Monthly Archives: Tháng Sáu 2015
ÁO BIẾC
Ờ thì chắc gì như năm trước
Gió thốc ngoài hiên thổi tạt buồn
Tay trắng-trắng tay anh trơn trợt
Tuột dốc tình níu chẳng chịu buông
Níu lấy em một thời hoa mộng
Mộng ngày e ấp tuổi hai mươi
Chở theo hương tóc ngàn kỷ niệm
Đậu giữa ngực mềm bao giấc mơ
Xưa áo biếc trời cao lồng lộng
Thu rắc vai em chút phấn vàng
Anh gánh gian nan mùa ly loạn
Đi tìm dấu vết bóng kim lan
Ờ thì chắc gì không đau điếng
Lần tiễn đưa bỏ lại nụ cười
Hạt lệ nào rưng rưng em khóc
Rơi từ khóe mắt xuống bờ môi
Bỗng thấy cỏ hiền ngoan nằm ngủ
Dưới bàn chân trắng ngó sen hồng
Anh khẽ hôn dịu dàng năm ngón
Để thương hoài năm ngón em thơm
Bỗng thấy chiều sông xanh quá đỗi
Nắng xế tàn chim lạc cánh bay
Người lâu rồi trở thành người cũ
Buốt lòng anh trong tiếng thở dài
Ờ thì chắc gì em đã giữ
Tờ thư anh và khói quê nhà
Quê nhà . Chao ôi ! Xa vời vợi
Tờ thư anh màu mực phôi pha
Xuân chưa chớm mà xoan vội muộn
Tình chưa phai sao biệt bóng hình
Anh dặn anh thôi đừng nhớ nữa
Nhưng trời ơi nỗi nhớ vây quanh
Con đường nào anh qua trăm bận
Khổ gì đâu hoa rụng tơi bời
Khổ gì đâu tim anh nhoi nhói
Bởi em giờ có cặp-có đôi
Ờ thì chắc gì anh còn sống
Đợi kim lan áo biếc quay về
Xưa áo biếc trời cao lồng lộng
Bịn rịn ngày giấu vạt mây che
Bịn rịn ngày chấm lưng tóc rối
Lá bùa yêu rớt xuống sân đời
Sân đời anh ngã không gượng nỗi
Nên đành lặng lẽ bỏ cuộc chơi
Sông bỗng rộng và dài từ thuở
Anh mất em chim lẻ bạn tình
Trăng uất nghẹn vì ai trăng vỡ
Từng giọt hồng thắm đỏ thơ anh
LINH PHƯƠNG
CƯỠI NGỌN SẤM, CHƯƠNG 1
Chương 1
Hồng Thủy Triều
Bản đồ thế giới đang bị nhuộm đỏ dần. Từ thành trì nước Mỹ vào cuối năm 1954 nhìn ra ngoài, tình hình thế giới không được lạc quan chút nào. Căn bệnh ung thư Cộng sản bất trị đã tấy lên và lây lan với mức độ đáng sợ. Liên Sô, Đông Âu, Trung Cộng, Bắc Hàn và bây giờ là đất nước Việt Nam bị chia cắt với bọn Cộng sản thống trị ở miền Bắc đang thèm khát nhòm ngó xuống miền Nam và có lẽ sang cả Lào và Căm-Pu-Chia nữa. Số lượng các dân tộc bị nô lệ tăng dần lên làm lu mờ đi niềm vinh quang của cuộc chiến thắng toàn diện từ sau Thế Chiến Thứ Hai.
Trong khi chủ nghĩa thực dân cũ bị sụp đổ và biến dần đi thì khoảng trống về chính trị và kinh tế đã tạo ra một thế giới thứ ba trong chiều hướng thù địch với sự hình thành non yếu của nền kinh tế tự do và đối với các chính phủ được bầu lên theo thể thức dân chủ. Dưới quan điểm của người Mỹ, khối liên kết Liên Sô-Trung Cộng tựa như một con quái vật khát máu, dị dạng đang nuốt chửng tất cả những gì nằm trên đường đi của nó và đang tìm mọi cách để mở rộng ảnh hưởng bằng cách xuất cảng tràn lan chủ nghĩa Mác-xít, giúp các phong trào nổi dậy và cái gọi là “chiến tranh nhân dân.”
Tương tự như sự kiện Trân Châu Cảng đã lay động Hoa Kỳ thức tỉnh để ra khỏi sự cô lập và đã thúc đẩy đất nước này một cách toàn diện, tuy không tự nguyện, vào vai trò lãnh đạo của Thế Giới Tự Do, tình hình thực tế sau sự kết thúc của các cuộc xung đột lớn vào tháng 9 năm 1945 là yếu tố buộc anh chàng “khổng lồ” miễn cưỡng này phải thận trọng và đầu tư lâu dài của cải, tài nguyên nhân lực ở những mức độ chưa từng thấy hoặc ở mức cần thiết không tưởng tượng nổi nếu trong thời bình.
Kinh nghiệm của Hoa Kỳ trong Thế Chiến Thứ Hai, quá lớn và mòn mỏi đối với tất cả các công dân Mỹ trên mọi phương diện rất khó mà xác định hay định lượng nổi toàn bộ, đã tạo ra các tiêu chuẩn mới để từ đó các hoạt động quân sự trong tương lai cũng như các phương cách đo lường thắng bại phải được xem xét lại.
Kinh nghiệm trận chiến Triều Tiên mà nước Mỹ tham dự từ tháng 6/1950 cho đến khi đạt được một cuộc ngưng bắn mong manh vào tháng 7/1953 hết sức khác biệt với niềm vinh quang toàn diện của Thế Chiến Thứ Hai mà người Mỹ vẫn còn mang trong lòng. Với cái giá phải trả là hơn 54 ngàn binh lính bị thiệt mạng, hơn 8 ngàn người mất tích vì công vụ và hàng trăm ngàn người khác bị thương, người Mỹ bình thường không có niềm tự hào vì không thể tuyên bố đó là một sự chiến thắng được. Người nào lạc quan lắm cũng chỉ có thể quan niệm rằng ít nhất nước Cộng Hòa Đại Hàn vẫn còn đứng vững và sự hiện diện của Hạm đội thứ bẩy tại eo biển Đài Loan đã chận đứng các âm mưu của Cộng sản muốn thôn tính Trung Hoa Quốc Gia và có thể ngay cả Nhật Bản nữa. Trong khi sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng sản đã tạm bị ngăn chận tại vùng Bắc của lục địa Á Châu thì căn bệnh ung thư tương tự lại bắt đầu phát triển về phía Nam.
Lê Bá Bình
Cha của Lê Bá Bình là người đã tác động nhiều nhất đến ước muốn của anh là được trở thành một sĩ quan trong Binh chủng Thủy Quân Lục Chiến mới được thành lập.
Ông tên là Lê Bá Sách, sinh năm 1910 tại một làng gần Hà Đông, một thị trấn nông thôn hơi chệch về hướng Nam và Tây của Hà Nội. Thấy ông là một thanh niên thông minh, gia đình đã lo cho ông đi Pháp vào cuối thập niên 1920 để theo học tại một trường đại học kỹ thuật và nhận được bằng kỹ sư. Sau khi trở về Việt Nam vào đầu thập kỷ 1930 ông gia nhập lực lượng Hải quân Pháp đóng tại vùng Sài Gòn. Vì là người Việt Nam, cho nên mặc dù có học, nhưng các cơ hội thăng cấp của ông đã bị hạn chế, do đó ông phải phục vụ dưới khả năng của mình như một hạ sĩ quan trên những chiếc tàu thuyền nhỏ của Hải quân Pháp đồn trú tại đó.
Năm 1930 mẹ vợ của ông Sách chuyển vào sống tại Sài Gòn để trông nom một quán ăn gần vùng Chợ Lớn. Cùng theo với ông Sách vào Sài Gòn là bà vợ mới cưới tên là Cát Thị Dần sinh trưởng từ tỉnh Sơn Tây gần Hà Nội. Bình được sinh ra năm 1937 và là người con trưởng trong số bốn người con của một gia đình Phật giáo truyền thống.
Một phần đất của Đông Dương thuộc Pháp sau này trở nên nổi tiếng đối với thế giới với tên gọi Việt Nam được tạo nên bằng ba khu vực riêng biệt. Ở phía Bắc, ngay bên dưới và tiếp giáp với Trung Quốc, là xứ Bắc Kỳ với nét đặc điểm địa lý chính yếu tác động đến dân cư là châu thổ sông Hồng. Về phía cực nam là vùng Nam Kỳ. Giống như miền Bắc, đặc điểm chính yếu của nó là khu vực đồng bằng to lớn hơn và là vựa lúa phì nhiêu của giòng sông Cửu Long hùng vĩ. Ở giữa hai vùng là miền Trung Kỳ với cái tên Annam là một vùng khó nhọc nuôi dưỡng dân cư ít hơn nhiều, với các cánh đồng dọc ven biển chật hẹp và chúng nhanh chóng biến thành núi rừng nếu ta di chuyển về hướng Đông qua Lào hay Căm-Pu-Chia.
Những kỷ niệm sớm nhất của Lê Bá Bình lúc còn thiếu thời chắc phải bao gồm các hồi ức về sự chiếm đóng của quân đội Nhật. Trên thực tế thì cái gọi là Khối Thịnh Vượng Chung Đại Đông Á chẳng mang lại thịnh vượng gì cho người dân sinh sống tại Đông Dương. Rất nhiều lần cậu bé Bình đã thấy những tên lính Nhật vung kiếm chặt đứt tay một số người dân ngoài phố chợ Sài Gòn chẳng biết vì lý do gì.
Trong những cuộc du hành trong nước, ông Lê Bá Sách đã tận mắt chứng kiến một viên sĩ quan Nhật dùng kiếm chặt chân một ông già phu xe vì tội không cung kính hoặc vì đã di chuyển chậm chạp kém nhiệt tình. Tại quê nhà Hà Đông của ông có một phụ nữ lớn tuổi vốn đã từng bán gạo cho đạo quân Nhật Hoàng dùng để nuôi ngựa. Khi có một con ngựa trong đám bị chết sau khi ăn gạo do bà bán, bà già bị lôi ra và nhét tươi vào bụng mổ toang của con vật đã chết. Sau khi nhồi nạn nhân vào bụng xác con vật xong, bọn lính khâu lại và đứng chung quanh cười giỡn khi thấy xác con vật quằn quại với nhịp độ yếu dần khi bà già bị chết ngạt bên trong. Người dân xứ Đông Dương đã học một bài học đắt giá là quan thầy thực dân Pháp của họ không phải là siêu nhân. Khi làn sóng chiến tranh chuyển hướng bất lợi cho người Nhật và vòng vây các tiềm thủy đĩnh Hoa Kỳ chung quanh các hòn đảo Nhật Bản siết chặt dần, nhu cầu phải nhập cảng lương thực tăng vọt lên. Người Nhật thâu tóm hết ngũ cốc từ những vựa lúa mầu mỡ của sông Hồng và, ở mức độ thấp hơn, từ vùng sông Cửu Long để chuyển về nước. Tuy không có những thống kê chính xác nhưng các ước tính hợp lý cho biết trong giai đoạn 1944-1945 chỉ riêng miền Bắc đã có khoảng hai triệu trong số 10 triệu ngưòi dân đã thiệt mạng từ nạn đói gây ra bởi kẻ xâm lược và nạn hạn hán lại còn làm cho tình hình tồi tệ thêm. So với Trung Hoa lúc đó cũng phải chịu đựng cảnh khốn cùng trong tay người Nhật, Việt Nam có lẽ đã phải trả cái giá cao hơn cho việc bị ép buộc gia nhập vào khối Thịnh Vượng Chung Đại Đông Á. (Các sự phỏng đoán được chấp nhận cho thấy số lượng người Trung Hoa bị thiệt mạng trong Thế Chiến Thứ Hai vào khoảng 10-12 triệu người kể cả đàn ông, phụ nữ và trẻ em. Với một dân số khoảng 500 triệu vào lúc đó, gần 2% người Trung Hoa đã chết. Dân số Việt Nam ước tính cho ba miền Bắc, Trung và Nam vào khoảng gần 30 triệu mà đã có tới từ một đến hai triệu người chết tức từ ba đến sáu phần trăm dân số bị thiệt mạng. [Theo các nguồn tài liệu khác nhau]).
