ÔI GIẤC MƠ NON CỦA ÔNG GIÀ

phamnguyen

Rất nhiều ngày anh không làm được bài thơ
Nên những bước chân cứ dẫm vào nỗi nhớ
Một nửa hồn nhiên nửa chập chùng lo sợ
Một bờ sông nghe cạn nước từ đầu
Ngày rất dài và đêm rất thẳm sâu
Sợi tóc mới vui nay biến thành giận dổi
Những bảng stop sign nơi cuối đường nông nổi
Những buồn vui theo mắt liếc môi cười

 

 

Con chim nào nhiều buổi sáng hót chơi

Con dế gáy vang trong hộc bàn góa bụa

Mùa hạ cháy trên những cành hoa lửa
Phượng của đời hay phượng của em thôi?
Vũng Tàu từng son trẻ thuở hai mươi
(Vừa ai đó gởi hình lên Facebook)?
Anh chóng mặt giữa tháng ngày dung tục
Giáo đường quen cùng những tiếng chuông quen
Chơt đắng lòng nghe hai chữ nhân duyên
Ai ngồi xuống phía bên này oan nghiệt?
Ai đứng lại giữa muôn trùng luyến tiếc?
Lời của trái tim sao không đủ ngôn từ?
Quán vắng em rồi nên quán rất ưu tư
Hàng cây thiếu một mùi hương thiếu phụ
Bụi bậm ngủ yên trên những bàn ghế cũ
Có một người quay quắt nhớ gì đâu…
Một chuyện tình dang dở đã từ lâu
Khi cuộc sống trôi theo những điều không thực
Anh thèm khát nụ hôn lần mới nhất
Một bàn tay che khuất bóng trăng cười
Em làm con sông nhỏ chẳng thèm trôi
Mặc anh đứng ngó một mình ra biển
Những con thuyền đi hoài… không thấy bến

Những cuộc đời chưa khóc đã rưng rưng
Có những ngày nắng khát gọi mưa xuân
Buồn lây lất một tình yêu rất vội
Ngày em đến rồi đi như gió thổi
Anh vụng về không biết dỗ dành đâu…
Trong tận đáy lòng và mãi đến nghìn sau
Một mối tình bay đi vào một chân trời xa lắc
Nhưng nghĩ về ai anh cũng nghĩ về em trước nhất
(Nghĩ về em anh thanh thản cả ngày)
Có điều gì trong buổi sáng hôm nay
Xe cộ miên man những nhịp cầu xa lộ
Tim chợt lạnh chợt nhủ lòng đừng nhớ
(Một mùi hương còn đọng chỗ em ngồi)
Xa em rồi làm … ông lão… mồ côi
Trên chăn gối tiếng đời đi rất vội
Vừa mới đó vẫn còn nghe nóng hổi
Vị ngọt ngào làm kiêu hảnh môi son…
Một đời già ôm mãi giấc mơ non
Dẫu từ chối bão giông … nhưng mỗi ngày mỗi đến…
Bông hoa nở giữa sân vườn trìu mến
Vừa mới hôm qua sao đã héo khô rồi…
Phạm Ngũ Yên

Tóc mai sợi vắn…

phamnguyen

1.

Lòng ta như một trang kinh
Ẩn trong lời Phật chữ tình rưng rưng
Lòng ta lá nhỏ trên rừng
Lao chao rớt xuống mấy từng chiêm bao
(thơ Hoàng Du Thụy)

Bài thơ đó do một người bạn văn từ Canada, gửi tặng.

Chị nói với tôi chị đang tìm nguồn vui trong thiền và lòng không còn vướng bận những nhánh đời nhân quả. Mỗi đêm về nhà, lái xe qua những hàng sơn táo, qua những vạt cỏ màu vàng như ủ bằng mật ong người đàn bà đó nghe mùa xuân trở mình và tiếng gió rít ngoài kiếng xe, lòng lãng quên hết mọi tranh chấp, muộn phiền…

Những buồn vui ngày trước từng làm tròn trịa một tình yêu cũng không còn? Như một cơn mưa bóng mây bay rớt trên góc tường hạnh ngộ, làm thiếu thốn phía bên này và khao khát phía bên kia.

Biết bao bóng thuyền muộn màng không về được bến vì giông bão giữa dòng, nhưng đàng sau những cơn bão lòng là trái tim lành lặn.

Trên điện thư trả lời, tôi cầu mong chị tìm thấy sự an tịnh thật tình và hy vọng thành phố Montreal có thêm một người đàn bà biết ủ đóa vô ưu trong lòng để giẫm lên những mù lòa dâu bể. Mọi giấc mơ đều cũ xa, đều bỡ ngỡ.

Nhưng thâm tâm tôi không tin nhiều về điều chị nói. Những câu thơ vẫn còn đó sự trăn trở rất đời. Vẫn còn bao la một nhánh sông muộn phiền lấp lánh. Hơi thở tình yêu hình như vẫn còn tươm mật trên môi run ngày nào…

Người đàn bà từ bỏ một đoạn đường và không muốn nhìn lại sau lưng, không có nghĩa là quá khứ đã đoạn lìa. Dù vẫn còn đó vạt mưa làm trắng màu thiền trên vai áo, trong khi tiếng đời vừa xao động lá sen khô.

Bài thơ bất chợt chị gởi tôi từ một đêm như vậy, trong khi tiếng gió quét mùa hạ đi qua ngôi nhà đường Heatherglen. Tôi nhớ vô cùng ngôi nhà cũ của gia đình tôi nằm dưới chân Núi Lớn Vũng Tàu. Biển thổi giạt nỗi nhớ mênh mang về hai đầu ngọn núi. Nhiều đêm tôi chong đèn ngồi học thi lúc bên ngoài trời mưa. Và những câu thơ của một mùa không ngủ được viết xuống bằng mực tím học trò. Những ngọn cỏ khát gọi mưa đêm nên nảy mầm thành lục bát.

Bao nhiêu năm rồi, tiếng mưa có khả năng làm thành cung phách bản đàn xưa và cơn mơ vội vàng như một âm thừa sót lại.

Khi người ta già, người ta sẽ nhìn lui lại bước chân mình. Những người đàn bà giống như sương mỏng, như sông xanh. Họ thà ủ hơi thở sửng sốt của mình trên vai người khác hơn là đậu xuống những trang giấy tình hồn nhiên. Những cuống lá mùa thu không biết nói lời hò hẹn, nên đêm Vũng Tàu có một người úp mặt vào đôi tay, thao thức.

Thành phố ven biển của tôi cũng giống như mọi thành phố miền Nam. Có hai mùa mưa nắng rõ rệt. Những cửa biển xưa mờ cạn nước. Những gã con trai cùng rong chơi với nhau suốt một mùa hè, trên bãi cát khô cạn mực thủy triều. Nên chúng tôi đều hiểu tánh tình của nhau tường tận. Hiểu luôn những thói quen của nhau. Như những con còng gió hiểu rõ hang động của mình.

Mười sáu, mười bảy tuổi chúng tôi không dám có người yêu. Mãi đến khi gần đi lính mới nói lên lời tỏ tình thì cổng trường đã ở sau lưng. Cái thời nông nổi nhưng nóng cháy môi hôn kia đã khép lại.

Những đứa con trai tình si và các cô gái e ấp đã đi riêng một đoạn đường, dưới những cây bàng già phai màu đỏ lá. Những nhịp thời gian như những nhịp cầu nối đôi bờ cách trở. Còn sự cách ngăn của hai người yêu nhau thì đến bao giờ?

Một vài đứa bạn dạn dĩ hơn dám nắm tay người yêu đi ngoài phố. Mặc cho những lời đàm tiếu có dịp lan xa như sóng trùng dương. Vũng Tàu quá nhỏ để che kín một dấu vết, hay một tiếng lòng hổn hển bên vai.

Mỗi ngày đi học tôi đi ngang qua con đường Lê Lợi có hàng me chụm đầu vào nhau. Tôi biết Hoàng Hoa từ thời đó. Lá me rắc trên vai áo ai làm rộn rã lòng tôi. Nhưng tôi biết nàng dửng dưng như nắng sớm.

Người con gái mang cái tên của Hoàng tộc và chứa đựng một màu hoa đã từng không biết có một đứa con trai ngưỡng mộ nhan sắc đi sau nàng.

Khi tôi bước xuống cuộc đời, tôi vẫn chưa biết rõ về nàng, ngoại trừ cái tên nghe gần gũi với một người bạn học của tôi là Hoàng Lực.

Hoàng Hoa là một cô gái có đôi mắt đẹp nhất mà tôi từng thấy trong trường Trung Học Vũng Tàu những năm sáu mươi. Một đôi mắt làm nguồn cảm hứng cho lời thơ Ðinh Hùng/ mắt em là bóng dừa hoang dại, âu yếm nhìn tôi không nói năng/(mộng dưới hoa) Nó cũng là nguồn cảm hứng cho những bài thơ của tôi sau này, khi khôn lớn.

Nhà nàng nằm một góc ngã tư đường Lê Lợi và đường Duy Tân. Một phía nhìn ra hàng me và phía kia nhìn ra biển. Có thời gian ngôi nhà khang trang đó dùng làm nhà bảo sanh Hữu Phước. Từ một góc phố chạy dài từ cơ sở sản xuất Mắm Ruốc của bà Giáo Thảo, đến nhà nàng, có một vài ngôi nhà khang trang nằm lùi sâu vô trong, được những khu vườn màu sắc che chắn bên ngoài, như bối cảnh trong tranh của Renoir, nên khi nàng quẹo khuất vào đó tôi có cảm tưởng nàng đã đi vào một thế giới khác, mông lung và mơ hồ. Một thế giới của nàng tiên trong các truyện cổ tích.

