CHÚC MỪNG NĂM MỚI

BBT TUONGTRI.COM thân ái chúc các bạn thực hiện được mọi ước mơ trong cuộc sống

Advertisements

BUỒN MÂY…

trời làm nên nỗi xa xôi
để buồn
mây
mãi vào đôi mắt nằm
để tim buốt nhức vết dằm
để nhung nhớ rất đỗi đằm thắm sông

**
nhớ nhung rất đỗi màu đông
cái màu hiu hắt ngàn thông reo chờ
buồn
mây
cũng thế thẫn thờ
theo bên người ngẩn ngơ bờ chiều tây

**
bên người nghe gió mùa vây
nghe tà huy buổi về gầy hư hao
nghe hoàng hôn phiến lao xao
buồn
mây
lá rụng tự bao giờ dòng

**
buồn
mây
bóng nước mê ròng
vàng phơi mấy độ cho lòng sầu giăng
khuya đêm lạnh quá tàn trăng
soi chi nữa lệ cát đằng khóe mưa

**
cát đằng lệ khóc gì thưa
buồn
mây
viễn xứ tóc xưa trắng đầu
sợi thơm thiên lý hương rầu
lên tay ngón thắp khói sầu đời trôi

**
khói sầu sợi lặng lẽ môi
phù vân lỡ hẹn mộng rồi
buồn
mây…

Phạm Hiền Mây

HOÀNG LỘC, NGẮN… DÀI TÌNH SI


(Hoàng Lộc)

“Ta mãi lơ mơ suốt một đời tình
Mãi lưu lạc những hiên nhà gái đẹp “

(Hoàng Lộc)

Sau khi nhóm Sáng Tạo “hoàn thành sứ mệnh” làm mới nền văn học nghệ thuật Việt Nam bằng những tuyên ngôn, thảo luận bàn tròn, tung hê đầy dẫy trên tạp chí Sáng Tạo bộ cũ và mới với những tên tuổi “lớn”: Mai Thảo, Trần Thanh Hiệp, Thanh Tâm Tuyền, Ngọc Dũng, Nguyễn Sỹ Tế… thì có một khoảng trống lộ ra, nhưng không lâu.
Lấp vào khoảng trống của Sáng Tạo, giữa thập niên 1960, là các tạp chí Văn, Khởi Hành, Văn Học… nơi tụ hội của các cây bút trẻ, lần đầu thử sức với văn chương. Và họ đã thành công, với những tên tuổi như Y Uyên, Trần Hoài Thư, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Trần Thị NgH. Cao Huy Khanh, Luân Hoán, Huy Tưởng, Lâm Chương, Nguyễn Tất Nhiên, Nguyễn Bắc Sơn, Ngụy Ngữ, Phạm Ngọc Lư, Lê Văn Thiện… trải dài từ bờ nam sông Bến Hải tới tận Cà Mau. Nhưng công tâm mà nói, thì dải đất miền Trung xương xẩu, ôm gọn núi rừng, đồng bằng, duyên hải đã phải giang tay đỡ lấy máu, xương trắng, khăn tang… là chốn xuất hiện nhiều nhà văn nhà thơ trẻ. Số đông vẫn là Huế và Quảng Nam.
Thế hệ giữa thập niên 1960 trở đi như những chồi xanh vươn thẳng trên “phiến đá chưa mòn” (1) và cho dẫu có nhiều khuynh hướng dị biệt trong sáng tạo, song gia tài họ để lại như “một miền trái chín” cho văn học nghệ thuật Miền Nam, không thể phủ nhận.
Riêng với thơ, phong cách của mỗi người một khác, nhưng có một điểm chung là họ không chạy theo cái mới, cách tân, tự do của Sáng Tạo; cũng không ôm giữ vẻ cổ kính của Văn Hóa Ngày Nay cố gắng níu kéo thời hoàng kim Tự Lực Văn Đoàn. Trong thơ của họ, hơi thở của những Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Xuân Diệu hay Thanh Tâm Tuyền, Trần Thanh Hiệp chỉ phảng phất bên lề trang giấy. Họ có cái riêng, một phong cách không cổ điển, cũng không quá mới theo các trường phái Tây phương (mà Sáng Tạo khởi xướng).
Thơ ca trong thời kỳ này như một vườn hoa muôn màu vạn sắc: Viễn mơ, lãng mạn, tình tự dân tộc, phản kháng lẫn phản chiến… cùng nhau xuất hiện trên các tạp chí văn nghệ Miền Nam, mỗi người mỗi vẻ, mỗi phong cách riêng, như nhận xét của Huy Tưởng: “nó vui nhộn, đa dạng, lôi cuốn, hấp dẫn và nhất là, tự do ngất trời!…từ đó tung ra nhiều trường phái, giọng điệu và sắc màu phong phú…đúng là trăm hoa đua nở thực sự mà không phải kiêng dè sợ sệt điều gì, để sau rốt nổi trội lên những tên tuổi ngời sáng, mỗi người đứng riêng một cõi, một tiếng thơ biệt lập nguy nga” (https://damau.org/archives/44584).

