Phạm Công Luận: Vẻ hấp dẫn của ký ức

Có người nói: “Viết, một cách nào đó, là chết”. Có những câu chuyện cũ, không có gì độc đáo nhưng ta muốn giữ cho riêng mình. Một ngày, ta ghi lại kỷ niệm ấy trên trang giấy, rồi được nếm trải cảm giác sung sướng khi bài viết nên hình nên dạng, được đăng trên sách, báo… Đến lúc nào đó ngồi lục lại trong trí nhớ, ta bỗng thấy những kỷ niệm lấp lánh ấy không còn đậm đà trong lòng mình nữa, không còn làm ta thao thức nữa, nó “chết” dần theo từng con chữ, để lại vài hình ảnh mờ nhạt. Điều đó như một quy luật tự nhiên.

Có một dạo tôi miệt mài viết về những cái Tết trong gia đình khi còn cha mẹ. Đó là khoảng thời gian hạnh phúc khi ngồi trước màn hình máy tính hoặc trong bóng đêm thả trí nhớ bay về miền xanh thẳm thơm mùi thuốc pháo ở những ngày xưa. Sau đó, những chuyện cũ như phai dần sau một lần lấy ra từ trong kho của kỷ niệm, giống như cuốn sách cổ trong hầm mộ tan thành bụi bay theo gió khi phơi ra ánh sáng mặt trời.

Khi có nhà riêng, anh bạn tôi tách gia đình nhỏ ra khỏi cuộc sống đại gia đình và dần thay đổi lối sống, từ cách trang trí nhà cửa trở đi. Ngày Tết, cả nhà đi du lịch nước ngoài, cửa nhà khóa kỹ vài lớp. Anh kể rằng thật thoải mái khi mấy ngày Tết không bị ràng buộc bởi những kiểu cách xã giao như trước kia. Anh không cần mua hoa về chưng, dọn bày cỗ bàn, cúng kiến, xông đất, cúng giao thừa, tiếp khách.v.v…

Một lần, ngồi bên hồ bơi ở một resort xứ người để trông con đang ngụp lặn dưới nước, anh sực nhớ hôm nay là mồng Một Tết. Anh nhớ trong căn nhà cũ kỹ một thời, nơi sum họp của gia đình bảy người con cùng cha mẹ khi xưa. Anh nhớ cái bàn thờ sáng choang với lư đồng mà chính tay anh, đứa con trai út trong nhà mỗi năm nhận phần việc lau chùi bằng khế, chanh. Anh nhớ dáng cha bận bà ba trắng đứng thắp nhang trước bàn thờ, dáng mẹ ngồi cắt củ kiệu và nhớ cảm giác sung sướng khi mang từng cái sàng tre sắp đầy kiệu và củ cải lên phơi trên sân thượng trong cái nắng thơm dịu của tháng Chạp ta. Anh thấy buồn thiu, rồi tự nghĩ tốt nhất là cất cho kỹ cái tâm trạng u uẩn ấy, vì những người thân yêu quanh anh khó mà hiểu được những gì thuộc thế giới tuổi thơ của anh mà họ không từng có mặt.

Có khi vợ anh, khi sống trong nhà chồng, cũng từng cảm thấy lạc mất nhiều cảm xúc của tuổi thơ, của quê hương, của kỷ niệm và của những nghi thức ở tôn giáo mà cô ấy gắn bó từ nhỏ. Tối đó, anh ngồi trên một góc giường phòng nghỉ, gõ phím ghi lại từng dòng về những thổn thức trong lòng. Anh thức để viết đến một giờ sáng, lưu lại và mỏi mệt nằm xuống ngủ khi tâm trạng đã nhẹ nhàng hơn. Biết mình không quen viết lách có văn vẻ, câu cú có lộn xộn, nhưng đó là liều thuốc hay. Anh bớt đi nhiều cảm giác nhớ nhung, cảm thấy việc viết lên trang giấy chẳng khác chi đốt một lá bùa, để những sầu não bay đi và tâm bình yên hơn.

Nhiều lần tôi thấy mình bị lạc trong mớ ký ức hỗn độn của “những năm niên thiếu dịu dàng và tuổi trưởng thành khắc khổ” (nói như Gogol), trong đó từng có những câu chuyện buồn, đáng xấu hổ và đầy giận dữ. Nhưng cho dù ký ức xấu cũng là ký ức, tôi chỉ thích nhớ những chuyện vui khiến mình từng thấy hạnh phúc.