Tan trường về, tôi tìm cách đi sau nàng. Thời đó, học sinh học hai buổi một ngày. Buổi trưa về nhà ăn cơm, có thể ngủ một giấc để buổi chiều đi học tiếp. Tôi dùng khoảng thì giờ ít oi đó để làm thơ tình gởi đăng báo hoạc đọc truyện chưởng Kim Dung. Tôi thích nhân vật Ðoàn Dự trong Lục Mạch Thần Kiếm và thấy mình si tình Hoàng Hoa giống như Ðoàn Dự si tình Vương Ngọc Yến.

Ít khi Hoàng Hoa đội nón. Nhờ đó từ phía sau tôi nhìn thấy mái tóc trên vai nàng chuyển động như đôi cánh một loài chim đêm. Có những ngày tháng người ta sẽ quên luôn vì thời gian chồng chất trên vai, nhưng có những ngày tháng ngừng lại vĩnh viễn. Thời gian học đệ tam là thời gian đẹp nhất của tôi trước khi tôi vào lính. Tôi muốn được yêu thầm và được đi sau lưng nàng suốt đời, mặc cho những biến động của đời sống và bom đạn chiến tranh mỗi ngày vang vọng ngoài kia. Dưới bước chân êm đềm và quanh quẩn bên tà áo dài khép nép của Hoàng Hoa, tình yêu đã che lấp mọi dấu vết tan hoang. Che lấp mọi hướng đi về tương lai. Dù tương lai của những gã học trò sinh trong thời binh lửa vàng úa ngỡ ngàng

Mối tình một chiều như vậy tưởng chừng sẽ kéo dài để cho những trang nhựt ký có cơ hội tăng trang từng ngày. Cùng những bài thơ viết từ tấm lòng thơ dại sẽ có dịp hóa thân thành cánh bướm trang điểm cho đời. Nhưng tôi lầm. Một hôm nàng bỏ trường bỏ lớp không một lời từ giã. Chúng tôi- những thằng con trai khờ khạo trước tình yêu nhưng lại dạn dĩ với bất trắc bỗng thấy vắng đi một bóng mát êm đềm. Biển trở nên cuồng nộ chói chang từ ngày đó. Những trái bàng già rụng xuống tháng giêng dọc đường ra Bãi Trước, giống như những mơ ước chưa kịp đơm bông.

(Nhiều năm sau nầy, khi gặp lại Hoàng Hoa, lúc miền Nam sụp đổ, tôi thấy nàng vẫn còn đẹp dù có già hơn chút đỉnh. Chồng của nàng là đại úy Trần Bình Lâm, hình như không phải là dân Vũng Tàu? Vừa rời khỏi một nhà tù nào đó trở về).

Biết bao nhiêu bể dâu làm khô kiệt mọi nhựa sống trên những nhánh cây đời? Những thanh niên thiếu nữ ngày xưa bây giờ đã trở thành cha thành mẹ. Có người trở thành ông nội bà ngoại nếu lập gia đình sớm hơn. Có ai một lần đi lại con đường cũ ngày xưa để cảm giác được ngậm ngùi? Có ai còn buổi chiều ngồi trên bờ đê nhìn ra mặt nước xanh để ước mơ cuộc sống bên kia bờ đại dương như tôi đã từng mơ ước? Và nơi góc sân vận động ngày nào có còn những đôi chân vẽ vời của bạn tôi, của Võ Như Lăng, của Huỳnh Văn Chừng, của Huỳnh Quốc Hải, Trần Minh Trí, Phan Phi Hùng, Huỳnh Kim Sơn? Của Trung đen, Trung trắng?… Còn những ai đã nướng cháy tương lai mình như những khoang thuyền đang cháy nắng mặt trời?. Suốt mùa ra khơi không tìm ra một mẻ lưới vinh quang trĩu đầy tôm cá?

2.

Trên bãi biển đời người có nhiều dấu vết để lại. Có những dấu vết hằn sâu còn đọng lại một vài phiến lá kỷ niệm. Có những dấu vết hời hợt bị xóa lấp khi sóng biển tràn dâng. Tình yêu cũng vậy. Khi tôi rớt Tú Tài năm Ðệ Nhị, tôi xin vào lính. Mái tóc bồng bềnh của tôi được người ta cắt ngắn còn ba phân và mỗi ngày tôi bơi trong bộ quân trang rộng thùng thình mới lãnh từ kho Quân Nhu. Tôi làm một người lính mang tấm lòng yêu nước pha trộn với sự chua xót để đến mỗi khi chiều xuống, ngồi một mình trên chiếc giường gỗ ở khu tạm cư, lòng tôi cứ chùng xuống vì nhớ nhà.

Dưới những góc cây bã đậu buổi sáng đầu ngày, tôi khom lưng chà láng từng đụn cát, theo lệnh thượng cấp, như đang chà láng mọi ước mơ của mình. Người ta nói: “thao trường đổ mồ hôi – chiến trường bớt đổ máu”. Nhưng với tôi, mồ hôi chảy ra mỗi ngày không đủ sức vá lành rách rưới của trái tim. Mà chỉ có khả năng làm tràn thêm những giọt lệ.
Khóa học quân sự đầu tiên khi vào lính của tôi là Khóa 39 Hạ Sĩ Quan Trừ Bị- (Rớt Tú Tài anh đi Trung sĩ)- Khóa học thuộc quân trường Quang Trung, nằm trong khu vực Hóc Môn, Gò Vấp.

Từ Trung Tâm 3 Tuyển Mộ Nhập Ngũ chúng tôi chuyển về Quang Trung, trại Nguyễn Huệ. Buổi chiều đứng trong trại nhìn ra ngoài con lộ chính chạy về Sài Gòn, những chuyến xe đò, xe lam xuôi ngược kéo theo đàng sau nó những bụi bặm hối hả như hoa phấn cuộc đời. Lòng người tân binh cũng vàng vọt theo vạt nắng. Cách nhau một con đường, bên ngoài là tự do phiêu bồng và muôn ngàn niềm vui đô thị. Bên trong là đời sống gò bó theo khuôn khổ và tập quen với nắng lửa mưa dầu. Người lính lúc nào cũng căng lòng ra chịu đựng mọi thử thách và cố đè nén chuyện riêng tư. Và trong một lúc nào đó, nếu họ để tình cảm vượt lên trên lý trí (không tìm thấy chính nghĩa trong cuộc chiến tranh Quốc- Cộng mất còn) sẽ dễ bị nản lòng. Tôi trưởng thành nhờ những ngày tháng quân trường không ồn ào nhưng sôi động mỗi bài học sống. Tâm hồn tôi không chờ đợi để ướt át cơn mưa đầu mùa. Vì tự trái tim đã thẩm thấu nhớ nhung và chín muồi gian khổ. Những lá thư tôi nhận từ bên ngoài, từ những địa chỉ hoa, như một niềm phục sinh đủ để làm hành trang chờ ngày ra trường. Trên chiếc giường ngủ cá nhân hoặc trên ba lô khi dừng chân ngoài bãi tập, những lời thơ tôi khôn lớn chững chạc hơn những lời thơ ngày trước, những ngày biết Hoàng Hoa. Từ khóa học này tôi gặp Dzũng Chinh- Nguyễn Bá Chính.

3.

Anh là tác giả bản nhạc bất hủ “Những Ðồi Hoa Sim”. Dzũng Chinh là bút hiệu khi đặt nhạc. Nguyễn Bá Chính là tên thật của chàng tân binh khóa 39 HSQ Trừ Bị của Quang Trung vào thời điểm Tháng 9 năm 1965. Vài năm, sau khi ra trường, có lẽ mặc cảm với cấp bực trung sĩ, anh xin học khóa Sĩ quan đặc biệt, và khi tôi đổi về làm việc tại Trung Tâm Truyền Tin Ðà Lạt, nghe tin Dzũng Chinh vừa chết tại Qui Nhơn. Lời ca: … “mấy lúc xông pha ngoài trận tuyến không hẹn được ngày về, và đường về… thênh thang… màu hoa tím loang dài trong bóng tối…” đã giống như định mệnh của người nhạc sĩ tài hoa không may mắn với đời. Trên những đồi cát chập chùng nắng gió Qui Nhơn, màu hoa sim của Hữu Loan miền Bắc đã thấm vào tấm lòng đôn hậu của người nhạc sĩ Dzũng Chinh miền Nam. Để làm nên bài hát từng một thời mê hoặc người yêu nhạc Sàigòn.

Khi người ta yêu, cũng giống như khi người ta chết, có một thời họ ủ đau thương trên những dòng mực làm bằng máu lệ của mình.

Một lần, nơi Trung Tâm 3 Tuyển Mộ Nhập Ngũ, chúng tôi- những tân binh vừa mới rời mái ấm gia đình để tham dự vào một trò chơi mang ít nhiều nguy hiểm là chiến tranh- ngồi vây quanh nghe Dzũng Chinh đàn cho một người khác hát. Tôi không còn nhớ tên người hát, nhưng tiếng hát của anh ta thật ấm lòng. Anh hát liên tiếp hai bài. Bài đầu tiên là Những Ðồi Hoa Sim và bài sau là Phố Vắng Em Rồi (của Mạnh Phát). Giữa bóng tối nhá nhem buổi chiều vừa xuống, dưới tàn nhánh già nua của cây bả đậu, mùa thu đang thở hơi sương trên các rào kẽm, giọng ca của người ca sĩ bềnh bồng, cuốn hút.

