Chuyện cổ tích không dành cho bé thơ

Một ngày vài lần tôi rẽ ngang exit đó, người đàn ông râu tóc bạc phơ với tấm bảng nguệch ngoạc:
“Dave, Vietnam veteran, I want $5.00.”
đập vào mắt những khi tôi dừng đèn đỏ.
Không thấy ai cho tiền ngoài tôi, có lẽ bởi chỗ đứng của ông ta không thuận tiện. Tự nhiên tôi thấy như mình mắc nợ Dave, tôi đã chiếm một chỗ làm việc của ông trên đất nước ông… Có một lần khi dừng lại, tôi ra dấu cho ông đến cạnh xe, hỏi:
– Only $2.00. Do you want?
– Oh my God, never say no, Lady.
Hình như ông ta trêu chọc tôi với cái nhún vai khinh khỉnh và một nụ cười tôi không thể nào diễn tả được, cái vẻ kẻ cả ban ơn… nhưng nếu tôi không lầm thì tôi mới chính là người ban ơn chứ!
Buổi sáng cuối tuần rảnh rỗi, ôm một thắc mắc lớn lao, tôi chạy bộ ra nơi ấy – cũng khá gần nhà – để hỏi cho ra lẽ…
Ông đang ngồi trên ghế đá, gần chiếc xe ngựa cổ biểu tượng của thành phố San Dimas… Ly cà phê McDonald bên cạnh bốc khói thơm lừng, dáng ung dung, thanh nhã, sạch sẽ, thơm tho chẳng khác chi những công dân đáng quý của thành phố này mỗi buổi sáng vẫn chạy bộ ven những con đường xinh đẹp nên thơ hay thong dong cỡi ngựa dạo chơi trên những đường mòn ven rừng thơm ngát mùi thảo mộc.
– Xin chào, lady.
Ông ta chào tôi thân ái như thể một người quen, ông không biết “lady” đang kinh ngạc đến sững sờ vì cái giọng Việt Nam rất Mỹ:
– Bà là người Việt Nam, tôi biết, tôi thấy từ trong xe mắt bà cứ chăm chăm nhìn chữ “Vietnam Veteran.”
Phát âm chuẩn đến không ngờ với cái giọng khan khan ngắt quãng… Ông đưa tay chạm vào dưới cằm, nơi mớ râu bạc hiền hòa như ông già Noel bước ra từ chiếc xe tuần lộc bên cạnh:
– Một viên đạn còn nằm ở đây, lady, trận Khe Sanh.
Dave cứ dẫn câu chuyện của mình như tìm thấy tri âm và tôi ngơ ngác ngồi nghe như chiến tranh đâu đó vẫn rất gần trong trí nhớ… Dave mở ba lô, đưa tấm bảng cho tôi coi, cười:
– Cái này là để cho Sơn Mỹ, không phải cho tôi.
Sơn Mỹ, một địa danh thuộc tỉnh Quảng Ngãi, nơi xảy ra trận thảm sát Mỹ Lai kinh hoàng. Ngày ấy… Dave ở đâu, làm gì, tôi không dám hỏi.

Mọi người đều cho là tôi rất khinh suất khi mướn Dave làm vườn, cắt cỏ… Một cựu chiến binh tinh thần hơi hoảng loạn… nhưng tôi quý mến con người ấy, khẳng khái, điềm đạm và thích độc thoại, tôi chỉ việc ngồi im nghe ông nói và học được bao điều bổ ích.
Thật sự Dave không cần ra ngã tư đứng để xin tiền, ông có tiền hưu, tiền thương tật, có một Mobile home nhỏ bé ấm cúng, một xe Volkswagen hai chỗ xinh xắn… nhưng như ông nói: dành cho Sơn Mỹ… và những ngày khỏe mạnh ông vẫn ra đứng đó, như một chứng nhân với dòng chữ Vietnam Veteran trên ngực.
Dave bắc thang trèo lên cây phượng tím làm cho lũ sóc những mái nhà ấm áp trong mùa đông, Dave rải lên cỏ những thức ăn ưa thích để bầy Smocking birds về lang thang trong vườn cho con gái tôi chụp ảnh. Dave gắn những hình tượng Halloween, Thanksgiving, Merry Christmas, New Year… thật đặc sắc mỗi lần lễ hội để mọi người trằm trồ chiêm ngưỡng.
Một lần thấy tôi ngồi viết say mê suốt buổi chiều thứ bảy đẹp trời mà không ra vườn ngắm nắng. Dave lặng lẽ đi mua cho tôi ly cà phê Starbucks.
– Lady viết sách cho con nít vậy có biết chuyện ông thần đèn không?
– Biết chứ Dave. Lúc nào tôi cũng muốn có 3 điều ước.
– Đừng nói 3 hạt dẻ của cô Lọ Lem… nhưng tôi sẽ kể cho lady câu chuyện này, một chuyện cổ tích không dành cho bé thơ.