Sự nghiêm khắc của cha trở nên dễ thông cảm, câu răn dạy khó chịu của ông anh cả chứa đựng sự chăm lo thương yêu trên bước đi của đứa em đang trưởng thành. Phải chăng đó là màng lọc không chỉ tạo nên từ lý trí mà còn từ sự thông hiểu và biết ơn, mà khi trưởng thành ở tuổi nào đó ta mới có được.

Viết về ký ức phải chăng chỉ là sự trốn chạy thực tại?

Tôi không nghĩ mọi chuyện đơn giản như vậy. Khi viết về quá khứ, tôi nhận ra mình là ai, những gì đã tác động đến mình để trở thành một con người đủ cả những tính tốt và xấu, với những điều mạnh mẽ lẫn yếu đuối trong tính cách không dứt bỏ được. Tôi hiểu rõ hơn vì sao mình yêu tha thiết một thành phố dù nó dần dần không giống như mình yêu thương, vì sao gắn bó với những xóm giềng, cây cỏ, thời tiết, khí hậu chung quanh khi chúng đã dần biến dạng. Và vì sao, luôn cố gắng truyền cho con một điều gì đó của quá khứ, dù các con thật ra đang sống để hình thành một quá khứ cho tương lai của các con. Đó là mật mã để gắn kết các thế hệ mà nhiều khi mong muốn truyền đi như là một thứ bản năng có sẵn. Có lẽ đó là lý do các cụ già thích kể chuyện xưa.

Dù sao, thời thơ ấu là thời gian đẹp nhất đời người cho nên viết về tuổi thơ là niềm vui thực sự. Bằng bàn phím, tôi du hành ngược thời gian, để được lần nữa nếm miếng bánh tráng kẹo mạch nha ngọt lịm của ngày xưa, hút nhụy hoa trong cuống bông bụp trồng bên hàng rào, nhai lại hạt điệp vàng thơm bùi và đăng đắng… Đó là những khoái cảm đơn sơ nhưng nhớ lâu.

Nên cho dù, viết là “làm chết” hay “làm mòn” những kỷ niệm, tôi vẫn muốn viết về những ngày xưa. Kỷ niệm càng đào, càng khai thác càng đầy và lộ ra những điều từng quen thuộc nhưng lạ lùng như mới gặp lần đầu. Đó là vẻ hấp dẫn khi được đào bới kho tàng ký ức.

Phạm Công Luận
(Nguồn: Tác Giả cho phép)

Advertisements

DẠO KHÚC 35

trận đánh bi thương diễn ra
dưới chân pho tượng mỉm cười
bao nhiêu máu chảy
bao nhiêu xương phơi
bao nhiêu người vĩnh biệt người

trận đánh hoàng hôn tung bay cát bụi chân đồi
bao nhiêu hoa rụng
vào chốn tàn phai
là bao vẻ đẹp qua đời

trận đánh mê say diễn ra giữa lưng chừng trời
bao nhiêu đau xót
bao nhiêu ngậm ngùi
để hồn mây trắng tả tơi

nhưng tất cả muôn nghìn trận đánh
vẫn hằng diễn ra giữa con người với con người
cũng không sao bằng trận đánh
âm thầm trong cõi lòng tôi

NGUYỄN QUANG TẤN

Bài thơ cho trái tim

tôi mang trái tim pha lê vào cõi đời trong suốt
tay tự xoa lồng ngực
giữa đại lộ muôn loài
soi lấy đời thực hư
tôi mang trái tim không của người
lạ kì
quái dị
theo cách gọi vô tư
nhếch môi cười
tim ác quỷ
trái tim tôi máu trong
ai làm sao thấy được khi chỉ có lòng nghi kỵ tối tăm
ngục tù
họ soi vào trăng xanh thấy trăng vàng nhễ nhại
họ soi vào giếng trong thấy bẩn bụi chất chồng
họ soi vào họ
và quy định cõi đời
bằng tiếng gà lay bình minh, tiếng ếch nhái kêu bò về chuồng
cả tiếng chó sủa ma ngoài bến vắng
trái tim pha lê biết đau không?
trái tim pha lê biết nhớ không?
trái tim pha lê biết buồn không?
trái tim pha lê người người khinh nhạo
vì tôi biết phía sau vòm trời là cổ tích
lá vẫn mọc mầm giữa miền nhớ không tên
không bóng đêm, không ồn ào hơi thở
nơi hồi sinh những đứa trẻ đẻ ra các vòng nôi
và lời ru như cơn gió lỡ mồ côi
lạc
từ phía sau vòm xanh ta thấy
sang bên này ướm giấc mộng sơ sinh
tôi mang trái tim pha lê đi tiếp cuộc viễn trình
không khóc được chỉ thấy mình tê dại
có vỡ không?
sao cỏ sướt chiều nay
có vỡ không?
chẳng còn gì ngoài mảnh vắng trong suốt
rơi
vào chiếc bị của bà lão gàn chờ quả thị
nhưng mà sao
nhưng mà sao
đôi tay mẹ còn lúc lắc một vòng nôi?

