Bốn năm sau khi rời trại tỵ nạn Trại Pendleton, mùa thu năm nay (1979), tôi trở lại nam California lần đầu tiên để dự khóa học ngắn về kỹ thuật điện toán tổ chức tại khách sạn Hilton ở Los Angeles. Chiều thứ Sáu, khóa học kết thúc, tôi xách va-li bước ra lobby (căn phòng lớn dùng làm phòng khách của khách sạn) và thấy Ngân bạn tôi ngồi đợi. Ngày Sài gòn, Ngân học Đại học Khoa học, đỗ cử nhân hóa học, và mở trường dạy luyện thi tú tài và thi tuyển vào đại học chuyên khoa. Ngân cười tươi,
“Hôm nay vợ và hai con em tao trổ tài nấu nướng đãi mày với thằng Bào. ‘Thằng khỉ’ đó vừa từ Galang qua đây tuần trước.” Trại tỵ nạn Galang do Liên hiệp quốc điều hành nằm trên đảo Galang thuộc quần đảo Riau của Nam Dương.
“Thằng Bào luật sư ăn nói khéo léo và giỏi xoay xở, tao biết thế nào nó cũng thoát ra khỏi Việt nam; bây giờ kêu là ‘vượt biên.’ Có vợ con nó không?”
“Tại thiếu địa (tiền), đúng hơn là thiếu vàng, mua chỗ nên chỉ mình nó đi; vợ và đứa con trai ba tuổi ở lại.”
Bào đưa cả hai tay ôm chặt tay tôi. Khuôn mặt hốc hác và thân hình còm cõi, nhưng tiếng cười giòn giã và giọng nói oang oang của người bạn cũ vẫn như trước,
“Ba Hoa ơi hỡi Ba Hoa! Thế còn chị ‘Chích Chòe’ đâu?”
“Bà xã để ở nhà, cõng theo làm gì cho bận bịu chân tay,” tôi quay sang các bạn khác, “Bà con ơi, thằng này là thầy kiện mồm loa mép giải, nhưng ăn nói đâu ra đó, không một tấc lên tới trời như bọn Việt Cộng đâu. Bào à, mày kể tiếp chuyện vượt biên cho tao nghe ké với.”
“Tôi ra đi cùng với 41 người khác trên chiếc thuyền dài 16 mét có 15 phụ nữ từ 13, 14 tuổi đến khoảng tứ tuần và năm trẻ em dưới 12 tuổi. Vừa ra tới ngoài khơi là nguy khốn bắt đầu: Thuyền gặp bão dữ, hư máy, và trôi vô định. Rồi chiếc thuyền chở đầy hải tặc Thái quấn xà-rông xuất hiện, thằng nào cũng có vũ khí. Chúng bắt già trẻ lớn bé cởi hết áo quần đứng trần như nhộng để lục xét tìm vàng, ra lệnh cho đàn ông ở lại thuyền, và lùa phụ nữ còn trẻ lên thuyền chúng và cưỡng hiếp năm ngày liền trước khi thả chúng tôi đi,” Bào rưng rưng nước mắt thuật lại khổ nạn tiếp theo của đám “thuyền nhân.”
Ba ngày sau lại gặp toán hải tặc khác. Thuyền không còn gì đáng giá để cướp, đàn ông bị đánh đập túi bụi, và ai có răng vàng đều bị đè ra cạy nhổ lấy vàng. Phụ nữ lại bị bắt sang thuyền hải tặc và hiếp dâm như trước, lần này chúng bắt cả trẻ em mang theo. Một ngày sau, toán hải tặc thứ ba xuất hiện và đòi chia “chiến lợi phẩm.” Hai toán gầm gừ đánh nhau, và hai hôm sau, tất cả bọn chúng đột ngột biến mất trong đêm tối cùng với đàn bà và trẻ em đã bị bắt.
Nỗi tuyệt vọng của những thuyền nhân còn lại lên tới mức tột cùng khi họ thấy một chấm đen ở chân trời lớn dần tiến lại gần thuyền. Hải tặc lần thứ tư, chỉ có nước chết! Nhưng khi chiếc thuyền kia lại gần, họ thấy những người thân yêu đang trở về. Khi nhận ra mình bị bắt đem đi và sẽ không bao giờ gặp lại người thân, các phụ nữ đã can trường phản đối và đòi nhảy xuống biển tự trầm. Bọn man rợ chịu nhường bước và chở họ trả về.
Bào cầm lon bia uống một hơi, mắt nhắm nghiền như để xua đuổi nỗi kinh hoàng,
“Con thuyền lại lềnh bềnh trôi. Không có thức ăn trong nhiều ngày và nước uống rất hạn chế, mọi người thoi thóp nằm yên một chỗ và bắt đầu nghĩ tới chuyện ăn thịt người để sống. May có một chiếc tàu buôn Anh chạy qua, dừng lại cho thức ăn và nước uống, giúp sửa máy thuyền, cung cấp dầu, và chỉ đường chạy tới Galang.”
“Phù…ù…ù, rốt cuộc mày đến bờ tự do,” tôi thở ra một tiếng dài.
“Trong trại, túp lều tao ở nằm cạnh lều một gia đình người Nam năm người, lớn tuổi nhất là ông Trương khoảng ngũ tuần, chững chạc, và rất kín đáo. Không người nào hé môi lộ ra tông tích gốc gác của mình.”
“Nhưng sức mấy mà qua mặt đôi mắt tinh như cú vọ của mày,” tôi mỉm cười.
“Làm ngành luật, tao nhận ra ông Trương là bộ trưởng bộ Tư pháp của cái phường tuồng gọi là chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam,” Bào gật đầu.
* * *
Trương là con thứ hai trong một gia đình Nam kỳ quý phái dưới thời Pháp thuộc có sáu cậu con trai. Mỗi cậu có riêng một a má là chị vú người Tàu đưa đón đi học và hầu hạ việc ăn mặc, tắm rửa, ngủ nghê, v.v. Mỗi cậu có riêng thầy dạy kèm các môn học chính ở trường và thầy dạy âm nhạc, mỗi cậu học một loại nhạc khí riêng. Ngoài ngôi nhà chính ba tầng trên đường d’Espagne (Lê Thánh Tôn bây giờ) giữa trung tâm Sài gòn, cha mẹ Trương có đồn điền cao su ở Thủ Dầu Một (Bình Dương), nhà in tại Sài gòn, nhà nghỉ mát ở Ðà Lạt, và biệt thự mùa đông ở Cap Saint-Jacques (Vũng Tàu). Cha Trương là giáo sư trung học dạy ở trường Chasseloup Laubat (sau này gọi là Jean-Jacques Rousseau), nhưng dạy lấy tiếng chứ tiền lương chỉ là phụ.
Anh em Trương học trường dành cho trẻ em Pháp. Lúc đầu bị bọn bạn học người Pháp gọi nhạo là nhaque (đọc là “nhác-cờ,” do chữ “nhà quê”) hay mite (đọc là “mít-tờ,” cách nói tắt khinh miệt của chữ “annamite” người Pháp dùng chỉ người Việt), cậu Ba Trương thấy khó chịu, nhưng rồi cũng quen và nhập tâm bài học lịch sử vỡ lòng, “Tổ tiên ta là người Gaulois.” Năm Trương 13 tuổi, cha cậu quyết định,
“Lớn lên con sẽ làm dược sĩ. Anh con làm bác sĩ, em kế con chủ nhà băng, và ba em sau kỹ sư.”
Tháng Ba năm 1946, trước khi Trương lên đường sang Pháp du học, cha Trương làm lễ đính hôn cho cậu và ý trung nhân là con gái của một bác sĩ và điền chủ giàu có ở Bến Tre và cũng là bạn thân của ông. Sang Paris, Trương được nhận vào ở trong đại học xá sinh viên Đông dương. Cùng thời điểm đó, Hồ Chí Minh ăn dầm ở Paris chờ thương thảo về đề nghị cho Việt Minh (Việt nam) độc lập trong Liên hiệp Pháp, hội nghị diễn ra tại Fontainebleau cách Paris chừng 60 km về hướng đông nam. Nhờ vậy, Trương gặp ông Hồ hai lần. Lần đầu, ông cho mời cả nhóm sinh viên Việt nam trong đại học xá đến họp chung và lần sau chỉ mời hai đại diện sinh viên người Nam đến “dùng trà với bác Hồ”; Trương là một trong hai sinh viên được đề cử đi. Với dáng điệu và cử chỉ của một chính trị gia xảo hoạt bậc nhất thế giới, ông Hồ hớp hồn chàng sinh viên 23 tuổi bằng những khẩu hiệu nghe rất kêu như
Không có gì quý hơn độc lập-tự do.
Chúng ta phải chống giặc ngoại xâm, chống giặc đói, chống giặc dốt. v.v.
Hội nghị Fontainebleau tan vỡ, nhưng lần gặp gỡ ông Hồ đã thay đổi toàn diện ước vọng về tương lai của Trương. Trương bỏ ngành dược, học chính trị học ở Học viện Khoa học Chính trị, một grande école người Pháp gọi là “Sciences Po,” và cùng một số sinh viên Việt nam đi biểu tình và vận động ủng hộ cuộc chiến đấu chống Pháp của Việt Minh. Cha Trương giận dữ khi được tin Trương không tuân lời về việc học hành và dính dáng vào chuyện chính trị, nhưng quyết định dùng mật ngọt để khuyến dụ: Ông sui gia (tương lai) đưa cô vị hôn thê của Trương sang Paris, dắt hai người đi du lịch một vòng quanh Pháp, Ý, và Thụy sĩ, và trở về làm lễ cưới theo nghi thức hành chánh tại quận đường Quận 12, đồng thời với lễ gia tiên của hai gia đình cử hành tại Sài gòn.
Kế sách của hai người cha đưa lại kết quả trái ngược. Không những Trương không đổi ý hướng mà còn dẫn dắt vợ vào con đường của mình. Khi hội Người Việt Đoàn kết cử vợ Trương dâng hoa cho vợ tổng thư ký đảng Cộng sản Pháp, bà này cũng là ủy viên trung ương đảng, hai ông già hết chịu đựng nổi bèn ra lệnh cho vợ chồng Trương phải về nước. Trương cương quyết ở lại và để vợ về một mình, lúc ấy cô mới 20 tuổi và mang thai sáu tháng. Hai ông già quyết liệt hơn, cắt đứt tiền bạc cấp dưỡng, và buộc cô vợ trẻ ký giấy ly dị. Lần đầu tiên trong đời, Trương phải tự kiếm sống, rửa chén và gọt khoai cho nhà bếp đại học xá.
