Về ngang thành phố cũ

 

Trời vẫn chưa vàng thu, đó em

Em
Cơn gió
Thổi buồn qua vách núi
Trời chưa thu
Xao xác lá tôi
vàng
Mây thiên cổ trôi hoài trời hư ảo
Thổi qua chiều tôi những giấc mộng chưa tan

Trời chưa thu mà rừng tôi xào xạc
Bước chân người xa vắng
Bóng hoàng hôn
Trời chưa thu mà sương mờ giăng mắc
Trải màu thu vời vợi bến sông buồn

Trời chưa thu mà bời bời tóc rối
Nắng chiều phai áo lụa ướp hương người
Ôi đá sỏi cũng ươm nồng men rượu
Rượu hoang đường chảy tận trái tim tôi

Em
Cơn gió
Thổi qua chiều cuối hạ
Mà thu tôi mềm quá nụ môi tình
Đừng vàng úa linh hồn tôi chiếc lá
Trên tay người tình ái vẫn còn xanh

Trời đã chưa vàng thu đó em!

 

 

Về ngang thành phố cũ

 

Rồi người trở về ngang thành phố cũ
Lòng hoang vu trong một giấc mơ buồn
Và nỗi nhớ chảy ùa theo nỗi nhớ
Như sóng chiều xao xác mấy triền sông

Con đường nhuộm nắng vàng xưa còn đó
Áo vàng xưa mờ mịt phía hoàng hôn
Ai nhặt nắng ướp thơm từng trang vở
Để bây giờ nắng rụng giữa trời không

Người qua phố kể chuyện buồn với phố
Kể một mình
Kể mãi
Một mình nghe
Kể với ghế bàn hiên chiều quán nhỏ
Chợt thấy tay mình năm ngón so le

Người qua phố kể chuyện tình với phố
Chỉ một mình, ngồi kể với trăm năm
Kể với hàng cây vàng xao xác lá
Chợt thấy lòng mình giá buốt căm căm.

Lê Văn Trung

SƯƠNG  XANH

Tôi xuất hiện dưới ngôi sao nầy
mắt hiền như lá cỏ
nơi con chim sâu đến từ đâu đó
vui vẻ chuyền cành với hạt sương xanh.

Như con thuyền trên một dòng sông
tôi căng buồm lên gởi nụ cười đi trước
thế giới trong mắt tôi là những cánh đồng
lớn dần theo khí trời và hơi thở.

Tôi biết có những ngày mưa
và những ngày nắng hạn
có những khu rừng thật nhiều thú dữ
nhưng con chim sâu nhảy nhót trên cành
uống hạt sương xanh
ăn từng lá nỏn
và tự nhiên chim hót để chim nghe.

Tôi xuất hiện
dưới ngôi sao nầy
mắt hiền như cánh bướm
dù mặt đất không còn mái lá
cho hài nhi
cho nước mắt sơ sinh.

Như con chim sâu mãi mãi chuyền cành
dẫu rừng kia thật nhiều thú dữ
như con chim sâu bay tìm tổ ấm
vang lời ca lóng lánh hạt sương.

VƯƠNG KIỀU

Một thoáng Lạng Sơn 

 

 

 

Hà Nội đang trong những ngày hè, nhưng do ảnh hưởng của không khí lạnh nén rãnh áp thấp nhiệt đới nên khoảng 4 giờ sáng trời bắt đầu rỉ rả mưa rồi mỗi lúc cơn mưa một nặng hạt hơn. Nằm trong khách sạn nghe mưa rơi, tôi nghĩ thầm: 

– Vậy là chương trình đi Lạng Sơn phải hủy rồi! Công việc ở Hà Nội chỉ trong buổi sáng nữa là xong, trưa có thể lên đường đi đến Lạng Sơn như dự định từ trước, nhưng mưa lớn và dai dẳng trên toàn miền Bắc thế này, lại thêm lần đầu tiên đến một nơi xa lạ, chỉ có mỗi một người quen duy nhất nên cũng hơi ngại ngần. Hơn 7h 30 sáng, cơn mưa không có dấu hiệu gì sẽ dứt, tôi gọi điện thoại cho anh bạn trên đó nói lời xin lỗi vì không thể lên như dự định và đề nghị anh cho địa chỉ chính xác để gửi qua bưu điện mẫu hộp đựng các loại sản phẩm của một doanh nghiệp Thái Lan gửi cho anh mà tôi mang theo. Nhưng anh rất nhiệt tình và thân thiết nói qua điện thoại: 

– Không! Có thể với Hà Nội anh đã đến và đi nhiều rồi, nhưng Lạng Sơn thì chưa. Anh nên đến một lần cho biết đất và người Lạng Sơn thế nào, sẵn dịp tôi có ở nhà, chứ lần khác chưa chắc gì đã có vì tôi cũng hay đi xa. Chiều mai xe sẽ đưa anh đến sân bay Nội Bài trước giờ lên máy bay, anh yên tâm đi! Tôi đã thu xếp xe đến đón anh, chốc nữa họ sẽ gọi cho anh hỏi địa chỉ để đón. Anh không được từ chối. Trước tấm lòng, sự nhiệt tình của anh cộng thêm sự tò mò muốn biết thêm một vùng nữa trong những địa danh có từ “xứ”: xứ Thanh (Thanh Hóa), xứ Nghệ (Nghệ An), xứ Huế (vùng Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế), xứ nẫu (vùng Bình Định, Phú Yên), xứ Quảng (vùng Quảng Nam, Đà Nẵng), xứ Lạng (Lạng Sơn) và bài ca dao được học thuở nhỏ chợt ngân nga trong ký ức: 

“Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh Ai lên xứ Lạng cùng anh Bõ công bác mẹ sinh thành ra em Tay cầm bầu rượu nắm nem Mãi vui quên hết lời em dặn dò” Câu ca như lời mời gọi thứ hai, và, tôi nhận lời. 

Từ Hà Nội muốn đi Lạng Sơn phải qua 2 tỉnh: Bắc Ninh (vùng Kinh Bắc xưa), quê hương của dân ca quan họ, tranh Đông Hồ, với những làng nghề cổ như rèn (làng Vát), đúc đồng (làng Bưởi), tre hun (tre đen) huyện Gia Bình v.v… và Bắc Giang với rượu làng Vân, hát then – đàn tính (huyện Lạng Giang), cam Bố Hạ (huyện Yên Thế) nổi tiếng ngọt, ngon tự ngàn xưa … cũng là nơi có tên những thị trấn rất ngộ nghĩnh như Chũ (huyện Lục Ngạn), Neo (huyện Yên Dũng), Vôi, Kép (huyện Lạng Giang), Nếnh (huyện Việt Yên) … Quá trưa một chút, chiếc Innova 7 chỗ đón tôi ở khách sạn, chạy vòng qua Cầu Giấy về hướng trường Đại học Sư phạm 1 Hà Nội rồi nhanh chóng hòa vào dòng xe trên quốc lộ 1A đi vào tỉnh Bắc Ninh hướng về Lạng Sơn. Hai bên đường là cánh đồng lúa đang mùa chín tới nên đượm một màu vàng tươm, xa xa là những đồi núi trập trùng chạy dài theo đường chân trời, dăm ba con trâu, bò bình thản gặm cỏ mặc cho vài chú cò trắng ngạo nghễ chao qua lượn lại trước mũi hay đậu trên lưng. 

Xe vào đến địa phận tỉnh Bắc Giang, những ngọn núi thấp, thân phủ màu xanh lá nối lên nhau làm cho ánh nắng chiều cũng trở nên dịu nhẹ, người chủ – lái xe đưa tay chỉ về phía trái giới thiệu với tôi như một hướng dẫn viên du lịch chuyên nghiệp rất rành về địa lý: 

– Đó là dãy núi Bắc Sơn, dân gian gọi là cánh cung Bắc Sơn, nó là dãy núi đá vôi chạy theo hướng đông bắc – tây nam, dọc hữu ngạn sông Thương từ huyện Bắc Sơn, Văn Quan ở phía bắc, qua Hữu Lũng, Chi Lăng, rồi lại chạy qua Yên Thế, xuống phía bắc thị trấn Kép; nó nối từ Bắc Ninh đến Lạng Sơn, dài gần 60 cây số, cao khoảng 400 – 500 mét, rộng độ chừng bốn mấy, năm mươi ki-lô-mét. Những năm học phổ thông, chúng tôi được thầy giáo dạy môn Sử – Địa cho thuyết trình về các triều đại, địa dư các tỉnh, lại thêm thói quen hay tìm hiểu các địa danh trong nước; lục lọi trong trí nhớ, tôi góp vào câu chuyện mà không biết cái trí nhớ của người gần 60 có “phản bội” mình không: 

– Đây là cung Bắc Sơn. Còn một cánh cung khác nằm trên địa phận Quảng Ninh, Lạng Sơn, Bắc Giang, Hải Phòng theo hướng đông bắc – tây nam ranh giới của Quảng Ninh – Lạng Sơn, sau đó vòng sang hướng nam Quảng Ninh thì chếch qua Hải Dương và Bắc Giang, lưng quay đông nam, mặt nhìn ra biển Đông nên gọi là cung Đông Triều, phải không? Từ trên xuống dưới ở mỗi ngọn núi, người dân chỉ trồng một loại cây duy nhất: mãng cầu (na), lái xe cho biết na (mãng cầu) ở đây đã thành thương hiệu nổi tiếng, nó giống như mãng cầu dai trong Nam nhưng ngọt hơn, to hơn, hạt nhỏ, dày cùi và thơm ngát, có lẽ do được trồng trên đá vôi, và mỗi năm chỉ cho trái một mùa. Vào mùa thu hoạch người dân lên đỉnh núi hái quả bỏ vào sọt rồi cột sọt trái vào dây cáp cho chạy xuống đất. 

Ải Chi Lăng đây rồi! Chiếc xe dừng trước tường đá có khắc ba từ “Ải Chi Lăng”, trong tôi chợt nhớ đến bài thơ chữ Hán của vị tể tướng nhà Trần vào thế kỷ 14 là Phạm Sư Mạnh đã cảm tác khi dừng chân trước ải trên đường tuần thú xứ Lạng có tên là “Chi Lăng động” được người xưa diễn nôm và dịch thơ như sau: 

Thiên lý tuần biên ẩn cổ bề Phiên thành man trái nhất ê kê Giản nam giản bắc hồng kỳ chuyển Quân hậu quân tiền thanh hủy đề Lâu lại cốc thâm ư tỉnh để Chi Lăng quan hiểm dữ thiên tề Lâu phong bạt mã cao hồi thủ Cấn khuyết thiều nghiêu vân khí tê. Dịch thơ: Nổi trống tuần biên bước dặm ngàn, Xem tày trùng nhỏ khóm Phiên, Man. Quạt cờ đồng đội chê đầu núi, Gầm thét ba quân kéo một đoàn. Lâu Lại hang sâu đò khó tới, Chi Lăng cửa hiểm vượt khôn toan. Ngựa dong trước gió nghiêng đầu ngắm, Cung khuyết mây đài lúc rợp tan. 