Không biết người ca sĩ đó có phải là đệ tử của nàng Phù Dung hay không, nhưng lời ca quả tình mang hơi hám của khói và nhựa. Nó có khả năng lôi kéo người nghe bay lên ngang tầm với khổ đau và lạc thú cùng lúc… Nó cũng làm cho trái tim dù bầm giập cũng biết rung động và biết cười khóc với đời.

Mãi khi ra hải ngoại, tôi nghe giọng hát Tuấn Vũ, tôi biết quả có điều đó. Tất cả đều im bặt và nín thở nghe anh hát. Những lời ca tưởng chừng bật ra khỏi một thanh quản rướm máu hay cuộc đời vừa rướm máu? Tôi không thể lý giải được. Chỉ biết rằng từ đôi môi khô ráp vì khói thuốc và đôi mắt nhìn xuống hai kẻ ngón tay vàng ám, nơi điếu thuốc đang cháy dở dang, tình yêu đã nở hoa như cánh bướm màu hạnh phúc…

4.

Cuộc đời đang vàng phai theo những gió mùa, hôm nay ngồi ôn lại những bước tình đầu ái ngại của mấy chục năm về trước. Tình yêu và mộng ước cũng tan theo dòng đời. Lòng tôi không còn tươi mới để rượt đuổi theo bóng sắc mượt mà. Nhưng lửa tro than vẫn còn âm ỉ.

Ba mươi mấy năm sau, bất chợt gặp lại những người con gái cũ của trường xưa. Họ vẫn phơi phóng một tấm lòng của biển. Ðường phố Bolsa có đông vui nhưng lòng ai đã quạnh hiu một góc chợ chiều. Thời gian không dừng lại. Bên ly cà phê báo hiệu một đêm mất ngủ, vài mẫu chuyện gợi lại một khung trời hương mật và màu xanh của sóng đang lao xao trong mắt.

Một lần ngồi ở Starbuck’s (góc đường Brookhurst- Edinger) nhìn ra giao lộ đèn đỏ trùng điệp những đời xe mới toanh, nghe từ cuối một hành lang vọng lên bài hát. Quán cà phê Mỹ nhưng có nhiều người Việt Nam ngồi. Tiếng nhạc từ chiếc bàn kế cận không quen thuộc, nhưng dấy động một nỗi buồn:

Ngày xưa anh đón em
Nơi gác chuông chùa nọ
Anh bây giờ qua đó
Còn thấy chữ trong chuông
Em khoác áo nâu sồng
Anh một đời biền biệt
Tên em giờ tha thiết
Theo tiếng chuông chiều đưa…
(Phạm Thiên Thư/ Dấu Chân Chim
)

Người con gái có tên Hoàng Hoa một thời tôi theo đuổi tại Vũng Tàu bây giờ đã đi tu. Tôi không biết duyên cớ nào làm nàng từ bỏ cuộc đời dung tục này để nương thân vào cửa Phật? Câu chuyện nghe có vẻ đượm mùi cải lương mang dấu ấn của Lan và Ðiệp. Nhưng tôi biết nàng vẫn từng hạnh phúc sau khi không còn đến trường. Tôi biết người chồng đẹp trai của nàng là Ðại uý Trần Bình Lâm. Sau 30 tháng 4 năm 75, nàng bươn chải bán thuốc tây ngoài chợ trời để nuôi chồng ở tù và nuôi mấy đứa con còn nhỏ. Ðôi lần tôi gặp Hoàng Hoa dắt xe đạp từ chỗ gởi xe, gần chợ chiều Vũng Tàu. Bên kia đường là biệt thự cũ bây giờ dùng làm trụ sở Phường Châu Thành. Nàng không có vẻ gì nhìn thấy tôi. Hay nhìn thấy tôi mà làm như không biết. Chiếc áo bà ba thay cho chiếc áo dài ngày thơ dại. Và đôi mắt đẹp buồn não nùng.

Mỗi cuộc đời đều giống như một dòng sông. Có khi sông vặn mình chảy xiết qua những ghềnh thác cheo leo. Có khi sông âm thầm nép kín sau những khúc quành. Sông ủ đời sông theo những ngày tháng lạnh của mưa và trong veo của nắng. Nhưng sông không bao giờ quay đầu trở lại thượng nguồn, mà chảy luôn về biển.

Mối tình một chiều của tôi, với Hoàng Hoa, giống như dòng sông vậy.

Ðêm đêm, lời kinh của nàng có làm sầu muộn thêm những đóa hoa sứ trong vườn Bồ Ðề? Ðêm đêm, tiếng gõ mõ của nàng có làm kinh động những cánh bướm mòn mõi giang hồ?

Tôi nghe người bạn học chung lớp của nàng từ Việt Nam trở qua kể lại. Hoàng Hoa giam mình trong một chiếc am nằm trên đường ra Ô Quắn (Au de Vent). Mỗi tuần, Trần Bình Lâm chạy Honda đem thức ăn chay cho nàng. Nàng hạnh phúc trong câu kinh tiếng mõ. Chờ đợi ngày hóa thân.

Nhớ xưa em rất dịu dàng
Hồn vang tiếng guốc mơ màng Hoàng Hoa
Em từ cõi Huế đi ra
Hương Giang bỗng mặn phù sa Vũng Tàu
Bây giờ em rất thanh cao
Áo xanh nay đổi áo bào Quan Âm
Đêm qua một đóa u trầm
Rớt trên kinh Phật tưởng lầm môi ai?

Tôi làm bài thơ ngắn có mấy câu coi như tạ lỗi hàng me đường Lê Lợi. Từ nơi đây tôi thơ dại và cũng từ nơi đây tôi khôn lớn với đời. Một đôi mắt đẹp đã sâu hút từ đêm Vũng Tàu vàng ấm mùa thi.

5.

Nơi căn phòng nhỏ nhìn ra sân mưa bên ngoài chiều nay đang ngổn ngang cành khô mà sáng ngày mai xe đổ rác sẽ đến dọn, tôi vừa biết thêm một cảm giác vội vàng khi tháng năm lao đi vùn vụt. Đâu rồi tia nhìn của lửa làm cháy bỏng đời nhau và sợi tóc còn vương lại trên chăn nệm? Những tình yêu phờ phạc cuốn hút cơn đau tuyệt vời và sau đó lìa nhau vĩnh viễn.

Có những giấc mơ chết non và bất hạnh ghim xuống lòng như một vết mực lầm lỡ. Một vài con chim đậu trên hàng dây điện như những nốt nhạc màu đen trên quá khứ buồn-(ý của nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp)- Người đàn bà có con mắt màu nâu và vành môi cong vút màu tulip vừa rời khỏi đời tôi hôm qua để bay theo những phù hoa. Bay theo biển dâu và nắng gió chói chang bên ngoài. Nàng đến không ồn ào và đi cũng không tiếng động.

Không ai tắm hai lần ở một dòng sông. Cũng như không ai học biết đủ một bài học. Tình yêu cũng vậy. Khi tình yêu đi qua ranh giới của thù hận và đắng cay, tình yêu tự nó sẽ chết.

Nơi căn phòng cũ trong ngôi nhà đường Heatherglen, trên chiếc bàn gỗ bên ngoài Patio đang thánh thót mưa thu, tôi vừa biết thêm một bài thơ hay của một người bạn ở Tennessee. Lời thơ không cần bia bọt hay cà phê nhưng vẫn làm ấm áp, dù thơ anh như muối xát trong lòng:

cây hồn anh, thôi lá rách cành hư
năm bảy trái tình chưa xanh đã rụng
qua thời đất chai tới mùa nước úng
tiếng chim hoài im lặng một đời cây
năm ngón thon dài hiền dịu bàn tay
ngón út cho anh đợi ngày vuốt mắt
những ngón ngoan kia lỡ cho người khác
(ôi tay em, chỉ một ngón đang buồn…)
(Hoàng Lộc)

Có chuyến xe lửa nào vừa từ một nơi chốn lạ về ngang qua công viên sau nhà. Những toa tàu kín bưng nhốt bao nhiêu tâm hồn thao thức một thềm ga?

Tôi luôn yêu mến và kính trọng những cuộc tình không tìm ra trạm xuống. Đó là những cuộc tình đẹp tay ba dù nó luôn ủ bằng nước mắt và tuyệt vọng. Từ những đôi tình nhân dù biết rằng phải lạc mất nhau nhưng không biết phải hóa giải bằng cách nào, họ vẫn cầm tay nhau đi với sự can đảm pha lẫn buồn rầu, trong khi sương mù mịt mùng phía trước…