Không biết Dave có gởi gắm gì, ẩn ý gì trong đó… nhưng khi kể Dave chìm vào ký ức, đôi mắt mơ màng như kể cho đứa con trai mà Dave đã không gặp từ lâu lắm, cậu đang thất lạc ở một chiến trường nào đó… Những chiến binh vì một lý tưởng hòa bình đã dấn thân đến một đất nước hoàn toàn xa lạ để chết hoặc để trở về với một xác thân tàn phế. Dave nói khi thấy tôi buồn thương cho những người lính ấy: “Có gì đâu, lady, được chết cho một lý tưởng chẳng cao cả sao?”

Câu chuyện Dave kể bắt đầu từ đây, tôi có biên tập chút đỉnh cho thích hợp.
Người đàn ông Homeless nhặt được trong thùng rác một chiếc đèn cũ kỹ, ông ta rao bán với giá $5.00, người mua hỏi:
– Chiếc đèn rất cũ, sao ông muốn tới $5.00?
– Đó là giá tối thiểu để tôi có một bữa ăn trưa gồm một phần hamburger và một coke.
– Thôi được, nhưng ông hãy lau chùi cho sạch.
Người Homeless ngồi dưới bóng mát của cây phượng tím bắt đầu chăm chú lau chùi… Rồi như trong cổ tích thứ thiệt, một làn khói trắng mù mịt bay ra, ông thần đèn hiện lên cho người Homeless được ước ba điều .
– Tôi muốn một bữa ăn no như vẫn thường mơ.
Một đĩa thức ăn với chiếc bánh Hamburger đầy ắp thịt dọn kèm khoai tây rán… Người Homeless ăn ngấu nghiến.
– Tôi muốn một ly coke lớn, thật lạnh.
Một ly coke nhìn mát rượi với những hạt sương lạnh lấm tấm bên ngoài. Người Homeless thở phào sảng khoái.
– Bây giờ ông chỉ còn một điều ước nữa thôi, hãy ước điều gì cho xứng đáng.
Đúng với tính cách trung thực và nhân hậu của các vị thần, ông thần đèn nhiệt tình khuyên nhủ:
– Ông nên ước trở thành một người nổi tiếng hơn cả Bill Gate, ông sẽ là founder của đại công ty HomelessSoft, ông sẽ tạo ra một hệ điều hành mới có tên là Doors. Doors của ông sẽ thống lĩnh thị trường thế giới, sẽ đè bẹp Windows của Bill Gate.
Thấy người Homeless im lặng không trả lời, ông thần đèn khuyên tiếp:
– Nếu ông không thích làm giàu, thì ông nên ước 4 năm sau sẽ trở hành tổng thống thứ 45 của Hoa Kỳ. Ông sẽ là vị tổng thống đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ xuất thân từ homeless. Sao? Ông ước muốn điều nào?
Người Homeless cười, một nụ cười vô nhiễm với trần gian:
– Vâng, tôi muốn ông biến đi, tôi cần ngủ, tôi muốn ngủ…
Vị thần biến mất.
Chiếc đèn cũ kỹ nằm lăn lóc trên sân cỏ.
Và người Homeless chìm vào giấc ngủ thần tiên dưới vòm phượng tím…


Tôn Nữ Thu Dung (2013)

TRÔI THEO DÒNG LUÂN LẠC

Những ngày cuối năm đầy gió, gió từ triền sông thổi mãi xô dạt những bờ lau trắng xoá, nhưng những cơn gió Santa Ana có xô dạt nỗi những hồi ức xa xăm!


Cũng chỉ là những chiều muộn như những chiều khác trên vùng bình nguyên châu thổ, nơi tụ hội của những giòng sông tìm đường ra biển lớn, tôi nghe như mùi khói đốt đồng vương đầy căn phòng nhỏ, mùi cỏ khô và rơm rạ ngày xưa, mùi gỗ ngo nồng nàn của tuổi thơ xa lắc. Người đàn bà mở to đôi mắt nhìn tôi, những đôi mắt phụ nữ đặc trưng của giòng họ, khi cúi xuống thì thuỳ mị khiêm cung, khi ngước lên thì tràn ngập một nỗi buồn u uất. Chị thầm thì:
– Ông nội chị là con trưởng, ông cam phận ở nhà nuôi mẹ để cha và các em trai rộng đường quan lộ. Khi ông cố chết, vua ban cho bao nhiêu là vàng bạc để lo việc thọ tang, nhưng ông nội chị đã mang hết vào chiếu bạc, trắng tay bỏ trốn! Ông bị bắt về quỳ bên quan tài mấy ngày đêm trước khi công bố nhục hình. Ông tức giận thù hằn vì cho rằng ông nội em đã giành cái quyền huynh thế phụ để truất quyền thừa kế của ông, ông đốt nhà ông nội em xong đem cả gia đình ra Bắc…

