Về đi em!

Về đi em! Về đi thôi!
Nhìn mây thiên cổ cuối trời còn bay
Rồi khi tàn cuộc chơi này
Chỉ là hạt bụi tan ngoài vô biên
Về đi thôi! Về nghe em!
Bỏ trần gian lại dặm nghìn phù vân
Bỏ tình bỏ bạn tri âm
Bỏ tôi ngồi giữa trăm năm cõi người
Về đi em mà lắng nghe
Tận trong tịch lặng bài thơ cuối cùng
Về đi em dù một lần
Là thiên thu gửi trong phần mộ tôi
Mai kia góc biển chân trời
Câu kinh tiếng mõ thay lời tiễn đưa

Lê Văn Trung

CON TRAI BÁC THỢ MỘC

Khi chết tôi sẽ lên thiên đàng. Tôi tin chắc như thế. Bởi đã từ lâu, tôi không còn phạm tội. Lương tâm tôi yên ổn. Linh hồn tôi đã được tẩy rửa từ hôm ấy.
Vậy mà hôm nay cô ấy lại tìm đến tôi!
Tôi bảo cô ấy ngồi xuống bên gốc cây bạch dương trước nhà. Cô ấy thắc mắc sao không vào trong nhà. Trong nhà có còn ai nữa đâu mà sợ. Cô ấy thì thào. Cái giọng tẩm mật ong rót vào tai tôi, vị ngọt của chất giọng ấy đổ đầy lồng ngực tôi cái rạo rực ong óng. Tôi đặt đầu lưỡi giữa hai hàm răng. Chỉ cần cắn mạnh xuống, mọi chước cám dỗ sẽ tan đi, nhưng tôi chần chừ. Thôi thì cứ hãy ngồi ngoài này mà trò chuyện. Và tôi kể lại cho cô ấy câu chuyện ngày hôm ấy.
Hôm ấy.
Tôi phải nhanh chân nếu không sẽ không kịp. Phiên xử sẽ tiến hành khi mặt trời đứng bóng. Khi bóng cây trắc bá gom lại thành một vòng tròn là lúc người ta bắt đầu phiên xử, và nhanh chóng tiến hành cuộc hành hình. Tôi vội vã sửa soạn. Tôi chạy ra bờ con rạch sau nhà, tìm hòn đá. Cầm chắc hòn đá trong tay, tôi chạy vào nhà, đến bên chiếc giường làm bằng những thanh gỗ vênh vẹo kê trên những phiến đá gồ ghề to nhỏ không đều. Tôi đưa hòn đá cho vợ xem. Vợ vội lau nước mắt, nhướng mắt lên nhìn, rồi bảo Nhỏ quá, nhưng chắc cũng được. Tôi quay đầu bước đi, vợ gọi níu lại. Tiếng gọi của vợ chìm vào tiếng ọ oẹ của hài nhi. Con thứ nhì và duy nhất của vợ chồng tôi. Nó nằm trong cái rổ cói đặt trên giuờng, sát vách tường đất. Vợ sụt sùi bảo ghé sát đây tôi dặn câu này. Tôi ghé sát bên vợ. Mùi tóc ngai ngái thoang thoảng trong không gian. Vợ nhìn quanh như sợ ai trông thấy dù đang nằm trên chiếc giường gỗ cũ, trong căn phòng vắng vẻ. Rồi vợ thì thào. Nhớ ném ra ngoài nhé. Khổ thân nó. Đầu tôi lắc lư trên chiếc cổ khẳng khiu. Nhưng tôi hiểu. Mỗi lần có chuyện như thế, và vì ốm đau không tham dự được, lần nào vợ cũng nhìn quanh quất trước khi thì thầm câu dặn dò Nhớ ném ra ngoài nhé. Tôi quay lưng dợm bước, vợ lại gọi giật lại, “Có một thôi à?”
Tôi trả lời, không quay mặt lại, “Hai chứ.”
“Hòn kia đâu?”
“Ngoài sân,” tôi sẳng giọng. “Nói hoài mỗi câu ấy.”
“Không nhắc lỡ quên thì ai đeo gông thế cho ông?”
Nói xong vợ òa khóc. Trong cái âm thanh tức tưởi ấy, tôi nghe ra câu thở than đắng giọng, “Khổ thân nó!”
Tôi lê những bước nặng nề ra sân. Trời ong ong nắng. Tôi nhìn khoảng sân hẹp. Bóng cây bạch dương còn lệch khá nhiều về một bên. Như vậy là còn sớm. Khi bóng cây bạch dương trong sân nhà tụ lại thật tròn quanh gốc cây thì ở pháp đình bóng cây trắc bá cũng gom lại thật gọn trong sân pháp đình.
Và ấy là giờ hành quyết.
Tôi bước xuống sân, chiếc túi vải đeo trên vai. Hai hòn đá trong túi chạm nhau lạch cạch.
Bọn quan chức, lũ lâu la và đám thu thuế lao xao trò chuyện. Chúng gật gù, bá vai nhau và cười rộ lên từng chặp. Tôi chen chúc cùng đám đông đến trước chiếc bàn đá nơi những nhân viên kiểm tra số người tham dự ngồi với cuộn giấy da dê li ti những chữ. Tôi đưa tay đuổi ruồi, kiên nhẫn chờ đến phiên mình. Hàng người nhích đi từng chút một. Thoáng gió thoang thoảng quyện lên từ bờ hồ đem theo cái thoáng mát dịu dàng, mơn trớn. Tôi nhìn về phía ấy. Mặt hồ Galilee vạch một đường ngang xanh thẫm, lấp lánh ẩn hiện sau những nếp nhà nhấp nhô, cao thấp không đều.
Một đống những cuộn da dê vàng úa chồng lên nhau. Đám quan chức loay hoay bới, tìm. Mỗi khu xóm có một cuộn riêng ghi danh sách từng nhà, và số người trong nhà. Nhà tôi ngoài hai vợ chồng còn có đứa con vừa chưa đầy tháng.
“Vợ anh đâu?” Đến lượt tôi, viên quan hỏi.
Tôi nhanh nhảu, “Vợ tôi mới sinh con, không đi được.”
Gã thư lại quan quyền nhìn chăm chú những con chữ ngoằn ngoèo trên tấm da dê trải rộng trên mặt bàn đá.
“Sao lần nào cũng không đi được vậy?”
“Cô ấy ốm đau luôn.”
Tôi nói ra cái điều ám ảnh. Vợ tôi đau ốm thường xuyên. Bệnh tật gì mà cứ như ma ám. Có lần tôi định rước nhà Tiên Tri vẫn thường giảng trên bờ hồ ngoài kia nhờ ông chữa cho khỏi hẳn cái chứng hoại huyết độc địa ấy. Ông ấy đã từng làm cho kẻ mù sáng mắt. Và ông ấy cũng đã từng chữa cách gì đó cho em trai cái cô ở tận xóm trên sống lại. Nhưng tôi ngại, cái nhà ông Tiên Tri ấy luôn nói ra những điều ngược ngạo, dù đúng với tim đen lũ người chúng tôi, nhưng đã chói tai thì ai mà chịu được. Vì vậy mà tôi chần chừ, vì vậy mà tôi để vợ tôi ốm đau oặt oẹo mãi.
“Không đi được thì anh phải làm thay cho cô ấy.”
“Vâng, tôi sẽ làm thay cho cô ấy.”
“Hòn đá của cô ấy đâu?”
Tôi luồn tay vào bọc lấy ra hai cục đá xanh xám hầm hập nóng ra, đặt lên bàn. Tôi cố đặt nhẹ nhưng viên đá cũng gõ lên mặt đá một tiếng cạch thật to khiến tay thư lại trợn mắt nhìn tôi. Tôi cuống cuồng, “Thưa, hòn đá nặng quá, tôi lỡ tay.”
Gã cầm hòn đá của vợ tôi lên, nhìn chăm chú cái màu xám xanh như nhìn con vật lạ, rồi gã ngước nhìn tôi, “Đá nhỏ thế này không hợp lệ.”
“Vợ tôi mới sinh,” tôi lắp bắp, “Chân tay còn yếu ớt, không ném được hòn đá to.”
“Lại gian xảo rồi!”
“Không, tôi nói thật.”
Chuyện này tôi không giấu diếm chút nào. Vợ tôi mới sinh. Đứa con trai còn đỏ hỏn. Dạo này trẻ sơ sinh rủ nhau sài đẹn, và theo nhau chết. Con đầu lòng của chúng tôi cũng cùng số phận ấy hai năm trước. Nhà chỉ có hai vợ chồng, những ngày vợ ở cữ, cô em vợ tôi – dù đã có gia đình riêng – vẫn phải chạy đi chạy lại đỡ đần bà chị. Tôi, đàn ông biết xoay sở thế nào.
“Hòn đá nhỏ như đồ chơi trẻ con thế này,” gã nói. Hòn đá chuyển động nhịp nhàng trong lòng bàn tay gã.
“Nhỏ cô ấy mới ném được. To quá, ném không tới thì cũng vậy thôi.”
Tôi lý sự với gã. Từ trước đến giờ tôi chẳng lý sự với ai, nhất là với đám quan quyền và lính La Mã, nhưng lần này có kẻ nào đó trong sâu thẳm lòng tôi thúc dục tôi cãi lý.
Vậy mà gã cho qua.
“Được rồi, nhớ ném cho mạnh thay cho vợ anh.”
Dĩ nhiên tôi sẽ mạnh tay ném. Chuyện ném này tôi cũng đau, cái đau của gã đàn ông bị phản bội. Nhưng việc cần làm thì vẫn phải làm.
Bỏ hai hòn đá vào túi vải, đeo lên vai, tôi lủi thủi luồn lách ra phía sau chiếc bàn kiểm tra, vào sân pháp đình. Nắng vỡ trên đầu, tuôn chảy xuống vai, hừng hực.
Quanh tôi, thiên hạ chen lấn nhau, chuyện trò lao xao. Những hòn đá trong những cái rổ sâu lòng buộc bằng dây luộc đeo lủng lẳng trước bụng, sau lưng vài người. Bọn phi nhân tính. Mỗi người một hòn đá cũng đủ để biến phạm nhân thành một đống thịt bầy nhầy, lấy nhiều đá thế làm gì không biết.
Từ ngày có pháp lệnh của quan Tổng Trấn, đá ở bờ sông, đá ở ven hồ ngày càng khan hiếm. Đó là dấu hiệu không tốt. Đá bờ sông, bờ hồ khan hiếm có nghĩa là số phạm nhân ngày càng tăng vọt. Sau những buổi hành hình, người ta đổ dồn vào đống đá, xô đẩy bọn lính La Mã, nhặt nhạnh những hòn đá đem về. Chẳng để làm gì cả, chỉ để đó, chờ đến dịp hành hình kế tiếp.
Đám đông ồn ào cười nói trong sân pháp đình. Tôi nhìn gốc cây trắc bá giữa sân. Các phán quan lao xao trên bệ đá. Những cái lọng ngả nghiêng phủ bóng mát lên đầu đám quan lại. Những khuôn mặt căng tròn, những cái trán trơn bóng nhập nhòe, những mũi giáo, những thanh gươm loang loang trong nắng.
Cây trắc bá giữa sân pháp đình là nơi hành hình phạm nhân. Hôm nay sẽ là phiên xử người đàn bà ngoại tình. Người ta sẽ trói kẻ dâm phụ ấy dưới gốc cây. Một vòng tròn vây quanh gốc cây. Dân chúng sẽ bao quanh gốc cây ấy. Mỗi người sẽ ném hòn đá của mình vào phạm nhân rồi bước lui nhường chỗ cho người khác.
Hôm nay sẽ là phiên xử người đàn bà gian dối, người đàn bà ngoại tình. Người đàn bà ấy chẳng xa lạ gì với tôi, người đàn bà ấy cũng chẳng xa lạ gì với vợ tôi, vì vậy vợ tôi dặn tôi ném đá trật ra ngoài. Người đàn bà ấy đáng tội chết. Tôi xốc cái túi vải trên vai. Hai hòn đá chạm vào nhau lách cách. Tôi sẽ ném hòn đá nhỏ của vợ tôi vào đầu con đàn bà ấy để xóa đi hết những tình cảm lạc đường. Hòn đá to để dành cho hàm răng trắng muốt, vẫn nở ra những khóe cười đằm thắm, hòn đá ấy sẽ làm tóe máu đôi môi vẫn rải lên tôi những ẩm ướt, mượt mà suốt những buổi chiều dấm dúi bên nhau sau khoảnh vườn rậm lá, những ngày vợ tôi ốm đau, nằm mê mệt trên chiếc giường gỗ cũ.
Tiếng lao xao của đám đông kéo tôi về khoảng sân rực nắng của pháp đình.
Tôi ngước nhìn cây trắc bá trơ trọi giữa khoảng sân loang nắng. Người đàn bà ấy đâu sao chưa đem ra, sao chưa buộc chị ta vào cái thân cây lực lưỡng mấy vòng ôm. Bóng râm đã cuộn tròn quanh gốc cây. Mọi người nhốn nháo hỏi nhau rồi nghểnh cổ nhìn về phía ngôi pháp đình bề thế choán hẳn một khoảng trời biếc xanh.
Có tiếng lao xao ở một góc sân. Tôi nghểnh cổ nhìn về phía ấy. Ba người lính đang kéo lê một người đàn bà trên nền đất. Tim tôi thắt lại trong lồng ngực. Phạm nhân đây rồi. Từ khoảng cách khá xa tôi vẫn nhìn ra đôi con mắt xớn xác của người đàn bà. Đôi con mắt đen nhánh quen quá là quen. Đôi con mắt đã nhìn tôi đăm đắm những buổi chiều nắng nghiêng khóm cây vả sau vườn, khi vợ tôi nằm bệnh trên chiếc giường gỗ cũ, và làng mạc vắng hoe vì thiên hạ túa ra bờ hồ nghe người con trai bác thợ mộc, vị tiên tri trẻ tuổi rao giảng những điều chói tai, ngược ngạo. Tôi chưa ngồi với đám đông để nghe con trai bác thợ mộc rao giảng lần nào, nhưng nghe nói ông ta hay thẳng thắn chỉ trích những hành vi sai trái của quan lại, những cách hành xử hôn ám nhưng đã quen thuộc của con người, tôi cũng muốn ra bờ hồ ngồi nghe một lần cho biết.
Nhưng rồi vợ tôi ốm đau, rồi vợ tôi có thai, rồi vợ tôi sinh cháu nhỏ. Em gái của vợ tôi phải sang giúp. Những buổi chiều tôi nói dối vợ rằng tôi ra bờ hồ nghe vị tiên tri ấy nói những câu chuyện lạ lùng là lúc tôi quấn quýt bên người đàn bà ấy; cái người lúc này đang bị hai người lính xốc nách lôi đi.
Tôi lại xốc cái túi vải lên vai. Hai hòn đá chạm nhau lách cách. Hòn đá to là của tôi. Tôi sẽ ném thẳng tay bởi người đàn bà kia đã phản bội tôi. Hai hòn đá gõ vào lưng nhắc tôi nhớ lời vợ dặn. Nhớ ném ra ngoài nhé. Cô ấy dặn thế bởi cô ấy thương người đàn bà kia. Bởi người đàn bà kia là em gái cô ấy. Thương cho mấy cũng chẳng làm gì được. Luật lệ đã quy định rồi.
Lúc trước khi xử phạt tội nhân, những ai ghét điều xấu xa, tội lỗi thì ra sân pháp đình mà ném đá, nhưng tội nhân càng lúc càng nhiều, và số người tham dự ngày càng ít đi, những cuộc hành hình nhạt dần cái hào hứng, sôi nổi, quan Tổng Trấn ra lệnh bắt buộc mọi nhà phải tham gia và mỗi người lớn phải ném vào phạm nhân ít nhất là một hòn đá để chứng tỏ mình là người chính trực. Đám quan lại vẽ thêm ra những quy định về kích thước hòn đá. Hình phạt ấy khiến đá trở thành khan hiếm. Đám con buôn bắt đầu hùa nhau mở cửa tiệm bán đá cho những buổi hành hình.
Bọn lính mạnh tay đẩy người đàn bà ngã giúi giữa sân nắng. Phía trước chiếc bàn có lọng che của pháp quan.
Lại những tiếng lao xao, và ở góc sân, một người đàn ông râu tóc rậm rạp đi giữa hai người lính, tiến về phía chiếc bàn của pháp quan.
Tiếng thì thào dấy lên trong đám đông. Đấng Tiên Tri, Vị Thầy khả kính, Con Trai Bác Thợ Mộc đã đến. Tôi nhướng mắt nhìn. Đúng là con trai bác thợ mộc.
Hai người lính đẩy Con Trai Bác Thợ Mộc đến sát bên người đàn bà đang ngồi co ro dưới nắng, rồi lui ra phía sau những chiếc lọng rua vàng.
Người phán quan dõng dạc đọc cáo trạng. Cái giọng oang oang tan loãng vào không gian. Bản cáo trạng tuôn chảy từ miệng ông ta như nước suối ào ào tuôn ra từ vách đá.
“Mọi người đã sẵn sàng cả chưa?” Ông ta hét lớn.
Đám đông rầm rộ vung tay đáp trả một cách nôn nóng.
Vị phán quan gật gù mãn nguyện, rồi ông ta nhìn Con Trai Bác Thợ Mộc, hất hàm, “Thầy phán quyết thế nào?” Ông ta nhấn mạnh chữ “thầy” bằng cái âm thanh mỉa mai, châm chọc và đầy thách đố.
Con Trai Bác Thợ Mộc ngước nhìn mọi người rồi thong thả ngồi xuống. Một thoáng gió lạc lõng thổi lên từ mặt hồ làm những sợi tóc đen nâu rũ xuống trán ông ta. Những ngón tay gầy thuôn vạch trên sân cát.
Ông ấy viết gì thế? Thầy viết gì thế? Ngài viết gì thế? Mọi người lao xao hỏi nhau.
Tôi chờ bản án gắt gao. Vị tiên tri trẻ, con trai bác thợ mộc; người đến đây để chấn chỉnh lại cuộc sống và lương tâm nhân loại hẳn sẽ kêu án người đàn bà thật nặng. Người đàn bà tóc tai rũ rượi kia đã có chồng, vậy mà cô ta đã dám nói với tôi rằng cô ta muốn có tôi suốt đời bên cạnh cô ta. Rồi vướng vít thế nào mà lại bị bắt quả tang đang nhập nhằng với một tay thu thuế. Đấy là chỗ đau trong trái tim tôi.
Đó là lý do tôi chọn hòn đá thật to.
Vị phán quan đứng dậy, vuốt nhẹ hàm râu. Tên lính hầu vội vã dương cao cái lọng. Vị phán quan đủng đỉnh bước ra giữa sân, chỗ Con Trai Bác Thợ Mộc đang đứng và người đàn bà ngồi co ro bên cạnh.
Phán quan cúi xuống, lầm thầm đọc. Rồi ném cho Con Trai Bác Thợ Mộc một cái nhìn gươm giáo và lặng lẽ xoay lưng, nhanh chân bước lên những bậc tam cấp của pháp đình, và mất hút bên trong. Tên lính hầu cuống quýt chạy theo.
Ông ấy viết gì thế? Thầy viết gì thế? Ngài viết gì thế?
Ngàn cái miệng réo lên câu hỏi. Âm thanh rào rào như sóng dấy mặt hồ những ngày dông bão.
Người chỉ huy đám lính bước nhanh đến chỗ ngồi của Con Trai Bác Thợ Mộc.
Ông ta nhìn chăm chú những chữ ngoằn ngoèo trên cát. Và ông ta quay mặt ra đám đông dõng dạc đọc cái câu ông ta bắt gặp.
Mọi người đồng loạt ồ lên, rồi người ta tranh nhau nói. Rồi tiếng ồn ào lắng xuống.
Cuối cùng là cái im lặng chết người.
Cái câu mà người chỉ huy toán lính vừa đọc làm lồng ngực tôi thắt lại. Những ông già, những bà già vạch đám đông bỏ về. Những gã trung niên, những phụ nữ đứng tuổi lũ lượt xô đẩy nhau. Những hòn đá bỏ lại lổn nhổn trên sân cát.
Cái túi vải bỗng dưng nặng trĩu trên vai tôi.
Tôi nhớ những cái vuốt ve cháy xém thịt da. Người đàn bà kia đã bao nhiêu lần lộng lẫy chấp chới nhưng cũng vô cùng thăm thẳm vực sâu trong cõi tối lòng tôi. Cái túi vải kéo lệch một bên vai tôi. Hai hòn đá màu xanh xám tôi dự tính ném vào nụ cười, vào câu nói ngọt ngào, vào cái vuốt ve rát ngọt của người đàn bà hư đốn. Tôi tưởng chừng mình đang vác trên vai những núi non tội lỗi. Sẽ phải làm gì với người đàn bà bội bạc kia.
Đám đông thưa dần. Tôi hốt hoảng nhìn quanh. Cái im lặng chết người phủ chụp khoảng sân ngập nắng. Sân pháp đình chỉ còn trơ trọi Con Trai Bác Thợ Mộc và người đàn bà tội lỗi. Nắng đổ lửa khắp nơi. Tôi làm gì ở đây thế này. Sao tôi không tuông chạy ngay từ khi dòng chữ của Con Trai Bác Thợ Mộc được người chỉ huy toán lính cao giọng đọc cho đám đông nghe.
Người đàn bà ngước nhìn tôi. Và cái xớn xác quyện lên trong mắt nhìn. Tôi thành tượng đá. Hai núi đá đè nặng trên vai. Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng. Tôi muốn hét lên như thế. Vị tiên tri trẻ tuổi nhìn tôi. Ánh mắt trùng trùng sự bao dung.
Tôi run rẩy tháo cái túi vải đeo vai xuống. Hai hòn đá nặng trĩu cánh tay. Tôi luống cuống dốc ngược cái túi. Hai hòn đá nặng nề lăn ra trên mặt cát.
Tôi muốn nói với vị tiên tri trẻ rằng thưa Thầy, con xứng đáng nhận cả hai hòn đá này và tất cả những hòn đá thiên hạ bỏ lại rải rác quanh đây. Nhưng tôi không thốt lên lời. Và cũng sức mạnh vô hình nào đó đẩy tôi xoay người bước đi. Một luồng gió nhẹ hiu hiu thổi, thả đến tai tôi giọng nói trầm của Con Trai Bác Thợ Mộc, “Hãy về và đừng phạm tội nữa.”
Tôi không biết nhờ gió đưa hay tại vị tiên tri cố tình muốn tôi nghe được câu nói ấy, nhưng tôi tin đó là lời dặn dò Ngài nói với tôi.
Và tôi lủi thủi ra về. Và từ đấy tôi thôi phạm tội. Tôi đã giữ mình trong sạch được – tính đến hôm nay là – sáu mươi mốt ngày.
Lời dặn dò Đấng Tiên Tri dành cho người đàn bà ấy. Cô em vợ, người tình của thằng tôi tội lỗi. Lời dặn dò ấy cũng dành cả cho tôi. Tôi còn nhớ. Và tôi tưởng cô ấy sẽ không bao giờ quên lời của Ngài.
Vậy mà hôm nay – vợ tôi mất chưa tròn một tuần trăng – cô ấy đã lại tìm đến tôi.