Phạm Ngũ Yên

Bài Thơ Mười Năm

.phamnguyen

Từ ngực thanh xuân
Ngày đang hối hả
Anh giấu đời mình
Vào em rất lạ

Mai này nắng lóa
Nhiệm mầu trên vai
Nghe chật bàn tay
Nỗi buồn trú ẩn

Em là cơn giận
Tạt vào hồn anh
Anh là mỏng manh
Giữa ngày đổ vỡ

Tình yêu vạt gió
Nhốt hoài vẫn bay
Bàn chân đường dài
Có người đứng lại

Ngày chẳng còn ai
Con đường nỗi nhớ
Chiếc bàn trăn trở
Vết trầy tháng năm

Em vẫn mười năm
Nụ cười lãng mạn
Từ một ngày câm
Anh về khép nép

Em như sông hẹp
Trôi qua biển buồn
Anh như đời chim
Ngủ vùi bên cỏ

Mười năm nhìn rõ
Đoạn đường mênh mông
Tình có như không
Bóng mình dọi xuống

Em ơi hãy uống
Những ngày hân hoan
Hãy để thời gian
Lau giùm ngấn lệ

Mình về sông trẻ
Tắm đời cho nhau
Đàng sau nỗi đau
Môi cười hạnh phúc

Phạm Ngũ Yên

BIỂN GỌI CHIỀU NAY

phamnguyen
1.
Mẹ tôi thường nói với tôi rằng:
– Ba con không biết chữ.
– Vậy sao? Tôi nghe mà lòng nôn nao.
– Khi về sống với mẹ, mẹ dạy Ba đánh vần. Nhưng có một lần nhìn không ra mặt chữ, Ba nỗi giận quăng vở và không thèm học.
Như vậy, Ba tôi vào đời không từng biết qua sách vở. Không từng đi qua những trường lớp và mỗi ngày ông dững dưng đi dưới đường phố thênh thang tiếng gió và nghe tiếng sóng va vào bờ. Khi ông gặp mẹ tôi, ông là một là một thợ câu tài tử bên sông rạch. Tối ngày tìm kiếm cá tôm bằng lưới vó. Không có thuyền hay ghe để ôm sông nước vào lòng.
Tôi lớn lên theo thời gian. Vũng Tàu ngày đó chưa đổi thay nhiều như bây giờ.
Trên một bờ đá chạy dài theo đường ra Dinh Ông Thượng, Ba ngồi nhìn ra biển. Bên cạnh ông là đứa trẻ vừa lên 5 là tôi. Chiếc xe đạp ông dựng gần đó. Tôi không chịu ngồi yên và muốn Ba đưa tôi xuống dưới bãi cát đang mùa nước ròng. Ông cõng tôi trên lưng và nhìn ngoái lại chiếc xe trước khi bước men theo những tam cấp để xuống dưới. Tôi vòng tay ôm cổ ông và nghe hơi thở ông mát rượi bên má.
Tôi được sinh ra và lớn lên trên vùng đất này và tôi cám ơn số phận đã cho tôi một đời sống tròn trịa những mơ ước. Như con thuyền mong đợi thủy triều lên xuống mỗi ngày, tôi khao khát được ôm Ba tôi thật chặt từng buổi sáng đứng nhìn ra. Những cơn sóng cồn cào đang đập trong tim ba và bao nhiêu sự cô đơn trong lòng người đàn ông giản đơn không biết bâng khuâng vì đời?
Tuổi thơ tôi dấu kín những giấc mơ của ông và những chiêm bao không có hồi chung cuộc…
Mười ba năm tôi mài đũng quần ở nhà trường, tôi nhớ về Ba rất ít. Hầu hết thời gian khôn lớn tôi nhớ về mẹ tôi. Bà chia tay với Ba nơi góc đường gian truân, khi ông vừa 33 tuổi. Ông chưa kịp thấy tôi trưởng thành. Chưa kịp thấy tôi làm một cánh tay nối dài những mơ ước. Không phải tôi bất công khi phân chia tình cảm để thương nhớ không đồng đều. Mà bởi vì tôi mồ côi quá sớm. Một lần về thăm lại biển xưa, mùa hạ sóng sượt những bóng nắng trên hàng lá bàng. Phía đường kia là phượng.
Góc phố nơi tôi lớn lên, nằm dọc theo chân núi Lớn. Con đường Lê Lợi có hai hàng me chạy dài. Gió mát rượi từ biển vòng về. Thổi quanh co trên vai, trên ngực ốm yếu thư sinh- dù tôi đang là lính. Buổi sáng đẹp vô cùng nhưng không có ai đi bên cạnh. Mẹ tôi già nua và mỗi tuần có nhiều ngày vào làm công quả trong chùa. Bà quên dần những tiện nghi, những mưa nắng thất thường trên đời sống của mấy đứa con. Còn Ba thì nằm yên đâu đó, lâu lắm rồi.
Lúc tôi đang ở ngoài Vùng 2, tôi nghe mẹ tôi báo tin khu nghĩa trang sẽ được san bằng để đô thị hóa. Mộ nào có thân nhân sẽ di dời đến một nơi khác. Bà quyết định bốc mộ ba tôi và đem hài cốt đã mục rã để vào trong chùa. Hi vọng Ba sẽ theo những khói hương và những tiếng kinh đêm trở về. Hồn ông sẽ đậu xuống trên những trang kinh, hay sẽ bay quẩn quanh giữa tường khuya, như một cánh bướm ngày mộng mị?
Tôi làm một người lính trở về thăm nhà, trong một buổi sáng đẹp như hôm nay và một mình không có ai bên cạnh. Nơi cuối hàng me, có một công viên nhỏ do người Pháp xây, có ngọn súng thần công bằng đồng quay họng ra phía đường. Ngày còn nhỏ, tôi theo mấy đứa bạn cùng xóm ra chơi gần đó, vừa lượm me, vừa tìm cách trèo lên lưng khẩu súng. Đôi khi lòng cũng sợ hãi vì những lời hăm he của người lớn, nhưng tò mò cuối cùng đã thắng. Chúng tôi trèo lên, tụt xuống và tự hào vì đã tiếp cận và chạm đến những quá khứ. Ngọn súng mang dáng dấp lẫm liệt của tiền nhân, mà hồn thiêng giống như tiếng gió thổi về làm mát từng dâu bể.
Buổi sáng vắng vẻ xe cộ. Thỉnh thoảng vài chiếc xe lam chạy từ hướng Bến Đình chạy ra chợ. Sau xe, những cụm khói tức tửi muốn níu kéo một thuở chưa có điêu linh. Chỉ có thanh bình. Tôi đi trên bờ lề lát gạch xanh. Đôi giầy lính không muốn làm đau lòng lớp nhựa đường phẳng sạch. Lòng chợt muốn được đi chân không chạy ào trên phố, như ngày xưa. Không có ai cùng đi và cùng dẫm lên một mùa hè…
2.
Tôi định không nhớ Vũng Tàu buồn rũ của tôi, vì sau một đổi đời, mọi thứ đều trở thành cổ tích. Sẽ rất khó lòng, khi một người đàn ông muốn nhớ về cái thời son trẻ, từng chân không chạy dẫm lên một mùa hè. Không phải sự tiếc nuối làm người ta đánh rớt nụ cười nhưng nói sao cho hết sự bình yên và những biến động của đời đang làm đau cả mộng.
Những đứa con đi vào đời dù mênh mông nhưng thiếu cha, chân cảm thấy vấp trên từng nỗi buồn ngang dọc. Đêm thị thành hiếm hoi những vầng trăng. Biển bây giờ cũng hiếm hoi những trụ đèn liêu xiêu cũ mòn. Những hàng dương già cỗi nhìn xuống một góc đường khuya. Có tình yêu và những lời ru về biển.
Trước khi tôi vào lớp năm (tức lớp một bây giờ), Ba tôi không có dịp mua cho tôi những quyển tập trong mùa tựu trường. Một điều mà ông ước ao hoài mà không được. Ông chỉ có dịp đưa tôi ra biển và vài lần để tôi ngủ quên trên vai ông. Trước đó, tôi nằm ngước mặt nhìn lên trời, những vì sao giống như những đóm nhang khuya trong trí óc tôi ngày đó. Tôi hỏi ông về ngọn đèn pha trên Núi Nhỏ:
– Có chiếc xe nào chạy rọi đèn trên đó vậy ba?
Ánh đèn xoay vòng quanh núi, quét dọi một vùng biển, nhìn giống như một chiếc xe chạy hoài trên kia. Ba trả lời, dựa theo suy nghĩ của tôi:
– Ờ… chiếc xe của ông Thần Đèn. Ổng chạy để soi đường cho những người lạc đường.
Tôi đem kiến thức nhỏ nhoi đó theo vào giấc ngủ. Trên bờ đá rịn ướt sương đêm. Những vì sao cũng rưng rưng nhìn xuống con đường thao thức núi.
Đêm đó cha con tôi ngủ một mình không có mẹ ở nhà. Bà đang nằm nhà thương chuẫn bị sanh em gái tôi. Mấy bà chị dù không khôn hơn ai, cũng quấn quít với bà trong đó.
Sau này, tôi lớn khôn. Tôi không nghĩ ba tôi giải thích sai nghĩa về câu hỏi của tôi. Mà thán phục ông thêm về sự tưởng tượng phong phú của ông. Những ánh sáng của ông thần đèn đi qua những cửa biển xưa, giờ đã mai một không còn. Hay nếu có còn, cũng rất ít, trên quê hương tôi, sau 1975. Nên những con tàu không còn thấy hướng để ra khơi. Những chàng trai, những cô gái đi vào đời cũng va vấp lạc đường trên từng cây số.
Những giấc mơ cũng đỗ ập xuống bên này năm tháng. Những tình yêu cũng vậy.
Tôi không còn hồn nhiên sau những giây phút yếu lòng.
3.
Tôi giải ngũ về mang trong lòng nỗi đau và thương tật bên ngoài. Tháng tư đem đến sự hấp hối và cuối cùng phủ khăn tang trên cả nước. Tôi ngơ ngác không biết tương lai mình như thế nào, trước những lời đường mật của phe thắng trận. Lòng đau một nỗi đau chung với những người cha trẻ. Giống như những con thuyền muộn màng không về được tới bến, những người cha hụt hơi bên những chặng đường cơm áo. Lời ca đau lòng còn vọng mãi một bến sông. Những người vợ, những đứa con mãi đợi chồng, đợi cha, từ đàng sau những cơn bão.
Lúc đó là thời đại mờ nhạt của những người cha. Họ không còn lấp lánh như sao mai và không còn là hải đăng để soi rọi những lòng thuyền. Trên những chiều xao xuyến, họ là những vạt nắng cuối ngày. Bước chân ngập ngừng không muốn chạm đến hoàng hôn.
Tôi lập gia đình trể và vợ tôi trở thành vai chánh trong vỡ kịch đời. Như bao nhiêu người vợ trong thời đại Hồ Chí Minh, nàng lăn xã tìm miếng ăn cái mặc từ phố chợ. Nàng đại diện cho câu thơ của Tế Xương: “Bao năm buôn bán ở ven sông…” Và làm thân cò trong ca dao ướt át: “Con cò lặn lội bờ sông. Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non…”
Biết bao nhiêu người cha trở thành người nội trợ bất đắc dĩ và bất phùng thời. Từng tháng năm trầy trụa trên vai những người đàn ông. Những mùa thu phai cứ đỏ màu day dứt.
4.
Khi tôi biết về cuộc đời, biết về Ba tôi thì tất cả đều đã muộn. Tháng sáu có mưa về trên mái tôn của căn nhà dười chân Núi Lớn. Khi Ba tôi mất, mẹ tôi một mình cáng đáng mọi chuyện. Chúng tôi còn nhỏ chưa đủ khôn lớn để có thể phụ giúp cho bà một tay.