Năm 1951, Trương tốt nghiệp cao học chính trị học và ghi danh học luật ở Đại học Paris. Cuối năm, Trương bất ngờ nhận được thư cha gọi về Sài gòn giúp ông gầy dựng lại cơ sở kinh doanh bị chiến tranh tàn phá để giúp anh và các em tiếp tục việc học. Để tránh lệnh động viên của chính phủ Quốc gia Việt nam, Trương xin đi dạy ở Châu Ðốc và được bổ làm giáo sư chính ngạch rồi kết hôn với em gái bạn đồng nghiệp. Vợ Trương sinh con gái đặt tên Loan. Để tránh lệnh trưng binh khẩn cấp vì chiến tranh lan rộng, Trương xin gia nhập Hải quân và được nhận vào trường Tiếp liệu Hải quân Pháp ở Toulon. Sau khi Hiệp định Genève được ký kết, Trương tốt nghiệp sĩ quan và xin giải ngũ.
Trương về nước với chí hướng quyết liệt chống đối phe Quốc gia là chính phủ Việt nam Cộng hòa (“VNCH”). Nhờ bằng cấp cao, liên hệ bạn bè thời Chasseloup Laubat, và thế lực gia đình, Trương được trọng dụng làm tổng thanh tra Việt nam Kỹ thương Ngân hàng và sau đó tổng giám đốc Công ty Đường Việt nam, một công ty hàng quốc gia. Trong lúc Trương ngầm câu kết với các tổ chức Cộng sản trong bóng tối, con gái là Loan lại học cùng lớp với con gái Tổng thống Nguyễn văn Thiệu, thường vào dinh Độc lập ăn cơm tối và ngủ lại đêm, và được ông bà Thiệu yêu thương như con.
Tháng Sáu năm 1966, hành tung bị bại lộ, Trương bị cơ quan an ninh VNCH bắt giữ. Nhờ Việt Cộng bí mật điều đình với tòa Đại sứ Hoa kỳ, Trương và hai tù nhân chính trị khác được trao đổi với ba quân nhân Mỹ bị Việt Cộng bắt. Thế là Trương ra bưng hoạt động hẳn cho phe Cộng sản. Sau khi Trương bị bắt, ông Thiệu dịu dàng kéo Loan ra một bên,
“Con yên tâm, ba con với tonton là kẻ đối nghịch. Nhưng con là con cháu nhà này, chuyện kia không ăn nhằm gì cả.”
“Tonton” tiếng Pháp là “chú/bác/cậu” khi xưng hô thân mật. Sau đó, bà Thiệu bảo trợ cho Loan đi Hoa kỳ du học. Ngày 8 tháng Sáu năm 1969, Hà nội đưa ra trình làng con múa rối đặt tên là chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam (“CMLTCHMN”) để mà mắt thế giới, và Trương được phong chức bộ trưởng bộ Tư pháp cho đủ lệ bộ.
Mãi đến sáu năm sau, trong cuộc diễn binh mừng chiến thắng chiếm trọn miền Nam của Việt Cộng, Trương mới mở mắt nhận ra thực chất của CMLTCHMN. Trên khán đài dựng lên trước dinh Ðộc lập (mới đổi tên thành Thống nhất), chủ tịch đoàn gồm lãnh tụ ngoài Bắc vào và những nhân vật quan trọng khác đứng duyệt khán các đơn vị quân đội diễn hành. Bộ binh, chiến xa, pháo binh và hỏa tiễn phòng không, v.v. với cờ đỏ sao vàng miền Bắc lần lượt đi qua. Gần tàn buổi lễ mà không thấy các “đại đơn vị” và lá cờ hai màu xanh đỏ của CMLTCHMN đâu cả, Trương nghiêng vai hỏi Tướng Văn Tiến Dũng chỉ huy quân đội đứng bên cạnh,
“Các Sư đoàn 1, 3, 5, 7, và 9 của tụi tui đâu?”
“Mấy thứ đó hả?” ông tướng đưa mắt nhìn Trương và không đắn đo, “Quân đội thống nhất rồi,” rồi quay đầu nhìn xuống đường với khoé môi trề xuống tỏ vẻ khinh miệt.
Khi vở kịch CMLTCHMN đến lúc hạ màn, Trương ra Hà nội dự lễ phê chuẩn văn kiện “thống nhất nước nhà về mặt nhà nước” chính thức chấm dứt tấn tuồng lừa đảo này. Trong buổi tiếp tân, có người vỗ vai, Trương quay lại thấy Trường Chinh chủ tịch Quốc hội miền Bắc; ông ta trừng mắt hỏi xách mé,
“Đồng chí là ai mà trông quen quen?”
Trương ngớ người bối rối. Mới bảy tháng trước, ngay tại sảnh đường này, chính đồng chí lãnh đạo này đã ôm hôn chào mừng líu lo và chiêu đãi rộn ràng Trương và toàn bộ CMLTCHMN. Trương ấp a ấp úng,
“Tui là bộ trưởng bộ Tư pháp miền Nam.”
“Thế à?” mắt Trường Chinh sáng lên khoái trá, “Đồng chí tên gì, bây giờ làm gì?”
Trương tỉnh mộng hoàn toàn, cưới cô vợ mới, và cậy nhờ người em cột chèo trù hoạch vượt biên. Cuối tháng Tám năm 1978, vợ chồng Trương theo gia đình người em đó lên ghe đánh cá đi từ Long Xuyên đến trại tỵ nạn Galang. Sáu tháng sau, sang Pháp định cư và sống đời lưu vong. Ba mươi năm “làm cách mạng” của Trương rốt cuộc chỉ là:
Dễ Thương thông báo một buổi chiều thứ tư. Trời còn chút mùa xuân. Nắng trong, gió nhẹ.
Bất ngờ như hụt chân bước lọt vào khoảng trống, người đàn ông hoảng hốt, “Chừng nào về?”
“July.”
“Sắp tháng Bảy rồi.”
Nụ cười nở ra trên cánh môi. Con mắt ướt như có gió có mưa đâu đó tạt về. Cõi lòng như cái ống nước cao su bị xoắn, người đàn ông kiếm giùm cô một cái cớ. Tháng Bảy ở Việt Nam thì có gì nhỉ. Loài hoa nào nở vào tháng Bảy ở quê nhà. Mùa mưa bắt đầu từ tháng nào. Bão nhiệt đới thổi về. Bão rớt từ biển đông. Tháng Bảy có gì. Xa Việt Nam lâu quá, người đàn ông quên mất tiêu.
“Tháng Bảy nóng muốn chết.”
“Thì nóng.”
Đoán mò, người đàn ông hân hoan thầm nghĩ, vậy mà trúng phóc. Thành ra người đàn ông hăm hở, “Why?”
“Why what?”
“Nóng vậy sao lại về?”
“Chỉ có nghỉ hè mới về được.”
“Sài Gòn tháng Bảy vừa nóng vừa mưa dai, không nhớ sao.” Ông thêm một chi tiết nhỏ vào bảng phân chia thời tiết của quê nhà.
“I know.”
“Biết nói I know mà còn về.”
“Đi lâu lắm rồi.” Người con gái nhăn nhó, như giải bày một điều quá hiển nhiên.
“Lâu là bao lâu?”
“Bốn năm.”
“Bốn năm ăn nhằm gì.”
Cô nhìn ông, ngạc nhiên. Chắc hôm nay ông không bình thường như mọi khi thành ra cô mới nhìn ông như thế. Bởi ông thấy chút ngỡ ngàng rất mỏng, rất thưa, như những miếng mành mành treo đầy những cửa nhà Việt Nam giăng trong mắt cô. Và một chút gì đó loang ra thật nhanh trong đáy mắt. Vết loang của một nỗi niềm không tên gọi.
Ông vội chữa, “You về Việt Nam, me sẽ đi uống cà phê với ai đây?”
Ông hạ thấp giọng ở cuối câu, thành ra câu nói thành một lời than không dấu chấm than ở cuối.
Cô cười, “Đi uống một mình.”
Có cái gì đó ngân nga trong lòng người đàn ông. Vậy là người ta cũng quan tâm đến nhau ít nhiều dù nỗi bận tâm chỉ vương trên trán, như lọn tóc mầu nâu đen, chả làm bận lòng ai. Nhưng vẫn là mối quan tâm. Cô không muốn ông đi uống cà phê với ai. Vắng cô, ông hãy chỉ đi uống cà phê một mình.
Vắng em, anh không được đi uống cà phê với ai đâu đó. Ông dặn lòng như vậy, giùm cô.
“Đi một vòng nghe.” Lòng muốn rủ cô về căn phòng trọ nhưng miệng lại nói ra một điều xa lơ lắc. Người con gái gật đầu và người đàn ông thầm trách mình.
Ngang cà phê Tim Hortons, ông ghé vào gọi cho cô một ly capuccino lớn và một ly nhỏ cho ông, rồi lái xe ra hướng ngoại ô. Khu rừng quen. Lá xanh rợp trời. Cỏ mượt trải thảm nhấp nhô những mảnh đồi cao thấp. Nắng lấp ló đầu cành.
“Nhớ chỗ này không?” Ông hỏi với chút bồi hồi trong lòng.
“Sao không?” Cô trả lời, đôi mắt chớp nhanh.
“Mới đó mà đã nửa năm rồi.” Câu nói tuột ra khỏi miệng, nghe không khác một tiếng thở dài.
“Đâu đã tới nửa năm.” Cô vặn, nhỏ nhẹ.
Lòng lại nao nao. Thì ra cô còn nhớ. Một buổi tối mùa đông. Tuyết trắng mặt đất. Mây mù xám không gian. Vặn vẹo trong tay nhau. Hụt hẫng những hơi thở. Xe thổi hơi nóng sưởi ấm hai bàn chân. Hơi ấm thổi nóng cái lưng trần nhấp nhô. Môi dán lấy môi. Cái miệng tham lam bò miết như loài ốc sên trong bóng tối. I love your breasts. Thổi vào tai người con gái cái câu sần sùi, cái lời thô nhám. Nhưng không thể nào không nói, bởi đôi vú thật căng, thật đầy; đầy nứt những ngón tay ôm. No căng tuổi trẻ, mê man hạnh phúc. Hạnh phúc trong vòng tay. Gã trung niên thì thầm cám ơn đất trời đã cho mình những đặc ân không lời nào viết hết. Biết người con gái có nhớ được như ông vẫn nhớ không.
