
Nhưng mang thật nhiều ý nghĩa phải không em?
Nguyễn An Bình
Tháng 7/2015