HOÀNG CHÍNH

THƯ GỬI KHÔNG ĐỊA CHỈ

Yêu dấu, hôm nay tôi muốn viết cho Em một lá thư, thay cho một bài thơ tình có ít nhiều vần điệu. Tôi sẽ không dán tem, bỏ vào một cái bì thư không đề địa chỉ, thả nó vào cái thùng thư nơi góc đường có nhiều người qua lại. Tôi không biết bằng cách nào Em sẽ nhận được thư tôi, nhưng hy vọng Em sẽ đọc. Vì tôi tin vào phép lạ, tin có những linh hồn vẫn có thể chuyện trò và yêu nhau đến say đắm qua không gian, dẫu chưa bao giờ thật sự nhìn sâu vào đôi mắt hay chạm vào da thịt của nhau.


Hai hôm trước nơi tôi ở có một trận bão tuyết nhỏ. Đến hôm nay tuyết vẫn không tan. Tôi đang ngồi nhìn ra khu vườn trắng xoá tuyết và tuyết, uống cafe và viết thư. Cây cối của tôi đang ngủ một giấc rất dài, 5 tháng nữa chúng mới thức dậy. Mùa đông nơi đây lạnh kinh hồn, nếu tôi không mặc đầy đủ áo ấm, áo khoác, mũ, giày ủng, găng tay mà ra ngoài trời chừng 1 tiếng đồng hồ thì chắc chắn sẽ bị viêm phổi, lâu hơn nữa thì máu trong cái thân thể mảnh dẻ của tôi sẽ đông cứng lại và tôi có thể chết. Nhưng sự lạnh lẽo của mùa đông đã rất quen thuộc với tôi, tôi đã ở cái xứ cận kề Bắc cực này trên 40 năm rồi. Tôi đã biết học về sự chịu đựng dẻo dai của cỏ.
Mà sự lạnh lẽo trong tâm hồn thì lại khác. Cỏ không dạy được cho tôi cách để tâm hồn vẫn luôn ấm áp dù không bao giờ có được một kẻ tri âm bên cạnh.

Yêu dấu ơi, tôi nghĩ là tôi đã làm việc quá nhiều, một đời. Tôi đã luôn luôn rất cố gắng, hệt như Em vậy. Cũng hệt như Em, tôi đã luôn luôn khao khát được làm Cha Mẹ mình vui, và tôi đã cố gắng làm điều đó bằng tất cả tất cả tất cả tình yêu thơ ngây của một đứa bé dành cho hai người nó yêu thương nhất trên cõi đời. Tôi đã là một đứa bé ít nói, hiền lành, ngoan ngoãn, luôn lủi thủi một mình với sách vở, cây bút và tờ giấy, không có ai chơi, không ai dắt cho đi chơi, không bao giờ đòi hỏi vòi vĩnh, và thường được Cha Mẹ và mọi người khen, nó hiền quá nhỉ, nó ngoan nhỉ, nó vẽ và viết chữ thật đẹp. Hạnh phúc của tôi những năm đầu cuộc đời chỉ là nụ cười của Cha Mẹ mình khi mỗi tháng thấy tôi mang về những cái bảng danh dự, năm nào cũng được lãnh cái phần thưởng lớn nhất, to và nặng, bọc trong những tấm giấy kính màu đỏ chói có thắt nơ.


Hệt như Em vậy. Chỉ khác là, có lẽ tôi đã biết khóc sớm hơn Em, nhiều hơn Em. Tôi chưa bao giờ bị Cha Mẹ rầy la hay đánh đập, họ rất yêu và hãnh diện về tôi, nhưng tôi lại rất hay khóc một mình. Vì sao có lẽ Em biết. Em là người nhìn xuyên thấu cả quá khứ lẫn hiện tại của tôi. Đúng là như vậy. Tôi sinh ra trong một gia đình rất nghèo, tuổi thơ tôi trải qua trong một căn nhà mái tole dột nát, vách ván chắp vá, nền nhà là cát, có nhiều chuột và gián, chỉ có một bộ đồ để mặc đi học, một bộ đồ để mặc ở nhà, và một đôi dép nhựa sứt quai buộc lại bằng sợi dây thép rỉ sét. Nhưng những điều đó không quan trọng gì lắm đối với tôi, mơ ước duy nhất của tôi lúc đó chỉ là có được vài tờ giấy trắng để viết hay vẽ lên đó mỗi ngày, tôi thèm chúng quay quắt, chỉ vài tờ giấy trắng thôi là tôi thấy mình đã ở trên thiên đường.

Ngày ấy tôi khóc nhiều hơn những đứa trẻ khác vì nhà tôi ở một nơi hoang vu gần chân núi. Nơi những tiếng bom nổ, tiếng đạn bắn thường xảy ra vào đêm khuya. Rất thường xuyên, cứ hễ 1, 2 giờ sáng là Cha tôi hốt hoảng lay tôi dậy, “Dậy mau, chạy xuống hầm, con!”. Cha tôi đã xúc cát bỏ vào những cái bao, cột kỹ, lót đầy những bao cát ấy chung quanh một cái hầm cạn. Cha nói, “Nằm sát xuống, sát xuống đất, con! Không được ngước đầu lên! Kẻo đạn lạc!”. Tôi nghe tiếng bom nổ ầm ầm, lúc nhanh lúc chậm, lúc ngưng, tôi không hiểu gì hết, chỉ thấy kinh hoàng và thấy sự lo sợ buồn bã mỏi mệt trong mắt của Cha của Mẹ. Vào buổi sáng tôi sẽ chạy ra đường ngơ ngác nhìn người ta khiêng những xác người đầy máu đi ngang qua, nghe những tiếng la khóc, kể lể… Sao lại tội nghiệp quá vậy? Tại sao? Tôi lại khóc.

Vài năm sau khi gia đình chuyển đến ở một khu vực đông đúc nhiều người ở hơn, đa số là dân lao động, tôi lại khóc nhiều hơn. Tôi nhìn thấy tận mắt cảnh người chồng đổ xăng đốt vợ cháy như một ngọn đuốc, tiếng người vợ kêu la quằn quại, hai cánh tay quơ quào, và rồi cả thân người đổ gục xuống. Tôi nhìn sững sờ, bàn chân người đàn bà bị đốt đang dãy dụa một lần cuối, rồi bất động. Tôi chạy quanh, nước mắt đầy mặt mũi, tôi khóc.
Tôi cũng thường xuyên thấy người đàn ông hàng xóm trói đứa con trai nhỏ bằng dây thừng, treo nó lên xà nhà và dùng cây gỗ đánh đập nó như đánh một con vật. Tôi nghe nó khóc la thảm thiết. Tôi nghe tiếng mẹ nó van xin. Tôi đứng bên này nhìn qua, rươm rướm nước mắt.

Tôi thấy những đứa bé gái mới mười, mười một tuổi phải đi làm công việc nặng nhọc để kiếm miếng ăn, tôi thấy chúng bị chủ chưởi mắng, đánh đập…Tôi nghe tiếng một đứa con gái mười hai tuổi thỉnh thoảng khóc lóc kêu la vào lúc nửa khuya, “Đau quá ba ơi! Con đau quá ba ơi! Tha cho con ! Ba ơi!”. Ngày hôm sau tôi nhìn khuôn mặt xanh xao của đứa con gái và những vết bầm trên mặt, trên cổ trên cánh tay nó, sự im lặng lầm lì của nó, tôi hiểu chuyện gì xảy ra, và tôi khóc nghẹn ngào, nghẹn ngào…

Và nhiều nữa. Tất cả những điều nghe và thấy này làm hai con mắt tôi luôn luôn đo đỏ, ươn ướt, có khi nhoà nhoẹt lệ. Mẹ tôi thường nhìn tôi vừa ngạc nhiên vừa xót xa, “Răng cứ khóc hoài rứa? Răng con lạ rứa? Có ai đánh đập hay la rầy chi con đâu? Chi lạ rứa?!”.Khi lớn hơn tí nữa, tôi bắt đầu làm nhiều bài thơ rất buồn. Những người bạn của tôi bảo, “Sao đa cảm quá!” . Đa số các bạn tôi đều thật vui vẻ và vô tư.

Yêu dấu, có thể cả hai chúng ta đều là người đa cảm. Chúng ta đã sống rất lương thiện, hãnh tiến và nhiều lý tưởng suốt một thời tuổi trẻ. Chúng ta mơ ước làm một điều gì đó để khiến cho cuộc sống chung quanh tươi đẹp hơn. Riêng tôi, đã có vài lần không còn muốn mơ ước về điều đó nữa. Tôi nhận ra sự nhỏ bé, cực kỳ nhỏ bé cuả tôi, nhỏ như hạt cát. Tôi nghĩ Thượng đế đang làm công việc trừng phạt của ngài, tôi không có quyền hạn gì để xin ngài khoan dung cho những tội lỗi cuả loài người. Tôi không có cái chìa khoá để mở cánh cửa địa ngục.

Bây giờ tôi chỉ muốn nằm dài bên cạnh Em thôi, trong một căn phòng có cửa sổ lớn, có gió mát. Chúng ta sẽ nằm nghe nhạc, hết bài này đến bài khác. Tôi muốn nhắm mắt và lắng nghe hơi ấm từ thân thể Em lan toả qua tôi. Tôi muốn sờ chạm vào làn da Em, trên mặt, vai, hoặc cổ, để cảm thấy sự mềm mại của nó. Khi hai làn da chạm vào nhau, những xúc cảm sẽ đồng loạt thức dậy, như cây cối thức dậy sau mùa đông. Đó là sự gần gũi cuối cùng, cái vòng tròn được khép lại của hai tâm hồn muốn hoà làm một. Hay là buông bỏ tất cả, chúng ta ôm nhau vỗ về như hai đứa bé mồ côi, Chúng ta vỗ nhè nhẹ lưng nhau và ru, và thầm thì, “Ngủ đi, ngủ đi…”Dường như tôi đã cố gắng tồn tại trong cái thế giới này để được một lần gặp Em, kẻ nhìn thấy tất cả những giọt lệ và nụ cười của tôi. Tôi đã trải qua bao lần chết đi sống lại, để được nhìn thấy Em, người sẽ nghiêm trang nhìn tôi và nói, “Tôi biết hết, tôi thấy hết, tôi hiểu hết! Chúng ta nói cùng một thứ ngôn ngữ.”