Trong cuộc họp cuối cùng của nhóm Tam Cường tại Postdam vào tháng 7/1945, Truman, Stalin, Churchill và các ban tham mưu của họ đã làm nhiều hơn là chỉ bàn thảo việc tìm kiếm kết quả cuối cùng cho cuộc chiến tại Âu Châu cũng như hoàn thiện chiến lược đánh bại nước Nhật. Trong các vấn đề phụ thuộc đối với các nước khác nhưng lại có ảnh hưởng đối với Đông Dương là thỏa thuận khi cuộc chiến chấm dứt tại vùng Thái Bình Dương. Quân đội Trung Hoa Quốc Gia sẽ giải giới quân đội Nhật tại miền Bắc xuống tới vĩ tuyến 16. Ở phía Nam, công việc tiếp nhận sự đầu hàng của quân Nhật sẽ do các đơn vị của quân đội Anh quốc trong đó có cả binh lính Ấn Ðộ đảm nhận.
Bình nhớ lại sự xuất hiện của người Anh và đồng minh người Ấn khi họ đến Sài Gòn. Hai nhóm rất khác biệt với nhau. Nhóm người Anh, mệnh danh là “Tommies” rất vui vẻ, thân thiện và thoải mái trong những lần tiếp xúc với trẻ em Việt Nam. Mặc dù không biết một chữ tiếng Anh nào nhưng Bình nhận ra ngay một nụ cười và chắc chắn là rất thích thú với cái kẹo mà những người lính trẻ ném cho đám trẻ con đang theo đuôi từng đoàn. Khác với người Anh, và có lẽ vì họ cũng đến từ một quốc gia nghèo nên người Ấn có vẻ tính toán hơn, tằn tiện, lầm lì và chẳng cần biết họ có được cảm tình của chủ nhà nghèo hèn người Việt hay không.
Dường như có một yếu tố bất biến trong hơn hai ngàn năm lịch sử được ghi lại của Việt Nam là các cuộc đấu tranh, xung đột, gian khổ và đau buồn quá liên tục đã làm cho con người trở thành quen thuộc luôn với nó. Nước Việt Nam hình như lúc nào cũng có chiến tranh, cho dù là chống người Chàm từ Căm-Pu-Chia, người Tầu tràn xuống từ hướng Bắc, hay giữa các bộ tộc Nguyễn và Trịnh trong những trận chiến cốt nhục tương tàn với nhau. Lịch sử dân tộc này suốt hai ngàn năm đầy rẫy các vị anh hùng và anh thư trong cuộc chiến bảo vệ lãnh thổ chống giặc ngoại xâm.
Khởi đầu bằng hai chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị vốn là những người đã chiến đấu và thành lập một vương triều trải dài đến vào tận trong miền Nam nước Tầu vào thập niên 40 trước Công Nguyên, đến Triệu Ẩu vào thế kỷ thứ ba, một phụ nữ Việt Nam tương tự như nữ anh hùng “Jeanne d’Arc” của Pháp, rồi đến Trần Hưng Ðạo, Lê Lợi, Lê Thánh Tông cho đến Phan Đình Phùng, văn hóa nước Việt gồm thật nhiều các nhân vật nam và nữ đầy dũng cảm, gan dạ mà gương hy sinh được truyền bá đến tất cả các thế hệ trẻ về sau.
Gần đây hơn cuộc đấu tranh chuyển qua chống lại người Pháp rồi tiếp theo là người Nhật. Nay quân Nhật sửa soạn rút đi, chưa rõ đến lượt kẻ thù nào sẽ thế vào chỗ trống đã được tạo ra. Sự đau khổ, đói kém và chết chóc là những chuyện thường ngày trong chuỗi nhân sinh tại Việt Nam như thể việc sinh ra, niềm vui và sự thỏa mãn vậy. Ai có thể khẳng định đời sống dưới thời kỳ Nhật là khổ nhất?
Có thể đúng như vậy thật. Những người không bị mất mạng ngay vì nạn đói đã trở nên yếu ớt và dễ bị mắc bệnh hơn. Vào năm 1946, một cơn dịch cúm đã cướp đi rất nhiều nạn nhân. Trong số đó có mẹ của Bình đã chịu đựng căn bệnh trong ba ngày trời trước khi qua đời để lại người chồng, Bình, đứa em trai và hai em gái của Bình trong một tương lai không lấy gì làm chắc chắn.
Sau khi chịu thất trận nhục nhã dưới tay người Đức trong Thế Chiến Thứ Hai, nước Pháp chỉ lăm le muốn đưa các thuộc địa cũ của mình về lại tình trạng tiền chiến. Trong khi nước Anh cùng chia sẻ ý định đó thì người Mỹ không có khuynh hướng phục hồi lại chế độ thực dân của thế giới cũ. Tuy nhiên vì làn sóng chủ nghĩa Cộng Sản đang dâng lên trên lục địa châu Á nên dường như không có nhiều sự chọn lựa lắm. Hồ Chí Minh được xem như là một viên gạch nữa đắp thêm vào khối đá Cộng sản đang lớn mạnh dần. Ngoài ra sau khi bị mất Trung Hoa và tiếp theo là trận chiến ở Triều Tiên, sự hỗ trợ của nước Mỹ đối với người Pháp là một sự chọn lựa tất nhiên và khẩn cấp.
Phong trào người Việt Quốc Gia nóng lòng đấu tranh tháo bỏ ách thực dân trên thực tế đã diễn ra từ trước khi quân đội Nhật nắm quyền hành tại vùng Đông Dương thuộc Pháp. Hồ Chí Minh mà sau này được thế giới coi như là đại diện của chủ nghĩa quốc gia Việt Nam thực chất chỉ là nhân vật còn sót lại sau khi đám lâu la của hắn đã ám sát hết những ai có thể là mối đe dọa cho vai trò lãnh tụ của hắn ở phía Bắc. Tại miền Bắc, nhất là sau chiến tranh, các phong trào quốc gia không theo Cộng sản hoặc là bị thanh trừng một cách tàn bạo bởi tay sai của Hồ Chí Minh, hoặc phải hợp tác với người Pháp và bị mang tiếng tiếp tay cho ngoại xâm. Cộng sản chẳng khó khăn gì tuyên truyền khép tội những người chống đối bọn chúng là họ đánh mất chính nghĩa và không thật lòng yêu nước. Chúng cho rằng những người này chỉ là công cụ và bị Pháp giật dây, mà trong một vài trường hợp điều đó lại đúng. Những lời kết tội này cũng được áp dụng đối với người Mỹ và những người nhận sự giúp đỡ của Mỹ từ 1954 trở đi.
Người Pháp ít đầu tư vào việc đào tạo và nâng cao vai trò lãnh đạo về chính trị và quân sự của người dân Việt Nam thành thử vai trò chỉ huy có vẻ đi theo thuyết Darwin tức luật sống còn của sự tàn nhẫn, xảo quyệt và tham nhũng trong cả miền Bắc lẫn miền Nam.
Các phong trào quốc gia khắp lục địa Á Châu có vẻ được kích thích từ sau chiến thắng của nước Nhật đối với người Nga vào năm 1905. Không có nơi nào mà dân bản xứ lại nóng lòng giành độc lập mạnh hơn là Đông Dương. Tuy nhiên ngoại trừ mục đích chung là đánh đuổi người Âu Châu, ít khi có vấn đề nào khác mà các nhóm quốc gia khác nhau lại có thể đồng thuận với nhau. Trong khi người Kinh chiếm khoảng 80% dân số các vùng miền Bắc, Trung và Nam Bộ thì có vào khoảng 50 nhóm thiểu số khác được phân bổ suốt dải địa dư dài và hẹp của cái quốc gia phôi thai đó. Những người gốc Hoa là nhóm thiểu số lớn nhất. Bao gồm gần 2% dân số, sự tập trung của họ ở những khu vực đô thị và sự thống trị của họ trong ngành buôn bán đã tạo cho họ một sự ảnh hưởng vượt mức tương xứng với dân số. Những người Thượng, H’mông, Nùng, và những sắc tộc thiểu số khác thường thấy nhiều hơn ở những vùng biên giới và núi đồi xa xôi.
Tinh thần quốc gia lên cao nhất tại Việt Nam vào cuối những năm 1920. Giới công nhân Việt Nam từ những người thợ trong kỹ nghệ may mặc đến những người phu xích lô đã tổ chức được các cuộc đình công lớn với một vài thành công nhất định. Thanh niên Cách mạng Ðồng Chí Hội, với khuynh hướng thiên cộng rõ rệt, đã được thành lập bởi Hồ Chí Minh tại miền Nam Trung Quốc vào năm 1925. Tháng Mười Hai năm 1927 Việt Nam Quốc Dân Đảng (VNQDĐ) được thành lập. Các thành viên bao gồm hầu hết là những sinh viên, công chức cấp thấp, các binh lính, nông dân, và thậm chí có một số điền chủ cũng tham gia [1]. VNQDĐ được phỏng theo mô hình Quốc Dân Đảng của Trung Hoa, và bị Cộng sản cho là một đối thủ trực tiếp nhất. Vào tháng Sáu năm 1929 Đảng Cộng Sản Đông Dương (ĐCSĐD) chính thức ra đời. Cùng với Hồ Chí Minh, những người khác hiện diện ở ngày khởi đầu của đảng bao gồm Lê Duẩn và Phạm Văn Đồng, là những người vốn sẽ đảm nhận những vai trò quan trọng trong các vấn đề của Ðảng Cộng Sản trong cuộc đấu tranh sắp tới bên cạnh người đàn ông một thời được biết đến như là Nguyễn Ái Quốc hoặc “Nguyễn Patriot.” (Hồ Chí Minh từ lúc đầu được người ta biết đến bằng nhiều tên họ khác nhau).
ĐCSĐD xuất hiện ngay khi cuộc Đại Khủng Hoảng tàn phá khắp toàn cầu. Tại vùng Đông Dương thuộc Pháp sự suy thoái kinh tế toàn thế giới làm gạo và cao su bị mất giá, cũng như ngành xuất cảng bị suy giảm, làm cho biết bao nhiêu người bị mất công ăn việc làm, mất nguồn thu nhập hoặc phương tiện để nuôi sống gia đình. Chủ nghĩa Cộng sản vì vậy trở nên hấp dẫn và đà ảnh hưởng tăng nhanh đối với những người bị mất định hướng đó.
Các hoạt động chính trị này đã gây được sự chú ý của giới cầm quyền người Pháp, họ đã đầu tư rất nhiều các phương tiện về cảnh sát và quân đội nhằm đàn áp các nhóm quốc gia mới nổi lên. Ảnh hưởng của ĐCSĐD mạnh nhất tại miền Bắc. Trong khi đó tại miền Nam thì sự phát triển kém hơn vì có các nhóm khác chia sẻ ảnh hưởng của họ. Với tinh thần chống Pháp và đòi độc lập không kém gì đảng Cộng sản, Hòa Hảo và Cao Đài đã thu hút được một tỷ lệ lớn những người yêu nước muốn dấn thân (*)
Khi Đức Quốc xã và Liên Sô ký kết thỏa hiệp bất tương xâm vào tháng 8 năm 1936, nước Pháp ban hành đạo luật đặt đảng Cộng sản và tất cả các đảng phái chính trị khác tại Đông Dương ra ngoài vòng pháp luật. Hành động này buộc ĐCSĐD phải rút hoạt động về vùng nông thôn và về lâu về dài đã củng cố được lực lượng, đặc biệt là tại miền Bắc [2].
Trong số những khó khăn mà các lực lượng quốc gia còn non yếu ở Ðông Dương đang phải đối đầu thì địa dư là một trong những trở ngại ác độc nhất. Từ mỏm cực Bắc của miền Bắc giáp ranh giới nước Tầu cho đến điểm cực Nam của miền Nam Bộ trải dài gần một ngàn mốt dặm, các địa hình thay đổi khác nhau và phân vùng tách biệt nhau. Hà Nội và Sài Gòn là hai thành phố lớn nhất vùng Đông Dương nhưng lại cách nhau đến 750 dặm và chỉ được nối với nhau bằng một đường xe lửa tí hon và quốc lộ 1 với nhiều đoạn chỉ là đường mòn gấp đôi đường xe bò mà thôi. Khoảng cách từ Hà Nội đến Sài Gòn giống như khoảng cách giữa các thành phố Denver và St. Louis, Chicago và Charleston, Omaha và Tuscaloosa, Boston và Grand Rapids, Seattle và Santa Cruz, New York và Nashville, Des Moines và Atlanta, hoặc Minneapolis và Little Rock, nhưng cho đến cuối cuộc chiến, vẫn giống như hai thế giới cách biệt nhau. Sự phân cách về địa dư đã tạo cho Cộng sản có cơ hội củng cố lực lượng tại địa phương và trên một bình diện nhỏ hơn đối với các nhóm người quốc gia trong miền Nam cũng vậy.