Bình Dương, 11/2018
Trần Đức Tín

DI NGÔN

Rồi anh sẽ gối đầu lên giấc mộng
ngủ quên đời trong giường mộ bình yên
em hãy khuấy hai tay làm biển động
che giùm anh tiếng đại bác vang rền

Xin em hãy liệm anh bằng tiếng hát
đắp mặt anh bằng mái tóc em buồn
cho anh quên những xác người tan nát
những kẽm gai còn rào kín tâm hồn

Em có nhớ, thắp hương bằng nước mắt
ngọt vô cùng anh sẽ uống no say
để anh quên chuyện trần gian đói khát
chén cơm đen muối mặn nuốt qua ngày

Và em hãy viết thư bằng cổ tích
đừng nhắc chuyện quê hương chinh chiến hận thù
anh sẽ tưởng hồn anh không xiềng xích
bay tìm em dù gió cát, sương mù

Anh sẽ dựng nhà với chân tay làm cột
giăng mùng cỏ xanh ngồi đợi em về
hai chúng mình sẽ bắt đầu hạnh phúc
tủi nhục này rồi con cháu quên đi!

TẦN HOÀI DẠ VŨ

BUỒN MÂY…

trời làm nên nỗi xa xôi
để buồn
mây
mãi vào đôi mắt nằm
để tim buốt nhức vết dằm
để nhung nhớ rất đỗi đằm thắm sông

**
nhớ nhung rất đỗi màu đông
cái màu hiu hắt ngàn thông reo chờ
buồn
mây
cũng thế thẫn thờ
theo bên người ngẩn ngơ bờ chiều tây

**
bên người nghe gió mùa vây
nghe tà huy buổi về gầy hư hao
nghe hoàng hôn phiến lao xao
buồn
mây
lá rụng tự bao giờ dòng

**
buồn
mây
bóng nước mê ròng
vàng phơi mấy độ cho lòng sầu giăng
khuya đêm lạnh quá tàn trăng
soi chi nữa lệ cát đằng khóe mưa

**
cát đằng lệ khóc gì thưa
buồn
mây
viễn xứ tóc xưa trắng đầu
sợi thơm thiên lý hương rầu
lên tay ngón thắp khói sầu đời trôi

**
khói sầu sợi lặng lẽ môi
phù vân lỡ hẹn mộng rồi
buồn
mây…

Phạm Hiền Mây

HOÀNG LỘC, NGẮN… DÀI TÌNH SI


(Hoàng Lộc)

“Ta mãi lơ mơ suốt một đời tình
Mãi lưu lạc những hiên nhà gái đẹp “

(Hoàng Lộc)