Chị đã đưa tôi về lại một quê nhà xa lắc, một ký ức mù mờ mà tôi quên bẵng từ lâu… câu chuyện chị kể tôi đã từng được nghe trong những ngày thơ dại, đêm đêm rúc vào lòng bà nội để chìm vào giấc ngủ.
Chị sống trong nursing home này khá lâu và là một bệnh nhân im lặng mà tôi không hay biết, vô tình khi trực thay cho một nhân viên khác tôi ngỡ ngàng nhìn thấy tên chị trên hồ sơ bệnh án: Thiên Kiều Tôn Nữ, một cái tên đài các và rất Huế! Tôi đã hỏi hàng trăm lần và câu trả lời chỉ là thinh lặng… nhưng dần dà, những trạng thái biểu hiện trong đôi mắt cúi xuống, đôi mắt nhìn lên của chị cho tôi một chút hy vọng mong manh. Công việc của tôi đơn giản là an ủi và xoa dịu những tổn thương âm thầm của những bệnh nhân trầm cảm, có người chỉ cần ai đó kề bên là đủ, có người chìm vào một cõi vô thanh, vô ngôn, có người như chỉ chờ ai gỡ một nút thắt là hồi ức cuồn cuộn tuôn về… một nhân viên xã hội quèn như tôi, không cần thiết phải gỡ những nút thắt, việc đó dành cho những bác sĩ chuyên khoa, lương cao chót vót.
Dân trong nghề đều biết một bệnh nhân nằm ở dưỡng đường này mỗi tháng tiền phí đủ trả cho 3 nhân viên xã hội cỡ tôi thì hà cớ gì tôi phải ôm thêm công việc!
Nhưng người đó là chị…
– Em biết không, ông nội và ba chị sống ngoài Bắc chẳng dễ dàng gì với cái họ con giòng cháu giống, phải thay tên đổi họ để không bị ảnh hưởng đến việc học hành thăng tiến, rồi đời chị phải học giỏi gấp 5 gấp 10 bọn nó mới có đường tiến thân. Năm 75 về tới Huế chị mới lấy lại cái họ mà ba chị đã đau đớn khướt từ!
Về Huế, các chú các bác phần lớn đều đi cải tạo, những người còn lại đều mang mặc cảm… con vua cháu chúa nên chỉ muốn yên thân! Lúc ấy ba chị mở cuốn gia phả, cay đắng nhìn tên ông nội chị với cái ngoặc đơn bị trướt tịch. Ba chị làm mọi cách để lấy lại những gì đã mất… những gì đã mất đó, nhân danh bên thắng cuộc đã vào lại tay ba chị… nhà thờ họ, nhà từ đường, đất xây lăng, đất thừa tự … cộng với những chức vụ các anh chị nắm vững trong thành phố đã được hợp thức hoá dần dần – trừ đất của ông nội em- nơi ông nội chị đã từng đốt cháy để trút xuống hận thù không hiểu vì sao lại làm ba chị chùn tay.
Rồi thành phố quy hoạch, vùng đó trở thành đất vàng, đất bạc, đất kim cương tuỳ theo những công trình chị ký, một phó chủ tịch địa chính tỉnh cứ xuống tay là tiền chảy vào tài khoản! Rồi các anh chị khoác lên thân phận mình một vỏ bọc cao sang, vừa con giòng cháu giống vừa quan chức đại gia… con cái gởi đi ăn học ở các nước tư bản từ ngày còn nhỏ xíu! Các anh chị quên dần cái dấu ấn nhục nhã ngày xưa, hoặc có nhớ thì lập tức phủi đi như phủi một vết nhơ cần che giấu!
Cho đến một ngày, những cơn ác mộng hằng đêm trở về, cứ nhắm mắt là chị thấy một người đàn bà đài các đến bên giường, nhìn chị với đôi mắt đầy u uẩn, đôi mắt của những dòng đời luân lạc… cái chết đột ngột của người thư ký riêng thân tín, căn bệnh ung thư bất ngờ phát hiện đã vào giai đoạn cuối của chồng, tai nạn xe làm con trai chấn thương cột sống nằm liệt… đã làm chị kinh hoàng và xôn xao dư luận của một thành phố vốn trầm mặc linh thiêng… hằng đêm, chị bị đánh thức bởi những tiếng khóc than ai oán… dưới tay chị, những ngôi mộ bị dời đi hoặc san bằng để có một khu đất đẹp nhân danh mỹ quan thành phố, một cứu cánh biện minh cho lòng tham không đáy… tự thâm tâm, đôi khi chị cũng áy náy  xót xa, đôi khi tiền bạc cũng chỉ là phù du vô nghĩa, nhưng chị đang ở trong một guồng máy quay đều, chị chỉ là một thứ phụ tùng  nhỏ bé… chị không muốn cái mác tiểu tư sản trí thức một lần nữa lại vùi dập con đường công danh đang trên đà thăng tiến… chị nhắm mắt ký khi những công văn để trên bàn có sự gởi gắm từ trên mà không còn quan tâm đến những con số phần trăm chia chác! Đã qua rồi cái thời kỳ đói khát cầm từng tờ bạc phân vân đo đếm, đã qua rồi cái thời tấp tểnh bước vào đường hoạn lộ với mặc cảm tự ti!
Trong giấc mơ, ba chị về, nói: con, lúc nào con cũng có thể dừng lại khi cần.
Trong giấc mơ, chị trả lời đầy nước mắt: ba, con không thể dừng lại khi mọi người đang đi tới.
Trong giấc mơ, bà Phi Tần đài các xinh đẹp trong ngôi mộ bị đào xới nửa chừng được che phủ bởi tấm bạt màu xanh mà nhiều người trong dòng họ đang ra sức đấu tranh để dành lại cho bà một chốn yên nghỉ ngàn thu nhìn chị với một đôi mắt tràn ngập u buồn!