 

Dãy núi đá vôi trong cung Bắc Sơn 

Trong “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi, Chi Lăng cũng được ông đề cập đến một cách kiêu hùng: “…Ngày mười tám, trận Chi Lăng, Liễu Thăng thất thế. Ngày hai mươi, trận Mã Yên, Liễu Thăng cụt đầu …” (Ngô Tất Tố dịch), rồi đến đại thi hào đất Việt – Nguyễn Du – trên đường đi sứ sang nhà Thanh, khi qua Chi Lăng đã có bài “Quỷ Môn đạo trung”, bài thơ vịnh về Quỷ Môn Quan, tuy chỉ là vịnh cảnh trên đường nhưng cũng nhắc lại “hiểm địa” Chi Lăng đối với quân Tàu “… Chính khách nam quy dục đoạn hồn…” (Lữ khách về Nam sợ mất hồn – Thảo Nguyên dịch) và từ những năm 1940, nhạc sĩ Lưu Hữu Phước đã sáng tác những bài sử ca hào hùng như: Non song gấm vóc, Bạch Đằng giang, Hội nghị Diên Hồng, Ải Chi Lăng … mà trong những lần “hội diễn văn nghệ” của học sinh quê tôi thường biểu diễn, tôi chỉ còn nhớ lõm bõm vài đoạn: “Chi Lăng, Chi Lăng Tiếng ai hò reo vang trời Chi Lăng, Chi Lăng Bóng ai tranh hùng muôn đời. … Vì nước tuốt gươm đột xông Làm cho rõ giống Tiên Rồng Hồi nhớ tới vó câu khập khễnh lướt qua làn khói giáp chiến. Hồi nhớ tới bóng cờ xí phất tung hùng vĩ quyết tiến! Vì nước tuốt gươm xông pha. Lòng trung, cứu dân lầm than Đồng hát khúc anh hùng ca Bền gan kết tâm cường tráng Khuất Nam, bình Bắc, oai hùng luôn tiến Trống chiêng vang rền …” Ải Chi Lăng là một ải hình bầu dục, được hình thành từ một thung lũng hẹp ép giữa hai dãy núi có địa thế hiểm trở, phía đông là núi đất Bảo Đài, Thái Hòa cùng những vạt đầm lầy, những ngọn núi nhỏ tựa vào nhau thành hào, thành lũy và phía tây là núi Cai Kinh dựng đứng, dài độ chừng 20 cây số chạy từ Quán Thanh huyện Chi Lăng đến huyện Hữu Lũng; con sông Thương chạy ngoằn ngoèo dọc theo thung lũng này tạo nên một con suối có tên rất thơ mộng “suối Hoa Đào”. Nơi hai vòng cung núi phía đông và phía tây kép lại xem như đóng khóa hai đầu của thung lũng là Ngõ Thề phía nam và Ải Quỷ phía bắc. Gọi là Ngõ Thề vì theo truyền thuyết nơi đây diễn ra lễ tuyên thệ thề giết giặc bảo vệ non song, cuối Ngõ Thề là núi giống cái yên ngựa, gọi là núi Mã Yên; còn Ải Qủy là do nơi đây ngày xưa bọn giặc phương Bắc tràn sang nước ta thường qua cửa này, và cửa này cũng đã gây nên bao nỗi kinh hoàng cho bọn giặc xâm lược, trong sách của Lê Quí Đôn có ghi: thời nhà Tấn (265 – 420) quân xâm lăng qua ải này bị giết nhiều đến nỗi đã để lại câu thơ đầy hãi hùng “Quỷ Môn quan, Quỷ Môn quan, thập nhân khứ, nhất nhân hoàn” (Quỷ Môn quan, Quỷ Môn quan, mười người đi, chỉ một người trở về) Tại Ải Chi Lăng có thành Chi Lăng do quân Minh đắp trong thời gian xâm lược Việt Nam, hiện tại chỉ là phế tích với cái nền và ở phía nam thành còn phiến đá khắc mấy từ Hoàng tráng nhị thập đội (nơi đồn trú của đội quân Hoàng tráng thứ 20) mà thôi! 

Trong suốt quá trình xâm lược của kẻ thù phương Bắc từ Tống, Nguyên đến Minh, Lạng Sơn nói chung, Ải Chi Lăng nói riêng luôn là vị trí chiến lược và là hướng tấn công chính, bởi nếu chiếm được có nghĩa là chiếm được cửa ngõ vào châu thổ sông Hồng khi theo đường cái quan (quốc lộ 1) chỉ cách kinh đô Đại Việt (Thăng Long – Hà Nội) 150 km. Nhưng Ải Chi Lăng với chiến lũy hình thang cùng các đầm lầy, sông suối, núi non hiểm trở luôn là tường thành kiên cố của kinh đô xưa ngăn chặn bước viễn chinh xâm lược của các triều đại phong kiến Trung Quốc. Như năm 981 Lê Hoàn đã giết chết bọn tướng cầm đầu quân Tống sang xâm lược nước ta, năm 1077 Lý Thường Kiệt cùng phò mã Thân Cảnh Phúc với chiến tuyến Quyết Lý và Giáp Khẩu dựng tại Chi Lăng đánh tan quân Tống xâm lược lần thứ hai. Năm 1285 quân Nguyên Mông bị quân nhà Trần dưới sự chỉ huy tài ba của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã đánh cho tan tác, tướng giặc là 

Nghệ Nhuận bị giết tại chỗ. Năm 1427, Liễu Thăng chỉ huy gần 10 vạn quân kéo sang dẹp khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi, bị phục kích tại núi Mã Yên, Liễu Thăng bị chém chết, đoàn quân bị vây đánh, tiêu diệt và bắt sống gần như toàn bộ ở Xương Giang. Người lái xe say sưa giới thiệu Ải Chi Lăng với tôi cùng những chiến tích chống xâm lược lẫy lừng của Chi Lăng, Lạng Sơn chẳng khác một sử gia. Anh nói thêm, nếu muốn đi dọc theo Ải Chi Lăng phải theo quốc lộ 1 cũ đến đèo Sài Hồ ranh giới giữa hai huyện Chi Lăng và Cao Lộc, khá hiểm trở; còn tường đá “Ải Chi Lăng” này chỉ nhằm giới thiệu một quần thể của Ải Chi Lăng! Quá tường đá “Ải Chi Lăng” hướng về thành phố Lạng Sơn một chút (cũng thuộc xã Quán Thanh) là “Núi mặt quỷ” (hình chụp bên dưới), trên vách núi có các hốc đá nhìn từ xa giống một đầu lâu, có tóc (những dây leo màu xanh phủ trên), hai hốc mắt, mũi, miệng. Khu vực núi hình mặt quỷ không một cây, cỏ nào mọc tạo nên nét màu đỏ. Người dân ở đây cho biết núi này đã có từ lâu đời và không hiểu sao vùng mặt không cây, cỏ nào mọc chứ chẳng phải do con người cắt tỉa vì không ai dám leo lên chỗ “mặt quỷ”, làm như thế là không tôn trọng “đấng tạo hóa”, sẽ bị trừng phạt; chếch núi “mặt quỷ” là ngọn “núi quỷ” (hình dưới) độc lập có hình dáng 3 người, người sau tựa tay vào vai người trước. Mỗi khi gió thổi qua hai ngọn núi này tạo nên âm thanh như tiếng ma kêu quỷ khóc, dân sống quanh đây đã quen nên không sợ hãi gì mà họ bảo “mặt quỷ” tuy tượng trưng cho cái ác, nhưng “mặt quỷ” và “núi quỷ” thật hiền hòa với dân làng. 

Núi quỹ 

Núi mặt quỹ 

Những sự kiện oai hùng của thời xưa thật xưa qua lời kể của người lái xe cùng những hình ảnh núi đồi thực tại như từng trang sử sống động, hào hùng của đất nước, của tiền nhân hiện ra trước mắt tôi. Trải dài trên quê hương Việt Nam không chỉ có biển, núi, sông xinh đẹp, hùng vĩ mà mỗi một địa danh cũng gắn liền với những trận thư hùng oanh liệt, từng tất đất đã thấm đẫm biết bao máu, thịt của nhiều thế hệ con dân Việt Nam từ ngày lập quốc đến nay! Hệ thống lại lịch sử Việt Nam từ buổi ban sơ, Việt Nam và Trung Quốc chưa hề có mối bang giao hữu nghị thực sự mà chỉ có những cuộc xâm lược mở rộng cương thổ của một nước lớn và sự chống trả, chiến đấu bảo vệ quê hương của người bị xâm lăng. Năm 1977, khi được cử đi học lớp nghiệp vụ biên tập báo, đài từ tỉnh Bình Trị Thiên đến tỉnh Minh Hải do Tổng cục Thông tin tổ chức, một cán bộ lãnh đạo được TCTT cử theo dõi, quản lý lớp và giảng dạy về kỹ năng biên tập, trong một buổi nói chuyện thời sự với lớp đã kể, tôi chỉ nhớ đại ý: “Những năm gần cuối thập kỷ 60, trong lúc miền Bắc đang nỗ lực tập trung sức người, của cải để chiến đấu chống địch ở miền Nam, thì Trung Quốc lại đòi Chính phủ ta phải trả nợ mà họ đã viện trợ trước đó nhằm mục đích cản trở bước tiến của ta; trong thế buộc, Đảng, Nhà nước ta phải chắt bóp của cải để trả cho Trung Quốc, nhưng Bác Hồ và Chính phủ đã cho làm những tấm pano lớn ở vùng biên giới Cao Bằng, Lạng Sơn viết chữ thật to trên đó và treo trên các xe tải chở hàng hóa sang trả nợ: “Tiền tuyến lớn trả cho hậu phương lớn”. Mời báo chí, phóng viên các nước đến chụp hình, quay phim. Lúc ấy Trung Quốc mới thôi đòi nợ”. Những cái gọi là 16 chữ vàng “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng đến tương lai” và tinh thần 4 tốt: “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”, theo tôi, đó chỉ là ngôn từ ngoại giao mà thôi! 

– Chúng ta đến thành phố Lạng Sơn rồi! Giọng của người lái xe vang lên, đưa tôi trở về thực tại, thoát ra niềm ưu tư bất chợt của mình. Cổng chào vào thành phố Lạng Sơn mở ra trước mắt tôi. 

Vạt nắng chiều đang tắt dần sau dãy núi đá vôi của cung Bắc Sơn. Chỉ mới hơn 5 giờ chiều, sau khi nhận phòng ở khách sạn người bạn đặt sẵn, tắm rửa xong, trong lúc chờ anh bạn đến, tôi thả bộ ra chợ Kỳ Lừa chỉ cách khách sạn mình ở độ vài chục bước chân. Và đây, chợ Kỳ Lừa ngày trước, nay là “Chợ đêm Kỳ Lừa”, chợ thuộc phường Hoàng Văn Thụ, mặt trước là đường Trần Đăng Ninh, ngó qua hồ Phai Loạn. 

Theo lời người bạn, chợ đã có từ hơn trăm năm trước, là nơi mua bán các loại sản vật, hàng hóa phong phú, đa dạng như các loại thổ cẩm, trang phục, các món ăn của dân trong vùng và các địa phương khác đưa đến. Chợ được xếp vào một trong “trấn doanh bát cảnh” của Lạng Sơn. Ngày trước chợ họp sáu phiên mỗi tháng vào các ngày mùng 2, 12, 22, mùng 7, 17 và 27 âm lịch; mỗi năm Hội chợ Kỳ Lừa kéo dài từ 22 đến 27 tháng giêng. Trong mỗi phiên chợ diễn ra những hoạt động văn hóa dân gian của các dân tộc rất sống động như hát sli, hát lượn; người đến chợ không chỉ để mua bán mà còn giao lưu, hát giao duyên, kết bạn … Nay thì không còn những phiên chợ, sinh hoạt văn hóa đó nữa mà trở thành chợ đêm, và hoạt động mua bán thường xuyên từ 6 giờ sáng đến 11 giờ đêm để phục vụ khách du lịch, chủ yếu là các loại hàng hóa của Trung Quốc. Trước đây việc mua bán rất sầm uất, nhưng kể từ khi Trung Quốc có những hoạt động quấy phá trên biển Đông, đặc biệt là những thông tin về hàng Trung Quốc có chứa nhiều độc tố thì việc mua bán giảm sút hẳn, tôi tận mắt nhìn thấy khá nhiều gian hàng che bạt phủ kín. Người bạn giải thích cho tôi nghe tại sao gọi là Kỳ Lừa: ngày xưa, khu vực này có một con lừa rất kỳ lạ. Hàng ngày, khi được chủ thả đi ăn, nó tự bơi qua sông Kỳ Cùng và sang núi Kỳ Cấp ăn cỏ non, đến tối lại tự bơi qua sông tìm về chuồng, người ta kháo nhau đó là con lừa của Mạc Đĩnh Chi, rủ nhau đến xem con lừa rất đông và cái tên Kỳ Lừa (con lừa kỳ lạ) ra đời từ đó. Còn ý kiến khác thì cho rằng xưa kia nơi này có những đồi cỏ thấp dùng làm bãi chăn thả lừa, ngựa nên gọi là Khưu Lư và người ta đã đọc chệch thành Kỳ Lừa. Cho đến nay vẫn chưa ngã ngũ về sự hai luồng ý kiến này. Tuy là người sinh ra và lớn lên ở Xứ Lạng nhưng cũng không rõ lắm, tùy anh tin ở ý tương truyền nào cũng được. 