Những sự xáo trộn bởi sự triệt thoái của quân đội Nhật và khả năng tương đối yếu kém của các lực lượng thuộc địa Pháp đã làm cho Hồ Chí Minh và Việt Minh tin rằng họ đã có một cơ hội bằng vàng để hành động. Ngày 28 tháng 8 năm 1945 họ tuyên bố thành lập Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Hồ Chí Minh được cử làm chủ tịch thứ nhất. Nhằm mở rộng lời kêu gọi, Cộng sản cũng mời Cựu hoàng Bảo Đại tham gia vào chính phủ lâm thời. Những sự kiện tiếp theo đó là hàng loạt các tác động và phản tác động của người Pháp và Việt Minh cuối cùng đã dẫn đến một cuộc chiến tranh mở rộng.
Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đại Việt Quốc Dân Đảng, vốn tách ra từ VNQDĐ, đều nóng lòng thiết lập một thể chế Cộng hòa nhưng đều không chấp nhận chủ nghĩa Cộng sản. Mặc dù đã từng liên minh, tuy lỏng lẻo với Việt Minh để chống lại sự cai trị của ngoại bang tại Việt Nam nhưng vào đầu năm 1946 các đảng viên cao cấp cùng với gia đình họ đã bị phe Cộng sản thanh trừng một cách có hệ thống bằng một loạt các hành vi nhằm loại trừ mối nguy hiểm cho sự cai trị của Hồ Chí Minh ở miền Bắc. Trong khi đó thì họ vẫn phải tiếp tục cuộc đấu tranh chống Pháp.
Xáo trộn về chính trị là một điều tất nhiên do khoảng trống quyền lực quân đội Nhật đã để lại sau khi họ đầu hàng và rút đi. Liền theo đó là sự trở lại của các lực lượng người Pháp với toan tính tái lập lại quyền thuộc địa. Trước sự kiện có các xung đột nội bộ giữa các phe phái quốc gia với nhau thì Việt Minh tỏ ra mạnh hơn ở miền Bắc, tuy có kém hơn ở miền Nam. Người Pháp không hề có ý định chịu thua Hồ Chí Minh. Những cuộc thương thuyết của hai bên đã tỏ ra vô ích. Trong khi đó thì các cuộc đụng độ giữa các đơn vị quân sự đôi bên tăng dần lên. Đến tháng 11 năm 1946 thì mọi cố gắng để đoạt một thỏa thuận về chính trị bị đổ vỡ. Cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất như chúng ta biết đến bắt đầu. Mọi sự trở nên rắc rối hơn khi Việt Minh tổ chức ám sát đức thầy Huỳnh Phú Sổ, thủ lãnh của phe Hòa Hảo ở miền Nam. Tiếp theo cái chết của ông thì cả hai phái Hòa Hảo và Cao Đài đều hợp tác với người Pháp.
Theo truyền thống văn hóa của nước Việt Nam, Lê Bá Sách để tang vợ, đồng thời là mẹ của bốn đứa con trong vòng ba năm. Vì còn trẻ nên ông tái giá vào năm 1949. Bình, đứa em trai và hai em gái của ông trong những năm sau đó đã có thêm bẩy người em tiếp theo cuộc hôn nhân lần thứ hai của cha mình. Vì là một gia đình có nề nếp nên tất cả đều hòa thuận với ngưòi mẹ kế.
Đối với hầu hết các nền văn hóa Á Châu, ảnh hưởng của Khổng giáo rất mạnh mẽ. Lòng sùng bái đối với các bậc trưởng thượng, đối với gia đình và giáo dục đặc biệt quan trọng. Con trai được coi trọng hơn con gái và đứa con trai đầu lòng luôn luôn đứng hạng nhất trong mọi gia đình. Với tư cách là anh cả, nhiệm vụ duy nhất của Bình lúc còn là một đứa bé là đi học. Do đó từ lúc còn rất nhỏ Bình đã đảm nhận nhiệm vụ mình và học hành chăm chỉ.
Nhà của gia đình Bình thuộc xóm Tân Định, một khu vực được coi tương đương như là “phố chính” của Sài Gòn mà họ có thể tậu được. Khá gần trung tâm thành phố, chỉ cách sông Sài Gòn vào khoảng vài con đường, đó là một nơi chốn ấm cúng, an toàn cho ông Lê Bá Sách tạo mái ấm cho bà vợ mới cưới và nuôi nấng 11 người con của họ.
Căn nhà của ông Lê Bá Sách khá điển hình theo tiêu chuẩn người Việt Nam. Vào thời gian đó có thể gọi họ thuộc thành phần cao của giai cấp trung lưu. Ở tầng trệt ngó ra một cái hẻm hẹp, xe đạp của cả nhà được dựng ngay bên ngoài, chừa đường đi và nằm trong khuôn viên căn nhà. Giày dép luôn luôn để phía ngoài cửa cái rộng và xếp hàng ngay ngắn. Khu vực mà khách khứa hay bạn bè đến chơi và gian bếp chiếm gần hết cái tầng trệt này. Cả nhà ngủ trên tầng hai và ba, tuy nhiên họ cũng giữ một cái bàn thờ truyền thống phía ngoài trên tầng hai, một loại bàn thờ rất thông dụng trong các gia đình Việt Nam dù giàu hay nghèo. Nhang đèn được thắp thường trực và các di ảnh được sắp xếp tùy theo mức độ quan trọng của những người đã quá cố.
Các con hẻm hẹp dẫn ngược từ lộ chính vào được chia ra nhiều ngõ ngách khác khá tối tăm nhưng mở ra vùng trời bên trên. Khoảng đất trống chỉ được chiếu sáng khi mặt trời lên đỉnh đầu lại là khu vực vui chơi chính cho hàng chục đứa trẻ con từ hơn hai chục căn nhà cùng chung con hẻm này. Lối vào duy nhất có một cái cổng hẹp khá chắc chắn, tuy ít khi nào được đóng lại nhưng có thể khóa lại nếu cần. Bình và đồng bọn thường có nhiệm vụ canh gác nó để chống lại các băng đảng bên ngoài xâm nhập vào trong những lần chơi đánh lẫn nhau. Chúng không dè rằng chính những cái cổng này, rất thông dụng trong khắp các phố ở mọi nơi trong thành phố lại có một tầm mức chiến thuật quan trọng trong cuộc phòng thủ thực sự để chống lại sự xâm nhập của Việt Cộng trong cuộc công kích Tết Mậu Thân năm 1968.
Bàn tay vô hình của kinh tế tự do rất rõ ràng tại các đường phố Tân Định cũng giống như ở Denver, Detroit, Paris hay Amsterdam vậy. Cũng được thể hiện một cách quyết liệt và có hiệu quả. Những người bán hàng rong đủ loại đứng rao bán quần áo, nồi niêu xoong chảo, các loại thức ăn và đồ gia vị, gạo bún, trái cây và rau quả trồng tại chỗ, đủ các loại cá bắt gần đó, cũng như thịt lợn và thịt gà xẻ tại chỗ trong xóm. Nếu có một chiếc xe đạp hay đồ đạc máy móc nhỏ cần sửa chữa thì có sẵn thợ hàn thợ tiện chữa ngay trên vỉa hè. Nếu có vài đồng trong túi, một đứa bé không bao giờ chịu đứng xa nơi bán nước giải khát hay gánh hàng rong. Những người bán hàng rong trái cây liên tục rảo bước trên các con đường, đẩy những chiếc xe ba gác chứa đầy xoài mới hái, đu đủ, sầu riêng và mít tươi. Nếu khát nước thì đã có sẵn những người bán nước dừa tươi mát lạnh có thể uống thẳng từ những trái dừa đã gọt vỏ bằng những cái ống hút nhỏ. Trẻ con và cả người lớn dễ tính có thể thưởng thức những ly nước mía được ép từ những thân cây mía nhỏ gọt sạch chạy qua những cái máy ép trên lề đường. Những cái máy này này cô đọng được mùi vị thơm ngọt tự nhiên của mía, nhưng cũng làm cho bệnh sâu răng rắc rối thêm.
Công việc buôn bán quay nhanh theo tốc độ đạp mạnh mẽ của những người đàn ông gân guốc, lực lưỡng già cũng như trẻ. Họ có thể chuyên chở và lèo lái những khối nặng kinh hồn cùng những đồ vật đủ loại hình dáng mà bằng cách nào đó họ đã xếp lên được những chiếc xe đạp hay chồng chất trên xe xích lô. Mặc dù không mấy ai thật sự cao lớn khỏe mạnh nhưng đối với tất cả những người tháo vát và chịu khó làm lụng thì luôn luôn vẫn có cái mà ăn. Các con đường chạy ngang khu Tân Định sống động sinh hoạt buôn bán suốt ngày. Ngay cả về đêm, thành phố cũng không bao giờ ngủ mà sinh hoạt dường như chỉ chùng xuống mà thôi.
Bọn trẻ không màng đến các vấn đề chính trị với tất cả những gì đang xảy ra trên khắp nước Việt Nam và tại Sài Gòn mà chỉ chú tâm vào việc học hành và nô đùa với chúng bạn cùng xóm. Người thân thiết nhất với Bình là đứa em tên An, kém hai tuổi. An và Bình kết bè với những đứa khác trong xóm thành một trong hai nhóm băng đảng. Với lứa tuổi đó và trong thời kỳ ấy thì mục đích của bọn chúng chỉ là vui chơi, tranh đua về thể thao và chơi những trò trận chiến giả. Nếu có lỡ làm đổ máu thì chỉ là vô tình hay hăng máu quá mức mà thôi. Sự thiếu thốn về vật chất hay không có sẵn những loại đồ chơi được sản xuất trong nhà máy không hề làm giảm bớt tính sáng tạo của trẻ con vùng Tân Định.
Bình, An và lũ trẻ Tân Định suốt ngày đá banh trong các ngõ hẻm và trên những bãi trống dọc theo bờ sông bằng những trái banh cao su được sản xuất trong xóm. Giống như những đứa trẻ khắp nơi trên thế giới, trẻ con Việt Nam cũng chơi bắn bi không chán nhưng điểm khác biệt là viên bi được giữ bằng ngón tay giữa và kéo ngược lại bằng tay kia để tạo ra sức bật.
Đầy sáng kiến hơn nữa, bọn trẻ Tân Định đi thu nhặt những bao thuốc lá bỏ đi làm bằng giấy cạc tông mỏng nhưng khá cứng. Chồng những cái bao thuốc lá này lên nhau, chúng đứng lui ra sau và cố gắng tạt bằng cục đá hay hòn sỏi. Tương tự như những viên bi, các bao giấy nhỏ này trở thành những tài sản và sở hữu riêng của những tay xạ thủ lỗi lạc, cũng là một cách để đánh giá mức sắc bén về thể chất và sự khéo tay. Đối với hầu hết bọn trẻ trong nhóm thì bản năng chơi những trò chơi về chiến tranh là điều đương nhiên. Cậu bé Bình và băng nhóm suốt ngày đi rảo trong xóm mang theo súng giả đẽo từ những khúc gỗ có thể bắn ra những sợi giây thun với độ chính xác khá cao.
Thú vui nghe nhạc thu thanh và radio thì nằm ngoài tầm tay của hầu hết người dân Ðông Dương vào khoảng thời gian cuối thập niên 1940 và đầu 1950. Vì vậy nhà của cái gia đình giàu nhất vùng Tân Định mà ông chủ là một người làm công cho chính phủ Pháp được cả xóm chiếu cố bu lại mỗi khi cái máy nhạc Victorola được lên dây cót hoặc cái radio được vặn lên. Mặc dù âm nhạc là một điều gì mới mẻ được du nhập từ Pháp hay Mỹ, và bản nhạc có thể chỉ là một bản nhạc xưa, dân ca, hay tình ca khá đặc thù đối với người dân ba miền Bắc Trung hay Nam, nhưng những người lớn tuổi lúc nào cũng say sưa mỗi lần nghe tiếng cót két nổi lên từ cái đĩa xoay màu đen hay cái hộp gỗ sơn bóng.