Tấm hình duy nhứt mà chúng tôi có được về ông là tấm hình ông đứng dưới một ngôi chùa gần Bến Đình. (Một phần của chùa sau này trở thành Thích Ca Phật Đài). Vài cây bông sứ buông cành sau lưng ông và những vạt nắng loang lổ trên vai áo. Ông mặc quần áo nghiêm chỉnh và diện một đôi giầy tây. Tôi còn nhìn thấy rõ nếp gấp ở hai ống quần ka ki màu trắng. Bức hình đã úa vàng. Tôi cố hình dung những nét quen thuộc từ ông và so sánh coi tôi giống ông nhiều đến mức độ nào.
Ba tôi đã về cõi nào đó trong chốn xa im lặng. Chiếc xe đạp tôi không nhớ nó không còn trong gia đình từ bao giờ. Tôi đi đến trường một mình, ngày hai buổi cùng cặp sách trong tay. Ngang qua những bờ đường nghe đất đai chuyển mình, trăn trở. Những cụm gai lấp lóa hồn hoa dại. Mà nỗi buồn chạy đuổi theo nhau, về đâu?
Tôi chưa kinh nghiệm được sự mất mát nó lớn lao dường nào. Cái khoảng trống dù biết là sâu thẩm, nhưng rất mơ hồ. Mãi rồi cũng quen. Những gì thoáng qua, mấy ai còn giữ lại.
Qua năm năm Tiểu học, tôi vào Trung Học.
Hàng me bên đường Lê Lợi già nua theo thời gian. Màu nhựa đường vẫn trãi lòng theo tháng năm và lớn khôn theo đời người. Mùi muối từ biển bay về chạm ngang qua khứu giác. Những vị mặn bồng bế tôi trở về cùng ký ức. Chật đầy một ngã tư.
Ngôi nhà mà tôi ở đã đổi chủ. Với số tiền trợ cấp của chính phủ Pháp đền bù sau cái chết của Ba tôi, mẹ tôi bán căn nhà hai phòng và thêm tiền mua một căn nhà có 3 phòng gần đó. Căn cũ bà bán cho một hãng làm gạch bông. Mỗi ngày đi học tôi đều đi ngang căn nhà kỷ niệm. Những người thợ làm gạch thu xếp những vữa xi măng non trộn với vôi màu, bỏ vào một cái hồ. Một máy ép gạch chạy bằng điện chiếm một góc sân. Những đống gạch ngay hàng thẳng lối. Mỗi lần đi qua, tôi cảm nhận được hơi thở của mùa màng rung trên tuổi thơ. Có tiếng chim hót đuổi theo những lời gì tôi không hiểu.
Mùa hè, mưa kéo theo những dòng nước từ núi, chảy tràn xuống đường. Qua những mảnh vườn được chị em tôi tạo dựng từ một mùa xuân. Nơi mà những trái đậu rồng, những dây mồng tơi mọc lên hớn hở. Cũng có vài cây đu đủ, cây chùm ruột, cây ổi vừa ra trái non. Tôi có những đêm thức khuya học bài, nhìn ra khu vườn đó. Khung cửa không khép nên gió thổi vào lồng lộng. Trụ điện mọc lên nơi ngã ba soi ánh sáng hiu hắt xuống một vạt cỏ, phân chia hai hướng đường. Biển ngoài xa chưa gởi tới lời thầm thì của sóng, trong khi đêm dè dặt đem nỗi buồn đến bất ngờ.
Những lúc yếu lòng nhất của con người chính là thời gian giữa đêm. Tôi không còn lòng dạ để ôn bài. Không lâu nửa tôi sẽ bắt đầu cho kỳ thi Trung Học Đệ Nhất Cấp. Tôi không chắc tôi có thể vượt qua. Có những băn khoăn làm giảm sự học hành của tôi. Mỗi băn khoăn gói gém một lời tâm sự. Dù không tròn trịa, nhưng những điều đó có khả năng trì kéo tâm hồn tôi ngã xuống những đau khổ.
Bao nhiêu đứa con vào đời không cần có cha bên cạnh? Tôi không biết. Nhưng với tôi, người cha là chỗ dựa vững chắc cho mọi đứa trẻ. Nhiều năm rồi, tôi đi xuống đời một mình, không có Mẹ mà cũng không có Ba. Mẹ tôi mất sau này, khi tôi đã ra hải ngoại. Nhưng lúc còn trong nước, tôi cũng không có cơ hội đi với Bà. Những bước chân qua cầu, qua những dâu bể không từng có dấu chân của hai đấng sinh thành. Những mảnh trời khuya lướt thướt sao đêm, có hai vì sao nào là đôi mắt của Ba tôi nhìn xuống?
Một ngày có gió mùa làm rụng những lá bàng. Từng chiếc lá to nâu đỏ bay lạc vào căm xe. Tôi thấy lạ lùng vì Ba vui hôm đó. Ông điều khiển tay lái một cách điệu nghệ, có lúc ông buông rời một tay để ôm vòng ngang lưng tôi. Những lúc đó tôi sợ xe sẽ ngã. Nhưng không có gì xãy ra. Ông nói:
– Con muốn đi uống cà phê với ba không?
Không đợi tôi trả lời, ông quành xe ra chợ. Dừng xe lại ở một quán cà phê do một người Tàu làm chủ, đỡ tôi xuống. Tôi háo hức nhìn người ta ăn uống. Những chiếc bánh giò cháo quảy, những chiếc bánh in, bánh cam, bánh bò bía ngày đó, đối với tôi là những món ăn thịnh soạn. Mùi cà phê vang lừng một góc thềm. Vừa kêu cà phê cho ông, vừa kêu cho tôi một cái bánh in đậu xanh. Và thêm một bình trà. (chiếc bình làm bằng nhôm). Tôi đói ăn nên muốn được ông chia sẻ thêm một cái giò cháo quảy của ông. Ông cười và nói:
– Con ăn hết rồi ba kêu thêm. Thằng này con mắt lớn hơn cái bụng…
Đôi lúc tôi nghe ông nói chuyện với ai đó nơi bàn bên cạnh. Những câu chuyện của người lớn tôi không nhớ hết và không biết tại sao mà người ta vớt ra ở đâu những câu chuyện dài dòng đó để nói với nhau.
Đầu tiên, người đàn ông hỏi:
– Thằng nhỏ mấy tuổi đó?
– Năm tuổi. Ba tôi trả lời
– Tuổi gì?
– Tuổi con gà.
Người khách nghiêng đầu nhìn tôi, rõ ràng là đang đánh giá một con gà chưa mọc đủ lông cánh.
– Nó đi học chưa?
– Sắp. Tựu trường này. Ba tôi trả lời sau một ngụm cà phê.
Tôi nhìn trân trối vào ly cà phê của ông. Màu đen như màu trời đêm mà tôi và Ba ra ngồi ngoài biển.
Tôi mãi miết thưởng thức những vị ngọt, những mùi thơm từ món ăn, không còn để ý hai người nói với nhau thêm điều gì. Và trong bụng rất sợ phải trả lời một câu hỏi của ai đó.
Sau này, tôi mới biết hôm đó Ba vui vì nhà có thêm em bé. Ngày mẹ tôi vừa ra khỏi nhà bảo sanh, những cây bàng già im nín gió.
5.
Có một thời tôi thích viết về hoa phượng đỏ. Không phải chỉ vì hoa đẹp và màu hoa gợi lại thời xưa cũ. Không phải vì từ một màu hoa như vậy, tôi từng biết tương tư. Mà từ đó, tôi cũng gậm nhấm sầu muộn và thấm thía một trò chơi dang dở. Nỗi buồn trầy trụa tháng năm.
Cuối năm, tôi thi đậu Trung Học Đệ Nhứt Cấp. Tôi biết nói sao cho cùng niềm vui vì tôi nghĩ mình may mắn. Khả năng học của tôi chỉ trung bình và mỗi cuối năm vừa đủ điểm để lên lớp. Ngày dò tên mình trong bảng danh sách niêm yết ở trường, không có Ba để chia vui. Những đứa bạn khác con nhà giàu, sau kết quả là những món quà làm ngợp một tuổi thơ.
Buổi sáng thức dậy, tôi đạp xe ra biển. Nghe bốn bề mênh mông nhưng thân thiết vô cùng. Giống như một người vừa biết yêu tôi nghe cái nắng Vũng Tàu làm chói chang trong lòng. Tôi ngỡ tôi đang trưởng thành và nôn nóng vào đời, dẫu biết những cơn gió buồn rồi sẽ thổi qua những vai đời non yễu.
Tháng sáu, tháng bảy, sân trường không còn ai. Còn chăng người gác dan già mỗi buổi chiều gom lá rụng vun đầy một góc sân, để cuối tuần đem đốt. Mùa hè, gió cũng trốn biệt. Thành phố xanh mà biển cũng xanh.
Trước khi chiều xuống, tôi quay xe trở về. Vài người bạn học cùng trường đang đá banh dưới bãi cát. Tiếng va chạm vào nhau, tiếng bóng tưng lên xuống và những tiếng thở mệt nhọc. Những khách vảng lai đến từ Sài gòn cũng thôi không còn tắm biển. Nhường lại biển khơi cho những cánh buồm. Vài đôi tình nhân nắm tay đi dọc thềm đá vừa nhả những ánh nắng nhấp nhô. Họ nghe khúc tình ca dâng trào từ những cơn sóng.
Số phận không còn mỉm cười với tôi, trong kỳ thi Tú Tài. Tôi rớt hai lần trong hai mùa thi liên tiếp. Buổi sáng làm bài thi, tôi nộp bài bằng những trang giấy trắng, đi qua những thầy cô giám khảo mặt khó khăn mà không muốn chào. Hai tuần sau, không cần đọc danh sách vẫn biết không có tên mình trong đó. Đó là cuối mùa hè năm 1965. Mẹ tôi không còn sức khỏe để bương chải nhiều như ngày xưa. Mấy chị em tôi, mỗi người tự lo sống. Tôi biết có một nghề chờ đợi tôi mà không cần kinh nghiệm. Nghề cầm súng. Người ta sẽ dạy tôi làm cách nào để biết ước tính khoảng cách từ lổ châu mai đến đỉnh đầu ruồi. Và thao trường sẽ dạy tôi biết đổ mồ hôi để sau này ra chiến trường bớt đổ máu.
Chiều nay tình cờ gặp phượng. Màu hoa thắm một góc đường ra biển. Những tà áo không còn vụt qua nơi sân trường. Người gác dan già của trường không còn góp lá khô để nghe tiếng đời đi vội vã. Có gả trai tưởng mình khôn lớn, không ngờ bé bỏng rưng rưng. Mỗi bước chân đi về phía trước, dẫm hoài lên thất bại này đến thất bại khác.
Không biết từ thôi thúc nào, cuối cùng tôi thấy tôi ngồi trong quán cà phê có người Tàu làm chủ. Quán có tên là Liên Tinh. Ly cà phê bồi hồi như chưa từng thấm qua cuộc đời đắng ngọt. Những người khách gồm đủ thành phần. Đa số là những dân lao động. Vài người không có chỗ, ngồi ngay trên xe xích lô. Chợ chiều vừa mãn. Bạn hàng chưa kịp thu dọn những tán dù che nắng buổi trưa. Bụi bậm rã rời như phấn hoa đậu xuống. Dưới ngọn đèn đường vừa thấp lên, ngày cũng vừa vỡ tan chấp chới. Mười mấy năm trước ai đó đã soi mói nhìn tôi, như nhìn một con gà chưa nhiều lông cánh. Tôi chỉ là một con gà trong hàng triệu con gà trong cõi sinh linh. Không đủ mỏ mồng để gáy lên niềm tự hào vì cuộc đời sa bại. Chỉ biết đào xới mỗi ngày để kiếm miếng ăn.
Tôi ngồi đếm nỗi buồn chưa từng biết gọi tên. Mùa hạ sẽ không còn trên thành phố bình yên. “Mỗi mùa vắng đi một người…” Lời của bài hát lẫn quất như một định mệnh. Đứa con trai bỏ trường bỏ lớp không chờ đợi trưởng thành. Những đôi chân mõi vì sỏi đá đường dài. Những mái tóc tơi bời vì gió, bởi không kịp một bờ lưng nương tựa của người cha. Có chỗ nào ngồi lại. Chiều nay?…