Tôi có cảm tưởng Em đã và đang nhìn tôi qua một tấm gương trong suốt. Chúng ta không chạm vào nhau, vì tấm gương chắn ngay ở giữa. Nhưng Em nhìn thấy tất cả tôi, và tôi nhìn thấy tất cả Em. Tôi nhìn thấy Em ngã xuống, không chỉ một lần. Tôi thấy Em cố gắng đứng lên rất nhanh, những sợi gân máu Em căng lên vì sự nỗ lực. Em giống như một kẻ đang chạy đua và phải chạy đến đích. Em tiếp tục chạy, hết tốc lực. Nhưng tôi thấy nước mắt Em khóc, từ bên trong trái tim. Tôi thấy Em đã đến đích, vượt qua lằn vạch, và đứng ngay đó, ngơ ngác nhìn quanh, không thật sự nghe thấy gì cả, những tiếng hò reo, những lời khen tụng. Em đứng đó, hoàn toàn một mình, lạc lõng, như đang đứng trong một giấc mộng, trong đó không có ai, chỉ có mỗi mình Em.
Tôi thấy Em chảy nước mắt. Tôi cũng biết hết, hiểu hết về Em, tôi có thể hiểu ngôn ngữ Em nói. Tôi và Em bắt được tần số của nhau.

Tôi đã đứng ngồi không yên khi nhìn thấy Em khóc. Chẳng phải chỉ là những giọt lệ, mà còn cả tiếng nấc, nức nở, nức nở. Em đã cố gắng để đạt tới, để trao tặng những gì đẹp nhất, ngời sáng nhất của Em, nhưng người nhận không còn nữa. Không còn ai hiểu Em nữa, không còn ai yêu Em nữa, không còn ai chia sẻ những thành quả đạt được cuả Em nưã. Người ta khen tặng, có thành thật, có đãi bôi, nhưng trong lòng thì đầy những sự ganh tỵ, thậm chí cả tức giận và đau đớn khi ở gần Em. Ai cho phép Em đẹp rạng ngời đến như vậy? Ai cho phép Em thánh thiện đến như vậy? Ai cho phép Em tài giỏi và tài hoa đến như vậy? Ai cho phép Em làm được những điều mà tất cả mọi người không thể làm được? Ai cho phép mắt Em sáng rực và nụ cười Em thật hiền hoà bao dung? Em từ hành tinh nào tới vậy? Em là một sinh vật lạ không nên có mặt trên trái đất này.

Nhưng tôi lại đang nhớ Em quay quắt. Mắt tôi cứ đỏ mãi, lệ cứ rưng quanh tròng mắt. Sao tôi lại cứ sợ hãi và lo lắng. Tôi không tìm ra lý do tại sao. Tôi có điên không? Tôi vẫn đang làm việc, đi đứng bình thường mà. Sao tôi lại cứ nhớ đôi mắt mở to nhìn xuyên thẳng vào mọi thứ cuả Em, nhớ nụ cười e lệ của Em, nhớ sự ngây thơ trẻ con của Em bị giấu kín trong mấy lớp vỏ bọc kiên cố. Sao tôi lại cứ ước ao Em đang hạnh phúc hơn?

Trái tim tôi đang hoạt động một cách bất thường. Em có sẽ giết tôi chết bằng thứ tình cảm kỳ lạ này không? Đôi khi tôi nhìn, qua tấm gương trong suốt, đôi mắt nhìn như xoáy và hút của Em, và rùng mình, muốn quay đi. Nhưng tôi đã biết mình không bao giờ có thể, bởi đó là Định Mệnh.
Tôi sẽ đi bỏ thư đây. Và để trống phần địa chỉ người nhận.
(19.01.2022)
TRÂN SA

TRĂM NĂM ĐỂ ĐỢI

  • Tôi quan niệm tội lỗi thường bị tạo ra từ những tâm hồn yếu đuối hay bệnh hoạn. Vì thế, tội lỗi nhiều khi cần được tha thứ và chữa trị chứ không phải là trừng phạt

    Hoàng hôn trên đồi luôn xuống chậm, nắng tháng chạp cứ nhợt nhạt dần rồi biến mất đâu đó, chỉ để lại một vầng sáng ở cuối chân trời… bức tượng Nàng Tiên Cá ở  góc vườn bắt đầu óng ánh một màu xanh tím buồn ảm đạm từ ánh đèn Solar phát sáng.
    Khung cửa sổ mở ra trong đêm, đôi mắt Y đắm đuối nhìn tác phẩm cuối cùng của mình với một niềm hạnh phúc vô biên! Y luôn bắt tôi nghe nhiều lần một câu chuyện cũ, một câu chuyện tôi đã thuộc lòng, nhưng mỗi lần nghe đều cảm thấy bất an.

    Y là một họa sĩ trẻ, như mọi người trẻ tuổi khác, tạo một chút tiếng tăm chẳng dễ dàng gì, nhất là khi sự giáo dục nghiêm khắc và đạo đức của gia đình không thể cho mình bất chấp mọi thứ để có chút tiếng tăm!
    Y ra trường, thất nghiệp… nghe lời khuyên của người bạn thân, Y mở một phòng tranh trên con đường ra biển… những bức tranh của Y thật buồn, thật đẹp , thật khó hiểu nên chẳng ai mua dù trong một thời gian dài người bạn đã bỏ công, bỏ vốn marketing không hề mệt mỏi… khách du lịch thì cứ đến ngắm nghía, chụp hình rồi đi.

    Một ngày, người bạn đem đến phòng tranh một cô gái xinh xắn, dễ thương:
    – Đây là Mermaid, cô ấy sẽ giúp Y chăm sóc phòng tranh.
    Y đã quá chán nản vì phải đi tới đi lui, giải thích tường tận ý tưởng, nội dung, hình thức cho nhiều người khi họ tạt ngang dù chỉ để chụp hình chứ không hề có ý định mua tranh nên trút cái gánh nặng này qua Mermaid.
    Mermaid tóc dài vàng đậm, hơi xơ xác, dáng mảnh khảnh hoang dã, da ngăm ngăm màu mật như các cô gái vùng bán nhiệt đới. Khi đã khá thân, Y biết cô có nguồn gốc từ  vùng Argentina và cô đã có gần 10 năm đóng vai Nàng Tiên Cá trong một công viên nước nổi tiếng của tiểu bang California. Công việc của cô chỉ là ngồi trong chiếc vỏ sò lớn giữa một ốc đảo nhân tạo để du khách chụp hình. Công việc đơn điệu và buồn chán!

    Nếu khi sinh ra đời, Thượng Đế đã sắp đặt cho mỗi sinh mệnh một số phận thì số phận của cô mãi mãi là một nàng tiên cá. Cô lạc lòng đi theo tiếng gọi của một chàng Hoàng tử trong ảo vọng của những làn khói Marijuana ma mị của những đêm quay cuồng trong quán rượu. Ban ngày chàng Hoàng tử của cô hiện nguyên hình là một gã lang thang cho thuê ván trượt trên bãi biển. Cô bỏ việc dù nó ổn định và dễ dàng nhất trong những công việc cô có thể lựa chọn! Người bạn của Y vốn là một Mục sư, luôn muốn làm cho đến nơi đến chốn những việc mà bạn nghĩ là tốt đẹp, đã nhặt Mermaid khi cô đang say ma tuý bên góc nhà thờ, bệ rạc như một con búp bê rách nát mà đứa bé chơi chán ném đi, mang cô vào trại cai nghiện sau đó tạo cho cô một việc làm tử tế là đưa cô đến giúp Y và người bạn đã rất hài lòng vì sự hợp tác thật tốt đẹp này.

    Qua những lời giới thiệu và giải thích bay bổng đầy hoang tưởng từ Mermaid hoặc bởi cái vẻ man dại của cô, những bức tranh âm u của Y biến thành huyền thoại của các vị thần linh để chúng trở nên những bức tranh có  giá trị trong giới hội họa và có giá cao trên thị trường mua bán! Đã có những bài báo viết về phòng tranh Y&M, đã có những nhà báo đến phỏng vấn chàng họa sĩ trẻ và nàng Digan xinh đẹp. Điều may mắn đó đồng thời cũng đem đến một niềm bất hạnh. Chàng Hoàng tử của Mermaid xuất hiện trước phòng tranh vào một trưa nắng loá. Đứng ngược nắng, chàng còn rực rỡ hơn cả vầng sáng chiếu trên mái tóc vàng như một ánh hào quang. Y thấy trái tim mình hẫng đi vài nhịp. Có những cái đẹp không thể cứu rỗi thế giới mà ngược lại, nó làm băng hoại những gì đẹp đẽ nhất. Có những cái đẹp làm trái tim tan nát buồn đau. Có những cái đẹp xui người ta phạm tội. 
    Đêm rất muộn, bên những ly pha lê lóng lánh màu rượu đỏ, chàng Hoàng tử cầm bàn tay lạnh tái tê của Mermaid, thì thầm:
    – Cô bạn nhỏ, tôi không thể dối lòng… tôi xin lỗi.
    Đôi mắt màu hổ phách man dại của Mermaid cũng ánh màu rượu đỏ:
    – Tôi biết điều ấy, nhưng sao lại chọn Y?
    – Tôi không hề chọn, tình yêu đâu phải là một món hàng để so đo tính toán!
    Và Y, tiếng vọng từ thẳm sâu ký ức đau đớn nghẹn ngào… 
    hãy mang đi hồn tôi
    một hồn đầy bóng tối
    một hồn đầy hương phai 
    một hồn đầy gió nổi… ( Du Tử Lê)
    Mermaid trót mang định mệnh của một nàng tiên cá nên cô đã nghẹn ngào buông tay trôi dạt về biển khơi vào một ngày bão tố điên cuồng ở Vịnh Tampa.
    Người bạn Mục sư ngao ngán thở dài : “tôi không cổ suý cho những hành vi suy đồi của đạo đức, tôi không muốn nhìn thấy những tội lỗi của trần  gian, nhưng con người thật yếu đuối, họ dễ vấp ngã để rồi gục ngã trước những hệ lụy gập ghềnh. Với Mermaid tôi không nghĩ rằng linh hồn cô đời đời sa địa ngục, cô sẽ bay lơ lững giữa các tầng trời trong 300 năm chờ đợi một người yêu cô hơn bản thân họ như lời nguyền của những nàng tiên trong cổ tích để rồi cô sẽ trở lại làm người tử tế!…”
     Còn tôi, người kể chuyện, vốn là một con người vô tín ngưỡng, chỉ tin vào những điều có thật đang diễn ra trong cuộc sống, có khi viên mãn, có khi chua xót đau buồn. Tôi quan niệm tội lỗi thường bị tạo ra từ những tâm hồn yếu đuối hay bệnh hoạn. Vì thế, tội lỗi nhiều khi cần được tha thứ và chữa trị chứ không phải là trừng phạt! Nên tôi luôn thực tế để kéo mọi sự, mọi điều vào trật tự vốn phải có của nó:
    – Y này, bạn đã yêu Mermaid hay yêu chàng Hoàng tử?
    Y nhìn tôi, nhẹ nhàng trả lời với một vẻ xót thương:
    – Bạn thì biết quái gì về tình yêu! Muốn nói về một tình yêu đích thực  bạn phải có cả trăm năm để đợi…

    Tôn Nữ Thu Dung

MƯA PHÙN MỖI TẾT

Em đi đầu trần không nón lá,
Mưa phùn trên tóc, gió bay em!
Có ai đứng núp sau bờ giậu,
nói với lòng:  Thương Nhớ Chớ Quên!

Em đi mùa Xuân, bay theo người,
Chắc em biết chớ?  Thấy em vui?
Chỉ buồn:  con bướm không theo được,
Em một mình!  Em Không Có Đôi!

Hồi đó, hồi xưa, còn nhỏ quá,
Chỉ nghe tim đập lạ không ngờ:
Kìa ai mưa Tết, đầu không nón
Tóc gió bay cùng những sợi mưa!

Hồi đó, bây giờ…biển biển xa,
Biết mưa dịp Tết ở quê nhà…
Ai thương bờ giậu xanh hồi nhỏ,
Mai hết mưa nhìn lén nhé, hoa…

Hoa có hương là hương Xuân hồng
Mưa phùn không chỉ một bên sông!
Người đi nửa bước đầu không nón
Nửa bước làm ai vạn nhớ nhung!

Trần Vấn Lệ

  Dẫu lìa ngó ý



Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng
(Nguyễn Du)

Nhà thơ ngụ ngôn người Pháp La Fontaine đã nói một câu rất hay về tình bạn: “Tình yêu thật sự đã hiếm; tình bạn thật sự còn hiếm hơn ”.

Cát Đằng, tên một loài hoa leo có màu xanh pha tím, mỏng mảnh. Bạn tôi cũng dịu dàng, mềm mại, quý phái như hoa.

Chúng tôi thân nhau từ thuở nhỏ, lúc còn học trường tiểu học Đoàn Thị Điểm trong Thành Nội. Hai đứa cứ thế lớn dần lên, lần lượt qua bên kia sông Hương học Đồng Khánh rồi Văn Khoa…

Nhà Cát Đằng nằm ở một góc nhỏ trên đường Mai Thúc Loan. Căn nhà cổ xưa như cuộc sống quan cách của gia đình. Ba Cát Đằng làm công chức cao cấp của Ty Ngân khố Thành phố. Ông đặt cho con những cái tên thật đẹp của các loài hoa : Cát Đằng, Đỗ Quyên, Hoàng Lan…Mấy chị em sống khép kín như những con ốc trong bốn bức tường rêu.

Tôi, tên bình thường : An Nhiên, gia cảnh cũng “thường thường bậc trung”, tóc cắt kiểu Demi Garçon, tính tình đôi lúc ương bướng. Vậy mà chúng tôi thương nhau vô cùng. Chỉ có tôi dám bước qua hai cánh cổng sắt luôn khép kín trong tiếng sủa của con Berger để rủ Cát Đằng đi học. Cũng chỉ có tôi chiếm được lòng tin của ba mạ Cát Đằng. Hai bác nghiêm nghị nhưng coi tôi như con. Hình như hai bác xem tôi là một lá chắn bảo vệ cho cô con gái yếu ớt của mình.

Chúng tôi đã có một thời thơ ấu thật đẹp và hồn nhiên. Những chiều mùa hạ dắt nhau vô con đường bên hông Đại Nội gần cà phê mụ Tôn, nhặt bông phượng đỏ về làm bướm. Những sáng mùa đông sương mù lạnh buốt chở nhau qua cầu Phú Xuân, gió hung hăng như muốn quật hai đứa xuống sông. Những đêm cùng học bài thi, em gái Đỗ Quyên đem vào phòng cho hai chị chén chè hạt sen long nhãn mát rượi. Mạ Cát Đằng thường cười bảo tôi “Phải chi An Nhiên là con trai, bác gả Cát Đằng cho cháu.”

Tuổi dậy thì hồn nhiên và mơ mộng. Cát Đằng đẹp, nhiều người tán. Tan học về bao nhiêu cái đuôi theo, mãi cho đến cửa Hiển Nhơn mới chịu lui gót. Tôi như garde corps cho bạn. Những chàng sinh viên mê Cát Đằng, nhờ tôi làm chim xanh kèm theo nhiều món quà hậu hĩnh, trong số có cả con của một ông Trưởng Ty đang theo học trường Y. Nhưng tôi từ chối. Không ai hiểu bạn hơn tôi. Cát Đằng tâm sự : “Sao mình thấy ông nào cũng nhẵn nhụi như Mã Giám Sinh. Ngó phát ớn!”. Người hùng trong tâm tưởng Cát Đằng phải bụi bụi như tài tử Charles Bronson, đêu đểu với bộ ria giống nụ cười của Clark Gable hoặc chí ít cũng phải lãng tử như Gregogy Peck trên chiếc Vespa cổ chở nàng công chúa Audrey Hepburn chạy khắp thành Rome trong Vacances Romaines… Thâm tâm tôi thấy bạn mình quá lãng mạn. Biết tìm đâu ra người lý tưởng trong môi trường phố thị này?

Ấy thế mà một hôm thật bất ngờ, “người hùng” của bạn đã xuất hiện. Đó là một buổi sáng “đầy sương thu và gió lạnh” như trong văn Thanh Tịnh, đoàn Sinh Viên Sỹ Quan trường VBQGVN về Huế vào Đại Học Văn Khoa tuyển quân. Phải công nhận sự có mặt của họ như một hiện tượng trong sân trường xưa nay toàn áo dài, chemise , quần tây. Trong trang phục worsted thật đẹp, thật hào hùng mặt anh nào cũng sáng láng thông minh. Họ trình bày thật ấn tượng về ngôi trường quân sự ở Đà Lạt ngang ngửa với Saint Cyr của Pháp, West Point của Mỹ. Đứng bên những chàng trai Văn Khoa “trói gà không chặt”, trông các anh cao to và đường đường khí thế. Nhìn qua cạnh mình, tôi thấy Cát Đằng như trên mây. Nàng say sưa dán mắt vào anh SVSQ đang giới thiệu chương trình đào tạo. Anh nói giọng Bắc pha chút Huế. Khi chàng ta đi từng bàn phát những tờ ảnh về ngôi trường cho sinh viên nam, Cát Đằng cũng nhoài người qua xin một tờ. Một thoáng ngạc nhiên nhưng người SVSQ vẫn lịch sự trao tận tay nàng. Mắt hai người gặp nhau. Một cái gì đó thật lạ lần đầu tiên tôi thấy xuất hiện ở cô bạn mình. Má nàng ửng hồng , ánh mắt long lanh, môi mọng ướt mềm…Chuông reo giờ ra chơi, hai người còn trao đổi với nhau suốt cả mười lăm phút bên hành lang Morin.