Tôi không còn những buổi chiều muộn ngồi nghe chị kể.
Tôi không có gì để trách cứ hay minh oan cho chị.
Tôi không biết gì về những điều đã và sẽ xảy ra.
Đôi mắt chị hé mở, đó là đôi mắt của những người ngủ đang mơ, một giấc mơ êm ả! Ngủ ngon nghe chị.

Khung cửa rực sáng những tia nắng rực rỡ đầu ngày, Cầm Uyên thầm thì trong nước mắt:” con không hề biết về những điều này dì ơi!”
Tôi đặt tay lên vai nó, muốn ôm nó vào lòng, nhưng nó đã là một người trưởng thành từ lâu và xưa nay tôi vẫn xem nó như một người xa lạ: “ không sao đâu con, cái gì qua thì để nó qua đi… như đời sống đã bắt đầu thì sẽ có giờ kết thúc…”
tôi biết, một điều đã xảy ra rồi sao có thể nói là không! Chúng sẽ tồn tại vĩnh viễn trong trang lịch sử mà mai sau mở ra có thể chúng ta không tin dù đó là sự thật.
Chiếc thập giá chị đã mang đó quá nặng đối với một kiếp người… nhưng ai có thể nói được lời tha thứ lãng quên?

TÔN-NỮ THU-DUNG

GIỌT CHIỀU

Những giọt chiều rơi
những giọt chiều
Nghe hồn khuya rủ cánh liêu xiêu
Có bầy dơi muộn về qua ngõ
Treo ngược tình ai trên phiến rêu.

Những nỗi niềm riêng
những nỗi niềm
Ai cầm hạt nắng thả vào đêm
Có phải nghìn xưa vầng nguyệt khuyết
Quạnh quẻ mùa trăng lạnh lưỡi liềm.

Những giấc mơ tàn
những giấc mơ
Khuất trong vô thức một dòng thơ
Có ai ngồi lại bên thềm vắng
Khua động lòng đau một bến bờ.

Những giòng sông cũ
những giòng sông
Phiêu bạt về đâu cánh nhạn hồng
Chiều đã phai tàn bên kia núi
Ai còn trôi dạt phía hư không…

Tôn Nữ Thu Dung

Nhật Ký của ngày thơ tình thơ.

1.

…”Chúc mừng em bước chân vào thế giới tự do…”
Những hàng chữ nhấp nháy vui vẻ với một dọc các biểu tượng cười, Cái Email dầu tiên tôi nhận được trên đất Mỹ là của T. Người mà tôi đã tưởng nếu -thôi-yêu-thì-chết của thời nào … nhưng lạ thay, tôi lại gặp những người tôi yêu hơn… rồi lại gặp những người yêu hơn nữa… Đầu óc tôi có vấn đề hay sao đó!
Ôi, cuộc đời…
Tôi là một người mang trái tim đầy trắc ẩn, lưu luyến và yêu quý từng hạt bụi nhỏ nhoi huống chi là với một con người thực thể… nhưng sao trái tim tôi cũng thật dễ dàng quên lãng để đến nỗi tôi cứ phải tự khuyên nhủ mình:

”Đừng mang lòng ngờ vực
Khi tình yêu còn đầy
Giữa đôi bờ hạnh phúc
Đã nhuốm màu tàn phai”