Đối với người dân không có ngày lễ nào của Việt Nam có thể sánh nổi về mức độ trang nghiêm, ý nghĩa, lòng háo hức và phấn khởi bằng ngày Tết, ngay cả đối với những người không theo đạo Phật. Tết Nguyên Đán – Năm mới âm lịch – bắt đầu từ ngày đầu của tháng Giêng âm lịch và là mùa đầu tiên trong năm. Thường trùng vào khoảng cuối tháng Giêng hay đầu tháng Hai dương lịch, Tết Nguyên Đán vừa mang vẻ thế tục vừa có tính cách thiêng liêng. Ngày lễ quá lớn thành thử tất cả mọi người Việt Nam đều vui hưởng. Tết là một dịp để gia đình, bạn bè thăm viếng nhau, để thờ phụng những người quá cố và là một thời gian để ôn cố truy tân. Đặc biệt đối với trẻ con đó là một thời điểm thật thú vị được đánh dấu bằng những cuộc vui chơi, được lì xì và mặc quần áo mới, được đốt pháo còn đồ ăn ngon lại được dọn ra ăn thả dàn.
Bình rất thích những món ngon trong ngày Tết. Mẹ cậu và các phụ nữ khác thường nấu các món ăn từ nhiều ngày trước và luôn miệng suỵt đuổi những đám trẻ hau háu bu quanh như ruồi chờ một miếng chỗ này, một hớp chỗ kia, lúc nào cũng nôn nao để được ăn thử một cái gì đó mà người lớn có thể ban cho. Ngoài bánh kẹo ra, Bình rất thích bánh chưng – những chiếc bánh hình vuông làm bằng gạo nếp, thịt heo và đậu xanh gói trong những cái lá giong rồi bỏ vào nồi nấu. Bình cũng thích bánh tét – một loại bánh làm bằng gạo nếp gói hình tròn có vẻ giống bánh kẹp xốp hơn. Cho đến khi trưởng thành, đối với Bình, Tết vẫn luôn luôn là một thời điểm với nhiều điều mừng vui nhất.
Vào khoảng thời gian giữa các năm 1946 và 1952, ông Lê Bá Sách đã đưa gia đình năm sáu lần về quê miền Bắc để thăm mẹ và các ông cậu cùng cách cháu còn ở lại Hà Đông. Từ lâu trước 1952 điều hiển nhiên là Cộng sản đã trở thành một lực lượng đáng kể. Đối với ông Sách, sự nhận thức ra rằng Cộng sản đã thống trị miền Bắc là một viên thuốc đắng khó nuốt trôi. Ông đau đớn thấy được là cuộc chiến giữa Việt Minh và người Pháp sẽ làm cho gia đình ông phải trả một cái giá rất đắt.
Ngay trước khi lực lượng Pháp trở lại Việt Nam sau Thế Chiến Thứ Hai, bà nội Bình, một điền chủ nhỏ vùng Hà Đông, đã cảm thấy sự đe dọa trắng trợn và áp lực ngày càng nặng nề của bọn cán bộ Cộng sản và lời lẽ tuyên truyền xảo quyệt của họ. Vài năm sau khi bọn tay sai của Hồ Chí Minh tịch thu đất đai của bà để giao cho “Cách mạng và nhân dân” vào năm 1956, chúng lại còn tỏ vẻ nhân đạo và khoan hồng đối với bà. Vì thuộc thành phần tư sản ác ôn, điền chủ hút máu đáng lẽ gia đình bà đã bị giết hết, bằng một phát súng vào sau gáy, hoặc bị trói gô lại, đeo đá và thả từ từ xuống đáy ao hồ hay sông sâu rồi. Thay vào đó, bọn chúng bắt bà phải chịu nỗi ô nhục sống sót trong một phần nhỏ cái tài sản cũ của bà – nay đã thuộc về “Cách mạng” – chỉ còn là cái chuồng heo hay chuồng gà trước kia.
=============
* Hòa Hảo là một giáo phái Phật giáo được cải đổi theo cách riêng của người Việt Nam được thành lập ở miền Nam Việt Nam bởi đức thầy Huỳnh Phú Sổ vào năm 1939. Người Pháp quan niệm giáo phái Hòa Hảo là một mối đe dọa chính trị, tuy nhiên họ chống cộng một cách mãnh liệt, đặc biệt là sau khi đức thầy Huỳnh Phú Sổ bị Việt Minh ám sát chết vào năm 1947.
Cao Đài được thành lập vào thập niên 1920 và giống như Phật giáo Hòa Hảo, cũng là một giáo phái riêng biệt của người Việt Nam. Phát sinh ở miền Nam Việt Nam, Cao Đài là một sự pha trộn giáo lý của Thiên Chúa giáo, Hồi giáo, Đạo giáo, Phật giáo, Khổng giáo, và Ấn Độ giáo. Những người muốn theo đạo được kỳ vọng là họ sẽ từ bỏ vật chất nhằm bồi dưỡng sự phát triển tâm linh. Do mang tính chất tôn giáo nên các tín đồ Cao Đài giống như Hòa Hảo, cũng chống Cộng sản theo truyền thống. Cao Đài dùng những nhân vật đồng cốt và những người thông công tâm linh để dùng trong những buổi Cơ Bút. Những vị thánh quan trọng của Cao Đài bao gồm Trạng Trình, Tôn Dật Tiên, Jeanne d’Arc, René Descartes, William Shakespeare, Victor Hugo và Louis Pasteur.

Xe lửa ở quê tôi
-Ngày xưa ông bà mình đi Nha Trang bằng xe gì hả mẹ?
– Đi bộ. Ông ngoại con đi ra Bình Định học cũng đi bộ. Khi qua đèo Cả, sợ cọp, phải chờ những người buôn trâu dẫn trâu qua đèo, ông đi theo. Đến thời của mẹ, muốn đi Nha Trang mẹ được đi xe ngựa. Phải mất một ngày mới đến được Nha Trang”
Như vậy, tôi đã hưởng được một nền vận tải văn minh khi tôi được đi Nha Trang bằng xe lửa.
Khác với bến xe ngựa hôi hám, bến xe đò chật hẹp, ồn ào, ga xe lửa là nơi sang trọng có cảnh quan đẹp nhất ở quê tôi.
Tôi không biết Ga xe lửa Ninh Hòa được khánh thành từ năm nào, chỉ biết các ga và tuyến đường rầy đều do người Pháp xây.
Thuở ấy xe lửa chạy bằng đầu máy hơi nước. Sợ hãi nhưng thích thú nhìn đoàn tàu tới gần với đầu máy nặng nề tỏa khói đen sì là một cảm giác khó quên của bọn trẻ nhà quê chúng tôi thời đó. Tiếng bánh xe nghiến ầm ĩ trên đường rầy, tiếng còi tàu lanh lảnh cũng thật kỳ vĩ.
Ga Ninh Hòa là một trong những nhà ga hiếm hoi còn nguyên vẹn sau chiến tranh và có cảnh quan vô cùng ấn tượng.
Ga có vị trí thoáng mát với bốn bề núi non, ruộng đồng xanh ngát. Đứng trên sân ga chúng ta có thể nhìn thấy một kiến trúc uy nghi và có dáng dấp của một ngôi nhà kiểu đền đài Hy Lạp, thực ra nó là đề pô, nơi sửa chữa đầu máy. Cái bồn nước trên cao để tiếp nước vào nồi súp de cũng thật lạ mắt và còn cả một cái lô cốt chắc là nơi ngày trước quân đội Pháp canh gác cho an ninh của ga…
Chiếc cầu dành riêng cho xe lửa bắt qua sông Dinh cũng rất quen thuộc với người dân Ninh Hòa mặc dù hình ảnh con tàu ầm ầm vượt qua cây cầu bằng sắt thật tương phản với phong cảnh êm đềm hai bên bờ sông.
Nói đến chuyện đi xe lửa, thú vị nhất là được chui qua hầm.
Tối thui, ngộp thở, kinh hoàng vì tiếng bánh xe nghiến trên đường rầy bất ngờ nghe như tiếng núi lở, nhưng cũng thật ngây ngất.
Rồi bóng tối nhạt dần báo hiệu… hết hầm. Không khí mát rượi tha hồ tràn đầy buồng phổi, ánh sáng chói chang làm lóa mắt và dù mặt mũi có thể dính đầy bụi than bọn trẻ con vẫn chờ đợi nhất được hưởng giây phút xe lửa chui qua hầm.
.Thập niên 50, cuộc sống không nhiều biến động và người nông dân ít có lý do di chuyển. Ga xe lửa luôn vắng vẻ với năm ba người khách mỗi lần tàu vào ga.
Cuối tuần, tàu nhiều khách hơn nhưng những vị khách ấy cũng chỉ là đám học trò đi học ở Nha Trang về thăm nhà và hầu hết là khách đi cọp!
Dầu sao truyền thống của một ngành hỏa xa văn minh cũng còn lưu dấu trên bộ đồng phục của sếp ga, của nhân viên soát vé, của người gác ghi với lá cờ hoặc chiếc đèn có mặt kính nhiều màu mà ông ta cầm lắc lư báo hiệu cho tàu ra vào ga trong đêm tối.
Từ năm 1964 hệ thống hỏa xa miền Nam ngưng hoạt động. Đường rầy ở nhiều nơi bị phá dỡ, xe lửa bị đặt mìn. Từ Nha Trang muốn đi Saigon phải đi bằng máy bay vì không ai dám đi xe đò qua Rừng Lá. Từ Tuy Hòa vào Nha Trang chỉ có thể đi bằng ghe bầu.
Sau năm 1975 ngành hỏa xa được tái thiết và được gọi là Đường Sắt Việt Nam.
Không còn dáng vẻ văn minh năm nào, Đường Sắt Việt Nam đã trở thành một phương tiện giao thông xô bồ chưa bao giờ có và sẽ không bao giờ lặp lại.
Xe lửa đã trở thành phương tiện để người ta bấu víu vào kiếm sống.
Những năm ấy, những chiếc xe đò cũ kỹ lại càng thêm kỳ dị khi phải gắn một thiết bị phía sau để chạy bằng than. Giá tiền đi xe đò lại đắt nên người ta ùn ùn rủ nhau đi buôn bằng xe lửa.
Đường sắt trở nên quá tải và chen được một chân lên xe lửa là một kỳ công.
Đường cát trắng hồi đó biến mất và người dân quê tôi theo xe lửa ra tận La Hai để buôn loại đường vàng làm từ mật mía, cô lại thành bánh. Người đi củi cũng biến gon xe lửa thành xe chở củi. Xe lửa không dừng lâu nên người ta cứ quăng bừa các thân củi vào cửa sổ toa xe… Rồi hàng chục bao gạo, bao bắp, bao khoai mì tiếp tục được nhồi nhét, rồi cá khô, mắm muối, đậu mè từng bao tới tấp quăng lên mặc cho những tiếng chửi rủa náo động cả toa tàu. Khi tàu chuyển bánh, hàng chục người vẫn thản nhiên chạy nhảy…
trên mui xe để di chuyển từ toa này sang toa khác. Đã có mấy em bé bán nước trà đá đã rơi xuống đường rầy khi tàu chuyển bánh. Và không ít dân nghèo đã mất mạng vì không tiền mua vé phải nhảy tàu khi tàu đã tăng tốc.
Nhớ lại những ngày khốn khổ ấy mà thương cho người dân của thời hòa bình thống nhất.
Ngày nay ga Ninh Hòa không còn hỗn loạn như thế nữa. Sân ga, nhà ga được tu sửa sạch sẽ hơn và đầu máy hơi nước đã được thay bằng dầu máy diesel.
Tuy nhiên khách nước ngoài đến Việt Nam rất ngạc nhiên vì hàng trăm năm rồi sao Việt Nam vẫn còn sử dụng đường ray có chiều ngang 1 mét.
Riêng tôi, tôi rất sợ một ngày nào những đường tàu cũ kỹ ấy biến mất.
Và tôi sẽ không còn được bồi hồi ngắm nhìn những đường tàu trăm năm chạy song song rồi giao nhau ở đầu sân ga như lời nhắc nhở cho con tàu rằng bạn đã về tới bến.
Huyền Chiêu
(- Ninh Hòa – Tháng 9-2014)
SỐNG CẢM ƠN ĐỜI TRONG TỪNG KHOẢNH KHẮC
Đời đẹp mong manh! Quá vô thường!
Trái tim ta hỡi! Đập nhịp yêu thương!
Cảm ơn đất trời trong từng khoảnh khắc
Ta hiện hữu giữa lòng bàn tay âm dương!
Nầy gió nầy hoa nầy trăng sao
Và em yêu và cát bụi chiêm bao!
Cảm ơn đời một thoáng vui xanh vĩnh cửu
Giây phút hiện tiền quý giá biết bao!
Hãy vui sống khi ta còn có thể
Hít thở nói cười trên mặt đất cỏ rêu
Dẫu khổ đau có khiến ta nhỏ lệ
Cảm ơn đời vì cuộc sống thật đáng yêu!
Ôi phép lạ thuở trần gian lấp lánh
Nhu giọt sương mai,ánh trăng giải nhiệm màu!