Ra về, tôi bảo Cát Đằng “Mình thấy hình như có Coup de Foudre”. Nàng yên lặng do dự một chút rồi bảo tôi : -“An Nhiên ơi, bạn có thương mình không?”. Tôi ngạc nhiên : – “Tui không thương bạn thì thương ai?” – “Vậy thì chiều ni bạn xin mạ cho tui qua chơi nhà bạn hí! ” “- Được thôi mà”

Buổi chiều , tôi ngồi chờ bạn trên chiếc xích đu dưới giàn bông giấy. Nàng xuất hiện trong chiếc áo mousseline màu xanh trứng sáo, quần tây đen. Trông Cát Đằng xinh xắn làm sao. Hèn gì con ông Trưởng Ty mê nàng như điếu đổ. Ngồi nói chuyện với tôi mà mắt nàng nhìn ra cổng như ngóng trông ai…Và bốn giờ chiều. Một bóng người trước cửa. Anh chàng Sinh viên Võ bị hồi sáng…Cô nàng thông minh thật, lấy địa chỉ nhà tôi làm nơi gặp gỡ.

Tôi không tin lắm vào duyên tiền định. Xưa nay, ba mạ vẫn hay nói tôi là kẻ cứng lòng. Nhưng với cô bạn thân Cát Đằng thì tôi nghĩ đó là một mối nhân duyên mà tôi là người góp phần dung túng, ủng hộ. Cô bạn tôi không phải là type người “ yêu cuồng sống vội”. Xưa nay nàng chưa hề cười với ai một nụ. Con nhà gia thế, kín cổng cao tường. Điều gì đã làm cho nàng dám vượt qua khuôn phép gia đình và xứ Huế vốn dễ tiếng tăm?

Chàng sinh viên sỹ quan ấy tên H. đang theo học năm thứ ba trường Võ bị. Anh gốc Bắc, di cư vào Nam năm 54, chọn Huế làm quê hương thứ hai. Anh sống cùng mẹ và chị gái bên Bến Ngự. Anh hơn chúng tôi năm tuổi, trước đây từng học MPC rồi mới quyết định tòng quân. Đợt tuyển quân này là một cơ hội cho anh về thăm mẹ và số phận đưa đẩy để hai người gặp nhau.

Anh H. hiền, tính điềm đạm. Tôi chắc bạn tôi không chọn nhầm. Hai người có một tuần để hiểu nhau. Tôi nhiều lần qua nhà Cát Đằng xin cho bạn đi học nhóm, đi thảo luận… để rồi sau đó chở nàng lên đồi Thiên An, chùa Từ Hiếu hẹn hò. Trong khi hai người trò chuyện, tôi lặng lẽ đi dạo dưới những hàng thông hoặc ngồi đọc sách bên hồ Thủy Tiên để rồi sung sướng ngắm nhìn bạn sáng ngời trong hạnh phúc. Tình yêu làm người ta đẹp ra. Anh H. đưa chúng tôi về thăm gia đình. Căn nhà nhỏ nép mình trong một khu vườn sum suê cây trái.Tiếng chim sâu kêu lách chách. Bà mẹ hiền lành mừng rỡ đón bạn của con; người chị gái tên Hương thương em vô hạn, chăm anh từng ly từng tý. Tôi mừng cho Cát Đằng.

Anh H. trở về Đà Lạt tiếp tục khóa huấn luyện. Nhà tôi trở thành địa chỉ cho hai người trao đổi thư từ. Những bức thư đều đặn hàng tuần. Cát Đằng có một cái hộp bánh CHOCOLATE hình chữ nhật .Đọc xong thư bạn cất vào đó và nhờ tôi giữ hộ. Cuộc tình vẫn nằm trong bí mật với gia đình và bạn bè. Không ai biết ngoài tôi.

Gần cuối năm 1971, sau khi đọc xong lá thư có cái insigne rồng vàng ôm kiếm thiêng, Cát Đằng có vẻ suy tư. Bạn ngồi trầm ngâm trên chiếc xích đu trắng nhìn mông lung. Tôi mở lời : “Răng đó? Giận nhau hả?”. –“Không, có chi mô”. Lần này, bạn cầm lá thư về chắc để đêm nghiền ngẩm.

Con đường đến giảng đường sáng hôm sau như dài ra với sự yên lặng của Cát Đằng. Giờ English Grammar bạn dường như không nghe lời thầy John Schaffer giảng. Lúc ra chơi, đứng ở khung cửa sổ nhìn xuống đường Lê Lợi, Cát Đằng đưa bức thư cho tôi : “An Nhiên đọc đi !”.Tôi liếc nhanh qua bức thư với những lời yêu thương nồng thắm nhớ nhung chất ngất, hơi đỏ mặt vì thấy mình xâm phạm chuyện riêng tư của bạn. A, đây rồi. Cái lý do làm bạn tôi trăn trở hai ngày nay. Anh H. muốn bạn tôi có mặt trong đêm Lễ trao nhẫn truyền thống của SVSQ năm 3 trường Võ Bị. Là răng? Cát Đằng đi Đà Lạt ư ? Tôi không thể hình dung được chuyện này. Không được. Chuyện quá nghiêm trọng với con gái Huế, nhất là với bạn tôi, một người chưa hề bước chân qua đèo Hải Vân.

Ánh mắt của Cát Đằng tha thiết: “ An Nhiên giúp mình đi. Năn nỉ mà. Cam đoan không có chi xảy ra. Mình đi ba ngày. Chỉ bạn mới có thể giúp mình…”. Điều gì khiến một người con gái dịu dàng như Cát Đằng nẫy ra quyết định liều lĩnh thế ? Cái này gọi là sức mạnh của tình yêu đấy ư ? Xưa nay tôi vốn dị ứng với thứ tiểu thuyết lãng mạn của Quỳnh Dao và hoàn toàn không tin vào nhan đề một cuốn truyện của Lệ Hằng “Chết cho tình yêu”. Không, không đựơc.

Hai đứa không nói chuyện với nhau suốt ba ngày. Nhưng cái vẻ ủ dột của Cát Đằng làm tôi thương xót. Anh H. cũng gởi cho tôi một bức thư ngắn. Anh bảo chính vì xem Cát Đằng là người trăm năm nên anh muốn nàng có mặt trong buổi lễ trang trọng và ý nghĩa này. Anh chịu trách nhiệm về chuyến đi. Lòng tôi mềm ra. Tình yêu xét cho cùng cũng có cái lý của nó. Tôi trở thành kẻ đồng lõa trong cuộc hành trình của bạn.

Vậy là tôi sang nhà xin ba mạ Cát Đằng cho hai đứa vào Đà Nẵng ăn cưới bà chị họ. Mạ bạn tỏ ra e ngại như tất cả những bà mẹ người Huế. Nhưng ba bạn thoáng hơn, hình như ông đang vui vì mới trúng một cú affaire. Hơn nữa, chơi với Cát Đằng hơn mười mấy năm, gia đình bạn tin tưởng tôi tuyệt đối.

Ba của bạn đích thân chở chúng tôi ra bến xe. Ông không thể ngờ rằng khi tới Đà Nẵng, việc đầu tiên của chúng tôi là đến ngay Air Việt Nam trên đường Độc Lập. Và chuyến bay DC six đưa Cát Đằng lên thành phố cao nguyên lúc hai giờ chiều để tôi ở lại với cõi lòng như lửa đốt.

Ba đêm tôi ăn không ngon, ngủ không yên ở nhà bà chị. Tôi chắp hai tay cầu nguyện Chúa, Phật và tất cả các đấng siêu nhiên cho chuyến đi thuận buồm xuôi gió. Tôi hơi ân hận vì đã lạc lòng trước những giọt nước mắt của bạn. Có chuyện gì xảy ra với Cát Đằng chắc tôi không sống nổi…

Và chiều thứ hai tôi đã oà khóc tức tưởi khi thấy bạn bước ra từ chiếc Bus của Hàng không Việt Nam.

Nhưng quả thật, chưa bao giờ tôi thấy bạn xinh như vậy. Mặt Cát Đằng hớn hở như trăng rằm, môi cười rất tươi. Nàng ôm choàng lấy tôi, hôn lên má : – “Cám ơn An Nhiên. Chúng mình cám ơn bạn vô cùng”. Những giận hờn trong tôi đều tan biến.

Trên chuyến xe ra Huế, Cát Đằng tíu tít kể cho tôi bao nhiêu chuyện . Thành phố hoa, những con dốc mù sương, chuyến xe ngựa vòng quanh bờ hồ Xuân Hương và một tấm ảnh đầy ấn tượng. Dưới ánh đèn huy hoàng có hàng chữ Lễ trao nhẫn với hai cái dấu như hai vương miện, bên một cái nhẫn to được trang trí cách điệu lộng lẫy, bạn tôi âu yếm lồng vào tay anh H. chiếc nhẫn Võ Bị. Họ như đôi tân lang và tân nương trong ngày cưới. Mãi mãi đây là một bí mật chỉ riêng ba người biết…

Thi thoảng chúng tôi qua Bến Ngự thăm nhà anh H. Mẹ anh coi Cát Đằng như con dâu tương lai. Bà kể về tuổi thơ vất vả của anh từ khi di cư vào Nam, về lúc cha anh mất , về người con trai cả tên Hùng phải lưu lạc vào Bình Dương kiếm sống. Có những đoạn xúc động, bà rươm rướm nước mắt. Cát Đằng ngồi kế bên bóp nhẹ tay bà. Một hình ảnh dễ thương làm sao. Bà còn dạy cho bạn tôi cách chế biến những món ăn mà con trai thích như canh cua rau đay, bún chả…

Cuối năm 1972 anh H. ra trường. Anh có mười ngày phép trước khi về trình diện tại Sư đoàn 9 Bộ binh có biệt danh “ Mũi tên thép”, Bộ Tư Lệnh Sư đoàn đóng ở Vĩnh Long,Tư lệnh là Chuẩn Tướng Trần Bá Di. Chiến trường miền Trung đang sôi động với chiến dịch tái chiếm Cổ thành Quảng Trị. Đêm đêm tiếng đại bác ì ầm từ phía Bắc vọng về. Thành phố Huế tràn ngập màu áo lính rằn ri. Cát Đằng có vẻ yên tâm với sự chọn lựa này dù hai người có xa nhau về không gian. Mười ngày, tôi phải ra sức bao biện cho bạn để họ có những giây phút hạnh phúc.

Rồi cũng đến lúc chia ly. Chúng tôi tiễn anh vào Nam. Hình ảnh cuối cùng trong mắt tôi là cảnh chàng thiếu úy trẻ trai cầm chặt tay người yêu nói những lời từ biệt : “Em cười đi. Cát Đằng cười đi cho anh yên tâm. Anh sẽ về với em và sẽ thưa chuyện với ba mẹ”. Bạn tôi cười mà nước mắt hoen mi.

Như muốn làm Cát Đằng yên tâm, thư anh H. gởi về liên tục. Anh đóng quân ở Cao Lãnh. Anh làm Đại đội trưởng một đại đội trực thuộc Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 14. Anh nói về một vùng đất trù phú, những người dân miền Nam hồn nhiên, những đồng ruộng bạt ngàn, những cánh đồng chó ngáp… Anh ít kể chuyện chiến trường, chắc để người yêu bớt lo.

Nhà ông Trưởng Ty muốn dạm ngỏ Cát Đằng trước khi con trai đi du học. Cô bạn tôi nói với ba mạ “Con chưa muốn lấy chồng” nhưng sau đó cô gặp riêng chàng trai và bảo “Tôi có người yêu rồi. Anh đừng mất công” .Tội nghiệp anh chàng cứ đứng ngẩn tò te.

Cứ thế, những lá thư nối hai niềm vui. Cát Đằng mơ màng dự trù với tôi về tương lai. Một ngôi nhà với ngọn lửa ấm và những đứa con ngoan sẽ ra đời. Ước mơ trong tầm tay với. Tôi chia sẻ hạnh phúc với bạn bằng nụ cười bao dung.

Buổi chiều hai đứa ngồi trước sân hóng gió thì một cánh chim sâu sa xuống trước mặt. Bạn tôi nâng nó lên, âu yếm vuốt ve “Tội nghiệp mày chưa. Chị nuôi em nhé!”. Mạ Cát Đằng đi từ nhà sau lên hốt hoảng: “Chim sa cá nhảy. Ăn nói bậy bạ”. Rồi bà lấy một nắm gạo muối tung ra sân. Bạn tôi le lưỡi “Mạ sao mê tín dị đoan. Thả con chim thấy tội bắt chết!”

Huế tháng chín. Mùa thu. Những trái thanh trà da đã rám vàng. Tôi chở Cát Đằng lên Nguyệt Biều chọn những trái thật ngon về cúng Rằm tháng Tám. Bạn không quên lựa một cặp thật đẹp để biếu mẹ anh H. chưng bàn thờ. Hai đứa ngồi thòng chân xuống dòng nước sông Hương trên bến đò Giã Viên. Trời thật đẹp. Nắng vàng như mật . Gió hiu hiu. Cát Đằng thở dài “Phải chi có anh H ”. Tôi nguẩy vai “Rồi sẽ có ”.

Rẽ vào căn nhà dốc Bến Ngự. Cô bạn nhanh nhẹn nhảy chân sáo trên lối đi quen thuộc. Nhà vắng ngắt. Mùi hương trầm thoang thoảng trên bàn thờ . Chị Hương ngồi lặng trên ghế, nước mắt chảy quanh. Bạn tôi hốt hoảng: “Có chuyện chi rứa chị ? Mẹ mô rồi? ”. Chị Hương òa khóc: “ Mẹ với anh Hùng đi Vĩnh Long. Em ơi, thằng H.”…. Cát Đằng quỵ xuống đất.Tôi và chị Hương đỡ vội lên. Mặt bạn tái xanh, hơi thở ngắn như không còn sức sống. Tôi rót cho bạn một ly nước lọc rồi hỏi han chi tiết. Chị Hương kể cho tôi nghe trong tiếng sụt sịt. Anh Hùng từ Bình Dương gọi ra báo tin anh H. bị thương nặng trong cuộc hành quân vào mật khu ở quận Mỹ An, vùng Đồng Tháp Mười . Mẹ chị đang trên đường vào, chưa biết chi thêm.Trong bóng chiều chạng vạng, ba chị em ngồi yên lặng. Không ai đủ sức đưa tay bật ngọn đèn điện. Chao ôi! Tuần trước tôi vừa đưa thư cho bạn. Anh đang đóng quân ở Đồng Tháp. Anh kể cho bạn nghe về Gò Công – quê hương của bà Từ Dũ mẹ vua Tự Đức; về cam Cái Bè; về mận Trung Lương …Thượng đế ác nghiệt vậy sao? Anh vừa tròn 26 tuổi, ra trường mới chín tháng…

Không biết bằng cách nào tôi đã đưa được Cát Đằng về đến nhà. Bạn ngồi sau tôi xiêu vẹo như một cái xác không hồn. Tôi nói với bác gái bạn bị trúng gió rồi đưa bạn vào phòng. Chân tay bạn lạnh ngắt. Đêm ấy tôi xin ở lại, thi thoảng lắng nghe tiếng rên rỉ đau đớn của Cát Đằng. Mọi ngôn ngữ trong giây phút này đều bất lực!

Nhưng nỗi bất hạnh không chỉ ngang chừng đó.Trong khi Cát Đằng định thưa thật với ba mạ để xin phép vào Vĩnh Long thì mươi hôm sau, mẹ anh H. nhắn ra anh H. không chỉ bị thương nặng mà còn mất tích. Cầm bằng như anh đã chết.Thôi còn mong chi nữa. Lần này thì bạn tôi quỵ ngã hoàn toàn. Nỗi đau ẩn giấu tận trong tim biến bạn thành một bóng ma câm lặng. Bác gái cứ căn vặn tôi hai đứa có chuyện chi không. Làm sao tôi dám trả lời. Thôi cứ đế bác tối tối thắp nhang ngoài cổng ngõ cầu cho con gái yêu đừng mắc “bệnh đàng dưới ”.

Phải sau ba tháng mẹ anh H. mới ra Huế. Bà sút gần bốn kí và hốc hác hẳn đi. Bà ôm lấy Cát Đằng khóc nghẹn “Con ơi! Bác không có duyên làm mẹ con rồi !”. Cát Đằng òa lên nức nở. Thôi cứ để bạn khóc cho nhẹ lòng.Tôi thật đau xót khi thấy đêm đêm bạn lôi tấm ảnh hai người trao nhẫn ra ngắm nghía.