Trước sau gì tự nó cũng nhuốm màu tàn phai thôi mà. Tôi đâu giống các nhà thơ yếu đuối khác , cứ vội vàng chạy đi chôn cất những mối tình vào đâu đó !
Tôi tuổi Nhân Mã, thích màu xanh lá cây nhưng luôn phô trương cái vẻ bề ngoài bằng màu đỏ. Là dạng người mà tử vi cung cấp thông tin: Một con sư tử ẩn trong một con cừu… Tôi không tin tử vi nhảm nhí. Tôi chỉ cố chứng tỏ với mọi người rằng tôi chỉ là một con cừu ẩn trong một con sư tử…
Và nói chung chẳng ai tin điều đó .
Có hề chi
Chỉ một người tin tôi là đủ …

2.

Tôi sinh ra với một vết chàm trên má. Từ khi biết soi gương tôi đã thấy mình bất hạnh. Vết chàm nhỏ bé thôi nhưng đã làm tuổi thơ tôi đau đớn, tôi thu mình vào cái vỏ ốc của riêng tôi, tôi nâng niu nỗi bất hạnh của mình để thấy mình cô độc cho đến ngày T. chạm vào và nói: ” Ồ , dễ thương quá, giống như một trái tim nhỏ bé “, bình thường vết chàm màu nâu nhạt, khi tôi giận nó màu nâu đậm,  khi tôi buồn nó ửng như một vết  son, khi tôi vui nó hầu như biến mất…
Chưa ai nói với tôi điều đó ngoài T.  Vậy thì tôi phải vui thôi.
Lớn hơn một chút, tôi để tóc dài che một bên để đừng ai thấy. Tôi học trường dòng, kỷ luật rất nghiêm. Tóc phải cột gọn gàng. Soeur Hiệu Trưởng nhiều lần gọi tôi lên văn phòng để  chép phạt. Khi thấy tôi khóc và lấy tay che vết chàm, Soeur ôm tôi vào lòng, thương xót: “Chúa đã cho con một dấu ấn đặc biệt khác với mọi người. Hãy cảm ơn Chúa và đừng làm Ngài thất vọng.”
 Tôi không biết trang điểm để che dấu khiếm khuyết của nhan sắc.
Tôi lại càng không biết ngụy trang để bảo vệ tâm hồn mình.
Tôi cô độc và trống rỗng…

   Tôi hay chống cằm, T. nói: Thói quen của những người hay mơ mộng. T. nói: Không việc gì phải che giấu trái tim. T. nói… T. nói…
Chưa ai nói với tôi những điều như thế và tôi được an ủi biết bao…
Nhiều năm sau gặp lại, câu đầu tiên T. hỏi: “vết chàm đâu?”
Tôi hồn nhiên trả lời: “đi thẩm mỹ viện xóa rồi, bây giờ thấy em đẹp không?”
T. giận.
Tôi mất T. từ đó… 

3.

Từ đó, tôi mất T.
Từ đó, dường như trong tôi có hai con người, một cứ trôi theo thời gian mà sống, còn một cứ quay đầu nhìn lại phía sau.
Đâu đây, có người ôm đàn đến giữa đời nghêu ngao hoài câu hát: ” Giấc mơ của tôi là cánh chim hải âu bay xa khỏi tầm tay và tiếng sóng...”Giấc mơ của T. hoang dại và vời vợi mây trời, còn giấc mơ của tôi chỉ là thế giới của tuổi thơ nhỏ bé: luôn thấy mình đi học trể, luôn thấy mình không thuộc bài, luôn thấy mình thi rớt,  luôn thấy mình đi lạc… và thức dậy với ngập tràn nước mắt. Tôi gọi T. ơi…
Không còn ai trả lời.
Không còn ai ở đó.
Chỉ đơn độc mình tôi soi gương nhìn vết chàm nâu nhạt.
Không còn ai vẽ lên một trái tim.
Không còn ai vẽ lên một bông hoa.
Không còn ai vẽ lên một môi cười.
Không còn ai…
Chỉ còn lại một vết chàm đơn điệu và xấu xí…

Tôn Nữ Thu Dung

Nhật Ký Tháng Tám

Tạm biệt những ngày vàng thu thương nhớ
Tạm biệt tiếng chim hoang vắng lưng đèo
Mùa trái chín nồng nàn hương thơ dại
Lối em về chong chóng cỏ trôi theo.

Tạm biệt nắng, tạm biệt mưa vườn cũ
Tạm biệt em mắt biếc thuở xa vời
Khăn áo lụa cuối đường bay lơ đãng
Chiều thênh thang lồng lộng gió mình tôi.