“So you still remember.” Ông nói bâng quơ.
“Sao không.”
Cô đưa cái ống hút lên môi, mắt nhìn xa vắng.
“Another exam tomorrow.” Cô thở dài, nói nhỏ lúc bỏ ly cà phê xuống chỗ đặt ly trước mặt. “Ghét Shakespeare quá trời.”
Ông nhìn cô bằng con mắt khoan dung. “Vất vả một thời gian, mai mốt khỏe.”
“Không dám đâu. Nợ tiền học ngập đầu.”
“Vất vả ít năm, có bằng đại học, lấy chồng giầu. Về làm dâu nhà triệu phú.”
Người đàn ông thấy ngộ nghĩnh cái chuyện cô về làm dâu nhà nào đó (lòng sẽ đau, riêng một mình ông). Và hình ảnh cô rót nước, bưng cơm hầu hạ bố mẹ chồng nó ra làm sao nhỉ. Không cách nào hình dung ra được.
“What?”
“Lấy chồng, làm dâu.”
“Làm dâu, trời ơi, nghe chị Phi Nhung ca chuyện làm dâu, thấy sợ luôn. I’ll never làm dâu.”
“Chắc không?”
“Sure.”
“Canada never có chuyện làm dâu.”
“Tại chưa yêu ai.”
“Dù có yêu mà bắt me làm dâu là me good-bye liền.”
Nghiêm trang sau câu nói nhưng có ánh cười trong khóe mắt. Người đàn ông cười. Cô gái cũng cười theo. Nụ cười làm rung những giọt nắng trên vai. Không cưỡng lại được cái cảm xúc nhảy múa trên những đầu ngón tay nên những ngón tay rụng xuống một bên vai thiên thần.
Cứ thế mà hẹn hò.
***
“Uống cà phê nghe.”
Cái gật đầu rất nhẹ cũng làm lòng ông xao xuyến. Người con gái như cánh hoa, thế gian đã ví von trăm ngàn lần. Và ông thấy nhân gian nói những điều chí lý. Như cánh hoa chỉ nở một lần. Những ý nghĩ vụn vặt vắt ngang tâm tư. Lòng ông rối bời. Rồi em có yêu như những người con gái Việt Nam thuở trước. Yêu một người, yêu một đời. Người con gái lưu lạc. Người con gái nửa tây nửa Việt. Xứ sở văn minh. Cuộc sống buông thả. Điều khổ tâm suốt một đời là mai sau, lòng cứ nổi trôi trên những bến bờ tình cảm vô định.
“Thiên thần.” Ông buột miệng.
“What?”
Vẫn mảnh hợp âm thơ dại. What. Cao ở đầu, trũng xuống ở khúc giữa khi âm hưởng vẫn tròn đầy, rồi vươn cao như một dấu hỏi gợi tình. Whaaaaat. Whaaaaat. Rồi làm sao tôi quên được cái hợp âm dễ thương ấy, hỡi thiên thần bé nhỏ.
“Thiên thần.” Ông lập lại tiếng than. Người con gái mở ra cho ông một nụ cười.
***
Cuối cùng, ông quyết định không nghĩ đến điều đó nữa, bởi càng nghĩ, ông càng thấy như mình đang làm điều gì sai trái. Đời người ngắn ngủi. Tâm trí đâu bận rộn những chuyện không đâu. Ông đứng dậy, bấm công tác điện bình nước, rồi trở lại ghế ngồi. Cuốn sách nằm trên mặt bàn. Cây bút viết mầu đen. Xấp giấy trắng trơ vơ như chờ đợi một điều gì khác thường. Ông nhìn quanh căn phòng trống trải. Lâu lắm không làm được điều gì. Ngày hai mươi lăm tuổi, người bạn học trò đã bảo, ở tuổi này nếu có tài thì đã có rồi. Bây giờ tuổi tác đã chồng lên quá con số nhân đôi của cái thời hoa mộng ấy. Và ông thấy mình vẫn chưa làm được điều gì coi được.
Tiếng nước sôi réo gọi. Hơi nước ngùn ngụt bốc lên từ vòi cái ấm nhựa. Ông chậm rãi đứng lên, mở hộc tủ lấy một gói cà phê Việt Nam, xé một góc, đổ vào chiếc ly thủy tinh cũ. Bột cà phê quẫy động, bọt nâu sủi lên ngầu đục. Ông khuấy chiếc muỗng vào lòng ly. Tiếng thủy tinh kêu lanh canh như đánh thức cái xôn xao ngái ngủ trong đáy lòng. Lâu lắm mới tìm lại được cái lao xao thời mới lớn. Ông vẫn nghĩ mình không làm điều gì sai trái. Ông đưa ly cà phê lên môi. Thành ly mịn màng, quen lắm; như đôi môi người con gái. Đôi môi của thiên thần bé nhỏ ông gặp mới hôm nào.
Lớp học có đủ các sắc dân. Người đàn ông chìm vào cái đám đông nhốn nháo. Lúc cầm miếng giấy sắp lớp từ văn phòng giáo viên hướng dẫn, lững thững đi dọc hành lang, nhìn chăm chú từng con số dán trên cửa mỗi phòng học, lòng ông lặng lờ như mặt nước ao tù. Cái thuở một tay ôm cặp sách, một tay níu áo mẹ rụt rè bước vào cổng trường tưởng như đã từ thế kỷ nào, có ai mà ngờ. Xin lỗi, có ai ngồi đây không. Ông hỏi đôi mắt đen nhánh đang ngỡ ngàng nhìn ông. Cánh mi mềm khẽ rung. Cánh bướm lạc vào khu vườn lạ.
Tiếng Anh của ông cứng, nhưng mái tóc dài đen nhánh ấy vẫn nghe ra được. Cái đầu tròn tròn lắc qua lắc lại thay cho câu trả lời. Ông bỏ cuốn tập xuống bàn, loay hoay kéo chiếc ghế cho xa cái bàn một chút, rồi ngồi xuống một cách chật vật. Ông cảm thấy như bao nhiêu mắt nhìn đang dán vào lưng mình. Chưa đến giờ học, giáo viên chưa đến. Ông tháo cây bút trong túi áo, đặt lên bàn, ngước nhìn dòng chữ viết bằng phấn đỏ trên mặt bảng đen. Lớp văn chương Anh. Đâu ngờ cũng có lúc lại phải làm một tên học trò sách vở lếch thếch đến trường.
Đến giờ ra chơi thì ông biết người con gái ấy là người Việt. Vài câu trao đổi thành quen, như thể trước kia ở cùng một khu phố bên nhà. Đến giờ ăn trưa, hai người ngồi đối mặt nhau qua chiếc bàn gỗ sơn cái mầu vàng ệch bỏ trống dưới bóng mát cây phong già.
Hỏi nhau cơn gió nào dun dủi cho hai người vào chung một lớp. Đổ thừa cho số mạng. Chừng ấy tuổi đầu rồi mà vẫn phải cắp sách đến trường. Người con gái cười nửa miệng, được đi học hoài, lucky thấy mồ.
Người đàn ông không cười. Câu nói vô tình nhưng cứa nhẹ vào lòng, chỗ một vết thương đã cũ.
Một lát ông khẽ lắc đầu, cảm khái, “Cái thuở hàn vi sao mà dài dằng dặc.”
“What do you mean hàn vi?”
Cô gái ngước mắt nhìn ông. Bầu trời xanh cuối mùa thu chìm sâu trong đáy mắt ấy. Ông thấy cả những ngọn cây phong còn xanh mầu lá trong vũng mắt thăm thẳm.
“Hàn vi là cái thời còn trẻ, còn nghèo túng,” ông ngập ngừng giải thích.
Hàn vi là gì nhỉ trong tự điển Hán Việt. Ông moi óc tìm tòi. Không một chữ thánh hiền nào trở về với ông. Chữ nghĩa thánh hiền rơi rớt dọc những đoạn đường đời mịt mờ bụi đỏ. Chữ nghĩa đã bỏ ông. Như tuổi trẻ; như những mùa vui. Ông xé một miếng bánh donut, bỏ vào miệng để lấp đi cái khoảng trống không thể đặt tên.
“You eat too much.” Cô gái nhìn ông, nghiêng đầu, chớp mắt.
Nghiêng đầu. Chớp mắt. Cách làm duyên thông thường và cổ điển.
Ông nheo mắt suy nghĩ. Người con gái nào năm xưa hay nghiêng đầu chớp mắt nhỉ.
“You eat too much.” Cô nhắc lại. Ông đọc được trong âm hưởng giọng nói chút gì như trách móc. Lâu lắm rồi, không được nghe một lời trách móc. Bây giờ ông thấy tiếng Anh dễ thương và tình tứ hơn tiếng Việt bội phần. Nếu bắt cô phải nói với ông bằng tiếng Việt, cô sẽ nói câu ấy thế nào cho ông khỏi bị đẩy sâu vào xó lạnh của cõi người bóng xế. Gọi nhau bằng you, tình tứ biết bao nhiêu.
“Not too much,” ông phản đối dịu dàng.
“Yes, you eat again and again.” Cô quả quyết. Những ngón tay gõ nhẹ trên mặt bàn. Hai mắt ông dán vào những móng tay mầu hồng mịn màng, không sơn phết đỏ đỏ đen đen. Lòng khi không dấy lên chút gì đó quá đỗi dịu dàng, khói sương, phù ảo. Từ tháng năm nào đã không còn những người con gái để mộc mạc đầu mười ngón tay thon. Có một dịp nào đó ông sẽ nói với cô bé rằng ông yêu hai bàn tay cô, từ những đầu ngón tay thuôn, những móng chuốt sạch, yêu cái mầu hồng hồng của móng, yêu cái phao ngón tay mầu trắng đục, những cái phao tay hình lưỡi liềm. Yêu những vừng trăng quê nhà xa lơ lắc. Ở những móng tay sơn đỏ sơn đen sẽ không còn thấy được những cái phao tay mầu trắng đục. Ông yêu mười đầu ngón thuôn, và ông yêu luôn cả chiếc nhẫn đeo ở ngón tay cái. Sao lại có người đeo nhẫn ở ngón cái. Ông thầm hỏi.