Lạng Sơn là một trong những tỉnh Đông Bắc của Việt Nam được vua Minh Mạng thành lập năm 1831 cùng 12 tỉnh khác của Bắc Kỳ, thành phố Lạng Sơn nằm giữa một lòng chảo lớn, cư dân thành phố gồm có: Nùng, Tày, Kinh, Dao, Hoa, Sán Chay, H’Mông; trong đó người Nùng chiếm tỷ lệ cao nhất, rồi đến người Tày, thứ ba là người Kinh. Từ xưa, Lạng Sơn là trung tâm của vùng đất biên giới, nằm trên trục giao thông có từ rất lâu, nối liền từ giữa kinh thành Thăng Long (Hà Nội) và biên ải, cũng là đường giao lưu giữa các triều đại phong kiến của hai nước Việt Nam – Trung Hoa. Theo nhiều sử liệu, thời nhà Hán, Đường (Trung Quốc) đô hộ nước ta, Lạng Sơn thuộc quận Giao Chỉ, là một trong 9 quận của Việt Nam lúc bấy giờ. Đến triều đại nhà Lý (thế kỷ 11), Lạng Sơn được gọi là châu Lạng, do phò mã Thân Thừa Quý cai trị. Đời nhà Trần (thế kỷ 13), Lạng Sơn được gọi là Lạng Châu lộ, năm Quang Thái thứ 10 đổi thành trấn Lạng Sơn và đặt lỵ sở ở Mai Pha. Thời nhà Lê (thế kỷ 15), Lạng Sơn được bố trí nhiều cơ quan gọi là vệ, cục, ty, củng cố quân sự để chống lại sự xâm lược của nhà Minh. Đến triều Nguyễn, triều đình cử Ngô Thì Sỹ trấn thủ và tu bổ lại Đoàn Thành Lạng Sơn được xây dựng từ thời nhà Trần. Năm 1925 của thế kỷ 20, thị xã Lạng Sơn được thành lập và là tỉnh lỵ của tỉnh Lạng Sơn, chia làm hai khu vực tự nhiên, lấy sống Kỳ Cùng làm ranh, phía bờ nam gọi là “bên tỉnh” tập trung các cơ quan hành chính của bộ máy, phía bờ bắc gọi là “bên Kỳ Lừa” là nơi phố chợ với các hoạt động sản xuất, buôn bán của người dân. Trong chiến tranh biên giới với Trung Quốc năm 1979, quân Trung Quốc tràn xuống đến bên Kỳ Lừa gây ra nhiều thiệt hại. (*) 

Sông Góc nhỏ thành phố Lạng Sơn với hồ Phai Loạn trong buổi chiều tà 

Kỳ Cùng và cầu Kỳ Lừa 

Sông Kỳ Cùng chảy qua trung tâm thành phố, sông thuộc lưu vực Tây Giang (Trung Quốc), sông này dài hơn 240 km, bắt nguồn từ vùng núi Bắc Xa (cao hơn 1.100m) thuộc huyện Đình Lập chảy theo hướng đông nam – tây bắc về Quảng Tây – Trung Quốc. Cách thành phố Lạng Sơn khoảng hơn 20 km, dòng chảy đổi chiều theo hướng nam – bắc tới thị trấn Văn Lang rồi lại đổi hướng dòng chảy thành đông nam – tây bắc trước khi rẻ sang hướng đông ở gần thị trấn Thất Khê, để rồi cũng tại thị trấn Thất Khê dòng chảy theo đường vòng cung, đoạn đầu là hướng tây tây bắc – đông đông nam đến Bi Nhi; từ đây vượt biên giới sang Trung Quốc và đổi hướng dần thành tây tây nam – đông đông bắc nên người ta gọi là sông chảy ngược (**). Trên sông Kỳ Cùng có cầu Kỳ Lừa. 

Những đám mây màu trắng đục là là thật thấp hòa cùng màn sương mù mỏng làm cho cảnh vật ở thành phố Lạng Sơn còn đang chìm trong giấc ngủ trở nên huyền ảo, lung linh hơn, – có thể nào trong cái lung linh, huyền ảo này, ta sẽ gặp những nàng sơn nữ của nhạc sĩ Trần Hoàn! – tôi thầm nghĩ. Đường phố im vắng, yên tĩnh đến diệu kỳ. Ngày mới đã bắt đầu, nhưng hình như tất cả vẫn còn đang ngủ nướng, lang thang trên những con phố nhỏ của thành phố, thoảng qua những làn gió nhẹ làm cho mình tưởng như mùa thu đang tới, tôi ngửi thấy mùi hương hoa hồi đằm thắm, mùi hoa ngọc lan tinh khiết, mùi hoa sữa hăng nồng, hương núi rừng sâu thẳm đẩm ướt sương đêm. Tất cả, tất cả, mùi núi rừng, mùi sương đêm, mùi hoa tạo nên nét đặc trưng riêng biệt khác với mùi dẽo đặt bazan của Gia Lai, mùi nhựa thông của Lâm Đồng – Đà Lạt, mùi dã quỳ của Đắk 

Lăk, mùi hoa ban của núi rừng Tây Bắc … và gợi nhớ trong tôi những tháng ngày sống và làm việc ở một huyện nghèo của tỉnh Gia Lai – Kon Tum sau 1975; cũng những mùi hương không phố thị nào có được ấy, cũng những con người sơn dã nơi ấy đã khiến tôi thấy gần gũi với thiên nhiên, với đất trời và cả với những con người thịt da khét nắng. Cảm giác thanh bình tràn ngập trong tôi. Khí hậu của vùng biên cương cận nhiệt đới ẩm buổi sáng tinh mơ sao mà tuyệt diệu quá! Ở những con phố tôi đã đi qua như: Trần Đăng Ninh, Kỳ Lừa, Bắc Sơn, Bà Triệu, v.v… chỉ độ dăm ba quán ăn nhỏ mở cửa chuẩn bị bán hàng làm xáo động một không gian nhỏ nhoi; còn lại thật bình yên, không ồn ào, náo nhiệt, không kẹt xe, tắc đường, không khói bụi mịt mù, không tiếng còi xe inh ỏi như Sài Gòn, Hà Nội hay những thành phố khác mà tôi đã đi qua. Sau khi ăn sáng xong, người bạn đưa tôi đến động Tam Thanh. Nàng Tô Thị của Lạng Sơn là một nhân vật trong truyện cổ tích Việt Nam có tên là Hòn vọng phu, nằm trong quần thể di tích động Tam Thanh (chùa Tam Thanh, tường thành nhà Mạc, hòn vọng phu) thuộc phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn, trên đỉnh núi (gọi là núi Nhị Thanh) có một khối đá tự nhiên hình một người phụ nữ cõng con hướng nhìn về phương xa. Năm 1991, tượng bị hiện tượng phong hóa đặc trưng ở những miền núi đá vôi do nước chảy xói mòn làm rơi xuống (khoa học địa lý gọi là hiện tượng “karst” (tiếng Đức) và giải thích rằng sự xói mòn này không phải do lực cơ học mà do dioxide carbon (CO2) trong không khí hòa tan vào nước cùng với các ion dương của hydro (H+) tạo thành acid carbonic), người dân đã lấy đem nung vôi (lúc ban đầu người ta nghi là bị phá hoại và đã bắt giữ 2 người dân). Sau này, địa phương đã làm lại tượng bằng ciment đặt vào vị trí cũ. 

Việt Nam có rất nhiều Hòn vọng phu được trải dài từ Bắc đến Trung. Ở Lạng Sơn có nàng Tô Thị; Thanh Hóa có núi vọng phu ở núi Nhồi xã Đông Hưng, huyện Đông Sơn; ở Nghệ An có hòn vọng phu ở Quế Phong bên bờ Khe Giai cạnh giòng Nậm Giai; Quảng Trị có đá vọng phu ở huyện Vũ Xương; Quảng Nam có đá Bà Rầu, Bình Định có núi vọng phu trên dãy núi Bà ở Chánh Oai, xã Cát Hải, huyện Phù Cát; ở Phú Yên có núi Đá Bia (trên dãy núi đèo Cả); Khánh Hòa có núi Mẫu Tử ở xã Ninh Tòng, huyện Ninh Hòa; ở Tây Ninh có núi Bà Đen; còn ở Đăk Lăk có núi Mẹ bồng con trên đỉnh núi M’Drăk huyện M’Drăk. Nhìn chung, có thể nói sự tích các nàng Tô Thị, Hòn vọng phu ở Việt Nam đều có cốt truyện na ná nhau, đó là: người phụ nữ ôm (bồng hay cõng) con khắc khoải chờ chồng đi chinh chiến, hoặc buôn bán ở phương xa hay đánh bắt tôm, cá ngoài biển khơi nhiều năm dài đến độ hóa thành đá; mà người chồng đó là anh trai của mình, ngày còn bé anh em chơi đùa cùng nhau, người anh lỡ tay làm em gái mình bị thương tích trên đầu, sợ hãi bỏ đi, anh em lưu lạc và rồi tình cờ gặp nhau, thương yêu nhau, thành vợ thành chồng. Trong một lần giúp vợ gội đầu hay bắt chí phát hiện ra vết sẹo ngày xưa, hỏi ngọn ngành và biết đó là em gái mình, nhận biết sự loạn hôn của mình và em gái, người chồng (anh) ân hận, đã lặng lẽ ra đi biền biệt để vợ (em) phải chờ mong trong nhiều năm tháng, hàng ngày bồng bế con lên núi dõi mắt nhìn xa đợi chồng rồi hóa thành đá. Và một đặc điểm chung nữa là các hòn vọng phu của Việt Nam là nhìn về hướng biển Đông hay nhìn về phương Bắc xa xăm; theo tôi, đó là nơi người chồng (anh) ra đi tìm sự sống cho gia đình (mua bán hay đánh bắt cá, tôm) hoặc tòng chinh chống quân xâm lược, bảo vệ biên cương của Tổ quốc. Và, tuy sự tích của những “hòn vọng phu” ấy gần giống nhau, nhưng là những hình tượng đẹp, ca ngợi sự thủy chung, nhân hậu và cũng rất nhân văn của người phụ nữ Việt Nam; những “vọng phu” này đã đi vào thơ ca, âm nhạc bằng những tuyệt tác vượt thời gian, không gian như: ba nhạc phẩm Hòn vọng phu 1, 2, 3 của Lê Thương; những bài thơ “Vọng phu thạch” trong tập “Thanh Hiên thi tập” của Nguyễn Du (nói về nàng Tô Thị, Lạng Sơn), “Vọng phu thạch” của Phan Chu Trinh viết năm 1905 về hòn vọng phu ở Bình Định, hay “Núi vọng phu” của Hồ Dzếnh: Nghe nói ngày xưa biển ở đây Biển đi để lại núi non này Mưa nguồn chớp bể chia hai ngả Hòn vọng phu thương vọng hải đài ……………………………………….. Mối tình vời vợi giữa không gian Bốn nghìn năm ấy bao sương gió Mà vẫn đinh ninh thiếp đợi chàng Nhà thơ Chế Lan Viên cũng đã khắc tạc người phụ nữ thủy chung đợi chờ: Đầu nước đá ôm con, cuối nước đá đợi chồng Đâu chẳng song Thương đâu chẳng Kỳ Cùng Là tượng đá của những thời binh lửa Nàng Vọng phu đầu sông hơn gì nàng Tô Thị cuối sông ……………………………………………………….. Không hóa thạch kẻ ra đi, hóa thạch kẻ đợi chờ Xói mòn những non cao, không xói mòn lòng chung thủy Đá đứng đấy giữa mưa nguồn và chớp bể Đợi một bóng hình trở lại giữa đơn cô. (Chế Lan Viên toàn tập, Nxb Văn học, 2002) Hay những câu thơ mượt mà, đầy hoài niệm của Du Tử Lê trong bài “Em về thăm thẳm núi non”. Hoặc là “giọt lệ còn rưng rưng …” huyền ảo, hư vô chứ không chỉ đơn thuần là hình ảnh người thiếu phụ hóa đá, thành hình tượng vô giác, vô tri trong “Sự tích hoa đá” của Lâm Thị Mỹ Dạ. v.v… và v.v… Và, gần đây nhất có trường thi “Hòn vọng phu” của Vũ Thanh (Võ Thanh Quang), bạn cùng trường, cùng khóa với 2466 câu thơ lục bát đã nhân hóa truyền thuyết hòn vọng phu của Bình Định: … Đêm nay trời đổ cơn mưa …..Xác thân hóa thạch muôn niên đứng chờ … 

