buổi sáng lạnh đón chân ngày
mở khung cửa hẹn ban mai mấy lời
giọt chuông ngàn trầm trầm rơi
làm tan sợi nắng lưng đồi gió reo
ơi suối đàn âm trong veo
ven rừng bươm bướm bay vèo mùa thu
vàng áo phai có thế ư
đầy vai lá úa gom từ hư không
hồn thế kỷ đầy mênh mông
giọt thu sương mới nhịp lòng nổi trôi
buổi sáng gầy thở ra hơi
một làn khói trắng tả tơi đâu ngờ
tờ hoa tiên khép phong thư
gửi đi hồi lại thực hư mơ hồ
sau lưng thành phố co ro
mùa sau rét mướt cơn mơ bão bùng
đeo lưng ngày tháng tận cùng
vườn hoang còn nụ hoàng dung lạ thường
cả rừng thu ôm tiếc thương
là vàng sắc đỏ nghìn phương nhớ người
hôm giận hờn chuyện một thời
chim nằm thôi hót im hơi buồn buồn
sợi tóc vương ở môi hôn
còn nguyên dấu tích trong hồn ô hay
Phạm Quang Trung
Monthly Archives: Tháng Chín 2021
SÀI GÒN VÀI CƠN KHỦNG HOẢNG
Rất nhiều năm trước đây, Sài Gòn đã có lúc “Đi ngoài đường thấy vắng vẻ buồn hiu. Những căn phố đóng cửa im ỉm. Những căn phố chết. Sài Gòn lúc ấy như là thành phố chết hay đang hấp hối”.Mỗi biến cố đến với Sài Gòn không giống nhau. Đợt đại dịch này hoàn toàn khác những lần trước đó, nhưng sự lo lắng và tổn thất về con người lúc nào cũng có.
Chỉ tính từ đầu thế kỷ 20, cuộc sống đời thường đã có những thời khắc vô cùng khó khăn, ảnh hưởng lớn đến cuộc sống hầu hết người dân Sài Gòn – Gia Định.Đó là thời gian khủng hoàng kinh tế thế giới bắt đầu từ 1929 đến giữa thập niên 1930. Ký giả Tế Xuyên kể tỉ mỉ câu chuyện này trên báo Đuốc Nhà Nam xuân Tân Hợi 1971. Năm 1932, ông từng thấy cả dẫy phố đường de la Somme (Hàm Nghi) – Catinat (Đồng Khởi) – Sabourain (Lưu Văn Lang) hầu hết bỏ trống khoá cửa, chỉ vài căn có người mướn. Chợ Bến Thành buôn bán ế ẩm, cho dù một con vịt quay treo tòn ten ở quán bán có 6 xu một con nhỏ, 8 xu con lớn. Gạo thì 4 cắc 4 giạ mà lại là thứ gạo nấu cơm mềm dẻo, thơm phức…Những kẻ thất nghiệp dám mướn phố lầu mà ở, những căn phố ở trung tâm, gần chợ Sài Gòn. Họ có cách để ở khỏi tốn tiền: chỉ xoay đủ tiền trả tiền phố tháng đầu, tới từ tháng sau không trả tiếp nữa, ở lì luôn cả năm. Khi người thâu tiền phố đến đưa biên lai thâu tiền thì chỉ cười trừ. Tiền đâu mà trả, người thâu tiền cũng thông cảm vì hoàn cảnh của thầy ta chắc cũng chẳng hơn gì người thuê nhà. Có khi ngượng quá thì lánh mặt, cho vợ con “đại diện” mà trả lời rằng: “Tháng này túng quá, thôi để tháng sau trả luôn thể”. Tháng sau? Rồi tháng sau nữa… kéo dài cả 10 tháng, 12 tháng như vậy. Người thu tiền thét rồi thối chí sau hai ba lần sẽ không đến nữa, báo cáo cho chủ đối phó. Đối phó cách gì? Nhiều lắm là đưa ra toà xin trục xuất thôi vì người mướn phố không có một món đồ gì đáng giá để tịch thu. Kẻ nghèo chỉ có vỏn vẹn một cái ghế bố để ngủ và một cái rương hay cái vali cũ kỹ đựng ba bộ quần áo rẻ tiền.Cái lối mướn phố “luân chuyển” đã thành kế sách của dân nghèo: ở căn này một thời gian rồi lại ở đến căn kia, trả tiền phố có một tháng đầu ở đến một năm hay 8 tháng, ít lắm cũng là 6 tháng.