“Tại đói chứ bộ.” Câu trả lời bâng quơ. Mãi đến bây giờ ông mới trả lời cái câu thắc mắc của cô từ năm mười phút trước. Bỗng dưng ông thấy mình nói năng hệt như cái thời mới lớn; cái thời mượn xe của bố đi đến chỗ hẹn với người yêu.
“Why?”
“Why what?”
“The ring.” Ông chỉ ngón tay cái của cô.
“The ring.”
Nụ cười thắp sáng một vũng không gian hẹp. The ring. Những ngón tay co lại, duỗi ra trên mặt bàn. Nhưng không có câu trả lời. Chỉ có môi cười thật tròn, thật ngọt.
“Sao đeo nhẫn ngón tay đó.”
“Don’t ask.”
“Okay.”
Có dịp nào đó ông sẽ nói ông yêu những ngón tay học trò kia.
Những ngón tay còn da non như da tay trẻ em chưa dùi mài vất vả.
“Why don’t you go to university?
Tiếng Anh của cô có âm hưởng Á châu, như những người Trung Hoa, Đại Hàn, Nhật Bản và Việt Nam thường có. Cái âm hưởng nghe quê mùa nhưng hiền hậu. Và ông cũng hiểu được là cô hỏi sao ông không vào đại học.
“Phải lấy bằng trung học trước.” Ông chậm rãi trả lời.
“Thì ra vậy. Your English very good. My English not good.”
“You’ll be okay.”
“Don’t think so.”
Cái lối nói chuyện trống không, xa xa gần gần ngày xưa ông không thích. Lối nói chuyện ở quê nhà người ta cho là xách mé. Ừ, một con bé mười chín tuổi nói chuyện với bậc cha chú ai lại trống trơn như vậy. Ngày xưa dễ gì ông ưa lối nói ấy, vậy mà bây giờ ông thấy dễ thương. Rồi cái lối Anh không ra Anh, Việt không ra Việt cũng vậy nữa. Thà cứ dốt hẳn tiếng Anh. Hoặc mù luôn chữ Việt. Nhưng đó là chuyện xưa. Từ lúc gặp cô bé, ông trở nên độ lượng với cuộc đời.
Yêu em lòng chợt từ bi bất ngờ. Ông thì thầm câu hát Trịnh Công Sơn.
“Whaaaat?”
“Yêu em lòng chợt từ bi bất ngờ.” Ông lại thì thầm.
Cô gái nhăn mặt, “Whaaat. Yêu em lòng… what?”
“Chợt từ bi bất ngờ.”
“What do you mean từ bi?”
Ông cố tìm một chữ có nghĩa tương đương trong tiếng nước người. Nhưng chữ nghĩa nhồi nhét ngày đêm bao nhiêu năm trời mà lúc cần tra tìm bỗng dưng thấy mình thành kẻ ăn đong.
“Không hiểu thì thôi.” Ông nói bằng tiếng Việt.
Cô gái bậm môi, “Không hiểu mới hỏi.”
“Người Việt mà không hiểu tiếng Việt.”
“You don’t want to tell me. That’s fine. I don’t care.”
“O-kê. Từ bi là rộng lượng, bao dung.”
“Bao dung?”
“Yes.”
“What do you mean bao dung?”
“Ví dụ như nói chuyện tiếng Việt mà you không hiểu, but I don’t give up. I try to explain to you. Even though I want to yell, I still keep calm trying to explain. That’s từ bi.”
Câu nói pha trộn nửa Anh nửa Việt, nhưng chắc cô cũng hiểu.
“Lúc ở Việt Nam người ta còn nhỏ chứ bộ.” Cô gái phụng phịu.
“I know.”
“I don’t want to talk to you any more.” Cô xoay ghế qua phía bên kia. Trước khi lọn tóc trên trán cô rũ xuống che kín khuôn mặt trái xoan, ông còn kịp bắt gặp bóng tối loang đầy hai con mắt.
Lần nào đó cũng giận hờn như thế, trong một thương xá. Ngồi đối diện nhau. Nhưng không nhìn vào mắt nhau như mọi khi. Ông ngước nhìn khung trời hẹp phía trên khung kính lộ thiên. Bầu trời trên ấy biếc xanh. Tiếng nhạc lao xao. Giận dỗi mềm và mỏng, như miếng bánh tráng nhúng nước. Dễ giận, nhưng cũng mau quên.
“You know that song?”
Cô hỏi. Cô hay hỏi trống không. “Biết bài hát đó không?”
“Bài hát nào?”
“Bài hát mình đang nghe đó. Hay là you đang ngủ quên.”
“À, hay.”
“They talk about biology gì gì đó.”
“Yes.”
“You know that song,” cô lại hỏi.
“Yes.”
“Translate for me.”
Thì dịch. “Hình như là don’t know much about biology don’t know much about đủ thứ. Không biết gì về sinh vật học. Không biết gì về bao nhiêu thứ; chỉ biết chắc là I love you và biết luôn là you love me too.”
“Nice song.”
“Yes.”
Ông nhìn cánh môi hơi cong lên một chút ở khóe. Ông nhìn chăm chú đường viền ngăn cách làn da vàng nâu nhạt trên má với mầu hồng mịn màng của môi. Đường viền mỏng như sợi chỉ. Đường viền này sẽ máy động như thế nào khi vạch những lời thì thầm yêu đương, và sẽ gẫy khúc ra làm sao khi đứa con gái vểnh cổ lên cãi lời bố mẹ.
Ý nghĩ làm ông mỉm cười.
“Whaaaaat?” Cô hỏi, giọng trẻ thơ ngân nga cái chữ duy nhất trong câu nói, kết thúc ở nốt cao như một nét nhạc đeo đầy dấu hỏi. Đôi mắt tròn. Cái đầu nghiêng. Như tình cờ bắt gặp một nụ cười chế nhạo trên môi người đối diện.
“Nothing.” Ông buột miệng, rồi vội thêm. “You’re so cute.”
Đường viền trên cánh môi giãn ra, vẽ cho ông một nụ cười.
Buổi sáng. Nụ cười hiền. Mắt hồn nhiên. Hồn giấy trắng. Thiên thần. Hãy mãi mãi là thiên thần nghe cô bạn học trò. Ông thầm khấn vái. Cô học trò ngây thơ duy nhất còn sót lại trên xứ người.
Mình không làm điều gì sai trái. Ông dỗ dành mình hàng trăm lần như vậy. Cô bé chưa tròn mười chín tuổi. Trẻ thơ. Thiên thần. Nụ cười lúc nào cũng đọng trên môi. Cặp môi hồng tinh khiết. Đôi mắt chưa biết ngóng xa xăm. Con mắt chưa biết liếc tình. Thân thể thiên thần ấy chưa một bàn tay trần gian nào ve vuốt. Ông không được phép tháo gỡ đi những lời kinh thơm tho của đời sống. Thần linh nào đó nhắc nhở ông một cách nghiêm trang. Đừng làm vấy bẩn một trang giấy, đừng làm nhăn nhúm tấm khăn hồng trên bàn tiệc vua chúa. Đừng bao giờ. Never. Nhưng mà trời ơi, sao Trời lại tạo nên cô dễ thương như thế. Tại sao trời đất lại xui khiến cho ông gặp cô nơi xứ sở lạnh ngắt mùa đông và hừng hừng nóng những ngày mùa hạ.
Cái chuyện sai trái ấy nó như thế này.
Số là buổi ấy, đưa cô đi lòng vòng, trời đất khiến xui, ông dừng xe bên đường.
“Want to have a look at my apartment?”
Cô nhún vai.
Ông mở cửa, gật đầu khuyến khích. Cô khẽ nghiêng đầu rồi duỗi chân chuồi ra khỏi xe, nặng nề như phạm nhân bước ra khỏi xe cảnh sát.
Hết những bậc cầu thang, ông mở cửa, đứng lách qua một bên cho cô bước vào.
“Wow, messy!”
“I know.”
“Bụi không hà.”
“I know.”
Ông chạm khẽ vào vai cô. “My room’s over here.”
Cô bước theo ông vào căn phòng hình chữ nhật.
Cô ngồi xuống chiếc ghế duy nhất trong phòng. Ông lách vào khoảng trống hẹp phía sau chiếc giường, đẩy khung kính cửa sổ cho gió lùa vào.
“Cold!” Cô vòng hai cánh tay ôm lấy hai vai. Co ro như con mèo nhỏ.
Ông đứng sững lại nhìn cô. Tất cả những dịu dàng, hiền thục trên thế gian gom lại nơi người con gái mặc quần jean xanh, mặc áo thun trắng, đôi vớ trắng dầy và đeo nhẫn ngón tay cái kia. Ý nghĩ nặng nề nào đó níu lấy tâm tư ông. Trời ơi. Đừng làm gì hết. Hại người ta tới cả một đời. Trách nhiệm một đời người đi theo cái hành động ngắn ngủi năm mười phút ấy thôi. Hãy nhìn đi chỗ khác. Vẫn biết khuôn ngực trắng hồng và no căng ấy gọi mời đến xao xuyến cả những núi đồi của rặng Rocky Mountain, đến xôn xao những thảo nguyên trải dài khắp miền đồng bằng xanh ngắt một vựa lúa mì của tỉnh bang Saskatchewan phì nhiêu. Ý nghĩ xào xáo đầu óc gã trung niên. Người đàn ông trải cả trăm trang địa lý hùng vĩ của xứ sở tạm dung ra trên bàn viết trí tưởng mong làm nhòa đi cái quyến rũ mê hồn của đứa con gái vừa qua tuổi dậy thì ngày hôm trước.
Ôm hờ một bên vai thiên thần, ông thì thầm, “Sweetie.”
“Whaaaat?” Cô hỏi lại, ngơ ngác – thật hay giả – ông không còn phân biệt được nữa. Nhưng cái giọng vẫn dễ thương và quen thuộc. Bắt đầu ở nốt thấp, wh uốn cong lên tới wha, cao nhất khi chữ what tròn đầy, rồi buông xuống nhịp nhàng thành câu cong như một dấu hỏi. Wwwhhhhaaaatttttttttt.