Thành nhà Mạc là một phần trong quần thể di tích ở phường Tam Thanh, gần với tượng nàng Tô Thị, dấu tích còn lại là hai đoạn trường thành bằng đá trong hẻm núi, khoảng hơn trăm bậc cấp, khá rộng cho người đi, đứng trên đỉnh trường thành có thể nhìn bao quát cả vùng Lạng Sơn, núi non trùng điệp, mây bay lãng đãng trên nền trời xanh. Đẹp, bình yên và tâm hồn trở nên thư thái hơn. Đây là dãy trường thành quân sự nối từ Ải bắc xuống phía nam do Mạc Kính Cung xây dựng vào thế kỷ XVI làm căn cứ chống lại Lê – Trịnh và cũng là nơi để quan sát, phòng ngự và chống lại quân xâm lược Trung Hoa. 

Chùa Tam Thanh nằm trong động núi đá nên cón có tên gọi khác là Động Tam Thanh, được xây dựng từ thời nhà Lê, chùa được xây trên một khu đất ở phía bên kia đường gần phía trước của động. Người dân ở đây cho biết; thời Pháp thuộc, gần sát chân núi phía đông có một hồ bơi lớn do người Pháp xây bằng gạch men đem từ “mẫu quốc” qua, dành cho các quan chức Pháp và những người Việt có thế lực làm nơi giải trí. Nước của hồ là nguồn nước từ sườn núi chảy thằng vào nên hồ bơi lúc nào nước cũng trong xanh, mát rượi. Trái núi ở phía Nam là Tam Thanh, có một hang rất rộng và sâu, cửa hang mở rộng ngay tại chân núi, trông như miệng con cá voi khổng lồ đang há ra. Hang này mới chính là Động Tam Thanh, vì đứng trước cửa hang hô một tiếng to và dài, ta sẽ nghe được tiếng đó vọng lại 3 lần tiếp theo nhau. Động Tam Thanh nằm trong dãy núi có hình đàn voi phủ phục trên mặt cỏ. Đi sâu vào trong hang, ta có thể xem các thạch nhũ từ nóc hang thòng xuống, có nhiều cột dài đến mặt nền hang, trông như cột chống đỡ, phản chiếu ánh ngũ sắc long lanh như kim cương rất đẹp. Trong lòng núi này có con suối ngầm chảy ra cửa hang và đổ vào sông Kỳ Cùng. Người ta có thể đốt đuốc men dọc theo dòng suối trong lòng núi, suốt từ cửa hang bên này sang tận sườn núi bên kia để qua núi Nhị Thanh (nơi có nàng Tô Thị). Có đoạn đi lài lài sâu xuống lòng đất, gọi là lối xuống Âm phủ. Đoạn sau cùng dẫn ngược lên cao ra triền núi, gọi là thang lên Trời. Khoảng khu trung tâm của động, có hồ Âm Ty nước không bao giờ cạn. Hồ chỉ rộng độ mấy năm ba chục mét vuông nhưng cảnh quan tuyệt đẹp, có nguồn nước chảy suốt ngày đêm và ngày nay nhờ kỹ thuật chiếu sáng hiện đại làm cho màu sắc của hang động thêm lung linh, huyền ảo.*** Trong chùa Tam Thanh có một tượng phật A Di Đà được tạc nổi vào vách đá từ thế kỷ 15, tư thế tượng đứng trong hình chiếc lá bồ đề mặc áo cà sa buông xuống tận gót, hai tay chỉ xuống đất. Hàng năm chùa tổ chức lễ hội vào ngày rằm tháng giêng, thời điểm tôi đến đây không phải là mùa lễ hội và chỉ mới hơn 8 giờ sáng nên cảnh chùa còn vắng vẻ. Ngoài phong cảnh tuyệt vời, chùa Tam Thanh còn lưu giữ được những văn bia của các văn nhân đất Việt thuộc loại quí hiếm như: bia Ma Nhai là tấm bia cổ nhất (tạc vào năm 1677, triều nhà Lê) ghi lại một cách chi tiết quá trình xây dựng, tôn tạo chùa; bia khắc bài thơ vịnh cảnh sơn thủy hữu tình của động Tam Thanh của Ngô Thì Sĩ (khắc vào năm 1777); bia tạc bài thơ “Vọng phu thạch” được Nguyễn Du cảm tác vào năm 1803 khi ông được cử đi đón sứ nhà Thanh sang sắc phong cho vua Gia Long, bài thơ được Nguyễn Thạch Giang dịch thành: 

ĐÁ VỌNG PHU Là người? Là đá? Hỏi là ai? Đầu núi bao năm đứng giữa trời. Bặt mộng mây mưa trong một kiếp, Giữ lòng trinh bạch trọn muôn đời. Lớp rêu đoạn sách còn ghi mãi, Dòng lệ mưa thu cứ chảy hoài. Bốn phía mênh mông nhìn dãy núi, Luân thường riêng để má hồng soi! Thật đúng là một “đệ nhất bát cảnh xứ Lạng” như nó đã từng được mệnh danh. 

Còn đây, phải chăng là “trụ đồng” của Mã Viện trong huyền thoại “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” (trụ đồng ngã, đất Giao Chỉ không còn) khi Mã Viện là một viên tướng được nhà Đông Hán cử sang cai trị nước ta? Không phải, đây chỉ là một trong hai trụ đèn dựng bên quốc lộ 1A thuộc địa phận cuối Lạng Sơn, đầu Bắc Giang, thấy ngồ ngộ nên tôi cho thêm vào bộ sưu tập ảnh “Xứ Lạng” cho thỏa cái thú xê dịch.

Hai mươi tám tiếng đồng hồ để đến và đi khỏi Lạng Sơn, quỹ thời gian quá ngắn ngủi để có thể tìm đến những chùa Tiên, giếng Tiên, ải Nam Quan, hang Gió, Mẫu Sơn v.v… nên chỉ ghi lại những cảm nhận của mình về những nơi mình đã đến, chiêm ngưỡng và tình cảm mộc mạc, chân tình của cư dân xứ Lạng và tự hẹn sẽ đến với chùa Tiên, giếng Tiên, Nam Quan … vào dịp khác. Vậy là tôi đã từ giã Lạng Sơn khi bóng mặt trời đang dần khuất trên nền trời Bắc Ninh. 

Tháng 8 năm 2013

Lâm Khánh – Võ Xuân Đào 

Chú thích: 

* : tóm lược theo “Cổng thông tin điện tử tỉnh Lạng Sơn (www.langson.gov.vn) ** : tóm lược theo “Cổng thông tin điện tử tỉnh Lạng Sơn (www.langson.gov.vn) ***: theo lời kể của người bản xứ và tham khảo các tài liệu khác trên mạng internet.

GIỚI THIỆU SÁCH MỚI

 

 

Tại sao lại phải Cõng Thơ Lên Núi khi đã bày biện tất cả những bi thảm hồn phách lẫn tuổi tên buồn?
trả lời câu hỏi này( tương tự to be or not to be?) không khó, vì không hề có những ẩn ngôn mật ngữ gì trong thơ của tác giả (chân dung tự họa: một đứa làm thơ, hiền như cục bột, là người tốt, yêu ai thì nói là yêu… vân vân)
nhưng qua rất nhiều tập thơ văn đã xuất bản, sao vẫn thấy đâu đây rất Thiên Cổ Bùi Ngùi!

 

rất cảm ơn thi sĩ Phạm Hồng Ân đã tặng “Cõng Thơ Lên Núi”
trân trọng giới thiệu cùng các độc giả.

CÁNH CỬA

 

Tôi đến viếng một người hàng xóm vừa mới mất. Đó là một ông già bình thường, sống lặng lẽ một mình. Cuộc đời ông, và kể cả cái chết của ông, chưa hề khơi gợi cho tôi một ý nghĩ nào đó về ông dù là cỏn con. Nhiều lắm tôi chỉ nghĩ ông giống như một chiếc lá khô vừa mới rời cành. Cuộc sống của ông có vẻ chẳng gây nên một chút xao động nào với người xung quanh. Ông là một ví dụ hoàn hảo cho thuyết sinh – lão – bệnh – tử.

Nhưng trong mấy chục phút ở đám tang, tình cờ tôi được nghe hơn bốn câu chuyện về ông. Và tất cả chúng đều kỳ lạ…

Câu chuyện thứ nhất kể rằng ông là một kẻ săn trầm cừ khôi, một kẻ lội rừng sâu chưa bao giờ bị lạc. Cả dãy rừng hùng vĩ miền trung, chạy dài cả sang Lào, chẳng chỗ nào mà ông không rành rẽ. Ông có khả năng siêu hạng để nhận ra những cây gió có trầm. Nhưng cuối cùng ông vẫn là kẻ trắng tay khi bước ra khỏi rừng, không phải do rừng mà vì những đồng bọn của ông – những kẻ đã lột sạch ông ngay cửa rừng.

Câu chuyện thứ hai kể về cuộc đời tình ái của ông. Thật bất ngờ khi biết ông có đến bốn bà vợ và rất nhiều con. Bằng chứng mà người kể chỉ cho tôi thấy là những đứa con lạ mặt hiện diện trong đám tang.

Câu chuyện thứ ba là của một người lạ mặt – người tự nhận là đồng đội cũ của ông trong một đơn vị biệt kích. Người này kể những câu chuyện như bịa về những tháng ngày tung hoành trong rừng rú đất Bắc, những lần đối đầu khốc liệt và những tình huống thoát chết như trong phim…

Còn câu chuyện thứ tư không được hấp dẫn như ba câu chuyện đầu nhưng rất lạ, lạ vì nó quá gần gũi. Người kể câu chuyện này cũng là một người hàng xóm bình dị khác, cùng thế hệ với người đã chết. Ông kể rằng hai người từ xưa đã là những kẻ tử thù không đội trời chung. Có những giai đoạn kẻ này là thợ săn còn kẻ kia là con mồi, và ngược lại. Nhưng vận số may mắn thế nào để cả hai không phải giết nhau và cùng sống sót cho đến bây giờ…

Và tôi còn được nghe thêm vài câu chuyện nữa về người vừa chết. Nhưng tôi cảm giác, nếu có đủ thời gian, tối sẽ được nghe rất nhiều, thậm chí là vô tận những câu chuyện về ông – một con người bình dị mà tôi đã sống bên cạnh bao nhiêu năm nay.

Rõ ràng cánh cứa tử vừa mở ra cho ông nó không chỉ khép lại một cuộc đời mà còn mở ra cho tôi thấy một cuộc hiện sinh náo động và kỳ ẩn. Đối với tôi, ông chỉ thật sự sống kể từ giây phút ấy.