Đi ngoài đường thấy vắng vẻ buồn hiu. Những căn phố đóng cửa im ỉm. Những căn phố chết. Sài Gòn lúc ấy như là thành phố chết hay đang hấp hối. Nạn thất nghiệp tràn lan, kiếm được một việc làm là cả một cái may mắn như trúng “số đuôi”. Công chức, tư chức có “sở mần” rồi thì cố mà giữ lấy, cố chiều chuộng ông “sếp” để khỏi bể nồi gạo.Lao động lại càng cực khổ hơn vì phải đổ mồ hôi đổi lấy chén cơm manh áo và ít người có lấy một cái gì gọi là “nhà” để ở. Phần nhiều họ đóng đô ở ngay hàng ba với những căn phố trống. Với tất cả nồi niêu xoong chảo, cả thê tử đùm đề, họ sống cố thủ tại đó, vì có ai mướn căn phố ấy đâu. Đêm đến họ bẻ khoá cửa, di cư bớt bầy con vào ngủ trong nhà, sáng đến lại móc khoá và cửa để khoá hờ, khoá tượng trưng cho người quản lý dãy phố khỏi la rầy.Trước cơn bịnh kinh tế trầm trọng đó, một nhà thầu khoán ở miền Trung là Trần Quang An, từng học trường Công Chánh Hà Nội tự xưng là “Bác sĩ kinh tế” lên sân khấu một nhà hát ở Phan Thiết, diễn thuyết về nạn kinh tế khủng hoảng và tuyên bố đem tài “kinh bang tế thế” giải quyết nạn đồ thán cho đồng bào. Ông còn chạy vào Sài Gòn để kê toa, toan chữa bệnh kinh tế khủng hoảng cho toàn dân. Toa thuốc của ông giản dị lắm: tìm biết đúng nhu cầu hàng tháng của mỗi gia đình (bao nhiêu gạo, bao nhiêu than, bao nhiêu mắm muối, tương cà) phân phối cho từng nhà. Tóm lại là mua tận gốc bán tận ngọn, mua gộp lại để có thể trả giá rẻ. Một hình thức “hợp tác xã” nhưng bác sĩ kinh tế gọi là “Entrepots-Warrant”.Ông dùng Sài Gòn làm thí điểm. Ông in ra cả mấy vạn tập “câu hỏi” về nhu cầu bếp núc của mỗi gia đình, phát cho từng nhà xin trả lời để ông ước lượng số hàng phải mua dự trữ trong những “Entrepots Warrant” của ông. Ông thuê một dãy 24 căn phố trệt ở đường Jean Eudel (nay là đường Nguyễn Tất Thành) Khánh Hội, để làm kho chứa hàng. Nhưng ông thất bại lớn. Vì người Vỉệt Nam thế hệ trước quen sống với nếp sống cổ truyền “tén vén tương cà” đâu có hiểu lợi ích của một biện pháp kinh tế xa lạ mà họ còn nghi ngờ là một thủ đoạn gì đây? Toa thuốc kinh tế của “Bác sĩ” Trần Quang An chưa kịp cứu dân độ thế đã bị xếp xó, 24 căn phố của ông thuê bị bỏ trống cả năm rồi trả lại cho chủ phố.Các nhà buôn lỗ lã, bị đóng cửa vì vỡ nợ, vì khánh tận. Nhà băng Đông Dương, nền tảng của đại tư bản Pháp, quơ lưỡi hái mà giết chết thương gia nầy đến điền chủ kia. Chờ đến lúc các tiểu thương trung thương Pháp cũng khó sống, muốn nghẹt thở, chết ngộp. Đám thương gia Pháp cầm đầu, các cuộc biểu tình rầm rộ diễn ra ở Sài Gòn, trong các phòng họp nhóm. Họ la thét, thảo kiến nghị, đòi phá giá đồng bạc. Nhưng chỉ là tiếng kêu giữa bãi sa mạc, chẳng đi đến đâu vì phái đại lý tài Pháp vững như bàn thạch.Lúc đó, nếu ai có người thân ở nông thôn miền Nam để có thể về tạm trú trốn khủng hoảng kinh tế ở Sài Gòn thì thật là may mắn. Lúa bán không được, công việc làm ăn buôn bán ngưng trệ, song nông gia ở dưới đó vẫn sống đầy đủ. Gạo có sẵn, không bán được thì để ăn, dân quê không phải lo nạn đói. Nhà nào ở quê cũng chất lúa đầy lẫm, đầy kho, gà vịt nuôi cả bầy, không phải để bán mà để ăn hàng ngày. Ngoài ra nhà nào cũng có một hai lu mắm, cá đồng tràn trề không thiếu.