Trong số những tên tuổi ngời sáng đó, tôi chú ý đến Hoàng Lộc, không phải vì ông được giải thi ca của Trung Tân Văn Bút Việt Nam năm 1970, khi còn rất trẻ, (2) để khẳng định tên tuổi nơi trường văn trận bút, mà hơn hết là những bài thơ tình của ông, mượt mà như cô thôn nữ vừa tắm suối bước lên bãi cỏ non xanh, long lanh như giọt sương đọng trên nụ hoa hàm tiếu, như hương thơm thiếu nữ xuân thì. Tôi đọc và nhìn thấy như vậy từ giữa thập niên 1960 lúc còn là học sinh trung học, với những cơn tình mộng thuở đầu đời… cho tới tận hôm nay, đang bắt đầu chạm mốc bảy mươi, nhìn thấy thơ ông vẫn nồng nàn hơi thở tình yêu với những tình dài, tình ngắn, tình già, tình si, tình ngẩn ngơ ngơ ngẩn, tan bay theo một cơn gió, một nụ hoa, nơi chân cầu, một góc phố buồn…đến nỗi đã làm rung động biết bao trái tim giai nhân, như một cô nữ sinh Tường Vy đã chép những câu thơ của ông vào tập vở của mình:
Ta khổ quá chừng cô bé hỡi
Em như hoa cúc nở trong vườn
Mùa thu bay qua đời rất vội
Mà dấu tình chưa kịp lãng quên … (http://saigonline.com/tho/interview/hoangloc.htm)

Những gì mắt ông vừa chạm vào bóng giai nhân, tức thì len vào tâm hồn ông, đánh thức trái tim ông để ngơ ngác ngẩn ngơ. Rồi với những cuộc tình đã qua, đang có và sắp tới cứ đầy ắp trong thơ ông, như thể đó là những tình của tâm tưởng và tâm bệnh. Bệnh tình.
Và như vậy, có thể nói rằng, Hoàng Lộc là thi sĩ duy nhất “sống chết” với thơ tình trong suốt cuộc đời cầm bút của ông.
Từ tập đầu tiên, Thơ Học Trò, xuất bản năm 1965 cho đến những bài thơ gần đây nhất, tình yêu luôn quấn chặt lấy ông. Nó là hơi thở, là máu thịt, là trái tim luôn làm ông rung động và tan chảy với những mối tình thấp thoáng trong ánh mắt và trí não. Vì vậy “xếp” ông vào ngăn nhà thơ tình ái cũng không mấy sai lạc? Bởi trên một trang mạng, ông đã khẳng định trong cuộc phỏng vấn ngắn: “ “ Tôi làm thơ tình từ thuở tưởng đã biết yêu. Sau vài ba cuộc tình, tôi nghĩ tôi biết yêu thật. Tôi tiếp tục làm thơ tình. Tuy vậy, đời sống vẫn có nhiều chuyện làm cho mình điêu đứng như chữ tình – nên lắm lúc, tôi có những xúc động khác… Có thể nói, như bạn tôi, cố thi sĩ Vũ Hữu Ðịnh : ” tôi chỉ làm thơ khi tôi xúc động “. Với riêng tôì, hình như chữ tình dễ quyến rũ thơ tôi hơn !” (http://saigonline.com/tho/interview/hoangloc.htm).
Và trên FB của ông, tôi đọc được mấy câu này, như một khẳng định một đời thơ.
Thơ cứu đời anh những lần hụt hẫng
Để giữ trái tim nguyên vẹn tới giờ