Ông run rẩy nhấc hai bàn tay mình lên. Hai bàn tay run ấy ôm lấy đôi bờ vai thon. Hai bàn tay dìu cái mảnh mai lại bên giường. Hai bàn tay dịu dàng đỡ cho cái mảnh mai nằm nhẹ xuống miếng nệm dầy. Môi khô đắp xuống khuôn mặt trái xoan những nụ mềm. Cánh môi hồng mở ra. Những nụ hôn đắp lại. Trời ơi. Thương quá là thương. Nhưng sao lại dịu dàng đón nhận. Sao không quay mặt qua bên phải. Sao không quay mặt qua bên trái. Sao không cau mày. Không bậm môi.
Không dừng lại nữa đâu. Tới đời kiếp nào nữa mới lại được mê đắm với một người con gái vừa qua tuổi dậy thì khi mình đã quá cái tuổi trung niên. Ông vùi mặt lên khuôn ngực căng. Hàm răng nhay nhay đôi núm vú hồng thẫm.
Những gì xảy ra sau đó tuần tự như những bài bản thời mới lớn.
Áo quần ông quăng vội xuống sàn nhà. Áo thun trắng vẽ một vòng cung, đáp xuống, vắt một bên thành ghế. Cái mặt già cỗi vùi vào khoảng trũng dưới chiếc bụng thon. Gã trung niên mê man nhưng vẫn đủ tỉnh táo để chờ những phản công cuối cùng của thành trì thời con gái. Sẽ đẩy ra hoảng hốt, sẽ cuống cuồng kéo lại cái zipper, sẽ chống tay ngồi dậy, sẽ khoác vội lên mình bất cứ thứ gì quơ quào bắt được đầu những ngón tay. Như bất kỳ người con gái nào khác; như bao nhiêu con gái, như bao nhiêu đàn bà đã qua trong đời. Với cô, ông sẽ nghe những chữ nửa Anh nửa Việt. No, I don’t want to. Đừng. I don’t like it. Không thích vậy đâu.
Cuốn kinh thân xác với thịt da thơm mùi giấy mới mở ra trước đất trời ông những trang huyền hoặc.
Chữ nghĩa sắp hàng trong đầu, sẵn sàng tuôn ra. Vô số những lời dỗ dành. Please. Sẽ phải please thật nhiều. Không gì dễ nói bằng please. Không cần phải vội vã I love you. Chuyện gì phải đến, sau này sẽ đến. Tình yêu là chuyện lâu dài. Còn chuyện thể xác, chuyện mê đắm. Chuyện having sex. Không thể nào ngừng, bé ơi. Gã trung niên tự nhủ sẽ rất nhẹ nhàng. Sẽ đẩy vào thong thả. Cô sẽ không đau. Cô học lớp mười ba ở Canada, cô thừa biết chuyện tình dục. Dù chưa làm bao giờ thì cô cũng vẫn biết chuyện tình dục nó ra làm sao. Tụi học trò bên này quỷ quái gấp ngàn lần bọn học trò bên ông thời trước. Ông phải chỉ cho cô biết thế nào là ân ái. Tụi tây chỉ biết làm tình, ít đứa biết ân ái như người Á đông mình. Ông sẽ chỉ cho cô biết thế nào là ân ái. Năm tới cô vào đại học, cô sẽ có bồ, rất nhiều hy vọng sẽ là bồ tây. Lúc ấy ông có vun xới, đắp bồi đến thế nào đi nữa thì tòa lâu đài ông dựng lên cũng chỉ là phù phiếm. Ý nghĩa biện hộ cho ông.
Gã trung niên yên tâm xua quân chiếm đoạt. Gã trung niên vùi mặt vào khoảng trũng dưới bụng cô, để đánh lạc hướng, để cô không để ý được tới những ngón tay gian manh đang đẩy xuôi cái zipper. Rồi cái mặt có những nếp nhăn của gã học trò già tuồi lên phía trên ngực người con gái. Để hai bàn tay rảnh rỗi tuột cái quần jeans đang vướng lại ở hai mảnh xương hông.
Chợt bàn tay người con gái rời khỏi cái lưng trần của người đàn ông, chạy xuôi xuống hai bên thân thể, tiếp tay với ông, kéo chiếc quần xuống khỏi khoảng hông. Ông mừng rỡ nhổm dậy, gỡ những vướng víu còn sót lại trên cặp đùi trắng muốt.
Và ông đổ xuống thân thể cô cái ham muốn không dây cương nào chế ngự.
Đã chuẩn bị cho một tiếng kêu não lòng; đã chuẩn bị cho một cái tát tai nảy lửa; ông chuẩn bị luôn cho cả cái trầy trật, vất vả, vượt đèo lội suối, trần ai lai khổ trước khi có thể vào sâu được trong thân thể người con gái vừa qua tuổi dậy thì. Lòng ông cuống quýt khúc thánh ca rực rỡ hào quang cho một lần động phòng hoa chúc. Thiên thần của đời sống. Thiên thần của riêng anh. Từ giây phút sắp tới đây. Người con gái ngây thơ duy nhất còn sót lại trong cái thành phố Bắc Mỹ nói tiếng Anh này sẽ thành đàn bà. Người đàn bà trẻ thơ. Người đàn bà mới dậy thì sáng hôm qua.
Anh sắp yêu em đây, em nhỏ. Em sắp là của anh đây, hỡi thiên thần trẻ con.
Người con gái mở rộng cặp đùi. Ông nhìn đăm đăm hai con mắt trẻ thơ, ông đón bắt một nét thất thần. Ông ôm ghì lấy thân thể mượt mà. Ông hít hà mùi của thịt da.
Nhưng bỗng dưng ông nhận ra mình đã lọt sâu vào thân thể cô tự lúc nào. Không một cái ngắt quãng của hơi thở. Ông ngỡ ngàng như người bước hụt. Thôi thì cứ mê muội. Lúc này có ngừng cũng không được. Ông nghe hơi thở mình ngắt quãng. Ông nghe hơi thở cô hình như cũng ngắt quãng ít nhiều.
Khăn trải giường trắng. Chiếc nệm dày. Êm. Chiếc gối mầu hồng.
Những hình ảnh đập vào mắt ông. Sẽ in sâu vào trí nhớ. Không tiếng thét não lòng. Không vật vã, không quằn quại. Ông hụt hơi leo dốc. Những ý nghĩ nổi loạn trong đầu. Thua rồi. Thua mấy thằng nhóc tóc vàng tóc nâu trong trường trung học của cô rồi. Tụi nó đã dẫn cô đến nơi ấy trước ông. Người con gái mới qua tuổi dậy thì sáng hôm qua.
Thua thật rồi.
Cả một lâu đài nhòe nhoẹt đổ xuống trước mắt, gã trung niên vùi mặt lên cái khoảng tối tăm ẩm ướt mà tủi thân. Rồi ông thong thả lau chùi. Rồi ông mặc quần áo cho cô, như người y tá ân cần chăm sóc bệnh nhân. Đầu óc nặng nề, ông tránh nhìn vào mắt cô. Cô cũng tránh nhìn ông.
Rồi ông lặng lẽ đưa cô về. Lúc về gần tới nhà, cô xoay qua hỏi ông, ngôn từ mỏng mảnh.
“Why are you crying.?”
***
“I’ve just got an English name.” Nàng đánh thức người đàn ông ra khỏi cơn độc thoại nặng trĩu ưu tư.
“Really?” Gã xoay qua nhìn nàng. “Tên gì?”
Nàng đọc cái tên cùng với sự phấn khởi trong giọng nói.
“Beautiful name.”
Nàng cười.
“Có ai chọn dùm không?”
“No, coi trong cuốn sách baby’s name.”
“Good. Nhớ giữ cuốn sách.”
“What for?”
“Mai mốt cần.”
Nàng cau một bên mày. Rồi đôi môi khẽ nở ra một nụ cười. Người đàn ông cười theo.
“Can I ask you something?”
Một buổi chiều. Mưa. Họ ngồi trong xe với nhau như vẫn thường ngồi chiều này qua chiều khác. Chạy vòng vòng qua bao nhiêu phố phường vẫn chưa hết mưa. Lâu lâu, ngừng xe lại bên đường. What are you doing. Cô hỏi bằng vành môi cong và con mắt ướt. Người đàn ông gài số xe, thận trọng tháo dây thắt lưng an toàn rồi xoay qua ôm lấy vai người con gái. Whaaaat. Vẫn tiếng what kéo dài lên bổng xuống trầm, như khúc nhạc ngắn. What nhưng ánh cười trong mắt.
Người đàn ông vòng tay ra sau vai dễ thương, níu nhẹ đôi vai mềm lại gần, rụt rè hôn lên đôi môi hồng. Bao nhiêu lần như thế, và lần nào dễ thương cũng nhắm hờ đôi mắt, và đôi môi đón chờ nụ hôn người đàn ông một cách nhiệt tình.
Rồi ông thong thả buông cô ra, vuốt nhẹ sợi tóc vương trên má người con gái.
“Biết tại sao phải ngừng xe không?”
Cô ngơ ngác nhìn, đôi con mắt ngạc nhiên.
“Tại vì dễ thương quá.” Ông thấy mình cải lương Hồ quảng nhưng ông biết mình nói thật. Ông thấy đôi con mắt cười; cả đôi môi cũng cười. Và ông cho xe chạy lướt đi.
“Ô kê. Bây giờ hỏi đi.”
“You like children?”
Gã trung niên lặng yên, đo lường những ẩn ý nằm sâu trong đôi mắt đen nhánh. Rồi, rất nhiệt tình, gã dịu dàng yes và ngập ngừng hỏi lại why. Trong đầu gã bập bềnh những ước mơ ngoài tầm tay với. Có cô vợ mười chín đôi mươi ở cuối đoạn đường trung niên là cả một điều hãnh diện lớn lao. Gã nhớ Picasso. Bỗng dưng chỉ nhớ được mỗi một Picasso tám mươi tuổi có người tình ngoài hai mươi mặc dù trước đây gã có nguyên một danh sách những người đàn ông có vợ hoặc người tình đáng tuổi con, tuổi cháu.
“You want to do me a favour?”
Làm ơn. Do me a favour. Tiếng nước mình, tiếng nước người. Do me a favour tiếng nước người nghe đơn giản. Làm ơn, tiếng nước mình, nghe nặng nề, có phải vì đôi khi còn kèm hai chữ mắc oán theo sau.
“Được không?” Nàng nhắc.
“Được chứ. Mà cái gì?”
“You promise.”