Tạm biệt dòng sông, vầng trăng huyền hoặc
Tạm biệt môi hôn thuở ấy xuân thì
Ai gõ cửa mở về khung trời vắng
Tôi nghẹn ngào đánh đổi cuộc ra đi…

Tôn Nữ Thu Dung

ĐỪNG NHỚ PHƯƠNG ĐOÀI

Ngồi nghe mưa rơi…
lạnh từng sợi tóc
Sao mưa nơi đây…
mà nhớ quê nhà
Quê nhà đã xa…
xa nhòa nước mắt
Con sóng phiêu du…
lạc cuối giang hà

Ngồi nghe mưa rơi…
rơi từ biển Bắc
Ngọn gió lang thang…
tìm kiếm cội nguồn
Cội nguồn hư vô…
nghìn trùng xa khuất
Tiếng chuông gió rơi…
từng giọt giọt buồn

Ngồi nghe mưa rơi…
xin mưa đừng vội
Phố vẫn còn đêm…
đêm nhớ mặt trời
Mặt trời bội thề…
mãi là đêm tối
Người từ phương Đông…
đừng nhớ phương Đoài!…

Tôn Nữ Thu Dung

đêm

 

Ngoài hiên Hồ Ly bước khẽ
Nghẹn ngào giọt nến lung linh
Trang sách thở dài rất nhẹ
Thư sinh rơi bút… giật mình

Từ đó đêm thành cổ tích
Thơ đề trên vạt áo xanh
Thời gian phai nhòa ảo ảnh
Mơ hồ sương khói mong manh

Từ đó đôi bờ huyễn ngạn
Chỉ là một chạm hoang mang
Ngàn xưa… ngàn sau phiêu dạt
Chỉ là một bước lang thang…

Tôn Nữ Thu Dung

NHỮNG CON MA DỄ THƯƠNG.

 

 

Tôi có duyên nợ với những con ma, năm 20 tuổi, tôi về dạy học ở một thị trấn ven đường, hoang sơ , vắng lặng… Trường nằm bên Quốc lộ 1, thời chiến tranh, nơi này đã hứng chịu những tàn phá khốc liệt của đạn bom, là nơi mà ban ngày Cộng Hòa, ban đêm Cộng Sản… Phụ huynh thấy cô giáo nhỏ xíu, ốm yếu thì thương, nói:”Cô về nhà tôi ở, cái bàn viết mà trường phân cho cô ngồi soạn bài, chấm bài là chỗ mấy ổng đâm nhau bằng lưỡi lê chết gục ở trển, máu me tùm lum mà cô không để ý!” Quả thật, những vết máu khô nâu nhòe nhoẹt được học trò cạo tới cạo lui bằng mảnh chai vẫn còn nhòa nhòa trên mặt. Mỗi lần ngồi làm việc ở đó, tôi trải lên một tờ giấy báo để che đi .

(Tôi không sợ ma kể từ ngày Cà Rốt chết. Cà Rốt là bạn hàng xóm thân thiết nhất của tôi từ thời thơ ấu cho đến lúc nó vĩnh biệt trần gian… Nó chết lãng nhách vì một trái bom thả rơi vô tội vạ vào trung tâm khu cư xá công chức. Một thành phố thanh bình yên ổn nhất chưa hề nghe tiếng đạn bom trong suốt cuộc chiến tranh lại phải hứng chịu một trận mưa bom tan tác vào những ngày chấm dứt cuộc chiến. Tôi vĩnh biệt Cà Rốt cũng là vĩnh biệt tuổi thơ tôi!)
Những buổi chiều cuối tuần buồn rợn, từ cửa sổ của phòng nhìn về phía con đường nhỏ dẫn ra sau trường là một rừng xương rồng và một bãi tha ma hoang vắng. Tất cả giáo viên đã về nhà còn mình tôi ở lại… Tôi không thể chen chân lên những chuyến xe than chạy qua quốc lộ vì quá đông người và hàng hóa… Rất nhiều khi các học trò ban ngày làm du kích, ban đêm đi học bổ túc văn hóa thấy cô giáo đứng lơ ngơ chảy nước mắt khi những chiếc xe lần lượt đi qua không ngừng lại, chỉ để rơi rớt những đốm lửa cháy đỏ trên đường… đã động lòng trắc ẩn, về xã đội lấy súng chặn đường tài xế, gởi cô giáo về Nha Trang.
Những chiều sẩm tối, rừng xương rồng buồn bã một màu hoa đỏ, phụ huynh thường nói những lúc đi qua nhìn thấy cô giáo đăm đắm nhìn về hướng đó:”Nó thấm quá nhiều máu nên hoa màu đỏ rực!”.
Mặt trời chiều nào cũng nuối tiếc rơi xuống những đốm nắng tàn phai… tôi đi về phía ngôi nhà nguyện đổ nát, hoang tàn để được đọc những bài kinh còn nhớ trong tâm trí... Lạy Cha chúng tôi ở trên trời… Kính mừng Maria đầy ơn phước... để cảm thấy mình được an ủi và có thêm chút nghị lực mà sống tiếp… Cứ mỗi lần về ngang con đường mòn này trong chiều chập choạng tôi luôn nghe tiếng :” Chào Cô Giáo” và thấy một người lính trẻ, áo lính bạc màu, mũ bê rê nâu đứng tựa bức tường rêu thấp với nụ cười trêu chọc… tôi nhắm mắt chạy nhanh qua. Thầy Lập nói: ” đó là oan hồn của một người lính trẻ, mới rời quân trường về thăm nhà chưa kịp ra trận đã bị “bên kia” xử bắn ở cái cổng chào này! Cô giáo có duyên lắm mới được nhìn thấy đó!”
Buồn, nhớ 2 câu thơ anh Võ Duy Chung: Như đám tàn quân chiều trận mạc/ Khoác chiến bào che giấu vết thương... Và thầm nghĩ: nếu những con ma đều dễ thương đến vậy thì đâu có gì đáng sợ!
Hơn 6 năm dạy học ở đây, tôi nhiều lần theo phụ huynh học sinh đi vượt biển, Thị trấn nằm giữa, bên biển bên rừng và lớp tôi chủ nhiệm đa số là học sinh vùng biển. Trước mỗi chuyến đi, người lính trẻ đều đến trong giấc ngủ buồn bã hỏi tôi rằng:” Nỡ bỏ tôi đi sao cô giáo?” và như một sợi dây neo chặt tôi vào vùng đất đã trở thành quen thuộc này dù phụ huynh đã dặn dò tôi phải đọc thuộc mấy câu kệ để thoát khỏi vòng âm khí …Tôi trả lời trong mơ:” Yết Đế Yết Đế, Ba La Yết Đế, Bồ Đề Tát Bà Ha” để linh hồn ấy được siêu sinh tịnh độ.