Nếu như Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương…thơ tình của họ là những man mác mây khói, những rung động còn dồn nén e ấp, lãng mạn từ nền văn hóa phương Đông vừa bước ra ngõ sáng phương Tây, đủ để người đọc có cảm giác êm đềm, vỗ về với một chút hụt hẫng, thẫn thờ, nhớ thương; hay Tình trong thơ Du Tử Lê, Nguyễn Tất Nhiên là những mất mát không thể tìm lại, với những đau đớn tột cùng; thì đến Hoàng Lộc, thơ tình là những bùng vỡ thăng hoa, là những ngậm ngùi tiếc nuối, là ca tụng nhan sắc như một hệ lụy kiếp người. Tình với ông không là thiên sứ trần truồng nhan sắc “khách ngồi lại cùng em trong chốc nữa/Vội vàng chi, trăng sáng quá, khách ơi”. Hay như tình khởi phát từ thị giác xa gần của Từ Thế Mộng như nét đẹp của trời ban tặng trần gian:
Ban mai
cõng áo lụa hồng
ngó em anh gửi cả lòng anh theo”.

Và:
Áo trắng ngây thơ đôi vú nhỏ
Áo xanh mơn mởm mông non
Áo hồng chúm chím môi vừa nụ
Ôi gái tơ nào hoa chẳng thơm (Từ Thế Mộng – Gái tơ)

Đọc Hoàng Lộc, cũng không thấy tình kiểu “ba trợn” mà thiết tha của Nguyễn Bắc Sơn:
Ta vốn ghét đàn bà như ghét cứt
Nhưng vì sao ta lại yêu em?
Ôi mắt em nhìn như là bẩy chuột
Ta quàng xiên nên đã sa chân (Nguyễn Bắc Sơn – Trên đường đến nhà Xuân Hồng)

Cũng không trần trụi để khơi gợi và chạm nhẹ vào sex như Linh Phương:
Đêm qua/ rớt xuống vai ngà/ Câu thơ tình/ đọng giữa tà áo em/ Cỏ hoa/ và bướm ngoan hiền/ Nương nhờ ngực/ chỗ xốp mềm/ nằm mơ/ Áo em/ cài cúc hững hờ/ Để cho gió/ nhẹ/ xoa bờ vú căng/ Môi em đỏ/ lúc anh hôn/ Ngã nghiêng/ trời đất Sài Gòn
đêm qua/ Đêm qua/ trăng xế nguyệt tà/ Có hai người nói:“ Mình là của nhau” (Linh Phương – Đêm qua rớt xuống vai ngà).

Ngược lại, tình của Hoàng Lộc đằm thắm, nhẹ nhàng, chân tình, sâu lắng với những gì đã qua đi hay sắp tới hay đang là. Cả quá khứ, hiện tại và tương lai đều hiển lộ sự ngưỡng vọng nồng nàn, không điểm dừng về phái đẹp. Sự nồng cháy là điểm tựa cho tình si nhưng chưa đến dại khờ. Trong một bài thơ, ông thú nhận biết yêu từ “thuở mới lớn” khi còn là cậu học sinh có trái tim bắt đầu va đập lộn xộn không thành nhịp. Nó khởi đi bằng tận cùng cảm xúc, từ nhìn thấy để rung động sau đó:
Thuở mới lớn anh rình cô bạn học
Tháng ngày ai thơm áo trắng không ngờ
Khi cô thả tóc thề ngang cửa lớp
Là khi lòng cậu bé rối như tơ. (Chuyện người đi theo thơ)

Bài thơ không thấy ghi ngày tháng, nên không biết ông làm từ lúc nào, nhưng chắc chắn cách đây không dưới 50 năm?
Chính mái “tóc thề ngang cửa lớp” là tác nhân chính để thơ tình của ông chiếm riêng một cõi, xuyên thấu đời thơ của ông:
Không thể theo nhau, thôi đừng ngó lại
Cô đi theo chồng – anh đi theo thơ”.