Trong cát bụi có điềm linh thánh
Cảm ơn người ta-sống-với-trong-nhau!
Cuộc sống diệu kỳ! Ta mến thương!
Vô biên xanh khoảnh khắc vô thường!
Cảm ơn vạn hữu hàng hàng thế giới
Hạnh Phúc vô ngần reo trong máu xương!
TRẦN THOẠI NGUYÊN
ĐỘC TÚY HÀNH
Ta say hề đêm nay ta xỉn
Ngất ngưởng đi về giữa khói sương
Gõ nhịp ta ngâm bài Tống biệt
Vỗ chai ta hát khúc Hồ trường
Ba ngàn thế giới trong cốc rượu
Bao dung ta uống trọn vui buồn
Ta say hề đêm nay ta xỉn
Chân thấp chân cao lạc phố phường
Ai có tài đàn như Tư Mã
Còn ai thổi sáo tựa Trương Lương ?
Hãy đàn ta hát lời man dại
Hãy thổi ta ngâm giọng dị thường
Một kiếp làm người đầy khổ lụy
Mượn đôi cánh rượu đến thiên đường
Ta say hề đêm nay ta xỉn
Đành mượn cỏ cây thế chiếu giường
Ngạo nghễ gối đầu lên đỉnh Ngự
Ngang tàng xuôi cẳng dọc sông Hương
Êm như cơn gió không còn nhớ
Nhẹ tựa làn mây chẳng biết buồn
Ta say hề bây giờ ta ngủ
Chiêm bao ta múa điệu Nghê thường
Nguyễn Văn Phương
NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, “Ngày đau buồn nhất”
JOHN H. TAYLOR
(Phụ tá của Tổng Thống Nixon)
“Ngày đau buồn nhất”
Vào lúc Saigon sụp đổ, Tổng thống Nixon đang sống tại San Clemente. Ông có nói với tôi và nhiều người khác rằng ngày Saigon sụp đổ là ngày đau buồn nhất đời ông – Sau ngày ông từ nhiệm chức vụ Tổng thống. Như ông đã vạch ra trong cuốn No More Vietnams “Không còn những Việt Nam nữa”, là cuộc chiến này thất bại không phải vì các chiến sĩ của chúng ta. Lý do chính là vì Quốc hội đã từ chối không cung cấp quân viện cho đồng minh Nam Việt Nam của chúng ta theo thoả ước Ba Lê năm 1973 đã ấn định cho phép cung cấp số quân viện ấy ngang với số quân viện mà Liên Xô cung cấp cho miền Bắc. Ngay lúc ấy, ông tiên đoán quyền lợi Hoa Kỳ trên thế giới sẽ còn bị thiệt hại hơn là thiệt hại của dân tộc Đông Nam Á. Lời tiên đoán của ông, chẳng may đã được chứng minh đúng vào thời khoảng từ 1975 đến 1980, khi hơn 100 triệu người đã bị thất bại với Cộng sản, hay bởi Tây phương, vì nỗi lo sợ “một trường hợp Việt Nam khác” của Quốc hội, của giới truyền thông, của chính quyền Carter và chính quyền Ford.
Nỗi đau buồn của ông về sự sụp đổ Saigon càng sâu đậm hơn, vì lẽ một trại chuyển tiếp chính của tỵ nạn Việt Nam được thiết lập ở Camp Pendleton, nơi rất gần nhà ông tại San Clemente. Ông thường lái xe đi ngang qua trại tỵ nạn này, và ông đã diễn tả với tôi một cách sinh động mỗi khi nhìn thấy trẻ con chơi đùa, khi thấy những người đàn bà đem quần áo ra phơi ở khu vực tạm trú của họ.
CƯỠI NGỌN SẤM (1)
Richard Botkin
(Bản dịch của Lý Văn Quý & Nguyễn Hiền)
Lời Tựa
Cuốn sách“Cưỡi Ngọn Sấm” đã lột tả được tinh thần và lòng quyết tâm của một nhóm “huynh đệ chi binh” khác thường – một toán nhỏ cố vấn Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ và các chiến binh TQLC VNCH bạn trong một tình hình đặc biệt khó khăn của cuộc chiến Việt Nam.
Richard Botkin đã ghi chép lại những chiến công của các TQLC Hoa Kỳ và bạn đồng minh VNCH đã lãnh trách nhiệm chính trong công cuộc đẩy lui cuộc xâm lược của Bắc quân tại địa đầu miền Nam Việt Nam, được biết đến như là cuộc Tổng tấn công mùa Phục Sinh (mùa hè đỏ lửa) 1972 đối với người Tây phương, một cuộc tấn công nhằm đánh gục một quốc gia.
Mặc dù tất cả những ai hiện diện tại nơi đó không ít thì nhiều đều có dính dáng đến những trận đánh khốc liệt trong những chuyến công vụ trước và những hành vi anh hùng và chỉ huy dũng cảm xảy ra khắp nơi, nhưng Botkin đã chú trọng vào ba nhân vật chính.
Trung tá Gerry Turley, người đã hiện diện trong vùng hai ngày trước cuộc tấn công để tiến hành một cuộc viếng thăm tưởng chừng như thường lệ trong một thời kỳ yên lắng. Hoàn cảnh và một loạt các yếu tố bất thường đã đưa đẩy ông lên một vai trò chỉ huy đặc biệt trong đời. Ông đã phải đối mặt với toan tính hủy diệt của bọn Bắc quân ngoan cố cũng như các trở ngại của bộ máy quan liêu của quân đội Hoa Kỳ và VNCH đã không đánh giá đúng sự suy xét của ông lúc ban đầu.
Ngoại trừ đối với những người đã quen thuộc với những câu chuyện về hành động của Đại úy Ripley tại cây cầu Đông Hà, rất khó mà không xác nhận cao tác động chiến lược của sự phá hủy cây cầu đó đối với những trận đánh còn lại tại Việt Nam sau buổi chiều Chủ nhật mùa Phục Sinh năm ấy.
Botkin làm nổi bật cho độc giả thấy mối liên quan đặc biệt giữa các cố vấn TQLC Hoa Kỳ đối với các TQLC Việt Nam mà họ đã phục vụ. Mối dây chân tình huynh đệ và tình bạn chân thành giữa Đại úy Ripley và Thiếu tá Lê Bá Bình, lúc đó đang chỉ huy bẩy trăm binh lính thuộc Tiểu đoàn 3 TQLC, đối diện với hơn hai chục ngàn quân Bắc Việt lăm le tiêu diệt họ tại Đông Hà, đã thăng hoa vượt lên trên cả ngôn ngữ và văn hóa khác biệt. Câu chuyện của hai người chiến binh vĩ đại cùng phục vụ cho một mục đích chung thật là hiển nhiên. Nếu đã có thêm nhiều người như Lê Bá Bình thì chắc chắn kết quả của cuộc chiến đã khác hẳn.
Khác với hầu hết các cuốn sách về thể loại này, Botkin đã theo dõi thật chi tiết cuộc sống gia đình của từng chiến binh và kể lại chiến sự qua trải nghiệm cá nhân của họ. Trong lúc nghiên cứu về lịch sử của chiến tranh người ta rất thường chỉ tập trung vào người lính chiến, do đó chỉ diễn tả nổi một nửa câu chuyện mà thôi.
Với tư cách một người đã từng tham dự những trận giao tranh tại đó, đã chứng kiến nhiều cuộc thử thách được ghi chép lại trong khoảng thời kỳ đặc biệt dữ dội lúc đó, tôi vẫn không mường tượng nổi những gì xảy ra cho bạn bè của chúng tôi sau khi phần tham chiến của người Mỹ đã kết thúc. Đối với các sĩ quan TQLC Việt Nam và gia đình họ, cơn ác mộng dường như bất tận của trại tù cải tạo mà Cộng sản đã chụp lên họ một cách tàn nhẫn từ sau tháng tư 1975, trong trường hợp của Lê Bá Bình là gần 12 năm trời, đã nói lên sự kiên trì, lòng nhẫn nại và niềm vinh quang của tinh thần con người.
Nước Mỹ đã có phước được những chiến binh như John Ripley và Gerry Turley phục vụ dưới cờ, nay lại còn may mắn gấp bội khi được kể thêm những người như Bình là công dân Hoa Kỳ. “Cưỡi Ngọn Sấm” là một cuốn sách hấp dẫn, ly kỳ rất đáng đọc, là một mảnh lịch sử chưa hề được nói đến bao giờ.
Chuẩn tướng James Joy TQLC Hoa Kỳ (hồi hưu)
Cố vấn trưởng cho Lữ đoàn 147 TQLC QLVNCH trong khoảng thời gian 1971-1972
Lời nói đầu
Khi bắt đầu nghiên cứu và khám phá ra những bộ chuyện mà sau này sẽ trở thành cuốn sách “Cưỡi Ngọn Sấm,” bản thân tôi đã bị cuốn hút bởi những nhân vật và cách mà từng người trong những hoàn cảnh riêng biệt, đã biểu lộ được lòng quả cảm bất khuất và bất di bất dịch về tinh thần cũng như thể xác. Tôi đã bị thu hút bởi cung cách mà John Ripley, Lê Bá Bình, Gerry Turley và một số người khác đã chiến đấu, chịu thống khổ, đã đổ máu và nhẫn nhục tận cùng để cuối cùng đạt vinh quang trong những điều kiện thường xem là thật sự vô vọng.
Trong một thế giới mà hầu hết mọi người chỉ thích ăn mừng sự nhạt nhẽo và những điều vô nghĩa, một thế giới mà sự định nghĩa truyền thống về anh hùng và lòng dũng cảm đã nhiều năm qua bị hạ giá , có khi bị bóp méo thì “Cưỡi Ngọn Sấm” chào mừng những con người đó cùng với các phụ nữ đã sát cánh bên họ, vì nhân tính của họ, và quan trọng nhất, vì họ chỉ là những người lính chiến thuần túy.
Lời Giới Thiệu
Chiến thắng lan rộng của Cộng Sản trong khu vực Đông Nam Á năm 1975 và thảm kịch chụp lên đầu nhiều người dân miền Nam Việt Nam đáng lẽ ra đã xảy ra từ năm 1972 rồi. Trong tháng 3 năm đó, miền Bắc tung ra một cuộc tổng tấn công với nhiều sư đoàn nhằm áp đảo Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH) và tiêu diệt một nền dân chủ còn non trẻ. Trong lúc Hoa Kỳ đang tiến hành cắt giảm quân số và chương trình Việt Nam hóa chiến tranh của Tổng thống Nixon còn ì ạch thì QLVNCH buộc phải trải mỏng lực lượng dọc theo các đường biên giới với trách nhiệm giữ nền tự do tránh khỏi sự thống trị của Cộng sản. Binh đoàn Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) Việt Nam với quân số ít ỏi cùng với vài sĩ quan cố vấn Hoa Kỳ đã được giao trấn thủ ngõ vào chiến lược vùng Tây Bắc của đất nước.
Rất ít người Mỹ biết rằng miền Nam Việt Nam đã thành lập được cả binh chủng TQLC. Quân số TQLC Việt Nam chưa bao giờ vượt con số mười tám ngàn người, tức 2% của QLVNCH. Họ là một sự pha trộn tinh hoa kỳ lạ của tinh thần thượng võ Tây và Đông phương. Các cố vấn TQLC Hoa Kỳ đã đóng một vai trò then chốt trong sự thành lập của đơn vị này vào năm 1954 và trong suốt hai mươi mốt năm sau đó đã giúp định hình, đào tạo và nuôi dưỡng tinh thần chiến đấu tuyệt vời của họ. Không nghi ngờ gì là cái binh đoàn nhỏ bé này đã có một tác động quyết định vượt xa tầm cỡ của nó trong cuộc chiến sống còn của đất nước VNCH. Đối với những người trong chúng ta đã được cử đến để cố vấn cho các đơn vị khác nhau của TQLC Việt Nam thì đó là một nhiệm vụ thật đặc biệt, có nhiều lúc bực bội nhưng tựu chung đều mang lại niềm tự hào khi sát cánh chiến đấu bên cạnh họ ngoài chiến trường.