Nàng gài gã trung niên vào thế kẹt. Người đàn ông lừng khừng. Hứa-với nàng-có thể là chuyện đơn giản như làm giùm bài luận văn về những chủ đề chính trong The Catcher in the Rye của J.D. Salinger nhưng cũng có thể là chuyện về Việt Nam, lên rừng Ban Mê Thuộc, tìm cho được con cọp, lấy miếng cao hổ cốt.
“Nói thử xem.”
“You không promise thì thôi.”
Cái giọng của Dễ Thương tẩm với nước mưa. Cái giọng ẩm ướt, buồn như gỗ mục.
Gã vội vàng, “Thì hứa.”
Nàng đưa ra một ngón tay cho gã móc. Gã ngoan ngoãn móc ngón trỏ vào ngón tay trỏ của nàng.
“Rồi nói đi.”
“You hứa do me that favour.”
“OK.” Hắn kéo dài hai chữ OK suốt một quãng đường, tới khi xe ngừng ở đèn đỏ. Nàng bật cười vì cái hơi dài của người đàn ông.
Gã quay qua nhìn nàng. Trong cái nhá nhem của buổi chiều mưa cuối tháng Sáu, gã thấy nàng đẹp và dễ thương như thiên thần đi lạc.
“I will do anything to make you happy.”
Nàng đặt bàn tay mát lạnh lên cánh tay trần của người đàn ông. Đó là lần đầu tiên nàng đặt tay lên tay gã. Một luồng cảm giác lạ lùng tỏa ra từ những đầu ngón tay người con gái làm người đàn ông ngây ngất. Gã nhìn xuống bàn tay nhỏ bé của nàng và gã thấy rõ những vòng ánh sáng tỏa ra từ năm đầu ngón tay nàng, bập bềnh như một mảng sương sa mỏng, mềm, thường thấy đầu những ngọn lá những ngày mùa đông rất lạnh ở núi đồi cao nguyên thời nhỏ dại.
Cho dù đầu óc gã bị nhiễm những cảnh trong phim ảnh thần thoại, huyền hoặc với phép phù hôn ám mà thấy như vậy nhưng cái cảm giác tê tê trên thịt da nơi tiếp xúc với bàn tay người con gái là điều hoàn toàn có thật. Thiên thần. Người đàn ông thì thầm. Thiên Thần. Thiên thần của tôi.
“Nói nghe đi,” người đàn ông dịu dàng khuyến khích.
“Phải hứa không được la me nữa đó.”
“Cũng ô kê luôn.”
Nàng cười, nhưng con mắt buồn. Long lanh nỗi buồn như người đàn ông vẫn bắt gặp nơi những người con gái thuở trước trong thi ca.
***
Cuối cùng, ông quyết định không nghĩ đến điều đó nữa, bởi ông thấy mình không làm điều gì sai trái. Đời người ngắn ngủi. Tâm trí đâu bận rộn những chuyện không đâu. Ông đứng dậy, bấm công tác điện bình nước. Rồi ông trở lại ghế ngồi. Sáng nào cũng vậy. Cuốn sách nằm trên mặt bàn. Cây bút viết mầu đen. Xấp giấy trắng trơ vơ như chờ đợi một điều gì khác thường. Ông nhìn quanh căn phòng trống trải. Lâu lắm không làm được điều gì. Ngày hai mươi lăm tuổi, người bạn học trò đã bảo, ở tuổi này nếu có tài thì đã có rồi. Hồi đó ông mới ngoài hai mươi. Bây giờ tuổi tác đã chồng lên quá con số nhân đôi của cái thời hoa mộng ấy. Và ông thấy mình vẫn chưa làm được điều gì khả dĩ coi được. Tiếng nước sôi réo gọi. Hơi nước ngùn ngụt bốc lên từ vòi cái ấm nhựa. Ông chậm rãi đứng lên, mở hộc tủ lấy một gói cà phê Việt Nam, xé một góc, đổ vào chiếc ly thủy tinh cũ. Bột cà phê quẫy động, bọt nâu sủi lên ngầu đục. Ông khuấy chiếc muỗng vào lòng ly. Tiếng thủy tinh kêu lanh canh như đánh thức cái xôn xao ngái ngủ trong đáy lòng. Lâu lắm mới tìm lại được cái xôn xao mới lớn. Năm sáu năm trời ngủ yên, bây giờ thấy lại cái xôn xao. Ông vẫn nghĩ mình không làm điều gì sai trái. Ông đưa ly cà phê lên môi. Thành ly mịn màng, như đôi môi người con gái. Đôi môi thiên thần bé nhỏ của riêng ông.
Thằng bé lăng xăng đạp chiếc xe ba bánh vòng vòng trong phòng khách. Người đàn ông mắt nhắm mắt mở nhưng cũng cố rõi mắt nhìn theo. Thằng bé chạy quanh cái bàn gỗ rồi len lỏi đẩy chiếc xe vào khoảng cách giữa cái bàn và chiếc ghế sa lông dài. Một bánh xe sau vướng lại sau cạnh bàn. Thằng bé cố bậm môi, cong người đạp. Chiếc xe không nhích đi được chút nào.
“Dad.” Tiếng gọi lanh lảnh. “Daddy.”
Mãi đến bây giờ mới có người gọi ông là daddy.
“Lui lại mới qua lọt được.” Người đàn ông nói bằng giọng khàn khàn.
Thằng bé ngước nhìn người đàn ông, nét van nài trong ánh mắt.
“Daddy, help.”
“Okay. Chờ chút.”
Người đàn ông nhẫn nại chống tay đứng dậy, xỏ chân vào đôi dép cao su mầu đen, lững thững bước về phía thằng bé.
“Where’s mom?”
“Nói tiếng Việt.” Giọng ông lạnh băng.
“Mẹ đâu?” Thằng bé cũng cộc lốc.
“Mẹ đi học.” Ông cộc lốc như trả thù.
“Again?”
“Yes.”
Ông trả lời với chút ẩm ướt trong giọng nói. Chút uất ức nào đó, chút giận hờn nào đó không tên gọi. Ông lặng lẽ giúp thằng bé đẩy bánh xe qua một bên cho chiếc xe đi lọt.
“Thanks, dad.”
“Don’t call me dad.”
Ông gầm gừ như con báo bị cướp mất miếng mồi. Thằng bé ngước mắt nhìn ông, ngơ ngác.
“Đạp xe được rồi,” ông nhắc, giọng dịu lại.
Thằng bé vẫn sững sờ nhìn ông. Mầu nước biển của đôi mắt trẻ thơ xoáy vào tim ông những con sóng lao xao. Mầu biếc xanh của một thứ hy vọng mượt mà. Nhưng không phải mầu con mắt của mẹ nó. Không phải con mắt của Thiên Thần. Con mắt biếc xanh ngả qua mầu đỏ, như ráng chiều, như mặt trời vỡ loang những vạt máu trên bãi hoang, bên bờ biển vắng. Con mắt hờn ghen, con mắt của vết đớn đau tột cùng. Và những giọt ứa ra ở khóe bờ biển xanh. Tiếng sụt sùi kéo người đàn ông trở về với cõi thực của cuộc đời.
“Don’t cry.” Ông quên mất tiêu rằng mình vẫn nhắc thằng bé nói tiếng Việt. “I’m sorry. Đừng khóc.”
Ông đặt tay lên đầu thằng bé, những ngón tay vùi vào mớ tóc rậm nhưng mịn màng trăm ngàn sợi nhỏ quăn cuốn vào nhau.
“When will mom be back?”
“Nói tiếng Việt.”
“Chừng nào mẹ về?”
“Tối mẹ về.”
Thằng bé phụng phịu. Người đàn ông ngồi xuống, đưa tay bồng thằng bé lên.
“Đừng khóc. Mẹ đi học, mai mẹ về. Lại coi ti-vi với daddy.”
Ông đặt thằng bé xuống ghế. “Dựa lưng chỗ này êm này. Con thích coi phim gì?”
Chiếc nệm ghế trũng xuống dưới sức nặng của ông và thằng bé. Chiếc ghế nệm cũ, bất cứ sức nặng nào cũng làm trũng xuống được. Ông nhìn một đầu ghế bạc mầu. Mái tóc thiên thần xõa trên ấy. Những sợi đen nhánh, như những nhánh sông, như trăm ngàn ngả rẽ của dòng sông mùa nước lớn. Mùa ân tình. Môi hồng nở tròn như con cá mắc cạn, như con cá hớp nước. Thiên thần đi lạc xuống dương gian.
“Beauty and the Beast.”
“À, phim Beauty and the Beast.”
Cuốn phim mua tặng mẹ bây giờ thằng con đòi coi đi coi lại hoài. Ông thầm nghĩ.
“What’s mom doing now?” Thằng bé bỗng hỏi.
Giờ này Thiên Thần đang làm gì ở Sài Gòn nhỉ. Ông loay hoay tìm câu trả lời. Thiên Thần về quê thăm mẹ. Ba tuần nữa mới trở lại.
Ông bỗng nhớ một cảnh trong phim. Quái vật bắt giam người con gái, nhưng đành thả cho nàng về thăm cha bệnh nặng. Quái vật nghĩ nàng sẽ không bao giờ trở lại. Nhưng khi quái vật bị trúng thương, giữa lúc thập tử nhất sinh, người con gái trở lại. Ông nhớ hoài mẩu đối thoại trong phim. You come back. Of course, I come back.
Còn Thiên Thần của ông. Nàng có trở lại không. Và ông? Có điểm nào để nàng nhìn ông thành quái vật.
“Dad!”
“Cái gì?”
“What’s mom doing now?”
“Mom’s with granny.”
“I want…”
“Thôi không want gì hết. Coi phim. Mở lên đi. Turn it on. Và không được nói chuyện khi coi phim nghe chưa. Okay?”
Nhớ em muốn khùng. Mẹ gì đi xa đến nửa vòng trái đất mà không gọi về hỏi thăm con đến một lần. Người đàn ông lẩm bẩm.
“Dad, đừng la me mà.”
Ừ thì không la. Mẹ bắt hứa trước không được la, con cũng giao hẹn không la.
Người đàn ông lặng lẽ lắc đầu. Hôm nay chắc không ngủ sớm được rồi, ngày nào cũng phải thức sớm đưa thằng bé lại chỗ gửi trẻ rồi đi làm trễ thế này chắc bị đuổi việc sớm. Thiên Thần ơi, where the hell are you now?