Sự khẳng định của ông là hệ lụy của một cuộc chơi dằng dặc. Và, ông chấp nhận làm một cuộc hành trình miên viễn nơi cõi mộng mị ba đào với những bóng hình bay ngang qua đời ông. Sự với cầm không nắm bắt được (ở trên) như tiếng chim họa mi đang hót rộn ràng, bỗng dưng nín bặt, như nụ hoa còn ngậm sương, bỗng tan chảy đâu đó quanh ông không nhìn thấy nữa. Cái còn lại cho ông là những mùi hương bay theo những bước đi. “Đi theo thơ”!
“Rình” cô bạn học đi ngang cửa lớp chưa hẳn là yêu hay yêu thầm, bởi chưa cầm tay bày tỏ, chưa đón nhận được nụ hôn đầu đời. Đó là những rung-động-xao-xuyến-cuộc-yêu một chiều, cuộc yêu bằng mắt bị đứt khúc như kiểu đứng bên này sông ngó bóng nàng bên kia khi chiều tắt nắng với chút bồi hồi, xúc động, man mác! Đó chỉ là một thị chứng của tình; thuộc nhóm tình si.
Trái tim Hoàng Lộc hình không có vách ngăn, bởi mỗi khi thần xác ngoại giới xuất hiện, thì liền ngay đó, giẫm nát phần hồn của ông, rồi nẩy bật ra tiếng thơ từ những ẩn ức nội tại trong tâm hồn ông? Điều này cho ta thấy, thế giới thi ca của Hoàng Lộc không hề là những ẩn ngôn. Thơ đến với ông và thoát ra là cả một phơi bày nội tâm luôn hướng đến cái đẹp. Cái mà cả thế giới mãi đổ xô kiếm tìm và chưa bao giờ định hình, thỏa mãn. Nó ở thật gần và cũng xa hun hút khiến thi sĩ luôn hụt hơi, luôn bị ám thị.
Đã biết rằng yêu nữ sinh rất khổ
Nào hay yêu cô giáo lại khổ hơn
…Ai áo trắng của ngày xưa biền biệt
Vang trong hồn nỗi nhớ cuối tà bay
Để thơ dại tưởng sắc màu chỉ một
Trắng không màu là màu trắng không phai (Gửi cô giáo)

Câu cuối cùng đẹp và trong suốt tựa khí trời, tinh khiết như giọt sương mai mà không hề vẩn bụi “thiên khổ lụy, vạn cổ sầu” vì tình, như mấy câu thơ Bùi Giáng khóc Marylin Monroe, dẫu là “khóc giỡn”:
Giữa hư vô nếu em còn
Nhớ ta em gửi cái hồn cho ta
Úp môi ôm mặt khóc òa
Cồn lê lên miệng là ba bốn lần (Bùi Giáng – Bốn lần)

Ở nơi ông, trắng không màu là màu trắng không phai, phải chăng là cuộc lữ thi ca tình tang tình tứ không mệt mỏi cả đời ông?
Hơn một ngàn năm trước, hoàng thành thi ca phương Đông lấp lánh một Lý Hạ khởi cuộc ngao du thi thơ một thuở nơi Đài Thành một thuở Thi Thơ/ Xe Vàng còn mộng quanh tà áo Thu/ Tóc Mai về, sương Ngô điểm mái/ Thân tàn như cỏ dại bờ đê…(Lý Hạ, bản dịch Tuệ Sỹ) với những mộng mị quỷ thi, hướng đến một thế giới cực kỳ quỷ dị, mãi vật vờ trong chốn u minh âm âm những bi lụy… thì hơn một ngàn năm sau khởi cuộc của Hoàng Lộc là những bay bổng trắng phau một trời mê mệt với tình một cách diễm lệ, chưa bao giờ nhòa phai; bởi tình từ thiếu thời đến thanh xuân, qua một thời bi thảm trại tù… và tới nay nơi xứ người, tình vẫn luôn sóng đôi với ông bước qua trời đông tuyết giá, qua những con đường mùa thu lá phong vàng, mùa xuân bướm hoa. Tình và ông cùng khoác vai nhau lúc ấm áp, khi lạnh buốt… như hai bóng hình trên con đường vạn dặm với những nhan sắc trần gian mà cả hai được “diễm phúc” diện kiến.
Không rõ tới khi nào thì trái tim ông giảm nhịp độ rạo rực để tình ông có những phút thanh lặng bên thơ và nhìn lại như ông tự hỏi rồi tự trả lời bằng những ngôn ngữ cười cợt, bông đùa, dù rằng, những cuộc tình bằng mắt ấy, nhiều khi cũng làm cho trái tim ông rơm rớm những run rẩy?
Ta đã ớn rồi cái nạn văn chương
bốn mươi mấy năm đi hoài không tới
bên quán trần gian ai người đứng đợi
có phải là em, cô vợ trần thân
có phải là em, thường gọi tình nhân?
ta mãi lơ mơ suốt một đời tình
mãi lưu lạc những hiên nhà gái đẹp
bởi thứ giả vẫn nhiều hơn thứ thiệt
ngó trăm lần không rõ nổi vàng thau
nếu em hỏi ta ai là tình đầu
ta sẽ trả lời không ai tình cuối
như chú ngựa hoang mấy trời dong ruổi
gặm miếng cỏ nào cũng thấy thơm ngon
(bởi muôn năm ta thiếu đói trong hồn!) (Thơ viết dở cho vợ và tình nhân)