Sau khi nhóm Sáng Tạo “hoàn thành sứ mệnh” làm mới nền văn học nghệ thuật Việt Nam bằng những tuyên ngôn, thảo luận bàn tròn, tung hê đầy dẫy trên tạp chí Sáng Tạo bộ cũ và mới với những tên tuổi “lớn”: Mai Thảo, Trần Thanh Hiệp, Thanh Tâm Tuyền, Ngọc Dũng, Nguyễn Sỹ Tế… thì có một khoảng trống lộ ra, nhưng không lâu.
Lấp vào khoảng trống của Sáng Tạo, giữa thập niên 1960, là các tạp chí Văn, Khởi Hành, Văn Học… nơi tụ hội của các cây bút trẻ, lần đầu thử sức với văn chương. Và họ đã thành công, với những tên tuổi như Y Uyên, Trần Hoài Thư, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Trần Thị NgH. Cao Huy Khanh, Luân Hoán, Huy Tưởng, Lâm Chương, Nguyễn Tất Nhiên, Nguyễn Bắc Sơn, Ngụy Ngữ, Phạm Ngọc Lư, Lê Văn Thiện… trải dài từ bờ nam sông Bến Hải tới tận Cà Mau. Nhưng công tâm mà nói, thì dải đất miền Trung xương xẩu, ôm gọn núi rừng, đồng bằng, duyên hải đã phải giang tay đỡ lấy máu, xương trắng, khăn tang… là chốn xuất hiện nhiều nhà văn nhà thơ trẻ. Số đông vẫn là Huế và Quảng Nam.
Thế hệ giữa thập niên 1960 trở đi như những chồi xanh vươn thẳng trên “phiến đá chưa mòn” (1) và cho dẫu có nhiều khuynh hướng dị biệt trong sáng tạo, song gia tài họ để lại như “một miền trái chín” cho văn học nghệ thuật Miền Nam, không thể phủ nhận.
Riêng với thơ, phong cách của mỗi người một khác, nhưng có một điểm chung là họ không chạy theo cái mới, cách tân, tự do của Sáng Tạo; cũng không ôm giữ vẻ cổ kính của Văn Hóa Ngày Nay cố gắng níu kéo thời hoàng kim Tự Lực Văn Đoàn. Trong thơ của họ, hơi thở của những Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Xuân Diệu hay Thanh Tâm Tuyền, Trần Thanh Hiệp chỉ phảng phất bên lề trang giấy. Họ có cái riêng, một phong cách không cổ điển, cũng không quá mới theo các trường phái Tây phương (mà Sáng Tạo khởi xướng).
Thơ ca trong thời kỳ này như một vườn hoa muôn màu vạn sắc: Viễn mơ, lãng mạn, tình tự dân tộc, phản kháng lẫn phản chiến… cùng nhau xuất hiện trên các tạp chí văn nghệ Miền Nam, mỗi người mỗi vẻ, mỗi phong cách riêng, như nhận xét của Huy Tưởng: “nó vui nhộn, đa dạng, lôi cuốn, hấp dẫn và nhất là, tự do ngất trời!…từ đó tung ra nhiều trường phái, giọng điệu và sắc màu phong phú…đúng là trăm hoa đua nở thực sự mà không phải kiêng dè sợ sệt điều gì, để sau rốt nổi trội lên những tên tuổi ngời sáng, mỗi người đứng riêng một cõi, một tiếng thơ biệt lập nguy nga” (https://damau.org/archives/44584).

Trong số những tên tuổi ngời sáng đó, tôi chú ý đến Hoàng Lộc, không phải vì ông được giải thi ca của Trung Tân Văn Bút Việt Nam năm 1970, khi còn rất trẻ, (2) để khẳng định tên tuổi nơi trường văn trận bút, mà hơn hết là những bài thơ tình của ông, mượt mà như cô thôn nữ vừa tắm suối bước lên bãi cỏ non xanh, long lanh như giọt sương đọng trên nụ hoa hàm tiếu, như hương thơm thiếu nữ xuân thì. Tôi đọc và nhìn thấy như vậy từ giữa thập niên 1960 lúc còn là học sinh trung học, với những cơn tình mộng thuở đầu đời… cho tới tận hôm nay, đang bắt đầu chạm mốc bảy mươi, nhìn thấy thơ ông vẫn nồng nàn hơi thở tình yêu với những tình dài, tình ngắn, tình già, tình si, tình ngẩn ngơ ngơ ngẩn, tan bay theo một cơn gió, một nụ hoa, nơi chân cầu, một góc phố buồn…đến nỗi đã làm rung động biết bao trái tim giai nhân, như một cô nữ sinh Tường Vy đã chép những câu thơ của ông vào tập vở của mình:
Ta khổ quá chừng cô bé hỡi
Em như hoa cúc nở trong vườn
Mùa thu bay qua đời rất vội
Mà dấu tình chưa kịp lãng quên … (http://saigonline.com/tho/interview/hoangloc.htm)