Phạm Ngũ Yên

TẠ ƠN MỘT TÌNH YÊU

phamnguyen

Bao nhiêu năm rồi mới thấy lại tình yêu
Khi mái tóc không như ngày xưa ấy
Một khoảnh khắc đôi bàn tay chạm lại
Cũng đủ làm tro nguội cháy bùng lên

Em bên đường làm một tiếng mưa quen
Tạt anh ướt một góc đời mê muội
Con còng biển cứ mỗi ngày rượt đuổi
Một tiếng cười nghi hoặc phía sau lưng

Những con đường lãng mạn rất rưng rưng
Mặc năm tháng đi qua thời con gái
Cây bàng thả những trái bàng thơ dại
Chiều theo em chiều cũng tím không ngờ

Ở nơi nào em vẫn biển xanh xưa
Có nghe sóng vỗ hoài lên ký ức?
Một chút đêm đau một chút ngày hạnh phúc?
Một nơi nào em vẫn vậy, phòng không…?

Hãy ủ buồn cho chật một mênh mông
Cho sông chở phù sa làm mặn biển
Những cánh buồm ra đi không chịu về bến hẹn
Những lời chim rớt mãi một âm thừa

Vì cuộc đời không từng những cơn mưa
Không có cả những màu hoa đã nhạt
Nên gió mỏng đủ làm bay đi mất
Một lời yêu viết vội giữa trang đời

Đêm ngủ vùi nghe lạnh giọt mồ hôi
Trên khuôn ngực tái xanh ngày bão rớt
Gã đàn ông chưa trưởng thành bất chợt
Soi kính đời tìm sợi tóc… mười lăm!

Mùa thu này ghi xuống một xa xăm
Cái gì hôm qua mấy ai còn nhớ lại
Giữa những môi thơm là mắt thuyền ái ngại
Giữa ngây thơ là rỉ máu tim cười

Có những điều không thể nói bằng môi
Nên vô vọng một tình yêu trốn bắt
Một sáng mai nhìn lui một xế chiều ngây ngất
Mùa thu này tìm một lá xanh rơi…

Sân nhà ai cây sứ rụng hoa rồi
Ai ngóng đợi tiếng phone làm mất ngủ?
Sau niềm vui là nỗi buồn trú ngụ
Sau tiếng cười là tiếng khóc im im.

Tạ ơn đời và cũng tạ ơn em
Làm anh té trên những ngày cơm áo
Hạnh phúc mong manh giữa tháng ngày hư ảo
Còn hạnh phúc nào…
Đang chạm đến em không???

PHẠM NGŨ YÊN

EM, MƯA, ĐÀLẠT

phamnguyen

Chút hương thời gian
Cho đời thắp lửa
Với em là mưa,
Chiều xanh nhánh cỏ
Nghe lòng chiêm bao

Bây giờ trên áo
Thơm mùi hương ai
Em về nắng mỏng
Mưa bay tình ngoài
Buổi chiều gió động
Thổi lòng măng mai
Đóa hồng cuống quit

Đêm qua Hàm Nghi
Giáo đường trống trải
Chè Phan Đình Phùng
Ngọt ngào con gái

Ngói đỏ Couvent
Dấu giầy Cẩm Cúc
Hoa quỳ vàng rực
Giữa bàn tay em

Giữa bàn tay ta
Dòng mưa đầu mùa
Em về đường xưa
Trại Hầm dâu chín
Qua cầu câm nín
Tiếng cười mạc lan

Buổi sáng lang thang
Qua nhà Thủy tạ
Ly cà phê đá
Ngập ngừng trên môi
Vẫn đầy chưa uống