Ở một bài thơ khác, hồi tưởng lại mối tình cũ (không rõ thứ bao nhiêu) tan vỡ, Hoàng Lộc
không sử dụng ngôn ngữ bi lụy mà “cà rỡn” đến tận cùng cà rỡn, dốc bầu tâm sự với thế hệ thứ ba là cháu nội:
Tụi bây đâu cần biết ta là ai?
ta, như ông nội (mà hơn ông nội
chẳng quan trọng gì tiếng xưng tiếng gọi
ta là ai thì cũng chẳng ăn nhằm)
chỉ biết bà tụi bây thời thanh xuân
như trang kinh thi lắm thằng chụp giật
ta cũng có lần qua nhà đọc được
để đến nằm lòng từng chữ từng câu
chỉ biết bà tụi bây thời khuynh quốc
lòng hoa thơm học một tỏa mười
để hằng đêm ta chịu trời thức suốt
làm ngọn đèn chong cho bà bây vui
ta hồn nhiên yêu, hồn nhiên khóc
khi bà tụi bây yêu để lấy chồng
ông nội tụi bây ranh ma hết biết
bưng bà nội bây về bên kia sông
ấy thế mà nên giang hồ đại loạn
dẫu chút tình kia mơ hồ như mây
cả đời thơ ta là đời ân oán
(sinh du côn hơn ông nội tụi mày)
hãy nhận giùm ta một lời tạ lỗi
chuyện đời trước là chuyện chẳng may
tụi mày lớn lên chắc nhiều điều muốn hỏi
xin ngó lên trời mà hỏi mây bay… (Gửi lũ cháu một phu nhân)

Bàn về thơ tình và đời tình của Hoàng Lộc, có thể từ sáng tới chiều, từ tuần này sang tháng khác vẫn không thể nào luận cho tới hồi kết được. Và vì vậy, có lẽ mượn những nhận xét sau của bạn văn, đã viết về thơ và đời thơ của ông trên trang https://thotinhhoangloc.wordpress.com/ để ngã mũ bái phục tình thơ và thơ tình của ông:
-Du Tử Lê: “Không gian lãng mạn với ngôi ngữ mới và diễn tả trung thực, khiến những trang thơ tình của ông là những trang thơ tình rất đẹp. Tính đẹp của thơ tình Hoàng Lộc, đến nay không còn là một nghi vấn cho bất cứ ai từng đọc thơ ông”.
-Phan Xuân Sinh: “Viết về Hoàng Lộc thì phải nói đến thơ tình. Mấy chục năm nay Hoàng Lộc vẫn mang mãi cái nòi tình nầy trong thơ. Anh đã trau chuốt nó, đã nắn nót nó, nên nó thành lão luyện, thượng thừa như một người luyện kiếm đến hồi không cần kiếm trong tay, chỉ cầm một cành cây vẫn chém đá ngọt như róc mía. Dù rằng cố tìm trong thơ anh một sự ẩn hiện khác, chứa một nội dung khác thì thơ tình của anh vẫn là số một”.
– Trần Doãn Nho: ““… tứ thơ, không khí thơ và trái tim nhà thơ thì dường như vẫn thế: yêu. Chan chứa yêu, đằm thắm yêu, say sưa yêu. Yêu không biết mệt mỏi. Ta có thể nói, anh bày ra “cuộc yêu” trong đời của anh và trong thơ của anh. Ở hoàn cảnh nào, Hoàng Lộc cũng có thể làm thơ tình một cách hồn nhiên, một cách bình thường, y như thể thế giới này không có gì khác hơn ngoài tình yêu trai gái, bởi vì suốt đời anh là một “đời tình”: Ta mãi lơ mơ suốt một đời tình/ Mãi lưu lạc những hiên nhà gái đẹp”.
Bài thơ Mệnh Phụ là một minh chứng cho những nhận xét trên:
Em tóc gió trần gian kia quạnh quẽ
xưa tiểu thơ – nay mệnh phụ bên trời
khi diện kiến, ta run lòng ngưỡng mộ
nỗi bồng bềnh đau sắc áo hoa khôi
ta, có lẽ, bút nghiên chừng đã hỏng
tưởng không còn riêng ánh mắt tình si
sao vướng vất tiếng cười em sóng cuộn
mà oan khiên xanh ngắt buổi xa lìa
kể từ đó dấu đời ta mộng ước
quá chừng em áo mỏng thuở về ai
ta muốn chết một lần cho sắc nước
để em còn nguyên vẹn giữa tàn phai.