**Đến năm 1945, Nam bộ kháng chiến, Sài Gòn – Gia Định tràn đầy binh lửa. Chú Nguyễn Cương Phú, một facebooker lớn tuổi đang sống ở Úc kể năm đó nhà chú đang sống yên bình với cửa tiệm giày dép guốc ở chợ Bến Thành. Một trái bom thả xuống chợ Bến Thành, làm sụp một góc chợ. Gia đình chú tản cư về Gò Công, đến khi quay trở lại thì tiệm tan hoang. Để lo một gia đình có của ăn của để, nhà từng có 8 người giúp việc, mẹ của chú trở thành bà bán cơm bình dân cho phu thợ ăn trong chợ Phú Nhuận, và chú phải đi giúp việc một thầy thuốc Đông y để được nuôi cơm. Lúc đó, nhà ông ngoại tôi bên Khánh Hội, trên đường Quai De La Marne (Bến Vân Đồn, quận 4) cũng đang lao đao vì ông ngoại, đang làm việc công sở Tây thì bị bệnh mắt, ánh nhìn ngày càng mờ dần. Bà ngoại tôi phải bán cái tiệm tạp hóa và một tiệm rượu có môn bài đang kinh doanh để lấy tiền chữa cho ông nhưng đành chịu thua vì bệnh không hết, khi các bác sĩ Pháp tập trung cho cuộc chiến. Sau cả nhà phải tản cư về Củ Chi và ông ngoại cũng mất cuối năm 1945. Trước đó, người anh lớn nhất của ông ngoại tôi khoảng năm 1944 bị chết trong một trận bom gần cầu Ông Lãnh. Rồi đến lượt cậu ruột tôi, Nguyễn Công Linh, đã lấy xong Đip-lôm, bị bệnh ban phải vô nằm nhà thương Dejean de la Bâtie (trung tâm cấp cứu Sài Gòn). Chỉ vài ngày sau, một trái lựu đạn nổ phía ngoài vách tường sát bên giường gây sức ép khiến cậu mất khi chỉ 22 tuổi. Ngôi nhà ông cố tôi ở Khánh Hội ly tán từ đó, may mà còn giữ được một phần căn nhà cho đến ngày nay.Ông anh lớn nhất của tôi còn ghi lại một câu chuyện năm 1953, lần đầu anh nếm mùi giới nghiêm khi đã về Phú Nhuận. Lúc đó, người chị thứ tư mới sanh. Chị có tật khóc cả đêm nên cả nhà vất vả vô cùng trong khi ba tôi đi vắng. Năm đó chiến sự vẫn còn tiếp diễn, lính Lê Dương được tăng cường đầy dẫy khắp Sài Gòn – Gia Định. Tối cứ đến tám giờ là giới nghiêm, ai ra đường không có lý do báo trước hoặc thấy bóng là bắn. Ai có việc bệnh hoạn sinh nở cần di chuyển phải cầm đèn bão đi theo, xét đúng mới cho đi. Chị Tư lại hay nóng sốt ban đêm, má tôi thường dùng khăn thấm giấm đánh lưng cho hạ nhiệt. Một đêm đã khuya, trán chị nóng quá, má rầu rĩ nói phải chi có được lá trầu về đánh lưng cho em hạ sốt. Nhà cách vườn trầu chỉ khoảng năm chục mét nhưng đi qua khỏang sân trống không phải là chuyện dễ dàng. Cái lô cốt có lính Lê Dương gác sừng sững trước mặt hễ thấy bóng người là bắn ngay lập tức. Thương em và thương