Những gì mắt ông vừa chạm vào bóng giai nhân, tức thì len vào tâm hồn ông, đánh thức trái tim ông để ngơ ngác ngẩn ngơ. Rồi với những cuộc tình đã qua, đang có và sắp tới cứ đầy ắp trong thơ ông, như thể đó là những tình của tâm tưởng và tâm bệnh. Bệnh tình.
Và như vậy, có thể nói rằng, Hoàng Lộc là thi sĩ duy nhất “sống chết” với thơ tình trong suốt cuộc đời cầm bút của ông.
Từ tập đầu tiên, Thơ Học Trò, xuất bản năm 1965 cho đến những bài thơ gần đây nhất, tình yêu luôn quấn chặt lấy ông. Nó là hơi thở, là máu thịt, là trái tim luôn làm ông rung động và tan chảy với những mối tình thấp thoáng trong ánh mắt và trí não. Vì vậy “xếp” ông vào ngăn nhà thơ tình ái cũng không mấy sai lạc? Bởi trên một trang mạng, ông đã khẳng định trong cuộc phỏng vấn ngắn: “ “ Tôi làm thơ tình từ thuở tưởng đã biết yêu. Sau vài ba cuộc tình, tôi nghĩ tôi biết yêu thật. Tôi tiếp tục làm thơ tình. Tuy vậy, đời sống vẫn có nhiều chuyện làm cho mình điêu đứng như chữ tình – nên lắm lúc, tôi có những xúc động khác… Có thể nói, như bạn tôi, cố thi sĩ Vũ Hữu Ðịnh : ” tôi chỉ làm thơ khi tôi xúc động “. Với riêng tôì, hình như chữ tình dễ quyến rũ thơ tôi hơn !” (http://saigonline.com/tho/interview/hoangloc.htm).
Và trên FB của ông, tôi đọc được mấy câu này, như một khẳng định một đời thơ.
Thơ cứu đời anh những lần hụt hẫng
Để giữ trái tim nguyên vẹn tới giờ

Nếu như Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương…thơ tình của họ là những man mác mây khói, những rung động còn dồn nén e ấp, lãng mạn từ nền văn hóa phương Đông vừa bước ra ngõ sáng phương Tây, đủ để người đọc có cảm giác êm đềm, vỗ về với một chút hụt hẫng, thẫn thờ, nhớ thương; hay Tình trong thơ Du Tử Lê, Nguyễn Tất Nhiên là những mất mát không thể tìm lại, với những đau đớn tột cùng; thì đến Hoàng Lộc, thơ tình là những bùng vỡ thăng hoa, là những ngậm ngùi tiếc nuối, là ca tụng nhan sắc như một hệ lụy kiếp người. Tình với ông không là thiên sứ trần truồng nhan sắc “khách ngồi lại cùng em trong chốc nữa/Vội vàng chi, trăng sáng quá, khách ơi”. Hay như tình khởi phát từ thị giác xa gần của Từ Thế Mộng như nét đẹp của trời ban tặng trần gian:
Ban mai
cõng áo lụa hồng
ngó em anh gửi cả lòng anh theo”.

Và:
Áo trắng ngây thơ đôi vú nhỏ
Áo xanh mơn mởm mông non
Áo hồng chúm chím môi vừa nụ
Ôi gái tơ nào hoa chẳng thơm (Từ Thế Mộng – Gái tơ)

Đọc Hoàng Lộc, cũng không thấy tình kiểu “ba trợn” mà thiết tha của Nguyễn Bắc Sơn:
Ta vốn ghét đàn bà như ghét cứt
Nhưng vì sao ta lại yêu em?
Ôi mắt em nhìn như là bẩy chuột
Ta quàng xiên nên đã sa chân (Nguyễn Bắc Sơn – Trên đường đến nhà Xuân Hồng)

Cũng không trần trụi để khơi gợi và chạm nhẹ vào sex như Linh Phương:
Đêm qua/ rớt xuống vai ngà/ Câu thơ tình/ đọng giữa tà áo em/ Cỏ hoa/ và bướm ngoan hiền/ Nương nhờ ngực/ chỗ xốp mềm/ nằm mơ/ Áo em/ cài cúc hững hờ/ Để cho gió/ nhẹ/ xoa bờ vú căng/ Môi em đỏ/ lúc anh hôn/ Ngã nghiêng/ trời đất Sài Gòn
đêm qua/ Đêm qua/ trăng xế nguyệt tà/ Có hai người nói:“ Mình là của nhau” (Linh Phương – Đêm qua rớt xuống vai ngà).