NGUYỄN LỆ UYÊN

_______________________

(1) Số chủ đề của tạp chí Văn về các nhà văn trẻ.
(2) Giải thưởng của TT Văn Bút Việt Nam tặng Hoàng Lộc với tác phẩm “Trái tim còn lại”

Tiểu sử:
Tuổi Quý Mùi (1943) Quê Hội An, Quảng Nam
Làm thơ, làm lính trước 1975. Sau 75 ở tù cải tạo và đang lưu lạc xứ người. Định cư tại Memphis Tennessee từ 1993.
Khởi viết năm 1958 trên Văn Nghệ Tiền Phong, Thời Nay. Sau đó có thơ trên Bách Khoa, Văn, Văn Học, Khởi Hành tại Sài Gòn…Một số thơ trên các tạp chí văn học hải ngoại như Hợp Lưu, Văn Học, Văn, Thế Kỷ 21… và các trang mạng văn chương.

Tác phẩm đã in:
– Trái tim Còn Lại (giải thi ca Trung Tâm Văn Bút Việt Nam 1970)
– Qua Mấy Trời Sương Mưa, Văn Mới xuất bản 1999 ở Mỹ
– Cho Dẫu Phù Vân, nhà xuất bản Hội Nhà Văn Việt Nam 2012
– Ngắn ngắn Tình Si, nhà xuất Bản Hội Nhà Văn Việt Nam 2016

Tác phẩm sẽ in:
– Thơ Tình Ở Hội An
– Thơ Viết Bên Trời,

PHÂN ƯU


Chúng tôi vô cùng xúc động và thương tiếc khi nhận được tin buồn:
Thân Mẫu của:
Anh Chị Nguyễn Ngọc Hoa- Nguyễn thị Minh Ngọc
và bạn Nguyễn thị Huế Xưa

Đã từ trần ngày 21 tháng 10 năm 2018 tại Texas
Hưởng thọ 93 tuổi.

BBT TuongTri và thân hữu xin chân thành chia sẻ nỗi đau buồn và mất mát lớn lao này cùng tang quyến.
Nguyện cầu hương linh Bác an lạc ở cõi vĩnh hằng.

Bao Giờ Cho Tới Tháng Mười

Em ngồi xếp xếp những tờ lịch rời. Em vẫn thiếu thời mà nụ cười thiếu! Thật tôi không hiểu em đang nghĩ gì? Tấm bảng đen xì, tôi nhớ phấn trắng, tình tôi vẫn nặng với chuyện ngày xưa…dạy học / làm thơ…tôi còn đâu nữa!

Cuối đời, tôi đó…nhìn gió qua hiên qua nhành cây nghiêng / chênh chênh tháng Chín…Em à, anh định hôn em bàn tay. Em à, em bay hay chồng lịch gió? Gió là ngọn cỏ đang lả đang lơi…đang hỏi tháng Mười bao giờ mới tới?