Kiếp người trông giống như một khối thuỷ tinh, nó chẳng có gì, ngoài việc phản chiếu hình ảnh của những thứ hạnh ngộ trên đường. Rồi đến khi vỡ nát, bóng dáng của nó vẫn còn lưu dấu trong những khối thuỷ tinh khác mà nó có dịp đi qua…

TRÀ ĐÓA

Mặt Trời Phía Sau

 

 

“Luôn bắt đầu bằng một hình ảnh. Điểm xuất phát phải là một hình ảnh trong đầu mà tôi muốn người đọc nhìn thấy. Hình ảnh ấy mang một xúc động, một cảm giác mà tôi cố gắng tường thuật trên giấy. Tôi chưa rõ nội dung khi bắt đầu viết, tôi không biết liệu sẽ tạo ra một câu chuyện hai trang hay một trăm năm mươi trang, hay cuối cùng sẽ không thành gì hết – chỉ một đoản thiên rồi không đi đến đâu, không khai mở điều gì…”

Eduardo Halfon, cách đây nhiều năm kể về cách hình thành văn bản của chính mình. Halfon chuyên truy lùng căn cước di dân qua trôi giạt rồi tìm về cội nguồn bị áp bức. Có gì giống giữa Trương Vũ với Halfon, một nhà văn Do Thái sinh tại Guatemala?

Giống ở sự trôi giạt. Sự ly tán gia đình. Nhìn cách này, Trương Vũ gần với Halfon: Nhiều thứ đã đi vào quá khứ nhưng vẫn để lại những dấu vết sâu đậm trong tim mình. Tôi muốn nói về một câu chuyện thật, được kể lại để làm nền cho tác phẩm The Bridge on the Drina (Chiếc Cầu trên sông Drina) của nhà văn Nam Tư (Yugoslavia) Ivo Andric’, người đoạt giải thưởng văn chương Nobel 1961. Tác phẩm lấy bối cảnh của thành phố Visegrad của Bosnia từ thế kỷ 16 trở về sau. Đây là nơi thường xuyên chứng kiến những tranh chấp tàn bạo giữa hai đế chế Thổ và Áo-Hung, và cũng là tranh chấp giữa Hồi Giáo với Thiên Chúa Giáo (gồm Công Giáo và Chính Thống Giáo) liên tục suốt 400 năm. Để ngăn chận sự phát triển của Thiên Chúa Giáo, người Thổ tổ chức bắt cóc những đứa con nít thuộc gia đình Thiên Chúa Giáo, thường là những gia đình nghèo, đưa sang vùng cai trị của Thổ, bên kia sông Drina. Những đứa bé này được cải sang đạo Hồi và lớn lên như người Thổ. Rất nhiều bà mẹ đưa con đi chợ với mình, quay nhìn lại không thấy con đâu, rượt theo kẻ cướp cho đến bờ sông Drina, dừng lại, ngơ ngác nhìn theo chiếc phà chở con qua sông. Lúc đó, phà là phương tiện duy nhất để qua sông. Bên kia là vùng cai trị của đế quốc Thổ.

Thời gian đầu ở Mỹ, cả gia đình tôi còn lại Việt Nam. Hình ảnh những bà mẹ đứng ngơ ngác bên này sông Drina luôn ám ảnh. Có nhiều đêm, tôi nằm mơ thấy dẫn các con đi chơi, đang ngồi ăn uống vui vẻ, chợt nhìn lại không thấy con mình đâu.” [Trương Vũ/ Mưa Ướt Vị Thành]

 

Halfon không khác, trong sự phát tán: “Bốn ông bà tôi sinh ra: một ở Liban, một ở Ba Lan, một ở Ai Cập và một ở Syrie. Tình cờ tất cả đều đến Guatemala vào giữa thế kỷ 20, bằng lang thang du mục không có gì khác ngoài Do Thái giáo. Nhưng tôn giáo không đủ lấp mất mát và ngơ ngác. Họ đánh mất người thân trên các lục địa khác. Đánh mất vì nhiều lý do mà tôi chưa biết hết. Khổ đau và cô độc thì tôi đã nhìn thấy trong mắt họ.”

 

Eduardo Halfon và Trương Vũ còn chung cách hình thành văn bản từ một hình ảnh.

 

Ở Halfon, là trận nắng: “Khi viết Tu Viện, hình ảnh mà tôi có trong đầu là cảm giác khó chịu của một ngày về đến Israël, không muốn về, nhưng bị thúc đẩy bởi một thứ bổn phận đầy phiền toái bắt buộc tham dự đám cưới của chị mình. Bên trong tấm ảnh ký ức còn tất cả sức nóng ngột ngạt của sân bay Tel Aviv. Là hình ảnh đầu tiên khi tôi đặt bút viết.” [Eduardo Halfon/ La Fiction m’aide à passer de l’Individuel à l’Universel].

 

Ở Trương Vũ, là trận mưa: “Tôi nhớ những cơn mưa ở Việt Nam, Nha Trang hay Sàigòn. Mưa Sàigòn thường đến ào một cái rồi ngưng. Mưa Nha Trang kéo dài lâu hơn, nhiều khi dầm dề, và cái cảm giác ướt át lành lạnh nó để lại thường dai dẳng. Tôi nhớ những buổi tối, ở xa về, tôi lang thang trên bãi biển dưới mưa, nhiều đêm mưa tầm tã vẫn không muốn về. Tôi nhớ những ngày còn ở trung học, ngồi trên thềm nhà đọc sách, nước mưa rơi xuống từ mái hiên, thỉnh thoảng những giọt mưa tạt nhẹ vào người. Tôi nhớ những đêm mưa tôi dạy học trong một lớp luyện thi. Học trò từ nhiều trường khác nhau, Lê Quý Ðôn, Võ Tánh, Nữ Trung Học… Lớp học mượn của đình Phương Câu, trống một bên. Khi gió lớn, cả thầy lẫn trò đều ướt. Bốn mươi lăm năm đã qua rồi, tôi vẫn còn nhớ rất rõ nét mặt một số học trò trong lóp đó. Tôi còn cảm nhận được cái lành lạnh của nước và mường tượng âm vang tiếng cười giòn của các em khi cố lách mình tránh mưa.” [Trương Vũ/ Những Cơn Mưa Ngày Cũ].

 

Đến đây chấm dứt sự giống nhau, vì Halfon truy tìm nguồn gốc của thảm kịch, còn Trương Vũ tìm sự lạc quan sau bi kịch. Trận nắng của Halfon là trận nắng của thực tại bực bõ khi về quê. Cơn mưa của Trương Vũ không phải mưa bi lụy mà mưa qua lớp học, với học trò. Halfon xây cất tiểu thuyết trên sân phi đạo Tel Aviv của một Do Thái kiều hồi hương, Trương Vũ xây cất tiểu luận trên nền gạch ướt mưa của sân trường cũ. Hai tâm thức. Hai hướng đến.

 

oOo

 

Tháng 5-1979 tôi đạp xe vào ngôi hẻm trên đường Hiền Vương. Ngôi hẻm có hiệu phở đầu ngõ trông sang cây xăng dẫn vào đường Duy Tân. Tôi đến chào thầy Lâm Ngọc Oánh. Tôi nói với thầy: “Em đến chào thầy.” Hai chữ vượt biên không thốt ra. Thầy Lâm Ngọc Oánh nhìn tôi đăm đăm, thầy không một lần hỏi vì sao, không một lần phát âm hai chữ vượt biên. Tháng 5-1979 là cao trào của vượt biên bán chánh thức, các học trò của thầy thay nhau biến mất. Thầy hiểu nên không cần hỏi và ban lời duy nhất: “Em đừng làm gì để bản thân, gia đình và dân tộc bị khinh.” Tôi không gặp lại thầy nữa.

Tháng 5-2019 tôi nhận sách tặng của một người thầy khác: thầy Trương Hồng Sơn, bút danh Trương Vũ. Tôi không học với thầy Sơn nhưng thầy Oánh và thầy Sơn đối với tôi không khác lắm, cả hai là sản phẩm của miền Nam, những giáo chức tận tụy và nhận lại ở học sinh lòng kính trọng cùng thương mến. Khác biệt là thầy Oánh ở lại và thầy Sơn ra đi. Chính nhờ ra đi mà thầy Trương Hồng Sơn trở thành khoa học gia rồi nhà văn, họa sĩ Trương Vũ. Nhưng thầy Sơn trở về và cho xuất bản Đuổi Bóng Hoàng Hôn.

 

Vì sao tựa này?

 

Đuổi theo chiếc bóng tuổi trẻ của chính mình khi bóng xế chiều tà hay xô đuổi ánh chạng vạng để thấy mặt trời phía sau bóng tối? Đọc hết tập sách, tôi có câu trả lời: cả hai. Chính ý nghĩa của cả hai: Mặt trời đã sau lưng vì tuổi già ập đến nhưng vẫn còn phía trước, phía sau hoàng hôn cho một tuổi trẻ khác. Ý nghĩa này là tựa sách. Một mặt trời của quá khứ và tương lai, từ một điểm nhìn là sân trường Việt.

Vị trí ấy giải thích vì sao Đuổi Bóng Hoàng Hôn là một tập tiểu luận pha tùy bút. Vì sao Trương Vũ chọn lối văn tâm tình ngay cả trong những chương thuần tiểu luận. Không hành văn hàn lâm, không phương pháp luận giải đại học mặc dù tác giả rất am tường. Vì là lời khuyên và tâm tư của một thầy giáo. Nếu, vẫn còn chút ít chất sư phạm mà Trương Vũ thừa nhận: “nghề dạy học, với thêm chút tự phụ, dần biến tôi thành một người mô phạm trong cái nghĩa nghiêm túc và nghiêm khắc.” thì ưu điểm nằm trong cách trao đổi thẳng thắn với các học sinh mà Trương Vũ xem đã trưởng thành, ngang hàng. Đuổi Bóng Hoàng Hôn phải nhìn ở góc độ này: 2/3 được viết cho học trò cũ và tuổi trẻ ngày mai, 1/3 còn lại cho các bạn cũ. Trong tổng thể, vẫn là cho tuổi trẻ.

 

Thể tiểu luận khá hiếm trong ngành xuất bản tiếng Việt. Vì ít bán chạy. Vì khô khan. Đuổi Bóng Hoàng Hôn không vậy. Nhờ vào tính chất trữ tình của giọng văn. Nhờ vào điều Trương Vũ tự nhận xét: Sau này lên dạy đại học, tôi càng trở nên nghiêm khắc hơn với học trò mình, với nhiều người xung quanh nhưng lại ít nghiêm khắc với chính mình hơn.” Chính sự thiếu nghiêm khắc đó cho chúng ta những chương Mưa Ướt Vị Thành, Nói Với Chàng Siêu, Lá Mùa Thu, Nắng vàng Trong Rừng Khô, Đất Còn Thơm Mãi Mùi Hương, Về Lại Sorrento.

 

Đuổi Bóng Hoàng Hôn còn bật lên hình ảnh những ngôi trường. Giáo Dục Việt Nam: Những Vấn Đề Căn Bản là chương quan trọng. Trương Vũ là nhà văn tỵ nạn đầu tiên đặt vấn đề cải cách giáo dục quê nhà, ở vào thời điểm chưa ai bàn đến và chưa nhiều sự kiện tha hóa. Khi biết những kiến nghị, đề nghị, hay đề xuất ngay cả của những nhân sĩ thậm chí của các công thần khai quốc “phục viên” vẫn không được Đảng đương quyền liếc mắt, càng thấy sự tha thiết của một giáo chức miền Nam, là thầy Trương Hồng Sơn. Vĩ tuyến 17 còn hay mất? Thắng trận hay bại trận? Không trầm trọng. Trầm trọng là tương lai. Chức năng của một giáo sư là đào tạo và chuẩn bị cho học sinh bước vào tương lai. Trương Vũ, tức thầy Trương Hồng Sơn không quên điều này. Chương 7 của tập sách là tâm huyết của thầy.