Thành phần QLVNCH rộng lớn hơn, lại không được biết nhiều về lòng dũng cảm của họ ngoài mặt trận, nhưng TQLC thì liên tục được cải tiến dần theo nhịp độ chiến tranh lan rộng và ngoại trừ một vài trường hợp ngoại lệ, họ đều là những thành phần xuất sắc. Nhiều người trong số các sĩ quan ít ỏi nhưng rất chuyên nghiệp đã được huấn luyện tại Hoa Kỳ. Họ đã cùng học hỏi và sống với chúng ta, giống như chúng ta đã làm khi được giao nhiệm vụ cố vấn cho họ. Tính kỷ luật và tinh thần đã được thấm nhuần từ trong trại huấn luyện, ở một chừng mực nào đó tương tự như trại tuyển mộ huấn luyện của TQLC Hoa Kỳ tại Parris Island và San Diego. Theo thời gian, TQLC Việt Nam đã giành được sự kính nể bất đắc dĩ của các đồng đội QLVNCH khác và chắc chắn của cả bọn Cộng quân Bắc Việt. TQLC Việt Nam khác hẳn các đơn vị bạn, tương tự như TQLC Hoa Kỳ mà họ phát sinh ra cũng có nhiều khác biệt với các đơn vị khác. Sự khác biệt này được thể hiện rõ ràng trong cuộc “Tổng tấn công mùa hè đỏ lửa.”
Cái gọi là “cuộc tấn công Tết Mậu Thân” năm 1968 vẫn còn âm vang trong tâm trí của nhiều người Mỹ, nhất là những người có tuổi đủ để nhớ về cuộc chiến Việt Nam. Tuy nhiên vào ngày 30 tháng 3 năm 1972 cộng quân Bắc Việt đã tung ra một cuộc tấn công làm “lu mờ” “Tết Mậu Thân” với một mức độ lớn hơn nhiều. Ban đầu bị bất ngờ và đụng phải cường độ tiến công trực diện của cộng quân, các đơn vị QLVNCH khắp nơi bị áp lực nặng nề đến mức tối đa và trong một vài trường hợp bị tràn ngập hoàn toàn bởi số lượng và hỏa lực áp đảo của cộng quân. Lúc đó TQLC Việt Nam đang được phối trí tại những địa điểm chiến lược phía Bắc miền Nam Việt Nam sát cạnh vùng phi quân sự, cùng với Sư đoàn 3 bộ binh vừa mới thành lập xong.
Hướng về phía Tây, nhìn về trận địa Khe Sanh cũ là hai Lữ đoàn TQLC vào khoảng năm ngàn người. Sư đoàn 3 bộ binh lo bảo vệ phía Bắc. Chọi với tuyến phòng thủ mỏng manh này, quân Bắc Việt đã tấn công với 3 Sư đoàn bộ binh và cái gọi là “mặt trận B5” gồm 4 Trung đoàn bộ binh tăng viện, 2 trung đoàn pháo binh và 2 trung đoàn thiết giáp. Thành phần trong các sư đoàn Bắc Việt tham chiến có sư đoàn 304 và sư đoàn 308 là hai sư đoàn đã từng đánh nhau với Pháp tại Điện Biện Phủ và được mệnh danh là các “Sư đoàn thép.” Việc sử dụng hai đơn vị này chứng tỏ đây là một cuộc tổng tấn công lớn và hai sư đoàn này là mũi nhọn chính của cuộc “tổng tấn công mùa hè đỏ lửa 1972.” Quân Bắc Việt đã tập trung được một lợi thế về quân số là 3 chọi 1 đối với các lực lượng VNCH.
Thật đáng buồn là đến ngày thứ tư của cuộc tàn sát hầu hết SĐ3BB đã bỏ chạy trong hỗn loạn hay đơn giản là đã bị tan tác hết. Trách nhiệm phòng thủ phần đất phía Bắc đè nặng lên TQLC và một Lữ đoàn Nhẩy Dù. Thật không hay cho những ai trong chúng tôi còn trấn giữ địa hình. Tình hình của Tiểu đoàn mà bản thân tôi và Đại úy Ray Smith (sau này lên Thiếu tướng) làm cố vấn là điển hình cho hầu hết các cố vấn đồng nghiệp đã phải đối đầu. Sau khi chống cự mãnh liệt lúc ban đầu và chịu tổn thất nặng nề, chúng tôi đơn giản là đã bị tràn ngập bởi làn tấn công toàn diện. Chúng tôi bắt đầu triệt thoái về hướng Đông trong lúc lực lượng Bắc Việt đông hơn gấp bội rượt đuổi theo. Mục tiêu của chúng tôi là cổ thành Quảng Trị.
Điều mà hầu hết chúng tôi không biết là ngay lúc đó một đoàn chiến xa Bắc Việt đang di chuyển về phía Nam trong mưu đồ cắt đứt đường rút của chúng tôi. Giữa chúng tôi và nguy cơ bị tiêu diệt là chiếc cầu Đông Hà bắc ngang sông Cửa Việt. Con sông đó là một trở ngại lớn và chiếc cầu hết sức trọng yếu trong kế hoạch của quân Bắc Việt. Đại úy John Ripley (sau này thăng cấp lên Đại tá) trong một hành động đã trở thành huyền thoại trong quân sử của TQLC Hoa Kỳ, đã bò dưới gầm cầu nhiều lần dưới làn đạn để gài mìn nổ. Ông đã giật sập được cây cầu trong lúc toán tiền quân của đoàn chiến xa Bắc Việt đang cố gắng vượt qua. Đối với chúng tôi, những người đang thoát theo hướng Đông hay đơn giản hơn đang cố sống sót, đó là một hành động dũng cảm mà chúng tôi mãi mãi ghi ơn. Nếu Ripley không phá sập cây cầu, tôi tin là hầu hết các TQLC Việt Nam và cố vấn Mỹ đều đã bị bắt hoặc bị giết chết rồi. Nhân vật đã cố gắng tái tạo lại trật tự từ sự hỗn loạn và ra lệnh cho Ripley phá hủy cây cầu chính là Trung tá Gerry Turley (sau này lên Đại tá). Bị đẩy vào một tình thế gần như siêu thực, lòng quả cảm, sự điềm tĩnh và tính chuyên nghiệp của ông là mối keo kết dính giữ toàn bộ không bị đổ vỡ. Tác giả Botkin đã cho chúng ta hiểu được tầm cỡ của hành động của Turley và nhận thức được những sự kiện kỳ quái và điên rồ có thể diễn ra trong cuộc giao tranh.
Mặc dù TQLC bị đặt trong những tình huống quẫn bách, cuộc triệt thoái nói chung có trật tự. Tất cả những khẩu trọng pháo đều được phá hủy không để rơi vào tay kẻ thù. Các Đại đội và Tiểu đoàn tập hợp lại và còn nguyên vẹn với các cố vấn Mỹ sát cánh bên họ. Điều này trái ngược hẳn với các đơn vị như pháo binh SĐ3 đã mở ngỏ cửa cho quân Bắc Việt tấn công vào và để lại cho chúng hàng chục khẩu đại bác còn nguyên si cùng với hàng tấn đạn dược. Tại sao có sự khác biệt về hiệu năng chiến đấu như vậy? Tôi nghĩ rằng đó là nhờ sự đầu tư toàn diện về huấn luyện giống như mô hình TQLC Hoa Kỳ đầy kinh nghiệm và một thế hệ cố vấn đã hết lòng truyền đạt sự hiểu biết và niềm tin qua cho các bạn TQLC Việt Nam.
Bọn Bắc Việt tưởng chừng như đã thành công. Được trang bị dồi dào gần như vô tận về chiến xa và pháo binh cùng với vũ khí phòng không tối tân nhất của Liên Sô, bọn chúng xâm nhập vào vùng chiến trường phía Bắc với hy vọng sẽ tung cú phủ đầu đánh gục miền Nam. Mất các tỉnh phía Bắc bao gồm Quảng Trị và cố đô Huế sẽ là một thảm trạng về tâm lý chiến đối với chính phủ VNCH. Tuy nhiên tình báo Bắc Việt trước khi xâm lăng đã quên không tính đến sự kiên cường của TQLC Việt Nam. Quảng Trị cuối cùng đã bị thất thủ nhưng chỉ có TQLC Việt Nam là đã chiếm lại được vào ngày 15/9/1972.
Trong trận đánh bẩy tuần tái chiếm cổ thành Quảng Trị, lực lượng TQLC đã chịu 3.658 thương vong. Đó là một trận đánh tàn khốc chống lại một kẻ thù dai dẳng nhưng chiến thắng sau cùng đã đủ chứng minh tính chuyên nghiệp và sự dũng cảm của TQLC Việt Nam. Bắc Việt cuối cùng đã thành công vào năm 1975. Nhưng ít nhất miền Nam đã được ba năm tạm yên nhằm củng cố lại đất nước hầu chống lại quyết tâm của miền Bắc muốn xâm chiếm họ. Buồn thay là ba năm chưa đủ.
Nếu bạn có khuynh hướng cho rằng chiến thắng của Cộng sản không đáng buồn, “Cưỡi Ngọn Sấm” sẽ làm bạn tỉnh ngộ về quan điểm đó. Dệt trong lời kể là câu chuyện của Trung tá Lê Bá Bình: một TQLC, một người yêu nước, một người chồng và một người cha. Bình là sĩ quan Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn TQLC mà John Ripley làm cố vấn. Câu chuyện của Bình sẽ làm bạn nổi giận, gây cảm hứng và cuối cùng sưởi ấm trái tim bạn. Đoạn kết bất thành của cuộc chiến và ảnh hưởng bi thảm của nó đối với hàng triệu người miền Nam đã được biểu lộ qua cuộc hành trình của Bình. Ngoài ra “Cưỡi Ngọn Sấm” cũng đã diễn tả chuyện gia đình của nhiều TQLC, Việt Nam cũng như Hoa Kỳ khác mà sự hy sinh và lòng can đảm rất điển hình cho các gia đình quân đội trong quá khứ và hiện tại. Đối với những người trong chúng tôi đã chọn binh nghiệp thì sự hỗ trợ, lời khuyến khích và sự trung thành của họ vẫn mãi mãi là một niềm cảm hứng. Lịch sử về chiến tranh thường được viết bởi kẻ thắng cuộc và bọn Cộng sản đã cố gắng xoá hết vết tích ghi chép, không nhắc nhở đến các thành tích đáng ca ngợi của TQLC. “Cưỡi Ngọn Sấm” bắt đầu viết trở lại vào lịch sử câu chuyện chưa được kể về những người lính TQLC Việt Nam và gia đình; họ chưa bao giờ đầu hàng, chưa hề bỏ cuộc và chưa khi nào mất niềm tin. Đối với những người đã từng chiến đấu, đã chịu đau khổ và vươn lên quá nhiều để đạt được sự Tự Do cho chính họ với tư cách là các công dân mới của đất nước Hoa Kỳ, thì “Cưỡi Ngọn Sấm” là một câu chuyện xứng đáng được chia sẻ với các thế hệ tiếp nối của nước Mỹ, đặc biệt là người Mỹ gốc Việt. Tôi hy vọng cuốn sách này sẽ giúp họ hiểu được cái giá mà cha ông họ đã phải trả nhằm bảo tồn nền Tự Do mà ngày nay họ đang được hưởng. Và sau cùng, trong khi cái danh xưng “Thủy Quân Lục Chiến” đã chiếm một vị trí đặc biệt trong tim người Mỹ, công việc kể lại các thành tích và lòng phục vụ của Lê Bá Bình và những nhân vật như ông sẽ làm cho độc giả cũng sẽ trân trọng cái tiếng gọi đó trong lòng những người Việt vậy.
Đại Tướng Walter E. Boomer, USMC, Ret.
Mở đầu
Cuộc hôn nhân của Lê Bá Bình và Bành Cầm,
Câu lạc bộ Sĩ Quan Sóng Thần
Sài Gòn, Việt Nam Cộng Hòa
Thứ tư, 19 tháng 1, 1972
Những đấng trượng phu nào đã dám đứng lên vì chính nghĩa, đặt vận mệnh quốc gia trên đôi vai dẻo dai và tài trí vẹn toàn thì thường có ưu thế hơn trong cuộc cạnh tranh để giành được những người phụ nữ hương sắc nhất.
Tại một địa điểm và thời gian đã định trước, Thiếu Tá Lê Bá Bình, Tiểu đoàn trưởng TĐ3 TQLC, biệt danh đối với bạn bè cũng như kẻ thù là “Sói Biển” trông khá bảnh bao với vai trò chú rể trong bộ lễ phục vùng nhiệt đới của binh chủng Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam Cộng Hòa. Vào một thời điểm khác, có thể anh đã là một luật sư, một bác sĩ, một thương gia hoặc đã mang một tước vị nào đó. Tuy nhiên thời kỳ này không bình thường và số mệnh đang xảy ra cho đất nước tràn khói lửa của Thiếu Tá Bình đã kêu gọi những thanh niên năng động và quyết tâm như ông bởi vì nếu không có chiến thắng, sẽ không có Việt Nam. Đó là một điều thật khó khăn nhưng cũng thật đơn giản.