Tháng Tư không đợi. Tháng Tư lại về. Cổng trường nín khe. Lá cờ đâu mất? Nhang bay khói Phật…em cầu nguyện chăng? Tôi hỏi vầng trăng nằm ngang nằm ngửa…Em đang tính nợ / anh còn mắc em? Từng tờ lịch thêm / tháng Mười biền biệt!

Em ngồi xếp xếp tình ơi mấy ngăn? Con chó sủa trăng, con cú đang rúc…Tôi biết em khóc không là một đêm. Không là một đêm!

*
Có khi nằm nghiêng, tôi nhớ em lạ…tóc thề em thả gió bay chiều Thu!

Có khi cúi đầu, tôi nghe nước mắt…nghe lòng se thắt quặn từng khúc sông. Ôi em mênh mông bồng bềnh thương nhớ…Ôi em sao vỡ em đếm đi em…tình yêu vô biên vô bờ vô bến!

Tháng Mười mất biến…bao nhiêu tháng Mười? Em vẫn thiếu thời, thiếu hoài một sáng / nụ hôn trên trán / nở thành nụ hoa…

Ngựa ô phi qua. Ngựa kim phi lại. Thưa em, không phải! Chỉ nắng hoàng hôn…bay qua chờn vờn thời gian mê tỉnh! Em nhớ người Lính…lành lạnh gió khuya / đường đi không về / đầm đìa sương muối. Câu thơ câu hỏi: “Đêm trăng chàng nghỉ mát nơi nao?”…

Đêm trăng này nghỉ mát nơi nao?

Trần Vấn Lệ

LABOR DAY- LỄ LAO ĐỘNG CỦA HOA KỲ

Tại Hoa Kỳ, Labor Day được mừng hàng năm vào ngày Thứ Hai đầu tiên của Tháng 9, như một ngày lễ của phong trào lao động, để vinh danh những thành quả về kinh tế và xã hội của công nhân Hoa Kỳ.

Ý tưởng lập một ngày lễ Labor Day là do Matthew Maguire (một người thợ máy) hoặc do Peter J. McGuire (đồng sáng lập Liên đoàn Lao động Hoa Kỳ). Peter McGuire là người Mỹ gốc Ái Nhĩ Lan, một chuyên viên về nghiệp đoàn, muốn các công dân “đã lao động” cả năm phải được tuyên dương và có một ngày nghỉ xả hơi. Ông đã chứng kiến lễ hội lao động hàng năm tại Canada (khởi sự từ Toronto năm 1872) nên đề nghị một ngày lễ tương tự tại Mỹ.



Matthew-Maguire

Cuộc diễn hành Labor Day đầu tiên tại Hoa Kỳ được Nghiệp đoàn Lao động Trung ương (Central Labor Union) tổ chức ngày Thứ Ba 5 tháng 9 năm 1882 với khoảng 10 ngàn thợ thuyền ở New York tham dự. Họ phải nghỉ việc không lương ngày hôm đó. Cuộc diễn hành bắt đầu từ Tòa Thị Chính, qua Union Square rồi đi lên đường 42, kết thúc tại công viên Wendel’s Elm Park, nơi gặp của đường 92 và đại lộ số 9. Tại công viên có một cuộc picnic, các bài diễn văn và một buổi hòa nhạc.

Cuối những năm 1800, khi Labor Day trở thành ngày nghỉ lễ tại HK, đa số công nhân Mỹ còn phải làm 12 giờ một ngày, 7 ngày một tuần lễ. Chính trong đỉnh cao của cuộc Cách mạng Kỹ nghệ mà công nhân phải làm việc nhiều giờ như vậy mới đủ sống. Vào thời gian đó, tuy nhiều tiểu bang đã ra giới hạn về tuổi của công nhân, nhưng một số tiểu bang khác vẫn còn những em nhỏ từ 5 đến 6 tuổi phải làm việc trong các hầm mỏ, xưởng thợ hoặc nhà máy xay. Trẻ em, người già, người nghèo và di dân thường phải làm việc trong những điều kiện không an toàn và lương bổng thấp. Ngày 3 tháng 9 năm 1916, đạo luật Adamson được thông qua, quy định ngày làm việc 8 giờ. Đây là đạo luật liên bang đầu tiên quy định giờ làm việc tại các công ty tư nhân.