Bỏ ra nhiều công sức thâu thập tổ chức học đường của các quốc gia Á châu, cập nhật với giáo dục Hoa Kỳ và phóng chiếu ngược vào học đường miền Nam, Trương Vũ so sánh từng quốc gia, chỉ ra bất cập căn bản của hệ thống XHCN và đề xuất cải cách. Ba suy nghĩ chính của Trương Vũ là Đại học tự trị, Đãi ngộ giáo chức và Sự Tự do bình đẳng giữa sinh viên với giáo sư trên lĩnh vực tư duy và phát kiến. Không mới với phương Tây, nhưng là hy vọng của một thầy giáo vẫn nghĩ còn trách nhiệm với tuổi trẻ quê cũ.

 

“Ðiều cần ghi nhận trong giáo dục toàn diện, không riêng gì cho Singapore, là phần đức dục phải bao hàm tính trung thực, trong sáng, hồn nhiên; phần trí dục phải bao hàm khả năng suy tư độc lập và tôn trọng sự khác biệt; phần mỹ dục phải bao hàm khả năng sáng tạo và khả năng làm đẹp cuộc đời; và phần giáo dục tính xã hội phải bao hàm khả năng biết tôn trọng tính đa dạng của cộng đồng và xã hội. […] Một nền giáo dục thực sự phát triển con người toàn diện không thể là một nền giáo dục nhằm phục vụ một chế độ, một quan điểm chính trị, một tập thể lãnh đạo, một giai cấp, một tôn giáo,v.v. Lỗi lầm quan trọng nhất trong giáo dục Việt Nam lại nằm ở điểm này. Ở miền Bắc trước khi chiến tranh chấm dứt, và ở cả nước trong khoảng gần 20 năm tiếp theo đó, nó là một nền giáo dục của xã hội chủ nghĩa, nó không chấp nhận những mô hình xã hội khác, những tư duy khác. Bên cạnh đó nó là một nền giáo dục mang tính giai cấp, dành đặc quyền giáo dục cho một thành phần của xã hội. Ngày nay, tính giai cấp quả thật đã giảm đi nhiều. Riêng về các môn học như Triết học Mác-Lê-nin, Chủ nghĩa khoa học xã hội, Lịch sử Ðảng, Tư tưởng Hồ Chí Minh, v.v. dù thực tế cho thấy sự thất bại không thể chối cãi của mô hình xã hội chủ nghĩa, chúng vẫn còn là những môn học bắt buộc và chiếm một thời lượng không nhỏ trong chương trình học và cả trong thi cử. Dù rằng, không phải đến bây giờ mà đã hơn mười năm trước đây, các môn học này đã được xem là những môn mà “thầy không muốn dạy, trò không muốn học”. Sự bắt buộc này kéo theo một vấn nạn khác của giáo dục: buộc học trò chấp nhận và sống với sự giả dối và bất công. Nhất là bất công với những triết thuyết khác, những đóng góp trí tuệ khác trong suốt quá trình phát triển của nhân loại. Theo Quốc Việt, “Việc đưa lịch sử đảng cộng sản, chứ không phải lịch sử quốc gia và dân tộc thành một môn học bắt buộc là một việc không những đi ngược lại với yêu cầu của xã hội mà còn phản lịch sử, phản dân tộc, và phản tiến bộ.” […]

Giáo dục Việt Nam cần giảm bớt mô thức giảng dạy áp đặt và tăng cường mô thức gợi ý.

Cần giảm thiểu sự mệt mỏi của học sinh, nhất là học sinh cấp tiểu học. Ðặc biệt, nên giảm bớt lượng kiến thức hay thông tin trong chương trình học. Nhắm đến một hành trình lâu dài hơn của con người. Không nên để họ gục ngã sớm về đầu óc.

Ðặt nặng vào việc đào tạo giáo chức và dành những đãi ngộ đặc biệt cho họ. Trong trường hợp các nước đang phát triển như Việt Nam, giáo chức phải được tuyển chọn từ thành phần ưu tú nhất của đất nước. Trong thực tế, một thanh niên ở tuổi 18 mới bước chân vào đại học chưa có ý niệm gì về những vấn đề như yêu trẻ, như hết lòng đào tạo tốt những thế hệ tương lai của đất nước. Chỉ có lòng tự hào, sự đãi ngộ và vị trí xã hội mới lôi kéo được các sinh viên ưu tú nhất vào các trường sư phạm, gần giống như cái cách mà nước Pháp đã dành cho sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm của họ, hay chính sách của Ðại Hàn như đã trình bày trên đây. Ðiều này đòi hỏi một chính sách ưu đãi từ phía chính quyền và một thái độ yểm trợ tinh thần từ xã hội.

Ðối với các trường đại học, ngoài việc áp dụng chương trình giảng dạy theo mô hình của các quốc gia tiên tiến tây phương, quyền tự trị đại học cần được ban hành cho đại học Việt Nam. Thiếu sự tự trị, đại học Việt Nam khó thể hoàn tất vai trò đào tạo trí thức của nó. Ðây có thể là một liều thuốc đắng nếu chính trị xem đại học như một lực lượng đối kháng nguy hiểm. Nhưng, đây lại là một điểm chuyển hướng quan trọng để những thành phần tốt nghiệp đại học trong tương lai không mang mặc cảm nào với những đồng nghiệp ở các nước tiên tiến, đặc biệt ở các nước Á châu vốn trước đây có cùng điều kiện văn hóa, giáo dục, kinh tế với Việt Nam, như Ðại Hàn và Ðài Loan. Từ điểm chuyển hướng đó, họ mới có thể đóng góp cho đất nước bằng tất cả sức mạnh tinh thần, lòng hăng say, và niềm kiêu hãnh của họ. Ðừng nên quên một thực tế này, một sinh viên Việt Nam nếu bằng cách nào đó ra khỏi nước, vào học các trường đại học của tây phương, khi trở về (ngay cả khi  quyết định ở lại ngoài nước) thường được coi trọng hơn là nếu anh ta chọn ở lại với trường đại học trên quê hương. Sự kính trọng đó phát sinh từ những điều kiện về giáo dục mà sinh viên đó được hưởng ở nước ngoài, bao gồm những điều kiện mà anh ta hoàn toàn bị từ chối nếu chọn ở lại trên quê hương. Ðây là một bất công rất khó giải thích.

Ðề nghị sau cùng, và có lẽ là đề nghị quan trọng nhất, là nhà nước Việt Nam nên xem phát triển giáo dục toàn diện là ưu tiên hàng đầu của quốc gia, xem nguồn nhân lực được đào tạo qua giáo dục là tài nguyên quí giá nhất của đất nước. Và, khi làm chính sách giáo dục đặt trọng tâm vào những mục tiêu lớn như đào tạo con người trung thực, có sáng tạo, có tư duy độc lập, biết tôn trọng sự khác biệt, v.v. bên trên sự chuyển giao tri thức.  Và, quên đi những gì thực sự không còn giá trị nữa. [Trương Vũ/ Giáo Dục Việt Nam: Những Vấn Đề Căn Bản]

 

Những điều trên, thầy Trương Hồng Sơn viết đã hai thập niên, còn nguyên giá trị.

 

oOo

 

Đuổi Bóng Hoàng Hôn bao gộp 8 tiểu luận với 2 điểm sách và 10 tùy bút. Đặt sang bên những ghi của tác giả dành cho những người bạn, rồi tùy bút kỷ niệm, còn lại là những luận đề và kiến giải mang những chủ đề vô cùng khác biệt, tách bạch và riêng rẽ. Thông điệp nào chung giữa chúng?

Chương 12: Trương Vũ khảo sát bối cảnh lịch sử hình thành của tạp chí Sáng Tạo (như Lukács luôn yêu sách) với khả năng đổi mới sáng tác của từng thành viên, từ Duy Thanh, Ngọc Dũng đến Tô Thùy Yên, Thanh Tâm Tuyền xuyên qua đánh giá công lao của Mai Thảo. Điểm gây chú ý là tác giả trình bày chi tiết những va chạm với Nhất Linh khi Nhất Linh rời Đà Lạt cho ra mắt Văn Hóa Ngày Nay.

Trương Vũ trích tấn công của Duy Lam: “Không biết rõ trong thực yế phản ứng của nhóm Sáng Tạo như thế nào đối với VHNN, nhưng sự cọ xát phải lên đến một mức độ trầm trọng. Ðến nỗi Nhất Linh đã cho đăng những bài công kích hay chế giễu Sáng Tạo. Một cách không công khai như bài viết của Thu Vân trên VHNN số 3, hay tương đối công khai như bài viết của Duy Lam trên số VHNN Giai Phẩm Xuân 1959: “…đến gần mới biết đó là một họa sĩ của nhóm Sáng Tạo (…) Họa sĩ vẽ tài thật, tác phẩm của họa sĩ thật thể hiện được hết tinh thần và tinh túy nội ngoại của đống rác (…) Bước chân vào tòa báo Sáng Tạo tôi lấy làm lạ vì thấy mỗi người đứng một góc phòng trước một bàn thờ nhỏ treo một bức ảnh bán thân. Họ làm đèn khấn vái rất thành kính và lễ luôn tay. (…) Tôi đến sau lưng văn sĩ M.T. người chủ trương nhóm S.T. anh cũng không hay biết. Lắng tai tôi nghe thấy anh khấn: ‘Trời ơi! Người là một người siêu phàm! Người là tất cả. Người ngự trị trên thế giới này! Ta kính phục người, trọng người vô vàn!…’

Tò mò tôi nhìn lên bàn thờ thì chợt giật mình kinh hoảng vì lạ thay anh M.T. đang lễ ảnh anh M.T.! Qua thăm những bàn thờ khác thì đại loại đều thế cả (…)”

 

Rồi đúc kết: “Thực tế, mặc dầu được sự đón nhận vô cùng nồng nhiệt từ lúc đầu, trong sự cọ xát đó, người đọc hờ hững với Văn hóa Ngày nay (VHNN). Tạp chí VHNN kéo dài không được hai năm thì đình bản. VHNN quy tụ được rất nhiều cây viết có thực tài. Thế nhưng, nếu nhìn VHNN như một vận động văn học thì ảnhh ưởng của nó trong sinh hoạt văn học nghệ thuật của miền Nam lại rất khiêm nhường.

Ghi lại những cọ xát đó cùng với cách kết thúc đó chỉ để nói lên một điều: miền Nam đã thay đổi nhiều lắm. Mặc dầu rất kính trọng Nhất Linh, người đọc sách ở miền Nam không còn muốn thu mình trong cái thế giới văn chương của ông nữa. Họ gần với Sáng Tạo hơn. Không có gì sai trong chủ trương “văn phải dựa vào thời gian và dựa không gian để vượt không gian”. Rất đúng là đằng khác. Tuy nhiên cái thế giới văn chương của Nhất Linh ở VHNN vẫn còn quẩn quanh trong văn chương của trường ốc. Ngoài văn chương cổ điển Việt Nam và Trung Quốc, nó thu hẹp trong ảnh hưởng văn chương Pháp của thế kỷ 19 cộng với Leo Tolstoi và Dostoievski của Nga. Trong suốt các số VHNN, người đọc không thấy sự hiện hữu của thế kỷ 20, cũng như không thấy có dòng văn học nào khác ở thời đại này.

Vào thời điểm đó, sự khao khát sống vượt ra ngoài cái thế giới nhỏ bé của miền Nam đã rất lớn. Những ý thức về độc lập và bình đẳng cũng đã bắt đầu ăn sâu. Có lẽ vì vậy mà tính cách của xã hội miền Nam và của văn học miền Nam gần với Sáng Tạo hơn là với VHNN.” [Trương Vũ/ Vị Trí Của Sáng Tạo Trong Sự Phát Triển Văn Học Miền Nam Sau 1954]

Trong đúc kết này, người đọc bắt gặp lại câu kết của Chương 7 Giáo Dục Việt Nam: Những Vấn Đề Căn Bản: “Và, quên đi những gì thực sự không còn giá trị nữa.” tức là trong văn chương, phải hướng đến các giá trị phổ quát mới của thời đại, phải nhìn ra thế giới. Phải tìm đến một mặt trời khác, đang trước mặt.