cả má, anh tôi quyết định đi hái lá trầu. Chui ra khỏi nhà, anh bỏ lơ tiếng gọi giật của má, sát người xuống bò chầm chậm trong đêm tối. Anh kể chỉ năm chục mét đất trong vườn mà như dài dằng dặc tưởng chừng sẽ có một phát súng và mình ngã lăn ra, bỏ má và đứa em thơ. Ác liệt là đêm đó lại có trăng sáng. Anh vừa bò vừa van vái vong hồn ông bà phù hộ cho đến cây trầu, hái vội nắm lá trầu rồi bò về. Đến tới cửa nhà, mồ hôi đã ướt đẫm. Tôi lớn lên, sống ở Phú Nhuận khá êm đềm trừ vài lần đáng nhớ. Không khí chiến tranh trong mắt tôi chỉ là những hàng chữ chi chít trên báo Đại Dân Tộc, Trắng Đen, Điện Tín mà ba tôi mua đọc hằng ngày. Thỉnh thoảng có tin báo tử của những người đi lính trong xóm. Máy bay hàng ngày bay qua lại trên đầu, nhiều nhất là trực thăng. Nhiều lần con nít trong xóm phát hiện có “máy bay thả giấy” (truyền đơn) phía xa và chạy đi lượm. Giao thừa tết Mậu Thân, tiếng pháo bỗng nhiên rộn rã hơn rất nhiều. Tôi được hứa cho đi chơi vào ngày mùng Một. Sáng hôm sau, ba bảo cả thành phố giới nghiêm rồi, trên đài đã có lệnh chính thức nên không đi được. Đêm đó, cả nhà chui xuống nằm dưới bộ ván bằng gỗ sây rất cứng, có lót bao cát phía trên mà không biết ba tôi đã chuẩn bị từ bao giờ để tránh đạn lạc. Từ đó, khu xóm tôi thỉnh thoảng có những ngưới lính đội nón sắt hành quân đi ngang qua, đám con nít thấy thành nón của họ treo lủng lẳng vài gói nhỏ không biết là gì. Rồi tình hình dần êm ắng. Ông anh tôi bảo tết Mậu Thân coi vậy không căng thẳng bằng hồi đảo chánh ông Diệm hồi anh còn nhỏ vì lúc ấy nhìn lên trời thấy máy bay bắn nhau với khói đạn từng cụm và đạn rớt trên mái tôn rổn rảng.Đến tháng 4 năm 1975. Trước mái hiên, cả nhà tôi chứng kiến trên bầu trời phía sân bay Tân Sơn Nhứt có hai chiếc máy bay quần thảo nhau. Đêm 28 hay 29 tháng 4, tiếng súng ầm ì và tiếng đạn rớt như ai gõ vào chảo, cứ lanh canh, ục oạc gần xa. Sau đó là ngày 30 tháng 4 và sau đó nữa là hơn chục năm sống thời bao cấp. Cùng với bao người, gia đình tôi trải qua những tháng ngày khó khăn. Nhiều gia đình khổ sở vì có người thân ra đi vì bệnh tật không có thuốc đặc trị, vượt biên mất tích, đi kinh tế mới,… Những năm 1980 thiếu thốn, lụt bão, lên đường ra chiến trường, đổi tiền… Những năm đó, gánh nặng đè nặng lên vai người lớn, riêng đám học trò nhỏ chúng tôi thì cho gì ăn nấy, mặc nấy và vẫn vô tư lớn lên. Người Sài Gòn – Gia Định từng đối diện nhiều đợt biến động, những lần khủng hoảng trong trăm năm qua. Các bi kịch xảy ra không sao kể xiết. Mỗi nhà mỗi cảnh, không ai có thể thông cảm hết cho ai. Dù gặp chuyện gì, ai cũng nuôi động lực là hy vọng và lạc quan. Hy vọng sẽ có lúc thoát ra được những khó khăn, không lẽ thế này mãi! Có mất mát cũng phải gượng dậy để sống tiếp và giúp nhau vượt qua. Đó là nếp nghĩ của người thành phố này, dù có gốc gác lâu đời ở đây hay mới nhập cư sau này.