Mặc dù văn hóa Việt Nam được hình thành từ lâu, thậm chí trước cả khi nước Mỹ được thành lập, Bình có thể được mô tả đúng nhất, trong dòng sinh mệnh hiện tại của đất nước ông, là thuộc vào thế hệ đầu tiên trong hệ luận mà George Washington đã diễn tả từ hai thế kỷ trước: “Tôi là một người lính để con trai tôi có thể làm nghề nông và cháu tôi có thể thành nhà thơ.” Tất cả đàn ông và phụ nữ của thế hệ người Việt được sinh ra cùng thời với Bình và cô Cẩm chưa từng bao giờ biết hòa bình là gì. Các cuộc xung đột và hỗn loạn xảy ra thường xuyên và hòa nhập vào mọi mặt sinh hoạt của cuộc sống hàng ngày. Sự “bình thường” chỉ là một thuật ngữ tương đối và chủ quan.
Do đó, điều hoàn toàn bình thường trong thời chiến sinh tử là mọi chuyện phải được tiến hành nhanh chóng vì đó chỉ là sự lựa chọn duy nhất trong đời sống. Vì vậy, không có gì kỳ lạ cả khi Lê Bá Bình và Bành Cầm đến với nhau như vợ chồng vào tháng Giêng năm 1972.
Cho đến ngày đám cưới của mình, Lê Bá Bình đã phục vụ liên tục trong quân đội. Khi những người lính Mỹ đến Việt Nam và nếu họ sống sót thì được trở về nhà sau một năm hoặc 13 tháng, thì Bình đã từng làm Đại đội trưởng Đại đội 1 thuộc Tiểu đoàn 3 trong gần bốn năm, đó là sau khi đã chỉ huy một trung đội trong hai năm. Mỗi lần hoàn tất công vụ, không hề có chuyện đi chơi Hawaii hoặc Úc, không có vụ đi du lịch hồi phục sức khoẻ hay học hỏi để mở mang kiến thức và khả năng ngoại giao. Khi Bình rời khỏi Đại đội 1, đơn giản là để về làm Tiểu đoàn phó cho Tiểu đoàn 3.
Một thanh niên như Thiếu tá Bình, vốn là người đã đạt được vị thế và quyền lực hiện tại không phải vì uy tín hoặc tài sản của gia đình mình mà là qua nỗ lực cá nhân liên tục và vai trò chỉ huy xuất chúng trên chiến trường, giờ được kết hợp với một thiếu nữ khả ái như Bành Cầm là một điều hiển nhiên. Thật ra, đã có những người đàn ông khác, trong số đó có một bác sĩ và một luật sư đã mong được sự chiếu cố của người đẹp để xin cưới. Tuy nhiên định mệnh của nàng là kết hôn với anh chàng TQLC đẹp trai.
Trong văn hóa cổ truyền Việt Nam, việc chọn lựa ngày giờ thuận lợi nhất cho một đám cưới luôn gây ra mối bận tâm lớn và phải dự tính kỹ. Những bậc thông thái trưởng thượng trong gia đình bàn bạc với nhau và cân nhắc để chọn ngày lành tháng tốt nhằm cho đôi vợ chồng mới được trường thọ và sung túc bên nhau. Sau khi xem xét cẩn thận và suy tính kỹ lưỡng, họ loan báo quyết định ngày 19 tháng Giêng năm 1972 sẽ là ngày thành hôn của Bình và Cầm.
Câu Lạc Bộ Sĩ Quan Sóng Thần của TQLC nằm trên một khoảnh đất đẹp tại Sài Gòn. Được thành lập vào giữa thập niên 1960 và tiếp giáp với Sông Sài Gòn, nó chỉ cách sáu ngã tư đường tính từ Dinh Tổng thống và Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ. Mặc dù binh chủng TQLC Việt Nam ít hơn hai phần trăm tổng số quân nhân toàn quốc, nhưng khi ngắm câu lạc bộ, người ta sẽ nghĩ rằng quyền lực và ảnh hưởng chính trị của họ chắc lớn hơn nhiều so với thực trạng của đơn vị đó. Trông bề thế như vậy nhưng câu lạc bộ cũng kiêm cả một nhà kho tiếp vận cho TQLC và họ đã biết sử dụng một cách hiệu quả khoảng đất mà họ được chu cấp.
Được quản trị một cách khôn khéo và canh gác cẩn thận bởi những người được phân công tại đó, các sĩ quan TQLC có quyền tự hào đã có một nơi phục vụ các mặt hết sức chu đáo này, tựa như một một mái ấm lúc họ xa nhà.
Tất cả các sĩ quan trong đại gia đình TQLC đang lớn mạnh và thân thương nếu không vì phải nằm bệnh viện điều trị vết thương chiến trận hay bận ngoài chiến trường chỉ huy binh lính chống kẻ thù Cộng sản đều hiện diện ngày hôm đó để tham dự đám cưới của Lê Bá Bình và Bành Cầm. Nếu bọn Việt Cộng hay quân Bắc Việt nắm được tin này hoặc có đủ sức hành động, một cuộc tấn công khủng bố vào nơi tiếp tân trong tiệc cưới chắc hẳn sẽ giáng cho miền Nam một đòn chiến lược khủng khiếp.
John Ripley là người Mỹ duy nhất trong đám đông tập họp của bộ chỉ huy TQLC cùng với gia đình và bạn bè. Anh rất ngạc nhiên và hào hứng trong buổi lễ. Ngoại trừ vị Tư lệnh, Trung Tướng Lê Nguyên Khang, đang bị bệnh cúm dạ dày khá nặng hành hạ và là người đã chiếu cố đặc biệt đến vị sĩ quan trẻ đầy triển vọng mà chính ông đã đích thán tuyển dụng anh vào đội ngũ Sói Biển vào năm 1962, tất cả các sĩ quan TQLC Việt Nam mà “Đại úy Ripp-lee” có quen riêng hay từng nghe danh đều có mặt tham dự. Các chiến sĩ hào hùng bao nhiêu thì sự hiện diện của những bà vợ cũng rất nổi bật và được kính nể. Nhiều bà đẹp khôn tả. Nhiều lần John Ripley chỉ muốn quỳ gối trước mặt họ. Ripley và vợ vốn xuất thân từ một gia đình quý tộc của vùng Virginia và chưa đầy một năm trước đó họ đã viếng thăm TQLC Hoàng gia Anh, một đơn vị mà lễ nghi và truyền thống cũng quan trọng không kém khả năng sẵn sàng chiến đấu mà họ rất kiêu hãnh. Do đó buổi đám cưới sẽ mãi mãi được họ trìu mến nhớ lại như là một sự kiện cao quý, đặc biệt và uy nghi.
Đại úy John Ripley chỉ mới trở lại Việt Nam hai tuần trước ngày đám cưới. Kỳ nghỉ phép “phục hồi sức khỏe” vào dịp Giáng Sinh vừa qua cùng với vợ con ở tiểu bang Virginia xa xôi làm cho chuyến trở lại Việt Nam khá khó khăn. Thậm chí còn khó hơn cả lần cùng đi hưởng tuần trăng mật tuyệt vời với cô vợ Moline ở đảo Hawaii năm năm về trước. Giá mà anh có cơ hội trải thêm một mùa Giáng Sinh kỳ diệu với con cái một lần nữa, dù là lần cuối cùng, thì đó sẽ là một điều khiến anh không bao giờ quên.
Đại úy Ripley cũng không bao giờ quên sự kiện vào giữa tháng Mười Hai, một ngày trước khi đi phép “phục hồi sức khoẻ” khi Tiểu đoàn 3 vừa chấm dứt một cuộc hành quân gian nan gần khu phi quân sự ngoại vi Gio Linh. Thiếu tá Bình gọi cố vấn Đại úy Ripley đến. Văn phòng là một chỗ tạm trú dã chiến tầm thường. Thị trấn Gio Linh nằm gần như ở cuối đường phòng tuyến, vào cuối năm 1971 nó cũng xa vời đối với người Mỹ giống như bề tối của mặt trăng trước khi các phi hành gia bay vòng quanh nó. Lúc Ripley trình diện vị chỉ huy mà ông ngày càng tôn trọng và hết lòng ngưỡng mộ, ông chưa hề biết lý do cuộc triệu tập. Đứng trong tư thế nghỉ sau phần chào kính đúng lễ nghi quân cách, Thiếu Tá Bình đã làm người bạn Mỹ của mình ngạc nhiên: “Ripp-lee, tôi rành truyền thống Giáng Sinh của bạn lắm.”
Bằng một sự dè dặt và kín đáo cố hữu, Thiếu tá Bình trao cho vị “cố vấn” của mình -theo tiếng Việt có nghĩa là “người góp ý kiến đáng tin cậy”- một con búp bê công chúa Việt Nam được gói thật đẹp bằng giấy bóng kính gắn nơ đủ màu rất truyền thống và được trang trí lộng lẫy. “Ripp-lee. Tôi muốn tặng cái này cho con gái bạn. Nói là của tôi nhé.” Đại úy Ripley cảm thấy xúc động bởi cái lòng, cái công sức, và sự tiêu phí của Thiếu tá Bình. Để có được cho một món quà như thế phải tốn công sửa soạn vô cùng. Lại còn trao tại một nơi như Gio Linh thay vì chỗ khác thì quả thật Thiếu tá Bình đã chứng tỏ cho thấy niềm trân trọng, tấm lòng ưu ái và sự chấp nhận tình bạn khiến John Ripley cảm động gần như rơi lệ.
Cho đến hôm đám cưới, Lê Bá Bình đã làm việc chung với John Ripley gần năm tháng trời, một thời gian mà trong thời chiến tưởng chừng như vô tận. Mối liên hệ giữa vị chỉ huy và người cố vấn không thể nào tốt hơn thế. Họ hoàn toàn tâm đắc với nhau vì cùng mang giòng máu chiến binh, giống nhau ở tính xông xáo ngoài trận địa và cùng lo lắng quan tâm đến tinh thần binh lính thuộc cấp. Do đó các mối khác biệt quan trọng về văn hóa đã được giảm thiểu đến mức gần như không còn nghĩa lý gì nữa bởi sự tôn trọng lẫn nhau giữa hai người. Đó cũng chính là mục tiêu được đề ra của mô hình cố vấn và chỉ huy trưởng đơn vị vậy.
Tính đến đầu năm 1972, các cố vấn TQLC Hoa Kỳ đã luân chuyển công vụ phục vụ cho TQLC Việt Nam một thời gian tổng cộng gần 18 năm trời. Từ ngày thành lập vào năm 1954, TQLC Việt Nam đã chiến đấu gần như liên tục. Hầu hết các sĩ quan đều tốt nghiệp từ khóa huấn luyện căn bản tại Quantico. Mặc dù họ không phải là những bản sao y như người anh em Mỹ vì những sự khác biệt hiển nhiên về văn hóa và hạn chế về tiếp liệu, nhưng không một người Mỹ nào khi theo dõi hoạt động của TQLC ngoài chiến trường có thể nghi ngờ về sự xông xáo và tinh thần quyết chiến của họ được.
Bên ngoài của sự sang trọng của Câu Lạc Bộ Sĩ Quan SóngThần TQLC, John Ripley đã từng làm việc với Bình trong những điều kiện tồi tệ nhất. Vốn là một chiến sĩ, bất cứ ai trong số người Mỹ đều có thể xác nhận điều này, Đại úy Ripley có khả năng nhận ra ai cũng là “tay súng” như mình. Thiếu tá Bình đích thực là một tay súng. Không hài lòng với những kinh nghiệm và quan sát của riêng mình, Đại úy Ripley đã nghe lỏm một cuộc trao đổi quan trọng giữa một viên chức Hoa Kỳ cao cấp và một sĩ quan TQLC Việt Nam. Người này đã thốt lên với viên cố vấn rằng Tiểu đoàn 3 của Thiếu tá Bình là một “tiểu đoàn chủ lực,” những người cần đến khi vấn đề thực sự trở thành nghiêm trọng.
Bình là một người hết lòng, thực sự hết lòng, và ông ta đã làm điều đó mà không cần phải phô trương hay làm ra vẻ gì cả. Nếu Jimmy Dean có làm một bài hát cho người Việt Nam, và nếu cần những lời ca giống như những lời mô tả về người thợ mỏ than đá “John cồ” lớn con, trầm lặng để kể về một người tốt ở Đông Nam Á, thì ông ta có thể đã chọn Bình để làm đề tài rồi. Những thành tích của Bình và của tập thể 700 Sói Biển đã nói dùm cho Jimmy Dean. Những người rành chuyện, những người mà ý kiến đáng được trân trọng nhất đều ca ngợi và cảm phục thành tích chiến đấu của Tiểu đoàn 3. Tất cả những điều đó làm cho Đại úy Ripley thương mến Bình như là một người anh ruột.