Chiều buồn buông xuống dòng sông Mặt trời rơi ráng mây hồng bồng phiêu Sông xa bèo dạt cô liêu Đôi bờ nắng tắt bóng chiều hoàng hôn Trên sông khói sóng mênh mông Em về đâu hỡi! Muôn trùng viễn khơi! Chiều đây hoa sóng bóng người Áo xưa hồng ánh rạng ngời sóng xao Cuốn hồn tôi đuối phương nào Bay theo tà mộng nắng màu thu phai! Bến xưa sông lạnh chiều nay Trầm âm phố cũ cuối ngày thở than Người yêu ơi! Giấc mơ tàn Sóng xô lệch kiếp trăng vàng mộng bay Tôi về sương khói trên tay Trần gian mộng ảo bóng mây hư chiều Đã về đâu gió hương yêu? Em ơi! Nắng tắt bóng chiều hoàng hôn Chiều buồn buông xuống dòng sông Hồng phai sóng vỗ mênh mông là buồn!
Bé thơ ơi cuộc đời em viên sỏi Khóc một lần nước mắt chảy thiên thu
– Viên kẹo tròn này để dành cho Mẹ Viên kẹo vuông này để lại cho Ba Viên kẹo nhỏ này để qua cho chị Viên kẹo lớn này để lại cho em Còn viên kẹo thật to này… là phần Bé đấy
Bên bờ biển Palawan Có một em bé gái Tuổi mới chừng lên sáu lên năm Đang ngồi đếm từng viên sỏi nhỏ Và nói chuyện một mình Như nói với xa xăm
– Em đến từ Việt Nam Câu trả lời thường xuyên và duy nhất Hai tiếng rất đơn sơ mà nhiều người quên mất Chỉ hai tiếng này thôi Em nhớ kỹ trong lòng
Em chỉ ra ngoài Đông Hải mênh mông Cho tất cả những câu hỏi khác
Mẹ em đâu? – Ngủ ngoài biển cả
Em của em đâu? – Sóng cuốn đi rồi
Chị của em đâu? – Nghe chị thét trên mui
Ba em đâu? Em lắc đầu không nói – Bé thức dậy thì chẳng còn ai nữa
Chiếc ghe nhỏ vớt vào đây mấy bữa Trên ghe sót lại chỉ dăm người Lạ lùng thay một em bé mồ côi Đã sống sót sau sáu tuần trên biển
Họ kể lại em từ đâu không biết Cha mẹ em đã chết đói trên tàu Chị của em hải tặc bắt đi đâu Sóng cuốn mất người em trai một tuổi
Kẻ sống sót trong sáu tuần trôi nổi Đã cắt thịt mình lấy máu thắm môi em Ôi những giọt máu Việt Nam Linh diệu vô cùng Nuôi sống em Một người con gái Việt
Mai em lớn dù phương nào cách biệt Nhớ đừng bao giờ đổi máu Việt Nam Máu thương yêu đã chảy bốn ngàn năm Và sẽ chảy cho muôn đời còn lại
– Viên kẹo tròn này để dành cho Mẹ Viên kẹo vuông này để lại cho Ba Viên kẹo nhỏ này để qua cho chị Viên kẹo lớn này để lại cho em Còn viên kẹo thật to này… là phần Bé đấy
Suốt tuần nay em vẫn ngồi Một mình lẩm bẩm Ngơ ngác nhìn ra phía biển xa xôi Như thuở chờ Mẹ đi chợ về – Thật trễ làm sao Em tiếp tục thì thầm Những câu nói vẩn vơ Mẹ ngày xưa vẫn thường hay trách móc Em cúi đầu nhưng không ai vuốt tóc Biển ngậm ngùi mang thương nhớ ra đi Mai này ai hỏi Bé yêu chi Em sẽ nói là em yêu biển
Nơi cha chết không trống kèn đưa tiễn Nơi tiếng chị rên Nghe buốt cả thịt da Nơi Mẹ chẳng về dù đêm tối đi qua Nơi em trai ở lại Với muôn trùng sóng vỗ
Bé thơ ơi cuộc đời em viên sỏi Khóc một lần nước mắt chảy thiên thu.
Trong cuộc chiến xâm lược của Nga vào Ukraine có một bài thơ được cho là của một chiến binh Ukraine với tựa đề “ I ‘m soldier born to die “ được nhiều ngươi phỏng dịch sang tiếng Việt. Tôi có đọc nhiều bài dịch nhưng không thấy ghi tên tác giả và nếu có thì tên và nguồn không giống nhau . Do đó tôi đâm ra tò mò nên leo lên google tìm nguồn gốc nguyên tác của bài thơ
Sau khi tìm nhiều nguồn tôi thấy nguồn từ WikipediA là khả tín nhất . Theo Wiki thì tác giả bài thơ là Tim O’Brien viết trong cuốn tự truyện về chiến tranh Việt Nam được nhà xuất bản Delacorte Press xuất bản năm 1973 tại Hoa Kỳ . Như vậy đây là bài thơ xuất xứ tử thời chiến tranh VN chứ không phải trong chiến tranh Ukraine . Tuy nhiên trong cuộc chiến tranh nào cũng vậy những người lính cầm súng để bảo vệ tự do đều không màng sống chết . Súng đạn muôn đời vô tri không có mắt nên khi người lính xung trận có thể ngã xuống bất cứ lúc nào . Vì thế trước lúc lên đường đối đầu với địch thì những lời người lính gửi gắm lại xem như lời trăn trối bởi vì khi tự nguyện dấn thân vào đời lính thì được xem như chấp nhận hy sinh để cho tổ quốc được tồn sinh . Thời khắc và không gian khác nhau nhưng ý nghĩa cầm súng của người lính Ukraine và người lính Việt Nam Cộng Hoà giống nhau đó là họ bảo vệ lãnh thổ khi bị nước khác xâm lăng
Năm 1969 Tim O’Brien được đưa đến chiến trường Việt Nam đã chứng kiến nhiều đồng đội anh dũng hy sinh và cái chết của người lính nhẹ tựa lông hồng . Xúc cảm về những thiên bi hùng ca đó ông sáng tác bài thơ này và tôi đã cố gắng chuyển thể sang tiếng Việt theo thể thơ 8 chữ ở phía dưới
I’ M A SOLDIER BORN TO DIE
if I die in a war zone, box me up and ship me home. Put my medals on my chest, Tell my mom i did my best. Tell my father not to bow, he won’t get tension from me now. Tell my brother to study perfectly, keys of my bike will be his permanently. Tell my sis not to be upset, Her bro will not rise after this sunset, Tell my love not to Cry… ‘Because I am a soldier born to die….!
Tim O’Brien
* Dưới đây là bản dịch của Quan Dương
TÔI LÀ LÍNH SINH RA LÀ ĐỂ CHẾT
Nếu tôi chết mai này nơi chiến địa Xác của tôi xin gói gởi về nhà Đặt lên ngực tấm huy chương tôi có Nói với mẹ rằng con đã đi xa Nói với cha không còn lo lắng nữa Từ bây giờ đầu hết cúi vì con Nói với em hãy chăm lo học giỏi Chiếc xe này chìa khoá giao lại em Nói với chị hoàng hôn nay đã tắt Tôi sẽ không thức dậy lúc chiều buông Nói với người yêu xin em đừng khóc Lính sinh ra là chết ở sa trường
Quan Dương
* Dịch từ bài thơ I’AM A SOLDIER BORN TO DIE của TIM O’BRIEN
Trong những ngày cuối cuộc chiến Việt Nam, chiến dịch di tản các trẻ em mồ côi sang Hoa Kỳ với tên gọi Operation Babylift đã được thực hiện theo sự chuẩn thuận của Tổng Thống Gerald Ford. Ông tuyên bố rằng, ” Trong khi truy điệu những người đã mất, chúng ta không thể quên những người còn sống” để không chỉ có kế hoạch di tản hàng chục ngàn nhân viên người Việt, mà còn có thêm một chiến dịch dành riêng cho trẻ mồ côi được di tản bằng phi cơ quân sự, có ngân sách khoảng hai triệu đô la. Theo số liệu từ bộ phim tài liệu Precious Cargo của PBS, đã có ít nhất 2,700 trẻ em mồ côi VN được đưa sang Mỹ và khoảng 1,300 em được đưa sang Canada, Úc và Châu Âu trong sứ mạng nhân đạo này.
Rất không may là chiến dịch đã mở màn với một tai nạn thương tâm. Ngày 4 tháng 4 năm 1975, tin chiếc phi cơ C-5 bốc trẻ mồ côi Việt Nam sang Hoa Kỳ trong chiến dịch Operation Babylift gặp nạn, gây thiệt mạng 153 trẻ em, phi hành đoàn, nhân viên thiện nguyện và nhân viên văn phòng DAO tại Sài Gòn đã gây bàng hoàng và xúc động cho những người theo dõi tình hình chiến sự tại Nam Việt Nam.
Chiếc phi cơ C-5 mang số hiệu 68-0218 cất cánh từ phi trường Tân Sơn Nhất sang căn cứ Clark Air Base tại Phi Luật Tân vào chiều thứ Sáu, là chuyến bay đầu tiên chở các trẻ em mồ côi VN được đưa sang Mỹ trong chiến dịch này. Theo kế hoạch dự tính, các em sẽ tiếp tục được chuyển sang máy bay dân sự từ Phi Luật Tân để bay tiếp đến San Diego với sự chào đón của chính Tổng Thống Ford ngay phi trường. Dù tai nạn thảm khốc xảy ra đã gây thiệt mạng gần một nửa trẻ em và các nhân viên trên phi cơ, chiến dịch vẫn được tiếp tục. Và cũng không vì điều này mà có thể cản chân hàng chục y tá trẻ người Mỹ, đang làm việc tại Hồng Kông đã quyết định tình nguyện bay sang Sài Gòn để giúp đưa các trẻ em VN về Mỹ.
Một thương gia Mỹ là ông Robert Macauley đã cầm nhà mình để lấy tiền thuê một chiếc Boeing 747 của hãng hàng không Pan Am, tiếp tục bốc dỡ những trẻ em sống sót, khi ông biết rằng các phi cơ quân đội phải mất hàng tuần để đưa các trẻ em này sang Mỹ. Câu chuyện trở thành một cổ tích tuyệt đẹp giữa những đổ nát, thương đau của buổi ly loạn trong giờ phút cuối cùng của miền Nam tự do. Không chỉ câu chuyện đầy tình người của Robert Macauley gây xúc động, mà cả chiến dịch nhân đạo Operation Babylift có lẽ sẽ mãi còn là câu chuyện đẹp trong chiến tranh Việt Nam cho những ai nhìn lại ở một góc nhỏ khác.