 

Chương 5: “Vấn đề đáng nói ở đây là sự thức tỉnh của dân tộc Tiệp Khắc. Để nói về sự thức tỉnh này, không có gì hơn là ghi lại một câu viết trên bức tường một hầm xe điện ngầm ở Prague: Chúng ta đã tập bay như chim và tập lặn như cá. Có phải đây là lúc chúng ta bắt đầu sống như những con người?” [Trương Vũ/ Mùa Đông Prague]

 

Vẫn cùng một thông điệp: “quên đi những gì thực sự không còn giá trị nữa.”

 

oOo

 

Trong 10 tùy bút, nếu Mưa Ướt Vị Thành thành công nhất ở lối văn tâm tình thì Cung Giũ Nguyên, Tác Giả và Tác Phẩm gây tò mò. Xuống đến thế hệ thiếu niên của miền Nam vào năm 75, rất ít ai còn biết đến thầy Cung Giũ Nguyên, ngay cả mối tình với Nguyễn Thị Hoàng.

Trương Vũ viết về thầy mình với tất cả kính trọng. Một vị thầy thông thạo Anh-Pháp-Việt, một tiểu thuyết gia phá cách, có nhân sinh quan và sáng tạo. Một con người đã thăng trầm từ Xứ ủy Trung kỳ sang đến Nền Cộng hòa để cuối cùng thu mình vào “xó góc của Trần Đức Thảo”, như Louis Althusser đặt tên cho đất Việt Cộng sản. Là học trò của thầy Cung Giũ Nguyên, Trương Hồng Sơn cũng không thoát khỏi tao loạn: sinh ra giữa chiến tranh Việt-Pháp, lớn lên trong nội chiến để rồi phải thành công dân Hoa Kỳ và làm nhà văn tỵ nạn. Hai thế hệ nối nhau. Sự tan vỡ cũng liền nhau, tan vỡ này viết về tan vỡ kia. Nhưng vẫn cố gắng giữ Chân-Thiện-Mỹ. Cố gắng gieo vào lòng hậu sinh hy vọng. Điểm này thầy Cung Giũ Nguyên đã thành công khi trao cho môn sinh Trương Hồng Sơn.

 

Đọc Cung Giũ Nguyên, Tác Giả và Tác Phẩm, người đọc cảm giác đang nhìn một miểng chai thủy tinh đã bể nhưng còn sáng và đang phản chiếu mảnh vỡ của một miểng chai khác, bể đã lâu, còn nằm đó. Cả hai, dưới nắng Nha Trang, lấp lánh trên mặt cát. Cát chứa trong mình thủy tinh vì cát làm ra thủy tinh.

 

Chương 14 đặc biệt mang bi kịch của hai thế hệ: đã trang bị rất nhiều tri thức, chung khát khao vun bồi để cuối cùng bị cuốn phăng theo bão táp. Sự tan biến ấy, hay khoảng trống không sau cuồng phong, được Trương Vũ nhắc lại nhiều lần, bằng chính văn của Cung Giũ Nguyên: “… một vật lơ lửng trên vực thẳm, được những sợi tơ mành của hy vọng giữ lại. Hy vọng nơi ai? Hy vọng nơi gì? Và có lý do nào để hy vọng? Nhờ biệt lệ nào được nâng đỡ như thế này, trong thời gian có giới hạn nhất định. Hay ta lại muốn cho thời gian còn kéo dài mãi, hay ít ra còn lâu nữa mới chấm dứt. Bởi tánh cách đột ngột của sự việc quá rõ ràng, nhưng một mối đầu luôn luôn phải có đối ứng tất yếu là đầu mối kia. Tuy sự quên lãng những quy luật thường đi đôi với ảo tưởng. Dưới kia là một vực thẳm âm u cuồn cuộn…”

 

Thầy Cung Giũ Nguyên hẳn am tường những câu Pháp văn: « Toutes nos espérances sont mortes, nous en venons à espérer en un plus grand désespoir./ Tất cả những hy vọng của chúng ta đã chết, chỉ còn trông chờ sự tuyệt vọng lớn hơn.» Vậy thầy hy vọng gì? Boujoum!

Qua giới thiệu của Trương Vũ, Boujoum là tác phẩm quan trọng nhất của Cung Giũ Nguyên. Nhưng trông chờ Boujoum là trông chờ gì? Không ai biết! Và Boujoum là gì? Không ai hiểu! Chính vì tương lai là điều không thể đoán ở vào thời điểm 1976-1980 khi Cung Giũ Nguyên viết Boujoum giữa một Nha Trang Walking Dead.

 

Nhiều thập niên sau có thể phân tích: Boujoum đây là Boojum. Tiếng Pháp nhại âm tiếng Anh, có thể là nhại âm bản địa Baja California; có thể là đâu đó trong trí tưởng của di dân Tô Cách Lan. Boojum là snark. Là con vật vô nghĩa trong trường thi Hunting of the Snark/ Chuyến Săn Snark của Lewis Carroll. Thơ của Carroll chơi với giữa sự có nghĩa và vô nghĩa của thanh âm và hình tượng trong ngôn ngữ. Qua trích dẫn của Trương Vũ, người đọc hồ như thấy được cái mỏng manh rung động giữa thời này và thời khác, giữa có nghĩa và vô nghĩa, giữa vật chất và tưởng tượng, giữa hy vọng và tuyệt vọng. Nhưng Trương Vũ không viết nhiều về nội dung của Boujoum, vì: “nếu bạn cố gắng đi tìm cốt truyện thì không khéo bạn lạc vào một khu rừng rậm không lối ra, cho dù sau khi bạn tin rằng bạn đã tìm được nó.” Rồi Trương Vũ viết: “Amdo và Domicella được tái tạo từ Vườn Địa Đàng, cùng với cái đối đãi giữa âm và dương, cái quan niệm trong dương có âm, trong âm có dương, hoặc ý niệm đâu là chỗ bắt đầu, đâu là chỗ kết thúc, ý niệm về chiều thời gian, lúc nào tới lúc nào lui, v.v.. Tính cách này cũng được biểu lộ rõ rệt khi tác giả chọn hai chữ Thái Huyền cho bản dịch tiếng Việt.”

Vậy tiểu thuyết Boujoum nội dung là gì? Đầy bí ẩn! Như khi người ta hỏi ý nghĩa trường thi Chuyến Săn Snark của Carroll, thì Lewis Carroll trả lời là chính ông không biết… Thế hệ sau khó mường tượng ra Boujoum, nhưng ngờ ngợ bản thể của boojum và snark.

Nhưng nỗi khổ của Boujoum là đây: một cuốn tiểu thuyết muốn ra đời trong dạng vật chất của giấy mực in để đến tay đọc giả qua ngôn ngữ mẹ đẻ của những đọc giả ấy, nhưng dù được khen bởi một giáo sư Tây nào đó trên một tạp chí Pháp văn nào đó, và lẽ ra được nhà Fayard xuất bản năm nào đó, đã phải lặng lẽ biến mất vì lý do tài chánh của Fayard. Rồi Boujoum biến thành Thái Huyền được nhà Đại Nam xuất bản tập 1 mà vĩnh viễn không có tập 2. Cũng vì lý do tài chánh… Cuối cùng các môn sinh của thầy Cung Giũ Nguyên, nặng tình thầy trò, đã quyên góp xuất bản năm 2003. Nhưng Văn học Pháp không biết đến Cung Giũ Nguyên. Đọc giả Pháp càng không. Riêng lý do tài chánh, thì chỉ cần nhìn vào thư mục sách đồ sộ của nhà Fayard phồn thịnh từ 1857 là hiểu lý do ấy thuần lịch sự. Boujoum, là một thất bại nhập vào dòng chính của văn chương Pháp.

Qua gian truân của Boujoum, người đọc mường tượng ra những rối rắm đan chéo trong cảnh huống của người Việt: Nhà văn Cung Giũ Nguyên dùng Pháp văn trên nền Pháp văn ngoài lãnh thổ Pháp, rồi dịch sang tiếng Việt trên nền Việt văn ngoài lãnh thổ Việt Nam, với cách nhìn của một môn sinh lưu vong, trong nỗ lực xuất bản của những học trò còn tôn sư trọng đạo, hoài niệm quê quán…  Chỉ riêng Chương 14 này thôi, đầy ắp những nghịch lý của một sự tan nát.

Trương Vũ kể: “Cách đây hơn 30 năm, các cựu học sinh của trường trung học Võ Tánh Nha Trang tổ chức một buổi họp mặt tại trường cũ, để thăm lại trường xưa và đồng thời cũng để tỏ lòng nhớ ơn thầy cô giáo cũ của minh. Nhiều cựu học sinh lên phát biểu cảm tưởng. Có người cho rằng cái thời còn đi học ở mái trường thật là tuyệt vời và ước sao mình vẫn còn cặp sách đến trường như thuở nào. Có người tiếc rằng hồi đó mình còn trẻ thơ nên không hiểu được lòng thương yêu vô bờ của thầy cô đối với mình, nếu bắt đầu trở lại, chắc chắn sẽ khác đi, v.v… Nghĩ thật mà nói cũng có, nói cho đúng “sách vở” cũng có, và nói cho phải đạo cũng có. Khi đến lượt thầy Nguyên lên phát biểu, thầy kể câu chuyện về Orpheus trong thần thoại Hy Lạp. Orpheus là vị thần của âm nhạc. Những bài thơ và tiếng hát của ông có khả năng cứu sống cả một đoàn thủy thủ bị ma quỷ hóa hình mỹ nhân ngư để dụ dỗ và ám hại. Ông có một người vợ rất đẹp mà ông rất yêu quí là Eurydice. Trong một cuộc săn đuổi vì chính sắc đẹp của mình, Eurydice bị rắn độc cắn chết. Vô cùng thương xót, Orpheus tìm mọi cách để cứu vợ. Nhờ tiếng đàn tuyệt vời khiến những vị thần giữ cửa địa ngục sao nhãng, ông lẻn vào được âm cung. Cảm động trước tấm lòng và tiếng hát của Orpheus, các tử thần đồng ý cho Eurydice đi theo ông trở lại thế gian, chỉ với điều kiện là trên đường đi Orpheus không được ngoái nhìn lại Eurydice. Nhưng Orpheus đã ngoái lại, Eurydice liền tan biến và mất vĩnh viễn. Orpheus trở nên điên loạn, cuối cùng kết thúc cuộc đời mình một cách thảm khốc.

Câu chuyện thần thoại đó hầu như ai cũng biết, nhưng những lời phát biểu của ông vào lúc đó gây cho chúng tôi một ấn tượng mạnh về cái ngụ ý ông muốn gởi đến chúng tôi. Có điều, không phải bất cứ bài học nào của thầy cũng được học trò mang theo ra khỏi cổng trường. Nhưng với ông, về điều ông muốn nhắn nhủ chúng tôi, tôi tin ông sống rất thật với nó. Tôi tin chắc thầy Nguyên có rất nhiều mất mát trong đời ông, và dĩ nhiên là ông ý thức rất rõ về những mất mát đó, nhưng ông không bao giờ chịu để những mất mát đó đánh gục ông. Tinh thần này bàng bạc trong những sáng tác của Cung Giũ Nguyên. Đồng thời, trong Le Boujoum, cũng có rất nhiều bài thơ và tiếng hát biểu lộ phong cách đó.” [Trương Vũ/ Cung Giũ Nguyên, Tác Giả và Tác Phẩm]

 

Trương Vũ không kể rõ thầy Cung Giũ Nguyên muốn khuyến cáo môn sinh điều gì? Phải chăng câu chuyện Orpheus chính là thông điệp của Boujoum? Đừng đánh mất lòng tin vào ý nghĩa của ngôn từ vô nghĩa nhất, sau đợt tàn phá của bạo lực Cộng sản đánh vào văn chương? Ngay cả những khi không hiểu gì hết, vẫn phải tin vào chữ? Hay Cung Giũ Nguyên muốn nhắc những học trò đã ra đi đừng nhìn lại, vì nhìn lại là định hình (người) và định vị (quá khứ) trong chiều thời gian vẫn chảy tới? Đời sống là một đường thẳng tiệm tiến không có điểm dừng, phải đi tới?