Ngược lại, tình của Hoàng Lộc đằm thắm, nhẹ nhàng, chân tình, sâu lắng với những gì đã qua đi hay sắp tới hay đang là. Cả quá khứ, hiện tại và tương lai đều hiển lộ sự ngưỡng vọng nồng nàn, không điểm dừng về phái đẹp. Sự nồng cháy là điểm tựa cho tình si nhưng chưa đến dại khờ. Trong một bài thơ, ông thú nhận biết yêu từ “thuở mới lớn” khi còn là cậu học sinh có trái tim bắt đầu va đập lộn xộn không thành nhịp. Nó khởi đi bằng tận cùng cảm xúc, từ nhìn thấy để rung động sau đó:
Thuở mới lớn anh rình cô bạn học
Tháng ngày ai thơm áo trắng không ngờ
Khi cô thả tóc thề ngang cửa lớp
Là khi lòng cậu bé rối như tơ. (Chuyện người đi theo thơ)

Bài thơ không thấy ghi ngày tháng, nên không biết ông làm từ lúc nào, nhưng chắc chắn cách đây không dưới 50 năm?
Chính mái “tóc thề ngang cửa lớp” là tác nhân chính để thơ tình của ông chiếm riêng một cõi, xuyên thấu đời thơ của ông:
Không thể theo nhau, thôi đừng ngó lại
Cô đi theo chồng – anh đi theo thơ”.

Sự khẳng định của ông là hệ lụy của một cuộc chơi dằng dặc. Và, ông chấp nhận làm một cuộc hành trình miên viễn nơi cõi mộng mị ba đào với những bóng hình bay ngang qua đời ông. Sự với cầm không nắm bắt được (ở trên) như tiếng chim họa mi đang hót rộn ràng, bỗng dưng nín bặt, như nụ hoa còn ngậm sương, bỗng tan chảy đâu đó quanh ông không nhìn thấy nữa. Cái còn lại cho ông là những mùi hương bay theo những bước đi. “Đi theo thơ”!
“Rình” cô bạn học đi ngang cửa lớp chưa hẳn là yêu hay yêu thầm, bởi chưa cầm tay bày tỏ, chưa đón nhận được nụ hôn đầu đời. Đó là những rung-động-xao-xuyến-cuộc-yêu một chiều, cuộc yêu bằng mắt bị đứt khúc như kiểu đứng bên này sông ngó bóng nàng bên kia khi chiều tắt nắng với chút bồi hồi, xúc động, man mác! Đó chỉ là một thị chứng của tình; thuộc nhóm tình si.
Trái tim Hoàng Lộc hình không có vách ngăn, bởi mỗi khi thần xác ngoại giới xuất hiện, thì liền ngay đó, giẫm nát phần hồn của ông, rồi nẩy bật ra tiếng thơ từ những ẩn ức nội tại trong tâm hồn ông? Điều này cho ta thấy, thế giới thi ca của Hoàng Lộc không hề là những ẩn ngôn. Thơ đến với ông và thoát ra là cả một phơi bày nội tâm luôn hướng đến cái đẹp. Cái mà cả thế giới mãi đổ xô kiếm tìm và chưa bao giờ định hình, thỏa mãn. Nó ở thật gần và cũng xa hun hút khiến thi sĩ luôn hụt hơi, luôn bị ám thị.
Đã biết rằng yêu nữ sinh rất khổ
Nào hay yêu cô giáo lại khổ hơn
…Ai áo trắng của ngày xưa biền biệt
Vang trong hồn nỗi nhớ cuối tà bay
Để thơ dại tưởng sắc màu chỉ một
Trắng không màu là màu trắng không phai (Gửi cô giáo)

Câu cuối cùng đẹp và trong suốt tựa khí trời, tinh khiết như giọt sương mai mà không hề vẩn bụi “thiên khổ lụy, vạn cổ sầu” vì tình, như mấy câu thơ Bùi Giáng khóc Marylin Monroe, dẫu là “khóc giỡn”:
Giữa hư vô nếu em còn
Nhớ ta em gửi cái hồn cho ta
Úp môi ôm mặt khóc òa
Cồn lê lên miệng là ba bốn lần (Bùi Giáng – Bốn lần)