Giữa em và mưa
Ta còn Đà Lạt…

PHẠM NGŨ YÊN

THƠ NGÂY ĐàMẤT…

phamnguyen

Những năm tháng hoang dại thời thanh xuân, sẽ nằm yên đâu đó trong lớp bụi thời gian, nếu không có hình ảnh hay một âm thanh nào nhắc nhở ta quay trở lại, tìm kiếm trong quên lảng một vài kỹ niệm đẹp. Một tiếng chim kêu trên gờ mái xám xịt mùa thu hay giọng hát nỉ non của con dế mèn nơi đống đồ phế liệu. Một tấm hình cong queo quen thuộc nụ cười hay một bảng tên đường dẫn về nhà ai có hàng cây xanh xao mùi vị cuộc tình. Tất cả đều có khả năng đánh động trái tim và làm cho chúng ta trở nên vui hơn hoặc buồn rầu hơn. Hạnh phúc nhiều hơn hay đau khổ kém hơn- trong một khoảnh khắc nào đó.
Cái hình ảnh mà tôi muốn nói với các bạn khi một mình đi qua cánh đồng còn ướt đẫm sương đêm như những dòng lệ hoan lạc ngày nào. Và trên đầu tôi xanh ngắt một vầng trăng. Ðêm về sáng. Con đường nửa khuya mơ hồ sương khói và thiếu tiếng cười làm nên cõi mộng mị Bồ Tùng Linh. Thiếu câu thần chú và hồi còi đuổi theo dấu chân loài chồn tu luyện ngàn năm. Vầng trăng tròn hiện ra trước xe tôi trong một khoảng cách đều đặn và hình như có mặt từ lâu lắm. Khi trời đất còn hoang sơ những vùng thảo nguyên chưa có dấu chân
người. Ai đó đã nói rằng trăng trên xứ Mỹ tròn hơn trăng nơi quê nhà. Trăng cũng sáng hơn trăng của thời thơ ấu. Nhưng trăng đã lạnh lùng hơn. Ðiều đó rất đúng.
Ðâu mất rồi những mùa trăng êm đềm mà tuổi thơ thao thức chờ vầng trăng vượt lên hàng cau trước sân nhà. Ðứa bé trai mười tuổi chờ đợi trăng lên nhưng mõi mòn và ngủ quên trên ghế bố, đem theo giấc mơ có vầng trăng non cùng chú cuội già. Ðêm trung thu đầu đời xách đèn lồng của ông ngoại làm ban chiều đi vòng quanh xóm. Và chiếc đèn bị cháy trước khi về trở lại nhà. Ðứa bé bất lực nhìn ngọn lửa ăn dần những manh giấy bóng nhiều màu như tuổi thơ trong suốt những điều huyễn hoặc. Chưa biết sau lưng cuộc đời trăng mênh mông kia là những gai nhọn âu sầu. Ngọn lửa cháy rụi theo những dấu chân tức tửi cơ hàn, nơi mẹ tôi chạy vạy từng ngày để nuôi một bầy con chưa biết buồn, dù bão giông hôm qua còn hằn trên vai những roi đời sợ hãi.
Ðâu mất rồi những miếng bánh trung thu được chia dè sẽn còn thơm mùi hạt dưa hạt mè. Miếng bánh trôi mất trong cổ họng ham ăn của chúng tôi trước khi kịp nhai. Chúng tôi thèm thuồng tự nhủ thôi hãy chờ đợi mùa trăng năm sau. Vì biết rằng khả năng mẹ tôi chỉ có ngần ấy. Nhưng không phải vì vậy mà cuộc đời thiếu đi vị ngọt và tâm hồn mờ nhạt hình ảnh cây đa và chú cuội già. Trăng luôn là nỗi đam mê làm choáng ngợp tâm hồn tôi trong suốt nhiều năm. Cho đến khi tôi vào lính. Cho đến khi tôi chạy đuổi theo những cuộc tình vô vọng.
Tôi lái xe đi qua ngôi trường con tôi học năm rồi. Nó vừa từ giả nơi đó để đến học một trường khác. Buổi sáng mai lòng no đầy tiếng gió.
Nơi sân trường vắng bóng bầy trẻ thơ và những người cha không còn có dịp đưa chúng đến trường. Không có dịp nghe chúng nũng nịu. Những lời nói thơ ngây của chúng làm xót xa những người cha đã có một thời ngã ngựa. Nơi ghế dựa êm ái và thắt lưng an toàn, có lẽ chúng đang mơ một giấc mơ đầy những kẹo ngọt, lúc xe chạy trong buổi sớm mai còn ướt đẫm sương mù. Nhưng có còn giấc mơ nào cho những người đàn ông già trước tuổi của mình? Những người đàn ông cách đây mấy chục năm dâng hiến thanh xuân mình cho một lý tưởng rực rỡ?
Hình như không có ai không ngậm ngùi khi hồi tưởng lại quá khứ thời thanh xuân, nơi tiếng ve sầu rền rĩ dọc theo những hàng phượng đỏ. Khi cổng trường vừa khép lại và mới vừa hôm qua ai đó đã để lòng thổn thức trên từng trang giấy trắng học trò. Lời chia tay nắn nót trong quyển lưu bút như một hành trang mang theo xuống tam cấp cuộc đời. Những gả học trò tóc tai bồng bềnh lãng mạn mới vừa biết tương tư nơi sân trường. Biết đâu ngày mai sẽ không biền biệt nơi một vùng biên giới nào đó. Và nói cho cùng mọi giá trị và chân lý cuộc đời không quan trọng hơn một ly rượu ngày chia ly. Hay một hơi thuốc se môi chiều mất ngủ. Họ quay lưng lại những lấp lánh hào quang đời thường và đi về một nghiệt ngã phía trước.
Mùa này ở Austin ngày thật dài và đêm thật ngắn. Tám giờ tối còn ánh sáng mặt trời trong khi chiều đang chết trên đường phố. Trên những cành phượng vĩ màu hồng. Chúng đang có mặt và phân bua với cuộc đời cháy rát những dung tục. Không có màu hoa mang nỗi rưng rưng học trò từ trong này cửa lớp nhìn ra. Cùng những giông bão ngày mới lớn:
“Có hoa có lá và người khóc
Em sợ ngày nao phải lấy chồng…”
Thế hệ con tôi bây giờ không còn những hình ảnh đó. Cho nên chúng không có một kỹ niệm mật thiết về trường lớp. Về những năm tháng đầu đời hồn nhiên bên bảng đen phấn trắng. Thế hệ con tôi chắc không còn cảm xúc khi nghe lại tiếng hát Thanh Tuyền qua Nỗi Buồn Hoa Phượng. Chúng không hình dung ra tại sao ”… màu hoa phượng thắm như máu con tim”?
Khi con tôi sang Mỹ, nó còn nhỏ. Nhỏ lắm. Nó không còn nhớ Trung Thu ở VN như thế nào và tôi cố gắng dạy cho nó hiểu ý nghĩa của ngày Tết Nhi Ðồng. Mỗi năm, khi có dịp tôi đưa nó xem người ta tổ chức Trung Thu. Khi thì ở Chùa, khi thì ở Nhà Thờ. Năm vừa qua tại nhà thờ Tin Lành. Trong không khí êm dịu của một ngày đầu tháng mười, trên những tàng cây bắt đầu mang triệu chứng của tàn phai, vầng trăng vượt lên lặng lẽ. Ban đầu nó chỉ là một quả banh màu cam dịu dàng nằm trốn lánh đâu đó sau bức tường in hình cây Thánh Giá. Một lúc sau nó rời xa những ngọn đèn xa hoa và nhà cửa cao tầng. Như thơ ấu đã rời xa tôi và chìm khuất trong cổ tích. Tôi không biết mình phải làm sao dạy cho nó bài học của người lớn. Có những sự việc mơ hồ tưởng như một giấc chiêm bao nhưng lại quyết định không nhỏ đến cuộc sống con người. Chỉ vài phút nửa thôi, người ta sẽ phân phát cho bọn trẻ những chiếc lồng đèn làm sẳn cùng một kích thước, cùng một kiễu mẫu giống nhau. Người ta sẽ gởi thêm cho chúng một chiếc bánh được gọi tên là bánh Trung Thu nhưng chắc chúng sẽ không tìm thấy mùi thơm nồng nàn của hột dưa hột mè nằm đâu đó trong bánh. Chúng sẽ không tìm thấy hương vị hạnh phúc tê đọng trên đầu lưỡi, giữa hai hàm răng để cảm giác sự luyến tiếc. Vì không có danh từ thiếu thốn trên xứ sở được mệnh danh là Hợp chũng quốc Hoa Kỳ. Không có bà mẹ nào tại đây chạy đôn chạy đáo trong buổi chiều trước ngày Trung Thu để tìm mua cho con mình một chiếc bánh mang dấu ấn màu đỏ của tiệm Ðông Hưng Viên. Chỉ có những bà mẹ Việt Nam của tôi xa tít buồn rầu đứng chôn chân trước hàng bánh không muốn bước đi vì tiền trong túi không đủ để mua thêm cho con mình một chút vị ngọt.
Tôi không nhớ con tôi rời khỏi tôi trong lúc nào. Nó đang đứng xếp hàng phía trước chờ đến phiên được quà. Sự vui mừng của nó đong đầy bao nhiêu trên những năm tháng cơ hàn của ba nó? Chắc vừa đủ thêm một chút sức nặng làm tâm hồn tôi bồi hồi. Tôi ngồi xuống dựa lưng vào chấn song của hàng rào sắt phân chia sân nhà thờ. Sân xi măng sạch sẽ vì cơn mưa hồi sáng đã cuốn trôi đi mọi bụi bậm. Tôi muốn nằm xuống gối đầu lên hai cánh tay nhìn lên vầng trăng lạnh lùng. Thật khó lòng để chúng ta thả rong trí nhớ về ngược thời gian ba bốn chục năm mà không vấp phải sự kháng cự của quên lãng.
Ánh trăng vằng vặc trên đầu và gió mát mơn trớn da thịt tôi. Không vách phên nào đủ sức nhốt kín được gió, nên “gió không có nhà gió đi muôn phương… và… có thằng cuội già ôm một giấc mơ…”
Không có ngăn kéo nào trong tim để giữ cho hồi tưởng hãy nằm yên. Nên bây giờ vài vì sao xa tít nơi cuối trời kia làm tôi nghĩ đến những giọt lệ.
Tôi nhớ đến đoạn văn của Alphonse Daudet, có tựa là “Những Vì Sao” nói về gã chăn chiên và cô chủ bé bỏng. Một buổi chiều cô đem thức ăn lên đồi cho gã mục đồng và định bụng sẽ quay về trước khi trời kịp tối. Nhưng cơn mưa tình cờ giữ chân cô lại. Cô sợ những dòng suối cạn đầy bất trắc cùng những con sói trên đường về. Khuya, khi vị Thần Ðêm đi rãi hàng vạn viên kim cương lấp lánh trên vòm trời, thì cô quá mệt mõi ngũ quên trên vai của gả mục đồng lương thiện. Tác giả dùng ngôi thứ nhất để kể lại tâm trạng của người chăn chiên vừa biết có điều gì đó giống như tình yêu- gần gũi với tình yêu. Một điều gì đó cũng thánh thiện như giọt nước ướt sũng trên đôi mi đang khép kín kia. Cô bé vừa qua một cơn sợ hãi khi chợt thấy một vì sao đổi ngôi. Trong khi cô chủ ngủ, gã nhìn lên những vì sao trên trời và ao ước một tình yêu lấp lánh những huyền nhiệm.
“những vì sao nhỏ lệ suốt đêm thâu
gió sẽ bảo tình yêu nào cũng đẹp”
Không có ai trên vai để tôi tin rằng cuộc đời luôn êm đềm và lôi kéo theo những tình yêu đẹp. Trên cuối đường tạm dung, giấc mơ nhà xe, cơm áo làm thui chột mọi lý tưởng thời trai trẻ. Trong khi tình yêu, sao quá mờ nhạt ở cuối trời. Chỉ còn lại, một chút ánh trăng bàng hoàng trên đầu. Và một chút thơ ngây đã mất…