Không hiểu sao nhà anh H. không lập bàn thờ. Có lẽ niềm tin của người mẹ cho rằng con mình chưa chết. Vâng, mất tích chưa hẳn là chết. Mắt anh sáng, tai anh to vậy mà. Chắc bác vẫn hy vọng một phép mầu nào đó chăng? Căn nhà đóng kín cửa. Mẹ anh H. vắng nhà luôn. Chị Hương bảo bà vào Bình Dương chơi với cháu nội cho đỡ buồn. Khu vườn rộng thui thủi một mình chị. Mỗi lần ghé thăm, nhìn Cát Đằng, chị lại bệu bạo “ Số em sao khổ thế H. ơi !”

Những đợt trao trả tù binh hai bên ở Lộc Ninh, Quảng Trị làm cho Cát Đằng hi vọng. Biết đâu anh sẽ trở về. Anh chỉ bị thương thôi mà. Bạn chăm chú theo dõi trên những tờ báo Tiền Tuyến, Sóng Thần… Nhưng tháng ngày qua. Niềm hi vọng hầu như đã thành tuyệt vọng. Bất chấp hiệp định Paris, chiến sự ngày càng ác liệt. Máy bay cứu thương liên tục hạ xuống bệnh viện Mang Cá trong Thành Nội…

Rồi Huế nháo nhác, tan tác…Rồi đất nước tang thương…

Ba Cát Đằng đi “cải tạo” vì bị xếp vào loại “ Ngụy quyền”. Bạn tôi bước xuống cuộc đời.

Trải một tấm nilon ở góc chân cầu Trường Tiền, Cát Đằng đi bán chợ trời. Cô tiểu thư con nhà quyền quý ấy bây giờ phải bươn chải với gánh nặng áo cơm của cả gia đình. Bạn bán từng cái áo nhà binh cho người đi lao động, vài cái loon Guigoz tiện cho người đi thăm nuôi, những chiếc áo dài cũ của vợ các sỹ quan một thuở huy hoàng, gói thuốc lá Tam Đảo nặng mùi khét lẹt cho đến cái chén kiểu, ly tách sang trọng một thời vang bóng…Nhìn bạn đếm từng hào tiền Bắc sau buổi chợ, tôi chảy nước mắt. Nhưng một nửa đất nước đều như thế, biết làm sao.

Thỉnh thoảng nhờ em gái Hoàng Lan coi hàng, chúng tôi lên Thiên An quét lá thông về làm chất đốt. Củi cũng phải mua bằng tem phiếu mà gia đình chúng tôi làm gì có đặc quyền đặc lợi ấy. Sau khi nhét đầy lá vào hai bao tải, chúng tôi ngồi dựa gốc cây nghỉ mệt. Cát Đằng âu sầu đưa mắt nhìn chung quanh.Tôi biết trong đầu bạn đang nghĩ về những kỷ niệm xưa. Cũng nơi này, ngày ấy có một cặp tình nhân thật đẹp đang nắm tay nhau đi dưới rặng thông. Cảnh đấy người đây nhưng một người đà khuất bóng. Tôi không dám gợi lên điều gì với bạn. Mọi chuyện cứ như là một giấc mơ nhưng mỗi sáng mai thức dậy lại phải đối mặt với sự thật kinh hoàng.

Thành phố tăm tối hẳn đi. Mới 8 giờ tối điện đã cúp. Những chiếc Honda đổi chỗ cho giai cấp cán bộ. Huế xuất hiện xe đạp thồ. Những khuôn mặt đau khổ nhếch nhác. Những câu ca dao hiện đại được thầm thì chuyền miệng. Những bài hát được chế biến bi hài. Người ta nhắc lại câu nói mười bốn chữ bất hủ của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. “Rồi cứ thế ni mãi răng???” Mạ tôi ngữa mặt than trời rồi chặt hết những cây mai vàng thay vào mấy luống khoai lang cứu đói!

Bốn năm sau, ba Cát Đằng chết trong tù vì sức tàn lực kiệt. Mạ bạn khô nước mắt đi thăm mộ chồng ngoài Thanh Hóa. Một mô đất trơ trọi trong rừng được đánh dấu bằng viên đá xanh lớn. Còn đâu người đàn ông khả kính trụ cột gia đình. Tóc bà bạc trắng. Cái lúm đồng tiền xưa kia đã trở thành ngoặc đơn rồi ngoặc kép.

Từ nước ngoài người con trai yêu Cát Đằng ngày đó xuất hiện như một vị cứu tinh. Anh ta gởi về giúp gia đình bạn những xấp vải, những gói thuốc tây, những đồng đô la được khéo léo nhét trong hộp sữa… Tất cả chỉ nhằm một mục đích chinh phục tình yêu của người con gái Huế mà anh ta say đắm. Mạ bạn tha thiết khẩn nài “Con ơi! Thằng đó nó tốt, lại hiền lành, con nhà trí thức. Lấy hắn con cũng sướng mà các em cũng đỡ khổ. Với lý lịch này thì nhà mình không ngóc đầu lên được . Con chỉ có nước lấy anh xe thồ hoặc ông nông dân mà thôi” . Bạn tôi gục mặt vào hai bàn tay khóc nghẹn. Phải chăng bạn đang nghĩ đến một Thúy Kiều hiện đại?

Tôi khuyên Cát Đằng : Mọi chuyện đã trở thành quá khứ. Anh H. mất rồi. Đã gần 7 năm. Bạn đâu phải là kẻ phụ tình. Trong hoàn cảnh này đôi khi phải thực tế. Bạn yên lặng gật đầu.

Mọi chuyện được thu xếp nhanh chóng. Bà mẹ chú rể từ nước ngoài trở về. Một vài lễ nghi cần thiết trong buổi giao thời. Và xúc tiến giấy tờ bảo lãnh.

Tôi đưa Cát Đằng lên thăm chị Hương lần cuối. May sao lại gặp mẹ anh H. từ Bình Dương trở về. Bác bảo có thể bác sẽ vào trong đó ở hẳn. Bác ôm vai bạn tôi: “Bác mừng cho con. Biết tin này ở đâu đó chắc H. vui lắm”. Trên bàn thờ vẫn chưa có ảnh của anh. Ghê gớm thay lòng tin của người mẹ. Bạn tôi xin phép được lạy trước bàn thờ ba lạy và nhét vào túi mẹ anh H. chút vốn liếng còm cỏi. Nước mắt người mẹ ứa ra tràn trề. Bà khẽ kêu “ H. ơi! ”.

Trước khi xuất cảnh, Cát Đằng đến nhà tôi ngủ lại một đêm. Bạn đem theo cái hộp bánh CHOCOLATE chứa những bức thư của hai người, tấm ảnh trao nhẫn được đặt lên trên. Cát Đằng bảo tôi “An Nhiên là một chứng nhân quan trọng trong mối tình lớn của mình. Mình không thể mang theo kỉ vật quý giá này. Bạn giữ giúp mình cho đến lúc nào còn có thể ”. Tôi cất vào tủ sách, lòng ngậm ngùi thương bạn.

Thời gian qua, Cát Đằng đã có một gia đình êm ấm. Ông chồng thành đạt, hai con một trai một gái xinh xắn. Cả hai đang định cư ở thành phố Denver, tiểu bang Colorado. Tôi mừng cho bạn. Cuối cùng, một cô gái ngoan hiền như bạn tôi nhất định phải được sung sướng. Qua những cuộc trò chuyện từ nước ngoài, tôi tránh gợi chuyện ngày xưa.

Tôi cũng đã có gia đình. Một ông chồng do bàn tay số mệnh sắp đặt. Một ông chồng yêu vợ thương con nhưng vô tâm. Tôi cũng chẳng bao giờ hé môi về chuyện bạn mình…

Ngày mai, gia đình tôi sẽ vào Nam lập nghiệp. Mở tủ sách, tôi cầm cái hộp bánh cũ. Những bức thư nhuốm màu thời gian nhưng tấm ảnh vẫn còn rất rõ. Ôi! Nụ cười hạnh phúc của cả hai người.

Tôi không thể đem chúng theo. Đốt thì tôi không nỡ. Suy đi tính lại, tôi quyết định đem lên nhà chị Hương, nhờ chị đặt trên bàn thờ anh H. Không còn gì để hy vọng về anh nữa rồi.

Căn nhà vẫn như xưa dù thời gian có làm nó già và cũ kỹ hơn. Tiếng chim sâu vẫn kêu lách chách trên những vòm cây xanh. Tôi dựng chiếc xe vào gốc ngọc lan, lòng bùi ngùi. Kỷ niệm ngày xưa ùa về trong ký ức. Một chiếc xe lăn trên hàng hiên. Tôi trách mình đã lâu không thăm mẹ anh. Cuộc sống bận rộn với cơm áo, gạo tiền làm mình trở thành người có lỗi.

Tôi tự nhiên đẩy cửa vào phòng khách khép hờ. Một người đàn ông nằm trên ghế sofa, tay cầm cuốn sách, chiếc chăn mỏng đắp ngang thân, phía bên dưới là một… khoảng trống. Anh ngước nhìn lên. Có phải tôi đang mơ? Đôi mắt ấy, gương mặt ấy… Đúng là anh H. Anh cất tiếng “An Nhiên đấy ư em? ”. Tôi bàng hoàng, ngơ ngẩn.

Vâng, anh H. Anh bị thương nặng nhưng không chết. Trong cuộc hành quân của Tiếu đoàn vào mật khu Đồng Tháp Mười, đại đội của anh sa vào ổ phục kích. Môt mảnh B40 đã bay vào lưng anh, chạm ngay cột sống. Anh được đưa về quân y viện Phan Thanh Giản, Cần Thơ. Bác sỹ cho biết mảnh đạn đã làm đứt dây thần kinh tủy sống dẫn đến khả năng bại liệt suốt đời. Trong cái đau đớn tận cùng của thể xác, anh vẫn nghĩ đến Cát Đằng. Không thể gắn số phận bất hạnh của mình đối với người yêu, anh cắn chặt răng bảo mẹ báo tin với Cát Đằng là mình bị mất tích. Và người mẹ đã làm theo lời anh…

Từ Cần Thơ, anh được chuyển vể Tổng y viện Cộng Hòa. Các bác sỹ và y tá tận tâm chăm sóc anh. Vết thương bên ngoài tạm ổn, anh sang Trung tâm phục hồi chức năng. Mẹ già theo sát anh từng bước. Đó là lý do khiến bà bảo với Cát Đằng mình vào Nam sống với người anh cả.

Sau ngày 30 tháng 4, tất cả thương binh nặng nhẹ đều bị tống ra đường. Anh về Bình Dương nương tựa nhà anh Hùng. Vết thương không còn được quân y viện chăm sóc, lâu ngày bị hoại tử và hai chân anh bị tháo khớp tới háng. Mẹ già mất, Cát Đằng đã đi xa, anh quyết định về Huế sống phần đời còn lại bên người chị gái thương yêu. Gần mười mấy năm nay anh sống nhờ vào sự cưu mang, đùm bọc của các khóa Võ Bị ở nước ngoài, những chiến hữu cùng đơn vị và một số anh em còn kẹt lại ở quê nhà… Cao quý thay tình nghĩa đồng môn của những chàng trai cùng trường Mẹ! Anh cũng tự ôn kiến thức để dịch thuật, để luyện thi cho các học sinh nghèo vào Đại học. Cụôc sống không đến nỗi thấy mình là người vô dụng.

Cầm xấp thư và tấm hình, anh H. trầm ngâm bảo tôi: “Anh cám ơn An Nhiên. Cố vật đã tìm về cố chủ. Cứ để cho Cát Đằng nghĩ rằng anh đã chết. Đó chính là tình yêu của anh giành cho cô ấy”.

Anh nâng chiếc nhẫn có viên hồng ngọc trên ngón tay áp út, âu yếm hôn vào nó. Chiếc nhẫn năm xưa, Cát Đằng đã lồng vào tay anh trong đêm Lễ trao nhẫn trước phạn xá trường VBQGVN.

Một cơn gió lạnh thoảng qua. Mùa Đông đã về trên thành phố.  