PHẠM CÔNG LUẬN
VÀNG XƯA ĐẦY DẤU CHÂN
Chiếc xe buýt dài chở chúng tôi từ bờ biển cực nam Thái Lan ngược lên phía bắc để vào trại tị nạn, thỉnh thoảng dừng lại dọc đường. Đoàn xe có ba chiếc. Mỗi khi xe dừng ở trạm đổ xăng hoặc quán giải khát, chúng tôi ngồi im trong xe, không đưa đầu ra ngoài, chờ, cho đến khi được lệnh xuống xe, nhưng không đi quá xa. Một lần xế chiều, xe dừng lại ở quán nước dọc bờ biển. Trong xe có những người kiếm đâu ra được ít tiền dollars Mỹ hoặc tiền bath Thái, mua nước uống hoặc cà phê, loại pha sẵn trong ly nhựa, có đá vụn, hồi đó rất lạ, nhưng hầu hết bọn thanh niên chúng tôi không có tiền, đứng thẫn thờ tụm năm tụm ba ngoài sân, ngơ ngác như gà mất mẹ.
Trong quán giải khát, nhạc mở ầm ĩ từ mấy cái loa phóng thanh rất lớn. Bỗng giữa chừng chúng im bặt một lúc lâu, rồi một bài hát tiếng Việt bất ngờ phát ra. Đó là bản nhạc khá xưa, nhưng nhiều người trẻ hơn tôi vẫn chưa kịp nghe thì xảy ra biến cố ba mươi tháng tư, sau đó tất nhiên bị cấm. Tôi nhận ra giai điệu quen thuộc. Người đi qua đời tôi trong những chiều đông sầu. Mưa mù lên mấy vai gió mù lên mấy trời. Người đi qua đời tôi hồn lưng miền rét mướt. Vàng xưa đầy dấu chân đen tối vùng lãng quên. Ríu rít, say sưa, chợt cười chợt khóc, dào dạt lòng người, trong buổi chiều nắng xế, chim bay về rừng, mây bay về núi. Mắt tôi nhòa đi, đất trời lay đổ. Giọng hát của ai? Một người trả lời, Thái Thanh. Đúng rồi. Chỉ có Thái Thanh mới hát như vậy. Phạm Đình Chương phổ nhạc bài thơ Người Đi Qua Đời Tôi của Trần Dạ Từ. Lời thơ cực tả kinh nghiệm và cảm xúc trong tình yêu, nhạc và ngôn ngữ hòa quyện mật thiết uyển chuyển, réo rắt, hợp với giọng người hát. Hình ảnh trong thơ đẹp, sang trọng, giàu chất tượng trưng, vần điệu trong thơ đã làm nền cho ca khúc. Giọng hát ngây ngất, phát âm tròn chữ, khi xuống thì xuống hết bực khi lên thì thênh thanh như mây trời. Giọng hát ấy đến từ những ngày xa xưa Hà Nội thời kháng chiến chống Pháp đến Sài Gòn tự do, nâng đỡ bởi âm nhạc của Phạm Duy, Văn Cao, chất melancholy của Phạm Đình Chương, và êm như tơ trời Ngô Thụy Miên.