Năm ấy, Thầy Lập rủ:” Ở lại qua đêm Giao thừa này đi cô Thụy, dự một phiên chợ Âm Dương cho biết với người ta!”
Chợ họp ở chân Dốc Găng, giữa rừng dương liễu, những ngọn đèn bão lững lờ như trôi trong đêm sương, những ngọn đuốc chớp tắt theo gió núi và những đống lửa nhỏ đốt bên đường sưởi ấm… Những bóng người mờ tỏ âm u. Tôi nắm chặt tay Hương Giang vì nó đang sợ muốn khóc thét lên. Thầy Lập hỏi: ” sợ không cô Thụy?” Tôi cười:” Thụy vốn là bạn của những con ma mà!”
Đêm nay là đêm Giao thừa, người sống và người chết trả hết những ân oán mà họ đã gieo gặt cho nhau để không còn nợ nần vương vấn. Tôi chỉ cho thầy Lập và Hương Giang thấy người lính ấy… Tôi không muốn đọc bài kệ cũ nữa. Mặc bạn thôi, nếu bạn không muốn siêu sinh tịnh độ thì cứ ở lại nơi này mà lặng lẽ gởi đến mọi người những nụ cười trêu chọc!
” Cô giáo, đói lòng ăn nửa trái Sim, uống lưng bát nước đi tìm người thương” và trút vào giỏ tôi một rổ Sim tím thẩm… tay thầy Lập còn lạnh ngắt hơn cả tay Hương Giang nữa .” Cô nói chuyện với ai vậy Thụy?” Rồi kéo cả hai chúng tôi chạy nhanh ra Quốc lộ.

Đó là đêm cuối cùng tôi ở nơi xứ đó, Thị- Trấn- Ven- Đường .Mùng một tết tôi về nhà theo chuyến xe đò sớm nhất và không bao giờ trở lại nơi này vì lớp tôi chủ nhiệm đã vượt biên gần hết trong đêm tôi đi tìm phiên chợ Âm Dương!