HƯƠNG THỦY

ĐI QUA MÙI HƯƠNG NGẢI 

        Nếu không có tiếng súng bên ngoài làm tôi thức giấc, thì có lẽ đêm vẫn còn là một nỗi buồn chảy quanh như một khúc sông lạc nguồn. Cơn mưa chiều đã tạnh từ bao giờ.Tiếng gió rung qua liếp cửa từng hồi đã làm gẫy đổ giấc mơ của tôi, trong đó nụ hôn của Ngải Hương trở thành đậm đặc trên môi, rã rời và xao xuyến làm sao.Trong giấc mơ tôi thấy tôi trở lại Hà Nội. Những cây sấu vừa ra hoa. Con đường có những viên gạch sần sùi dán kín một thơ ấu của tôi bây giờ cũng ngại ngùng và mơ hồ không kém. Trong giấc mơ tôi cũng thấy tôi lùi lại những ngày tháng buồn rầu khi rách nát rơi xuống đời như phấn hoa. Sự học hành đứt ngang nửa chừng khi những người thân lần lượt ra đi. Vừa lên lớp 9 tôi đã mất mẹ. Năm sau đến lượt cha tôi. Tôi bỏ dở lớp 10 để đi vào đời. Hà Nội trống hoát từng cơn gió thổi qua những tấm lòng trơ trọi.  
Mùa đông rất dài như một chuyện đời xưa không có đoạn cuối. Những con phố dọc ngang ở bên nầy thơ ấu, còn bên kia là cơ hàn. Đường phố tiếp tục nuôi tôi khôn lớn. Hay tôi tự mình khôn lớn và tự học nơi trường đời. Bản năng sinh tồn đã như ngọn roi quất xuống đời dọc ngang- những vết thương lòng chưa kịp băng bó đã bị áo cơm vùi dập.Hai mươi tuổi tôi đi qua 2 trại giam. Trại giam đầu tiên lâu chừng một tháng vì tội trốn tránh nghĩa vụ. Lần bị giam thứ hai là một dấu ấn. Dài hơn.          
Tôi chưa quen thuộc với đời sống mà trong đó tiếng chim trở thành một điều ước lệ vô cảm. Mùi hoa sửa sáng mai không còn vào ra vấn vít làm thơm ngát Hà Nội 36 phố phường Thay vào đó là bụi bậm và mùi rác rến. Thành phố đó cũng đang muối mặt để quên một dĩ vảng chật nít tự hào. Những cửa ô rướm máu cũ mòn chờ ngày gẫy vụn. Mặt sông Hồng lặng câm che dấu những bất trắc êm ả như chưa hề gợn sóng. Còn những son phấn phù hư nửa? Chúng có lấp được những trái tim thổn thức của các cô gái mong đợi ngày theo chồng đi ngoại quốc, hay đẩy họ vào sâu trong bão lửa làm cháy bỏng thanh xuân? Thành phố đó đang làm sững sốt trái tim côi cút người Hà Nội vì những đổi thay lạ lùng.Từng dãy nhà xô lấn ra mặt đường, giành giựt lối đi của bộ hành. Những chiếc xe gắn máy made in China phun khói đàng sau ống bô chở trên lưng nó những gả đàn ông to bè tượng trưng một uy quyền đại hán. Một lần nào đó một trong những đại hán như vậy đụng phải một đứa nhỏ băng qua đường và hắn bỏ đi. Tôi nổi máu anh hùng và một cuộc ấu đã không cân sức xãy ra. Tôi vào trại giam để nghe xót xa trong hồn và thấm thía thương tích.         
Mưa đêm và gió ngày đôi lúc thổi qua chấn song như tiếng của mùa màng rung lên tuổi thơ. Chúng có khả năng vừa che đậy những nghẹn ngào cũng vừa băng bó mọi vết thương. Chính nơi đây tôi gặp Hà Mô Phạm.Đó là gả đàn ông sống ngoài vòng pháp luật và quen thuộc các trại giam Phường giống như người ghiền xi nê quen thuộc các rạp hát.         
Một lần trong trại tù, Hà Mô Phạm dạy cho tôi biết nếm trải thương yêu ban ngày và đêm đêm ngồi đếm những sĩ nhục. Giữa những chấn song khô khốc tôi nghe khôn lớn nhờ học vỡ lòng những bài học chịu đựng. Hà từng nói: “Một cánh buồm cần trãi được gió bình minh, mới đi vào biển lớn. Những ao hồ cạn hẹp là chuyện nhỏ…”Ra tù, tôi tìm đến địa chĩ của Hà Mô Phạm.Tôi gặp Hà đễ nghe Hà cho tôi một lời khuyên. Mưa đêm làm ướt át cùng bụi bậm bị dán chặt xuống mặt đường, như những điều hư ảo của cơm áo. Những khao khát bùng lên như ngọn lửa làm leo lét một quá khứ trong khi từng hướng đời mất dấu tương lai.Tôi đã chọn cho mình một hướng đi. Như lời khuyên của Hà. Những cơn mưa úp chụp xuống đời một đứa con trai hai mươi tuổi sẽ mát mẻ thăng trầm hay đớn đau khô khốc, tôi không hình dung ra. Nhưng tôi biết tôi cần phải bỏ đi ra khỏi đó càng sớm càng tốt.         
Tôi không nhớ nhiều về cách thức tôi rời khỏi Hà Nội. Nhưng tôi nhớ ơn Hà Mô Phạm. Hắn lấy của tôi một số tiền không lớn lắm, nhưng tận lòng. Hắn dạy tôi làm cách nào để chịu đựng đói khát như từng chịu đựng trong tù. Đồng thời dạy tôi nhiều câu nói ngoại ngữ, vừa phòng thân, vừa che dấu cái gốc gác quê mùa của mình. Một vài địa chỉ quan trọng liên quan đến nơi sẽ đến. Những sợi thuốc phiêu lảng trên vai tôi, từ những ngón tay vàng ám của Hà, thổi ước mơ tôi bay cao. “Chỉ cần qua được bên đó, cậu sẽ làm lại cuộc đời”. Hà mơ màng như chính hắn sẽ nhập vai chớ không phải tôi. “Hãy quên Hà Nội và quên cái Hồ Gươm chết tiệt của cậu đi. Nó không bao giờ là những bài học, để đem về một đáp số vinh quang cho những thanh niên như cậu…”          
Ngày tôi xa Hà Nội, có mưa nhiều trong khi mùa đông đến chậm. Những cơn mưa trãi dài qua những cánh đồng quạnh hiu không bóng người lai vảng. Vài con trâu ốm đói trân mình chịu lạnh và sống sót lạ lùng qua một mùa đông. Một cơn mưa như vậy của mùa Giáng Sinh xô tôi trôi giạt đến địa phận Trung Quốc. Tôi không có thì giờ nhìn lui để kịp nói lời từ biệt Hà Nội. Cũng chưa kịp từ giả màu xanh những cây sấu buồn rầu hai bên đường Cổ Ngư. Những mái ngói rêu phong bụi bậm như chưa hề được tắm gội. May mắn mà tôi chưa có người yêu nên chưa biết một màu hoa thủy chung nở ra sao bên lòng cuộc đời. Có lẻ nào tôi quên được dễ dàng Hà Nội? Những con dế thao thức trong lòng cỏ ướt át sương muộn lúc tôi ngồi trên băng ghế nhìn ra Hồ Gươm. Tờ giấy báo ủ rũ bay giạt dưới gốc cây liễu như chia sẽ với tôi một ngậm ngùi không tên gọi. Mai nầy mùa thu sẽ se sắt hay ấm lòng như lời bài hát của Phan Huỳnh Điểu: “Tình ta như hàng cây, qua những mùa bão gió. Tình ta như dòng sông qua những mùa thác lũ. Thời gian như ngọn gió mùa đi cùng tháng năm…”        
Bài hát tôi nghe Bảo Yến ca khi nàng về Hải Phòng hát cho những lầm than nghe. Năm đó tôi vừa mười sáu. Tôi đang là dân cữu vạn đúng nghĩa. Danh từ “cữu vạn” ám chỉ những người phu bốc vác. Họ khiêng gánh hoặc chở chuyên mọi hàng hóa nặng nề từ bến cảng lên nhà kho hay từ khu chợ nầy đến khu chợ khác. Thời gian làm việc không có giờ giấc nhất định. Khi nào có hàng thì làm. Không có hàng thì tụ năm tụ ba nhậu nhẹt, cớ bạc. Và gái ghiếc…           
Có những đoạn đường tôi phải đi ban đêm. Người lái xe ôm chở tôi ngồi sau lưng hắn, những lời hỏi đáp bị gió cuốn hút. Mùi mồ hôi lẫn với mùi thuốc lá bị ém nghẹn trong thanh quản. Đâu đó phố núi sừng sững khi thì chạy lùi, khi thì song song bên cạnh. Ánh đèn nhập nhòe từ một xóm làng sơn cước. Một chặng khác, cùng với những chiếc xe tãi chở hàng quốc doanh. Tôi bị treo nằm ngang dưới gầm xe cùng với vài người đàn ông có cùng mục đích. Hình như đêm cũng ràn rụa một vầng trăng khi xe dừng nơi một trạm gác. Tiếng chào hỏi của tài xế và tiếng chạy tới chạy lui của người lơ không lấp được tiếng tim đập mạnh trong lòng ngực. Rồi tiếng những tờ giấy bạc vỗ trên thành xe, hay tiếng mưa rớt xuống đời day dứt?  Rồi xe chạy. Con đường dằn xốc, tung hứng và làm chao đão thân thể những con vật người- hay những con người sắp trở thành con vật bị mất cảm giác- Tôi thiếp đi nhiều lần trước khi xe dừng ở biên giới. Một vài lần tôi được tiếp tế thức ăn. Đó là những lần hiếm hoi tôi tiếp xúc với thế giới bên ngoài.Mùa đông mang rét nàng Bân đến sớm. Quê tôi xa tít ngoài những chân mây rối bời. Nơi những dân nghèo không biết đếm thời gian nhưng vẫn đợi ngày lúa trổ. Khi ngươì ta biết góp nhặt khổ đau để hiểu trái tim mình, thì người ta sẽ yêu đất nước mình vô hạn.        
Ngôi nhà nằm trên cao và sâu trong một quận hạt có tên là RoundRock. Tôi biết vậy lúc đến đây ngày đầu tiên. Muốn vào tận nơi, người ta phải vượt qua một xa lộ dài có tên là xa lộ 35, rồi tẻ nhánh vào exit 247. Xác lá mùa thu nằm bẹp dưới vòng bánh xe, khi Ngải Hương kéo tôi ra khỏi chiếc xe Lexus của nàng. Ngải Hương là tình nhân của Sơn, cũng dân Hà Nội, nghe nói qua đây theo diện R.O. Sơn đang là chủ nhân của căn nhà trị giá nửa triệu bạc.
              Đây là “Phố Đá Tròn”. Ngải Hương nói với tôi. “Rồi Quách Tỉnh sẽ thấy không nơi nào dễ chịu bằng nơi nầy. Muốn thấy sông có sông, muốn thấy hồ có hồ. Muốn thấy đồi sẽ có đồi và vùng Dowtown có nhà cao tầng tuyệt đẹp”.Ngải Hương nói mà không cần tôi nghe và hiểu kịp hay không. Nàng gọi tôi là Quách Tỉnh vì dáng điệu bên ngoài của tôi. Tôi không hề để tâm chuyện đó vì chỉ cần nghe nàng nói và mỗi ngày nhìn thấy nàng là hạnh phúc. Chiếc áo đầm màu đen có thêu ren mềm dưới gấu gây cho người nhìn có cảm giác nàng đang mặc áo ngủ ra đường. Hai sợi dây nhỏ rưng rưng trên hai nhánh vai mảnh mai như hờ hững níu kéo mọi vải vóc trên thân thể khi nàng chuyển động. Nhìn nàng phía sau, tôi thấy thán phục cho những đấng sinh thành nào đó đã tạo ra hình hài tuyệt mỹ của nàng.         
“Quách Tỉnh chào Sơn đi”. Nàng nhìn về phía một người đàn ông âu sầu ngồi trước sopha. Ly rượu màu đỏ đang uống dang dở. Sơn nhìn tôi quan sát không nói một lời.“Chào anh”. Tôi ấp úng. Sơn khoát tay và thuận tiện kéo chai rượu gần đó và rót thêm trong ly mình. Màu rượu đỏ sậm sáng lên khi Ngải Hương mở thêm ngọn đèn trong phòng khách. Câu nói đầu tiên mà tôi nghe được chiều hôm đó, từ miệng Sơn, nghe như được ủ bằng mùi khói thuốc và bia bọt trộn lẫn:“Cậu uống được rượu không?”.“Lúc còn ở Việt Nam tôi có uống, nhưng không phải rượu “cao cấp”.Tôi vẫn chưa cảm giác được thoải mái khi đứng trước mặt người đàn ông mà lúc ngồi trên xe, Ngải Hương nói là sẽ  đưa tôi về gặp Boss ”.         
Sơn khoảng 35- 36 tuổi. Hoặc hơn kém chút đỉnh. Bàn tay dài và những móng được cắt cẩn thận. Chiếc áo sơ mi trắng bỏ ngoài quần jeans xanh, đơn giản như một gả học trò đang ngồi trong thư viện. Nhưng ánh mắt gây cho người nhìn sự e dè. Nếu không muốn nói là xa vắng thiện cảm.“Cậu sẽ làm việc gì ở đây? Có ai nói cho cậu biết chưa?“Chị Ngải Hương có nói sơ cho tôi biết”. Tôi trả lời“Tốt”.         Tôi theo Ngải Hương đến phòng ngủ của tôi. Căn nhà nhiều phòng có cửa đóng kín đến nổi tôi không nhớ hết những nơi tôi đi qua. Chỗ của tôi là một căn phòng rộng không có bàn ghế, cũng không có giường. Nền nhà được lát bằng gỗ đánh vẹt ni. Trên đó là những chiếc nệm dùng làm chỗ ngã lưng có phủ drap màu được xếp ngay ngắn. Có tất cả 5 chiếc. Chúng được đặt hai bên chừa một lối đi ở giữa. Bốn chiếc kia đã có mền gối và một ít đồ đạc lỉnh kỉnh, chỉ còn một chiếc bỏ trống, tôi nghĩ dành cho tôi.Phòng vệ sinh gần bên cửa ra vào. Không có TV. Không có tranh ảnh treo tường. Cũng không một âm thanh nào rớt xuống để gây cho ngưòi ta cảm giác đang sống giữa lòng đô thị.        
Chiều xuống bên ngoài. Những cây sồi oằn oại nhìn xuống bờ cỏ xanh mơ màng. Ngải Hương đi khỏi chỉ còn mình tôi trong phòng. Tôi nhìn xuống chiếc túi xách bụi đời dưới chân và ngả lưng xuống nệm. Hi vọng ngủ một giấc nhưng không được. Đầu óc rối bời nghĩ đến ngày mai và công việc lạ lẫm trong một xứ sở cũng lạ lẫm vô cùng.Tháng mười năm ngoái tôi còn ở bên Anh. Một tổ chức nào đó giới thiệu tôi làm việc cho một trang trại vùng North Wales. Tiền công cuối tuần được khấu trừ vào những chi phí như tiền trọ phòng, tiền ăn uống, tiền hối lộ làm giấy tờ để qua mặt cảnh sát. Dĩ nhiên những giấy tờ đó đều giả mạo. Thời gian cơ cực nhất phải nói là thời gian sống ở Trung Quốc. Vì nơi đây là trạm khởi đầu để nhập cư lậu qua các nước Âu Châu nên những nhu cầu cần thiết cá nhân đều bị hạn chế. Những người cầm đầu tổ chức cấm chúng tôi không được ló mặt ra khỏi phòng. Việc ăn uống, vệ sinh cũng bị hạn chế để tránh sự dòm ngó của người địa phương. Thời gian này chỉ kéo dài hơn một tuần lễ, nhưng cũng đủ làm suy sụp tinh thần của tôi.Thoạt tiên, người trưởng nhóm nói tôi sẽ được học nghề trong một nhà hàng. Nhưng thật ra khi về vùng Zabki, ngoại ô Warsaw ở Balan, tôi được dạy cách trồng trọt duy nhứt những bụi cây có hình dáng giống như cây ngò gai, hay cây tần ô, nhưng có lá dài hơn, óng ả. Nhiệm vụ của tôi lúc đó còn thêm việc canh giờ bật điện khoảng sau 10 giờ đêm và trộn hóa chất với nước để tưới cho cây. Sau này tôi biết nguồn điện “câu lậu” từ cột điện cao thế bên ngoài. Người làm công của nhóm này sẽ không biết công việc của nhóm kia. Họ ở trong các phòng riêng và nhiều khi không biết hết tên tuổi của nhau. Mỗi 3 tháng một lần có xe tải đến chở những bao lá sấy khô đem đi nơi khác.Nơi trú ngụ cuối cùng của tôi ở Âu Châu là Canada. Ngải Hương đã bốc tôi ra khỏi nơi đó, giống như bốc một món hàng… Một chi nhánh trồng trọt của Sơn tại Austin đang cần một người Việt Nam có tay nghề và có kinh nghiệm “đụng chạm”. Nàng tìm đến tôi.         Mãi sau này, tôi mới biết tôi đang làm việc cho một tổ chức chuyên trồng cần sa. Những nhánh lá ngoài vườn và trong các chậu treo trên tầng trệt của ngôi nhà 7 phòng mà người đời gọi là những lá cây quyến rũ. Nó có khả năng làm rực rở và ngời sáng một ước mơ, nhưng đồng thời giết chết từng thanh xuân lần mòn. Trên mỗi cánh lá mơn mởn kia, tình yêu và đời sống đan vào nhau rất dịu dàng, rất thân mật, nhưng cũng chua xót bầm vập biêt bao.          Đã có những ngày mưa dầm trên Phố Đá Tròn.Sơn và Ngải Hương không còn hiện diện tại đây. Họ phải về Canada một ít lâu. Tôi tiếp tục làm những công việc mà người ta đã dạy tôi. Buổi sáng tôi tưới những cây ngoài vườn bằng xe có vòi nước lưu động. Ban đêm, khi hơi nóng mặt trời dịu xuống, tôi dùng bình xịt nước tưới những chậu treo trên cao. Bình xịt nước có hai chạt dây, tôi mang nó sau lưng và đi qua dãy hành lang mờ tối. Ánh sáng hiu hắt dội xuống những tia nước như giống như những nhánh tay đời muốn đụng tới bình minh. Khi mỗi cuối đường là bất trắc?Căn nhà rộng mênh mông. Người chủ nhà trước kia đã chia những phòng thànhcác khu tách biệt. Bây giờ khi Sơn về làm chủ, có thêm hệ thống thông gió xuyên qua mái, và hệ thống điện và nước cũng được lắp đặt lại. Những bóng điện công suất cao- mà chúng tôi gọi là đèn mặt trời- có công dụng làm cho hành lang ấm lại vào mùa đông và mát vào mùa hè. Có một người đàn ông gọi là Chú Ba, sẽ phụ trách phần này. Hắn ít nói và biểu lộ sự thân thiêt vừa phải với người chung quanh. Những phòng ngủ cũng được tận dụng tối đa để trồng trọt. Tôi đếm có tất cả 500 chậu. Còn ngoài sân khoảng 250 bụi cây. Ngoài ra trong nhà kho còn những hộp vuông đựng hạt.          Từng buổi chiềucô đơn nhìn ra khu vườn bên ngoài, tôi không còn ý niệm về thời gian. Không gian cũng không gợi trong tôi điều gì, ngoài những vạt cỏ mông lung. Ngôi nhà, như một thế giới khép kín. Đường phố lơ đảng tiếng kèn xe như vọng về từ một xứ sở nào khác. Tôi nhớ nhà vô cùng. Nhớ những bờ đường trượt mình dưới những cơn mưa như tuổi thơ tôi hối hả. Mùa nầy Hà Nội sắp tết. Chắc nơi đó giờ này là buổi sáng mai đang có gió làm sạch mặt đường. Có còn không những cơn bão bịn rịn bay qua bến chợ, làm tê điếng một khúc sông Hồng?        
Sau một mùa thu hoạch, tôi được tăng phái qua khu vực sưởi. Nơi đây, những lá cây được cắt từ sân vườn sẽ được bỏ trong lò sấy hiện đại để làm khô. Sau đó được xếp vào bao tải. Đến phiên người tái xế sẽ đem đi ra khỏi đây.        
Mùa đông, gió rít ngoài cửa kính. Những âm thanh sôi nổi va chạm vào nhau như tiếng chân đời đi vội vã. Một buổi chiều tôi nghe tiếng xe của Ngải Hương trở về. Không có Sơn bên cạnh. “Có gì lạ không, Quách Tỉnh?”. Nàng hỏi. Tôi lắc đầu. Câu nói rơi xuống chiều lặng lẽ. Cùng tia nhìn nặng trĩu một ân cần. Chính vì vậy làm tôi cảm giác mình nhỏ nhoi trước nàng.Dầu gì tháng mười vừa rồi, tôi đã là một thanh niên 25 tuổi.Ngải Hương đứng trên bậc thang dẫn lên tầng trệt. Qua vai nàng, những nhánh lá xanh um phủ kín thành chậu. Có tiếng gì không rõ như tiếng một trái khô vừa rơi xuống lòng suối nhân tạo chảy qua hòn non bộ. Cũng vừa lúc tôi bắt gặp nỗi im lặng đáng sợ của lòng.       
Ngải Hương đem mùa xuân về trả lại cho Phố Đá Tròn. Cùng sự hồi sinh của cây cỏ làm đầm đìa ký ức. Mảnh vườn vắng nàng bấy lâu đã từng im thít tiếng chim. Tôi đi qua những căn phòng hình như thấy rộng hơn và vấp trên những nỗi buồn ngang dọc. Nàng trở lại, thanh thoát và nhỏ nhắn lạ lùng. Phố chiều nay có mùa đông rất lạ. Sương mù thổi về như sông lạnh. Bộ đồ nàng mặc màu trắng như một vệt khói bay qua một góc đời nào đó. Không có nhân quả, cũng không có khổ đau. Giống như một đứa trẻ mang trong lòng sự dỗi hờn, tôi muốn Ngải Hương phải nói một điều gì đó, về nàng. Nhưng nàng đã như một cơn gió đêm rơi thầm trên mái ngói, xa lạ và kéo theo những rét mướt vô tình.Nàng không ra khỏi phòng, cho đến một đêm, nàng nói với tôi:“Mình đi xuống phố. Sơn vừa gọi chúng ta.”Chúng tôi đi qua những giao lộ sầm uất ánh điện và xe cộ vụt qua như thể đời sống hối hả khôn cùng. Những cửa tiệm chất chứa mọi lạc thú của đêm và che dấu mọi bất trắc đàng sau những ngã tư sũng gió. Càng về hướng phố, đường xá càng hẹp và xe chạy chậm hơn. Những tòa cao ốc khi gần khi xa làm choáng váng tầm nhìn của gả con trai quê mùa là tôi. Đi qua một tòa nhà có mái vòm lộng lẫy cùng những thân cột bề thế không biết hàng bao nhiêu năm nắng mưa mới làm suy siểng, nàng nói:”Tòa Capitol. Nơi mấy ông lớn làm việc”. Nàng giải thích như vậy và sợ tôi không hiểu, nàng tiếp:”Tòa nhà nầy xây giống theo hình thức của điện Capitol tại Washington D.C, nơi làm việc của Tổng Thống Hoa Kỳ, nhưng kích thước nhỏ hơn”.Xe rẻ vào một chỗ đậu xe có đóng tiền. Tôi đi theo Ngải Hương trong lòng đêm phơi phới. Những đêm đẹp như thế này mà không có ai bên cạnh sẽ là điều buồn nhất. Chúng tôi đi trên vĩa hè lát đá mỏng vuông vức vẫn còn hơi lạnh như thể mùa đông không bao giờ bay biến. Những dòng xe xuôi ngược bên lối đi, dưới những ngọn đèn đường co ro, rồi mất tăm không biết về đâu. Những băng ghế chờ xe buýt lác đác vài khách bộ hành. Họ thủ kín thân thể trong hai ba lớp áo quần chỉ chừa lại khuôn mặt.        Mùa đông không chỉ là lạnh giá, mà còn có thêm nỗi buồn. Tôi nghĩ về những cơm áo níu chân tôi mỗi ngày khiến từng giấc mơ bay qua đời không đậu xuống. Hay nếu có, thì rất ngắn ngủi. Như những đường chỉ tay cạn trong bàn tay thô ráp.       
Chỗ mà Ngải Hương ghé vào là một quán rượu nằm bên đường số 8. “Sơn có công việc ở đây”. Nàng nói, vẫn không dừng những bước chân thoăn thoắt. Mặt trước phòng dùng để bán bia rượu cùng những thứ giải khát. Có những cô tiếp viên phục vụ mặc đồ nửa kín nửa hở mang khay đựng thức uống bằng một tay, còn tay kia cầm tiền thối lại của khách. Miệng lúc nào cũng cười tươi như hoa. Nhưng coi chừng, đàng sau những nụ cười tê điếng đó là những lưỡi lam cứa đứt ví tiền của bạn như chơi. Tiếng nhạc giống như tra tấn lỗ tai người ngồi quanh quẩn nơi mấy chiếc bàn tròn có phủ drap màu bọt đô. Những chậu hoa trong lọ phơi bày sự mời mọc hớn hở. Tất cả đều trở thành cuồng si nếu chúng ta dừng đâu đó và ngồi xuống. Nhưng Ngải Hương vẫn tiếp tục đi qua chỗ náo nhiệt để vào bên trong. Nàng có vẽ quen thuộc và thành thạo một nơi chốn mà không phải bất cứ ai cũng có thể bình thản tham dự.  Tôi líu ríu và khổ sở đi theo Ngải Hương. Những đôi mắt không che dấu nhục cảm nhìn theo lưng nàng và tôi biết tôi phải che chở cho nàng tới nơi tới chốn. Dù đến tận cùng trời, cuối đất. Càng vào sâu, ánh sáng càng giảm cường độ, cho đến khi chúng tôi lọt hết vào trong một cánh cửa màu đen như trong một cửa hàng bán quan tài thì tôi vừa thấy Sơn.         
Hắn không ngồi một mình mà bên cạnh đó có hai thanh niên trắng trẻo. Chiếc áo quấn trên người họ tượng trưng cho một xã hội khao khát những nghịch lý và không bình thường. Bộ đồ được trau chuốt bằng một thứ vải vóc giống như “sa teng” hay một loại hàng nào đó giống như vậy. Tôi không có khả năng phán đoán người đối diện, nhưng kinh nghiệm cho tôi biết họ là hai người đồng tính- một hạng người mới đang thao túng những góc phố đèn màu của Hà Nội- Sàigòn. Ngọn điện trên trần dọi ánh sáng không đủ xuống những màu sắc hổn hển không cần dấu diếm, che đậy. Sơn thấy chúng tôi nhưng dường như quá bận bịu hay vì quá chén mà không thể đứng lên. Một cánh cửa ăn thông một căn phòng khác mà lúc mới đặt chân vào tôi thấy có giường nệm hẳn hoi. (Một tủ lạnh và một chiếc truyền hình đang dội ánh sáng lướt thướt xuống nền gạch). Mùi mỹ phẩm thoảng bay qua khứu giác khiến tôi nao lòng. Phải chi tôi được uống một chất cay nào đó lúc nầy để giữ bao tử khỏi bị cồn cào, nôn mửa…          Ngải Hương đến sau lưng Sơn. Hai cánh tay trắng muốt của nàng choàng qua vai hắn. Nàng hơi cúi xuống để nói nhỏ với Sơn điều gì đó và chính vì vậy tôi thấy hai gò ngực của nàng phập phòng. Nó mơn trớn và ngỡ ngàng như hai phiến băng lạnh trôi giạt giữa hai bờ yên tịnh của đời. Còn đôi môi màu phượng nửa. Nó vừa cuốn hút, nhưng cũng vừa quay lưng với mọi trần tục bất an. Hơn lúc nào hết, tôi thù ghét cái không khí dung chứa mọi ước lệ về đời trong đó sự kiêu hảnh, sự đè nén đan vào nhau trở thành kỳ hoặc. Cuộc đời bí hiểm hay cuộc đời phơi bày ra những giản đơn, những dung tục? Tôi muốn rời khỏi phòng để ra ngoài trong giây lát, cũng là lúc Sơn đứng lên để rồi té xuống giữa bốn cánh tay dịu dàng của hai gả con trai. Họ xoắn vào nhau và cuối cùng biến mất nhanh chóng vào căn phòng có chiếc truyền hình đang chớp nháy.      
Một gã khác hiện ra tôi không nhớ từ lúc nào. Hắn giống như từ dưới đất nhô lên và khi tôi kịp hình dung ra sự vô lại toát ra từ thân hình vạm vỡ của hắn thì hắn đã đẩy Ngải Hương ngả xuống chiếc bàn- mới vừa sắp sẳn những dấu tích hoan lạc- Sự kinh ngạc to tát khiến nàng không thốt kịp lên thành lời. Nhưng tôi đã kịp biết mình phải làm gì.  Những ngày u uất trong nông trại không giao tiếp với thế giới bên ngoài. Những đêm mưa ngày mưa chôn chặt quá khứ tôi xuống thửa đất mong manh nhưng chứa quá nhiều bí mật. Và trên hết là một tình yêu cho đi mà không chờ đợi lấy về. Tôi không biết tôi có thể yêu được nàng hay không, nhưng tôi biết giấc mơ của tôi dù thơm và ngậm đầy những khuyết tật chồng chềnh, nhưng không phải vì vậy mà tôi để yên cho bất cứ ai xâm phạm đến nàng. Tôi lao tới bằng tốc độ của một ngôi sao băng và một trái tim rét mướt hận thù. Tôi nhớ đến gã “đại hán” Trung Quốc  mà tôi có lần đụng chạm ở Hà Nội. Tôi ngạc nhiên về sự trầm tỉnh của mình khi bàn tay trái của tôi vổ mạnh vào màng tang của hắn. Hắn quay lại và chưa kịp phán đoán ra điều gì thì tôi đã nhập sát vào người hắn đồng thời khủy tay tôi giật ngang. Tôi nghe hình như có tiếng xương vừa gẫy vụn- hay một tiếng gì tương tợ, cùng lúc thân hình đồ sộ ngã xuống. Tôi kéo Ngải Hương không cần biết nàng có ưng thuận hay không. Nàng ngoái nhìn lại phía sau. Bàn tay rung và đậm đặc nỗi sợ hãi. Chúng tôi tìm ra được bãi đậu xe và chiếc Lexus của nàng vẫn nằm yên như mê ngủ. Sương sớm đọng trên những chụp đèn còn cháy muộn bên đường. Phải một lúc lâu, Ngải Hương mới rồ được máy xe. Bảng chỉ đường nhòe nhoẹt hướng về Phố Đá Tròn…        
“Như vậy là Quách Tỉnh đã biết về Sơn”. Trong đêm bao la của tháng chạp, tôi nhủ lòng phải chi mình đừng rời bỏ Hà Nội. Quá khứ cũ kỷ đến nỗi từng chiếc lá khô và những đường gân trên đó cũng cộm lên nỗi đắm say khi vạt gió vụt về. Khi những trận mưa đêm ngấu nghiến lòng đường thô ráp. Những chuyện hôm nào đã trở thành cổ tích.       Tôi đã biết về Sơn cũng như biết Ngải Hương không hề là người tình của hắn.“Em kết hợp với Sơn trong ý nghĩa hai bên cùng có lợi. Em muốn ra khỏi Canada trong khi Sơn cần nhan sắc em để thu phục những nhân viên có tay nghề về với Sơn. Anh đừng giận”. Nàng buồn rầu. Những ngón tay của nàng vuốt nhẹ trên gò má tôi thay cho lời tạ lỗi. “Thoạt tiên, em cũng nghĩ về anh như vậy. Nhưng càng về lâu, em không tìm ra lý do để lợi dụng anh”. Anh hiền lành và có cá tính không như những nhân viên khác”.Tôi muốn nói lời cảm ơn với nàng, nhưng vụng về làm sao.“Nhưng có một điều mà em không hề biết. Là giữa em và Sơn, người thiệt hai nhiều nhất là em chớ không phải Sơn. Em đã mất phương hướng và mất cả đường về. Ngoài việc trực tiếp tham dự vào một tổ chức tội ác mà không một tòa án nào có thể giảm khinh, bản thân em còn vướng vào một tòa án khác. Đó là nghiện ngập. Mỗi ngày đi qua những cành nhánh quyến rũ kia, em đã không thể không mũi lòng trước mùi thơm của nó. Cho đến khi biết nó trở nên một phần xương thịt, máu huyết của em thì đã muộn. Em không thể cưỡng lại lời thầm thì của mụ phù thủy mang tên phù dung trong vườn. Chính cái tên Ngải Hương là do em tự đặt…”Căn phòng dùng làm nơi sống chung của Ngải Hương và Sơn là một căn phòng riêng quay ra phía sân trước. Đêm qua Sơn không về. Có thể Sơn sẽ không về một thời gian vì có nhiều điều tránh né.Buổi sáng có tiếng chim thả những lời mật ngọt qua vườn. Ánh sáng mặt trời e ấp trong sương lạnh giống như tia nhìn của nàng. Tôi thấy nàng thanh khiết và tội nghiệp dù nàng vẫn thao thao bất tuyệt nói về mình. Làm như giông bão đã từng thổi qua vai ai chớ không phải qua vai nàng. Làm như những giọt cường toan vừa ngấu nghiến thanh xuân của ai kia chớ không phải ngấu nghiến thanh xuân nàng.Tôi hôn nàng và nghe tiếng thầm thì đau điếng từ căp môi run. Những thiên đưòng cũng lệch cong trên gối chăn tơi bời. Tôi vào bên trong nàng. Sâu. Và chậm rãi. 