Bài hát tiếp theo cũng tiếng Việt, hình như do một ca sĩ khác, nhưng không nghe rõ, có thể vì tôi không nghe gì được nữa sau Thái Thanh, vỏn vẹn hơn mười phút cả hai bài rồi trở lại nhạc Thái rock hò hét ầm ĩ như cũ. Trong khoảng vài phút ấy chúng tôi nghe tiếng động của một thời mới đây vài năm mà nay đã xa nghìn trùng. Người đi qua đời tôi không nhớ gì sao người. Mưa nào lên mấy vai gió nào lên mấy trời. Người đi qua đời tôi đường xưa đầy lá úa. Vàng xưa đầy dấu chân đen tối vùng lãng quên. Em đi qua đời anh không nhớ gì sao em. Thái Thanh thuộc lớp những ca sĩ đầu tiên của tân nhạc Việt Nam, hát từ khi còn nhỏ tuổi, nhưng đến khi vào miền Nam mới thực sự tỏa sáng với ban Thăng Long và những Hoài Bắc, Hoài Trung. Điều đặc biệt là bà không dừng lại ở đó mà tiếng hát dường như ngày một tinh luyện hơn. Cách phát âm, đẩy hết cung bậc của tiếng Việt, khai thác sâu các khía cạnh của giọng nói, ở Thái Thanh được nâng lên thành nghệ thuật có một không ai. Những người trẻ sau này có thể không quen và mê tiếng hát này như các thế hệ trước đó, thậm chí có người còn cho là khó nghe. Tuy vậy đó là một tượng đài của nghệ thuật phát âm của tiếng Việt, kẻ tiên phong, có lẽ nhờ Thái Thanh kết hợp giữa lối hát dân gian như ca trù và nghệ thuật opera. Tuy nhiên đó là những ý tưởng bàng bạc qua thời gian, chứ vào giây phút ấy, tôi chẳng suy nghĩ gì cả: tôi chỉ sống, cảm xúc.Sau này mỗi khi nhớ lại quán nước chiều vàng, sóng biển nhấp nhô gềnh đá, con đường hun hút, tôi nhận ra không phải chỉ có âm nhạc Phạm Đình Chương và nghệ thuật Thái Thanh đã làm chúng tôi xúc động. Có một thứ gì khác nữa, hình như ngấm ngầm hơn, sâu xa, lặng lẽ khác với âm nhạc, đã làm chúng tôi sống lại những ngày tháng đẹp đẽ, không khí tự do hít căng lồng ngực, ban mai thanh bình lướt qua như sương trắng muốt. Tôi nhận ra đó là ngôn ngữ, chính là tiếng Việt. Thơ. Vì thơ là tinh hoa của ngôn ngữ. Thơ Trần Dạ Từ như tuổi trẻ, như chiến tranh, như bếp lửa, ở đó bạn từng ngồi xuống giữa những người khác, trước mặt một người. Tình yêu như công việc: sống là việc khó khăn, sống trong tình yêu lại càng khó khăn. Những tình nhân phải kết hợp lại để vượt qua nghịch cảnh, nhưng họ cũng phải vượt qua sự yếu đuối của chính họ, tan rã của chính họ. Chúng tôi già hơn tuổi của mình, đầy vết xước ly tan, bèo bọt. Đó là một tuổi trẻ bị đánh cắp. Lịch sử không thuộc về chúng tôi. Chỉ có ngôn ngữ giữ chúng tôi lại, như sợi dây thừng buộc chặt chiếc thuyền vào bờ, nhấp nhô trên sóng. Gần ba tháng ròng trên biển, lưu lạc ở một đất nước khác, giữa một văn hóa khác, những thức ăn khác, trong hình dung rằng suốt cuộc đời có lẽ chẳng bao giờ còn cơ hội dùng lại tiếng mẹ đẻ. Không bao giờ. Ra đi là bỏ tiếng Việt lại đằng sau. Mother tongue. Tiếng mẹ đẻ. Ca khúc của Phạm Đình Chương chạm tới cốt tủy người nghe. H. ôm lấy tôi. Cả bọn bảy tám đứa không biết lúc nào đứng xích lại bên nhau, co ro, lắng nghe, hồi tưởng. Tôi liếc mắt nhìn người bạn mới quen trên thuyền, anh P, sĩ quan, khi đi cải tạo về thì vợ và hai đứa con nhỏ của anh, một trai một gái, đã mất tin tức, thấy trên má anh một giọt lệ, lăn đi. Ca sĩ không bao giờ biết rằng cô đã hát bài hát ấy trong một quán nước bên đường, đầu những năm tám mươi, khi người Việt tan tác khắp nơi, khi tiếng Việt là niềm hy vọng cuối cùng của họ. Tiếng hát nào hơ nóng.