Năm 1887, 5 năm sau ngày diễn hành đầu tiên, Tiểu bang thứ nhất tuyên bố Labor Day là một ngày nghỉ lễ là Oregon. Tiếp sau là Colorado, New York, Massachusetts và New Jersey.

Quyết định chọn tuần lễ đầu của tháng 9 để làm Labor Day là vì đây là thời gian giữa ngày Lễ Độc lập 4 tháng 7 và Lễ Tạ ơn.

Ngày 28 tháng 6 năm 1894 Quốc hội thông qua đạo luật chọn ngày Thứ Hai đầu tiên trong tháng 9 hàng năm làm ngày nghỉ lễ chính thức cho District of Columbia và các lãnh địa (territories). Cũng năm này TT Grover Cleveland ký một đạo luật quy định Labor Day được chính thức công nhận là ngày nghỉ lễ toàn quốc.

Tuy ngày Labor Day là để vinh danh công nhân Hoa Kỳ, nhưng nhiều người còn dùng ngày này để ghi dấu sự chấm dứt của mùa hè. Vì thế có truyền thống không mặc quần áo trắng hoặc có sọc sau ngày này. Labor Day còn đánh dấu mùa tựu trường và mùa football bắt đầu (NFL thường chơi trận banh đầu mùa chính thức vào ngày Thứ Năm sau Labor Day). Nhiều cơ sở thương mại dùng Labor Day như ngày buôn bán lớn vì có nhiều người được nghỉ lễ để tự do đi mua sắm. Đây là ngày các tiệm “sale” nhiều hàng hóa chỉ thua ngày Black Friday (ngày Thứ Sáu sau lễ Thanksgiving).

Labor Day được mừng tại Canada và Hoa Kỳ nhưng có nhiều nước kỹ nghệ hóa trên thế giới cũng mừng Labor Day vào thời gian khác nhau. Nhiều nước chọn ngày 1 tháng 5 hàng năm (May Day).

Phương Nghi

Yêu em như thế

Một đêm nào đó
mù sương một mình
thấy hồng một đóa
thấy trăng bình minh

Anh ra đê cỏ
rứt bông ngủ ngày
tưởng như là nhỏ
cùng anh uống say

Nghe đây nghe đây
anh ngồi chò hõ
nhớ chim mỏ đỏ
líu lo suốt ngày

Một đêm nào đó
lấy tay cầm tay
vô danh ngón út
cùng nhau sum vầy

Em còn cố xứ
hay qua đồi đông
tóc anh đã bạc
môi em vẫn hồng

Đêm nào đêm nấy
hen hò đêm mai
em về bên ấy
bỏ quên bờ vai

Ngày anh lưu lãng
em còn bên trời
yêu em như ráng
mây hồng lả lơi

Yêu em như thể
mưa thu không lời

NGUYỄN HÀN CHUNG

CHÚT BÂNG KHUÂNG KHI QUA THÀNH CỔ DIÊN KHÁNH

Mai có về ngang thành cổ Cửa Đông
Ngày hai buổi thơm nồng hương áo trắng
Trên dấu xưa giờ đây nghe xa vắng
Tiếng chim thanh mỗi sớm hót trong lành .

Anh vẫn nhớ tà áo vương mùi nắng
Trưa tan trường má thắm quyện hạt sương
Gót chân nhỏ bước qua nghe thầm lặng
Nhịp guốc ngân vang tận suốt con đường …

Mây xứ cũ giăng mờ trên thành cổ
Gió ngàn khơi vỗ mặt gạch rêu phong
Hồn cổ tích chợt tan thành bọt sóng
Chút âm xưa gờn gợn thoáng trong lòng .

Mai em về qua thành cổ Cửa Đông
Xin đừng bảo thời gian trôi nhanh quá
Hơn bốn mươi năm đất quê trở dạ
Cánh cò xưa thưa dấu trắng trên đồng .

Tà áo trắng rộn ràng trong tinh sớm
Vẳng tiếng hồn nhiên của những em thơ
Hàng phượng vĩ mỗi mùa hoa vẫn nở
Dòng đời trôi lặng lẽ thoáng hững hờ .

Mai em về ngang thành cổ Cửa Đông
Cổng rộng mở đón người qua mấy lượt
Đâu áo trắng gió thu đùa ve vuốt
Anh rũ buồn như cánh sáo ướt lông …


NGUYỄN VŨ SINH