Thay cho lời kết:

Có những dòng sông đau lòng vì sông cô độc.Tôi đang là dòng sông như vậy khi  cả hai bờ đều lở.Khi tôi rời Hà Nội, tôi không có một tình yêu. Khi tôi rời Phố Đá Tròn thì tình yêu đã trở thành một quá khứ. Tôi nghĩ mình sẽ bỏ căn nhà nơi vùng Round Rock để đi đến một nơi nào khác làm lại từ đầu. Hàng cây phong trần bụi bậm không giữ được gió để chúng tản lạc chốn nào. Những luồng xe ngoài Freeway chở chiều trên lưng đi về vội vã.Ngải Hương không còn trong cõi đời này. Tôi đau lòng để nói ra điều này.Tôi chỉ là một gã đàn ông chân quê trước cuộc đời tẻ lạnh, Không nghề nghiệp, cũng không tàì năng. Ngay cả việc làm cũng không biết rõ mục đích. Bỗng một ngày Ngải Hương đi qua. Đôi bàn chân có những ngón đài các làm tỉnh ngủ đất đai và kinh động mùa màng. Và tôi như một dòng sông mất hồn không tìm thấy biển.Những cành hương ngải thơ ấu lớn lên rưng rưng theo thời tiết tháng năm, giống như những chàng trai, những cô gái vào đời. Họ theo gió sớm mưa khuya bay qua những miền dâu bể. Nhưng Ngải Hương thì khác.Khi tôi hôn lên khoảng ngực trần của nàng và đôi vai ngang mầu nhiệm kia, tôi biết thân thể nàng gầy đến nỗi nếu chỉ một cử động hay một hơi thở mạnh sẽ làm cho nàng gẫy đỗ.Dưới hàng khuy che chắn mùi ngực non, ngón tay nàng lạnh không kém mùa đông bên ngoài. Câu chuyện tình yêu nào cũng bắt đầu và kết thúc bằng môi miệng. Những vọng âm và ngụy ngữ không cần thốt nên thành lời. Chỉ có da thịt cồn cào tiếng thầm thì hạnh phúc.Bây giờ tôi đã biết, mùi vị của những cây ngải hương đã tác hại lên từng giấc mơ của tôi. Rõ ràng và mãnh liệt.Chẳng ai có thể thay thế nàng. Giống như một cánh cửa vừa mở ra, đã khép, tôi bất lực nhìn Ngải Hương đi ra khỏi đời.Không có gì khác hơn một khu vườn cuối mùa thu hoạch, những nhánh lá đổi màu xanh thành màu cỏ úa, trong rét mướt của chiều có con chim về lót tổ. Tiếng hót mang giai điệu tủi hờn.Ở bên ngoài tịnh yên, tôi đã chọn cho mình chỗ đứng. Như một chuyến xe vừa đãi lọc những chặng đường, tôi đã vừa từ bỏ những quá khứ lấp lóa đèn màu để đi vào ngỏ cụt.Ngay chổ tôi ngồi, thửa đất phủ kín một phần thân thể của Ngải Hương. Thời gian cuốn phăng những điều nghịch lý giống như mưa thấm sâu vào vùng đất thấp. Mùa xuân ngọt ngào sẽ qua đây sáng mai, nhưng căn phòng có cửa sổ nhìn ra sân trước của khu vườn sẽ đóng lại vĩnh viễn. Từng cơn gió tạt qua đó như nỗi nhớ. Không còn ai để gọi tôi là Quách Tỉnh nửa đâu.Tôi không biết chứng bệnh quái ác hay một cơn phấn khích đột ngột nào đó lấy đi cuộc sống của Ngải Hương. Nhưng bác sĩ ở bệnh viện đã chạy chữa hết cách và trong một tình huống chẳng đặng đừng, họ đã yêu cầu thân nhân đồng ý cho nhân viên bệnh viện rút dây chuyền dưởng khí ra khỏi nàng.Sơn là người duy nhất có mặt để lo liệu thủ tục. Đám tang vội vàng vì theo hắn nếu kéo dài sẽ kéo theo những rắc rối ngoài ý muốn.           Buổi chiều Sơn đem về từ nhà quàng hủ đựng hài cốt có ghi tên Ngải Hương bên ngoài. “Cậu tìm cách bảo quản hay tìm một nơi nào đó, trong vườn để gởi gắm chị cậu… Gọn gàng nhưng đừng sơ sài quá”…Giọng nói vẫn lạnh lùng như của một người chưa hề biết qua những tình yêu hay lòng nhân ái.           Tôi dùng những dụng cụ làm vườn để chôn Ngải Hương dưới một thửa đất, cách xa những gốc cây cần sa … Không xa lắm đủ để tôi nhận ra cuộc đời không mênh mông dễ sợ như tôi nghĩ. Cuộc đời vẫn thừa mứa hoan lạc lẫn khổ đau. Cây thánh giá cắm trên đó như một dấu tích điêu linh và mỗi ngày rét mướt đi qua sẽ lau khô dùm nàng những phiền tục hớn hở.          
Khi cảnh sát ập đến ngôi nhà này hồi tháng trước- nghĩa là sau Tết Việt Nam vài ngày, tôi đang ở nhà một mình. Sơn và những người khác không ai có mặt.Họ lấy khẩu cung tôi nhiều ngày nhưng sau cùng biết tôi chỉ là người làm công, không phải là người điều hành nên giam giữ tôi tại phòng giam của quận hạt, chờ ngày ra tòa. Và nếu xét thấy có tội, tôi sẽ bị tù một thời gian. Sau hạn tù, tôi sẽ bị trục xuất về nơi chốn mà tôi đã ra đi. Đó là Hà Nội, Việt Nam. Tôi sẽ gặp lại Hà Mô Phạm.Tôi không buồn. Chỉ thấy đau lòng không biết ngôi nhà từng ghi dấu kỷ niệm giữa tôi và Ngải Hương sẽ trở nên thế nào. Và một nơi chốn vừa ghi xuống một tình yêu đầu đời.Có những điều mà con tim muộn màng đập lên khi bàn tay đã rời hơi ấm. Và nỗi cô đơn chật kín khúc sông đời mông mênh. Tôi đi qua những tháng năm dài được gối đầu trên đôi vai trần thanh khiết của Ngải Hương. Và hơi thở thơm mùi nha phiến của nàng tỏa ra mỏng mềm hơn sóng áo.Đó là một kinh nghiệm non yếu nhưng rền rĩ từng lời khản thiết gối chăn.Những luồng xe mất hút bên kia đường chiều mịt mùng. Bóng cây dâu cô độc nơi đó vẫn còn cho những nụ hoa. Còn tôi? Phải mất bao nhiêu lâu để trưởng thành? Để không còn trượt chân ngã sóng soài lên một quá khứ? 