Hôm đó trong khi đi tới nhà vệ sinh của trạm đổ xăng, băng qua một cửa sổ nhỏ, tôi tình cờ nhìn vào, thấy một cái máy hát, chạy bằng băng cát sét, thấy một người phụ nữ đang rướn mình điều khiển chiếc máy, kê cao trên kệ. Có lẽ là chủ quán hay vợ con của chủ quán, tôi không biết, một phụ nữ còn trẻ khoảng gần ba mươi tuổi, tóc xõa ngang vai, quấn khố dài kẻ sọc xanh đỏ, y phục hoàn toàn theo kiểu Thái. Tôi tò mò đứng nhìn hơi lâu.Khi chị quay lại, ánh mắt của chúng tôi tình cờ gặp nhau. Chị khẽ mỉm cười. Hay là tôi tưởng tượng thế? Tôi không biết. Tôi sửng sốt chỉ kịp gật đầu, không cất thành lời. Vào lúc ấy tôi nhận ra rằng, tôi chắc chắn rằng, không nghi ngờ gì nữa, khuôn mặt ấy là của một người phụ nữ Việt Nam. Tôi đứng im một lúc, rồi sự nhút nhát của cả hai đã chiến thắng lòng can đảm, chị quay mặt đi, tôi bỏ về phía đoàn xe buýt, nơi mọi người đã lên gần hết và người cảnh sát tốt bụng nhưng khó tính đang đứng gần cửa để điểm danh. Tôi đã không còn cơ hội nào để hỏi chuyện với người phụ nữ tha hương kia. Nhưng tôi tin bài hát tiếng Việt, giọng hát huyền thoại, một người làm thơ, một người phổ nhạc, một người hát, trong một lúc đã làm hai chúng tôi gần lại, hai kẻ lưu lạc kia, vốn không hề quen biết, nhờ một băng nhạc cũ bám bụi vàng thời gian mà vẫn có thể nhận ra nhau giữa giông bão cuộc đời.
Nguyễn Đức Tùng
Có Một Mùa Thu Thật Dễ Thương
Có một mùa Thu thật dễ thương! Tôi đang đây một khách qua đường…thấy trời tim tím thì tôi nói: “Có một mùa Thu thật dễ thương!”.
Là nghĩa là thương không phải ghét…những con chim sẻ của ai nuôi, với mình bất chợt như là bạn, nhìn chúng bay mà bỗng thấy vui!
Chim sẻ bay và lá…cũng bay! Hình như tất cả hóa thành mây? Chỉ hoa hường trắng buồn đơn lẻ, chắc ngậm ngùi đang thương nhớ ai?
Nụ hoa hường trắng…hường hay trắng? Trắng chớ hường đâu hỡi má nàng! Tôi muốn bắt chơi từng chút gió gửi về xa lám tận phương Nam…
Gửi về ai đó miền Nam Mỹ, ngày tháng này nơi đó đã Thu, ngày tháng này năm nao đã nhạt…chỉ còn màu tím đọng trên tay!
Tôi đưa bàn tay không ai cầm, tôi bỗng buồn ô hay Thâm Tâm…tiễn người không nói đưa ra biển, không nói dòng sông, chỉ nắng vuơng…
Vuơng vuơng chiều Thu bay áo dài…bay từ dĩ vãng đến hôm nay…con đường lá rụng chưa nhiều lắm…vẫn đủ cho hoàng hôn ngất ngây!
Có một mùa Thu thật dễ thương…có hoa tim tím nở bên đường…có ai tim tím đôi môi lạnh…một chút ngờ như buổi tịch dương…Ôi một mùa Thu ta muốn khóc…nhớ ơi những cọng khói lam chiều…Một người viễn xứ buồn như vậy, em đọc bài thơ em thấy sao?
Trần Vấn Lệ
Em Ơi
Tôi muốn đi lên núi nhìn trời cao
Tôi muốn về sông ngước nhìn mây trắng
Tôi ngửa mặt lên từ sông dài đầy nắng
Tôi thấy mặt trời lấp lánh những trăng sao
Tôi đã mơ từ tinh sương mới mọc
Tôi vẫn mơ khi mùa đã xanh mầu
Tôi thấy tôi sinh ra từ nơi đất
Tôi lại về miên viễn của chiêm bao
Tôi lại đi tìm một thuở hư hao
Tôi còn nắm níu giòng sông hoa mộng
Tôi ôm chiều cao núi đồi lồng lộng
Tôi đo chiều dài biển cả mưa mau
Tôi hẹn người về trong đêm khuất núi
Tôi ngủ quên chiều thu không đớn đau
Tôi thức dậy khi ngàn sao ngủ muộn
Em ơi tôi đây mà em nơi đâu?
Phạm Khánh Vũ