Những ngày đầu tháng Tư năm 1975, tình hình chiến sự tại Nam Việt Nam xem ra đã thay đổi nhanh chóng, nhất là từ sau khi Ðà Nẵng bị thất thủ. Các tổ chức quốc tế giúp đỡ và nuôi trẻ mồ côi tại Việt Nam đã có những kế hoạch riêng để di tản các trẻ em này cùng nhân viên của họ. Nhưng với kế hoạch di tản chính thức từ Tổng Thống Gerald Ford, hàng ngàn gia đình người Mỹ đã sẳn sàng đón nhận các em bé mồ côi này. Theo dự định ban đầu, khoảng 30 chuyến bay sẽ di tản hàng chục ngàn trẻ mồ côi sang Mỹ. Trên thực tế, vì tình thế thay đổi quá nhanh cũng như vì sự an toàn nên con số cuối cùng chỉ còn tổng cộng khoảng 4,000 em được di tản.
Ðây là nỗ lực của chính phủ Hoa Kỳ cùng một số các tổ chức quốc tế như Holt, Friends of Children of Vietnam (FCVN), Friends for All Children (FFAC), Catholic Relief Service, International Social Services, International Orphans và The Pearl S. Buck Foundation thực hiện. Không chỉ với các phi cơ vận tải C-5 của quân đội, còn có hàng chục chuyến bay dân sự lớn nhỏ khác cùng tham gia việc di tản đến tận ngày 26 tháng Tư, khi phi trường Tân Sơn Nhất đã bị pháo kích.
Theo lời bà Joyce Harrington, một nữ y tá trong nhóm bác sĩ và y tá người Mỹ tình nguyện từHồng Kông bay sang Tân Sơn Nhất, có cả phu nhân Ðại Sứ Hoa Kỳ tại Hồng Kông tham gia chiến dịch này. Họ đã nghe tin về chuyến bay gặp nạn cũng như tình hình chiến sự Việt Nam đang giao tranh khốc liệt, không phải không lường được bất trắc có thể xảy ra, nhưng chẳng có gì ngăn cản bước chân họ trong sứ mạng cao cả đến với những em bé mồ côi đang cần sự giúp đỡ kia. Có cả một số cha mẹ nuôi đã bay thẳng sang Việt Nam để cùng tham gia nhóm nhân viên thiện nguyện, chăm sóc các em trên đường về Mỹ.
Ðây là sứ mạng mà những người từng tham dự cho rằng những thiện nguyện viên, những vị nữ tu, những nhân viên các tổ chức cứu trợ trực tiếp tham gia là những con người có tấm lòng hy sinh cao cả, làm xúc động lòng người. Trong cuốn hồi ký “Đây đích thực là người anh em tôi” (This Must Be My Brother), bà LeAnn Thieman – một y tá trẻ thiện nguyện lúc bấy giờ kể rằng, trên chuyến bay mà bà tham gia, có một người đàn ông tóc muối tiêu lặng lẽ và vụng về thay tả cho các em bé. Nhiều người không biết ông là người có vợ bị tử nạn trên chuyến bay đầu tiên gặp nạn nói trên.
Một đường dây điện thoại khẩn cấp được thiết lập tại Washington D.C để những cha mẹ nuôi tương lai gọi đến các nhân viên các tổ chức lo vấn đề con nuôi. Bên cạnh hàng ngàn gia đình Mỹ, có cả một số tài tử, chính trị gia, triệu phú, nhận các em bé Việt Nam làm con nuôi. Melody, em bé còn sống sót trên chuyến phi cơ C-5 Galaxy gặp nạn là em bé mồ côi đã được tài tử Mỹ gốc Nga Yul Brynner chờ đón để nhận nuôi. Chính Brynner đã mượn phi cơ riêng của tỉ phú Hugh Hefner, chủ nhân tạp chí Playboy để đưa Melody cùng khoảng 40 em bé khác sang New York. Hay như Kym, một bé gái mồ côi Việt Nam đã may mắn được em gái Tổng Thống Kennedy là bà Jean Kennedy Smith nhận làm con nuôi.
Những em nhỏ từng được di tản trong sứ mạng Babylift ngày ấy nay đã là những người quá tuổi trung niên, trên dưới 50. Ðược các gia đình người Mỹ nuôi nấng từ nhỏ, theo các tự bạch trên các trang mạng, một số người thú nhận rằng họ không hề có những khái niệm hay sự liên hệ gì đến Việt Nam cùng quá khứ. Dù vậy, cũng đã có khá nhiều những trang mạng được thiết lập để những người trong cuộc tìm lại với nhau. Hay thông qua sự bảo trợ của một vài tổ chức cùng giới truyền thông, một số người cũng đã quay về Việt Nam sau vài chục năm với những cảm xúc lẫn lộn, kể từ khi họ được đưa sang Mỹ. Phần lớn là sự tò mò hơn là để tìm lại cội nguồn.
Trong bài thơ “Bản thể” (Identity) mà Jane Burns, một cô bé năm tháng tuổi ngày nào, đã viết bài thơ dài, so sánh giữa người mẹ ruột đã từ bỏ mình trong chiến tranh loạn lạc cùng người mẹ nuôi của mình rằng:
“… I awake from this nightmare and am shivering uncontrollably Scenes of my biological mother have disappeared And in her place stands my mother. The woman who came to the airport to get me When I was just five months old. The woman who has been there to share My laughter My joys My tears And my sorrows. My mother tells me that even though I did not grow Under her heart, I grew in it. Someday, I may decide to return to my homeland, But for now, This is where I belong”
“… chợt rùng mình tỉnh giấc sau ác mộng mẹ ruột tôi đã biến khỏi giấc mơ chỗ bà đứng, chỉ còn mẹ tôi đó người đón tôi chiều phi trường năm ấy, đứa bé con chỉ vừa năm tháng tuổi người đã sẻ chia qua cùng năm tháng những tiếng cười niềm vui những giọt nước mắt ngậm ngùi cùng nỗi buồn của tôi người đã bao lần từng bảo mẹ chẳng cưu mang con trong bụng mà ấp ủ bằng trọn cả con tim ngày nào đó tôi sẽ về thăm đất mẹ còn bây giờ tôi thuộc về chính nơi đây”
(Đinh YênThảo chuyển dịch)
Không biết bao nhiêu sách báo và phim ảnh đã nói về Operation Babylift, nhưng quả chẳng thừa để nhắc đến sứ mạng nhân đạo chứa đầy tình người trong những ngày tháng Tư này. Bởi nhìn lại nỗ lực nhân đạo tột bực này từ nước Mỹ, từ không ít bao nhiêu tấm lòng bác ái và hy sinh của những thiện nguyện viên tham gia Operation Babylift, để nhắc rằng cũng với tinh thần nhân đạo đó, nước Mỹ đã cưu mang hàng triệu người Việt vượt biển cùng những người đến Mỹ qua các chương trình nhân đạo sau này. Nên nếu có ai đó viết câu thơ như Jane Burns rằng “Tôi thuộc về chính nơi đây” thì quả cũng là điều tự nhiên.
Người ở lại chia cùng tôi khổ nạn Ngày tháng tư vác thánh giá lên đồi Nghe hoang vắng ngọn cỏ bồng phiêu dạt Lay mơ hồ ký ức tuổi thơ tôi.
Đêm rơi vỡ những vì sao mê hoặc Hứng trên tay buốt lạnh hạt sương buồn Người cũng thế… chia cùng tôi ngọt đắng Bên kia bờ còn đau đáu vết thương.
Lời tận tuyệt vẫn xanh màu ảo vọng Ngày tháng tư vác thánh giá lên đồi Lỡ đánh mất một thiên đường mộng tưởng Đành buông tay… gió tạt buốt hiên đời…
THÁNG TƯ
Kính tặng những người chinh phụ
…Thuở lâm hành oanh chưa bén liễu Hỏi ngày về ước nẻo Quyên ca… ( Chinh Phụ Ngâm)
Mở trang Quân Sử Tháng Tư Hồn anh linh cõi mịt mù về quanh Mở trang Quân Sử…không đành Tìm thư các đọc tàng kinh… nghẹn ngào Rừng khô biển kiệt tâm hao Ngàn năm dâu bể biết đâu cội nguồn Thắp trong đêm một tàn hương Nghe quanh quất vó ngựa buồn đâu đây Nẻo quyên ca lỗi hẹn ngày Hồn theo ngọn gió về lay hiên người…
XIN LỖI CON
Ba không giữ được cho con Một nguyên vẹn , một giang sơn rạng ngời. Mai kia con bước xuống đời Tủi thân con có buông lời trách ba Nghẹn ngào viễn phố sương sa Nhánh Phong Du nhớ quê nhà trắng mây… Chọn thân phận, chọn lưu đày Nghe trong tan nát bóng ngày bay nghiêng Tiếng chim rã giọng ưu phiền Mộ ba nằm khuất bên triền cỏ lau…
Tháng ba Ngày của Việt Nam xưa hấp hối Tháng ba Ngày của Ukraine giờ tan hoang Ngày của ảo tưởng đen tối. Ngày của tham vọng điên cuồng Ngày của tội ác hiển hiện Ngày máu Thánh nhỏ xuống xót thương…
Tháng ba Những đứa trẻ gục ngã Những Thiên Thần cúi đầu Dâng lời cầu nguyện Về đâu? thế giới lầm than.
Tháng ba Chết cho lý tưởng Chết cho quê hương Chết trên chiến trường Chết trên đường di tản Về đâu? nhân loại điêu tàn.
Tháng ba Những đứa trẻ bị đưa vào trò chơi chiến tranh hoang mang sợ hãi. Những đứa trẻ lớn lên trong lẽ phải Tự tin khoác súng lên đường. Những đứa trẻ bị huyễn hoặc bởi âm mưu hoang tưởng điên khùng, Che mặt khóc khi nhận ra sự thật. Đã quá muộn vì những gì đã mất. Những hoang tàn đổ nát của thiện lương.
Sự thật là nỗi buồn. Sự thật là tai ương. Sự thật là máu và nước mắt…
(Tôi vẫn ngỡ hình như trên Thánh Giá Chúa rất buồn đang cúi xuống buốt đau …)