Ở nơi ông, trắng không màu là màu trắng không phai, phải chăng là cuộc lữ thi ca tình tang tình tứ không mệt mỏi cả đời ông?
Hơn một ngàn năm trước, hoàng thành thi ca phương Đông lấp lánh một Lý Hạ khởi cuộc ngao du thi thơ một thuở nơi Đài Thành một thuở Thi Thơ/ Xe Vàng còn mộng quanh tà áo Thu/ Tóc Mai về, sương Ngô điểm mái/ Thân tàn như cỏ dại bờ đê…(Lý Hạ, bản dịch Tuệ Sỹ) với những mộng mị quỷ thi, hướng đến một thế giới cực kỳ quỷ dị, mãi vật vờ trong chốn u minh âm âm những bi lụy… thì hơn một ngàn năm sau khởi cuộc của Hoàng Lộc là những bay bổng trắng phau một trời mê mệt với tình một cách diễm lệ, chưa bao giờ nhòa phai; bởi tình từ thiếu thời đến thanh xuân, qua một thời bi thảm trại tù… và tới nay nơi xứ người, tình vẫn luôn sóng đôi với ông bước qua trời đông tuyết giá, qua những con đường mùa thu lá phong vàng, mùa xuân bướm hoa. Tình và ông cùng khoác vai nhau lúc ấm áp, khi lạnh buốt… như hai bóng hình trên con đường vạn dặm với những nhan sắc trần gian mà cả hai được “diễm phúc” diện kiến.
Không rõ tới khi nào thì trái tim ông giảm nhịp độ rạo rực để tình ông có những phút thanh lặng bên thơ và nhìn lại như ông tự hỏi rồi tự trả lời bằng những ngôn ngữ cười cợt, bông đùa, dù rằng, những cuộc tình bằng mắt ấy, nhiều khi cũng làm cho trái tim ông rơm rớm những run rẩy?
Ta đã ớn rồi cái nạn văn chương
bốn mươi mấy năm đi hoài không tới
bên quán trần gian ai người đứng đợi
có phải là em, cô vợ trần thân
có phải là em, thường gọi tình nhân?
ta mãi lơ mơ suốt một đời tình
mãi lưu lạc những hiên nhà gái đẹp
bởi thứ giả vẫn nhiều hơn thứ thiệt
ngó trăm lần không rõ nổi vàng thau
nếu em hỏi ta ai là tình đầu
ta sẽ trả lời không ai tình cuối
như chú ngựa hoang mấy trời dong ruổi
gặm miếng cỏ nào cũng thấy thơm ngon
(bởi muôn năm ta thiếu đói trong hồn!) (Thơ viết dở cho vợ và tình nhân)

Ở một bài thơ khác, hồi tưởng lại mối tình cũ (không rõ thứ bao nhiêu) tan vỡ, Hoàng Lộc
không sử dụng ngôn ngữ bi lụy mà “cà rỡn” đến tận cùng cà rỡn, dốc bầu tâm sự với thế hệ thứ ba là cháu nội:
Tụi bây đâu cần biết ta là ai?
ta, như ông nội (mà hơn ông nội
chẳng quan trọng gì tiếng xưng tiếng gọi
ta là ai thì cũng chẳng ăn nhằm)
chỉ biết bà tụi bây thời thanh xuân
như trang kinh thi lắm thằng chụp giật
ta cũng có lần qua nhà đọc được
để đến nằm lòng từng chữ từng câu
chỉ biết bà tụi bây thời khuynh quốc
lòng hoa thơm học một tỏa mười
để hằng đêm ta chịu trời thức suốt
làm ngọn đèn chong cho bà bây vui
ta hồn nhiên yêu, hồn nhiên khóc
khi bà tụi bây yêu để lấy chồng
ông nội tụi bây ranh ma hết biết
bưng bà nội bây về bên kia sông
ấy thế mà nên giang hồ đại loạn
dẫu chút tình kia mơ hồ như mây
cả đời thơ ta là đời ân oán
(sinh du côn hơn ông nội tụi mày)
hãy nhận giùm ta một lời tạ lỗi
chuyện đời trước là chuyện chẳng may
tụi mày lớn lên chắc nhiều điều muốn hỏi
xin ngó lên trời mà hỏi mây bay… (Gửi lũ cháu một phu nhân)