Mặc dù khá quen thuộc với văn hóa Việt Nam nhưng Ripley không tự tin rằng ông ta biết hết các lề lối cần thiết và cách cư xử trong một đám cưới Việt Nam. Do đó, hồi đầu ông cố gắng giữ một vị thế thật khiêm nhường. Tuy nhiên để không làm phật lòng và bày tỏ sự tôn trọng thích đáng đối với người bạn và cô dâu mới của anh ta, Đại úy Ripley thay đổi đôi chút thái độ của mình trong suốt buổi chiều còn lại. Anh đứng nhai trệu trạo cùng với những người khác bên bàn thức ăn tự phục vụ đầy ắp các món ăn truyền thống Việt Nam và Tây phương, tham gia chúc rượu, vỗ tay đúng lúc, và cười giòn vào những lúc thích hợp.
Đại úy Ripley thích nhất là những cuộc trò chuyện với các TQLC Việt Nam tại đây. Họ luôn nói tiếng Anh để anh ta tham dự được và không thấy bị bỏ rơi. Và quan trọng nhất để Ripley không cảm thấy bị mất mặt, họ cho anh tham gia mọi công việc trong ngày đám cưới.
Ngày 19 tháng Giêng năm 1972 là một ngày trọng đại, ít nhất là đối với những người ở Câu Lạc Bộ Sĩ Quan Sóng Thần TQLC. Bình đã “chơi đẹp” hết mình. Đám cưới và tiếp tân đã làm Bình tốn một tài sản nhỏ, tuy nhiên phần lớn được bù lại bằng những quà tặng. Vì những lý do không hoàn toàn hiểu nổi, Đại úy Ripley không được phép cho quà tặng. Nếu làm như vậy sẽ thực sự gây ra sự xúc phạm. Đối với Bình, sự hiện diện của Ripley đã quá đủ rồi. Những người khác, khoảng 500 người gì đó dư sức bù đắp cho bất cứ món quà nào mà vị quý tộcVirginia không được phép cho. Moline có thể bị sốc nhưng, giống như chồng mình, sau cùng cũng hiểu được tại sao.
Ngay cả nhạc cũng thật tuyệt. Không phải là một mà có tới hai ban nhạc chơi cho cuộc gắn bó của Bình và Cầm. Nhờ sự quen biết và nổi tiếng trong giới nhà binh, Bình đã mời được không ai khác hơn là Khánh Ly, một ca sĩ tân nhạc Việt Nam danh tiếng và cũng là một người bạn riêng đến giúp vui cho đám đông ái mộ.
Tuy nhiên, chiến tranh vẫn còn có và không hề thiếu những tên Cộng sản để đánh nốt. Do đó sẽ không có tuần trăng mật sang trọng, lãng mạn đến Bangkok hoặc Hồng Kông, ngay cả Đà Lạt hoặc thậm chí Vũng Tàu cũng không nốt. Vì tình hình chiến trận và các quy định của TQLC, Thiếu Tá Bình và cô dâu xinh đẹp có được một thời gian ngắn ngủi hạnh phúc bên trong một căn cứ tại Thủ Đức là quý hóa lắm rồi.
Non một tuần lễ sau, Bình đã lên đường trở lại mặt trận chỉ huy Tiểu đoàn 3 như ông ta vẫn từng làm: trên tuyến đầu… với vị cố vấn trung thành của mình bên cạnh.
Rơi xuống vực thẳm
Việt Nam Cộng Hòa
Ngày 29 tháng Ba năm 1972
Ghế ngồi trong toàn bộ khoang tàu của chiếc C-130 Không lực Hoa Kỳ đã được tháo bỏ để dành chỗ tối đa cho toán tiếp viện hơn 100 chiến sĩ TQLC Việt Nam (và vài con heo nuôi từ trại Thủ Đức nhằm tăng cường chút chất đạm cho các đơn vị đang đóng ở mạn Bắc) trên chuyến bay thường lệ 300 dặm từ Tân Sơn Nhất Sài Gòn đến Phú Bài Huế. Chiến binh của mọi quân đội trên thế giới đều học được bài học rất sớm là lăn ra ngủ trong mọi tư thế, trong mọi khoảng trống cho phép thành thử hầu hết các TQLC Việt Nam không hề để ý hay tỏ vẻ bị “khớp” bởi sự hiện diện của một TQLC Hoa Kỳ lẻ loi duy nhất cùng chung chuyến bay với họ.
Tuy nhiên trong cái khoang tàu ngột ngạt đông đúc của chiếc C-130 sắp cất cánh, khoảng một chục lính tình nguyện TQLC Việt Nam ngay bên cạnh Trung tá Gerry Turley khá ngạc nhiên bởi sự hiện diện lạ lùng của ông. Trong nền văn hóa Việt Nam đặt nặng khái niệm về sự tôn kính đối với những người có địa vị trong xã hội và nhất là trong quân đội, những người lính này bình thường sẽ không dám lên tiếng một cách trực tiếp hay chạm vào người một thượng cấp như Gerry, lúc này rõ ràng là đang mặc một bộ đồ rằn ri có gắn cấp bậc theo kiểu Việt Nam như họ. Họ cho rằng – rất đúng trong trường hợp này – là cái ông Mỹ không thể hiểu nổi những gì họ nói. Cái tâm lý của họ làm như người Mỹ này không phải là người phàm giống họ. Do đó từng toán nhỏ chung quanh cái người Mỹ lạc lõng bắt đầu bình phẩm về những điểm khác biệt lạ lùng của ông ta đối với họ, chẳng hạn như số lượng lông lá xồm xoàm trên hai cánh tay của Turley.
Giống như trẻ con nhanh chóng chán món đồ chơi mới, niềm vui nhộn chẳng bao lâu lắng đọng để trở về thực tế. Gerry Turley không thể gọi là một người mập và sức cân nặng chỉ thay đổi trong vòng năm cân Anh từ thời còn học trung học tới nay. Nếu cần ông vẫn có thể nhẩy dù ra khỏi máy bay một cách dễ dàng hay chạy bộ gần như mỗi ngày từ ba đến năm dặm, hoặc bơi những chặng thật xa. Theo tiêu chuẩn Hoa Kỳ, ông vẫn là một cái máy tác chiến dẻo dai và dữ dằn. Tuy nhiên khi so sánh với hầu hết người Việt Nam nhất là đám trẻ, toán quân ốm nhom như những bộ xương cách trí chung quanh, Trung tá Turley có thể làm người mẫu “trước kia” cho một cái quảng cáo cách ăn cữ trong một tạp chí Việt Nam. Cũng vì do cái tương đối tròn trĩnh so với đám lính chung quanh, chẳng mấy chốc Turley trở thành cái gối tựa cho cả đám TQLC hơi nhiều hơn ý muốn.
Khi tấm bửng khoang tàu đóng lại và động cơ máy bay quay tít đến mức tối đa để cất cánh, Trung tá Gerry Turley, với tư cách một TQLC Hoa Kỳ và sứ giả thiện chí của đất nước ông đang chấp nhận số phận tạm thời là một đồ vật vô tri vô giác, chợt cảm thấy linh tính báo trước có điều gì bất ổn. Cái cảm giác khó chịu này trước đây đã chỉ đến với ông hai lần trong suốt bốn mươi hai tuổi đời của ông.
Chính cái linh cảm bất thường về một điều gì kỳ lạ sắp xảy ra, một cái giác quan ngoại cảm báo trước một tai họa sắp diễn ra đã cứu sinh mệnh ông hai lần trong đời: lần đầu khi còn là một đứa bé ở Ogallala, Nebraska đã khiến ông từ chối lời rủ rê của bẩy đứa bạn thân mà sau đó đã cùng chết đuối khi đi bơi trong cái hồ của mỏ đá trong vùng. Một lần nữa tại Ðại Hàn khi không có lý do nào khác ngoài cái cảm giác đó, ông đã rút tên ra khỏi danh sách chuyến bay phục hồi sức khỏe đến Nhật Bản mà sau đó máy bay bị rơi chẳng bao lâu sau khi cất cánh làm chết hết tất cả mọi người trên chuyến bay đó.
Vài ngày 29 tháng 3 năm 1972, cái cảm giác xưa đó đã trở lại như một sự phiền toái, một cảm xúc bực bội ứa gan giống như hai lần trước vậy. Ngày 29 tháng 3 năm 1972 không biết tại sao và bằng cách nào Gerry Turley linh cảm thấy chắc chắn là ngay lúc đó ông đang đút đầu vào vực thẳm.
Được sự cho phép của các dịch giả, chúng tôi trân trọng chia sẻ cùng các bạn tác phẩm này. Nếu các bạn muốn share xin đề nguồn. Chân thành cảm ơn.
ĐÀ LẠT
Đà Lạt buồn ngủ
Đà Lạt chạy nhảy
Đà Lạt khóc
Đà Lạt cười
Đà Lạt uống cà phê
Đà Lạt mặc áo laine
Đà Lạt núi
Đà Lạt rừng
Đà Lạt răng khểnh
Đà Lạt rơi trên trái tim
Trái tim thông nâu
Rơi trên suối
Rơi trên đồi
Rơi trên lá mục
Rơi trên cỏ xanh
Rơi trên tóc em
Rơi trên đường vòng
Rơi trên Domaine De Marie
Mùa đông đắp chăn ngủ
Đà Lạt đắp chăn ngủ
Domaine De Marie đắp chăn ngủ
Em đắp chăn ngủ
Hờ hững
Mỉm cười
Sớm mai cành thông xanh
Mây đậu trên cành thông xanh
Đà Lạt thức dậy trên cửa kính
Domaine De Marie thức dậy trên đồi
Em thức dậy trên giường
Sớm mai thức dậy trên môi em
Hờ hững
Mỉm cười
Em mặc áo laine đến trường
Đà Lạt ngái ngủ trên mi
Domaine De Marie xanh
Tiếng chuông len lõi trong vòm thông
Bonjour Ma Soeur
Bonjour cỏ
Bonjour chim
Bonjour nắng
Bonjour bàn ghế
Bonjour sách vở
Bonjour
Hờ hững
Mỉm cười
Những núi đá hoang vu
Nững rừng thông mềm mại
Đà Lạt vuốt ve em
Đà Lạt vuốt ve trái tim em
Đà Lạt khôn ngoan
Đà Lạt sành sõi
Em hong nắng ven hồ xanh biếc
Em nằm ngủ dưới chân thác kiêu căng
Em dạy học trên đồi Yersin
Em tập trẻ thơ vui chơi ca hát
Ngày chậm rãi rơi
Rơi trên rừng thông
Rơi trên Domaine De Marie
Đà Lạt dỗ dành em quên lãng
Quên lãng xứ sở em lầm than
Quên lãng bạn hữu em nghèo nàn
Quên lãng nhatrang
Quên lãng biển chiều
Quên lãng tình yêu ta
Thiết tha
Mãnh liệt
Rồi một đời người
Sẽ như trái thông rơi
Lạnh lẽo
Đà Lạt dạy bảo em yêu mến
Những thìa
Những đĩa
Những dao
Những áo đầm
Những Ma Soeur thanh khiết
Chào mùng Đà Lạt
Chào mừng Domaine De Marie
Chào mừng thác hung hăng
Chào mừng rừng nham hiểm
Chào mừng chim muông
Chào mừng em đi xa
Những ngày
Những tháng
Những năm
Rụng dần mòn gặp gỡ
Đà Lạt
Đà Lạt buồn bã trong đời ta…
Nguyễn Quốc Thái
GIÁ MÀ EM BIẾT TÔI YÊU…
Giá mà em cứ vô tình
Thì tôi đâu phải để mình ngẩn ngơ
Giá mà chỉ chuyện vu vơ
Làm sao tôi thấy trăng mơ nỏn nà
Giá mà đường vắng mưa sa
Theo em tôi hát bài ca đường dài
Giá mà hứng được sương mai
Tặng em dành tắm gót hài dễ thương
Giá như em cứ lạc đường
Để tôi theo nhắc người thương cả đời
Giá như mà có ông trời
Tôi xin được lấy đúng người tôi yêu
Tình yêu sao lại lắm điều
Giá mà em biết tôi yêu… cũng đành!!
VŨ HY TRIỆU