Luôn có những con ma theo tôi suốt những chặng đường. Trước khi sinh đứa con gái đầu lòng, trưa nào nằm ngủ tôi cũng nghe tiếng banh thẻ đập đều đều trên sàn gác. Tôi hỏi:”đứa nào chơi ồn vậy con!” Tiếng trẻ con nũng nịu :” con nè cô, con là Tiểu Phượng”. Tôi nhớ, tôi gặp cô bạn thời trung học trong một trại tạm giam ở Phú Yên, cô có bầu 7 tháng và sinh non trong trạm xá. Con bé chết, cô nói trong dòng nước mắt đớn đau uất ức:” Tao đặt tên bé là Trần thị Tạm Giam và gởi trong chùa Núi.Thỉnh thoảng mày về thăm nó giùm tao” Tôi để cô thấm những giọt nước mắt đau buồn trên vai áo mà chẳng biết nói gì… Sau đó cô vượt biên, mất tích để tôi cứ đau đáu chờ hoài tin tức từ một chiếc ghe thất lạc!
Tôi về chùa Núi, xin sư cô đổi tên cho bé. Tôi khấn thầm: ” Bé con, cô yêu thương con vô cùng, cô gọi con là Tiểu Phượng… đóa hoa phượng bé bỏng xinh đẹp cuối mùa hè mà mẹ và cô ép vào trang lưu bút rồi tức tưởi từ bỏ tuổi thơ ngây…”
Tôi sinh con gái đầu lòng, nó dịu dàng xinh đẹp như cô bé Tiểu Phượng của giấc mơ tôi… nó cũng có một khóe lúm đồng tiền bên má trái như cô bạn học ngày xưa. Phải chăng tôi đã dần dần tìm lại được những gì đã mất?

Nhiều năm sau ở Mỹ,tôi mua một căn nhà nhỏ ở miền Nam California, người phụ nữ đang thuê căn nhà tôi định mua đã nói:
– ” Không ai dám ở đây đâu chị vì nhà bên cạnh có một con ma!”
– ” Vậy sao cô dám ở?”
– ” Vì em là một cô đồng, mấy con ma sợ em thì có! và em được cho ở không tiền”
– ” Tôi không sợ con ma nhà bên cạnh, giá rẻ thì tôi mua thôi!”
Nhà bên cạnh bỏ hoang mấy năm nay vì người chủ ở một mình đã chết. Tôi nhắm mắt mua đại để có một chỗ yên thân và không dám nói với ai về con ma nhà bên cạnh. Sửa sang nhà mình xong tôi qua quét dọn sân vườn bên ấy, trồng mấy luống hoa Mười Giờ, Ngũ Sắc rực rỡ đủ màu… Tôi nói thầm:”Mặc dù ông là người Mỹ nhưng đã chết rồi thì ông sẽ hiểu ngôn ngữ chung của tâm linh phải không? Ông cũng biết tôi muốn gì chứ! Với tôi thì không sao, ông có thể về đứng bên hiên nhà ông ngắm hoa ngắm lá! hút thuốc cũng được luôn(không hiểu sao tôi hình dung con- ma- nhà- bên- cạnh là một người đàn ông nhân hậu, tóc bạc trắng, bụng phệ và lúc nào cũng ngậm chiếc tẩu thuốc nghi ngút khói …) Nhưng còn mấy đứa nhỏ, thấy ông chắc tụi nó tản hồn tản vía… Vậy thì ông đừng xuất hiện trước mắt tụi nó nhen!” Tôi có cảm giác ai đó đang cười thanh thản. Thỉnh thoảng giữa khuya, tôi lén mở cửa sổ nhìn qua, không thấy gì hết, ngọn đèn bên sân này hiu hắt chiếu qua sân hàng xóm, lạnh lẽo, buồn buồn…

Theo truyền thống gia đình, cứ rằm và mùng một tôi hay ra thắp nhang khấn vái giữa trời cầu bình an cho người thân và thỉnh thoảng cũng xin xỏ vài điều mình muốn… Tôi hay bị la vì cái tội thích ăn gì cúng nấy chứ không áp dụng theo sách vở như Cầu Dừa Đủ Xài hay Mơ Đủ Điều Chôm Cóc Đủ… Thôi kệ đi, những con ma dễ thương vẫn theo tôi suốt cuộc, những lúc hoạn nạn ốm đau, trong giấc ngủ vẫn có những cái nheo mắt rất ma, những nụ cười rất mị đủ sức vực tôi dậy để đi cho hết cuộc đời!
Và sắp đến giờ Giao thừa rồi, tôi – bổn cũ soạn lại- bày biện nhang đèn hoa trái giữa sân , khấn vái mấy con ma quen biết, chẳng cần xin giàu sang phú quý gì cho vướng bận, mà chỉ xin rằng cho tôi muốn gì được nấy, chừng đó là quá đủ với tôi rồi!

Tôn Nữ Thu Dung

ĐOẢN KHÚC

 

Có đôi lần gõ cửa
Thiên Đàng vẫn chối từ
Hỏi mấy nhành rêu mục
Chắc thiếu phần chân tu!

Đành phân thân trở lại
Trần Gian vẫn nói cười
Đừng hoài nghi ái ngại
Kệ,
đời nhiều cuộc vui!

Khoan nhắc về Địa Ngục
Lửa chập chờn hoang mang
Chắc gì không sưởi ấm
Cuộc hành trình lang thang…

Khóc cười đều không thực
Buồn vui khi hạ màn
Cố đóng tròn vai kịch
Cuối cùng là
loãng, tan…

Tôn Nữ Thu Dung