Bàn về thơ tình và đời tình của Hoàng Lộc, có thể từ sáng tới chiều, từ tuần này sang tháng khác vẫn không thể nào luận cho tới hồi kết được. Và vì vậy, có lẽ mượn những nhận xét sau của bạn văn, đã viết về thơ và đời thơ của ông trên trang https://thotinhhoangloc.wordpress.com/ để ngã mũ bái phục tình thơ và thơ tình của ông:
-Du Tử Lê: “Không gian lãng mạn với ngôi ngữ mới và diễn tả trung thực, khiến những trang thơ tình của ông là những trang thơ tình rất đẹp. Tính đẹp của thơ tình Hoàng Lộc, đến nay không còn là một nghi vấn cho bất cứ ai từng đọc thơ ông”.
-Phan Xuân Sinh: “Viết về Hoàng Lộc thì phải nói đến thơ tình. Mấy chục năm nay Hoàng Lộc vẫn mang mãi cái nòi tình nầy trong thơ. Anh đã trau chuốt nó, đã nắn nót nó, nên nó thành lão luyện, thượng thừa như một người luyện kiếm đến hồi không cần kiếm trong tay, chỉ cầm một cành cây vẫn chém đá ngọt như róc mía. Dù rằng cố tìm trong thơ anh một sự ẩn hiện khác, chứa một nội dung khác thì thơ tình của anh vẫn là số một”.
– Trần Doãn Nho: ““… tứ thơ, không khí thơ và trái tim nhà thơ thì dường như vẫn thế: yêu. Chan chứa yêu, đằm thắm yêu, say sưa yêu. Yêu không biết mệt mỏi. Ta có thể nói, anh bày ra “cuộc yêu” trong đời của anh và trong thơ của anh. Ở hoàn cảnh nào, Hoàng Lộc cũng có thể làm thơ tình một cách hồn nhiên, một cách bình thường, y như thể thế giới này không có gì khác hơn ngoài tình yêu trai gái, bởi vì suốt đời anh là một “đời tình”: Ta mãi lơ mơ suốt một đời tình/ Mãi lưu lạc những hiên nhà gái đẹp”.
Bài thơ Mệnh Phụ là một minh chứng cho những nhận xét trên:
Em tóc gió trần gian kia quạnh quẽ
xưa tiểu thơ – nay mệnh phụ bên trời
khi diện kiến, ta run lòng ngưỡng mộ
nỗi bồng bềnh đau sắc áo hoa khôi
ta, có lẽ, bút nghiên chừng đã hỏng
tưởng không còn riêng ánh mắt tình si
sao vướng vất tiếng cười em sóng cuộn
mà oan khiên xanh ngắt buổi xa lìa
kể từ đó dấu đời ta mộng ước
quá chừng em áo mỏng thuở về ai
ta muốn chết một lần cho sắc nước
để em còn nguyên vẹn giữa tàn phai.

NGUYỄN LỆ UYÊN

_______________________

(1) Số chủ đề của tạp chí Văn về các nhà văn trẻ.
(2) Giải thưởng của TT Văn Bút Việt Nam tặng Hoàng Lộc với tác phẩm “Trái tim còn lại”

Tiểu sử:
Tuổi Quý Mùi (1943) Quê Hội An, Quảng Nam
Làm thơ, làm lính trước 1975. Sau 75 ở tù cải tạo và đang lưu lạc xứ người. Định cư tại Memphis Tennessee từ 1993.
Khởi viết năm 1958 trên Văn Nghệ Tiền Phong, Thời Nay. Sau đó có thơ trên Bách Khoa, Văn, Văn Học, Khởi Hành tại Sài Gòn…Một số thơ trên các tạp chí văn học hải ngoại như Hợp Lưu, Văn Học, Văn, Thế Kỷ 21… và các trang mạng văn chương.

Tác phẩm đã in:
– Trái tim Còn Lại (giải thi ca Trung Tâm Văn Bút Việt Nam 1970)
– Qua Mấy Trời Sương Mưa, Văn Mới xuất bản 1999 ở Mỹ
– Cho Dẫu Phù Vân, nhà xuất bản Hội Nhà Văn Việt Nam 2012
– Ngắn ngắn Tình Si, nhà xuất Bản Hội Nhà Văn Việt Nam 2016

Tác phẩm sẽ in:
– Thơ Tình Ở Hội An
– Thơ Viết Bên Trời,