Khi không xác định nội dung của Boujoum, có phải vì Trương Vũ hiểu rằng nếu quay nhìn lại tác phẩm sẽ định vị Cung Giũ Nguyên trong ngữ nghĩa và định vị văn bản kỳ lạ ấy? Phải chăng Trương Vũ cũng đã đi tìm Cung Giũ Nguyên như Carroll săn Snark:

In the midst of the word he was trying to say,

In the midst of his laughter and glee,

He had softly and suddenly vanished away —

For the Snark was a Boojum, you see.

(Lewis Carroll, The Hunting of the Snark)

 

Suốt tập sách, Chương Cung Giũ Nguyên, Tác Giả và Tác Phẩm là chương lạ lùng nhất. Nhưng cũng chính Chương 14, áp đáy tuyệt vọng này, bật lên tinh thần của Trương Vũ đã cố hiểu thầy mình và đi tìm giải đáp trong chiều hướng tích cực nhất. Trong Người Đọc Sách Với Cái Thật, Cái Giả Trong Văn, khi Trương Vũ viết: “Sức mạnh của chúng ta là ở cái đầu và con tim. Chính những ý thức về văn minh, về tiến bộ, về tự do, về dân chủ, cùng với khát vọng được sống một đời có phẩm cách của một con người ở thời đại này đã đánh gục chủ nghĩa Cộng sản ở Đông Âu, chứ không phải là súng đạn”, là thành quả của Boujoum.

oOo

 

Tháng 7-1994, mười lăm năm sau vượt biên tôi đạp xe vào ngôi hẻm trên đường Hiền Vương. Ngôi hẻm có hiệu phở đầu ngõ trông sang cây xăng dẫn vào đường Duy Tân. Tôi đến tìm thầy Lâm Ngọc Oánh. Tôi muốn nói với thầy: “Em đã không giữ được lời hứa với thầy. Em đã đi xin ăn ở đảo Liminangcong và bị dân Phi khinh. Nhưng em đỗ tú tài và cao đẳng nhờ học tích phân, giải tích, ma trận với thầy. Em đến để cám ơn thầy.” Tôi muốn nói với thầy Oánh thật nhiều, là không có thầy, tôi đã bỏ học vì nhà bị đánh tư sản ở trường về nhìn thấy phường đội đóng chốt kiểm kê từng đôi đũa và khuân đi hết những gì quý giá… Thầy Oánh đã khuyến khích, ân cần khuyên nhũ và mở lớp dạy phụ đạo thêm mỗi chiều cho tôi có chỗ đến và tập trung học toán không phải suy nghĩ… Tôi muốn tâm sự với thầy, vì thời điểm 78-79 quá khắc nghiệt khiến thầy trò không dám thố lộ nhiều và tôi có biết bao chuyện muốn kể cho thầy nghe… Nhưng thầy Lâm Ngọc Oánh không còn ở đó, cánh cửa sắt sơn xanh im lìm.

Tháng 5-2019 đọc Đuổi Bóng Hoàng Hôn, tôi không ngừng nghĩ đến thầy Lâm Ngọc Oánh vì toàn tập sách là những câu chuyện tâm tình giữa thầy trò, giữa thầy Trương Hồng Sơn với sinh viên, giữa thầy Cung Giũ Nguyên với học sinh Trương Hồng Sơn. Những câu chuyện hướng thượng, những ý cao tình đẹp, những ý niệm cao vời về tình người, về con người với con người. Tôi thuộc thế hệ xem văn bản là chỗ để đập nát hết các giá trị nên với tôi, Đuổi Bóng Hoàng Hôn là một vật lạ. Sự hiếm quý đã biến mất.

 

Đứng trước câu hỏi: Hình ảnh ban đầu luôn là tự truyện?”, Eduardo Halfon đã trả lời: “Vâng, luôn luôn. Tôi viết về cuộc sống của tôi, thời thơ ấu của tôi, mối quan hệ tôi có với cha tôi, ký ức về người tôi yêu… Mỗi nhà văn, bằng cách này hay cách khác, luôn bắt đầu bằng tự truyện của mình. “Bà Bovary, là tôi”, phải không? Tự truyện có thể được ngụy trang, đeo khăn che mặt hoặc đeo mặt nạ, nhưng người ta luôn viết bằng một phần của chính mình, về đời sống của một con người. Trong trường hợp của tôi, không có mạng che mặt hoặc mặt nạ. Tấm khăn che mở toang, là tôi… Tự truyện là cuộc đời của một người nhưng trong chiều sâu, tất cả mọi người đều giống nhau. Tất cả mọi người là một người. Tôi không biết cảm giác của người khác, nhưng sử dụng cảm xúc, lo lắng, mong manh, sợ hãi của tôi, nếu tôi làm đúng công việc của mình, những người đọc tôi sẽ nhận ra những lo lắng, cảm xúc, sự mong manh của họ.”

 

Trương Vũ cũng có thể trả lời như vậy, từ hình ảnh đầu tiên Những Cơn Mưa Ngày Cũ và về tự truyện của mình qua thể tùy bút và tiểu luận. Đuổi Bóng Hoàng Hôn là mặt trời đã sau lưng nhưng vẫn còn phía trước, cho một tuổi trẻ khác.

 

Trần Vũ, 25 tháng 6-2019

Thông Báo

 

Nhằm mục đích giúp đỡ nạn nhân Miền Trung Việt Nam, gồm bốn tỉnh Hà-tĩnh, Quảng-bình, Quảng-trị, và Thừa thiên-Huế, khiếu kiện công ty Formosa trước tòa án quốc tế; đòi hỏi được đền bù xứng đáng và làm sạch vùng biển bị ô nhiễm, một số hội đoàn với sự cố vấn của các quý vị lãnh đạo Công giáo, Phật giáo, Cao Đài và Phật Giáo Hòa Hảo sẽ đứng ra tổ chức một bữa tiệc gây quỹ “Công Lý Cho Nạn Nhân Formosa” (Justice for Formosa Victims, JFFV);

Vào lúc 5:30 chiều – Ngày 4 Tháng 8, Năm 2019

Tại nhà hàng Dynasty

1001 Story Rd. San Jose

Toàn bộ quỹ “Công Lý Cho Nạn Nhân Formosa” sẽ dùng vào việc nộp đơn kiện tập đoàn Formosa trước tòa án quốc tế. Như quý vị từng biết, chi phí để thụ lý một hồ sơ trước tòa án quốc tế rất cao. Do đó, Hội JFFV rất cần sự tiếp tay của quý vị xa gần để trang trải một án phí lớn lao như thế.

Ca sĩ Nguyễn Hồng Nhung, Thái Hà, Hoàng Quân, Ngọc Long, và các ca sĩ địa phương, dưới sự điều khiển của MC Nam Lộc, sẽ cống hiến Quý vị một chương trình văn nghệ đặc sắc và nhiều tiết mục hấp dẫn khác.

Vé có 3 hạng: $100, $75 và $50. Nếu không thể tham dự bữa tiệc, rất mong Quý vị ủng hộ bằng cách mua vé số $5/vé, với giải Độc đắc 2 lượng vàng ròng, giải Nhì cặp bông tai giây chuyền kim cương trị giá $2,500 và giải Ba đồng hồ I-Watch trị giá $500. Ở xa, quý vị có thể liên lac với chúng tôi qua email: trinhtambb@gmail.com để ủng hộ mua vé số. Vé số sẽ được gửi đến tận nhà của quý vị. Ủng hộ bao nhiêu vé cũng được, cho dù một vé, vì “nhiều con én sẽ làm nên mùa Xuân.” Chúng tôi vững tin như thế. Ngoài ra, nếu quý vị muốn ủng hộ tài chánh, xin vào trang nhà “Công Lý Cho Nạn Nhân Formosa” tại: http://www.JFFV.org; nhấn vào tab “Donation,” và quý vị có thể dùng PayPal, hoặc viết ngân phiếu tặng cho JFFV, và gửi về địa chỉ: PO Box 29534, Austin, TX 78755. Tất cả mọi đóng góp sẽ được Hội gửi giấy trừ thuế đến tận nhà quý vị.

Như chị Nancy vừa loan tin qua bản tin dưới đây: ngày 27/5/2019 vừa qua, Hội JfFV vừa chính thức nộp đơn khiếu nại lên Ủy Ban Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc. Toàn bộ hồ sơ đơn khiếu nại bằng Anh ngữ dài 20 trang đã đăng tải lên trang mạng trên. Bước tiếp theo là chính thức đem tập đoàn Formosa ra ánh sáng Công lý trước tòa án tại Đài-loan, và Tòa án Quốc tế (The International Court of Justice) tại The Hague, Hòa Lan.

Vì lẽ đó, BTC chúng tôi kêu gọi sự ủng hộ nhiệt tình của Quý Hội đoàn, quý đồng hương, và đặc biệt là Quý vị Thương Gia và Mạnh Thường Quân tham gia và hỗ trợ cho buổi gây quỹ thành công để đem lại nguồn sống, niềm an ủi và hy vọng cho những người dân khốn khổ miền Trung, cũng như tiếp sức Hội chúng tôi trong công việc làm sạch và bảo vệ môi trường cho quê hương Việt Nam và cho các thế hệ con cháu chúng ta mai sau.

Để biết thêm chi tiết, xin liên lạc với: Anh Phan Ngọc Hòa (408-768-0635), hoặc anh Đỗ Quang Hưng: (650) 823-6645.

Xin chân thành cám ơn Quý vị.

Ban Tổ Chức Tiệc gây quỹ “Công Lý Cho Nạn Nhân Formosa

 

 

 

NGƯỜI THỔI KÈN SAXOPHONE

1.
một đời gắn với cây kèn
như gắn thêm một bộ phận vào cơ thể
(giống máy trợ tim chẳng hạn)
mang hơi hướm của người
cây kèn cũng biết ngửa mặt lên trời
lúc cười lúc khóc
cảm thông sâu xa với người
tuôn ra những cơn đau ngất từ nhũng cơn mơ
vừa định hình đã vội tắt
những tiếng kêu thương của con chim gần chết
trong cơn khát tình của trương chi
đã bao lần nâng cây kèn lên
ngang mặt trời
là một lần mắt khai hoa
không còn thấy gì
ngoài những tiếng vỗ tay đến vỡ toang lồng ngực
anh say ngất trong niềm khinh khoái đến tột cùng

2a.
những chiều dòng sông mênh mông con nước lớn
đem nỗi nhớ ra hong nắng vàng như tơ
từ chiếc kèn bay lên serenata của enrico-toselli
là lúc xung quanh mờ dần mờ dần
đưa anh vào mộng
mộng đẹp hơn thực
mộng tái hiện điều ta mơ
đã gặp lại những người yêu cũ
của một thời chất ngất đam mê
đẹp như trăng
những con thiên nga dễ thương biết mấy
ưa rúc vào người và
ngước lên nhìn bằng đôi mắt không phải là mắt
mà trong suốt ánh nắng mai
cho đến khi tiếng kèn đã tắt
bầy thiên nga mới chịu vỗ cánh bay đi…
giờ đây họ còn sống
mà anh đã chết-chết trong họ từ lâu
họ đã có chồng con
có người còn được gọi bằng bà

2b.
bây giờ cây kèn trên tay anh mỗi ngày một nặng
phải ngã người ra phía sau
như cây khô chực gãy
mỗi lần từng ngón tay củi mục chạm vào phím
là một lần mắt anh
tuôn ra hai dòng lũ

3.
giờ chỉ còn anh chỉ còn anh
một hơi thở mòn
bên chiếc kèn hỏng hóc
anh khóc
khóc cho sự bất lực của tuổi tác
cây kèn khóc
khóc vì sự hủy hoại của thời gian
chẳng còn gì chẳng còn gì
ngoài chiếc bóng dưới chân

HẠC THÀNH HOA