PHẠM NGŨ YÊN

PHÒNG VĂN

Hồi trẻ, thích đọc sách, có lúc tôi mơ có thể đến thăm phòng làm việc của một nhà văn có tác phẩm mình yêu thích. Tôi hình dung quanh chỗ ngồi nhà văn ấy có đầy sách tham khảo trên bàn và trong tủ sách, có thể có bình hoa, ấm trà và cái tách xinh xinh. Trên tường có thể là vài bức tranh sơn dầu vẽ cảnh sông nước hay cô thiếu nữ. Không gian ấy không cần sang trọng, thậm chí là đơn sơ, thanh bần nhưng chính là không gian sáng tạo, đủ để nhà văn dậy lên niềm hứng thú viết lách.

Công việc và bản tính khiến tôi không la cà nhiều, không có dịp kết thân rộng với giới sáng tác. Tuy vậy, tôi ghé thăm được vài thư phòng trang nhã.

Có lần, có dịp đến thăm tư thất của nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân ở Cái Bè thuộc Tiền Giang, tôi thấy lại cảm giác thư thái khi ngắm cách bày biện giản dị trong nội thất của anh. Ở phòng khách, sát tường là tủ sách có cửa kính. Trên tường đối diện treo bức thư pháp chữ Hán anh viết kiểu chữ thảo khá đẹp hai câu thơ của danh y Hải Thượng Lãn Ông: “Thiện diệc lãn vi hà huống ác. Phú phi sở nguyện, khởi ưu bần”, nghĩa là “Thiện còn lười biếng làm, huống chi việc ác; Giàu chẳng phải ước nguyện, nên đâu lo nghèo”. Treo bên cạnh bức thư pháp là cái quạt giấy… rách. Cả hai kết thành một tác phẩm sắp đặt đơn sơ nhưng tuyệt hay, hòa quyện với nhau trong tinh thần thiền giản dị và thoát tục. Không gian phòng khách kết nối với phòng làm việc kế bên. Ở đó, có cái bàn làm việc rộng, trên có mấy chồng sách và tạp chí. Con dao tre rọc giấy đặt trong ống bút. Khay trà cũng bằng tre chỉ có một cái chung, có lẽ chỉ dành cho chủ nhân. Trên bàn có một ngoạn thạch đặt trên đế thấp. Bàn viết đơn sơ, thanh sạch. Anh Quân bảo: “Vậy là đàng hoàng lắm rồi. Hơn chục năm trước, tôi ở trong cái chòi lá mái thấp trong rừng cao su ở Lai Uyên, miệt Bàu Bàng thuộc Bình Dương. Tôi ở đó một mình trong hơn một năm, tự nấu ăn, thỉnh thoảng trò chuyện với mấy công nhân cao su gần đó. Trời mưa, bốn vách chòi trống không, tôi ngồi giữa chòi bên cạnh mớ sách vở mà không sợ ướt. Vậy mà vẫn  viết lách được. Bức thư pháp trên tường anh thấy do tôi viết những ngày ở đó”. 

Rời nhà Phạm Hoàng Quân, tôi cùng anh và vài người bạn đi tiếp về huyện Chợ Mới, An Giang để thăm nhà nghiên cứu Lý Lược Tam đang nằm dưỡng bệnh. Đó là lần đầu và cũng là lần cuối thăm nhà chú Tám (cách tôi gọi ông). Góc phòng văn của chú có kệ sách nhỏ, mấy cuốn tạp chí. Thật cảm động khi thấy chú Tám treo ngay nơi làm việc hai món: áo yukata và cái nón cời lối. Áo yukata là dạng kimono đơn giản của đàn ông Nhật, do Đông Vy, vợ tôi tặng chú sau một chuyến đi Nhật vì biết chú thích. Cái nón cời lối đan bằng tre cũ kỹ, là kỷ niệm để lại từ ông nội của chú mang sang từ nước Trung Hoa ngày xưa, dùng cùng với cái áo xá xẩu khi còn là bang trưởng Triều Châu ở Lái Thiêu. Chú Tám không dùng  máy vi tính, viết tay trên giấy và khi muốn gửi ai đọc thì đi photo rồi phân phát. Góc nhỏ còn có một cái dù bằng giấy, vài món đồ cổ.

Phòng văn là không gian sáng tạo, thể hiện cá tính của chủ nhân. Ở gần nhà tôi, trên đường Lam Sơn hồi thập niên 1960 có một phòng văn của nhà thơ Đông Hồ và vợ là nữ sĩ Mộng Tuyết. Ông anh tôi, cựu sinh viên Văn khoa là học trò của ông, nghe các thầy trong trường kháo nhau đó là một phòng văn rất tao nhã hiếm có mà ông chỉ tiếp khách quý. Các sinh viên mến mộ ông chỉ “nhìn” phòng văn ấy qua mô tả của ký giả Nguyễn Ngu Í đăng trên báo Sáng Dội Miền Nam khoảng năm 1962. Ở đó, vào những dịp gần Tết, ông thường đón tiếp bạn văn với quốc phục, hoa trong bình, câu đối và tranh thủy mặc treo trên tường, phảng phất mùi trầm hương thơm ngát xông trong lò. Sau này, nhà văn Hồ Trường An mô tả lại chốn văn chương ấy trong cuốn Cõi ký ức trăng xanh, đọc càng hấp dẫn:

“Ông Đông Hồ và bà Mộng Tuyết có cuộc sống đẹp và phong nhã. Ông gọi bà bằng Tuyết muội muội, bà gọi ông là Đông Hồ ngô huynh. Khuôn viên của họ được gọi là Úc viên. Gác của ông Đông Hồ treo lủng lẳng một vài khóm phong lan nên được gọi là Vương Giả hương đình, còn căn phòng trên gác của bà Mộng Tuyết có mái hiên gie ra nên gọi là Tân Nguyệt Hiên (mái trăng non). Khi tiếp khách, ông Đông Hồ rửa tay bằng eau de cologne rồi xức eau de lanvande, mặc áo dài gấm, đội khăn xếp, đem lò hương trầm ra phòng khách. Còn bà Mộng Tuyết thì thoa son, giồi phấn tỉ mỉ, đeo nhiều món trang sức bằng cẩm thạch, kim cương, pha trà sen, dọn rượu cúc để bồi tiếp tao nhân mặc khách. Trong văn chương, họ gọi mứt hạt sen là mứt liên tử, rượu chát (vin, wine) là rượu bồ đào hay bồ đào mỹ tửu, gọi trái sầu riêng là trái Đào liên, gọi rượu Tây loại quý như rượu champgne là Quỳnh Tương ngọc dịch, gọi bánh Trung thu là Trung Thu nguyện bỉnh… Ngòi bút của họ nếu tả cảnh thì tả hoa quỳnh, hoa bạch mai, quả đèn bằng dưa hấu khoét ruột (qua đăng), đôi đèn sáp cầu tuổi thọ cho cha mẹ…”.

Phòng văn ấy hiếm có, như phong cách sống của vợ chồng chủ nhân.

Nhà văn xứ Việt bao đời nay hầu hết có đời sống kinh tế bình thường, thường có nghề khác để nuôi ngòi bút … Ai khá hơn thì vừa viết vừa làm chủ báo, chủ bút, chủ nhà in, chủ nhà xuất bản, chưa kể những nghề khác không liên quan đến sách vở. Số đông là sống thanh bạch, thậm chí là nghèo. Trong tâm trí của họ, những câu chuyện sắp viểt ra mới là quan trọng. Văn chương là đam mê, là nỗi thống khoái của họ, và phòng văn là không gian quan trọng, dù đơn sơ, để họ tuôn trào ra ngòi bút những cảm xúc và những điều muốn kể. Nhà văn Hồ Trường An cho là nhà văn Sơn Nam, dù không quan tâm chăm sóc bề ngoài, ăn bận đơn giản, không cạo râu nhưng: “căn gác của Sơn Nam trên đường Nguyễn Cảnh Chân rất gọn ghẽ, mỹ thuật. Sách vở trong tủ, trên kệ được sắp thứ tự, chậu cây cảnh, đồ cổ ngoạn chưng bày rất bon gout…”.  Còn nhà thơ kiêm ký giả Nguyễn Ngu Í, người có những cơn tâm thần bất định, tuy ở một căn nhà hẹp té gần chợ Vườn Chuối, trên căn gác lửng mờ tối, cạnh bàn thờ thắp sáng bởi ngọn đèn trứng vịt bóng đỏ là nơi đặt bàn viết của ông. Trên đó có giấy má, tập vở xép gọn gàng, có con ốc biển vân nâu vàng dằn lên. Tủ sách bày nhiều cuốn bìa da, mạ chữ vàng.  Đó là một không gian khá “sang”, như một góc đền văn chương nhỏ xíu mà Hồ Trường An được thấy và ghi lại.

Có một phòng văn ở Sài Gòn thập niên 1960 mà một nhà nghiên cứu người Mỹ khi đến thăm đã phải thốt lên: “Tôi ước mong có một căn phòng xinh xắn như thế này và chỉ có một nửa số tài liệu của ông thôi!”. Ông ta đã thấy gì ở nơi làm việc của nhà nghiên cứu ngữ học Nguyễn Bạt Tụy này? Theo Giản Chi, trong bài viết “Nguyễn Bạt Tụy, nhà dân ngữ học” trên báo Văn số 159, đó là: “những kệ và tủ kính đầy sách nghiên cứu, không còn để hở mảng tường nào. Một tủ ô to đựng các thẻ từ điển có nhiều tấm nhãn ghi ở đầu mỗi hàng ô: Điển tự Hán, Điển tự Nôm, Điển tiếng Dao, tập tiếng Dao theo gốc (gốc Hán, gốc Nho, gốc Nôm, gốc Ầu (chú thích: tiếng do ông Nguyễn Bạt Tụy đặt, do hai chữ Ấn – Tàu ghép lại), gốc Nê (chú thích: tiếng của ông Tụy, dùng trỏ chung: Indonésien, Mélanénisien, Polynésien). Gốc Thái, gốc Âu Mỹ, bộ tiếng Dao theo ý (tên giống, tên người, tên đất, chức tước, nghề nghiệp…)… Trên tủ ô ấy lại chồng hai tủ nữa với những nhãn đề: “lời ngạn Dao chợ, lời ngạn Dao – Mường, điển tiếng Dao – Mường, các điển tiếng Thái… Ông Tụy chỉ cho  khách về những thùng tài liệu, phim ảnh, băng thu thanh. Thùng nắp xanh để B.W films để chứa 15 ngàn phim đen trắng, đề C. films chứa 5 ngàn phim màu, những thùng nắp tím đề slide chứa 6 ngàn phim chiếu màu, những thùng nắp xanh lợt là ảnh màu và đen trắng, những thùng nắp màu cà phê sữa là những băng thu thanh các ngôn ngữ, các giọng nói, các điệu ca nhạc Kinh Thượng và các cuộc tế lễ. Chưa kế các cuốn sổ tay ghi chép với hơn 40 ngàn trang, “viết đến chết chưa hết”, chưa kể các sấp đối chiếu ngôn ngữ có 1.000 tiếng lấy trong 40 thứ ngữ.”. Tất cả tài liệu do Nguyễn Bạt Tụy thu thập trong bốn năm, gần cạn hết số tiền ông dành dụm trong bao nhiêu năm dạy học. Sau đó, ông chỉ ngồi trong phòng văn của mình và viết. Đây không chỉ là phòng văn, mà là một kho tư liệu quý hiếm. (trong bài viết gốc, chữ Dao được viết là Giao).

Một phòng văn không chắc tạo nên một nhà văn, nhưng một nhà văn có tài sẽ tạo nên câu chuyện thú vị về một phòng văn. Đó là không gian riêng tư của họ, nhưng có sức thu hút với chúng ta, những người thích đọc sách. Có ai từng có ý muốn lập một bộ ảnh, hay một tập tranh ký họa về không gian sáng tác, nơi hoài thai những tác phẩm được ưa thích của các nhà văn ở Việt Nam? Họ đã viết những tác phẩm, như “Vang bóng một thời”, “Chiếc lư đồng mắt cua” của Nguyễn Tuân, “Hương rừng Cà Mau” của Sơn Nam, “Những bước lang thang trên hè phố” của Bình Nguyên Lộc, vân vân trong khung cảnh thế nào?

Đó là việc đáng làm… trước khi quá muộn. Hoặc có khi đã muộn.

PHẠM CÔNG LUẬN

tiếng thời gian


o về phố cổ chiều phai tím
mưa bụi bùn thưa lấm tấm hoa
đôi dòng bướm lạ dường xa quá
bến gió vô tình lại thiết tha

hài son đánh thức kinh thành cũ
phiến đá rêu phong tích hoang trầm
cánh hoa rơi chạm hồn thu thảo
nghe một hoàng cung dậy thuở nào

ơi cô thiếu nữ còn rất trẻ
e ấp mộng vàng mơ quân vương
chiều tan xóm học nâng nhành phượng
giấu ở bình yên mối tình đầu

bao là năm tháng dần trôi mãi
lối cũ o về thôi mưa bay
tiết xuân tê tái màu kỷ niệm
tím cả triều đình đã ngủ say

o về phố cổ còn quên lại
chiếc nón đề thơ hôm tiễn đưa
kinh thành khép cửa sầu giăng kín
mà ngõ nội thành – một bóng chim.

Phạm Quang Trung

THƠ TRÂN SA

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là transa.png

CON NGƯỜI NƯỚC

Tôi là con người nước
Không thể đổi thay.
Vì Em mà tôi mặn-
Vì người mà tôi cay.
Con người nước
Cũng chỉ như bao người nước khác,
Đêm ơi.
Tôi khóc tôi cười tôi thương tôi nhớ.
Tôi lẻ loi như hành khất kia ngoài chợ.
Tôi đợi mỏi mòn như quán nhỏ về khuya.

NHỚ
Tôi nhớ, và mềm như giọt nước,
Mùa đông, tuyết trắng phủ ngoài sân.
Tôi nhớ cả muôn vàn kiếp trước,
Người ngàn kiếp trước – nhớ tôi không?

LẠC

Lạc vào vần điệu ca dao,
Lạc vào lại một thuở nào xa xưa,
Lạc vào mái ngói đình chùa,
Lạc vào lại những ngày chưa vào đời…
Lạc vào tháng của mưa rơi,
Lạc theo hồn phách ngậm ngùi mây bay…
Lạc trong thế kỷ tan bầy,
Kẻ đi người ở – đoạ đày – lang thang…

THA THỨ CHO TÔI

Tha thứ cho tôi- Con ốc trăng mượn hồn mà sống,
Để đêm ngày đắm đuối ở bờ hoang.
Tha thứ cho tôi- Trộm cắp bóng hình người lãng mạn,
Ấp ủ, săm soi trong giấc mộng sinh, tàn.

TRÂN SA