Phạm Ngũ Yên

SÁNG NAY MÙA THU

phamnguyen

(Sáng nay, thứ tư, Sep 23, 2015, bắt đầu một mùa thu của vùng Texas)

Cửa tiệm dán logo mới ngày hôm qua.
Hôm nay mùa thu đã về thật sự
Những câu thơ của một mùa không ngủ
Anh viết hoài cho em…

Khi chuyến xe chở ngày và quên tắt ngọn đèn đêm
Em ngơ ngẩn theo anh về qua phố
Nơi chiếc lá chưa khô chưa nhuốm màu bỡ ngỡ
Đợi gió về kể chuyện ngày xưa

Một chỗ ngồi một góc khuất mưa mưa
Nghe gió khẻ lật từng trang vở cũ
Mỗi trang anh là một mảnh đời loang lổ
Mỗi trang em là quá khứ giật mình

Gã đàn ông già chưa biết mệt- hồi sinh
Đêm ngủ muộn những bông hồng rạng sáng
Mặc cơm áo bôi đen ngày lãng đãng
Vẫn một lòng giữ chặt tiếng cười em

Em vẫn còn là biển của thân quen
Dù có lúc em trở mình phẫn nộ?
Dù đôi lúc em chỉ là nắng đổ
Nhưng vẫn làm xao động những bâng khuâng

Đường tuy dài nhưng lòng thấy dửng dưng
Ai đứng đợi phía bên này năm tháng?
Tình yêu dù dài cũng trở thành ngắn hạn
Có hạnh phúc đoạn đầu và đoạn cuối đắng cay

Có những giấc mơ không hiểu nổi từng ngày
Có những nhánh sông như chưa từng biết biển
Những cánh môi dấu bao lời thương mến
Những bài tình nghe riết mãi thành quen

Mùa thu sinh ra cựa mình và lớn lên
Thành phố mới như chưa từng được mới
Nơi tôi đứng có con đường đứng đợi
Một bông bàng chờ rụng bàn tay

Muốn được ôm trong lòng buổi sáng hôm nay
Khi hoa sứ nơi em nở trắng màu chung thủy
Con chim hót nghe những lời mộng mị
Phía chân trời cố níu một tình yêu…

PHẠM NGŨ YÊN
Tháng 9 23 2015

TẶNG MẸ, KHI LÌA XA

phamnguyen
1.
Ngày con đi mưa sũng ướt Sài Gòn
Không có Mẹ để thấy bàn tay vẫy
Nên nỗi nhớ con đem từ bên ấy
Làm nỗi buồn cho giấc ngủ bên nay
Biết nói gì khi cuối một đường bay
Vạt nắng bâng khuâng giữa hai bờ phi đạo
Có một hàng cây cõng trên lưng ngày bão
Có một hàng cây tiếp nối những xuân thì
(Cây cũng gầy như vai mẹ ngày đi)

Bài hát lìa nhau bến xe đò thuở trước
Thời không thể về thăm
Thời mịt mùng những tiếng mưa đêm
Con lính tráng miệt mài quên nghỉ phép
Mẹ ngóng tin con mỗi ngày thiêm thiếp
Những dặm đường con qua
Những tờ thư khiêm tốn thăm nhà
Những lạ lùng địa chĩ…
Mẹ giữ riêng trong ngăn hồn cũ kỷ

Với Nha Trang- Ba Ngòi xanh màu mắt em thơ
Với Pleiku- Diệp Kính sương mờ
Có Poncho bắt hai đầu nỗi nhớ
Với Đà Lạt đã lâu rồi vẫn nợ
Tiếng cười rớt xuống bàn tay

Chiều trăn trở đâu đây
Tách trà Blao quấn quít

Rượu nếp say bên tiếng khèn tỉnh mịch
Mơ vòng tay ôm Kinh Thượng một nhà
Những hồi còi làm thổn thức sân ga.
2.
Ngày ra đi con biết Mẹ chưa già
Dù da mồi tóc bạc
Góc vườn sau con dế mèn phiêu bạt
Cất lên lời thở than
Những mảnh đời chưa biết vội sang trang
Đã thấy nôn nao nửa đêm về sáng
Ai gởi dùm con những ấu thời lãng mạn
Trái bầu trái bí đang xuân
Những bữa cơm không thịt cá ân cần
Nhưng đậm đà hạnh phúc
Ai gởi dùm con miếng cơ hàn tủi nhục
Miếng đợi ngày lớn khôn…
3.
Bởi những bước chân xa
Con không thể về gần
Hãy gởi cho con một thời góa bụa
Hãy gởi dùm con Vũng Tàu nắng lửa
Biển mồ hôi da cháy nắng khoang thuyền
Những trái bàng già rụng xuống tháng Giêng
Những bông sứ nằm yên nghe tháng Chạp
Một năm có bao lần trăng sáng
Mẹ không một lần nở nụ cười vui
Vì sau cuộc đổi đời vốn dè sẽn, Mẹ ơi
Những thứ dường như ấm no, hạnh phúc
Chỉ hào phóng những lao tù, tủi nhục
Những oan khiên khập khiểng những con đường
Đợi đủa thần biến sõi đá thành cơm
Khi ốm đói đòi vươn vai Phù Ðổng!!!
Chúng đã đổi tiết trinh lấy nắng mưa già háp
Ðổi tiếng cười thành giọt lệ cường toan
Ðổi tim xanh đánh tráo huyết cầu bầm
Đổi hạnh phúc làm nên tù ngục lớn
4.
Con chưa lớn dù tâm hồn già cỗi
Tim mệt nhoài của con sói rừng hoang
Buổi sáng nơi này nghe dội những âm vang
Cơn sóng vỗ mênh mang như nhịp tim ai đập
Con lái xe qua những trụ đèn cao áp
Nỗi buồn như đuổi theo xe
Tiếng nhạc đầu ngày ai hát ai nghe?
Xa lắc xa lơ những ngày tháng rộng
Mẹ dạy con bước xuống đời biển động
Bằng bước đi chân cứng đá mềm.
5.
Ngày mẹ đi
Con không về để tiễn
Hình như Vũng Tàu xám xịt môi khô?
Hình như Vũng Tàu dư một mảnh khăn xô?
Mưa vẫn bay nghiêng trên nghĩa trang mùa bão
Mưa vẫn bay nghiêng trên những loài đồng thảo
Ai vuốt dùm con hốc mắt đêm sầu?
Ai nghiêng mình trên ngực lép ung thư?
Mẹ đang ngủ, với môi cười Bồ Tát?
6.
Thời gian trên áo con chưa một lần phai lạt
Mấy chục năm rồi mơ ước vẫn tươi non
Mấy chục năm rồi Mẹ vẫn sống trong con
Như mặt biển suốt một đời mặn gió
Con còng nhỏ cuồng chân ôm nỗi buồn qua phố
Con về thấy Mẹ trầm tư
Những con đường những góc phố phù hư
Vẫn cháy đỏ một màu giận dỗi
Tóc mẹ đổi hay lòng con đã đổi
Thuyền phiêu lưu còn giạt đến bao giờ?
7.
Con muốn về thành phố biển của riêng con
Những hi vọng với bao điều muốn nói
Những bàn tay những bước chân tưởng chừng không thể đợi
Một ngày nghe ngóng bình minh
Thả hồn con bay về những giấc mơ xanh
Nơi chế độ cáo chung trên những dòng cáo phó
Khi những nhân danh đói nghèo xóa bỏ
Con về nghe Mẹ hồi sinh

Mấy chục năm rồi con vẫn còn tin
Những chông chênh con không đứng một mình
Bởi Mẹ không chịu rời ra một phút
Vẫn nắm tay đứa con mình quá chặt

Góc phố kia vẫn cây bàng cô độc
Trái mùa hoa vẫn xanh giêng
Mẹ một lần dừng lại một đêm thiêng
Nhưng thắp mãi trong lòng con lộc biếc

PHẠM NGŨ YÊN
2000

BÀI THƠ TỈNH NGỘ

phamnguyen

Em như hồn sông
Bên bồi bên lỡ
Ta như núi chia
Hai đầu nỗi nhớ

Chiều nay tỉnh ngộ
Một lời chia ly
Vòng môi ướt đỏ
Điếng lòng xe đi

Cà phê nhiều khi
Buồn hơn màu mắt
Con đường trước mặt
Nỗi sầu dọc ngang

Lìa nhau dịu dàng
Mà sao sóng nổi?
Tóc nào quấn vội
Những bàn chân hoang?

Mùa xuân mênh mang
Chuồn bay cánh mỏng
Mười năm dài mộng
Tình yêu dại khờ

Chuyến buýt ngày xưa
Chiều nay về muộn
Cuối ngày nắng nhuộm
Vai người mảnh mai

Nhìn lại bàn tay
Mịt mùng rối chỉ
Bên thềm rên rỉ
Một lời chim đau

Đàng sau bể dâu
(Ngọn đèn quá khứ)
Thức hoài không ngủ
Lời mừng trăm năm!

Em rất từ tâm
Đêm về độ lượng
Hồn xin quỳ xuống
Ngực thơm mùi trầm…

PHẠM NGŨ YÊN